207.3 823 523 | ctk_tuyenquang@gso.gov.vn

Tình hình kinh tế - xã hội tháng 7 năm 2026 tỉnh Tuyên Quang

04/08/2026 22:42

I. PHÁT TRIỂN KINH TẾ 

1. Về sản xuất nông nghiệp (tính đến ngày 20/7/2026)

1.1. Sản xuất vụ Mùa năm 2026

Trong tháng thời tiết phổ biến có mưa rào, cục bộ có nơi mưa to vào chiều tối, đêm và sáng sớm, các ngày còn lại phổ biến nắng nóng. Hiện nay bà con nhân dân đã hoàn thành gieo trồng cây lúa vụ Mùa và đang gieo trồng các cây hàng năm khác vụ Mùa đảm bảo khung thời vụ.

- Cây lúa: Toàn tỉnh đã cấy được 52.134 ha, giảm 1,49% (giảm 790,56 ha) so với cùng kỳ năm trước.

- Cây ngô: Diện tích đã trồng 22.810,5 ha, tăng 2,8% (tăng 622,37 ha).

- Cây lạc: Diện tích đã trồng 2.401,6 ha, tăng 2,87% (tăng 66,9 ha).

- Cây đậu tương: Diện tích đã trồng 3.475,9 ha, giảm 0,46% (giảm 16,05 ha).

1.2. Tình hình sinh vật gây hại

Trên cây lúa vụ Mùa ốc bươu vàng, rầy nâu, rầy lưng trắng, sâu cuốn lá nhỏ, sâu đục thân 2 chấm, bệnh nghẹt rễ, bệnh đạo ôn lá, bệnh đốm sọc vi khuẩn, bệnh bạc lá, chuột xuất hiện rải rác. Cây ngô vụ Mùa xuất hiện sâu keo mùa thu, sâu xám, bệnh đốm lá gây hại rải rác. Trên cây lạc xuất hiện rải rác sâu xám, sâu cuốn lá, bệnh lở cổ rễ. Trên cây rau đậu các loại xuất hiện bọ trĩ, nhện trắng gây hại trên cà chua, sâu đục quả gây hại trên đậu đỗ, sâu ăn lá, rệp, bệnh thán thư, bệnh lở cổ rễ, bệnh xoăn lá gây hại rải rác.

1.3. Về chăn nuôi

1.3.1. Về số lượng đàn gia súc, gia cầm

Trong tháng, tình hình chăn nuôi trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang nhìn chung duy trì ổn định và có xu hướng tăng trưởng nhẹ, tuy nhiên sự phát triển giữa các loại vật nuôi không đồng đều, thể hiện rõ quá trình chuyển dịch cơ cấu trong nội ngành.

Tổng đàn trâu là 201.142 con, giảm 9,88% (tương đương giảm 22.045 con) so với cùng kỳ năm 2025. Tổng số đàn trâu vẫn có xu hướng giảm do đồng cỏ bị thu hẹp rất nhiều, trâu không còn được chăn thả tự nhiên do người dân tận dụng những đồng cỏ và đất trồng để gieo trồng, do vậy đồng cỏ tự nhiên ngày càng bị thu hẹp, giá trâu liên tục bị giảm mạnh, nuôi trâu không hiệu quả, mức tiêu thụ tại thị trường giảm khiến cho người chăn nuôi gặp nhiều khó khăn. Tỷ lệ trâu sinh sản tự nhiên giảm dẫn đến thiếu hụt nguồn giống, không đủ để bù đắp số lượng trâu bị khai thác làm thực phẩm dẫn đến đàn trâu bị sụt giảm.

 Tổng đàn bò là 175.851 con, tăng 0,40% (tăng 697 con). Tổng đàn bò giữ mức ổn định, có xu hướng tăng do người dân phát huy tốt tiềm năng, thế mạnh của địa phương, tập trung phát triển chăn nuôi bò theo hướng hàng hóa. Bên cạnh đó việc các doanh nghiệp chăn nuôi bò sữa trên địa bàn tỉnh đang đẩy nhanh phát triển số lượng đàn bò sữa là một trong những nguyên nhân quan trọng giúp cho số lượng đàn bò tăng so với cùng kỳ.

Tổng đàn lợn là 1.214.273 con, giảm 1,41% (giảm 17.394 con). Tổng đàn lợn giảm là do: Ảnh hưởng của bệnh dịch tả lợn Châu Phi bùng phát trên một số địa bàn làm ảnh hưởng không nhỏ đến tổng đàn lợn trên địa bàn tỉnh.

Tổng đàn gia cầm đạt 14.820 nghìn con, tăng 5,44%. Nguyên nhân tăng là do giá thịt gà trên thị trường ổn định và có xu hướng tăng, đã thúc đẩy người chăn nuôi mở rộng quy mô sản xuất để đáp ứng nhu cầu của người dân trên địa bàn, chăn nuôi gà mang lại hiệu quả kinh tế cao, ít dịch bệnh, dẫn đến người chăn nuôi phát triển quy mô gia trại, trang trại làm tăng tổng đàn gà trên địa bàn tỉnh.

1.4. Về công tác phòng chống dịch bệnh gia súc, gia cầm trong tháng

 1.4.1. Công tác phòng chống và điều trị

Trong tháng 7 bệnh Dịch tả lợn Châu Phi phát sinh tại 33hộ/17thôn/04 xã, số lợn tiêu hủy là 249 con/9.973 kg ; bệnh Cúm gia cầm đã phát sinh tại 02 hộ/02 xã (Việt Lâm, Đồng Tâm), tính đến ngày 13/7/2026 tổng số gia cầm buộc phải tiêu huỷ 871 con (328 con gà, 200 con vịt, 343 con ngan), trọng lượng 1.023kg.

Cơ quan chức năng phối hợp với các xã, phường theo dõi chặt chẽ tình hình dịch bệnh gia súc, gia cầm, thuỷ sản trên địa bàn tỉnh, đặc biệt các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm như bệnh Dịch tả lợn Châu phi. Triển khai thực hiện đồng bộ các giải pháp phòng, chống dịch bệnh động vật.

1.4.2. Công tác kiểm dịch vận chuyển động vật, sản phẩm động vật

Tăng cường công tác kiểm dịch vận chuyển ngoài tỉnh, kết quả: Trong tháng đã kiểm tra cấp 416 giấy chứng nhận kiểm dịch vận chuyển, trong đó: 227 chuyến, vận chuyển 23.424 con gia súc, gia cầm; 189 chuyến, vận chuyển 3.030.162 kg sữa tươi nguyên liệu. Lũy kế từ đầu năm đến nay đã kiểm tra cấp 2.523 giấy chứng nhận kiểm dịch vận chuyển, trong đó: 1.279 chuyến, vận chuyển 157.048 con gia súc, gia cầm; 1.144 chuyến, vận chuyển 22.605.162 kg sữa tươi nguyên liệu được vận chuyển đi các tỉnh: Bắc Ninh, Hà Nội, Cao Bằng, Phú Thọ, Lai Châu, Nghệ An, Thái Nguyên...; trong tháng kiểm soát giết mổ, kiểm tra vệ sinh thú y được 344 con gia súc (lũy kế 7 tháng đầu năm kiểm soát được 6.863 con gia súc các loại).

 1.5. Về sản xuất lâm nghiệp

 1.5.1. Công tác trồng rừng

Tình hình sản xuất lâm nghiệp trong tháng 7 diễn ra tương đối ổn định, thời tiết thuận lợi cùng với sự đẩy nhanh tiến độ trồng rừng của các doanh nghiệp, hộ dân đã đạt được một số kết quả quan trọng. Công tác tuyên truyền, phổ biến về quản lý, bảo vệ, phòng cháy chữa cháy rừng được chính quyền địa phương triển khai rộng khắp, đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát, theo dõi, cập nhật diễn biến rừng kịp thời phát hiện, ngăn chặn các vụ phá rừng, đốt nương làm rẫy gây ảnh hưởng tới rừng sản xuất.

Ước tính trong tháng,  tổng diện tích rừng trồng mới tập trung toàn tỉnh đã trồng được 1.842,3 ha, tăng 40,14%. Lũy kế 7 tháng đầu năm, diện tích trồng rừng đạt 13.905,5 ha, tăng 3,12% so với cùng kỳ năm trước.

1.5.2. Khai thác gỗ rừng trồng

Ước thực hiện trong tháng đạt 139.021,04 m3, giảm 30,34% (giảm 60.552,21 m3) so với cùng kỳ. Luỹ kế đến hết tháng báo cáo sản lượng gỗ khai thác đạt 885.476,54 m3, giảm 4,84% (giảm 44.999,21 m3). Nguyên nhân giảm là do có nhiều diện tích rừng chưa đến tuổi khai thác và thời tiết trong tháng có nhiều đợt mưa ảnh hưởng đến tiến độ khai thác của người dân. 

1.5.3. Công tác quản lý bảo vệ rừng

Trong tháng không xảy ra vụ cháy rừng, phá rừng nào. Luỹ kế từ đầu năm số vụ cháy rừng xảy ra 01 vụ, giảm 37 vụ so với cùng kỳ; thiệt hại 0,12 ha, giảm 80,01 ha. Lũy kế từ đầu năm số vụ phá rừng giảm 23 vụ; diện tích rừng bị phá giảm 5,44 ha. Nguyên nhân chính giảm số vụ cháy rừng, phá rừng là do các cơ quan chính quyền địa phương đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến về công tác quản lý, bảo vệ và phòng cháy chữa cháy rừng, chủ động cập nhật diễn biến rừng, theo dõi thời tiết để có những phương án phù hợp.

2. Sản xuất công nghiệp

2.1. Chỉ số phát triển công nghiệp

Chỉ số sản xuất công nghiệp IIP trong tháng tăng 17,96% so với tháng trước, tăng 10,53% so với cùng kỳ, cụ thể của các ngành như sau: Ngành khai khoáng tăng 2,24%, tăng 14,41%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 0,28%, tăng 12,82%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí tăng 51,25%, tăng 7,86%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải giảm 1,05%, tăng 1,24%.

Một số ngành công nghiệp cấp II có chỉ số sản xuất tăng so với cùng kỳ năm trước như: Sản xuất chế biến thực phẩm tăng 13,58%; dệt tăng 16,67%; sản xuất trang phục tăng 18,93%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tinh tăng 91,15%;...

Sản xuất công nghiệp của tỉnh trong tháng 7 và 7 tháng đầu năm 2026 tuy có những khó khăn do tác động tiêu cực từ địa chính trị đã ảnh hưởng tới việc tăng giá đối với một số nguyên liệu đầu vào và thị trường tiêu thụ của một số sản phẩm công nghiệp phục vụ nhu cầu xuất khẩu. Nhưng các doanh nghiệp đã chủ động nắm bắt thị trường, tập trung tháo gỡ khó khăn vướng mắc đối với các vấn đề về nguyên liệu, vốn kinh doanh, thị trường tiêu thụ,… nên sản xuất công nghiệp tiếp tục có xu hướng tăng trưởng tích cực và đạt được những kết quả quan trọng.

- Tính chung trong 7 tháng đầu năm 2026, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 9,24% so với cùng kỳ năm trước, Chia theo từng ngành kinh tế cấp I như sau:

+ Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 10,21%, do một số ngành chế biến tăng như: Sản xuất chế biến thực phẩm tăng 18,31%; sản xuất đồ uống tăng 127,63%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế) tăng 15,97%; sản xuất giường, tủ, bàn ghế tăng 45,64%; sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 43,98%;...

+ Ngành sản xuất và phân phối điện tăng 8,78%, nguyên nhân là do 05 nhà máy thủy điện cuối năm 2025 đã hòa lưới phát điện cùng với thời tiết năm nay mưa nhiều hơn năm trước, đồng thời có thêm 02 nhà máy thủy điện đi vào sản xuất quý II năm 2026 (công ty TNHH Xuân Thiện Hà Giang dự án thủy điện Sông Lô 5 và công ty TNHH Miền Tây dự án thủy điện Nậm Lang).

+ Ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 3,51%, do nhu cầu sử dụng nước sinh hoạt và khối lượng rác thải tăng. Công ty Cổ phần Cấp thoát nước và Công ty Đô thị đã tăng cường kiểm tra, bảo dưỡng máy móc, thiết bị, nhằm bảo đảm các hoạt động cấp nước và thu gom rác thải ổn định.

2.2. Sản phẩm công nghiệp chủ yếu

Trong tháng, nhóm sản phẩm chủ yếu tăng so với cùng kỳ cụ thể như sau: Điện thương phẩm đạt 207 triệu Kwh, tăng 14,88%; cát tự nhiên ước đạt 23.883 m3, tăng 69,25%; chè (trà) nguyên chất đạt 1.570 tấn, tăng 82,38%; đá xây dựng khác  đạt 49.385 m3, tăng 49.25%;... Một số nhóm giảm so với cùng kỳ là: Bột Felspar đạt 9.000 tấn, giảm 3,23%; xi măng đạt 96.500 tấn, giảm 0,89%;...

Tính chung trong 7 tháng, một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng khá so với cùng kỳ năm trước: Điện thương phẩm đạt 1.2412 triệu Kwh, tăng 14,15%; điện sản xuất đạt 2.574 triệu Kwh, tăng 8,40%; mangan và sản phẩm của mangan đạt 7.330 tấn, tăng 29,41%;...

Đánh giá chung, Tháng 7/2026 một số doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp tiếp tục duy trì sản xuất ổn định như: Công ty cổ phần cơ khí khoáng sản Hà Giang; hợp tác xã giao thông vận tải sản xuất kinh doanh vật liệu xây dựng; công ty cổ phần chè Hùng An; công ty TNHH chè Biên Cương; công ty cổ phần in Hà Giang; công ty TNHH sản xuất giày Chung Jye Tuyên Quang; công ty TNHH Gang thép Tuyên Quang; công ty cổ phần xi măng Tân Quang VMI,… Bên cạnh đó, ảnh hưởng chung từ kinh tế thế giới, một số doanh nghiệp khai thác khoáng sản do không tiêu thụ được hàng tồn kho, phải điều chỉnh lại kế hoạch sản xuất, một số doanh nghiệp chưa đi vào sản xuất do vướng mắc trong quá trình bồi thường, giải phóng mặc bằng. Trước tình hình đó, Tỉnh đã triển khai nhiều chính sách hỗ trợ, thu hút đầu tư trong lĩnh vực công nghiệp, cải thiện thủ tục hành chính, minh bạch hóa môi trường đầu tư, kinh doanh nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho các doanh nghiệp, phấn đấu hoàn thành kế hoạch đã đề ra.

3. Vốn đầu tư, xây dựng

3.1. Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý

Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước thực hiện tháng 7 ước đạt 936,9 tỷ đồng, tăng 0,11% so với tháng trước. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 734,8 tỷ đồng, giảm 0,05%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã đạt 202,1 tỷ đồng, tăng 0,68%.

Tính chung trong 7 tháng, nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 5.030,7 tỷ đồng, tăng 0,42% so với cùng kỳ. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 3.992,6 tỷ đồng, tăng 4,64%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã đạt 1.038,1 tỷ đồng, giảm 13,05%.

3.2. Hoạt động xây dựng

Đẩy nhanh tiến độ Dự án cao tốc Tuyên Quang - Hà Giang (giai đoạn 2) đoạn Tân Quang đến cửa khẩu quốc tế Thanh Thủy; kiểm tra tiến độ thi công Dự án Trường Phổ thông nội trú liên cấp Pà Vầy Sủ và Trường Phổ thông nội trú liên cấp Xín Mần; tiến độ thực hiện các dự án sắp xếp, bố trí ổn định dân cư tập trung tại xã Pà Vầy Sủ và xã Xín Mần; tiến độ thực hiện Dự án cải tạo, nâng cấp tuyến đường cách mạng từ xã Tân Trào đến xã Trung Yên và dự án Tuyến đường từ xã Sơn Dương đi xã Tân Trào.

Giải ngân vốn đầu tư công năm 2026 đến hết ngày 24/7/2026 đạt 2.652,1/6.253,8 tỷ đồng, đạt 41,5% kế hoạch (nếu không tính số kế hoạch vốn giao bổ sung trong năm, đạt 76,6% kế hoạch), trong đó: Giải ngân kế hoạch vốn NSTW là 1.082,3 tỷ đồng, đạt 31,7% kế hoạch; giải ngân kế hoạch vốn ngân sách địa phương là 1.569,7 tỷ đồng, đạt 52,9% kế hoạch. Giải ngân vốn đầu tư công năm 2025 kéo dài sang năm 2026 đạt 1.856,5/7.388,2 tỷ đồng, bằng 25,18% kế hoạch. 

4. Thương mại và Dịch vụ

Trong tháng 7/2026, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang ghi nhận đà tăng trưởng ổn định, phản ánh tâm lý tiêu dùng tích cực của người dân. Tiếp tục hưởng ứng thực hiện Chương trình phát triển thị trường trong nước gắn với Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” năm 2026.

4.1. Doanh thu bán lẻ hàng hóa

Doanh thu bán lẻ hàng hóa tháng 7 ước đạt 3.910 tỷ đồng, tăng 1,68% so với tháng trước, tăng 29,35% so với cùng kỳ. Trong đó: Nhóm hàng lương thực, thực phẩm đạt 1.038 tỷ đồng, tăng 1,19%, tăng 22,02%; nhóm hàng may mặc đạt 390 tỷ đồng, tăng 2,45%, tăng 45,21%; nhóm vật phẩm văn hóa, giáo dục đạt 124 tỷ đồng, tăng 4,45%, tăng 79,32%… Tính chung trong 7 tháng, tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 25.682 tỷ đồng, tăng 21,69% so với năm 2025.

4.2. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ khác

Trong tháng, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 623,86 tỷ đồng, tăng 3,44% so với tháng trước, tăng 22,65% so với cùng kỳ. Trong đó: Dịch vụ lưu trú đạt 61,50 tỷ đồng, tăng 5,56%, tăng 31,46%; ăn uống đạt 562,36 tỷ đồng, tăng 3,21%, tăng 23,80%. Tính chung trong 7 tháng, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 4.370,16 tỷ đồng, tăng 20,98% so với cùng kỳ.

Doanh thu du lịch lữ hành đạt 2,83 tỷ đồng, giảm 3,46%, tăng 17,75% so với cùng kỳ. Tính chung 7 tháng, doanh thu du lịch lữ hành ước đạt 40,35 tỷ đồng, tăng 43,34%.

Doanh thu dịch vụ khác trong tháng ước đạt 92,13 tỷ đồng, tăng 1,17% so với tháng trước, tăng 35,28% so với cùng kỳ. Tính chung trong 7 tháng, doanh thu dịch vụ khác ước đạt 654,49 tỷ đồng, tăng 22,48%.

4.3. Giá cả

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trong tháng tăng 4,46% so với cùng kỳ năm trước, tăng 3,32% so với tháng 12 năm trước, giảm 0,66% so với tháng trước. Tính chung trong 7 tháng, CPI bình quân tăng 5,42% so với cùng kỳ.

Trong số 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính thì có 7 nhóm giảm giá, 4 nhóm tăng giá so với tháng trước.

Trong 7 nhóm có giá giảm gồm: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,18%, nguyên nhân chủ yếu là do giá thực phẩm giảm; nhóm may mặc, mũ nón và giày dép giảm 0,25%; nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng giảm 1,94%; nhóm thuốc và dịch vụ y tế giảm 0,05%; nhóm giao thông giảm 2,01% nguyên nhân chủ yếu là do giá xăng dầu giảm; nhóm thông tin và truyền thông giảm 0,15%; nhóm văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,57%.

Trong 4 nhóm hàng tăng so với tháng trước, bao gồm những nhóm hàng sau: Nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,15%, do thời tiết vào hè nắng nóng làm cho nhu cầu về bia, nước ngọt tăng cao; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,13% do nhu cầu mua sắm các thiết bị như quạt, điều hòa tăng; nhóm giáo dục tăng nhẹ 0,03%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 2,12%.

- Chỉ số giá vàng tăng 27,81% so với cùng kỳ năm trước, giảm 3,15% so với tháng 12 năm trước, giảm 9,13% so với tháng trước. Tính chung trong 7 tháng đầu năm 2026, giá vàng tăng 60,20% so với cùng kỳ.

- Chỉ số giá đô la Mỹ giảm 0,2% so với cùng kỳ năm trước, tăng 0,02% so với tháng 12 năm trước, tăng 0,03% so với tháng trước. Tính chung trong 7 tháng đầu năm 2026, tăng 1,07% so với cùng kỳ.

4.4. Tình hình xuất, nhập khẩu hàng hóa

Tổng kim ngạch xuất hàng hóa trong tháng 7 ước đạt 133,1 triệu USD, tăng 36,08% so với cùng kỳ. Tổng kim ngạch nhập khẩu ước đạt 22 triệu USD, giảm 30,82% so cùng kỳ, trong đó chủ yếu là nhập máy móc, thiết bị, phụ tùng và nguyên liệu may mặc.

Lũy kế 7 tháng đầu năm, kim ngạch xuất, nhập khẩu là 672,7 triệu USD, đạt 80,1% kế hoạch, tăng 11,2% so với cùng kỳ.

5. Vận tải hàng hóa và hành khách

5.1. Doanh thu vận tải tải kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải

Doanh thu vận tải trong tháng ước đạt 443,75 tỷ đồng, giảm 2,98% so với tháng trước, tăng 23,88% so với cùng kỳ. Trong đó, vận tải hành khách đạt 113,55 tỷ đồng, giảm 4,44%, tăng 31,61%; vận tải hàng hóa đạt 327,64 tỷ đồng, giảm 2,46%, tăng 21,39%; doanh thu dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 1,82 tỷ đồng, giảm 3,32%, tăng 25,93%; hoạt động bưu chính, chuyển phát đạt 0,74 tỷ đồng, giảm 7,01%, tăng 27,65%.

Tính chung trong 7 tháng đầu năm 2026, doanh thu vận tải kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 3.140,16 tỷ đồng, tăng 18,20% so với cùng kỳ. Trong đó: vận tải hành khách đạt 850,34 tỷ đồng, tăng 23,36%; vận tải hàng hóa đạt 2.270,85  tỷ đồng, tăng 16,36%; dịch vụ hỗ trợ vận tải kho bãi đạt 13,18 tỷ đồng, tăng 17,31%; bưu chính, chuyển phát đạt 5,79 tỷ đồng, tăng 27,07%.

5.2. Vận tải hành khách và hàng hóa

Trong tháng khối lượng hành khách vận chuyển ước đạt 1,83 triệu lượt hành khách, giảm 2,57% so với tháng trước, tăng 28,18% so với cùng kỳ; khối lượng hành khách luân chuyển ước đạt 150,81 triệu lượt hành khách.km, tăng 19,59%, tăng 25,23%. Tính chung 7 tháng đầu năm 2026, khối lượng hành khách vận chuyển ước đạt 13,34 triệu lượt hành khách, tăng 19,25% so với cùng kỳ; khối lượng hành khách luân chuyển ước đạt 1.065,55 triệu lượt hành khách.km, tăng 16,85%.

Khối lượng hàng hóa vận chuyển trong tháng ước đạt 2,07 triệu tấn, giảm 2,11% so với tháng trước, tăng 17,77% so với cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 134,59 triệu tấn.km, giảm 1,48%, tăng 23,32%. Tính chung 7 tháng đầu năm 2026, khối lượng hàng hóa vận chuyển ước đạt 14,72 triệu tấn, tăng 12,42% so với cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 947,57 triệu tấn.km, tăng 17,56%.

6. Về du lịch

Thành lập đoàn đại biểu tham gia chương trình gặp gỡ cộng đồng doanh nghiệp và các cơ quan truyền thông về công tác phát triển sản phẩm và xúc tiến quảng bá du lịch; tổ chức 02 lớp bồi dưỡng cập nhật kiến thức quản lý nhà nước về du lịch và nghiệp vụ quản lý vận chuyển khách du lịch. Tỉnh được Tạp chí du lịch quốc tế Time Out bình chọn vào Top 51 điểm đến đẹp nhất thế giới.

Trong tháng 7, Tuyên Quang đón 350.343 lượt khách, tăng 0,9% so với cùng kỳ. Trong đó 52.343 lượt khách quốc tế, 298.000 lượt khách nội địa; tổng chi tiêu khách du lịch trên địa bàn ước đạt 954,6 tỷ đồng.

 7 tháng đầu năm 2026, Tuyên Quang đón 2.443.354 lượt khách, trong đó 464.420 lượt khách quốc tế, 1.978.934 lượt khách nội địa, tăng 0,4% (đạt 60% kế hoạch năm); tổng chi tiêu khách du lịch trên địa bàn ước 6.821,1 tỷ đồng.

II. LĨNH VỰC VĂN HÓA - XÃ HỘI

1. Công tác lao động, việc làm, giáo dục nghề nghiệp

Tăng cường công tác an toàn, vệ sinh lao động trong tình hình mới. Tiếp tục thực hiện quản lý nhà nước về công tác đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; lao động người nước ngoài làm việc tại tỉnh; đẩy mạnh kết nối cung - cầu lao động, hỗ trợ người lao động tìm kiếm, tiếp cận cơ hội việc làm phù hợp.

2. Công tác đảm bảo chế độ người có công với cách mạng, bảo trợ, an sinh xã hội và phòng chống các tệ nạn

2.1. Công tác đối với người có công với cách mạng

Tổ chức phát động Phong trào thi đua thực hiện chính sách đối với người có công với cách mạng và công tác đền ơn đáp nghĩa, hướng tới kỷ niệm 80 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2027); Tổ chức thăm, tặng quà các gia đình thân nhân người có công với cách mạng, gia đình thương binh, liệt sỹ với 22.404 suất quà, số tiền là 9,286 tỷ đồng (Trong đó: Quà Chủ tịch nước là 10.772 suất, số tiền là 3,317 tỷ đồng; Quà của tỉnh là 11.632 suất, số tiền là 5,969 tỷ đồng). Thực hiện tốt công tác chăm lo đời sống các đối tượng chính sách; duy trì việc chi trả trợ cấp ưu đãi thường xuyên hằng tháng cho trên 9.000 người có công, thân nhân người có công và các đối tượng chính sách khác đang hưởng trợ cấp trên địa bàn tỉnh, bảo đảm đầy đủ, đúng đối tượng và kịp thời theo quy định.

2.2. Công tác bảo trợ, an sinh xã hội và phòng chống các tệ nạn

Chủ động chuẩn bị nguồn lực, thực hiện đầy đủ, kịp thời các chế độ, chính sách đối với hộ nghèo, hộ cận nghèo, đối tượng bảo trợ xã hội và các hộ bị ảnh hưởng bởi thiên tai, bão lũ.

Trong tháng, các cơ sở cai nghiện của tỉnh đã tiếp nhận 15 học viên, cấp giấy chứng nhận hoàn thành cai nghiện cho 9 học viên; tại thời điểm báo cáo, 2 cơ sở cai nghiện đang quản lý 207 học viên (cai nghiện bắt buộc 200 học viên, cai nghiện tự nguyện 7 học viên).

3. Hoạt động giáo dục và đào tạo

Chuẩn bị các điều kiện cho trường phổ thông nội trú liên cấp tiểu học và THCS hoạt động từ năm học 2026-2027; kiểm tra thực tế tiến độ thi công Dự án Trường Phổ thông nội trú liên cấp Tiểu học và THCS Thanh Thủy; dự án Trường Phổ thông nội trú liên cấp Phố Bảng và Minh Tân; dự án Trường Phổ thông nội trú liên cấp Tiểu học và THCS Sơn Vĩ tại xã Sơn Vĩ; tiến độ xây dựng Trường phổ thông nội trú liên cấp tiểu học và trung học cơ sở Minh Tân. Hoàn thiện rà soát, sắp xếp tổ chức lại cơ sở giáo dục đại học công lập và cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập; sắp xếp mạng lưới cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông và giáo dục thường xuyên công lập trên địa bàn tỉnh nhằm thực hiện mục tiêu giảm tối thiểu từ 30% đầu mối, nơi có điều kiện thuận lợi giảm khoảng 50% đầu mối so với thời điểm ngày 01/7/2025. Chuẩn bị tốt các điều kiện chuẩn bị cho năm học 2026-2027. Xây dựng Đề án trường trọng điểm chất lượng cao; Đề án thành lập trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập công lập; triển khai các nội dung thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo.

4. Hoạt động y tế

Thực hiện tốt chính sách khám chữa bệnh cho người dân vùng biên giới, người nghèo, nhân dân các xã vùng đặc biệt khó khăn và trẻ em dưới 6 tuổi góp phần đảm bảo an sinh xã hội. Tiếp tục nâng cao chất lượng dịch vụ khám, chữa bệnh, công tác dự phòng, công tác dân số, an toàn thực phẩm phục vụ Nhân dân nhất là vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Tháng 7/2026 thực hiện khám, chữa bệnh cho 238.465 lượt người; lũy kế 7 tháng năm 2026 khám, chữa bệnh cho 1.553.897 lượt người đạt 67,1% kế hoạch. Trong kỳ báo cáo không ghi nhận vụ ngộ độc thực phẩm.  

5. Hoạt động văn hoá - thể dục, thể thao

Phối hợp tổ chức Cầu truyền hình “Sao sáng dẫn đường” tại điểm cầu của tỉnh nhân Kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947-27/7/2026). Triển khai các hoạt động truyền thông hưởng ứng Ngày Dân số Thế giới năm 2026, tuyên truyền Cuộc thi sáng tác mẫu biểu trưng APEC 2027 và Cuộc thi sáng tác tranh cổ động tuyên truyền kỷ niệm 80 năm Ngày Toàn quốc kháng chiến; tổng kết và trao giải Cuộc thi Đại sứ Văn hóa đọc năm 2026. Tham gia Hội diễn “Đàn, hát dân ca 3 miền” năm

2026 (kết quả: Đạt 01 Huy chương Vàng, 03 Huy chương Bạc và 01 Giấy khen). Hoàn thiện Đề án mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí phát triển bền vững Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Cao nguyên đá Đồng Văn.

6. Tình hình an toàn giao thông, thiên tai và phòng chống cháy, nổ

Giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, chủ động phòng ngừa, đấu tranh hiệu quả với các loại tội phạm, tệ nạn xã hội; tăng cường bảo đảm trật tự an toàn giao thông, phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ.

6.1. Về an toàn giao thông trong tháng

Trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 15 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 12 người và làm bị thương 3 người.

So với tháng trước giảm 11,76% về số vụ tai nạn; tăng 33,33% về số người chết; giảm 66,67% số người bị thương. So với tháng cùng kỳ số vụ tai nạn giao thông tăng 7,14%; số người chết tăng 20%; số người bị thương giảm 50%.

Tính chung 7 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh đã xảy ra 107 vụ tai nạn giao thông; làm chết 65 người và làm bị thương 52 người. So với cùng kỳ năm trước: Số vụ tai nạn giao thông giảm 6,96%; số người chết tăng 3,17%; số người bị thương giảm 25,71%.

6.2. Về thiên tai, cháy, nổ

6.2.1. Về tình hình cháy, nổ

Trong tháng, trên địa bàn tỉnh không xảy ra vụ cháy nổ nào.

6.2.2. Về tình hình thiên tai

Từ 16/6-16/7/2026, trên địa bàn các xã thuộc tỉnh Tuyên Quang đã xảy ra 03 đợt thiên tai. Do ảnh hưởng của mưa to kéo dài, một số nơi đã xảy ra tình trạng lũ cục bộ trên các hệ thống sông suối đã gây thiệt hại về người, nhà ở, tài sản của người dân và một số công trình dân dụng trên địa bàn tỉnh.

Thiệt hại về người: 02 người tử vong do bị sét đánh tại xã Bắc Quang và xã Yên Thành.

Thiệt hại về nhà ở: 78 nhà bị tốc mái và hư hỏng nặng.

Thiệt hại về nông, lâm nghiệp, thủy sản: Thiệt hại 708,02 ha diện tích lúa và hoa màu bị gãy đổ.

Thiệt hại về chăn nuôi: 60 con gia súc, 1.845 con gia cầm bị chết, cuốn trôi; 04 chuồng trại bị hư hỏng.

Thiệt hại về cơ sở hạ tầng: 03 điểm trường bị tốc mái, hư hỏng và nhiều thiết bị dụng cụ khác bị thiệt hại.

Thiệt hại về giao thông: 661 điểm giao thông bị ách tắc; 9.035m đường và 13 cầu bị hư hỏng.

Ước tính tổng giá trị thiệt hại: 84 tỷ đồng.


THỐNG KÊ TỈNH TUYÊN QUANG