LỜI NÓI ĐẦU
Ngày 6 tháng 5 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 61/SL thành lập Nha Thống kê Việt Nam, đánh dấu sự ra đời của ngành Thống kê Việt Nam. Khi cuộc kháng chiến của dân tộc chống thực dân Pháp thắng lợi, miền Bắc hoàn toàn được giải phóng. Ngày 20/2/1956, Thủ tướng Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã ban hành Điều lệ số 695/TTg thành lập Cục Thống kê Trung ương trong Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước. Theo Điều lệ này, Chi cục Thống kê các tỉnh, thành phố trong cả nước được thành lập. Lịch sử ghi lại Chi cục Thống kê tỉnh Tuyên Quang được thành lập năm 1957.
Kể từ đó đến nay, ngành Thống kê tỉnh Tuyên Quang mặc dù đã trải qua nhiều thăng trầm, khó khăn, trở ngại, nhưng nhờ có sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của Đảng, Nhà nước ở Trung ương, cấp uỷ, chính quyền địa phương và đặc biệt cơ quan Thống kê Trung ương, nên ngành Thống kê tỉnh Tuyên Quang đã từng bước trưởng thành và ngày càng phát triển, vững mạnh về nhiều mặt.
Ngành Thống kê tỉnh Tuyên Quang trải qua 64 năm xây dựng và trưởng thành, từ khi thành lập đến nay Ngành Thống kê luôn luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị được giao, đáp ứng đầy đủ, kịp thời, chính xác những thông tin thống kê về tình hình kinh tế - xã hội, phục vụ các cơ quan Trung ương, các cấp Uỷ Đảng và chính quyền địa phương trong việc lãnh, chỉ đạo, quản lý tình hình kinh tế - xã hội, lập kế hoạch và kiểm tra việc thực hiện kế hoạch kinh tế - xã hội của tỉnh. Qua đó, góp phần giúp cho cấp uỷ, chính quyền địa phương kịp thời đề ra các giải pháp khắc phục những tồn tại, hạn chế, tháo gỡ những khó khăn vướng mắc trong việc triển khai thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước về phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo ổn định chính trị, an ninh quốc phòng, nâng cao đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của cộng đồng các dân tộc tỉnh Tuyên Quang.
Chào mừng kỷ niệm 75 năm ngày thành lập ngành Thống kê Việt Nam và sự lớn mạnh, trưởng thành của Cục Thống kê Tuyên Quang (1957 - 2021); Để thấy được những thành quả đạt được trong công tác Thống kê, cũng như những khó khăn, vất vả và thử thách đã từng trải qua của những cán bộ, công chức làm công tác Thống kê qua các thế hệ góp phần xây dựng ngành Thống kê tỉnh Tuyên Quang nói riêng và ngành Thống kê Việt Nam nói chung vững mạnh, phục vụ ngày càng tốt hơn công cuộc đổi mới kinh tế - xã hội do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, Cục Thống kê tỉnh Tuyên Quang đã biên soạn cuốn Lịch sử ngành Thống kê tỉnh Tuyên Quang.
Nội dung cuốn Lịch sử ngành Thống kê Tuyên Quang gồm:
- Chương I: Công tác Thống kê thời kỳ 1946 - 1954;
- Chương II: Thống kê tỉnh Tuyên Quang thời kỳ 1955 - 1975;
- Chương III: Công tác Thống kê thời kỳ 1976 - 1986;
- Chương IV: Thống kê Hà Tuyên từ 1987 - 1991;
- Chương V:Thống kê Tuyên Quang từ năm 1992 - 2015;
- Chương VI : Thống kê Tuyên Quang từ năm 2016- đến nay;
- Chương VII: Tổng kết và những bài học kinh nghiệm.
Phần phụ lục: Ảnh và Danh sách cán bộ Ngành Thống kê tỉnh Tuyên Quang qua các thời kỳ.
Trong quá trình biên soạn cuốn Lịch sử này, mặc dù Ban Biên soạn đã nhận được sự cộng tác và giúp đỡ quý báu của các cơ quan, Ban, ngành trong tỉnh, của Tổng cục Thống kê, các đồng chí cán bộ đã và đang làm công tác Thống kê trong và ngoài tỉnh đã tạo điều kiện cung cấp tư liệu, đóng góp ý kiến, nhưng do thay đổi thế hệ cán bộ qua các thời kỳ và tài liệu bị thất lạc nhiều, nhất là trong thời kỳ chiến tranh, sơ tán, nhập, tách tỉnh, nên khi biên soạn không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót. Ban Biên soạn xin chân thành cảm ơn các cơ quan, Ban, ngành của tỉnh; Tổng cục Thống kê; các đồng chí cán bộ làm công tác Thống kê trong và ngoài tỉnh qua các thời kỳ về sự giúp đỡ quý báu này và rất mong tiếp tục nhận được ý kiến của các tổ chức, cơ quan và các cá nhân trong, ngoài ngành tiếp tục bổ sung và đóng góp thêm giúp Cục Thống kê biên soạn tốt hơn trong lần xuất bản sau.
BAN BIÊN SOẠN
CHƯƠNG I
CÔNG TÁC THỐNG KÊ THỜI KỲ 1946 - 1954
I. Đặc điểm tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh Tuyên Quang
Tuyên Quang là một tỉnh miền núi, nằm ở phía Bắc Việt Nam, có nhiều địa danh lịch sử như Thành Nhà Mạc, Đình Hồng Thái, Cây đa Tân Trào... đã đi vào thơ ca và lịch sử của dân tộc nên tỉnh Tuyên Quang được mệnh danh là khu ATK (An toàn khu). Tuyên Quang còn được đặt tên là Thủ đô khu giải phóng, Thủ đô kháng chiến.
Tuyên Quang có diện tích tự nhiên 5.867,33 km2. Phía Bắc giáp tỉnh Hà Giang; phía Nam giáp tỉnh Phú Thọ; phía Đông giáp tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn và Thái Nguyên; phía Tây giáp tỉnh Yên Bái. Tỉnh Tuyên Quang có vị trí địa lý nằm ở từ 21029' - 22042' độ vĩ Bắc, từ 104050' - 105036' độ kinh Đông. Tuyên Quang có ngọn núi Chạm Chu cao 1.587 m và có 3 con sông chính: Sông Lô dài 145 km, Sông Gâm dài 110 km và sông Đáy dài 81 km.
Trong tiến trình lịch sử vùng đất Tuyên Quang đã trải qua nhiều lần thay đổi về tên gọi, tỉnh Tuyên Quang, rồi tỉnh Hà Tuyên và nay là tỉnh Tuyên Quang.
1. Về địa lý tự nhiên
Những năm đầu mới thành lập Tuyên Quang gồm 6 đơn vị hành chính: Huyện Na Hang, huyện Chiêm Hoá, huyện Hàm Yên, huyện Yên Sơn, huyện Sơn Dương và thị xã Tuyên Quang. Đến năm 2010, thị xã Tuyên Quang được Chính phủ Quyết định là Thành phố loại III trực thuộc tỉnh. Năm 2011, thực hiện Quyết định số 07/QĐ-CP điều chỉnh địa giới hành chính 2 huyện Na Hang và Chiêm Hoá thành lập huyện mới: Huyện Lâm Bình.
Tỉnh Tuyên Quang được hình thành bởi 2 vùng:
+ Vùng cao phía Bắc: Vùng này có độ cao trung bình là 600 m so với mặt nước biển. Gồm các xã thuộc huyện Lâm Bình, Na Hang và (8 xã huyện Chiêm Hoá, 2 xã thuộc huyện Hàm Yên và 3 xã thuộc huyện Yên Sơn). Cư dân vùng này chủ yếu là đồng bào dân tộc ít người, dân cư thưa thớt, các ngành kinh tế chủ yếu là các nguồn lợi từ rừng, trồng cây lương thực và chăn nuôi đại gia súc, giao thông khó khăn.
+ Phía Nam của tỉnh gồm các xã thuộc huyện Sơn Dương; các xã, phường của Thành phố Tuyên Quang và (18 xã của huyện Chiêm Hóa; 16 xã huyện Hàm Yên và 28 xã huyện Yên Sơn). Đây là vùng đồi núi thấp và các soi bãi và đồng ruộng màu mỡ cùng các thung lũng lớn như thung lũng Tuyên Quang có sông Lô chảy qua, thung lũng Sơn Dương có sông Phó Đáy chảy qua, thung lũng Yên Bình có con sông Chảy chảy qua, đây là vùng đất giàu tiềm năng kinh tế nhất của tỉnh, giao thông khá phát triển, cư dân chủ yếu là đồng bào Kinh, Tày... người dân ở vùng này có trình độ khá về mọi mặt, kinh tế mũi nhọn của vùng chủ yếu là cây lương thực.
2. Về tình hình kinh tế
Nhìn chung điều kiện phát triển kinh tế cả hai vùng tự nhiên của Tuyên Quang đều là cây công nghiệp, chăn nuôi và khai thác khoáng sản (thiếc, kẽm, ăng ti moan). Tuy nhiên, vùng núi của Tuyên Quang là kinh tế tự cung, tự cấp và trình độ dân trí còn chưa đồng đều, sản xuất nông, lâm nghiệp lạc hậu, công nghiệp chậm phát triển.
Giao thông của tỉnh chủ yếu là sử dụng Quốc lộ 2 và cũng là con đường huyết mạch nối Tuyên Quang với tỉnh Biên giới Hà Giang và các tỉnh thành phố miền xuôi; Quốc lộ 37 từ bờ đậu Thái Nguyên qua Tuyên Quang sang Yên Bái; đường từ Thành phố Tuyên Quang về Sơn Dương qua đèo Khuôn Do xuôi về Vĩnh Yên (Vĩnh Phúc) và đường 174 và 176 từ km 31 (Thái Sơn - Hàm Yên) qua Chiêm Hoá lên Na Hang. Trước cách mạng tháng 8 việc đi lại của nhân dân chủ yếu đi bộ. Sau khi cách mạng tháng 8 thành công, Đảng và Nhà nước đã mở đường xe cơ giới cho nhân dân đi lại. Tuyên Quang dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước dân chủ nhân dân, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, bằng các chính sách mềm dẻo cộng với nhân dân sớm giác ngộ cách mạng, đứng lên xây dựng xã hội, cuộc sống mới. Với sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, Chính phủ có nhiều cán bộ đã được điều động lên Tuyên Quang cùng với nhân dân các dân tộc Tuyên Quang xây dựng chính quyền cách mạng, đánh bại mọi âm mưu, thủ đoạn của bọn tàn dư phản cách mạng bằng đấu tranh chính trị kết hợp đấu tranh vũ trang, giữ vững được chính quyền cách mạng. Đảng bộ, chính quyền, nhân dân các dân tộc trong tỉnh, dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, Chính phủ cách mạng, đã lãnh đạo nhân dân các dân tộc cùng cả nước tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, mái Đình Hồng Thái, cây Đa Tân Trào đã đi vào lịch sử. Chiều ngày 16/8/1945 tại cây đa Tân Trào đồng chí Võ Nguyên Giáp đã thay mặt ủy ban khởi nghĩa đọc Bản Quân lệnh số 1 làm lễ xuất quân Nam Tiến, đây là lễ xuất quân công khai đầu tiên của quân giải phóng Việt Nam. Sau lễ xuất quân, Quốc dân Đại hội khai mạc tại Đình Tân Trào, Đại hội nhất trí tán thành chủ trương Tổng khởi nghĩa của Đảng Cộng sản Đông Dương, thông qua mười chính sách lớn của Việt Minh; lập ra ủy ban dân tộc giải phóng Việt Nam do đồng chí Hồ Chí Minh làm Chủ tịch, qui định Quốc ca, Quốc kỳ.
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp “1945-1954”, cùng với lực lượng vũ trang chủ lực do Trung ương chi viện, thì lực lượng dân quân tự vệ địa phương đã khắc phục khó khăn, gian khổ chiến đấu với quân viễn chinh Pháp và bè lũ tay sai phản động, chặn đứng quân Pháp, không để chúng liên kết, hòng tiến công vào căn cứ cách mạng ở Tuyên Quang. Vừa chiến đấu vừa tích cực tăng gia sản xuất, chi viện sức người, sức của cho chiến trường góp phần kết thúc 9 năm kháng chiến bằng chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu.
Cũng trong cuộc kháng chiến này, đồng bào các dân tộc và lực lượng vũ trang tỉnh Tuyên Quang dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, trực tiếp là Khu uỷ Việt Bắc và Đảng bộ tỉnh đã chiến đấu anh dũng làm cho thực dân Pháp và bè lũ tay sai phản động, phải kinh hoàng, lập nên nhiều chiến công vẻ vang (Chiến thắng Cầu Cả; Km7; Chiến thắng trên sông Lô) góp phần cùng nhân dân cả nước đánh thắng thực dân Pháp và can thiệp của đế quốc Mỹ để viết lên trang sử hào hùng của dân tộc, góp phần tô thắm thêm truyền thống đấu tranh bất khuất chống giặc ngoại xâm, bảo vệ quê hương đất nước của nhân dân các dân tộc Tuyên Quang.
II. Hoạt động công tác Thống kê trước Cách mạng tháng 8/1945 và trong kháng chiến chống thực dân Pháp của tỉnh Tuyên Quang
1. Trước Cách mạng tháng 8/1945
Theo các tài liệu còn lưu giữ được của các nhà nghiên cứu lịch sử dùng để biên soạn cuốn Lịch sử Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang, có hơn 183 năm đấu tranh, xây dựng và phát triển (1832 - 2015) do Tỉnh uỷ, HĐND, UBND tỉnh Tuyên Quang chỉ đạo biên soạn, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia ấn hành đã chứng tỏ ở giai đoạn này công tác Thống kê đã được chú trọng thông qua các tổ chức tự thu thập số liệu về đất đai, kinh tế - xã hội và dân số nhằm phục vụ cho việc cai trị bóc lột; huy động phu phen, tạp dịch của các tầng lớp cai trị bất lương trên địa bàn.
Tuy nhiên những số liệu thu thập không có hệ thống, không toàn diện. Giai cấp thống trị chỉ tổ chức thu thập số liệu khi cần thiết, chính vì vậy công tác Thống kê thời kỳ này không phát triển, mức độ chính xác chưa cao.
2. Từ sau Cách mạng tháng 8/1945 đến năm 1954
Ngay sau khi giành được chính quyền, thành lập Nhà nước dân chủ nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 61/SL ngày 06/5/1946 thành lập Nha Thống kê Việt Nam nằm trong Bộ Quốc dân Kinh tế, nhằm chỉ huy thống nhất các cơ quan kinh tế trong nước.
Trong Bộ Quốc dân Kinh tế gồm có 5 Nha: Nha Thương vụ, Nha Quán chất và Mỹ nghệ, Nha Tiếp tế, Nha Kinh tế tín dụng và Nha Thống kê Việt Nam. Về mặt tổ chức ngay từ ngày đầu lập nước Hồ Chủ Tịch đã chú ý và quan tâm đến Công tác Thống kê.
a. Chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của Ngành Thống kê cả nước
Căn cứ Sắc lệnh số 61/SL ngày 06/5/1946, Bộ trưởng Bộ Quốc dân Kinh tế đã ra Nghị định số 102/BQDKT ngày 28/5/1946 về việc quy định nhiệm vụ và tổ chức của Nha Thống kê Việt Nam như sau:
- Sưu tầm, thu thập những tài liệu và những con số có liên quan đến vấn đề xã hội, kinh tế hay văn hoá;
- Xuất bản sách về Thống kê;
- Nha Thống kê có thể liên lạc thẳng với cơ quan Thống kê các Bộ, các kỳ và các tỉnh và các công sở khác để sưu tầm các tài liệu cần thiết.
Để củng cố và hợp lý hoá tổ chức, Nha Thống kê Việt Nam cũng thay đổi nhiều lần: Ngày 25/4/1949 theo Sắc lệnh số 33/SL của Chủ tịch nước Nha Thống kê sáp nhập vào Phủ Chủ tịch. Sau đó ngày 11/7/1950 Chủ tịch nước lại ký Sắc lệnh số 124/SL bãi bỏ Nha Thống kê Việt Nam, Thủ tướng Chính phủ ký Nghị định số 38/TTg thành lập Phòng Thống kê trong Văn phòng Thủ tướng phủ với chức năng, nhiệm vụ:
- Thu thập và xếp đặt các tài liệu Thống kê của các Bộ, các Uỷ ban kháng chiến hành chính địa phương.
- Giúp các Bộ và Uỷ ban kháng chiến hành chính địa phương tổ chức và hướng dẫn theo dõi Công tác Thống kê.
Phòng Thống kê trong Văn phòng Thủ tướng phủ thực hiện chức năng trong suốt thời kỳ kháng chiến chống Pháp cho đến ngày 20/2/1956 thành lập Cục Thống kê Trung ương trong Uỷ ban kế hoạch Nhà nước.
b. Hoạt động công tác Thống kê
Tỉnh Tuyên Quang có 38 dân tộc sinh sống, trong những năm đầu mới thành lập, giao thông chậm phát triển, trình độ dân trí còn thấp, trên 90% dân số mù chữ. Trong cộng đồng các dân tộc thiểu số cư trú trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang, mỗi dân tộc một ngôn ngữ, một tập tục khác nhau. Mặc dù đã giành được chính quyền, song suốt thời kỳ kháng chiến chống Pháp là cả quá trình đấu tranh quyết liệt vừa chống ngoại xâm, vừa trừ gian vừa vận động nhân dân tăng gia sản xuất và thực hiện bình dân học vụ để chống giặc đói, giặc dốt. Đồng thời củng cố chính quyền cách mạng non trẻ, giác ngộ thổ ty, bang tá theo cách mạng để phục vụ công cuộc kháng chiến, cũng chính vì vậy thời kỳ này hoạt động Thống kê còn gặp rất nhiều khó khăn, không hình thành tổ chức chuyên trách, không có cán bộ chuyên lo công tác Thống kê. Mọi hướng dẫn thu thập số liệu, tình hình để đáp ứng yêu cầu của Thống kê Trung ương do Uỷ ban kháng chiến hành chính đảm trách thu thập qua cơ quan kháng chiến cơ sở.
Qua công tác thu thập tổng hợp số liệu bằng các nguồn khác nhau và bằng các hình thức khác nhau đã cung cấp được số liệu phục vụ yêu cầu kháng chiến. Theo tài liệu trong cuốn Lịch sử Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang, phong trào quyên góp nuôi quân ủng hộ kháng chiến toàn tỉnh phát triển nhanh, 6 tháng đầu năm 1951 đã quyên góp được 208 tấn thóc và 1.104.932 đồng… Năm 1953 có số liệu huy động dân công phục vụ sửa chữa giao thông, phục vụ ở địa phương và phục vụ liên khu được 12.174 dân công. Vận chuyển 1.607.374 kg thóc về Bình Ca (Tuyên Quang) để đưa ra tiền tuyến. Những số liệu Thống kê trên đã thể hiện được sự chỉ đạo của Chính phủ cách mạng về thực hiện nhiệm vụ Thống kê của địa phương.
c. Đánh giá, nhận xét công tác Thống kê
So với cả nước, cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân Tuyên Quang có những đặc thù riêng vì vừa phải cùng lực lượng vũ trang chủ lực chiến đấu không để bọn phản động ở cơ sở cấu kết với thực dân Pháp đánh phá lấn chiếm xuống vùng căn cứ cách mạng của ta ở Tuyên Quang, vừa phải củng cố chính quyền non trẻ, xây dựng lực lượng cách mạng tại chỗ, giác ngộ cách mạng cho đồng bào các dân tộc để đấu tranh chống giặc đói, giặc dốt, đẩy mạnh tăng gia sản xuất. Mặt khác, tuy được Trung ương tăng cường cán bộ làm nòng cốt lãnh đạo phong trào song vì xa xôi, hẻo lánh, giao thông đi lại khó khăn, khí hậu khắc nghiệt; Với những lí do đó, số cán bộ miền xuôi được điều động cho Tuyên Quang không nhiều. Sau chiến dịch Biên giới Thu Đông (1951 – 1952) nhiều cán bộ từ vùng Vĩnh Phúc, Phú Thọ đến tăng cường; tuy nhiên việc hoà nhập và phát huy năng lực của cán bộ miền xuôi trong vùng dân tộc cũng còn hạn chế, vì ngôn ngữ bất đồng, phong tục tập quán khác nhau. Cán bộ khó thâm nhập vào vùng dân tộc, đặc biệt đối với đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa. Hoạt động công tác Thống kê trong thời kỳ này ở địa phương chủ yếu do Ủy ban Kháng chiến các cấp thực hiện, nên có nhiều hạn chế: Việc thống kê diện tích đất đai, vì đơn vị đo lường diện tích mỗi vùng, mỗi khác. Vùng cao trồng lúa nương, trồng ngô tính bằng ống, cân giống, cân kg, bằng bung; vùng thấp cấy lúa tính bằng bó mạ, ở các huyện khác nhau, bó mạ quy ước to, nhỏ cũng khác nhau. Nói tóm lại để có những số liệu Thống kê phục vụ cho công cuộc kháng chiến, phát triển sản xuất, các cấp chính quyền đã phải rất khó khăn, vất vả mới thu thập và tổng hợp được theo yêu cầu của cơ quan Thống kê Trung ương và liên khu, của Đảng bộ và chính quyền cách mạng địa phương.
CHƯƠNG II
THỐNG KÊ TỈNH TUYÊN QUANG THỜI KỲ 1955 - 1975
I. Đặc điểm tình hình kinh tế - xã hội và đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước
1. Đặc điểm chung
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ lịch sử buộc thực dân Pháp và bè lũ tay sai phải ký hiệp định Giơnevơ năm 1954 chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp. Nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ sau 9 năm trường kỳ kháng chiến đã giành được thắng lợi. Hoà bình được lập lại trên toàn Đông Dương.
Theo hiệp định Giơnevơ nước ta tạm thời chia làm hai miền, lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới tạm thời để sau 2 năm tiến hành hiệp thương thống nhất nước nhà. Tuy nhiên, ngay sau khi ký hiệp định Giơnevơ, bọn tay sai Ngô Đình Diệm núp dưới sự can thiệp của đế quốc Mỹ đã ngang nhiên phá hoại hiệp định đã được ký, tuyên truyền chống phá, dụ dỗ, lôi kéo đồng bào miền Bắc di cư vào miền Nam, nhất là đồng bào công giáo. Chính quyền ngụy với sự can thiệp của đế quốc Mỹ điên cuồng chống phá không thi hành hiệp định; không tiến hành hiệp thương, tổng tuyển cử để thống nhất 2 miền đất nước. Từ đây cách mạng Việt Nam bước sang giai đoạn mới, giai đoạn thực hiện đường lối chiến lược của Đảng và Nhà nước với nội dung:
Một là: Tiến hành cuộc cách mạng XHCN ở miền Bắc, xây dựng miền Bắc thành căn cứ cách mạng vững chắc của cách mạng cả nước.
Hai là: Tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, giải phóng miền Nam, hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam tiến tới thống nhất Tổ quốc. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III, ngày 05 tháng 9 năm 1960 đề ra đường lối cách mạng Việt Nam là thực hiện song song hai nhiệm vụ chiến lược: Xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam thống nhất nước nhà.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ; Cách mạng Việt Nam tiếp tục một chặng đường cách mạng mới, trong suốt 20 năm (từ 1955 đến 1975). Trải qua biết bao khó khăn, thử thách với sự anh dũng, kiên cường, bất khuất của nhân dân Việt Nam, được sự ủng hộ của bè bạn năm Châu, với đường lối chính sách sáng suốt của Đảng và Nhà nước. Đất nước ta đã vững bước giành từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, đến năm 1975 cách mạng Việt Nam thắng lợi hoàn toàn, cả nước về một mối, sạch bóng quân thù; Việt Nam thống nhất, non sông một dải, hai miền Nam, Bắc xum họp một nhà.
Cả chặng đường cách mạng đó, chúng ta có thể chia ra các giai đoạn cụ thể như sau:
- Giai đoạn 1955 - 1957: Đây là giai đoạn hàn gắn vết thương chiến tranh, phục hồi và phát triển kinh tế miền Bắc. Đấu tranh chống luận điệu xuyên tạc của các thế lực phản động nhằm kích động lôi kéo đồng bào công giáo di cư vào Nam.
- Giai đoạn 1958 - 1960: Đảng và Nhà nước ta đề ra kế hoạch và tổ chức chỉ đạo nhân dân thực hiện kế hoạch 3 năm cải tạo xã hội chủ nghĩa và phát triển kinh tế - văn hoá miền Bắc.
- Giai đoạn 1961 - 1965: Thực hiện phát triển kinh tế - xã hội 5 năm lần thứ nhất.
- Giai đoạn 1965 - 1975: Tiếp tục xây dựng, củng cố phát triển quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, chống cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của đế quốc Mỹ, chi viện sức người, sức của cho đồng bào miền Nam ruột thịt; dốc lòng, dốc sức thực hiện công cuộc giải phóng miền Nam thống nhất nước nhà, mở đầu là cuộc Tổng tiến công mùa Xuân Mậu Thân năm 1968. Đây là một giai đoạn hào hùng của dân tộc. Trên chiến trường miền Nam chiến công nối tiếp chiến công; Ở miền Bắc quân, dân không sợ gian khổ, không ngại hy sinh; lưới phòng không của quân, dân kết hợp đã anh dũng chống cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân, hải quân của đế quốc Mỹ lần thứ nhất (1964 - 1968) và tiếp theo chiến thắng lẫy lừng đế quốc Mỹ (1969 - 1973). Kết thúc chiến tranh phá hoại cũng bằng một chiến thắng Điện Biên Phủ trên không ngay trên bầu trời Thủ đô Hà Nội buộc đế quốc Mỹ phải ngồi vào bàn ký hiệp định Pari và chịu thất bại thảm hại cuốn cờ rút quân ra khỏi bờ cõi, đất nước ta.
Những giai đoạn lịch sử đó Đảng và Nhà nước ta đã lãnh đạo nhân dân ta vượt qua gian khổ hy sinh giành được từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc có sự đóng góp của nhân dân các dân tộc tỉnh Tuyên Quang phát huy truyền thống quê hương Cách mạng: Thủ đô kháng chiến thời kỳ chống Pháp đã góp công sức xây dựng quê hương nhất là giai đoạn chống Mỹ cứu nước. Tuyên Quang dù là một tỉnh miền núi còn khó khăn nhưng đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình với đất nước, khẩu hiệu: “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người” được Đảng bộ, các cấp chính quyền, các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân các dân tộc trong tỉnh thực hiện triệt để.
2. Đặc điểm công tác Thống kê
Ngay sau khi hoà bình lập lại Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều văn bản pháp quy hướng dẫn cụ thể để xúc tiến công tác Thống kê phục vụ cho công việc hàn gắn vết thương chiến tranh, phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội và sau này là các kế hoạch 3 năm, 5 năm xây dựng kinh tế - văn hoá. Quá trình 20 năm từ (1955-1975) đối với ngành Thống kê là quá trình xây dựng và trưởng thành với những chính sách của Đảng và Nhà nước. Điểm lại thời kỳ này Nhà nước đã có các văn bản pháp quy về công tác Thống kê như sau:
- Ngày 20 tháng 2 năm 1956, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Điều lệ số 695/TTg thành lập Cục Thống kê Trung ương nằm trong Uỷ ban kế hoạch Nhà nước.
- Ngày 29 tháng 9 năm 1961, Hội đồng Chính phủ đã ban hành Nghị định số 131/CP tách Cục Thống kê Trung ương ra khỏi Uỷ ban kế hoạch Nhà nước thành lập cơ quan trực thuộc Chính phủ gọi tên là Tổng cục Thống kê với chức năng, nhiệm vụ được xác định: Chỉ đạo tập trung thống nhất toàn bộ công tác thống kê và điều tra thống kê theo đường lối chính sách của Đảng và Chính phủ; hoàn thành tốt nhiệm vụ: Sưu tầm, chỉnh lý, phân tích, các tài liệu thống kê có căn cứ khoa học phục vụ cho Đảng, Chính phủ quản lý, lãnh đạo, chỉ đạo công cuộc kế hoạch hoá nền kinh tế quốc dân.
Chính phủ đã giao 10 nhiệm vụ cụ thể cho Tổng cục Thống kê:
+ Lập và ban hành hoặc trình Thủ tướng Chính phủ ban hành các biểu mẫu và chế độ báo cáo thống kê, phương án điều tra thống kê, phương pháp tính toán và phân loại chỉ tiêu thống kê. Tổ chức chỉ đạo các ngành, các cấp thực hiện chế độ báo cáo thống kê và các cuộc điều tra Thống kê.
+ Trình Hội đồng Bộ trưởng đồng thời gửi Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước các báo cáo về quá trình thực hiện kế hoạch Nhà nước, kèm theo những nhận xét và kiến nghị.
+ Tổ chức và chỉ đạo các cuộc điều tra thống kê về tình hình kinh tế - văn hoá - xã hội theo chương trình đã được Hội đồng Chính phủ phê chuẩn hoặc các Nghị quyết, Chỉ thị của Hội đồng Chính phủ.
+ Lập các bảng thống kê cân đối về kinh tế quốc dân, tính tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân, lập các bảng cân đối lao động xã hội, vật tư, dự báo tình hình phát triển dân số...
+ Công bố tình hình thực hiện kế hoạch Nhà nước, xét duyệt hoàn thành kế hoạch Nhà nước cho các đơn vị kinh tế cơ sở, xuất bản niên giám thống kê, phát hành tập san thống kê và biên soạn các tài liệu về khoa học thống kê.
+ Thống nhất quản lý số liệu thống kê về kinh tế - văn hoá - xã hội nhằm cung cấp cho Trung ương Đảng, Chính phủ, UBKH Nhà nước và các ngành có liên quan những số liệu đã được thẩm tra, chỉnh lý để thống nhất sử dụng.
+ Sưu tầm và hệ thống hoá số liệu thống kê về kinh tế - văn hoá miền Nam Việt Nam.
+ Sưu tầm và hệ thống hoá số liệu kinh tế - văn hoá của nước ngoài.
+ Tổ chức và chỉ đạo công tác cơ khí hoá tính toán và tiến tới tự động hoá tính toán ở Việt Nam.
+ Ngoài những nhiệm vụ trên, ngành Thống kê còn có nhiệm vụ nắm chắc các vật tư, lương thực, hàng hoá và lao động chi viện cho miền Nam và cuộc kháng chiến chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ.
Cũng trong giai đoạn này Chính phủ đã ra Nghị quyết số 112/CP ngày 22/7/1964 về việc xét duyệt, công nhận và công bố hoàn thành kế hoạch Nhà nước; ban hành Thông tư số 71/TTg-CN ngày 22/7/1964 quy định tạm thời về nội dung xét duyệt, công nhận hoàn thành kế hoạch Nhà nước, công tác này hàng năm Thủ tướng Chính phủ đều có thông tư hướng dẫn.
Đối với nhiệm vụ tổ chức thực hiện và chỉ đạo công tác kế toán và thống kê, công tác cơ khí hoá tính toán. Hội đồng Chính phủ đã ban hành các Nghị quyết 02/CP về tổ chức lại các hệ thống thông tin kinh tế (Nghị quyết số 02 có phần nói riêng về thông tin thống kê và kế toán); Nghị quyết số 168/CP về việc cải tiến kỹ thuật tính toán, từng bước cơ khí hoá tính toán và tiến lên tự động hoá công tác tính toán kinh tế Việt Nam.
Đặc biệt năm 1974, kế thừa và phát huy Nghị định số 131/CP ngày 29 tháng 9 năm 1961. Ngày 05 tháng 4 năm 1974 Chính phủ ban hành Nghị định 72/CP, kèm theo điều lệ tổ chức và hoạt động của Tổng cục Thống kê. Điều lệ này quy định Tổng cục Thống kê là cơ quan Trung ương trực thuộc Hội đồng Chính phủ, có trách nhiệm tổ chức và quản lý thống nhất công tác kế toán và thống kê. Tổng cục Thống kê thực hiện nhiệm vụ của mình trên cơ sở đường lối chính sách và các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng và Chính phủ. Các Bộ, Tổng cục, Địa phương và đơn vị cơ sở khi công bố số liệu về tình hình hoạt động kinh tế, văn hoá của ngành, địa phương mình phải theo đúng số liệu thống kê đã báo cáo với Tổng cục Thống kê. Để tăng cường hiệu lực của công tác Thống kê nhằm phục vụ lãnh đạo của Đảng, Chính quyền các cấp trong tình hình mới, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 84/TTg ngày 18/4/1974 cho phép Tổng cục Thống kê quản lý tập trung thống nhất hệ thống thống kê theo cấp hành chính từ Trung ương đến cấp Huyện (ngành dọc) về các mặt: Tổ chức bộ máy, biên chế, quỹ lương và kinh phí hoạt động.
Ngay trong năm 1974, Tổng cục Thống kê đã kịp thời có Quyết định số103/TCTK-TCCB ngày 6/9/1974 ban hành quy định tạm thời về phân cấp công tác quản lý tổ chức cán bộ, biên chế quỹ lương thuộc hệ thống thống kê Nhà nước tại địa phương. Theo quy định này Tổng cục Thống kê quản lý cán bộ ở các địa phương gồm Cục trưởng, Các Phó cục trưởng, trưởng các phòng nghiệp vụ của Cục Thống kê tỉnh và các cán bộ có trình độ Đại học trở lên, các đối tượng khác được giao cho Cục trưởng Cục Thống kê tỉnh trực tiếp quản lý.
3. Hệ thống tổ chức Thống kê
Theo Điều lệ số 695/TTg ngày 20/2/1956 của Thủ tướng Chính phủ về tổ chức Cục Thống kê Trung ương các cơ quan Thống kê địa phương và các tổ chức Thống kê ở các Bộ của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà gồm:
- Cục Thống kê Trung ương trong UBKH Nhà nước;
- Ban Thống kê địa phương;
- Tổ chức Thống kê ở các Bộ, các cơ quan, xí nghiệp.
Cũng theo điều lệ này Cục Thống kê Trung ương và các cơ quan Thống kê ở địa phương là một hệ thống nhất, tập trung. Trong cục Thống kê Trung ương có các phòng:
+ Phòng Thống kê Tổng hợp;
+ Phòng Thống kê Nông nghiệp;
+ Phòng Thống kê Công nghiệp - Vận tải;
+ Phòng Thống kê Thương nghiệp, Tài chính;
+ Phòng Thống kê Văn hoá, giáo dục, y tế, dân số, lao động.
Sau hơn một năm thực hiện điều lệ 695/TTg của Chính phủ, để tạo điều kiện hoàn thành tốt chức năng, quyền hạn của mình, ngày 8/4/1957 Thủ tướng Chính phủ ra Nghị định 142/TTg quy định lại tổ chức, bộ máy của các cơ quan thống kê các cấp; các ngành bãi bỏ điều lệ số 695/TTg ngày 20/2/1956.
Về tổ chức bộ máy, theo Nghị định số 142/TTg, Bộ máy Thống kê các cấp, các ngành gồm có:
- Cục Thống kê Trung ương (Trong UBKH Nhà nước).
- Các Chi cục Thống kê liên khu, khu, thành phố, tỉnh.
- Phòng Thống kê huyện, quận.
- Ban Thống kê xã.
Với hệ thống tổ chức này Tổng cục Thống kê Trung ương có các phòng:
+ Phòng Thống kê Tổng hợp;
+ Phòng Thống kê Nông nghiệp;
+ Phòng Thống kê Công nghiệp;
+ Phòng Thống kê Xây dựng cơ bản;
+ Phòng Thống kê Thương nghiệp, tài chính;
+ Phòng Thống kê Văn hoá, giáo dục, y tế, dân số, lao động.
Đến ngày 29/9/1961 thực hiện Nghị định số 15/NQ-TVQH của Uỷ ban thường vụ Quốc hội ngày 21/12/1960 tách Cục Thống kê Trung ương ra khỏi UBKH Nhà nước thành lập Tổng cục Thống kê. Hội đồng Chính phủ ban hành Nghị định số 131-CP quy định chức năng nhiệm vụ và tổ chức bộ máy của Tổng cục Thống kê. Theo đó Tổ chức bộ máy của Tổng cục Thống kê gồm có:
- Văn Phòng;
- Vụ Thống kê Tổng hợp;
- Vụ Thống kê Công nghiệp;
- Vụ Thống kê Nông nghiệp;
- Vụ Thống kê Thương nghiệp và Tài chính;
- Vụ Thống kê Xây dựng cơ bản;
- Vụ Thống kê Cung cấp vật tư kỹ thuật;
- Vụ Thống kê Lao động - Văn xã;
- Các đơn vị sự nghiệp do Tổng cục Thống kê quản lý.
Ở địa phương: Cấp tỉnh, thành phố, khu tự trị có các Chi cục Thống kê; các huyện, thị xã có các phòng Thống kê.
Ở các Bộ, ngành Trung ương có cơ quan Thống kê.
Năm 1968, thực hiện Nghị quyết số 02/CP của Chính phủ về tổ chức lại hệ thống thông tin thống kê. Tổng cục Thống kê được Hội đồng Chính phủ quyết định thành lập Cục kỹ thuật tính toán và các Vụ trong cơ quan Tổng cục là Vụ Tổ chức cán bộ, Vụ phương pháp chế độ và Vụ Cân đối.
Ngày 5/4/1974, Hội đồng Chính phủ ra Nghị định số 72/CP ban hành điều lệ về tổ chức và hoạt động của Tổng cục Thống kê thay thế Nghị định số 131/CP ngày 29/9/1961 của Hội đồng Bộ trưởng. Theo Nghị định số 72/CP-TCTK là cơ quan Trung ương trực thuộc Chính phủ có trách nhiệm tổ chức và quản lý thống nhất công tác hạch toán kế toán và thống kê; quản lý tập trung thống nhất hệ thống tổ chức thống kê Nhà nước từ Trung ương đến cấp huyện và quản lý hệ thống thông tin kinh tế trong nền kinh tế quốc dân.
Theo Nghị định này tổ chức bộ máy của Tổng cục Thống kê gồm:
- Vụ thống kê Nông, lâm nghiệp.
- Vụ thống kê Công nghiệp.
- Vụ thống kê Xây dựng cơ bản.
- Vụ thống kê Giao thông vận tải, Bưu chính và viễn thông.
- Vụ thống kê Cung cấp vật tư kỹ thuật.
- Vụ thống kê Thương nghiệp.
- Vụ thống kê Lao động - Tiền lương.
- Vụ thống kê Dân số.
- Vụ thống kê Tài chính - Ngân hàng - Giá cả.
- Vụ thống kê Đời sống - Văn hoá - Xã hội.
- Vụ thống kê Tổng hợp và Thông tin kinh tế.
- Vụ thống kê Cân đối kinh tế quốc dân.
- Vụ Hạch toán thống nhất và phương pháp chế độ thống kê.
- Vụ Tổ chức cán bộ.
- Viện Thông tin kinh tế và nghiên cứu khoa học thống kê.
- Cục Kỹ thuật tính toán.
- Văn phòng Tổng cục Thống kê.
Các trường trực thuộc:
+ Trường cán bộ Thống kê Trung ương
+ Trường đào tạo công nhân kỹ thuật máy tính và một số đơn vị sản xuất như Trung tâm tính toán, phòng và trạm máy tính, xưởng sửa chữa máy tính.
Từ năm 1955 đến năm 1975, qua 20 năm xây dựng và trưởng thành đây là thời kỳ Đảng, Chính phủ hết sức quan tâm đến công tác thống kê, tạo điều kiện cả về cơ sở vật chất và cơ sở pháp lý tốt nhất cho Ngành Thống kê phát triển. Đồng thời đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ tâm huyết với ngành thống kê, đây cũng là thời kỳ bằng sự nỗ lực cố gắng của mình Ngành Thống kê đã phục vụ đáp ứng được yêu cầu của lãnh đạo Đảng và Chính quyền các cấp trong công cuộc thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: Xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, tiến hành kháng chiến chống Mỹ giải phóng miền Nam tiến tới thống nhất nước nhà.
II. Hoạt động công tác thống kê tỉnh Tuyên Quang
Trước hoà bình lập lại, tỉnh Tuyên Quang là thủ đô khu giải phóng. Khi miền Bắc được giải phóng các cơ quan Trung ương của Đảng và Chính phủ rời chiến khu về tiếp quản Thủ đô. Đảng bộ, Chính quyền cùng nhân dân các dân tộc của Tuyên Quang dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, Chính phủ, Tuyên Quang đã hoà cùng cả nước khắc phục hậu quả chiến tranh, thực hiện kế hoạch 3 năm khôi phục và phát triển kinh tế; kế hoạch 5 năm lần thứ nhất và những năm tiếp theo vừa xây dựng và phát triển kinh tế, vừa chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ; đồng thời góp sức người, sức của chi viện chiến trường miền Nam.
Trong giai đoạn này với sự quan tâm của cấp uỷ, chính quyền, chỉ đạo của Cục Thống kê Trung ương và sau này là Tổng cục Thống kê. Ngành Thống kê Tuyên Quang đã từng bước trưởng thành, đóng góp công sức vào công cuộc xây dựng kinh tế - xã hội. Trong công cuộc chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, ngành Thống kê đã cử cán bộ tham gia lực lượng vũ trang lên đường vào chiến trường miền Nam. Kết quả của công tác ngành Thống kê Tuyên Quang đã góp phần cùng với Thống kê cả nước hoàn thành nhiệm vụ được Đảng và Nhà nước giao.
Cũng như hoạt động Thống kê cả nước trong 20 năm (từ 1955 - 1975), kể từ khi thành lập Ngành Thống kê Tuyên Quang, thực hiện chức năng được giao trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang, hoạt động của công tác Thống kê gắn liền với hoạt động kinh tế - xã hội và cũng có thể chia ra từng thời kỳ để thấy được từng bước trưởng thành của ngành Thống kê Tuyên Quang góp phần phục vụ sự lãnh đạo của Đảng bộ và Chính quyền các cấp như sau:
1. Giai đoạn từ 1955 - 1957: Công tác Thống kê phục vụ Đảng bộ và Chính quyền các cấp hàn gắn vết thương chiến tranh và khôi phục kinh tế
a. Đặc điểm kinh tế - xã hội
Về kinh tế: Sau khi hoà bình lập lại Đảng bộ và Chính quyền các cấp trong tỉnh Tuyên Quang đã lãnh đạo nhân dân các dân tộc bắt tay vào công cuộc khôi phục kinh tế, khắc phục những hậu quả của cuộc kháng chiến chống Pháp do ảnh hưởng chiến tranh nên hơn 2.000 mẫu ruộng bị bỏ hoang, hơn thế vụ Mùa năm 1954 bị thiên tai, sâu bệnh làm mất trắng 2.313 ha lúa, sản lượng lúa trong năm hụt 6.000 tấn, theo thống kê chưa đầy đủ đợt thiếu đói giáp hạt tháng 3/1955 đã làm thiếu đói ở 151 xã, phường và có 3.651 hộ gia đình với 14.543 nhân khẩu bị đói rét làm nhiều người chết vì sưng phổi: ở huyện Sơn Dương trong 12 xã có 131 người chết, huyện Yên Bình ở 14 xã có 122 người chết; 18 xã của huyện Yên Sơn có 129 người chết (Lịch sử Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang, trang 210 - Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia).
Trước tình hình đó đầu năm 1955, Hội nghị Đảng bộ tỉnh đã họp kiểm điểm đánh giá những khó khăn, nguyên nhân gây ra tình trạng thiếu đói, đồng thời học tập lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh; Chỉ thị của Ban Bí thư TW Đảng; Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ nhằm phát động phong trào thi đua sản xuất, tiết kiệm, phát động phong trào làm thuỷ lợi, đẩy mạnh sản xuất để phòng chống đói, cải thiện dân sinh, phát triển kinh tế, vượt qua được khó khăn thiếu đói năm 1955. Nhân dân các dân tộc trong tỉnh dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ và Chính quyền các cấp đã từng bước khôi phục, phát triển kinh tế, khắc phục tư tưởng ỷ lại, sợ khó, sợ khổ của cán bộ đảng viên; kết hợp chặt chẽ giữa phát triển sản xuất nông nghiệp với phát triển nghề phụ, phát triển phong trào làm thuỷ lợi trồng hoa màu, cây công nghiệp ngắn ngày vận động đồng bào vùng cao “hạ sơn” làm ruộng, khuyến khích công, thương nghiệp phát triển, khuyến khích và giúp đỡ phát triển khai thác lâm sản thế mạnh của tỉnh miền núi Tuyên Quang. Sửa chữa và khôi phục các tuyến đường giao thông. Với quyết tâm cao Đảng bộ và chính quyền các cấp sau ba năm (1955 - 1957) đã lãnh đạo nhân dân vượt được thời kỳ khôi phục kinh tế và hàn gắn vết thương chiến tranh.
Về xã hội: Cùng với việc khôi phục kinh tế các hoạt động xã hội đã có những bước tiến bộ như y tế, giáo dục, đặc biệt an ninh - chính trị - an toàn xã hội được giữ vững. Đảng bộ và Chính quyền các cấp đã lãnh đạo nhân dân các dân tộc trong tỉnh, đập tan luận điệu tuyên truyền phản động của kẻ thù nhằm lôi kéo đồng bào di cư vào Nam.
Từ những kết quả đạt được của 3 năm thực hiện công cuộc hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục kinh tế. Đầu năm 1957, khi đánh giá kết quả 2 năm thực hiện khôi phục kinh tế, Tỉnh uỷ Tuyên Quang đã nhận định: “Tỉnh ta đã thu được nhiều kết quả, những nhiệm vụ chính đều đạt hoặc vượt mức kế hoạch. Thành tích chủ yếu của tỉnh là đẩy mạnh được sản xuất lương thực, chăn nuôi, khai thác lâm sản, phát triển công, thương nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và giao thông vận tải, tăng cường mậu dịch quốc doanh... ổn định và bước đầu cải thiện đời sống nhân dân” (Lịch sử Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang, trang 234 - Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia).
b. Hoạt động công tác Thống kê
Ngành Thống kê Tuyên Quang, đã thực sự hình thành tổ chức và đi vào hoạt động từ sau khi Điều lệ 695/TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 20/2/1956 nhưng ở Tỉnh cũng chỉ có 1 người theo dõi công tác Thống kê. Đến ngày 8/4/1957, Thủ tướng Chính phủ ra Nghị định số 142/TTg thay thế Điều lệ 695/TTg ngày 20/2/1956. Theo Nghị định 142/TTg bộ máy Thống kê được tổ chức ở từng cấp:
- Cục Thống kê (Trong UBKH Nhà nước).
- Các liên khu, khu, thành phố, tỉnh có Chi cục Thống kê.
- Các huyện, châu có Phòng Thống kê.
- Các xã có Ban Thống kê xã.
Cũng theo Nghị định này chức năng, nhiệm vụ của Chi cục Thống kê tỉnh, Phòng Thống kê huyện, châu, thị xã; Ban thống kê xã được giao nhiệm vụ cụ thể như sau:
b1. Chi cục Thống kê tỉnh
- Sưu tầm, thu thập, chỉnh lý những tài liệu điều tra thống kê cơ bản về các ngành kinh tế quốc dân và văn hoá xã hội ở địa phương, kiểm tra một cách có hệ thống tình hình thực hiện kế hoạch Nhà nước trong tỉnh; Cung cấp tài liệu cho Cục Thống kê Trung ương, Chi cục Thống kê khu, Uỷ ban hành chính và UBKH tỉnh theo chế độ quy định.
- Ngoài việc đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ điều tra thống kê do Cục Thống kê Trung ương quy định, còn phải thực hiện nhiệm vụ điều tra thống kê phục vụ yêu cầu của địa phương.
- Chỉ đạo các tổ chức Thống kê thuộc các ngành nghiệp vụ có liên quan tiến hành công tác điều tra thống kê; giúp đỡ các ngành, các cơ quan, xí nghiệp cải tiến công tác Thống kê, lãnh đạo cơ quan thống kê cấp dưới, kiểm tra việc thi hành chế độ công tác được Cục Thống kê quy định.
- Thẩm tra tính chính xác của những báo cáo Thống kê của các ngành nghiệp vụ, có quyền bác bỏ những báo cáo Thống kê không chính xác.
b2. Phòng Thống kê huyện, thị xã
Thực hiện công tác Thống kê do cơ quan Thống kê cấp trên đề ra, tổ chức thực hiện công việc điều tra Thống kê, gửi các báo cáo thống kê cho Chi cục Thống kê tỉnh theo chế độ quy định.
- Sưu tầm, thu thập và chỉnh lý những tài liệu điều tra thống kê cơ bản về các ngành kinh tế, văn hoá - xã hội trong địa phương mình (Chủ yếu là ngành nông nghiệp). Thông qua số liệu Thống kê để kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch Nhà nước ở địa phương.
- Lãnh đạo và kiểm tra công tác thống kê của Ban Thống kê xã, thẩm tra tính chính xác của báo cáo thống kê do thống kê xã gửi lên.
b3. Ban Thống kê xã
- Thực hiện nhiệm vụ điều tra thống kê do cơ quan thống kê cấp trên quy định.
- Sưu tầm, thu thập và chỉnh lý những tài liệu cơ bản về tình hình kinh tế, văn hoá, xã hội trong xã.
c. Tổ chức cán bộ và cơ sở vật chất
Theo những đồng chí đã làm việc từ cuối năm 1956 ở Chi cục Thống kê Tuyên Quang, khi có Điều lệ số 695/TTg ngày 20/2/1956 của Thủ tướng Chính phủ tại tỉnh Tuyên Quang, Ban Thống kê trong Ban Kế hoạch - Thống kê tỉnh có một cán bộ. Đến năm 1957, khi Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định 142/TTg ngày 8/4/1957 quy định ở cấp tỉnh, thành phố lập Chi cục Thống kê thì Tỉnh uỷ - Uỷ ban hành chính tỉnh đã cử ông Lê Thanh Hùng - Tỉnh uỷ viên phụ trách Chi cục Thống kê. Như vậy, Ngành Thống kê Tuyên Quang hình thành về mặt tổ chức kể từ năm 1957 - sau khi có Nghị định số 142/TTg. Khi thành lập Chi cục Thống kê tỉnh ông Lê Thanh Hùng - Tỉnh uỷ viên làm Chi cục trưởng, về cán bộ có các ông: Lê Như Thoan người Thanh Hoá sau này đã chuyển về quê, ông Hoàng Tá người Phú Thọ, ông Nguyễn Văn Ninh, ông Phạm Văn Chẩn giáo viên chuyển sang; ông Nguyễn Quang Toản tốt nghiệp trường Đại học nhân dân (tiền thân của trường Kinh tế Tài chính rồi đổi tên thành Kinh tế Kế hoạch và nay là trường Đại học Kinh tế Quốc dân) được phân công về Chi cục Thống kê và tiếp theo là ông Lê Đình Phùng từ cơ quan thuế vụ huyện Chiêm Hoá chuyển về. Từng bước được bổ sung cán bộ cho đến năm 1957, Chi cục Thống kê Tuyên Quang có:
+ Ở Chi cục đã hình thành các bộ phận (Thống kê nông nghiệp, Thống kê tổng hợp, Thống kê công nghiệp, thương nghiệp).
+ Ở các huyện đã thành lập các Phòng Thống kê ngay từ năm 1957 gồm có:
- Phòng Thống kê Thị xã Tuyên Quang, ông Phúc phụ trách.
- Phòng Thống kê huyện Nà Hang, ông Chẩu Văn Ong phụ trách.
- Phòng Thống kê huyện Chiêm Hoá, ông Chu Phùng phụ trách.
- Phòng Thống kê huyện Hàm Yên, ông Đào Duy Tín phụ trách.
- Phòng Thống kê huyện Yên Sơn, ông Trần Tuyên phụ trách.
- Phòng Thống kê huyện Sơn Dương, ông Hà Thanh Bình phụ trách.
Về cơ sở vật chất hầu như chưa có gì, các phương tiện làm việc, tiền lương, kinh phí hoạt động đều do Uỷ ban hành chính tỉnh đảm nhiệm kể cả văn thư, đánh máy, in ấn tài liệu, tiếp nhận công văn đến và chuyển công văn đi.
d. Kết quả công tác Thống kê
Trong giai đoạn này, Ngành Thống kê vừa được hình thành, song với sự quan tâm của Đảng và Chính phủ, của Cấp uỷ và Chính quyền các cấp trong tỉnh. Đặc biệt công tác tổ chức, lãnh đạo của Cục Thống kê Trung ương đối với Chi cục Thống kê các tỉnh, thành phố trong đó có Tuyên Quang. Mặc dù chỉ có một vài cán bộ nhưng vừa thực hiện nhiệm vụ công tác theo hướng dẫn của Cục Thống kê Trung ương vừa tham mưu cho Uỷ ban hành chính tỉnh tuyển chọn cán bộ bổ sung cho Chi cục Thống kê. Tiêu chuẩn để được chọn làm thống kê thời kỳ đầu là chữ đẹp, số viết rõ ràng, thông thạo tính toán và quan trọng hơn nữa là kẻ được biểu báo thống kê rõ ràng, sạch đẹp, về phẩm chất chính trị tốt.
Với cách làm đó những năm đầu theo hướng dẫn của Cục Thống kê Trung ương, Chi cục Thống kê Tuyên Quang đã thực hiện được nhiệm vụ của Cục Thống kê Trung ương giao; phục vụ được yêu cầu lãnh đạo của Đảng bộ và Chính quyền các cấp.
Về hệ thống Thống kê nông nghiệp: Đã phản ánh được diện tích, sản lượng cây trồng đặc biệt là cây lương thực và tiến độ sản xuất. Thu thập, tổng hợp và thống kê được diện tích bỏ hoang hoá, diện tích sâu bệnh. Số người thiếu đói giáp hạt; số lượng lương thực trợ giúp... Trong cuốn Lịch sử Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang, những số liệu thống kê được về sản xuất nông nghiệp thời kỳ này như: Vụ mùa năm 1955, sản xuất nông nghiệp bị hạn hán, sâu bệnh nặng. Trong 106 xã đã có 8.763 mẫu (chiếm 13% tổng diện tích gieo cấy) bị hạn, lụt, sâu bệnh thiệt hại về sản lượng ước tính khoảng 4.000 tấn: Các huyện Sơn Dương, Na Hang bị thiệt hại nặng nhất, mất trên 23% sản lượng (sách đã dẫn trang 220).
Bên cạnh đó, trong lĩnh vực phát triển nông nghiệp những năm tiếp theo, Thống kê Nông nghiệp còn phản ánh tình hình phát triển thuỷ lợi như làm mương, tu sửa mương, phai, cọn tưới nước. Tu bổ đê ngăn lụt, ngập ruộng... Trong Thống kê Nông nghiệp còn phản ánh kết quả khai thác lâm sản. Kết quả của hơn 10.000 nhân công khai thác gỗ làm tà vẹt để sản xuất được hơn 60.000 thanh tà vẹt và trên 2.000 m3 gỗ cầu nhóm tứ thiết, góp phần cùng nhân dân các tỉnh miền Bắc phục hồi tuyến đường sắt Hà Nội - Yên Bái - Lào Cai...
Năm 1956, kết thúc công tác giảm tô, cải cách ruộng đất; sửa chữa sai lầm trong cải cách ruộng đất; nhiều người được hạ thành phần giai cấp, bồi hoàn thiệt hại kinh tế, khôi phục sinh hoạt Đảng cho đảng viên bị oan sai; Cán bộ bị oan sai được khôi phục chức vụ. Với chủ trương sáng suốt của Đảng và Nhà nước khắc phục nhanh chóng sai lầm đã thúc đẩy mạnh mẽ nông, lâm nghiệp phát triển, bước đầu đưa nông thôn Tuyên Quang vào giai đoạn mới; Giai đoạn thực hiện chủ trương: “Củng cố và phát triển dần dần các tổ đổi công và việc làm quan trọng để đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp nhằm cải thiện đời sống nhân dân, đưa nông dân đi dần vào con đường hợp tác tương trợ” trích Chỉ thị số 02/CT-TQ ngày 20/4/1957 của Tỉnh uỷ Tuyên Quang về củng cố và phát triển phong trào đổi công năm 1957.
Theo sát chủ trương trên, Thống kê Tuyên Quang đã hưởng ứng phong trào thời kỳ 1956-1957, toàn Tỉnh có 21.457 hộ nông dân thì đã có 17.627 hộ tham gia vào 3.048 tổ đổi công, trong đó có 547 tổ đổi công thường xuyên. Phản ánh kết quả sản xuất năm 1956, năm đạt mức cao nhất trong 3 năm khôi phục kinh tế, toàn tỉnh cấy được 21.983 ha lúa, thu được 47.495 tấn thóc, trồng được 5.713 ha cây hoa màu, 790 ha cây công nghiệp, chăn nuôi: đàn trâu có 39.200 con, đàn lợn gần 50.000 con.
Cùng với kết quả phát triển sản xuất nông nghiệp các ngành kinh tế khác trong 3 năm khôi phục kinh tế cũng đã thu được nhiều kết quả. Với chức năng, nhiệm vụ được giao Thống kê Tuyên Quang đã phản ánh kịp thời thường xuyên thông qua tổng hợp báo cáo các cuộc điều tra thống kê do Cục Thống kê Trung ương và Chi cục Thống kê khu Việt Bắc chỉ đạo, đã thu thập được số liệu phục vụ sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp Uỷ và Chính quyền các cấp như: Sản xuất lâm nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, giao thông vận tải, hoạt động lưu thông phân phối, sự nghiệp giáo dục, văn hoá, y tế...
Quá trình khôi phục kinh tế, phát triển sự nghiệp giáo dục, y tế, văn hoá, củng cố chính quyền, ngành Thống kê Tuyên Quang được hình thành và phát triển đã thoả mãn sự lãnh đạo của cấp uỷ và chính quyền tăng cường đội ngũ cán bộ, từng bước đáp ứng yêu cầu công tác của địa phương và Trung ương.
2. Giai đoạn 1958 - 1960: Giai đoạn công tác thống kê phục vụ Đảng bộ và Chính quyền các cấp tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa, bước đầu phát triển kinh tế - văn hoá
a. Đặc điểm kinh tế -xã hội
Sau khi hoàn thành công cuộc khôi phục kinh tế, miền Bắc bước vào thời kỳ cải tạo xã hội chủ nghĩa. Kỳ họp thứ 8 Quốc hội (khoá I) từ 16/4 đến 29/4/1958 thông qua Nghị quyết quan trọng: Xây dựng miền Bắc tiến lên xã hội chủ nghĩa và đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam. Giữa tháng 11/1958, Ban chấp hành Trung ương Đảng (khoá II) họp hội nghị lần thứ 14 chủ trương phát triển kinh tế và văn hoá trong 3 năm (1958-1960). Năm 1958, Tuyên Quang bước đầu cải tạo nền kinh tế nông nghiệp theo con đường xã hội chủ nghĩa. Việc củng cố, phát triển phong trào tổ đổi công, xây dựng HTX nông nghiệp được coi là “đòn bẩy thúc đẩy phát triển sản xuất nông nghiệp”. Nông dân hưởng ứng mạnh mẽ phong trào tổ đổi công. Đến vụ mùa năm 1958 tại thôn Dăm thuộc xã Tứ Quận, huyện Yên Sơn có 29 hộ với 82 nhân khẩu, 60 lao động (100% đồng bào dân tộc Kinh) có 47 mẫu ruộng, 45 con trâu được chỉ đạo thành lập Hợp tác xã, đây là HTX nông nghiệp đầu tiên của tỉnh Tuyên Quang. Sau khi thành lập HTX thôn Dăm, Tỉnh đã triệu tập Hội nghị rút kinh nghiệm việc thí điểm thành lập HTX. Những năm tiếp theo dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh cùng với việc phát triển kinh tế - văn hoá. Tính đến cuối năm 1960 Tuyên Quang cơ bản hoàn thành HTX hoá nông nghiệp với kết quả toàn tỉnh đã lập được 770 HTX với 19.387 hộ xã viên (chiếm 84,31% tổng số hộ nông dân), trong đó có 173 HTX bậc cao và 167 HTX nông, lâm nghiệp. Cùng với phong trào HTX hoá phát triển mạnh mẽ, tỉnh Tuyên Quang đã đặc biệt chú trọng công tác bồi dưỡng cán bộ quản lý, các ngành bồi dưỡng kỹ thuật, văn hoá. Đồng thời chú trọng phong trào xây dựng HTX và tiếp tục hoàn thành nhiệm vụ cải cách dân chủ ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Xây dựng phát triển HTX tín dụng, HTX mua bán góp phần cải tạo toàn diện kinh tế nông nghiệp và nông thôn.
Ở thị xã, thị trấn quá trình cải tạo XHCN đối với tiểu thương, thủ công nghiệp và công thương nghiệp tư bản tư doanh diễn ra nhanh và thuận lợi. Tới tháng 11/1960 có 98% số hộ tiểu thủ công nghiệp và 66,4% hộ tiểu thương đã tham gia các loại hình HTX. Về cải tạo tư bản tư doanh với phương châm cải tạo bằng phương pháp hoà bình lấy giáo dục chính sách và áp lực chính trị của công nhân và nhân dân lao động làm chính; mặt khác do thế lực kinh tế của tư bản tư doanh không lớn, nhiều hộ vẫn tiếp tục tham gia lao động, bản thân họ và gia đình đã từng tham gia kháng chiến và có thái độ ủng hộ chế độ. Vì những lý do đó công cuộc cải tạo tư bản tư doanh ở Tuyên Quang diễn ra thuận lợi: Công cuộc đấu tranh giai cấp đã làm chuyển biến căn bản tư tưởng của quần chúng lao động; nâng cao nhận thức giác ngộ XHCN trong nhân dân, đánh đổ hoàn toàn uy thế kinh tế, chính trị của tư sản.
Cùng với cải tạo nông dân, cá thể, thợ thủ công, tiểu thương đưa họ vào con đường làm ăn tập thể trong các HTX, đồng thời trong giai đoạn này tỉnh đã xây dựng các đơn vị Quốc doanh như Nông trường, XN Quốc doanh; Như vậy đến cuối năm 1960, Tuyên Quang cơ bản hoàn thành cải tạo XHCN, xây dựng chế độ sở hữu XHCN (bao gồm sở hữu toàn dân và tập thể) xoá bỏ chế độ bóc lột, xác lập quan hệ sản xuất XHCN làm cơ sở cho thắng lợi về các mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội...
Kết thúc kế hoạch 3 năm (1958-1960), Tuyên Quang thu được thắng lợi quan trọng trong phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân các dân tộc. Sản xuất nông nghiệp có bước phát triển mạnh mẽ. Năm 1960 so với năm 1957, giá trị tổng sản lượng nông nghiệp tăng 26,9%. Trong 3 năm sản lượng lương thực đã sản xuất được 189.824 tấn, sản lượng thóc hàng năm đều tăng cụ thể: Năm 1958 là 44.498 tấn, năm 1959 là 51.660 tấn và năm 1960 đạt 54.032 tấn. Diện tích lúa 2 vụ được mở rộng, năng suất lúa tăng từ 19,16 tạ/ha lên 24,33 tạ/ha do đã đầu tư làm mới, sửa chữa nhiều công trình thuỷ lợi. Phong trào cải tiến kỹ thuật bắt đầu phát triển. Chăn nuôi gia súc, gia cầm phát triển mạnh trong nhân dân. Nghề rừng được chú trọng phát triển đã đẩy mạnh công tác điều tra, phân loại và khoanh rừng, đến năm 1960 đã lập 2 trạm cải tạo rừng ở Phan Lương và Trung Môn để ươm cây giống phục vụ công tác trồng rừng. Giá trị tổng sản lượng lâm nghiệp năm 1960 so với năm 1957 tăng 40%. Công nghiệp, thủ công nghiệp phát triển nhanh giá trị tổng sản lượng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp năm 1960 so năm 1957 tăng 87,5%. Công nghiệp Quốc doanh địa phương được xây dựng và phát triển nhanh, đến năm 1960 giá trị sản lượng chiếm 43,85% tổng giá trị sản lượng công nghiệp toàn tỉnh. Giao thông, vận tải phát triển nhanh; nhiều tuyến đường được khôi phục, mở rộng và làm mới. Bưu điện đã thông suốt từ tỉnh đi các huyện. Công tác lưu thông, phân phối có nhiều chuyển biến tích cực. Thu ngân sách trên địa bàn tăng, thương nghiệp Quốc doanh và HTX mua bán chiếm lĩnh hoàn toàn khu vực bán buôn, 81,59% khu vực bán lẻ.
Cùng với phát triển kinh tế, sự nghiệp văn hoá, y tế, giáo dục cũng có bước phát triển mạnh đi sâu vào khu vực nông thôn tạo được khí thế vui tươi, lành mạnh, nâng cao hiểu biết khoa học kỹ thuật cho nông dân. Bài trừ mê tín dị đoan, bước đầu xây dựng nếp sống mới. Theo Thống kê được trong 3 năm có 1.226.000 lượt người được xem chiếu bóng, số lượng sách báo phát hành tăng; xây dựng thêm được 2 đài phát thanh ở 2 huyện Chiêm Hoá, Na Hang. So với năm 1957, năm 1960 số cơ sở điều trị tăng 47,7 lần; phong trào phòng bệnh và rèn luyện sức khoẻ phát triển. Sự nghiệp giáo dục được chăm lo thường xuyên, đến hết năm 1960 đã xoá mù chữ cho 15.476 người. Trong đó 30 xã đã thoát nạn mù chữ, tất cả các huyện đều có trường văn hoá tập trung, giáo dục phổ thông phát triển nhanh, tất cả các xã đều có trường cấp I. Năm 1960 toàn tỉnh có 13.394 học sinh phổ thông các cấp tăng 97,5% so với năm 1957 (riêng học sinh dân tộc thiểu số tăng 10 lần).
Cũng trong thời kỳ này, Đảng bộ và chính quyền các cấp được củng cố kiện toàn. Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ và Chính quyền các cấp, nhân dân các dân tộc Tuyên Quang đã hoàn thành kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 3 năm (1958-1960) trên phạm vi toàn tỉnh luôn giữ vững trật tự an ninh xã hội. Tuyên Quang cùng với cả nước đã tiến hành bầu cử quốc hội Khoá II (trong đó Tuyên Quang có 4 đại biểu) và tiến hành đại hội Đảng bộ tỉnh khoá III (lần thứ nhất) tiến tới đại hội Đảng toàn Quốc khoá III vào tháng 9 năm 1960.
b. Hoạt động công tác Thống kê
Giai đoạn 1958 - 1960, Ngành Thống kê Tuyên Quang tiếp tục triển khai Nghị định 142/TTg ngày 8/4/1957 của Thủ tướng Chính phủ kiện toàn, bổ sung cán bộ, xây dựng bộ máy tổ chức của ngành từ tỉnh đến các huyện, thị xã và các xã; đồng thời triển khai kịp thời nhiệm vụ công tác phục vụ yêu cầu của lãnh đạo địa phương, đáp ứng yêu cầu chỉ đạo của Cục Thống kê Trung ương, Chi cục thống kê khu tự trị Việt Bắc. Đến cuối năm 1957 đầu năm 1958 thông qua công tác điều động cán bộ của tỉnh từ các ngành, tuyển mới và tiếp nhận cán bộ của Cục Thống kê điều về. Chi Cục Thống kê tỉnh đã hình thành các bộ phận:
Lãnh đạo Chi cục: Đ/c Lê Thanh Hùng - Phó Chủ tịch UBHC tỉnh kiêm Chi cục trưởng.
Về nghiệp vụ có các bộ phận:
- Thống kê Nông nghiệp.
- Thống kê Văn xã.
- Thống kê Công - Thương nghiệp - Xây dựng cơ bản.
- Thống kê Tổng hợp.
Về tổ chức: Do đ/c Chi cục trưởng phụ trách, trực tiếp tuyển dụng, điều động cán bộ. Công tác hành chính, văn thư do văn phòng UBHC tỉnh đảm nhiệm kể cả quản lý tiền lương, chi phí thường xuyên. Cũng vì vậy cơ sở vật chất như Trụ sở làm việc, trang bị tủ, bàn ghế, văn phòng phẩm đều do văn phòng UBHC tỉnh quản lý, cấp phát. Đối với các huyện, thị xã mỗi đơn vị cũng mới chỉ có 1 cán bộ, ở các xã có Ban Thống kê xã nhưng cũng chỉ có 1 đồng chí phụ trách và có nhiều xã thì Trưởng Ban Thống kê xã còn phải kiêm công việc của UBHC xã. Tuy vậy từ năm 1958 đến hết năm 1960 cùng với việc hoàn thành chương trình công tác của Cục Thống kê Trung ương giao, phục vụ đáp ứng yêu cầu của lãnh đạo Đảng bộ và chính quyền địa phương, ngành Thống kê Tuyên Quang đã từng bước xây dựng tổ chức, thông qua các cuộc điều tra Thống kê để tuyển lựa cán bộ bổ sung vào biên chế của ngành.
c. Kết quả công tác thống kê
+ Về Thống kê Nông nghiệp: Thống kê Tuyên Quang đã bám sát nhiệm vụ phát triển nông nghiệp của Tỉnh, đã phản ánh kịp thời diễn biến của phong trào tổ đổi công và tiếp theo là phong trào Hợp tác hoá. Thường xuyên bám sát tiến độ sản xuất nông nghiệp từ khâu gieo trồng, chăm sóc và thu hoạch, phản ánh được quá trình thuỷ lợi hoá, cải tiến kỹ thuật. Qua đó đã giúp được lãnh đạo Đảng bộ và chính quyền các cấp nắm vững tình hình và kết quả sản xuất trong cả quá trình khôi phục kinh tế.
Đặc biệt trong Thống kê Nông nghiệp giai đoạn này đã tiến hành cuộc điều tra đất nông nghiệp và diện tích gieo trồng theo phương án điều tra số 58/CTKTW ngày 21/2/1958 của Cục Thống kê Trung ương. Trong quá trình điều tra cùng với việc thực hiện theo quy định của phương án điều tra do Cục Thống kê Trung ương quy định, Thống kê Tuyên Quang đồng thời phải tiến hành điều tra mẫu quy đổi diện tích từ đơn vị địa phương dùng như bung, ống giống, cây giống về đơn vị đo diện tích thống nhất là Ha, để tổng hợp báo cáo, sử dụng hệ số quy đổi này phục vụ cho công tác thống kê diện tích những năm tiếp theo.Về thống kê năng suất, sản lượng các loại cây trồng là một nội dung rất quan trọng trong thống kê nông nghiệp, nhằm thu thập thông tin đánh giá kết quả sản xuất nông nghiệp đặc biệt là lương thực, nhằm cung cấp số liệu giúp cấp uỷ và chính quyền các cấp nắm chắc sản lượng cây trồng là lúa, ngô, sắn. Việc điều tra năng suất (chủ yếu là năng suất lúa) theo chỉ đạo của Cục Thống kê Trung ương, áp dụng phương pháp điều tra điển hình suy rộng. Tuy số cán bộ thống kê thời kỳ này còn rất ít, song dưới sự chỉ đạo của cấp uỷ và chính quyền các cấp, việc phối hợp chặt chẽ của các ngành nông nghiệp, ban công tác nông thôn, các huyện và đặc biệt là lực lượng cán bộ thống kê xã có điểm điều tra cùng với cán bộ điều tra của chi cục tỉnh đã bám sát địa bàn điều tra từ khi lúa chắc xanh đến khi được thu hoạch, do vậy kết quả điều tra được đánh giá cao, sát với thực tế, đảm bảo độ tin cậy. Trong thống kê nông nghiệp thời kỳ này và các năm tiếp theo, cán bộ của chi cục gần như đã tập trung toàn bộ cho công tác này. Không ngại gian khó vừa học, vừa làm qua đó từng bước nâng cao nghiệp vụ và đặc biệt là trong khó khăn cán bộ đã nêu cao tinh thần trách nhiệm trong công tác và gắn bó với công việc được giao. Ngoài thống kê trồng trọt, hàng năm đã thu thập số liệu kết quả chăn nuôi qua điều tra số lượng đàn gia súc, gia cầm vào thời điểm 1/10.
+ Thống kê công nghiệp, giao thông vận tải, bưu điện.
Ba năm khôi phục kinh tế của Tuyên Quang đồng thời cũng là 3 năm phát triển công nghiệp quốc doanh, hợp tác xã, tiểu thủ công nghiệp. Bằng chế độ báo cáo hàng tháng, hàng quý, năm và các cuộc điều tra. Thống kê Tuyên Quang đã đặt cơ sở triển khai chế độ báo cáo nên đã bám sát và phản ánh kết quả sản xuất cho lãnh đạo địa phương, đáp ứng yêu cầu của Cục Thống kê Trung ương. Về giao thông vận tải trong giai đoạn này, đường xá được khôi phục, mở rộng, làm mới. Phương tiện vận tải tuy còn ít và thô sơ song Thống kê Tuyên Quang cũng đã triển khai theo dõi, cử cán bộ phối hợp với cơ quan chuyên ngành hàng năm báo cáo được khối lượng vận tải, số đầu phương tiện và những cung đường được khôi phục nâng cấp và mở mới, khối lượng duy tu bảo dưỡng đường. Cán bộ được phân công theo dõi vận tải đồng thời theo dõi hoạt động của ngành Bưu điện.
+ Thống kê Thương nghiệp, Giá cả.
Cùng với công việc tổ chức, bố trí cán bộ theo dõi kết quả sản xuất; xây dựng; 3 năm khôi phục kinh tế của Tỉnh, công tác Thống kê Thương nghiệp cũng đã được Chi cục Thống kê Tuyên Quang quan tâm cử cán bộ theo dõi và thực hiện yêu cầu của Cục Thống kê Trung ương, của lãnh đạo Địa phương. Về phát triển mạng lưới Thương nghiệp Quốc doanh, HTX mua bán theo số liệu thu thập được đến cuối năm 1960, toàn Tỉnh đã có 77 cửa hàng đảm nhận đến 81,59% thị phần bán lẻ phục vụ nhân dân, đồng thời tổ chức thu mua nông, lâm, thổ sản.
Thống kê Thương nghiệp còn phối hợp theo dõi và thực hiện các báo cáo về cung ứng vật tư kỹ thuật, điều tra tồn kho, sử dụng vật tư như xăng, dầu, sắt, thép, thiết bị... Bước đầu tuy còn mới mẻ cả về nghiệp vụ, phương pháp; song do yêu cầu đặc biệt của giai đoạn này: hàng hoá còn khan hiếm, nhu yếu phẩm từ cái kim, cuộn chỉ đến muối, dầu, vải, lương thực, thực phẩm đều bán bằng hình thức phân phối theo định lượng thông qua hình thức tem, phiếu và sổ mua hàng để phục vụ sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, của cấp uỷ và chính quyền các cấp.
+ Thống kê Dân số - Văn xã.
Thống kê Dân số - văn xã trong giai đoạn từ 1958 - 1960, do cán bộ còn ít nên tuy đã hình thành bộ phận theo dõi mảng nghiệp vụ, chuyên môn công tác này, song chỉ có 1 đồng chí, thường thu thập thông tin qua các cơ quan chủ quản để lấy số liệu như trong giáo dục, y tế, văn hoá... để cung cấp số liệu cho bộ phận tổng hợp làm báo cáo tháng, quý, 6 tháng, 9 tháng và cả năm. Riêng Thống kê Dân số: Lần đầu tiên Chính phủ quyết định Tổng điều tra dân số vào thời điểm 0h ngày 1/3/1960 trên phạm vi toàn miền Bắc. Thực hiện cuộc Tổng điều tra này Đảng và Chính phủ đã ra các văn bản chỉ đạo:
- Chỉ thị số 136/BBT ngày 11/4/1959 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về điều tra dân số toàn quốc năm 1959.
- Nghị định số 296/TTCP ngày 12/8/1959 của Thủ tướng Chính phủ thành lập Ban chỉ đạo Tổng điều tra dân số Trung ương và Ban chỉ đạo điều tra dân số các cấp.
- Phương án điều tra (không số) của Thủ tướng Chính phủ về điều tra dân số toàn miền Bắc năm 1959.
- Thông tư số 343/TTCP ngày 29/9/1959 của Thủ tướng Chính phủ về việc tạm hoãn mốc thời gian đăng ký nhân khẩu đến đầu năm 1960.
- Thông tư số 41/TTCP ngày 5/2/1960 của Thủ tướng Chính phủ về quản lý cán bộ, khen thưởng và kỷ luật trong công tác điều tra dân số.
- Điều lệ số 734/TTCP ngày 15/8/1960 của Thủ tướng Chính phủ về sửa đổi điều lệ đăng ký hộ tịch sinh, tử, kết hôn.
Ở tỉnh Tuyên Quang, thực hiện chủ trương của Đảng và Chính phủ, Tỉnh uỷ và UBHC tỉnh đã chỉ đạo thành lập Ban chỉ đạo Tổng điều tra dân số cấp tỉnh, huyện, xã. Trưởng ban chỉ đạo tỉnh do đ/c Phó chủ tịch UBHC tỉnh kiêm Chi cục trưởng Thống kê làm Trưởng ban, đ/c Chi Cục phó làm Phó ban thường trực, thành viên là các đ/c lãnh đạo Uỷ ban kế hoạch, Tài chính, Công an, Lao động - thương binh, xã hội, Thông tin văn hoá, lãnh đạo các đoàn thể, quần chúng... Cũng như Ban chỉ đạo tỉnh, ở cấp huyện và cấp xã ban chỉ đạo đều do Chủ tịch hoặc Phó chủ tịch UBHC huyện, xã làm trưởng ban. Thống kê huyện, xã là thành viên thường trực giúp cấp uỷ và chính quyền hoàn thành cuộc điều tra. Điều tra viên là cán bộ của các ngành Thống kê và các ngành thành viên được UBHC tỉnh, huyện trưng tập, ngoài số cán bộ của các ngành, các huyện, các xã được trưng tập, theo chủ trương của Cục Thống kê Trung ương. Ban chỉ đạo các tỉnh còn được tuyển cán bộ “phụ động” để huấn luyện đi làm điều tra. Sau cuộc Tổng điều tra dân số lần thứ nhất này, một số cán bộ của các ngành; cán bộ “phụ động” được tuyển dụng và gửi đi đào tạo tại trường cán bộ Thống kê do Cục Thống kê Trung ương mở địa điểm tại làng Hoà Mục, huyện Thanh Trì, tiền thân của Trường Thống kê Trung ương I (nay là trường Cao đẳng Thống kê) đóng tại Bắc Ninh ngày nay.
Cuộc Tổng điều tra dân số toàn miền Bắc thời điểm 0h ngày 01/3/1960 được Đảng, Chính phủ đặc biệt quan tâm chỉ đạo chặt chẽ. Ngành Thống kê với tinh thần trách nhiệm cao, được sự cộng tác giúp đỡ của các cấp các ngành, sự ủng hộ của người dân, đã hoàn thành cuộc điều tra; đánh dấu sự trưởng thành của ngành Thống kê nói chung và Thống kê Tuyên Quang nói riêng. Qua cuộc Tổng điều tra lần này, vai trò của ngành Thống kê đã được nâng lên một vị thế mới, tiếp tục được Đảng, Nhà nước, cấp uỷ, chính quyền các cấp đặc biệt quan tâm, củng cố tăng cường cán bộ nhằm tạo điều kiện thuận lợi để ngành Thống kê Tuyên Quang vươn lên đáp ứng ngày một tốt hơn nhu cầu thông tin kinh tế - xã hội phục vụ sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước; cấp uỷ và chính quyền các cấp ở địa phương.
+ Thống kê tổng hợp.
Thống kê tổng hợp của Chi cục thống kê Tuyên Quang giai đoạn này còn đơn giản, bộ phận này có đ/c: Nguyễn Quang Toản, phụ trách, công việc chủ yếu là tổng hợp số liệu của Thống kê nghiệp vụ, sử dụng kết quả của các cuộc điều tra Thống kê, nắm tình hình thực hiện của các ngành thông qua báo cáo của các ngành chủ quản để tổng hợp các biểu báo cáo. Tổng hợp, viết báo cáo lời văn giải thích số liệu để báo cáo Cục Thống kê Trung ương; Chi cục Thống kê Khu tự trị Việt Bắc và Tỉnh uỷ, UBHC tỉnh; đồng thời gửi các ngành tổng hợp như Uỷ ban kế hoạch, Tài chính... làm tài liệu tham khảo. Báo cáo được lập hàng tháng, quý, 6 tháng, 9 tháng và cả năm.
Ngoài việc làm báo cáo tổng hợp kinh tế - xã hội, Thống kê Tổng hợp giai đoạn này còn là cán bộ được Chi cục trưởng giao nhiệm vụ giúp lãnh đạo làm công tác tổ chức.
d. Tổ chức cán bộ và cơ sở vật chất
Về tổ chức bộ máy cán bộ: Thống kê Tuyên Quang đến cuối năm 1960 đã định hình ở tỉnh, Chi cục Thống kê do đ/c Lê Thanh Hùng - Tỉnh uỷ viên phụ trách công tác Thống kê, kế hoạch - trực tiếp giữ chức vụ Chi cục trưởng. Ở Văn phòng Cục đã hình thành các bộ phận:
+ Bộ phận Thống kê Nông nghiệp: Do đồng chí Trần Tuyên phụ trách.
+ Bộ phận Thống kê Công nghiệp: Do đồng chí Trần Trọng Nhãn phụ trách.
+ Bộ phận Thống kê Văn xã - Dân số: Do đồng chí Phạm Văn Chẩn phụ trách.
+ Bộ phận Thống kê Tổng hợp: Do đồng chí Nguyễn Quang Toản phụ trách.
Ở các huyện đến cuối năm 1960, mỗi huyện tuy đã được thành lập Phòng Thống kê, nhưng đơn vị nào cũng chỉ có một đến hai người so với khi thành lập năm 1958 không có biến động lớn. Cụ thể:
+ Huyện Na Hang: Đồng chí Chẩu Văn Ong phụ trách; Triệu Thị Thường cán bộ.
+ Huyện Chiêm Hoá: Đồng chí Đỗ Đình An phụ trách.
+ Huyện Hàm Yên: Đồng chí Đào Duy Tín phụ trách.
+ Huyện Yên Sơn: Đồng chí Ma Văn Độ phụ trách.
+ Huyện Sơn Dương: Đồng chí Hà Thanh Bình phụ trách.
+ Thị xã Tuyên Quang: Phụ trách kế hoạch - Thống kê vẫn chỉ có ông Nguyễn Văn Năng chưa có người làm Thống kê riêng.
Về cơ sở vật chất: Đến cuối năm 1960 cơ sở vật chất của Chi cục Thống kê Tuyên Quang vẫn phụ thuộc vào Văn phòng UBHC tỉnh. Nơi làm việc là 2 gian nhà cấp 4; ngoài bàn, ghế, tủ đựng tài liệu của cán bộ ra; còn lại chưa được trang bị gì riêng. Tiền lương, chi phí hoạt động, kể cả văn phòng phẩm, giao nhận công văn đi, đến đều do Văn phòng UBHC tỉnh cấp phát. Các Tổ chức Đảng, đoàn thể, sinh hoạt ghép cùng với các cơ quan: Văn phòng UBHC tỉnh, Ty Tài chính, Phòng Lao động, kế hoạch.
3. Giai đoạn 1961 - 1965: Giai đoạn công tác Thống kê phục vụ Đảng bộ và Chính quyền các cấp tiến hành thực hiện kế hoạch phát triển Kinh tế - xã hội 5 năm lần thứ nhất
a. Đặc điểm kinh tế - xã hội
Sau đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III tiến hành từ ngày 5 đến ngày 10/9/1960 tại Thủ đô Hà Nội, với chủ đề đại hội được Bác Hồ chỉ ra là: “Đại hội lần này là đại hội xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh hoà bình thống nhất nước nhà”.
Để tổ chức thực hiện Nghị quyết đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III đạt kết quả cao vận dụng, sáng tạo vào hoàn cảnh điều kiện cụ thể của địa phương. Trong giai đoạn 1961 - 1965, Đảng bộ tỉnh đã có hai kỳ đại hội. Các kỳ đại hội này đã quán triệt Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III. Các nghị quyết của Ban chấp hành Trung ương... xác định rõ phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ của Tuyên Quang trong kế hoạch Nhà nước 5 năm lần thứ nhất.
Đặc biệt đại hội Đảng bộ tỉnh lần III (vòng 2) họp từ ngày 16 - 25/3/1961. Đảng bộ và nhân dân các dân tộc tỉnh Tuyên Quang, vinh dự được đón Bác Hồ về thăm từ ngày 19 đến ngày 20/3/1961. Về thăm tỉnh lần này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến thăm Trung đoàn 246; Nông trường Sông Lô; Trường Thiếu nhi vùng cao; nói chuyện với đại hội tỉnh Đảng bộ, đại biểu các gia đình ân nhân cách mạng; đại biểu các huyện; về thăm Tân Trào nơi Bác Hồ và Trung ương ở, làm việc lãnh đạo cuộc tổng khởi nghĩa tháng 8 năm 1945 và cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc chống thực dân pháp xâm lược.
Ngày 20/3/1961, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc tỉnh Tuyên Quang tổ chức mít tinh chào mừng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nói chuyện với cán bộ chiến sỹ và nhân dân các dân tộc trong tỉnh Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ bảo căn dặn và người tin tưởng vào sự hy sinh, phấn đấu của nhân dân Tuyên Quang trong giai đoạn cách mạng mới. Người nói “Trước kia đồng bào tỉnh ta đã góp phần xứng đáng trong cách mạng tháng 8 và cuộc kháng chiến cứu nước. Ngày nay, tôi chắc rằng đồng bào ta sẽ phát huy truyền thống anh dũng sẵn có và góp phần nhiều hơn nữa trong công cuộc kiến thiết chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thống nhất nước nhà”. Sự quan tâm sâu sắc, tình cảm lớn lao của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã động viên mạnh mẽ tinh thần cách mạng của toàn thể cán bộ, đảng viên nhân dân các dân tộc Tuyên Quang. Những lời dạy của Bác Hồ đã được Đảng bộ tỉnh học tập, thảo luận, liên hệ trong đại hội Đảng bộ tỉnh và trở thành quyết tâm của toàn Đảng bộ, của nhân dân các dân tộc trong việc thực hiện nghị quyết của đại hội Đảng bộ tỉnh khoá III (1961 - 1965).
Quá trình thực hiện nghị quyết và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm lần thứ nhất. Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ các cấp, nhân dân Tuyên Quang đã vượt mọi khó khăn, gian khổ thi đua đạt được nhiều thành tựu quan trọng trên lĩnh vực xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội.
Về nông nghiệp từ chỗ sản xuất theo lối độc canh, kỹ thuật lạc hậu, năng suất thấp đã bắt đầu đi vào phát triển toàn diện. Tổng diện tích gieo trồng hàng năm tăng, nông nghiệp đã giải quyết phần lớn nhu cầu về lương thực, thực phẩm, cung cấp nguyên vật liệu cho công nghiệp, thủ công nghiệp và xuất khẩu. Giá trị sản xuất nông nghiệp năm 1965 tăng 19% so với năm 1961. Diện tích gieo trồng cây lương thực năm 1965 so 1961 tăng 25,76%. Năm 1965 đàn gia súc đã có: 55.620 con trâu, 90.976 con lợn; giá trị sản lượng chăn nuôi tăng 21,95% so năm 1961; diện tích thả cá: 14.164 ha, thu nhập bình quân của nhân khẩu nông nghiệp tăng.
Về công nghiệp: Sản xuất công nghiệp, thủ công nghiệp có bước tăng trưởng đáng kể. Giá trị tổng sản lượng công nghiệp năm 1965 so năm 1960 tăng 46,5%, công nghiệp quốc doanh phát triển.
Về thương nghiệp: Trên lĩnh vực lưu thông phân phối, Thương nghiệp Quốc doanh và HTX mua bán đã thực hiện tốt nhiệm vụ cung cấp hàng hoá và thu mua nông sản để thúc đẩy sản xuất. Tổng mức bán lẻ hàng hoá năm 1965 tăng 69,6% so năm 1960. Năm 1965 so năm 1960 thu ngân sách tăng 2 lần, chi ngân sách tăng 2,3 lần.
Về văn hoá, giáo dục: Trong 5 năm (1961-1965), toàn tỉnh đã xoá mù chữ cho 10.854 người, gần 29.000 người học xong bổ túc văn hoá các cấp. Đến cuối năm 1964 có 93,7% số xã (135/145) đạt tiêu chuẩn xoá mù chữ. Đến tháng 9 năm 1965 toàn tỉnh có 6 trường bổ túc văn hoá, 5 trường thanh niên dân tộc vừa học vừa làm, có hơn 1.000 giáo viên các cấp, số học sinh chiếm 16% dân số. Hầu hết các xã có trường cấp I, toàn tỉnh có 38 trường cấp II, 3 trường cấp III, 1 trường sư phạm đào tạo giáo viên cấp I. Năm 1965-1966 toàn tỉnh có 27.000 học sinh phổ thông, tăng 67,43% so năm học 1961-1962.
Về sự nghiệp văn hoá - phát triển: Tới năm 1965 toàn tỉnh có 8 trạm truyền thanh với 1.982 loa truyền thanh, đã có 2 thư viện, 1 rạp chiếu bóng, 20 nhà văn hoá (tỉnh, huyện, xã), nhiều hoạt động chiếu phim lưu động, tuyên truyền, hoạt động sản xuất, truyền đạt chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước.
Về kinh tế - xã hội: Thực hiện KH 5 năm lần thứ nhất so với thời kỳ khôi phục kinh tế 1957-1958 và nhất là so với sau hoà bình lập lại, Tuyên Quang cùng cả nước đã có bước phát triển. Tuy nhiên quá trình xây dựng và phát triển còn không ít khó khăn nhất là đối với 1 tỉnh miền núi, kinh tế kém phát triển, trình độ dân trí không cao; các thế lực thù địch luôn tìm cách chống phá. Miền Bắc tuy được hoàn toàn giải phóng nhưng một nửa đất nước từ vĩ tuyến 17 trở vào bị bè lũ tay sai đế quốc Mỹ chống phá, không thi hành hiệp định ký kết, không hiệp thương thống nhất nước nhà, trả thù cán bộ và gia đình cách mạng, tàn sát đồng bào; hô hào chiến tranh và đế quốc Mỹ ngang nhiên dựng lên sự kiện Vịnh Bắc bộ dùng không quân đánh phá miền Bắc mở đầu vào ngày 5/8/1964. Như vậy kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961-1965) xây dựng miền Bắc XHCN chưa kết thúc, cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ bắt đầu. Nhân dân miền Bắc lại một lần nữa phải thực hiện cùng lúc hai nhiệm vụ phát triển KT-XH để xây dựng miền Bắc XHCN làm hậu phương lớn chi viện cho cách mạng miền Nam, đồng thời kiên quyết đánh trả cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân của đế quốc Mỹ.
Ở tỉnh Tuyên Quang song song với việc phát triển KT-XH 5 năm lần thứ nhất, đồng thời phải chuẩn bị lực lượng đối phó với cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai. Ngay từ năm 1961, máy bay giặc Mỹ đã xâm phạm vùng trời Tuyên Quang. Nhiều lần chúng giải truyền đơn xuống vùng Chiêm Hoá, Na Hang... Đến đầu năm 1964, không quân Mỹ đã tiến hành nhiều đợt bay do thám, trinh sát Tuyên Quang. Ngày 24/7/1965 không quân giặc Mỹ mở đầu chiến tranh phá hoại Tuyên Quang bằng các cuộc ném bom xuống Z2, bến phà Bình Ca, bến phà Hiên. Đến tháng 12/1965 chúng đã cho 150 lượt tốp máy bay xâm phạm vùng trời Tuyên Quang, ném 978 quả bom xuống các trọng điểm Z2, Kho 820, Nông trường tháng 10, Doanh trại Trung đoàn 246, Nhữ Khê, Bình Ca, Sầm Dương, Quốc lộ 2. Tuy vậy Đảng bộ Tuyên Quang đã lãnh đạo cán bộ, đảng viên và nhân dân các dân tộc nêu cao tinh thần cảnh giác, chấp hành nghị quyết của Trung ương đã nhanh chóng chuyển mọi hoạt động từ thời bình sang thời chiến, phát động toàn Đảng bộ, quân dân trong tỉnh sẵn sàng đối phó với cuộc chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, sơ tán nhân dân ra khỏi các trọng điểm địch đánh phá, phát động phong trào thi đua bắn rơi máy bay Mỹ. Các lực lượng vũ trang nêu cao tinh thần cảnh giác quyết tâm chiến đấu bằng vũ khí hiện có. Qua 14 trận chiến đấu đã bắn bị thương 6 máy bay Mỹ. Máy móc, nguyên vật liệu quý của các cơ sở Quốc phòng, kho tàng của Nhà nước... được di chuyển đến nơi an toàn trước khi địch đánh phá. Cùng với quân dân toàn tỉnh, cán bộ ngành Thống kê Tuyên Quang đã hăng hái thi đua công tác thực hiện phong trào “thanh niên 3 sẵn sàng”, “phụ nữ 3 đảm đang”, “mỗi người làm việc bằng 2”. Vừa công tác vừa phục vụ chiến đấu và sơ tán, di chuyển ra khỏi thị xã để vừa đảm bảo công tác, vừa sẵn sàng phục vụ chiến đấu.
b. Hoạt động công tác Thống kê
Cuối năm 1960, Ủy ban thường vụ Quốc hội có nghị quyết cho tách Cục Thống kê Trung ương ra khỏi Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước, sau đó Hội đồng Chính phủ đã qui định nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy Tổng cục Thống kê. Tuyên Quang chính thức tách Chi cục Thống kê ra khỏi Uỷ ban Kế hoạch tỉnh, thành lập cơ quan riêng.
Về cơ cấu tổ chức: bắt đầu được thành lập các phòng.
Lãnh đạo Chi cục: Tỉnh uỷ, Uỷ ban hành chính tỉnh bổ nhiệm đồng chí Đào Tuyên làm Chi cục trưởng thay đồng chí Lê Thanh Hùng thôi kiêm chức Chi cục trưởng Chi cục Thống kê.
Đây là giai đoạn đánh dấu bước trưởng thành của ngành Thống kê Tuyên Quang. Trong cơ quan đã có Chi bộ đảng, các đoàn thể, công đoàn, đoàn thanh niên, hoạt động của các tổ chức đoàn thể dưới sự lãnh đạo trực tiếp của tổ chức Chi bộ đảng, các đoàn thể cấp trên. Hơn thế nữa đã được cấp kinh phí từ cơ quan Tài chính tỉnh, có kế toán, thủ quỹ, văn thư, đánh máy riêng. Về nghiệp vụ chịu sự lãnh đạo song trùng của Tổng cục Thống kê, Tỉnh uỷ, Uỷ ban hành chính tỉnh.
Về cán bộ, sau khi hoàn thành cuộc tổng điều tra dân số 0h ngày 01/3/1960, nhiều cán bộ của các ngành tăng cường làm điều tra được tỉnh giải quyết tăng cường cho Chi cục Thống kê, mặt khác một số cán bộ trưng tập được Tỉnh quyết định tuyển dụng vào làm công tác thống kê. Số cán bộ này đã được Chi cục chọn lọc để đi học lớp đào tạo nghiệp vụ thống kê sơ cấp do Tổng cục Thống kê đào tạo.
Ngay đầu năm 1961, khi được tách ra cơ cấu tổ chức ở Chi cục thống kê gồm:
- Phòng Tổ chức - Hành chính - tổng hợp;
- Phòng Thống kê Nông, lâm nghiệp;
- Phòng Thống kê Công nghiệp, xây dựng cơ bản, thương nghiệp;
- Phòng Thống kê Dân số, lao động, văn xã và đời sống.
Ở các phòng đã có đủ cán bộ để phân công mỗi người một nghiệp vụ công tác.
Tuy nhiên số lượng cán bộ cử đi đào tạo tương đối lớn, nên nhiều đồng chí phải kiêm, nhiệm công việc của các đồng chí được cử đi học.
Ở các huyện, mỗi huyện, thị cũng đã được thành lập 1 phòng có trưởng phòng và một số cán bộ (thường mỗi huyện có từ 3-5 cán bộ), riêng thị xã chỉ có 1 người. Là một cơ quan trực thuộc Uỷ ban hành chính huyện chịu sự chỉ đạo chuyên môn nghiệp vụ của Chi cục Thống kê tỉnh.
Về chuyên môn nghiệp vụ: Giai đoạn này hoạt động của công tác thống kê không còn dừng ở các cuộc điều tra do Tổng cục qui định và địa phương yêu cầu. Sau khi được tách ra khỏi UBKH, Tổng cục Thống kê căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ được Hội đồng Bộ trưởng quy định, ban hành các chế độ báo cáo thống kê định kỳ cho các cấp, các ngành, các đơn vị và các địa phương. Chi cục Thống kê tỉnh Tuyên Quang căn cứ vào phân cấp của Tổng cục Thống kê để sau khi được tập huấn nghiệp vụ ở Tổng cục Thống kê do các Vụ nghiệp vụ của Tổng cục hướng dẫn đã triển khai trên địa bàn tỉnh. Giai đoạn này các phòng nghiệp vụ của Chi cục trực tiếp hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc và thu thập tổng hợp, lập báo cáo gửi: Tổng cục Thống kê, Chi cục Thống kê khu tự trị Việt Bắc, Tỉnh uỷ, UBHC tỉnh và các ngành kinh tế tổng hợp làm tài liệu tham khảo như UBKH tỉnh, Tài chính, Ngân hàng... Đồng thời triển khai các cuộc điều tra của Tổng cục, các phòng nghiệp vụ xây dựng phương án, kế hoạch điều tra đã được cụ thể hoá vào đặc điểm kinh tế - xã hội, điều kiện cụ thể của tỉnh.
Với sự nỗ lực, cố gắng của cán bộ, công chức ngành Thống kê Tuyên Quang từ tỉnh đến huyện, thị xã và các xã, phường, cùngvới sự chỉ đạo nghiệp vụ sát sao của Tổng cục Thống kê; sự lãnh đạo của Cấp uỷ, Chính quyền các cấp, sự chấp hành chế độ báo cáo của các ngành, các đơn vị nên trong giai đoạn này tuy còn non trẻ song ngành Thống kê Tuyên Quang đã vươn lên hoàn thành nhiệm vụ của Tổng cục Thống kê giao, phục vụ kịp thời sự lãnh đạo của cấp uỷ, Đảng và Chính quyền các cấp. Giúp các ngành có tư liệu, số liệu tin cậy để xây dựng kế hoạch, kiểm tra kế hoạch và xây dựng các chương trình kinh tế - xã hội của địa phương.
c. Kết quả công tác Thống kê
c1. Thống kê nông, lâm, ngư nghiệp
Trong các ngành kinh tế của tỉnh Tuyên Quang thì ngành nông nghiệp (kể cả trồng trọt và chăn nuôi), lâm nghiệp là ngành kinh tế chủ yếu của tỉnh. Nhằm cung cấp lương thực, thực phẩm cho tiêu dùng tại chỗ và cung cấp hàng nông, lâm sản cho tiền tuyến, miền xuôi và xuất khẩu. Nắm chắc tầm quan trọng của ngành kinh tế này, Chi cục Thống kê đã tập trung cán bộ, chỉ đạo sát sao, nắm vững nghiệp vụ, bám sát cơ sở, thực hiện đầy đủ báo cáo, các cuộc điều tra và đặc biệt theo dõi tiến độ sản xuất nông nghiệp, hàng tuần cán bộ Thống kê tỉnh, huyện xuống từng cụm, xã của huyện nghe UBHC xã, cán bộ thống kê xã phản ánh tiến độ sản xuất từ khâu làm đất, gieo trồng, chăm sóc, ước tính năng suất, tiến độ thu hoạch. Bám sát nhiệm vụ này Phòng Thống kê nông nghiệp đã phối hợp chặt chẽ với ngành nông nghiệp, lương thực, quanh năm bám sát đồng ruộng, bám sát sản xuất phản ánh kịp thời phục vụ sự chỉ đạo sản xuất, phòng trừ sâu bệnh, phòng chống thiên tai, kết thúc gieo trồng từng vụ. Thống kê nông nghiệp thực hiện điều tra diện tích gieo trồng từng loại cây; diện tích thiệt hại do sâu bệnh, thiên tai; diện tích thu hoạch, năng suất sản lượng cây trồng. Kết thúc năm điều tra biến động đất. Về thực hiện các biện pháp kỹ thuật như thuỷ lợi, phân bón, giống cây trồng cũng do Thống kê nông nghiệp thực hiện.
Bên cạnh trồng trọt, hàng năm vào thời điểm 1/10, Thống kê nông nghiệp tiến hành cuộc điều tra chăn nuôi toàn diện tổng đàn gia súc, gia cầm (trâu, bò, ngựa, lợn, gà, vịt...) kết hợp điều tra mẫu biến động đàn như: giết thịt, bán ra, dịch bệnh...
Cùng với thống kê kết quả sản xuất, thống kê nông nghiệp còn phối hợp với Ban công tác nông thôn tỉnh tiến hành theo dõi, lập báo cáo về phong trào đổi công, hợp tác xã. Giai đoạn này thực hiện chủ trương Hợp tác hoá nông nghiệp, nên công việc theo dõi phong trào xây dựng HTX được Thống kê nông nghiệp tiến hành thường xuyên phản ánh số lượng HTX chia ra theo qui mô HTX, chất lượng HTX: Bậc thấp, bậc cao, kết quả của việc cải tiến quản lý HTX. Tham gia với các ngành: Tài chính, Ban công tác nông thôn, lương thực duyệt phương án ăn chia của HTX, việc này có sự phối hợp chặt chẽ giữa Phòng Thống kê nông nghiệp của tỉnh với Phòng Thống kê nông nghiệp các huyện, thị xã.
Toàn tỉnh Tuyên Quang đến cuối năm 1965 có 871 Hợp tác xã, với 28.687 hộ xã viên (chiếm 93% số hộ nông dân), trong đó có 472 HTX bậc cao với 18.842 hộ xã viên (chiếm 65% số hộ nông dân). Có 118/161 xã có số hộ nông dân vào HTX (chiếm trên 80%), trong đó có 13 xã 100% hộ nông dân vào HTX.
Cùng với phong trào Hợp tác hoá, trên địa bàn tỉnh đã xây dựng các nông trường Quốc doanh: Sông Lô, Tháng Mười, Tân Trào và nông trường Hồng Thái, đây là những nông trường chuyên trồng cây công nghiệp chè, dứa. Cũng trong giai đoạn này, Thống kê nông nghiệp còn được phân công theo dõi công tác nhận đồng bào Ninh Bình, Hưng Yên lên khai hoang xây dựng vùng kinh tế mới. Kết quả đến năm 1964 đã có 15.000 người lên khai hoang, hình thành 77 HTX và 14 đội sản xuất ra ghép với các HTX địa phương; khai hoang được 2.193 ha. Các HTX khai hoang đã tự túc được từ 60-70% lương thực.
Với khối lượng công tác lớn, giai đoạn này công tác Thống kê phần lớn tập trung lực lượng cán bộ, thời gian vào công tác Thống kê nông nghiệp, đặc biệt là nhiệm vụ công tác Thống kê Nông nghiệp tại các huyện. Chính vì vậy, Thống kê nông nghiệp đã phục vụ kịp thời sự lãnh đạo, chỉ đạo của Cấp uỷ và Chính quyền các cấp; đáp ứng được nhiệm vụ của Tổng cục Thống kê giao; đồng thời góp phần vào phong trào thi đua yêu nước của Trung ương và Tỉnh phát động như: “Sông Lô nổi sóng, giành đông xuân đại thắng”, “Thi đua đuổi kịp và vượt HTX Đại Phong” (Lịch sử Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang, trang 305, NXB Chính trị Quốc gia).
c2. Thống kê Công nghiệp, Giao thông vận tải, Bưu điện
Toàn bộ các hoạt động thuộc các ngành công nghiệp, Giao thông vận tải và hoạt động bưu điện do Phòng Thống kê nghiệp vụ của Chi cục theo dõi với các công việc: Triển khai chế độ báo cáo do Tổng cục Thống kê ban hành. Kiểm tra, đôn đốc, thu thập, báo cáo và tổng hợp theo tháng, quý, 6 tháng, 9 tháng và cả năm; ngoài báo cáo biểu mẫu số liệu còn có nhận xét lời văn.
Tuyên Quang là tỉnh miền núi, là chiến khu cách mạng, nên các ngành kinh tế: Công nghiệp, Giao thông vận tải, Bưu điện còn ở giai đoạn phát triển thấp. Cơ sở ngành nghề sản xuất còn ít; kỹ thuật ở trình độ thấp. Đến năm 1964 mới có 19 cơ sở công nghiệp quốc doanh địa phương và đơn vị sản xuất mang tính chất công nghiệp. Đội ngũ công nhân mới có: 2.377 người. Tuy nhiên giai đoạn này cũng là thời kỳ đầu của phát triển các ngành nghề, cơ sở công nghiệp mới như: Điện lực, Cơ khí, Công nghiệp khai thác (lâm sản, khoáng sản) vật liệu xây dựng... các Lâm trường Tiền Phong, Chiêm Hoá, Tân Tiến, Thống Nhất và các lâm trường khai thác gỗ đẩy mạnh khai thác lâm sản và phát triển nghề rừng.
Theo đó Thống kê Công nghiệp đã bám sát quá trình phát triển công nghiệp địa phương; phản ánh kịp thời kết quả sản xuất.
Cùng với theo dõi, thu thập báo cáo ở các đơn vị quốc doanh. Thống kê công nghiệp còn thực hiện các cuộc điều tra thủ công nghiệp hàng năm để phản ánh kết quả sản xuất, quy mô và tốc độ phát triển của thủ công nghiệp địa phương.
c3. Thống kê Thương nghiệp: Cùng với việc phát triển các ngành kinh tế, Thống kê thương nghiệp đã theo sát và báo cáo kịp thời diễn biến của quá trình lưu thông, phân phối trong giai đoạn này. Tuy nhiên thuận lợi của Thống kê Thương nghiệp là các đơn vị thương nghiệp Quốc doanh và hệ thống HTX mua bán phát triển mạnh chiếm lĩnh thị trường kể cả bán buôn và bán lẻ (mua theo chỉ tiêu, bán theo hình thức phân phối từ cân gạo, cân muối, viên thuốc, cuộn chỉ... ). Nên mạng lưới thương nghiệp rộng, song đầu mối để thu thập số liệu báo cáo không nhiều.
c4. Về Thống kê Xây dựng cơ bản: Do thời kỳ này còn sơ khai chủ yếu thông qua cấp phát vốn, theo dõi kết quả thực hiện vốn XDCB chia theo ngành, theo đơn vị thực hiện, cùng với việc theo dõi thống kê XDCB cán bộ còn phải theo dõi thống kê giao thông vận tải, bưu điện, thu thập và lập báo cáo khối lượng hành khách, hàng hoá vận chuyển, luân chuyển, công tác duy tu bảo dưỡng đường xá; đảm bảo giao thông. Thống kê khối lượng bưu kiện, bưu phẩm, thư từ... chuyển đến, chuyển đi.
c5. Thống kê Dân số, lao động, đời sống
Sau kết quả tổng điều tra dân số 0h ngày 01/3/1960. Thống kê dân số có một nền tảng để trên cơ sở đó hàng năm tiến hành điều tra mẫu để tính dân số của từng huyện và toàn tỉnh. Hơn nữa giai đoạn này việc nắm dân số có nhiều thuận lợi, mỗi người dân dù ở thành thị hay nông thôn đều gắn với việc tiêu dùng nhu yếu phẩm lương thực, thực phẩm... Do vậy thống kê từ xã, huyện, tỉnh phối hợp với các cơ quan hữu quan hàng năm có thể nắm chắc tình hình dân số. Thậm chí chỉ tiêu giới tính cũng có thể khẳng định có độ chính xác cao.
Cùng với thuận lợi đó, nên việc thực hiện các cuộc điều tra mẫu cũng đảm bảo chính xác hơn. Do nắm chắc dân số, nên Thống kê Dân số giai đoạn này phục vụ kịp thời nhiều nhiệm vụ quan trọng của đất nước như: Tuyển quân, huy động dân công, xây dựng lực lượng dân quân tự vệ... Thống kê văn xã bao gồm việc theo dõi thu thập báo cáo, kiểm tra lập báo cáo số liệu và nhận xét bằng lời văn các hoạt động: văn hoá, thông tin, giáo dục, y tế thông qua cơ quan chủ quản cấp tỉnh; đồng thời theo dõi đời sống của tầng lớp dân cư như thiếu đói giáp hạt trong nông thôn, đặt điểm điều tra đời sống nông thôn về thu nhập, chi tiêu trong hộ đại diện. Cán bộ phụ trách công tác này thường xuyên bám sát cơ sở thông qua cộng tác viên thường là thành viên Ban thống kê xã. Hàng năm thu sổ ghi chép vào 6 tháng đầu năm và 6 tháng cuối năm để tổng hợp đánh giá mức sống nông dân. Tiếp theo những năm sau này việc điều tra đời sống dân cư còn được mở rộng đối tượng là các bếp ăn tập thể của công, nông, lâm trường, xí nghiệp và các cơ quan hành chính sự nghiệp; đặt sổ theo dõi thu, chi của hộ gia đình được chọn theo dõi.
Kết quả theo dõi của Thống kê văn xã đã phản ánh kết quả của sự nghiệp phát triển - văn hoá - giáo dục - y tế đến năm 1965 như sau:
Về giáo dục: Trong 5 năm xoá mù chữ cho 10.814 người, gần 29 nghìn người học xong chương trình bổ túc văn hoá các cấp. Cuối năm 1965 các huyện Chiêm Hoá, Hàm Yên, Sơn Dương, Yên Sơn và Thị xã Tuyên Quang được công nhận xoá xong nạn mù chữ. Tới tháng 9/1965, toàn tỉnh có 6 trường bổ túc văn hoá, 5 trường thanh niên dân tộc vừa học, vừa làm; hơn 1.000 giáo viên các cấp. Số học sinh chiếm hơn 16% dân số. Hầu hết các xã có trường cấp I; cấp II có 38 trường; Trường cấp III có 3 trường và 1 trường sư phạm cấp I. Năm học 1965-1966 đã có 27.380 học sinh phổ thông, tăng 67% so với năm học 1961-1962.
Về sự nghiệp phát triển văn hoá: Trong 5 năm đã phát hành 1,3 triệu quyển sách; hơn 2,3 triệu tờ báo, tạp chí, có 172 nghìn người đọc và mượn sách thư viện. Hơn 3,4 triệu lượt người được xem chiếu bóng, đến năm 1965 toàn tỉnh đã có 8 trạm truyền thanh với 1.982 loa công cộng. Có 2 thư viện với 25 nghìn quyển sách; 1 rạp chiếu bóng và 20 nhà văn hoá (tỉnh, huyện, xã).
Về Y tế: Đến năm 1965 cứ 1000 người dân có 0,36 y, bác sỹ và 0,81 giường bệnh; công tác chăm sóc sức khoẻ ban đầu đã được quan tâm.
C 6. Thống kê Tổng hợp
Với kết quả của các nghiệp vụ Thống kê chuyên ngành, Thống kê Tổng hợp giai đoạn này đã có bước trưởng thành, nhiều nhiệm vụ quan trọng được thực hiện tại Phòng Thống kê này, những công việc chính đã thực hiện:
- Hàng năm ấn hành niên giám thống kê bao gồm hệ thống chỉ tiêu tổng hợp, hệ thống chỉ tiêu các thống kê nghiệp vụ theo ngành; do Vụ thống kê tổng hợp hướng dẫn nhằm phục vụ biên soạn Niên giám thống kê toàn quốc và phục vụ yêu cầu lãnh đạo của các cấp, các ngành.
- Hàng tháng, quý, 6 tháng, 9 tháng và cả năm căn cứ số liệu, tình hình do các phòng nghiệp vụ cung cấp, đồng thời qua đó nắm tình hình các hoạt động của thống kê tổng hợp như: Tính toán các chỉ tiêu Tổng sản phẩm xã hội, thu nhập quốc dân; điều tra chọn mẫu theo phương án điều tra của Tổng cục Thống kê để lập các bảng cân đối vật chất, tiền tệ, lao động... kết quả theo dõi thiên tai, dịch họa; kết quả theo dõi duyệt hoàn thành kế hoạch của các đơn vị, các ngành... Công tác thống kê tổng hợp lập báo cáo hàng tháng, quý, 6 tháng, 9 tháng và cả năm theo định kỳ để báo cáo Tổng cục Thống kê, Chi cục Thống kê khu tự trị Việt Bắc, Tỉnh uỷ, UBHC tỉnh, đồng thời gửi các ngành làm tài liệu tham khảo và làm căn cứ xây dựng kế hoạch, chỉ đạo thực hiện kế hoạch.
- Phòng Thống kê Tổng hợp đến giai đoạn này và các thời kỳ tiếp theo đã có vai trò quan trọng trong toàn bộ hoạt động công tác thống kê của ngành. Từng bước từ thấp đến cao, Thống kê Tổng hợp đã vươn lên đáp ứng được yêu cầu lãnh đạo của địa phương và Tổng cục Thống kê.
- Phòng Thống kê tổng hợp là đơn vị phải theo dõi, thu thập báo cáo của các ngành tổng hợp như Tài chính, Ngân hàng để tổng hợp lên báo cáo tài chính, tín dụng theo qui định của Tổng cục Thống kê.
- Phòng Thống kê tổng hợp còn được Chi cục phân công theo dõi phương pháp chế độ thống kê (bao gồm các công việc cùng phòng nghiệp vụ triển khai chế độ, kiểm tra thực hiện chế độ báo cáo của cơ sở), thực hiện phương án điều tra của các huyện, các xã trong phong trào thi đua do Trung ương, địa phương phát động. Chi cục Thống kê là một thành viên của Hội đồng thi đua tỉnh được phân công thường trực; nhiệm vụ này Chi cục Thống kê giao cho phòng Tổng hợp cử cán bộ theo dõi giúp lãnh đạo Chi cục. Đến giai đoạn chiến tranh phá hoại bằng không quân của Đế quốc Mỹ xảy ra, theo chỉ đạo của Tổng cục; Chi cục cũng đã giao nhiệm vụ theo dõi công tác này cho các đồng chí đủ tiêu chuẩn quy định của Tổng cục Thống kê để tham gia vào Ban điều tra tội ác chiến tranh của địa phương nằm trong phòng Tổng hợp.
- Phòng Thống kê Tổng hợp còn là nơi được Chi cục Thống kê giao nhiệm vụ làm các báo cáo, phân tích chuyên đề tổng hợp và cung cấp số liệu đột xuất phục vụ Tỉnh uỷ, UBHC tỉnh khi có yêu cầu; đặc biệt phục vụ các kỳ họp của Tỉnh uỷ, HĐND, UBHC tỉnh.
d. Cơ sở vật chất, lực lượng cán bộ
Sau khi được tách ra khỏi UBKH tỉnh, Thống kê Tuyên Quang được tỉnh quyết định thành lập Chi cục Thống kê trực thuộc UBHC tỉnh. Từ năm 1961, Chi cục Thống kê chính thức hoạt động độc lập và được cấp kinh phí từ Ty Tài chính, được mở tài khoản tại Ngân hàng. Trong văn phòng Chi cục hình thành phòng Tổ chức hành chính để chăm lo và phục vụ cho các hoạt động của ngành.
Tuy nhiên cơ sở vật chất còn rất khó khăn, trụ sở cơ quan vẫn là mấy gian nhà gỗ, vách nứa lợp lá, bàn ghế, tủ tài liệu được chuyển giao quản lý đã qua sử dụng, ở Văn phòng đã được trang bị máy điện thoại, máy chữ, máy in rôniô, đã được cấp máy tính quay tay, song mới chỉ có một cái còn lại là bàn tính gảy, thước tính lugarít. Phương tiện đi lại là xe đạp của cá nhân, nhưng cũng chỉ có một số ít đồng chí có, còn lại đi công tác từ xã này sang xã khác là đi bộ; thậm chí có lúc từ tỉnh đến huyện cũng phải đi bộ; do phương tiện vận tải công cộng còn rất ít. Với tinh thần khắc phục mọi khó khăn, nhiệt tình, trách nhiệm trước công việc được giao; đồng thời thi đua sôi nổi trong cơ quan và giữa các cơ quan với các cơ quan, ban, ngành trong tỉnh và phong trào thi đua của toàn ngành. Chi cục Thống kê Tuyên Quang đã nỗ lực vươn lên đáp ứng yêu cầu công tác của ngành, phục vụ sự lãnh đạo của địa phương. Trong đó phải kể đến sự đóng góp của ngành Thống kê Tuyên Quang vào những năm 1964 - 1965, Hưởng ứng lời kêu gọi của Trung ương, địa phương trong công cuộc chống Mỹ cứu nước ngành Thống kê Tuyên Quang đã có các đồng chí xung phong trúng tuyển nhập ngũ đó là các đồng chí:
- Nguyễn Như Lượng
- Trần Đình Hành
- Chu Xuân Hữu
- Nguyễn Văn Liên
- Đinh Xuân Kỳ
- Chẩu Văn Tiến
- Lương Tiến
- Ma Trường Thọ
Trong số này đã có 2 đồng chí Chu Xuân Hữu - Nguyễn Văn Liên hy sinh tại chiến trường, các đồng chí còn lại sau khi miền Nam giải phóng chỉ có 2 đồng chí trở lại ngành là đồng chí Nguyễn Như Lượng về lại Chi cục Thống kê và đồng chí Ma Trường Thọ về Phòng Thống kê Sơn Dương, còn lại các đồng chí khác hoặc đã chuyển về tỉnh khác hoặc sang ngành khác.
Trước khi không quân Mỹ bắt đầu đánh phá các cơ sở kinh tế, quốc phòng, khu dân cư, cầu đường giao thông (ngày 24/7/1965) vào ngày 5/6/1965 Chi cục Thống kê đã thực hiện lệnh sơ tán ra khỏi thị xã; bước đầu được chuyển đến xã Nông Tiến. Song vì cách trở qua sông, qua đò nên đến tháng 8/1965 được lệnh chuyển địa điểm về Đường Mương thuộc HTX Ninh Thuận, xã Trung Môn, huyện Yên Sơn. Tại đây, được sự giúp đỡ của nhân dân cho mượn nhà ở và làm việc trong thời gian sơ tán.
Về tổ chức bộ máy đến cuối năm 1965, ở Văn phòng Chi cục tỉnh gồm có các phòng:
- Lãnh đạo Cục: Đồng chí Lê Thanh Hùng được bầu làm Phó Chủ tịch UBHC tỉnh nên thôi kiêm Chi Cục trưởng, nên ngay từ năm 1961 đồng chí Đào Tuyên - Chi cục phó được bổ nhiệm giữ chức Chi Cục trưởng; Đồng chí Lê Đình Phùng giữ chức Chi cục phó.
- Các phòng gồm có:
1) Phòng Tổng hợp - Văn xã - Tổ chức hành chính: 6 đồng chí
Đồng chí Phạm Văn Chẩn: Trưởng phòng kiêm công tác tổ chức
Đồng chí Nguyễn Quang Toản: Cán bộ tổng hợp
Đồng chí Nguyễn Hàm: Cán bộ theo dõi thống kê văn xã (Đã mất năm 1970)
Đồng chí Nguyễn Thị Thuý: Làm kế toán chuyển sang làm nghiệp vụ.
Đồng chí Phan Thị Xuân Lan: Kế toán
Đồng chí Nguyễn Thị Huệ: Đánh máy
2) Phòng công thương: 5 đồng chí
Đồng chí Trần Trọng Nhân: Trưởng phòng
Đồng chí Trần Đình Hành
Đồng chí Nguyễn Như Lượng
(2 đồng chí này cuối năm 1965 được lệnh nhập ngũ vào bộ đội)
Đồng chí Cao Văn Sỹ
Đồng chí Nguyễn Tiến Nở
3) Phòng Nông Nghiệp: 9 đồng chí
Đồng chí Trần Ngọc Tuyên: Trưởng phòng
Đồng chí Đặng Duy Nghị
Đồng chí Nguyễn Văn Dũng
Đồng chí Vũ Tăng
Đồng chí Phan Sỹ Ngọc
Đồng chí Ngô Văn Thụy (Năm 1963 chuyển về huyện Hàm Yên)
Đồng chí Lương Việt Tiến (Năm 1963 chuyển về huyện Sơn Dương)
Đồng chí Trần Văn Dung
Đồng chí Nguyễn Huy Hàn
Toàn bộ cán bộ của Chi cục kể cả lãnh đạo có 22 đồng chí.
Riêng cấp dưỡng thời kỳ sơ tán thuộc người địa phương phục vụ.
Ở các huyện, thị, Phòng Thống kê cũng đã được tách riêng nhưng UBHC huyện trực tiếp quản lý. Tuy nhiên do yêu cầu nghiệp vụ Chi cục Thống kê tỉnh là cơ quan hướng dẫn, kiêm tra, đôn đốc các báo cáo tiến độ sản xuất; thực hiện các cuộc điều tra Thống kê, do vậy quan hệ giữa Chi cục Thống kê tỉnh và Thống kê các huyện rất khăng khít.
Cuối năm 1965, các huyện, thị được bố trí cán bộ như sau:
1) Phòng Thống kê huyện Na Hang: 3 đồng chí
Đồng chí Chẩu Văn Ong: Phụ trách phòng
Đồng chí Triệu Thế Thường: Cán bộ
Đồng chí Lương Việt Tiến: Cán bộ
2) Phòng Thống kê huyện Chiêm Hoá: 3 đồng chí
Đồng chí Hà Thế An: Trưởng phòng
Đồng chí Hoàng Văn Phòng: Cán bộ
Đồng chí Nông Văn Tiêu: Cán bộ
3) Phòng Thống kê huyện Hàm Yên: 2 đồng chí
Đồng chí Đào Duy Tín: Trưởng phòng
Đồng chí Ngô Thụy: Cán bộ
4) Phòng Thống kê Thị xã Tuyên Quang
Đồng chí Nguyễn Thành Chung: Trưởng phòng
5) Phòng Thống kê huyện Yên Sơn: 4 đồng chí
Đồng chí Nguyễn Văn Phúc: Trưởng phòng
Đồng chí Ma Văn Độ: Cán bộ
Đồng chí Tính: Cán bộ
Đồng chí Vương Kim Tuyên: Cán bộ
6) Phòng Thống kê huyện Sơn Dương: 2 đồng chí
Đồng chí Hà Thanh Bình: Trưởng phòng
Đồng chí Nguyễn Văn Lâm: Cán bộ
Những cán bộ được bố trí vào Phòng Thống kê các huyện, thị xã, trực thuộc UBHC huyện song việc tuyển dụng, điều động, bổ sung cán bộ được Chi cục Thống kê rất quan tâm nhằm giúp các huyện, thị xã có cán bộ nhiệt tình công tác, nắm được chuyên môn nghiệp vụ và đặc biệt là phương pháp công tác.
4. Giai đoạn 1966-1975: Thống kê Tuyên Quang vừa phục vụ sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, cấp uỷ và chính quyền địa phương thực hiện 2 nhiệm vụ: phát triển kinh tế - xã hội; chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, tích cực chi viện chiến trường miền Nam; xây dựng và phát triển ngành
Bước vào giai đoạn này, trên cả 2 miền đất nước, cuộc kháng chiến chống chiến tranh xâm lược và chiến tranh phá hoại bằng không quân của đế quốc Mỹ thực sự trở nên ác liệt; trên chiến trường miền Nam cuộc Tổng tiến công mùa xuân 1968 tuy chưa thắng lợi hoàn toàn, song là một mốc quan trọng buộc đế quốc Mỹ tiến hành đàm phán ở hội nghị Pari để rồi thất bại trong chiến tranh phá hoại miền Bắc bằng trận “Điện Biên Phủ” trên không ngay trên bầu trời thủ đô Hà Nội (1972) buộc phải ký hiệp định Pari (1973), rút quân về nước. Cuộc chiến đấu giải phóng miền Nam trong thế thần tốc của quân dân cả nước, kết thúc với chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử giải phóng hoàn toàn miền Nam (30/4/1975), nước ta sạch bóng quân thù. Nước nhà thống nhất mở ra kỷ nguyên mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, nhân dân ta bắt tay vào khắc phục hậu quả chiến tranh; thống nhất nước nhà. Đối với tỉnh Tuyên Quang giai đoạn này, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân các dân tộc Tuyên Quang vượt qua khó khăn gian khổ vừa chống trả quyết liệt cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân của đế quốc Mỹ, góp phần bắn rơi máy bay Mỹ, khắc phục những thiệt hại do không quân Mỹ ném bom, bắn phá gây ra; đồng thời tiếp tục phát động nhân dân tích cực phát triển sản xuất, ổn định đời sống, phát triển sự nghiệp văn hoá, giáo dục, y tế. Phát triển lực lượng vũ trang, Thanh niên xung phong tòng quân lên đường chiến đấu; đóng góp nhiều ngày công phục vụ đảm bảo giao thông; mở đường tránh, đường phòng, phục vụ xây dựng trận địa phòng không.
Cán bộ công nhân viên ngành Thống kê Tuyên Quang đã hoà cùng khí thế của quân dân trong tỉnh vừa công tác vừa phục vụ chiến đấu của địa phương, khắc phục và vượt mọi khó khăn để nắm tình hình, thu thập, tổng hợp số liệu, phục vụ kịp thời sự lãnh đạo của cấp uỷ và chính quyền địa phương, đồng thời triển khai đầy đủ các chế độ báo cáo; thực hiện các cuộc điều tra thống kê do Tổng cục Thống kê chỉ đạo, đảm bảo cung cấp đầy đủ thông tin thống kê theo kế hoạch của Tổng cục Thống kê, trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội, quốc phòng. Số lượng cán bộ tuy còn ít, hoạt động trong điều kiện còn rất nhiều khó khăn trong chiến tranh phá hoại phải sơ tán, cơ sở vật chất không đầy đủ. Song với sự nỗ lực vượt bậc cán bộ, công nhân viên ngành thống kê với trách nhiệm, nhiệt tình đã vượt qua để đáp ứng đầy đủ yêu cầu của lãnh đạo địa phương và đảm bảo yêu cầu của Tổng cục thống kê.
a. Những đặc điểm khó khăn, thuận lợi
Tỉnh Tuyên Quang thực hiện chủ trương của Đảng trước việc đế quốc Mỹ dùng không quân đánh phá miền Bắc trong đó Tuyên Quang cũng là một trong điểm không quân Mỹ đánh phá ác liệt, nên Đảng bộ Tuyên Quang đã quán triệt chủ trương của Trung ương xác định nhiệm vụ chiến lược của tỉnh là tiếp tục đẩy mạnh công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, tăng cường tiềm lực kinh tế, quốc phòng, xây dựng căn cứ hậu phương vững mạnh về mọi mặt, dốc lòng, dốc sức chi viện sức người, sức của cho cách mạng miền Nam. Trong các nhiệm vụ trên, chống chiến tranh phá hoại là nhiệm vụ trọng tâm, có tính chất quyết định nhất, tạo điều kiện thuận lợi cho việc hoàn thành các nhiệm vụ khác. Tháng 2 năm 1966, Hội nghị ban chấp hành Đảng bộ tỉnh đã họp ra nghị quyết xác định: Một trong những nhiệm vụ chủ yếu của chúng ta hiện nay là ra sức xây dựng lực lượng vũ trang, bán vũ trang nắm vững và thực hiện đúng đắn đường lối quân sự và chiến tranh nhân dân của Đảng, nâng cao cảnh giác cách mạng, làm tốt công tác bảo vệ trị an, bảo vệ an toàn hậu phương, thực hiện tốt công tác phòng không, sơ tán, đảm bảo yêu cầu giao thông vận tải, giáo dục nhân dân, động viên nhân tài, vật lực để phục vụ chiến đấu, phục vụ tuyên truyền, kiên quyết đánh thắng chiến tranh phá hoại, chiến tranh gián điệp, chiến tranh tâm lý của địch.
Thực hiện Nghị quyết trên Chi cục Thống kê tỉnh đã ổn định nơi ở, làm việc tại địa điểm sơ tán, củng cố hầm hào phòng tránh máy bay địch bắn phá, xây dựng lực lượng tự vệ sẵn sàng chiến đấu và phục vụ chiến đấu, đồng thời triển khai công tác nghiệp vụ, chuyên môn phục vụ kịp thời sự lãnh đạo của Đảng bộ và chính quyền các cấp. Cán bộ thống kê giai đoạn này đã nhanh chóng thích ứng với hoàn cảnh công tác trong điều kiện sơ tán và máy bay giặc Mỹ đánh phá ác liệt. Song vừa công tác vừa thực hiện tốt việc phòng không nên tại địa điểm sơ tán, suốt thời kỳ chiến tranh phá hoại cơ quan Thống kê tỉnh, Phòng Thống kê các huyện, thị an toàn về người và tài sản.
Trên địa bàn tỉnh máy bay Mỹ đánh phá lần thứ nhất (1965-1968) vào 3 thời kỳ:
- Từ ngày 24/7/1965 đến ngày 01/02/1966: Địch sử dụng 150 lượt tốp máy bay với 398 lần máy bay xâm nhập vùng trời đánh phá 60 mục tiêu, ném 1.094 bom phá các loại vào các mục tiêu quốc phòng, đường giao thông và một số điểm dân cư.
- Từ ngày 01/02/1966 đến ngày 01/02/1967: Chúng đã cho 663 lượt tốp, trong đó có 49 lượt tốp đánh phá 70 lần vào các mục tiêu giao thông, kinh tế, dân cư quốc phòng. Chúng đã dùng 387 quả bom phá, 8 quả bom nổ chậm, 21.400 bom bi, giải truyền đơn, tiến hành các hoạt động chiến tranh tâm lý. Ngày 24/7/1966, gia đình đồng chí Cao Văn Sỹ cán bộ của Chi cục Thống kê tỉnh Tuyên Quang ở xã An Tường, huyện Yên Sơn trúng bom, sập hầm nhà có 9 người gồm bố, mẹ và 7 người em đều chết cả, còn lại duy nhất một người em đang tại ngũ và đồng chí Sỹ đang ở cơ quan nơi sơ tán cách nhà hơn 10 km còn sống.
- Từ ngày 01/02/1967 đến 31/03/1968, địch tập trung đánh phá các trọng điểm ở 3 huyện Hàm Yên, Yên Sơn và Sơn Dương, chúng đánh phá đường giao thông, các khu dân cư, các trận địa phòng không có đến 1.090 lượt tốp máy bay xâm nhập vùng trời Tuyên Quang, có 228 lượt tốp đánh phá 195 lần với 998 bom phá, 118.440 bom bi, thả bom côn trùng xuống các xã Ỷ La (thuộc Thị xã), An Khang, An Tường (thuộc huyện Yên Sơn).
Tổng cộng 4 năm (1965-1968) đế quốc Mỹ dùng không quân đánh phá Tuyên Quang nhiều lần với hàng nghìn tấn bom đạn làm chết 251 người, 404 người bị thương, gây thiệt hại to lớn về tài sản của Nhà nước và của nhân dân như cầu Bắc Mục, cầu Hẻ, cầu sắt Sơn Dương, huyện lị Hàm Yên, các nông trường Sông Lô, Tháng 10… các cơ sở y tế, các điểm dân cư văn hoá - xã hội. Trong đó phải kể đến các phố Bắc Mục, huyện Hàm Yên dài 1 km có đến 200 hộ dân, trường học, trạm xá bị đánh đến 18 lần, khu phố hầu như bị huỷ diệt. Song dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ quân dân Tuyên Quang vừa sản xuất, công tác vừa chiến đấu đã góp phần bắn rơi 16 máy bay Mỹ (trong đó có chiếc thứ 200 và 300 bị bắn rơi tại quân khu Việt Bắc (bộ đội địa phương độc lập bắn rơi 3 chiếc) bắt sống giặc lái. Chiến công đó góp phần vào cuộc chiến đấu bảo vệ miền Bắc, đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của đế quốc Mỹ.
Bị thất bại nặng nề, không quân Mỹ phải ném bom hạn chế miền Bắc. Đến ngày 01/11/1968, Chính phủ Mỹ buộc phải chấm dứt không điều kiện việc ném bom và bắn phá trên toàn lãnh thổ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Chiến lược “chiến tranh cục bộ” của Mỹ bị phá sản, đế quốc Mỹ buộc phải ngồi vào bàn đàm phán tại Pari.
Cùng với cuộc chiến tranh chống máy bay phá hoại của giặc Mỹ, quân dân Tuyên Quang dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ và chính quyền các cấp không ngừng phát triển sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp; Thương nghiệp được mở rộng, phát triển mạnh cả thương nghiệp quốc doanh, HTX mua bán trên khắp địa bàn. Giao thông vận tải phát triển mạnh nhiều tuyến đường được cải tạo, xây dựng mới đường tránh, đường nối Tuyên Quang với Thủ đô Hà Nội và các tỉnh miền xuôi đáp ứng yêu cầu trung chuyển hàng hoá, lương thực, thực phẩm từ Hà Giang, Yên Bái đến để chuyển về xuôi góp phần chống việc phong toả đường biển của Mỹ đối với đất nước ta.
Về Văn hoá, giáo dục, y tế cũng có bước phát triển, tuy phải sơ tán chống máy bay Mỹ oanh tạc nhưng trường học tiếp tục đón nhận học sinh đến trường; công tác chăm sóc sức khoẻ của nhân dân vẫn được quan tâm, đời sống văn hoá tinh thần của nhân dân được chăm lo; an ninh quốc phòng được quan tâm đặc biệt; càng khó khăn, gian khổ nhân dân Tuyên Quang càng đoàn kết chặt chẽ dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước quyết tâm xây dựng kinh tế - xã hội theo con đường XHCN ở tỉnh nhà. Kiên quyết chống chiến tranh phá hoại, xây dựng hậu phương vững chắc chi viện sức người, sức của góp phần cùng cả nước tiến hành cuộc cách mạng giải phóng miền Nam.
Hoà chung khí thế cách mạng sôi nổi của cả nước, cán bộ, công chức ngành Thống kê Tuyên Quang không ngừng phấn đấu, rèn luyện vượt qua khó khăn, gian khổ luôn theo sát nhiệm vụ chính trị của địa phương, chấp hành nghiêm chỉnh kỷ luật báo cáo, thực hiện đầy đủ chế độ báo cáo thống kê, các cuộc điều tra thống kê do Tổng cục Thống kê quy định. Đồng thời đáp ứng yêu cầu của cấp uỷ và chính quyền địa phương các thông tin thống kê tổng hợp, chuyên ngành phục vụ các kỳ Đại hội của Đảng bộ, HĐND và sự chỉ đạo của Uỷ ban hành chính các cấp. Cung cấp thông tin số liệu và tình hình phục vụ các ngành để xây dựng kế hoạch và chỉ đạo thực hiện kế hoạch phát triển KT - XH. Đây là giai đoạn có nhiều khó khăn; song cũng là giai đoạn ngành Thống kê cả nước nói chung và thống kê Tuyên Quang nói riêng thực hiện có hiệu quả công tác Thống kê kể cả nghiệp vụ, tổ chức cán bộ và xây dựng cơ sở vật chất.
Kết thúc giai đoạn chống chiến tranh phá hoại của Mỹ lần thứ nhất. Năm 1969 cả nước vô cùng đau thương vĩnh biệt Bác Hồ, với truyền thống quê hương cách mạng nhân dân Tuyên Quang quyết tâm biến đau thương thành hành động cách mạng đem hết sức mình để xây dựng chủ nghĩa xã hội, góp phần xứng đáng vào cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam đưa sự nghiệp chống Mỹ cứu nước tới thắng lợi hoàn toàn.
Quân và dân Tuyên Quang ra sức học tập và thực hiện di chúc của Bác Hồ. Tổn thất mất mát to lớn này của nhân dân cả nước không gì bù đắp được, trước đó không lâu từ ngày 13 đến ngày 21/8/1969 một trận lũ lụt lớn đã xảy ra trên địa bàn tỉnh với mực nước đo được tại Thị xã Tuyên Quang là 30,67m; ngập lụt đã làm 65/132 xã, 80% cơ quan, đơn vị kho tàng ở thị xã, 6.089 ngôi nhà, lũ lụt đã cuốn trôi 240 ngôi nhà, làm siêu đổ 1.807 ngôi nhà khác, làm 14 người chết. Trên một nghìn tấn hàng hoá, chủ yếu là vật tư nông, lâm nghiệp, lương thực bị hỏng, ướt. Thiệt hại về tài sản của Nhà nước và nhân dân là vô cùng to lớn, ngoài ra lũ lụt còn ngập trên 50% diện tích đất trồng cây lương thực, trong đó 3.338 ha lúa đã cấy ngập úng lâu ngày nên đã chết. Trước thiệt hại do ngập lụt gây ra, Đảng bộ và nhân dân đã tập trung mọi cố gắng phòng chống và hạn chế thiệt hại. Tại thị xã Tuyên Quang hơn 200 phương tiện vận tải, 1.536 cán bộ, bộ đội, học sinh tham gia chống lụt, hàng triệu cây tre, nứa được cung cấp cho nhân dân làm bè mảng. 3.100 tấn hàng hoá của Nhà nước được vận chuyển tới nơi cao ráo, an toàn. Sau khi nước rút, ngày 23/8/1969 Đảng bộ đã chỉ đạo các biện pháp khắc phục hậu quả lũ lụt. Các cấp, các ngành trong đó có cơ quan Thống kê tỉnh, đã đưa hàng trăm cán bộ xuống cơ sở giúp dân. Nhà nước cung cấp 10 tấn lương thực cho vùng lũ lụt, điều động 150 cán bộ y tế, 15 tấn thuốc làm công tác vệ sinh, phòng chữa bệnh. Nhân dân sử dụng mạ thừa, gieo thêm, cấy lại diện tích lúa bị ngập, té nước, rửa bùn cứu được 940 ha lúa. Với cố gắng đó toàn tỉnh năm đó vẫn đạt được 93% kế hoạch cấy vụ mùa. Hiện tượng thiên tai năm 1969 gây thiệt hại lớn, nhưng sau đó một năm, năm 1971 đầu năm rét đậm kéo dài gây nhiều khó khăn cho sản xuất nhất là nông nghiệp, đến tháng 8/1971 trên địa bàn toàn tỉnh lại phải chịu đựng một trận lũ lụt chưa từng gặp trong lịch sử, nước lên từ ngày 14/8/1971, đỉnh lũ cao ở mức 32,35 m vào ngày 20/8 (cao hơn đỉnh lũ năm 1969 là 1,71m). Lũ lụt lần này xảy ra trên diện rộng ở tất cả các huyện, thị xã; 82 xã và 2 thị trấn và toàn bộ thị xã Tuyên Quang đều bị ngập. Toàn bộ vùng lúa của các huyện, thị xã đều bị ngập nặng nhất là huyện Sơn Dương, Yên Sơn, thị xã Tuyên Quang. Mức độ thiệt hại là vô cùng lớn, với trên 4.000 ha lúa mất trắng 10.563 ngôi nhà bị ngập, 2.945 ngôi nhà bị đổ, 607 ngôi nhà bị trôi, 17 người chết, 2.578 gia súc bị trôi, bị chết. Hàng hoá, vật tư, lương thực bị hỏng, thiệt hại đến 5 triệu đồng (Ngân sách của tỉnh thu năm 1971 được 17,5 triệu) nếu quy thiệt hại ra thóc mất 16.293 tấn. Riêng cơ quan Thống kê thời gian này đã chuyển từ nơi sơ tán về thị xã ngoài một dãy nhà vây nứa lợp lá còn được giao khu nhà 2 tầng do Sở văn hoá thông tin chuyển giao theo điều động của Uỷ ban Hành chính tỉnh, trận lụt này đã làm ngập toàn bộ và chìm sâu gần 7m nước, ngôi nhà 2 tầng chỉ còn lại mái tầng 2 lợp ngói là trên mặt nước, tài sản, tài liệu chạy từ tầng 1 lên tầng 2 do ngập cả tầng 2 nên thiệt hại, hư hỏng nhiều. Thời gian ngập kéo dài, cả thị xã mênh mông nước chỉ còn lại mấy nơi cao nhân dân chạy lên tránh lụt.
Như vậy vừa khắc phục trận lũ lụt năm 1969, tiếp theo ngay trận lụt năm 1971 gây thiệt hại nặng nề về kinh tế cho tỉnh Tuyên Quang. Trước tình hình này Tỉnh uỷ, UBHC tỉnh và các ngành, các cấp có nhiều cố gắng trong phòng chống và khắc phục hậu quả lũ lụt. Ngành giao thông huy động 500 công nhân trên 100 phương tiện để chống lụt cứu người, di chuyển hàng hoá, tài sản từ thấp lên cao. Hàng nghìn Đảng viên, cán bộ trực tiếp tham gia chống lụt, trên 300 cán bộ y tế đã về các cơ sở hướng dẫn vệ sinh khử trùng tiêu độc. Tại các huyện, thị xã vận động nhân dân giúp nhau dựng lại nhà cửa, cứu lúa, cấy lại diện tích mất trắng, đồng thời vận động nhân dân xây dựng lại nhà cửa, trường học... Toàn tỉnh đã cấy được trên 1.000 ha lúa. Nhờ những nỗ lực cố gắng trên nên năm 1971 diện tích gieo cấy lúa đạt 98%, sản lượng lương thực chỉ giảm 7,3% so với năm 1970, đàn gia súc, gia cầm ổn định. Giá trị tổng sản lượng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp tăng 50% so với năm 1970. Mức đầu tư cho sản xuất tăng nhiều so với năm trước. Năm 1972 tỉnh Tuyên Quang vừa khắc phục xong 2 trận lũ lụt lớn, thiệt hại nặng nề về kinh tế. Đế quốc Mỹ một lần nữa dùng máy bay ném bom trở lại miền Bắc. Thực hiện chủ trương phòng không, sơ tán nghiêm ngặt của Tỉnh uỷ Tuyên Quang, cơ quan Thống kê trở lại địa điểm sơ tán cũ (Đường Mương thuộc xã Trung Môn) vừa công tác vừa sẵn sàng phục vụ chiến đấu, đảm bảo an toàn về người, tài liệu. Toàn cơ quan thống kê tỉnh và các huyện, thị triệt để thực hiện chủ trương của Tỉnh uỷ Tuyên Quang: Đẩy mạnh phòng không nhân dân, tổ chức tốt diễn tập sẵn sàng chiến đấu, tiếp tục đẩy mạnh sản xuất, làm tốt công tác tuyển quân, chi viện tích cực cho tiền tuyến theo tinh thần “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”. Ở Tuyên Quang, máy bay Mỹ sau thời gian trinh sát thăm dò và đánh lẻ, ngày 7/4/1972 máy bay Mỹ 3 lần đánh phá các mục tiêu Z2, trường phổ thông cấp I, II Trần Phú (Yên Sơn), HTX Phú Lương và xã Cấp Tiến (Sơn Dương). Cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ lần thứ 2 này trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang bước vào giai đoạn ác liệt, trong cuộc chiến tranh phá hoại lần này trên địa bàn tỉnh, địch đã cho 444 lượt tốp, 595 chiếc máy bay đánh phá 34 lần vào 24 mục tiêu dân cư, 5 mục tiêu kinh tế, 5 mục tiêu quân sự với 776 quả bom (178 tấn), chúng đánh vào ban đêm, đánh tập trung vào các điểm dân cư vùng ven thị xã, thị trấn. Máy bay địch thường sử dụng nhiều tốp đánh trong một lần, đánh phá vào mục tiêu cố định, đánh có tính huỷ diệt. Song với tinh thần chiến đấu kiên cường của quân và dân Tuyên Quang, trong lần 2 này các đơn vị vũ trang của tỉnh đã độc lập chiến đấu trên 20 trận, các lực lượng đã hợp đồng chiến đấu bắn rơi 5 máy bay và bắt sống giặc lái. Với quyết tâm của quân dân cả nước đế quốc Mỹ cuối cùng đã phải ký hiệp định Pari (27/1/1973), Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam. Mỹ buộc phải rút quân đội và quân chư hầu ra khỏi miền Nam Việt Nam cam kết tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ.
Nhân dân miền Bắc nói chung và nhân dân tỉnh Tuyên Quang nói riêng bước vào giai đoạn khôi phục và phát triển kinh tế sau chiến tranh phá hoại; đồng thời nêu cao cảnh giác cách mạng, ra sức chi viện sức người, sức của cho chiến trường miền Nam. Trước những diễn biến nhanh và có lợi cho cách mạng dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, quân dân ta đã thừa thắng tiến tới đánh tan bọn ngụy quân, nguỵ quyền với thế tiến công vũ bão và kết thúc bằng chiến dịch Hồ Chí Minh đại thắng giải phóng miền Nam thống nhất đất nước vào 30/4/1975 chấm dứt hoàn toàn chiến tranh trên lãnh thổ Việt Nam.
b. Hoạt động công tác Thống kê
Giai đoạn 1966 - 1975 là giai đoạn có nhiều biến động. Cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ trên khắp đất nước ta đồng thời nhân dân ta phải qua nhiều thiên tai. Song càng khó khăn gian khổ, càng thử thách lòng quyết tâm của nhân dân; càng khẳng định sự lãnh đạo tài tình và đường lối cách mạng đúng đắn của Đảng ta. Trong giai đoạn này Thống kê cả nước nói chung, thống kê tỉnh Tuyên Quang nói riêng tiếp tục phát triển, hoàn thiện và lớn mạnh trên nhiều mặt, chuyên môn nghiệp vụ, tổ chức cán bộ, cơ sở vật chất kỹ thuật. Số liệu Thống kê được Đảng và Nhà nước tin cậy là cơ sở đề ra chủ trương, đường lối, chính sách, xây dựng kế hoạch dài hạn, trung hạn và ngắn hạn phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong từng thời kỳ. Thống kê Tuyên Quang, ngoài đáp ứng yêu cầu của cả nước, còn phục vụ kịp thời sự lãnh đạo của Đảng bộ và chính quyền các cấp thông qua báo cáo định kỳ, kết quả các cuộc điều tra thống kê và đặc biệt là các số liệuphục vụ kịp thời các diễn biến đột xuất như thiên tai, địch hại.
Về nghiệp vụ chuyên môn: Công tác nghiệp vụ chuyên môn ở các nghiệp vụ thống kê có sự trưởng thành vượt bậc. Đây là kết quả kế thừa các kinh nghiệm của các nước anh em, đồng thời tích luỹ từ những ngày đầu thành lập đến 1965. Giai đoạn này công tác thống kê có một bước chuyển rõ rệt từ việc thực hiện các cuộc điều tra để thu thập thông tin là chủ yếu sang giai đoạn thực hiện chế độ báo cáo định kỳ tháng, 6 tháng, 9 tháng, cả năm là chính, kết hợp với các cuộc điều tra thống kê ở tất cả các đơn vị kinh tế, thuộc các ngành kinh tế và các đơn vị sự nghiệp. Trên cơ sở thực hiện ngày càng đi vào nề nếp, chế độ ghi chép ban đầu mở sổ sách trung gian, lực lượng cán bộ làm công tác thống kê cơ sở được tăng cường từ đơn vị sản xuất kinh doanh đến các ngành chủ quản. Với cố gắng của cơ quan Thống kê tỉnh, huyện hướng dẫn, kiểm tra đôn đốc thực hiện chế độ hạch toán thống nhất thống kê - kế toán thực hiện chung chứng từ ban đầu về các chỉ tiêu, sản xuất, lao động, vật tư, bốc vác vận chuyển, tiền mặt.
Đối với lĩnh vực nông nghiệp hệ thống chỉ tiêu ghi chép ban đầu cũng được áp dụng trong các huyện, thị xã. Tuy nhiên để nắm được tình hình sản xuất, phong trào hợp tác, biến động đất đai... còn phải thực hiện các cuộc điều tra định kỳ như: Kết thúc gieo trồng hai vụ chiêm, mùa và cả năm điều tra chăn nuôi 1/4 và 1/10 hàng năm (trong đó điều tra 1/10 là cuộc điều tra toàn diện). Điều tra năng suất sản lượng cây trồng từng vụ chiêm, mùa; Điều tra cơ bản hợp tác xã; điều tra thu nhập phân phối; điều tra thuỷ lợi; điều tra biến động đất hàng năm. Riêng năm 1968 lần đầu tiên tiến hành Tổng điều tra đất trong đó có điều tra đơn vị đo lường diện tích theo tập quán địa phương như: Bó mạ số gốc cây trên 1ha, ống giống, cây giống... (để quy ước đơn vị đo lường là đơn vị ha), xong trong lĩnh vực thống kê nông nghiệp đặc biệt là thống kê cấp huyện việc theo dõi nắm tình hình sản xuất gieo trồng, chăm sóc thu hoạch ba thu (thu thuế, thu mua, thu nợ) là rất vất vả nặng nề, hàng tháng phải xuống các cụm để qui định một số xã tại một địa điểm để mỗi uỷ ban hành chính xã, thống kê xã về phản ánh để tổng hợp số liệu chung về báo cáo cấp uỷ và chính quyền huyện, đồng thời báo cáo tiến độ về văn Phòng Thống kê tỉnh để tổng hợp báo cáo Tổng cục Thống kê và Tỉnh uỷ, Uỷ ban hành chính tỉnh. Ngành thống kê coi đây là nhiệm vụ trọng tâm để phục vụ địa phương nên ngoài cán bộ thống kê còn được các ngành như nông nghiệp, ban công tác nông thôn, lương thực, cùng tham gia để nắm tiến độ sản xuất, tiến độ ba thu; đồng thời cũng là lực lượng hàng năm tổ chức duyệt phương án ăn chia của hợp tác xã nông nghiệp.
Ngành thống kê cả nước nói chung và Thống kê Tuyên Quang nói riêng đã triển khai những nghiệp vụ mới được Tổng cục Thống kê (Vụ Thống kê Cân đối) hướng dẫn các địa phương (các tỉnh, thành phố) tính các chỉ tiêu tổng hợp thông qua hệ thống bảng cân đối như: Tính tổng sản phẩm xã hội, thu nhập quốc dân theo hai giá: Giá hiện hành và giá cố định, lập bảng cân đối lao động xã hội, cân đối thu chi tiền tệ... Để phục vụ được công tác thống kê cân đối này chính là các bước nghiệp vụ thống kê chuyên ngành phải nâng cao được chất lượng thông tin thu thập được qua hệ thống báo cáo thống kê định kỳ và các cuộc điều tra thống kê chuyên đề. Các nghiệp vụ phải tính toán đầy đủ và chính xác các chỉ tiêu giá trị tổng sản lượng, giá thành sản phẩm trong đó quan trọng hơn là thống kê đầy đủ khối lượng sản phẩm sản xuất kinh doanh trong năm báo cáo. Ngay từ đầu năm 1968, ngành Thống kê Tuyên Quang đã cử cán bộ có trình độ chính quy chuyên ngành thống kê đi tiếp thu các lớp tập huấn của Tổng cục Thống kê hướng dẫn, để về triển khai ở địa phương. Mặt khác công tác thống kê giai đoạn này từng bước nâng cao trình độ và thực hiện tốt vai trò là cơ quan thường trực của địa phương trong công tác xét duyệt hoàn thành kế hoạch hàng năm cho các đơn vị cơ sở, trong đó một lần nữa thống kê nghiệp vụ, thống kê tổng hợp có dịp kiểm tra cơ sở và phương pháp tính, về mức độ chính xác các chỉ tiêu báo cáo làm cơ sở giúp cho đơn vị nâng cao hơn nghiệp vụ thống kê và đồng thời là cơ sở để tính công nhận mức độ hoàn thành kế hoạch của đơn vị được xét duyệt. (Thời kỳ này đơn vị được trích lập 3 quỹ: Phát triển sản xuất, quỹ phúc lợi, quỹ khen thưởng là tuỳ thuộc vào mức hoàn thành kế hoạch được duyệt và công nhận). Tiếp tục thực hiện nhiệm vụ thống kê thiệt hại chiến tranh.
Cùng với việc phát triển về nghiệp vụ, để hỗ trợ công tác tổng hợp. Tổng cục Thống kê chủ trương thiết lập ở mỗi địa phương một phòng máy tính, đã mở trường công nhân kỹ thuật máy tính. Tuyên Quang cũng là một địa phương được trang bị máy tính. Vì vậy Thống kê Tuyên Quang đã cử cán bộ có trình độ trung cấp thống kê như các đồng chí: Phan Thị Vừng, Nguyễn Thị Hằng, Nguyễn Thị Ngần, Phạm Thị Tâm, Đỗ Văn Thảo... và tuyển thêm người cử đi học như các đồng chí: Đỗ Thị Thuỷ, Mai Thị Minh, Bùi Thị Minh, Nguyễn Thị Hồi, Nguyễn Thị Liên, Nguyễn Thị Lợi, Vũ Thị Phương,... được cử đi học sử dụng, sửa chữa máy tính. Lấy thêm công nhân các ngành khác về để cử đi học sửa chữa như các đồng chí: Đỗ Thảo, Vương Văn Cường, Cao Văn Thắng (thương binh về), Nguyễn Thế Hùng, Nông Văn Sáu (đồng chí này được cử sang công hoà dân chủ Đức học) đồng thời thành lập phòng máy tính, đồng chí Nguyễn Xuân Hoán được bổ nhiệm Phó trưởng phòng. Máy tính nhận về sử dụng là loại cơ điện như máy cộng, máy nhân, máy kế toán. Ngoài ra còn được nhận 2 máy điện tử 385 (song không sử dụng, sau đó máy trả lại Tổng cục Thống kê). Phòng máy tuy đông người trang bị nhiều máy nhưng là máy đã lỗi thời, mặt khác không có nhiều việc để sử dụng, tổng hợp bằng máy nên tác dụng phục vụ cho công tác thống kê hạn chế. Giai đoạn này trường bồi dưỡng nghiệp vụ thống kê được thành lập có nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng năng cao nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ thống kê trong ngành và thống kê xã.
Trong giai đoạn này công tác thống kê lao động, dân số được đẩy mạnh trong đó thống kê lao động ngoài việc thực hiện đầy đủ chế độ báo cáo theo yêu cầu của Tổng cục Thống kê còn phục vụ rất nhiều trong công tác quản lý và cấp phát tem phiếu (trong thời kỳ bao cấp). Riêng Thống kê dân số hàng năm điều tra mẫu để suy rộng tính dân số trung bình phục vụ công tác kế hoạch hoá kinh tế - xã hội của địa phương. Đến ngày 1/4/1974 theo chu kỳ 10 năm (1964-1974), trên miền Bắc tiến hành Tổng điều tra dân số lần thứ 2.
Tuyên Quang được sự chỉ đạo chặt chẽ của cấp uỷ, chính quyền, Tổng cục Thống kê nên ngành Thống kê Tuyên Quang đã chỉ đạo chu đáo từ khi có chủ trương đến công tác lập sơ đồ, bảng kê tuyên truyền sâu rộng trong nhân dân, tổ chức tập huấn nghiệp vụ cho cán bộ tham gia điều tra và điều tra viên nên tiến hành thuận lợi và đạt kết quả cao trong cuộc Tổng điều tra dân số lần thứ 2 này. Một bước trưởng thành trong tổ chức, chỉ đạo thực hiện một nội dung quan trọng của ngành Thống kê. Hơn thế nữa tiến hành Tổng điều tra dân số lần này được Ban chỉ đạo điều tra dân số Trung ương, Ban chỉ đạo điều tra dân số của Tỉnh quan tâm tăng cường cơ sở vật chất, ngoài những trang bị làm việc như bàn ghế, tủ tài liệu... còn được làm mới 5 gian nhà làm việc của Ban chỉ đạo Tổng điều tra dân số tỉnh trên đất của Thống kê (sau này được bàn giao thành hội trường của cơ quan) được Trung ương trang bị một ô tô Rumani để phục vụ điều tra (kết thúc điều tra thống kê Tuyên Quang được tiếp nhận). Về cán bộ, tỉnh quyết định nhiều cán bộ của các ngành được tăng cường cho Thống kê (kết thúc điều tra một số đồng chí được tăng cường điều động cho Thống kê tỉnh như đồng chí: Hoàng Lý Vạn nguyên trưởng phòng giáo dục Yên Sơn, đồng chí Lương Bá Nhạc cán bộ của Bưu điện Tỉnh...)
Đối với các nghiệp vụ thống kê chuyên ngành như Thống kê công nghiệp, Thống kê thương nghiệp, Thống kê vận tải, Thống kê xây dựng cơ bản, Thống kê mức sống dân cư, Thống kê văn hoá, y tế, giáo dục... Trong hoàn cảnh vừa phải đương đầu với cuộc chiến tranh phá hoại của máy bay Mỹ vừa phải chống chọi với thiên tai nặng nề song cán bộ, công nhân viên ngành Thống kê Tuyên Quang đã đoàn kết vượt qua khó khăn gian khổ trong suốt thời kỳ này từ 1966 đến 1975 đã hoàn thành nhiệm vụ, chấp hành đầy đủ báo cáo theo quy định của Tổng cục Thống kê đáp ứng yêu cầu của cấp uỷ, chính quyền địa phương xây dựng được hệ thống thống kê tỉnh, huyện và các xã phối hợp với các ngành, các đơn vị thực hiện chế độ báo cáo thống kê theo qui định, đồng thời không ngừng nâng cao nghiệp vụ và có tinh thần trách nhiệm cao, hơn thế nữa có được đội ngũ những người làm công tác thống kê tâm huyết, nhiệt tình trách nhiệm không những cán bộ, công nhân viên chức thống kê từ tỉnh đến huyện thường xuyên được tỉnh triệu tập vào các nhiệm vụ trọng tâm của địa phương như phục vụ chiến đấu khi có chiến tranh; phục vụ các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, của huyện như: Đi vận động sản xuất tuyên truyền, đôn đốc hợp tác xã và nhân dân thực hiện công tác ba thu (thu thuế, thu mua, thu nợ) tham gia công tác phát triển công nghiệp, tham gia công tác trong phong trào ba xây, ba chống, và những cuộc vận động của địa phương. Từ những sự nỗ lực cố gắng đó thành quả lớn nhất đối với ngành thống kê Tuyên Quang là phục vụ đáp ứng yêu cầu lãnh đạo của địa phương. Được sự tín nhiệm và giúp cho công tác chỉ đạo và lãnh đạo của cấp uỷ và chính quyền địa phương: Phát triển sản xuất khắc phục thiên tai, số liệu thống kê qua các báo cáo quý, 6 tháng, 9 tháng và hàng năm; qua niên giám thống kê được xuất bản hàng năm là cơ sở để lãnh đạo xây dựng chương trình kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội địa phương.
c. Công tác tổ chức và cán bộ
Về công tác tổ chức: Thời kỳ từ 1966 - 1975 là giai đoạn ngành Thống kê cả nước nói chung và Thống kê Tuyên Quang nói riêng, đã từng bước được kiện toàn xây dựng hoàn chỉnh từ Trung ương, tỉnh, huyện, thị xã, đến các xã các ngành, các đơn vị sản xuất kinh doanh đều đã có tổ chức thống kê, là đầu mối thu nhập thông tin, tổng hợp báo cáo và hình thành tổ chức thống kê theo hệ thống:
- Hệ thống Thống kê nhà nước ở Trung ương là Tổng cục Thống kê, ở cấp tỉnh là các Chi cục Thống kê, các Phòng Thống kê huyện, thị xã, các xã có Ban thống kê xã; các cơ quan thống kê tỉnh, huyện, xã trực thuộc uỷ ban hành chính các cấp; đồng thời chịu sự chỉ đạo nghiệp vụ chuyên môn của Tổng cục Thống kê.
- Hệ thống các ngành nghiệp vụ được hình thành bộ phận thống kê riêng, trực thuộc các Phòng Thống kê - kế hoạch, hoặc kế toán thống kê, được bố trí cán bộ thống kê chuyên trách hoặc kiêm nhiệm.
- Hệ thống các đơn vị cơ sở sản xuất kinh doanh trực thuộc phòng kế toán - tài vụ, được bố trí cán bộ thống kê chuyên trách.
Ngành thống kê được lãnh đạo Đảng và Nhà nước, cấp uỷ và chính quyền địa phương đã có sự quan tâm đặc biệt, về tổ chức thống kê là ngày 5/4/1974, Hội đồng Chính phủ có Nghị định 72/CP quy định Tổng cục Thống kê quản lý tập trung thống nhất hệ thống thống kê nhà nước từ Trung ương đến cấp huyện. Tổng cục Thống kê đã cử đồng chí Trần Hải Bằng - Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê cùng đoàn cán bộ lên bàn giao về tổ chức cán bộ cơ sở vật chất của hệ thống thống kê tỉnh, huyện, thị xã từ địa phương quản lý về Tổng cục Thống kê quản lý.
Về cán bộ thống kê: Giai đoạn 1966 đến 1975 tỉnh Tuyên Quang đã được tăng cường khá nhiều cả số lượng và chất lượng, nhiều cán bộ được cử đi học trung cấp thống kê về địa phương cùng với số học sinhcủa các tỉnh miền xuôi tốt nghiệp trung cấp thống kê được Tổng cục Thống kê điều động lên Tuyên Quang công tác.
Cán bộ có trình độ đại học chuyên ngành thống kê được đào tạo chính quycũng đã được tăng cường lên Tuyên Quang đến hết năm 1975 ngoài ba đồng chí Đào Tuyên - Chi Cục trưởng, Lê Đình Phùng - Chi Cục phó, Nguyễn Quang Toản cán bộ được đào tạo chuyên tu đại học. Tuyên Quang được tiếp nhận các đồng chí tốt nghiệp đại học chuyên ngành thống kê của trường Đại học Kinh tế tài chính sau đổi tên thành trường Kinh tế Kế hoạch và nay là trường Đại học Kinh tế quốc dân ở các tỉnh miền xuôi lên công tác như các đồng chí Nguyễn Đình Phùng (tăng cường cho thống kê miền Nam năm 1973) Nguyễn Như Lai (năm 1973 đã chuyển vùng); đồng chí Phạm Đức Nhơn (người miền nam, năm 1974 chuyển đi công tác Miền Nam); đồng chí Nguyễn Hữu Giám quê tỉnh Hưng Yên; đồng chí Nguyễn Bá Lựu quê tỉnh Hà Tây ra trường năm 1968; đồng chí Dương Văn Quang ra trường năm 1972, đồng chí Đinh Thị Hoa, Nhữ Hiến Thành, Nguyễn Văn Mậu, Hoàng Thảo ra trường năm 1974, Nguyễn Văn Khanh (sau đó chuyển vùng về Hải Dương).
Về tổ chức bộ máy và bố trí cán bộ thời kỳ này có thể chia làm 2 giai đoạn.
A. Giai đoạn trước khi có Nghị định 72/CP của Chính phủ (1966 - 3/1974). Tổ chức bộ máy và bố trí cán bộ ở Văn phòng Chi cục Thống kê tỉnh gồm có:
I- Lãnh đạo Chi cục:
- Ông Đào Tuyên - Chi Cục trưởng
- Ông Lê Đình Phùng - Chi Cục phó
- Ông Trần Ngọc Tuyên - Chi Cục phó (Điều động chuyển sang làm Phó chủ nhiệm UBNN tỉnh năm 1971).
II- Các phòng nghiệp vụ:
1- Phòng tổng hợp gồm các nghiệp vụ: Công tác tổ chức - đào tạo; Thống kê tổng hợp; Thống kê cân đối - tài chính, ngân hàng; Thống kê Dân số - Lao động tiền lương - Văn xã; Công tác hạch toán thống kê ban đầu: Cán bộ được bố trí:
- Ông Phạm Văn Chẩn - Trưởng phòng trực tiếp làm công tác tổ chức đào tạo.
- Ông Nguyễn Quang Toản - Phó phòng làm Thống kê tổng hợp (Năm 1970 chuyển sang công ty Công nghiệp).
- Ông Nguyễn Hữu Giám - Tốt nghiệp đại học năm 1968, làm công tác Thống kê cân đối Tài chính ngân hàng.
- Ông Nguyễn Văn Liên - Thống kê Dân số (Năm 1972 đi bộ đội).
- Bà Lê Thị Hiền - Cán bộ Thống kê Văn xã (Chuyển đi khu Việt Bắc năm 1969).
- Bà Nguyễn Thị Ngần - Cán bộ Thống kê Phương pháp chế độ.
- Ông Lê Văn Thảo - Cán bộ Thống kê Lao động tiền lương.
- Ông Nguyễn Huy Phúc - Trung cấp ra trường năm 1972, làm ghi chép ban đầu.
- Bà Vũ Thị Hiển - Trung cấp ra trường 1972, làm Thống kê Dân số.
- Bà Phan Thị Xuân Lan - Cán bộ kế toán.
- Bà Nguyễn Thị Huệ - Cán bộ đánh máy, văn thư.
2- Phòng Thống kê Nông - Lâm nghiệp gồm các nghiệp vụ: Thống kê nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản. Cán bộ bố trí như sau:
- Ông Nguyễn Hàm - Trưởng phòng (Chết năm 1970)
- Ông Đặng Duy Nghị - Phó phòng
- Ông Nguyễn Văn Lai (chuyển vùng về Bắc Ninh năm 1971)
- Ông Phạm Đức Nhơn (Tăng cường miền Nam năm 1973)
- Ông Lê Hồng Minh (Đi học trung cấp năm 1966)
- Ông Nông Tiến Đồng (Nghỉ chế độ năm 1970)
- Ông Nguyễn Huy Hàn (Chuyển vùng về Hải Dương năm 1973 )
- Ông Đỗ Văn Thảo (Trung cấp ra trường năm 1967, chuyển vùng năm 1973)
- Bà Lý Thị Mậu (Trung cấp ra trường năm 1968)
- Ông Chu Xuân Hữu (Trung cấp ra trường năm 1969)
- Ông Chẩu Văn Tiến (Trung cấp ra trường năm 1969)
- Ông Đỗ Văn Chiến (Trung cấp ra trường năm 1969)
- Bà Phạm Thị Vừng (Trung cấp ra trường năm 1970)
3- Phòng Thống kê Công - Thương - XDCB - GTVT
- Ông Nguyễn Đình Phùng - Trưởng phòng
- Ông Vũ Huy Tăng - Phó phòng
- Ông Vũ Xuân Hoán
- Ông Cao Văn Sỹ
- Bà Nguyễn Thị Thúy
- Ông Nguyễn Bá Lựu (Đại học ra trường năm 1968)
- Ông Nguyễn Văn Thành (Chuyển sang Xí nghiệp Đường Rượu năm 1973)
- Bà Nguyễn Thị Hoa (Trung cấp ra trường năm 1972)
- Bà Hoàng Thị Việt (Trung cấp ra trường năm 1971)
- Bà Phạm Thị Tâm (Trung cấp ra trường năm 1967, chuyển vùng năm 1974)
4- Trường nghiệp vụ Thống kê:
- Ông Phan Sỹ Ngọc - Hiệu Trưởng (Chuyển vùng năm 1970)
- Ông Nguyễn Văn Nho (Giáo vụ chuyển vùng năm 1970)
- Ông Nguyễn Văn Đoán (Cán bộ hành chính nghỉ chế độ năm 1970)
- Ông Đinh Xuân Kỳ (Giáo viên chuyển ngành Nông nghiệp năm 1971)
B- Giai đoạn sau khi có Nghị định 72/CP ngày 05/4/1974 của Chính phủ
Giai đoạn này thực hiện theo mô hình Tổ chức thống nhất cả nước, theo chỉ đạo của Tổng cục Thống kê bộ máy tổ chức được kiện toàn, một số đơn vị cấp phòng mới được thành lập, cá biệt có đơn vị giảm đi. Về cán bộ tăng cường từ nguồn ở các trường ra, tiếp nhận một số cán bộ của ngành sau khi kết thúc Tổng điều tra Dân số năm 1974. Bộ máy Tổ chức, cán bộ gồm có:
I- Lãnh đạo cục
- Ông Đào Tuyên - Chi Cục trưởng
- Ông Lê Đình Phùng - Chi Cục phó (Tăng cường miền Nam năm 1975)
- Ông Phạm Văn Chẩn - Chi Cục phó (Được bổ nhiệm cuối năm 1974)
II. Các phòng nghiệp vụ
1- Phòng Thống kê Tổng hợp
- Ông Phạm Văn Chẩn - Chi Cục phó kiêm Trưởng phòng
- Ông Nguyễn Hữu Giám
- Ông nhữ Hiến Thành (Đại học ra trường năm 1974)
- Ông Hoàng Xuân Thảo (Đại học ra trường năm 1974)
- Ông Nguyễn Huy Phúc
2- Phòng Thống kê Nông - Lâm nghiệp
- Ông Đặng Duy Nghị - Trưởng phòng
- Ông Nguyễn Văn Mậu
- Ông Lê Hồng Minh
- Bà Phạm Thị Thoa
- Bà Ninh Thị Vụ
3- Phòng Thống kê Công - Thương - XDCB - GTVT
- Ông Nguyễn Đình Phùng - Trưởng phòng (Tăng cường miền Nam năm 1975)
- Ông Vũ Huy Tăng - Phó phòng (Chuyển vùng Thái Bình năm 1975)
- Ông Nguyễn Bá Lựu
- Ông Cao Văn Sỹ
- Bà Đinh Thị Hoa
- Ông Nguyễn Văn Mậu
- Ông Nguyễn Văn Khanh (Chuyển vùng năm 1975)
- Ông Nguyễn Như Lượng (Bộ đội chuyển ngành năm 1975)
4- Phòng Thống kê Dân số - Lao động - Đời sống - Văn xã
- Ông Hà Thanh Bình - Trưởng Phòng
- Ông Lê Văn Thảo - Lao động tiền lương
- Bà Vũ Thị Hiển
- Ông Ngô Tôn Sách-Thống kê đời sống CNVC (Bộ đội chuyển ngành năm 1975)
- Ông Trương Xuân Toản - Thống kê đời sống nông dân (Chuyển từ Trung tâm Y tế sang).
- Ông Lương Bá Nhạc (Chuyển từ Bưu điện sang)
- Bà Đỗ Thị Hiền (Chuyển từ Tỉnh đoàn thanh niên sang)
- Bà Hoàng Lệ Hòa (Chuyển từ ngành giáo dục sang)
5- Phòng máy tính
- Ông Vũ Xuân Hoán - Phó phòng, phụ trách phòng.
- Ông Đỗ Xuân Thảo (Công nhân sửa chữa)
- Ông Vương Văn Cường (Công nhân sửa chữa)
- Ông Nguyễn Văn Hùng (Công nhân sửa chữa)
- Bà Nguyễn Thị Ngần (Chuyển vùng cuối năm 1975)
- Bà Phạm Thị Tám (Công nhân sử dụng)
- Bà Vương Kim Tuyên (Công nhân sử dụng)
- Bà Hà Thị Như (Công nhân sử dụng)
- Bà Nguyễn Thị Thìn (Công nhân sử dụng)
- Bà Phan Thị Vừng (Công nhân sử dụng)
- Bà Nguyễn Thị Hồi (Công nhân sử dụng)
- Bà Nguyễn Thị Liên (Công nhân sử dụng)
- Bà Vũ Thị Phương (Công nhân sử dụng)
- Bà Bùi Thị Minh (Công nhân sử dụng)
- Bà Mai Thị Minh (Công nhân sử dụng)
- Bà Đỗ Thị Thủy (Công nhân sử dụng)
- Bà Nguyễn Thị Lợi (Công nhân sử dụng)
6- Phòng Tổ chức - Hành chính
- Ông Lương Việt Tiến
- Ông Hoàng Lý Vạn
- Ông Nguyễn Văn Đạo
- Ông Lê Cao Thắng (Văn thư)
- Bà Phan Thị Lan (Kế toán)
- Bà Nguyễn Thị Huệ (Đánh máy)
- Bà Nguyễn Thị Hằng (Thủ quỹ)
Năm 1972, Tổng cục Thống kê điều động một số cán bộ tốt nghiệp Trường trung cấp Thống kê lên công tác tại Chi cục Thống kê Tuyên Quang như: đồng chí Nguyễn Văn Phúc; đồng chí Vũ Thị Hiển; đồng chí Nguyễn Thị Mến; đồng chí Nguyễn Thị Năm (chuyển về Bắc Ninh năm 1976); đồng chí Lê Thị Ngọ; đồng chí Phạm Thị Nhuần; đồng chí đồng chí Nguyễn Thị Hoa; đồng chí Hoàng Văn Thảo; đồng chí Nguyễn Văn Mậu; đồng chí Văn Khắc Chiến.
7. Ngoài các phòng nghiệp vụ giai đoạn này, thời kỳ từ 1966-1969, Chi cục thống kê Tuyên Quang còn một trường sơ cấp thống kê nhằm đào tạo cán bộ thống kê cho các đơn vị và trưởng ban thống kê xã. Trường được thành lập trực thuộc Chi cục, có ba cán bộ chuyên trách quản lý. Sau năm 1969 số cán bộ này được bố trí vào các phòng nghiệp vụ.
Ở các huyện, thị xã giai đoạn này có Phòng Thống kê khi bàn giao quản lý ngành dọc cán bộ thống kê của các phòng gồm có:
7.1. Phòng Thống kê Thị xã Tuyên Quang.
+ Đồng chí Nguyễn Thành Chung - Phó Trưởng phòng
+ Đồng chí Nguyễn Ngọc Chấp - cán bộ
+ Đồng chí Lã Thị Hiền - cán bộ
+ Đồng chí Phạm Thị Nhuần - cán bộ
7.2. Phòng Thống kê Huyện Na Hang
+ Đồng chí Ma Văn Thúc - Phó Trưởng phòng
+ Đồng chí Chẩu Văn Chế - cán bộ
+ Đồng chí Chẩu Văn Binh - cán bộ
+ Đồng chí Chẩu Văn Nghị - cán bộ
Trước thời gian này còn có đồng chí Chẩu Văn Ong - Phó Trưởng phòng sau đó chuyển sang Thủy Lợi, sau này được bầu làm Chủ tịch Uỷ ban hành chính huyện; Đồng chí Lương Việt Tiến cán bộ được điều về Cục năm 1974.
7.3. Phòng Thống kê huyện Hàm Yên
+ Đồng chí Đào Duy Tín - Trưởng phòng
+ Đồng chí Hoàng Đình Lư - cán bộ
+ Đồng chí Hà Thị Thuỷ - cán bộ
+ Đồng chí Hà Thị Ngân - cán bộ
7.4. Phòng Thống kê huyện Chiêm Hoá
+ Đồng chí Hà Tiến An - Tưởng phòng
+ Đồng chí Nông Văn Tiêu - Phó phòng
+ Đồng chí Nông Văn Kính - cán bộ
+ Đồng chí Phùng Văn Bọc - cán bộ
+ Đồng chí Hà Thị Xuân - cán bộ
+ Đồng chí Hà Thị Chiêm - cán bộ
7.5. Phòng Thống kê huyện Yên Sơn
+ Đồng chí Nguyễn Hữu Phúc - Phó phòng
+ Đồng chí Ma Văn Độ - cán bộ
+ Đồng chí Đỗ Văn Chiến - cán bộ
+ Đồng chí Phạm Thị Dòn - cán bộ
+ Đồng chí Nguyễn Thị Năm - cán bộ
7.6. Phòng Thống kê huyện Sơn Dương
+ Đồng chí Đặng Đình Câu - Trưởng phòng
+ Đồng chí Nguyễn Lương Tiến - cán bộ
+ Đồng chí Ma Trường Thọ - cán bộ
+ Đồng chí Bùi Xuân Kiên - cán bộ
+ Đồng chí Lê Thị Ngọ - cán bộ
+ Đồng chí Nguyễn Thị Dư - cán bộ
+ Đồng chí Đoàn Văn Trường - cán bộ
+ Đồng chí Hoàng Hữu Sùng - cán bộ.
Hầu hết cán bộ của các Phòng Thống kê huyện, thị xã đều được đào tạo trung cấp thống kê ra trường.
Như vậy đến năm 1975, tổng số cán bộ công nhân viên thuộc Chi cục Thống kê Tuyên Quang do Tổng cục Thống kê quản lý quỹ lương đã có: 86 người, trong đó: lãnh đạo Chi cục 2 đồng chí, các phòng ở Văn phòng Cục 52 đồng chí; ở các huyện, thị có 32 đồng chí.
d. Cơ sở vật chất của ngành Thống kê
Về cơ sở vật chất của ngành Thống kê Tuyên Quang thời kỳ này nhìn chung còn rất khó khăn, thiếu thốn. Trụ sở làm việc chủ yếu ở địa điểm sơ tán với sự đùm bọc của nhân dân, cơ quan chỉ có mấy gian nhà tranh tre nứa, lá làm nhà ăn, làm nơi làm việc còn phần lớn ở nhờ nhà dân. Phương tiện làm việc thiếu thốn, phương tiện đi lại chưa được trang bị, đến Tổng điều tra dân số năm 1974 được trung ương cấp xe Rumani. Trong suốt 10 năm từ 1966 - 1975, thống kê Tuyên Quang đã 2 lần sơ tán, lần thứ nhất từ năm 1965 - 1969, đầu năm 1970 cơ quan Chi cục được giao 1 nhà 2 tầng của ngành văn hoá chuyển giao. Từ nơi sơ tán trở về, văn phòng Chi cục ổn định nơi ở, làm việc; lần 2 vào năm 1972 do Mỹ ném bom lại miền Bắc, văn phòng Chi cục lại tiếp tục trở lại địa điểm sơ tán đến sau khi hiệp định Pari được ký kết. Văn phòng Chi cục trở lại thị xã và làm việc tại đây, đồng thời được cấp kinh phí xây dựng thêm 5 gian nhà lợp ngói vừa làm hội trường vừa làm trụ sở của Ban chỉ đạo Tổng điều tra dân số năm 1974. Ở các Phòng Thống kê huyện, thị xã được uỷ ban hành chính huyện, thị xã bố trí địa điểm làm việc trong khối văn phòng uỷ ban hành chính huyện, thị xã.
Về phương tiện làm việc trong suốt thời gian này ở các phòng nghiệp vụ của chi cục và các Phòng Thống kê huyện, ngoài bàn, ghế, tủ đựng tài liệu còn được trang bị máy tính quay tay hiệu Nisa, hiệu Fungu Trung Quốc, thay thế bàn tính gảy, ở văn phòng cục có máy chữ, máy in Rôniô nhãn hiệu Việt Nam.
Đến năm 1973 thực hiện chủ trương của Tổng cục Thống kê, Chi cục Thống kê được trang bị máy tính cơ điện. Chi cục thống kê Tuyên Quang đãtiếp nhận hàng chục máy cộng, một máy nhân; 2 máy kế toán là các loại máy cơ điện để phục vụ cho nhiệm vụ tổng hợp số liệu làm báo cáo thống kê.
Mặc dù ngành thống kê Tuyên Quang, so với ngày đầu thành lập 1957 đã trưởng thành nhanh chóng về số lượng và chất lượng, lực lượng cán bộ ổn định và phát triển song về cơ sở vật chất còn rất thiếu thốn, hạn chế.
III. Đánh giá kết quả và bài học kinh nghiệm
Chặng đường xây dựng, trưởng thành và phát triển của ngành Thống kê Việt Nam nói chung và của tỉnh Tuyên Quang nói riêng từ 1957 đến 1975 là giai đoạn phát triển mạnh mẽ, đồng thời là giai đoạn có bước trưởng thành vượt bậc cả về tổ chức cán bộ, chuyên môn nghiệp vụ và xây dựng nền móng cho công tác cơ khí hoá, tự động hoá việc xử lý thông tin thống kê.
Đánh giá kết quả của công tác thống kê trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang giai đoạn này. Về tổ chức cán bộ: Từ chỗ chỉ có một vài cán bộ những ngày đầu thành lập nằm trong UBKH tỉnh làm chức năng thống kê (năm 1957), đến năm 1961 thực hiện Quyết định số 15/CP của Hội đồng Chính phủ tách Cục Thống kê Trung ương ra khỏi UBKH Nhà nước thành lập Tổng cục Thống kê,ở các địa phương, trong đó có Tuyên Quang. Chi cục Thống kêđược thành lập cơ quan riêng và hệ thống tổ chức thống kê trực thuộc uỷ ban hành chính các cấp trong tỉnh. Chi cục thống kê trực thuộc UBHC tỉnh, ở huyện có Phòng Thống kê trực thuộc UBHC huyện, ở xã có Ban thống kê xã trực thuộc UBHC xã làm nhiệm vụ thu thập thông tin, tổ chức và thực hiện các cuộc điều tra thống kê để lập báo cáo thống kê phục vụ sự lãnh đạo của cấp uỷ, chính quyền và thực hiện các báo cáo chuyên môn với cơ quan thống kê cấp trên; Thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác thống kê tại địa phương. Ngoài ra cùng với việc xây dựng hệ thống thống kê nhà nước từ tỉnh đến huyện, xã, ngành thống kê còn phối hợp với các ngành xây dựng hệ thống thống kê chuyên ngành từ cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ đến các ngành chủ quản để thực hiện chế độ báo cáo thống kê theo quy định của Nhà nước. Quá trình xây dựng và phát triển ngành thống kê được Đảng, Nhà nước, cấp uỷ chính quyền địa phương rất quan tâm. Đối với Tuyên Quang ngày đầu thành lập, Tỉnh uỷ đã phân công một đồng chí uỷ viên Ban chấp hành Tỉnh uỷ trực tiếp phụ trách công tác thống kê đảm nhận chức Chi Cục trưởng để lãnh đạo và xây dựng tổ chức thống kê từ tỉnh đến cơ sở. Quá trình 20 năm đó vừa xây dựng, vừa củng cố, phát triển Chi cục Thống kê Tuyên Quang đã có hệ thống tổ chức thống kê đáp ứng được yêu cầu công tác, phục vụ kịp thời các thông tin kinh tế - xã hội để lãnh đạo các cấp, các ngành tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị của Đảng, Nhà nước qua từng thời kỳ. Trong giai đoạn này mốc đánh dấu quan trọng nhất của ngành thống kê là được Quốc hội, Chính phủ giao cho ngành thống kê quản lý ngành dọc theo Nghị định số 72/CP ngày 05/04/1974, theo Nghị định này Chi cục Thống kê tỉnh, Phòng Thống kê các huyện, thị xã của tỉnh Tuyên Quang đến cuối năm 1974 được bàn giao từ địa phương về Tổng cục Thống kê quản lý về biên chế cán bộ, quỹ lương, kinh phí hoạt động và chương trình công tác. Tuy nhiên đối với địa phương, Phòng Thống kê các huyện, thị xã, Chi cục thống kê tỉnh chịu sự lãnh đạo của cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương.
Chương III
Công tác Thống kê thời kỳ 1976 - 1986
I. Đặc điểm kinh tế - xã hội
Thực hiện Quyết định của Quốc hội về việc hợp nhất hai tỉnh Tuyên Quang và tỉnh Hà Giang thành tỉnh mới là Hà Tuyên. Công tác hợp nhất được tiến hành khẩn trương trong quý I/1976. Từ 1/4/1976 các cơ quan đơn vị của tỉnh chính thức hoạt động theo đơn vị hành chính mới. Tỉnh Hà Tuyên vị trí địa lý là một tỉnh miền núi biên giới cực Bắc của tổ quốc từ 21030’ - 23024’ vĩ độ Bắc, từ 1040 - 1050 kinh Đông; phía Bắc giáp Trung Quốc với 274 km đường biên giới trải dài 33 xã thuộc 7 huyện dọc đường biên giới; phía Nam giáp tỉnh Vĩnh Phú (nay thuộc địa phận tỉnh Phú Thọ và Vĩnh Phúc), phía Đông giáp hai tỉnh Cao Bằng, Bắc Thái (nay là hai tỉnh Bắc Kạn, Thái Nguyên), phía Tây giáp tỉnh Hoàng Liên Sơn (nay là Yên Bái - Lào Cai). Thị xã Hà Giang từ ngày đầu hợp nhất được chọn làm tỉnh lỵ, các cơ quan của tỉnh Tuyên Quang lên tập kết cùng với cơ quan ở Hà Giang thành cơ quan tỉnh Hà Tuyên. Đến 21/2/1979 do chiến tranh biên giới, Tỉnh ủy, UBND tỉnh các sở, ban, ngành của tỉnh chuyển về thị xã Tuyên Quang. Hà Tuyên mới cũng như các tỉnh biên giới phía Bắc giáp với Trung Quốc nằm trong tình trạng vừa sản xuất vừa sẵn sàng chiến đấu. Diện tích tự nhiên của tỉnh Hà Tuyên là 13.632 km2 (1.363.200 ha). Dân số toàn tỉnh khi sáp nhập là 70.974 người, mật độ dân số trung bình của tỉnh là 51 người/km2 gồm 22 dân tộc, đông nhất là dân tộc Kinh rồi đến Tày, Mông, Nùng, Cao Lan còn lại là các dân tộc khác. Về đơn vị hành chính bao gồm: 2 thị xã Hà Giang và Tuyên Quang. Từ tháng 4/1976 đến tháng 2/1979 tỉnh lỵ đóng tại thị xã Hà Giang, từ cuối tháng 2/1979 đến trước ngày chia tỉnh Hà Giang - Tuyên Quang (12/8/1991) tỉnh lỵ đóng tại thị xã Tuyên Quang có 13 huyện gồm: Mèo Vạc, Đồng Văn, Yên Minh, Quản Bạ, Vị Xuyên, Bắc Quang, Hoàng Su Phì, Xín Mần (thuộc tỉnh Hà Giang hiện nay), Hàm Yên, Na Hang, Chiêm Hóa, Yên Sơn, Sơn Dương (thuộc tỉnh Tuyên Quang). Trong nội địa với thủ đoạn của bọn phản động, thù địch tuyên truyền kích động đồng bào Hoa bỏ ra nước ngoài với diễn biến tình hình như vậy đã gây rất nhiều khó khăn cho tỉnh Hà Tuyên nói chung và trực tiếp là các huyện, thị xã tuyến I (tỉnh Hà Giang cũ), suốt trong thời kỳ 1976 - 1986 nhân dân các dân tộc tỉnh Hà Tuyên dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy, HĐND và UBND tỉnh với sự chi viện kịp thời hiệu quả từ Trung ương và các tỉnh bạn, quân dân Hà Tuyên đã xây dựng tuyến phòng thủ vững chắc giữ vững biên cương Tổ quốc phía Bắc, suốt chiều dài biên giới chuyển đổi nhanh từ thời bình sang thời chiến, vừa sản xuất, vừa sẵn sàng chiến đấu đảm bảo đời sống của nhân dân và các lực lượng vũ trang, đồng thời vượt qua được những thiên tai như lũ, lụt…
II. Hoạt động Thống kê
1. Ngành Thống kê cả nước
Từ năm 1974 và những năm tiếp theo, tiếp tục thực hiện Nghị định số 72/CP ngày 5/4/1974 của Hội đồng Chính phủ ban hành điều lệ tổ chức và hoạt động của Tổng cục Thống kê. Đây là thời kỳ phát triển mạnh của Ngành Thống kê kể cả về tổ chức, cán bộ, nghiệp vụ chuyên môn nhằm đáp ứng yêu cầu của Đảng và Nhà nước về các thông tin kinh tế - xã hội phục vụ xây dựng kế hoạch, chỉ đạo thực hiện kế hoạch chương trình phát triển kinh tế - xã hội của cả nước. Đối với các địa phương yêu cầu về thông tin thống kê phục vụ cấp ủy và chính quyền cũng rất lớn, để lãnh đạo và chỉ đạo các cấp, các ngành, xây dựng, các chỉ tiêu kế hoạch (1976 - 1980) và 1981 - 1985) mặt khác các thông tin thống kê được sử dụng kiểm tra việc thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch, đồng thời cung cấp phục vụ số liệu Thống kê cho ban soạn thảo văn kiện đại hội Đảng các cấp.
Về nghiệp vụ chuyên môn thống kê thời kỳ (1976 - 1986) công tác hạch toán và thực hiện chế độ báo cáo thống kê được tiến hành mạnh mẽ, rộng khắp trên phạm vi toàn quốc, các cấp, các ngành, các đơn vị kinh tế - xã hội nghiêm chỉnh chấp hành chế độ ghi chép ban đầu và thực hiện đầy đủ chế độ báo cáo nhanh hàng tháng, quí, 6 tháng, 9 tháng và năm gửi về các Chi cục Thống kê tỉnh để tổng hợp báo cáo Tổng cục Thống kê, Tỉnh uỷ, UBND tỉnh. Thời kỳ này do việc thông tin liên lạc còn chậm phát triển với lý do đó Ngành Thống kê của cả nước được ưu tiên, các báo cáo thống kê có phong bì riêng với ký hiệu một đường chéo đỏ trên phong bì để được Bưu điện ưu tiên chuyển phát nhanh.
2. Tổ chức và công tác Thống kê ngày đầu thành lập tỉnh Hà Tuyên
2.1. Tổ chức bộ máy
Ngay từ khi có chủ trương và Nghị quyết của Quốc hội sáp nhập tỉnh Hà Giang với tỉnh Tuyên Quang để thành lập tỉnh Hà Tuyên. Ngành Thống kê của tỉnh mới tỉnh Hà Tuyên đã phải bắt tay ngay vào công tác phục vụ cho việc chỉnh lý tổng hợp và cung cấp các số liệu cơ bản về dân số, dân tộc, số liệu các chỉ tiêu tổng hợp, về các ngành kinh tế - xã hội. Ngay từ đầu năm 1976 trước khi sáp nhập tỉnh, cán bộ ngành Thống kê của 2 tỉnh Hà Giang - Tuyên Quang đều tập trung chuẩn bị số liệu, song song với công tác chuyên môn, việc chuẩn bị cơ sở vật chất nơi ở, làm việc, phương tiện di chuyển cũng được tiến hành để khi có lệnh tập kết thực hiện được ngay.Thực hiện chủ trương chung và thực hiện quyết định của Tổng cục Thống kê; Chi cục Thống kê Hà Giang được giao nhiệm vụ chuẩn bị cơ sở vật chất làm thêm nhà, bố trí, sắp xếp để có đủ chỗ làm việc, chỗ ở cho cán bộ bằng kinh phí của Tổng cục Thống kê cấp. Đồng thời với việc chuẩn bị đón cán bộ của Chi cục Thống kê Tuyên Quang lên tập kết. Về mặt nghiệp vụ Chi cục Thống kê Hà Giang tiếp nhận số liệu cơ bản của Chi cục Thống kê Tuyên Quang để tổng hợp chung thành số liệu của tỉnh Hà Tuyên phục vụ sự lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh ủy, UBND tỉnh Hà Tuyên và cho các ngành để xây dựng kế hoạch và chỉ đạo thực hiện kế hoạch của tỉnh mới.
Ngày 2/4/1976, Chi cục Thống kê Tuyên Quang sau khi đã sắp xếp bố trí hợp lý cán bộ trong điều kiện cho phép (kể cả việc cho thuyên chuyển công tác, bố trí về các huyện, thị xã) số cán bộ tập kết lên Văn phòng Chi cục mới ở Hà Giang gồm có 25 cán bộ công nhân viên gồm:
- Ông Phạm Văn Chẩn - Chi Cục phó, còn lại là các ông, bà: Hoàng Lý Vạn - cán bộ tổ chức, Trương Xuân Toản - cán bộ tổ chức; Phòng hành chính quản trị có: ông Lương Việt Tiến, bà Ma Thị Hợi, bà Nguyễn Thị Nguyệt, ông Trần Văn Bổng (lái xe).
- Phòng Tổng hợp Cân đối có ông, bà: Nhữ Hiến Thành, Hoàng Thảo, Nguyễn Văn Mậu, Vương Kim Tuyên, Nguyễn Hữu Giám.
- Phòng Nông, Lâm nghiệp có các ông, bà: Phạm Thị Thoa, Lê Hồng Minh, Nguyễn Thị Hoa, Đinh văn Quang.
- Phòng Văn xã, Dân số gồm các ông, bà: Lê Văn Thảo, Vũ Thị Hiển, Hoàng Lệ Hòa, Lương Bá Nhạc.
- Phòng Công Thương - XDCB gồm các ông, bà: Nguyễn Bá Lựu, Cao Văn Sỹ, Nguyễn Văn Phúc, Nguyễn Như Lượng, Đinh Thị Hoa, Ngô Tôn Sách.
Trong tổng số 25 cán bộ công nhân viên tập kết lên Hà Giang có 6 cán bộ đại học tốt nghiệp khoa Thống kê trường đại học KTQD, cán bộ Trung cấp được Ngành Thống kê đào tạo gồm: 8 đồng chí còn lại là các đồng chí qua sơ cấp thống kê, các ngành khác chuyển sang, là công nhân lái xe, nhân viên tạp vụ. Ngoài số cán bộ nghiệp vụ tập kết ngày 2/4/1976 do địa điểm chưa bố trí được nên số cán bộ phòng Máy tính tập kết sau vào cuối năm 1976 gồm các ông Vũ Xuân Hoán - Phó phòng và một số cán bộ khác.
Ở lại Văn phòng Chi cục Thống kê Tuyên Quang để thành lập cơ sở đào tạo hệ sơ cấp gồm các ông, bà nguyên là cán bộ của Chi cục Thống kê Tuyên Quang có: Ông Đặng Duy Nghị nguyên Trưởng phòng Nông nghiệp được cử làm Hiệu trưởng; ông Nguyễn Văn Đạo cán bộ, bà Phạm Thị Vừng cán bộ, bà Phan Thị Lan kế toán, bà Nguyễn Thị Huệ đánh máy kiêm thủ quỹ.
Ở các huyện, thị xã thuộc tỉnh Tuyên Quang khi sáp nhập tỉnh cán bộ Thống kê cũng được bố trí đủ lực lượng ở từng Phòng Thống kê các huyện, thị.
- Thị xã Tuyên Quang: Có 5 cán bộ do ông Nguyễn Thành Trung - Trưởng phòng
- Huyện Yên Sơn: Có 3 cán bộ do ông Bùi Xuân Kiên - Trưởng phòng.
- Huyện Hàm Yên: Có 4 cán bộ do ông Nguyễn Văn Nhi - Trưởng phòng.
- Huyện Sơn Dương: Ông Đặng Đình Câu - Trưởng phòng và 4 cán bộ
- Huyện Na Hang: do ông Ma Văn Thúc - Trưởng phòng và 2 cán bộ
- Huyện Chiêm Hóa: Ông Nông Văn Tiêu - Trưởng phòng và 4 cán bộ.
Sau khi thực hiện chủ trương nhập tỉnh, cán bộ công nhân viên của Chi cục Thống kê Tuyên Quang đã tập kết. Thực hiện quyết định của Tổng cục Thống kê, Chi cục Thống kê Hà Tuyên chính thức bước vào hoạt động địa điểm văn phòng Chi cục đóng tại thị xã Hà Giang (địa điểm của Chi cục Thống kê Hà Giang cũ, khu vực Cầu Châu nay là địa điểm của Thị đội Hà Giang).
Về tổ chức bộ máy ngành Thống kê Hà Tuyên có Văn phòng Chi cục Thống kê và các Phòng Thống kê huyện, thị xã, cụ thể:
I. Lãnh đạo Chi cục:
- Ông Trần Thi - Chi Cục trưởng
- Ông Phạm Văn Chẩn - Chi Cục phó (Cuối năm 1978 được điều động về làm công tác thanh tra Tổng cục Thống kê)
- Ông Mai Đức Khai được đề bạt Chi Cục phó năm 1978.
II. Các phòng trực thuộc lãnh đạo Chi cục:
1- Phòng Tổ chức, đào tạo, Thanh tra: ông Hoàng Lý Vạn - Trưởng phòng.
2- Phòng Hành chính, quản trị: ông Lương Việt Tiến - Phó Trưởng phòng.
3- Phòng Tổng hợp - PPCĐ: ông Phạm Thiếu Lăng - trưởng phòng
4- Phòng Thống kê nông, lâm nghiệp, thủy sản: ông Vũ Tiến Hùng - trưởng phòng
5- Phòng Công nghiệp: ông Nguyễn Bá Lựu - Trưởng phòng
6- Phòng Thống kê XDCB - GTVT - Vật tư: ông Hoàng Đình Cương - Trưởng phòng
7- Phòng Thống kê Cân đối: ông Lương Bá Nhạc - Trưởng phòng
8- Phòng Thống kê Thương nghiệp - Giá cả: ông Vũ Văn Đức - Trưởng phòng
9- Phòng Thống kê Văn xã - Đời sống: ông Phạm Thế Hiển - Trưởng phòng
10- Phòng Dân số - Lao động: ông Nguyễn Ngọc Uyển - Phó phòng
11- Phòng Máy tính: ông Nguyễn Văn Yên - Trưởng phòng
12- Trường sơ cấp Thống kê: ông Đặng Duy Nghị làm Hiệu trưởng đóng tại thị xã Tuyên Quang.
Ở các huyện, thị xã các ông, bà trưởng, phó Phòng Thống kê được giữ nguyên chức vụ như trước khi sáp nhập.
Thời kỳ này cũng là thời kỳ có nhiều biến động, chiến tranh biên giới phía Bắc xảy ra, các cơ quan cấp tỉnh được lệnh di chuyển địa điểm làm việc về Thị xã Tuyên Quang, trong đó có cơ quan Thống kê. Chức năng, nhiệm vụ của ngành được bổ sung, ngoài nhiệm vụ là cơ quan chủ trì xét duyệt hoàn thành kế hoạch nhà nước hàng năm, ngành thống kê còn được giao chủ trì công tác quyết toán vật tư của các đơn vị cung ứng và sử dụng.
Về tổ chức bộ máy thời kỳ này cũng có những thay đổi. Ngành Thống kê được nhà nước cho phép quản lý tập trung thống nhất theo ngành dọc từ Trung ương đến cấp huyện; Chi cục Thống kê được đổi tên thành Cục Thống kê tỉnh, theo đó mô hình tổ chức bộ máy và cán bộ được kiện toàn và tăng cường.
Bộ máy tổ chức và cán bộ của Cục Thống kê tỉnh thời kỳ này gồm có:
I. Lãnh đạo cục
- Ông Lê Đình Phùng được Tổng cục điều động và bổ nhiệm chức danh Cục trưởng thay ông Trần Thi chuyển về trường trung cấp Thống kê.
- Ông Mai Đức Khai - Phó Cục trưởng.
- Ông Phạm Thiếu Lăng - Trưởng phòng Tổ chức được bổ nhiệm Phó Cục trưởng.
II. Các phòng ban trực thuộc lãnh đạo Cục gồm có:
1- Phòng Tổ chức cán bộ
- Ông Nguyễn Hữu Hạnh - Trưởng phòng (Sau điều động sang phòng Nông nghiệp).
- Ông Phạm Thế Hiển thường trực thống kê tội ác chiến tranh thay Ông Nguyễn Hữu Hạnh
- Bà Lưu Thị Pí - Phó trưởng phòng
2- Phòng Hành chính
- Ông Lương Việt Tiến - Trưởng phòng.
- Ông Nguyễn Như Lượng - Phó phòng
- Bà Phan Xuân Lan - kế toán
- Bà Nguyễn Thị Ảnh
- Bà Hoàng Thị Bắc (kế toán theo dõi cấp huyện)
- Ông Vũ Xuân Canh - lái xe
- Bà Nguyễn Thị Huệ - đánh máy
- Bà Lê Thị Chung - đánh máy
- Ông Lê Cao Thắng - văn thư - lưu trữ
3- Phòng tổng hợp thông tin
- Ông Nguyễn Hữu Giám - Trưởng phòng
- Bà Vương Thị Kim Tuyên
- Bà Phạm Thị Thoa
4- Phòng Cân đối Vật tư (sáp nhập phòng Cân đối và bộ phận vật tư của phòng XDCB)
- Ông Lê Văn Thảo - Phó phòng phụ trách
- Ông Đõ Đình Cón
- Ông Lê Hồng Minh
- Ông Nguyễn Huy Phúc
- Ông Luyện Văn Minh
- Bà Nguyễn Thị Ngọc
5- Phòng Nông, lâm nghiệp
- Ông Nguyễn Hữu Hạnh - Trưởng phòng
- Ông Vũ Đình Phòng - Phó phòng
- Ông Nguyễn Văn Chuyển
- Bà Hoàng Thị Xanh
- Bà Mai Thị Thanh Thảo
6- Phòng Công nghiệp - XDCB
- Ông Hoàng Đình Cương - Trưởng phòng
- Ông Nguyễn Như Lượng - Phó phòng
- Ông Văn Khắc Chiến
- Bà Đinh Thị Hoa
- Bà Nguyễn Thị Hằng
7- Phòng Thương nghiệp - Đời sống - Văn xã
- Ông Vũ Văn Đức - Trưởng phòng
- Ông Cao Văn Sĩ - Phó phòng
- Bà Mai Thị Nhạc
- Bà Nguyễn Thị Liên (Sau chuyển đi Hà Giang)
- Bà Phạm Thị Nhuần
- Ông Trương Xuân Toản
8- Phòng Dân số - Lao động
Ông Lương Bá Nhạc - Trưởng phòng
- Bà Vũ Thị Hiển
- Bà Lương Thị Thu
9- Phòng máy tính (sau chuyển xí nghiệp máy tính)
- Ông Vũ Xuân Hoán - Phó phòng phụ trách phòng. Sau khi chuyển sang xí nghiệp máy tính, điều động và bổ nhiệm ông Vũ Văn Đức làm Giám đốc
- Bà Phan Thị Vừng
- Bà Nguyễn Thị Hồi
- Bà Bùi Thị Toán
- Bà Vương Thị Bướm
- Bà Nguyễn Thị Hương
- Bà Vũ Thị Phương
- Bà Nguyễn Thị Liên
Cũng trong gia đoạn này về cán bộ, Cục đã điều động 2 cán bộ có trình độ đại học sang trường trung cấp Kinh tế của tỉnh làm công tác giảng dạy gồm ông Nhữ Hiến Thành (Trưởng phòng Tổng hợp) và bà Hoàng Lệ Hòa cán bộ. Đồng thời thực hiện chính sách cán bộ, cơ quan đã cho chuyển vùng 1 số cán bộ: Ông Hoàng Xuân Thảo, ông Đỗ Văn Trí, ông Nguyễn Xuân Tùng chuyển về Cục Thống kê tỉnh Vĩnh Phúc. Ông Văn Khắc Chiến (chuyển về Hải Phòng)... Khi chiến tranh biên giới chống quân bành trướng phương bắc, ngành thống kê lại tiếp tục tuyển chọn các thanh niên ưu tú tham gia nhập ngũ, cụ thể là ông Nguyễn Văn Chuyển nhập ngũ tháng 2/1984, sau chuyển về ngành nay là Phó cục trưởng Cục Thống kê tỉnh; ở huyện đồng chí Trần Đức Độ tham gia quân đội, hoàn thành nghĩa vụ trở về ngành công tác đến khi nghỉ hưu trước tuổi. Cơ quan tiếp nhận bà Đỗ Thị Bích sau khi hoàn thành nghĩa vụ quân sự chuyển ngành về Cục Thống kê tháng 10/1984.
Ở cấp huyện, thị: Mô hình tổ chức giữ nguyên Phòng Thống kê huyện, thị xã. Do điều chỉnh địa giới 01/01/1984 tách huyện Vị Xuyên thành huyện Vị Xuyên và thành lập thêm huyện Bắc Mê, Ngành Thống kê đã thành lập Phòng Thống kê huyện Bắc Mê.
Ở cấp xã: Các ban Thống kê xã tuy còn tồn tại nhưng chỉ được giữ lại một định xuất Trưởng ban Thống kê xã thành viên của ban là kế toán trưởng HTX nông nghiệp. Những xã có qui mô HTX toàn xã thì Kế toán trưởng đồng thời làm Trưởng ban Thống kê. Đối với các xã này bắt đầu gặp những khó khăn khi triển khai nghiệp vụ, vì thu thập các thông tin kinh tế - xã hội như biến động dân số, tình hình hoạt động xã hội… Do kế toán trưởng HTX làm Trưởng ban Thống kê nên không quan tâm tới công tác thống kê; UBND xã lại phải trưng tập người khác làm thống kê, chính do vậy công tác Thống kê ở các xã khi đã thành lập HTX toàn xã nảy sinh vướng mắc, nhiều mặt công tác kém hiệu quả.
2.2. Cơ sở vật chất: Khi có chủ trương tỉnh lị đóng tại thị xã Hà Giang, Chi cục Thống kê Hà Tuyên đã được cấp kinh phí sửa sang và làm thêm hai dãy nhà gỗ, lợp lá cọ vách đất để bố trí các phòng làm việc và chỗ ở cho cán bộ độc thân, cho cán bộ hộ gia đình ở tập thể.
Phương tiện làm việc được trang bị thêm bàn, ghế, tủ đựng tài liệu, máy tính để bàn, phương tiện thông tin liên lạc: Tại Văn phòng cục có 1 tổng đài 10 số; mỗi huyện đều có điện thoại, song vì thông tin hữu tuyến nên liên lạc bằng điện thoại từ tỉnh đi các huyện rất khó khăn nhất là những ngày thời tiết xấu, việc liên lạc thường bị gián đoạn hoặc rất khó nghe, kể cả liên lạc về Tổng cục Thống kê. Phương tiện đi lại có hai xe ô tô hiệu Rumani do Tổng cục Thống kê trang bị mỗi Chi cục 1 chiếc sau khi kết thúc tổng điều tra dân số năm 1974. Thời kỳ này còn rất nhiều cán bộ ăn ở tập thể, nên tại Văn phòng cục còn có nhà ăn tập thể có hai cấp dưỡng, một nhà trẻ với ba cô nuôi dạy trẻ.
Chi cục Thống kê Hà Tuyên, ngoài Văn phòng Chi cục đóng tại thị xã Hà Giang, ở thị xã Tuyên Quang có cơ sở Văn phòng Chi cục Thống kê Tuyên Quang; được tỉnh và Tổng cục Thống kê cho thành lập trường Thống kê để đào tạo cán bộ thống kê sơ cấp cho các cán bộ của các ngành, các xí nghiệp, lâm trường làm công tác thống kê chưa có nghiệp vụ, ngoài cơ sở cũ còn được xây dựng thêm bảy gian nhà cột bê tông, vì kèo thép lợp ngói vừa để làm hội trường, nhà ăn cho lớp học, các phòng làm việc cũ thành nơi ở cho học viên. Cũng chính nhờ giữ được cơ sở này nên khi xảy ra chiến tranh biên giới, Chi cục Thống kê Hà Tuyên chuyển về Tuyên Quang có sẵn nơi làm việc và chỗ ở cho cán bộ công nhân viên chức.
3. Hoạt động Thống kê
Bám sát nhiệm vụ, chính trị của địa phương, căn cứ vào các chế độ báo cáo Thống kê được Chính phủ và Tổng cục Thống kê qui định, Ngành Thống kê Hà Tuyên đã tổ chức triển khai thực hiện đảm bảo đáp ứng yêu cầu của Tổng cục Thống kê vừa phục vụ yêu cầu lãnh đạo của cấp ủy và chính quyền địa phương, đồng thời không ngừng tăng cường củng cố tập trung thực hiện các nhiệm vụ công tác trọng tâm của từng thời kỳ. Bên cạnh đó, Ngành Thống kê Hà Tuyên còn phải sắp xếp tổ chức, bố trí cán bộ phù hợp với yêu cầu công tác của một tỉnh mới được sáp nhập. Mặt khác, cũng trong giai đoạn này, theo yêu cầu của Tổng cục Thống kê, Ngành Thống kê Hà Tuyên đã cử 5 đồng chí tăng cường cho tỉnh Minh Hải mới giải phóng, gồm 1 cán bộ đại học và 4 cán bộ trung cấp. Không kể trước đó, Chi cục Thống kê Hà Giang đã được Tổng cục Thống kê điều động đồng chí Dương Phúc Nguyên - Chi Cục phó tăng cường cho tỉnh Đồng Nai; Chi cục Thống kê Tuyên Quang có đồng chí Lê Đình Phùng - Chi Cục phó tăng cường cho tỉnh An Giang. Đặc biệt trong giai đoạn này từ cuối năm 1978 và những tháng đầu của năm 1979 do diễn biến, tình hình biên giới Việt - Trung, ngày 21/2/1979, Tỉnh ủy, UBND và các Sở, Ban, ngành của tỉnh chuyển từ Thị xã Hà Giang về Thị xã Tuyên Quang. Tại thị xã Hà Giang, tỉnh thành lập Sở Chỉ huy tiền phương trực tiếp chỉ huy quân dân tuyến I vừa sản xuất vừa phục vụ chiến đấu. Chi cục Thống kê Hà Tuyên cũng chuyển địa điểm về thị xã Tuyên Quang, nơi trước đây Chi cục Thống kê Tuyên Quang đóng trụ sở, khi hợp nhất đã giữ lại làm trường Sơ cấp. Tuy nhiên khi về tại địa điểm này, trong ngôi nhà 2 tầng tỉnh đã trưng dụng tầng 2 làm phòng bá âm cho Đài Phát thanh của tỉnh.
Với khó khăn như vậy nhưng những nội dung và phương pháp thống kê chủ yếu vẫn được Ngành Thống kê Hà Tuyên triển khai đầy đủ, cụ thể trên từng nghiệp vụ Thống kê đã thực hiện.
3.1. Về Thống kê Nông, lâm, ngư nghiệp
Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ kế hoạch phát triển sản xuất nông nghiệp vấn đề giải quyết lương thực giai đoạn này được Tỉnh ủy, UBND tỉnh đặc biệt quan tâm. Cũng vì vậy thống kê Nông nghiệp ngoài việc thực hiện các chế độ báo cáo thống kê đã được qui định về diện tích, năng suất, sản lượng các loại cây trồng… Thời gian này trong thống kê Nông nghiệp việc báo cáo tiến độ sản xuất đặc biệt được chú trọng, các kỳ báo cáo tiến độ gieo trồng 5 ngày, 10 ngày, hàng tháng được các Phòng Thống kê huyện, thị xã theo dõi chặt chẽ báo cáo đều đặn và có tác dụng giúp lãnh đạo các cấp, theo dõi lãnh đạo, chỉ đạo và đưa ra những giải pháp giúp cho sản xuất có hiệu quả. Những kỳ báo cáo tiến độ được Phòng Nông, lâm nghiệp của Chi cục bố trí cán bộ chuyên trách theo dõi, đôn đốc. Phòng Thống kê huyện, thị xã phân công cán bộ, tổ chức phản ánh theo từng cụm, xã do Thống kê xã báo cáo. Để giải quyết vấn đề lương thực cho người và chăn nuôi thời kỳ này rất cần thiết, vì vậy Thống kê Nông nghiệp hơn lúc nào hết, được Ngành Thống kê đặc biệt quan tâm tăng cường cán bộ trẻ, khỏe bám sát sản xuất từ khâu làm đất, gieo trồng, chăm sóc đến thu hoạch. Ngoài báo cáo sản xuất nông nghiệp ở các huyện, thị xã do UBND các xã thu thập thông tin từ các HTX nông nghiệp, các hộ cá thể, Ngành Thống kê còn tổ chức thu thập kết quả sản xuất nông nghiệp từ các hộ xã viên làm thêm trên đất 5%, trên diện tích tận dụng nhỏ mà HTX không quản lý, từ các nương đồi các hộ xã viên tự làm thời kỳ đó gọi chung là kinh tế phụ hộ xã viên, thu thập báo cáo kết quả sản xuất tự túc lương thực của các công, nông, lâm trường, xí nghiệp; cơ quan hành chính sự nghiệp… Thống kê Nông nghiệp thời kỳ này để phản ánh được kết quả sản xuất là vô cùng vất vả, phát sinh nhiều đầu mối phải tổ chức thu thập thông tin.
Để kết quả sản xuất trên địa bàn toàn tỉnh không sót, song cũng tránh thông tin trùng lặp (một đơn vị sản xuất nhưng nhiều tổ chức trong đơn vị báo cáo, thanh niên báo cáo, nữ công báo cáo, công đoàn báo cáo, cơ quan báo cáo…). Những khó khăn đó cán bộ thống kê bằng kinh nghiệm thực tế và phương pháp nghiệp vụ đã xử lý thông tin trùng lặp, khai thác thông tin thiếu mà chủ yếu là các hộ xã viên sản xuất thêm, không khai báo. Qua đó đã cung cấp thông tin đầy đủ phục vụ yêu cầu lãnh đạo của địa phương. Cùng với báo cáo thống kê diện tích gieo trồng, thống kê Nông nghiệp thời kỳ này còn đảm bảo đầy đủ các chế độ báo cáo năng suất, sản lượng, báo cáo tăng giảm diện tích canh tác hàng năm, báo cáo thống kê chăn nuôi; báo cáo thống kê phát triển thủy lợi, các biện pháp kỹ thuật trong nông nghiệp, báo cáo thống kê cơ bản HTX, phân phối thu thập trong HTX. Kết quả thu hoạch thường các HTX có nhiều phương án phân phối để đáp ứng với chỉ tiêu ba thu (thu mua, thu thuế và thu nợ) của Nhà nước giao. Vì vậy ngoài các báo cáo thống kê theo qui định, thống kê Nông nghiệp còn tham gia trong các đoàn duyệt phương án phân phối của HTX và đóng góp được nhiều phương pháp giúp cho việc xét duyệt phương án chính xác. Để củng cố chế độ báo cáo Thống kê ngày một tốt hơn. Thống kê Nông nghiệp giai đoạn này còn thực hiện Quyết định số 177/QĐ-LP ngày 8/9/1976 của Liên Bộ Nông nghiệp - Tài chính - Tổng cục Thống kê về ban hành chế độ biểu mẫu ghi chép ban đầu, báo cáo Thống kê - Kế toán áp dụng cho các trạm máy kéo; Quyết định số 147/QĐ-LB ngày 20/5/1978 của Liên Bộ Nông nghiệp và Tổng cục Thống kê về ban hành chế độ kế toán Thống kê HTX nông nghiệp, lâm nghiệp áp dụng cho các HTX nông nghiệp kiêm sản xuất lâm nghiệp trên phạm vi toàn tỉnh.
Như vậy thống kê nông, lâm nghiệp ngoài việc phản ánh kết quả về số lượng các chỉ tiêu thực hiện của các kỳ kế hoạch 5 năm, Ngành Thống kê tỉnh còn thu thập xử lý, tổng hợp báo cáo về Tổng cục, phục vụ Tỉnh ủy, UBND tỉnh các chỉ tiêu tổng hợp như giá trị tổng sản lượng nông nghiệp; thu nhập quốc dân trong ngành này và các chỉ tiêu chất lượng, hiệu quả trong sản xuất nông, lâm nghiệp như qui mô của các HTX qua các năm, cán bộ khoa học kỹ thuật trong khu vực nông nghiệp, tình hình vật tư, máy móc thiết bị của Nhà nước cung cấp cho ngành Nông, lâm nghiệp qua các năm. Trong thời kỳ này ngành Thống kê Hà Tuyên thực hiện chỉ đạo của Tổng cục Thống kê đã tiến hành cuộc Tổng điều tra đất đai năm 1978 đạt kết quả tốt đã là cơ sở giúp cho các địa phương thực hiện trong sử dụng các loại đất trên địa bàn mình quản lý.
3.2. Về Thống kê Công nghiệp, XDCB, Giao thông vận tải và bưu điện
Sau khi sáp nhập hai tỉnh Hà Giang và Tuyên Quang thành tỉnh Hà Tuyên, tuy cơ cấu kinh tế có sự thay đổi tăng dần tỷ trọng công nghiệp - xây dựng trong tổng sản phẩm sản xuất và thu nhập quốc dân. So với các tỉnh khác trong cả nước thì Hà Tuyên vẫn là một tỉnh, kinh tế chủ yếu là nông, lâm nghiệp. Trong đó tỷ trọng nông nghiệp giai đoạn này vẫn chiếm phần lớn trong giá trị tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân, tuy nhiên so với thời kỳ chưa sáp nhập tỉnh thì công nghiệp cũng đã có bước phát triển hơn. Do vậy, Ngành Thống kê đã chú trọng theo dõi đôn đốc và triển khai chấp hành đầy đủ các chế độ báo cáo thống kê theo qui định của Tổng cục Thống kê ban hành. Mặt khác, do lực lượng cán bộ hai tỉnh sáp nhập là khá đông nên thực hiện chế độ báo cáo thống kê các nghiệp vụ chuyên ngành được tổ chức thành từng phòng riêng theo dõi gồm Phòng Thống kê Công nghiệp - Giao thông Vận tải - Bưu điện và Phòng Thống kê Xây dựng cơ bản - Vật tư. Việc tổ chức thu thập thông tin, hướng dẫn cơ sở các chế độ báo cáo Thống kê theo qui định được Ngành Thống kê thực hiện nghiêm túc. Công tác phân tích kinh tế ở cơ sở doanh nghiệp, hướng dẫn hạch toán thống nhất được chú trọng và đẩy mạnh, việc chấp hành chế độ báo cáo thống kê của các đơn vị thời kỳ này có nề nếp. Ngoài thực hiện chế độ báo cáo thống kê theo qui định các Phòng Thống kê nghiệp vụ của Văn phòng Chi cục còn chú trọng hướng dẫn, giúp đỡ các đơn vị tiến hành phân tích kinh tế sau mỗi kỳ kế hoạch nhất là trước khi tiến hành xét duyệt hoàn thành kế hoạch hàng năm; Thống kê cơ sở thật sự phát huy tác dụng của số liệu thống kê phục vụ sự lãnh đạo điều hành của doanh nghiệp.
Cùng với thống kê Công nghiệp, các nghiệp vụ thống kê Xây dựng cơ bản, Vận tải và Bưu điện cũng được theo dõi và thực hiện đầy đủ chế độ báo cáo.
Thời kỳ này Ngành Thống kê đã tổ chức triển khai các quyết định chế độ báo cáo và các thông tư hướng dẫn nghiệp vụ về thống kê Công nghiệp, Xây dựng cơ bản và Vận tải chủ yếu dưới đây:
- Quyết định số 612/TCTK-PPCĐ ngày 25/8/1981 của Tổng cục Thống kê ban hành chế độ báo cáo Thống kê định kỳ chính thức tháng về Công nghiệp - XDCB - Giao thông Vận tải, cung ứng Vật tư kỹ thuật.
- Quyết định số 165/TCTK ngày 22/2/1983 của Tổng cục Thống kê ban hành biểu mẫu báo cáo quyết toán sử dụng vật tư của đơn vị cơ sở và báo cáo quyết toán sử dụng vật tư của đơn vị quản lý cấp trên nhằm phục vụ việc thực hiện chế độ báo cáo quyết toán vật tư.
- Quyết định số 800/TCTK ngày 31/12/1983 của Tổng cục Thống kê ban hành biểu mẫu báo cáo định kỳ chính thức của HTX chuyên sản xuất tiểu thủ công nghiệp, khai thác lâm sản.
- Quyết định số 115/TCTK-PPCĐ ngày 21/3/1984 của Tổng cục Thống kê ban hành chế độ báo cáo chính thức quí, năm về XDCB cho Cục Thống kê.
- Quyết định số 512/TCTK ngày 22/11/1984 của Tổng cục Thống kê ban hành chế độ báo cáo thống kê định kỳ chính thức áp dụng đối với các khối sản xuất thông tin bưu điện.
- Quyết định số 353/TCTK-PPCĐ ngày 8/8/1985 của Tổng cục Thống kê ban hành hệ thống biểu mẫu chế độ báo cáo về kết quả sản xuất tiêu thụ công nghiệp của các đơn vị cơ sở và đơn vị tổng hợp.
- Quyết định số 670/TCTK ngày 25/12/1985 của Tổng cục Thống kê ban hành hệ thống biểu mẫu báo cáo thống kê kế toán định kỳ của các đơn vị xây lắp nhận thầu đơn vị khảo sát, thiết kế công trình xây dựng cơ bản ban quản lý. Công trình do Trung ương và địa phương quản lý.
- Thông tư số 524/TCTK-PPCĐ ngày 29/4/1981 của Tổng cục Thống kê hướng dẫn công tác hạch toán và thống kê trong các xí nghiệp quốc doanh theo Quyết định số 25 và 26/CP của Chính phủ.
- Thông tư số 1310/TCTK-PPCĐ ngày 16/10/1982 của Tổng cục Thống kê hướng dẫn công tác hạch toán và Thống kê theo Quyết định số 146/HĐBT ngày 25/8/1982 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ).
- Thông tư số 02/TCTK-XDCB ngày 15/12/1985 của Tổng cục Thống kê hướng dẫn xác định tiêu chuẩn sản phẩm xây dựng cơ bản hoàn thành được thanh toán.
Trên cơ sở tổ chức triển khai các chế độ báo cáo và thông tư hướng dẫn của Tổng cục Thống kê ban hành cho các đơn vị cơ sở và các đơn vị tổng hợp. Ngành Thống kê Hà Tuyên đã thu thập đầy đủ thông tin kinh tế trên các lĩnh vực Công nghiệp, XDCB, Vận tải và Bưu điện để báo cáo Trung ương, địa phương. Ngoài các chỉ tiêu số lượng Ngành Thống kê còn lập báo cáo phân tích đánh giá một số chỉ tiêu chất lượng trong sản xuất công nghiệp và thủ công nghiệp như tình hình sử dụng thời gian lao động, năng suất lao động của công nhân với những kết quả đó thống kê Công nghiệp, XDCB, Vận tải và Bưu điện đã phục vụ tốt yêu cầu của lãnh đạo địa phương, cung cấp tài liệu cho các ngành xây dựng kế hoạch, tổ chức chỉ đạo thực hiện kế hoạch và đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch của từng năm, 5 năm trong 2 kỳ kế hoạch 1976 - 1980 và 1981 - 1985.
3.3. Thống kê Thương nghiệp - Giá cả
Thời kỳ 1976 - 1986 trong lĩnh vực lưu thông phân phối các hàng hoá như vật tư phục vụ sản xuất, hàng hoá tiêu dùng thiết yếu cho đời sống như lương thực, thực phẩm, hàng may mặc, phương tiện đi lại, đồ dùng gia đình… tất cả đều phải phân phối lưu thông qua chế độ tem phiếu, sổ mua hàng. Do vậy đòi hỏi công tác thống kê Thương nghiệp tổ chức thu thập thông tin, xây dựng chế độ báo cáo, hướng dẫn hạch toán từ chứng từ ghi chép ban đầu đến sổ trung gian, từ các đơn vị đến cơ quan tổng hợp phải phản ánh kịp thời phục vụ công tác lãnh đạo và chỉ đạo của Đảng và Nhà nước, của cấp ủy và chính quyền địa phương. Thời kỳ này thống kê Thương nghiệp đã thực hiện các chế độ báo cáo của Tổng cục Thống kê ban hành như:
- Quyết định số 481/TCTK-PPCĐ ngày 8/8/1978 của Tổng cục Thống kê ban hành biểu mẫu báo cáo thống kê sửa đổi về kết quả chuyển các hộ kinh doanh vật tư, thương nghiệp ăn uống, kinh doanh nhà trọ tư doanh sang sản xuất kinh doanh.
- Quyết định số 296/TCTK-TN ngày 27/5/1982 của Tổng cục Thống kê ban hành hệ thống báo cáo thống kê nông, lâm, thủy sản và bán lẻ hàng hoá thương nghiệp.
- Quyết định số 83/TCTK ngày 8/3/1984 của Tổng cục Thống kê ban hành biểu mẫu giá thiết bị đang dùng.
- Quyết định số 605/TCTK ngày 20/11/1985 của Tổng cục Thống kê ban hành chế độ báo cáo Thống kê định kỳ áp dụng cho các đơn vị cơ sở hạch toán kinh tế độc lập thuộc ngành Lương thực, các công ty Lương thực quận, huyện tỉnh, thành phố.
- Quyết định số 647/TCTK ngày 7/12/1985 của Tổng cục Thống kê ban hành theo chế độ báo cáo Thống kê kế toán áp dụng đối với các công ty thương nghiệp địa phương, công ty Thương nghiệp Trung ương và tổng công ty hạch toán kinh tế độc lập thuộc ngành Nội thương.
- Quyết định số 666/TCTK ngày 23/12/1985 của Tổng cục Thống kê ban hành chế độ thống kê - kế toán định kỳ áp dụng đối với các đơn vị cơ sở hạch toán kinh tế độc lập thuộc ngành du lịch.
Cùng với việc triển khai chế độ báo cáo thống kê hướng dẫn công tác hạch toán cho các đơn vị cơ sở thuộc hệ thống thương nghiệp, lương thực, phát hành sách, dược phẩm, Ngoại thương, Ngành Thống kê tỉnh đã báo cáo kịp thời các chỉ tiêu số lượng và chất lượng tổng hợp trong công tác thống kê lưu thông phân phối trên phạm vi toàn tỉnh như: Tổng mức bán lẻ của thương nghiệp xã hội chủ nghĩa và tỷ trọng tổng mức bán lẻ của Thương nghiệp có tổ chức, thị trường tự do, tổng giá trị và một số mặt hàng chủ yếu do ngành thương nghiệp thu mua, một số mặt hàng thiết yếu do thương nghiệp quốc doanh và HTX bán lẻ, kết quả hàng hoá của địa phương điều về Trung ương và hàng hoá chủ yếu do Trung ương điều cho địa phương; tình hình xuất, nhập khẩu hàng hoá của tỉnh, khối lượng và giá trị thu mua lương thực chia ra mua trong nghĩa vụ, mua ngoài nghĩa vụ, kết quả ba thu lương thực (thu thuế, thu mua, thu nợ)… Thông qua các chỉ tiêu trên, Ngành Thống kê của tỉnh đã phản ánh kịp thời phục vụ lãnh đạo của các cấp về kết quả công tác nắm vững nguồn hàng, mở rộng mạng lưới thương nghiệp xã hội chủ nghĩa, cải tiến phương pháp kinh doanh, củng cố HTX mua bán và tín dụng phục vụ tốt hơn cho sản xuất và đời sống trong tỉnh.
3.4. Về Thống kê Dân số - Văn xã
Trong lĩnh vực thống kê Dân số - Văn xã thời kỳ 1976 - 1986, Tổng cục Thống kê đã ban hành nhiều quyết định về chế độ báo cáo phương án điều tra thống kê để các tỉnh, thành phố triển khai thực hiện như:
- Quyết định số 637/TCTK-PPCĐ ngày 15/11/1976 của Tổng cục Thống kê ban hành biểu mẫu sửa đổi “Lao động và tiền lương trong danh sách”.
- Quyết định số 518/QĐ-LB ngày 29/8/1977 của Liên Bộ Lao động - Tổng cục Thống kê ban hành biểu mẫu báo cáo Thống kê nhanh về số hộ, nhân khẩu, lao động đi xây dựng vùng kinh tế mới và số người trong độ tuổi lao động đã được sắp xếp việc làm.
- Quyết định số 220/TCTK-PPCĐ ngày 2/5/1978 của Tổng cục Thống kê ban hành biểu mẫu báo cáo thống kê về lao động - tiền lương.
- Quyết định số 444/TCTK-PPCĐ ngày 4/7/1978 của Tổng cục Thống kê ban hành biểu mẫu báo cáo thống kê nhanh hàng tháng, quí, năm về tình hình lao động, tiền lương, sử dụng thời gian lao động và năng suất lao động.
- Quyết định số 467/QĐ-LB ngày 28/7/1978 của Liên Bộ Văn hóa Thông tin và Tổng cục Thống kê ban hành chế độ biểu mẫu báo cáo Thống kê định kỳ chính thức về phát triển sự nghiệp văn hóa thông tin của ban văn hóa thông tin quận huyện, thị xã và thành phố trực thuộc tỉnh.
- Quyết định số 01/TCTK-PPCĐ ngày 1/1/1980 của Tổng cục Thống kê ban hành chế độ biểu mẫu báo cáo thống kê định kỳ về tiếp nhận, phân phối và sử dụng hàng viện trợ.
- Thông tư số 83/TCTK-DSLĐ ngày 2/2/1982 của Tổng cục Thống kê về điều tra chọn mẫu tình hình biến động dân số.
- Quyết định số 126/TCTK ngày 12/3/1984 của Tổng cục Thống kê ban hành hệ thống biểu báo cáo giải thích chế độ báo cáo thống kê định kỳ chính thức về giáo dục văn hóa thông tin truyền thanh, truyền hình, y tế, nhà trẻ, thể dục thể thao.
Căn cứ vào các quyết định, thông tư của Tổng cục Thống kê ban hành, các phòng nghiệp vụ thống kê Dân số - Lao động và Phòng Thống kê Văn xã của Cục Thống kê tỉnh (được đổi tên từ Chi cục Thống kê thành Cục Thống kê năm 1983) đã triển khai thực hiện nghiêm túc đảm bảo yêu cầu của Tổng cục Thống kê và phục vụ yêu cầu của lãnh đạo địa phương, cũng như cung cấp thông tin cho các ngành chức năng của tỉnh phục vụ công tác xây dựng kế hoạch và đánh giá thực hiện kế hoạch. Trong từng lĩnh vực đã thực hiện như sau:
- Thống kê Dân số: Năm 1979 toàn Ngành Thống kê Hà Tuyên tập trung tổ chức chỉ đạo thực hiện cuộc Tổng điều tra dân số vào thời điểm 1/10/1979. Theo quy định của cuộc Tổng điều tra Dân số này ở tỉnh thành lập Ban chỉ đạo do đồng chí Phó chủ tịch UBND tỉnh làm trưởng ban; đồng chí Chi cục trưởng chi cục Thống kê làm Phó ban thường trực, cùng một số đồng chí lãnh đạo các ngành làm ủy viên. Văn phòng ban chỉ đạo Tổng điều tra đặt tại Văn phòng Chi cục Thống kê Hà Tuyên (tại thị xã Tuyên Quang) giúp việc cho Ban chỉ đạo có Văn phòng Ban chỉ đạo và một số cán bộ các ngành tham gia chỉ đạo. Trong cuộc Tổng điều tra này đối với Hà Tuyên gặp rất nhiều khó khăn ngoài khó khăn vốn có của tỉnh miền núi cao, đất rộng, phương tiện đi lại khó khăn… còn một khó khăn lớn là thời kỳ dân số biến động không ổn định; do chiến tranh biên giới nên việc di dân các xã giáp biên về sâu nội địa, nhân dân lúc đi, lúc ở. Trước khó khăn đó Tỉnh ủy, UBND tỉnh đã chỉ đạo chặt chẽ các cấp, các ngành đã thực hiện nghiêm túc việc cử cán bộ tham gia cuộc Tổng điều tra. Toàn Ngành Thống kê từ tỉnh đến huyện, đến xã là lực lượng nòng cốt của cuộc Tổng điều tra với quyết tâm cao. Chi cục Thống kê đã tham mưu và chuẩn bị chu đáo ngay từ khâu trưng tập cán bộ thành lập các tổ điều tra, huấn luyện kỹ và đặc biệt lựa chọn các đồng chí có tinh thần trách nhiệm cao để phân công về các xã giáp biên, những vùng đặc biệt khó khăn. Với quyết tâm của địa phương và sự giúp đỡ của Ban chỉ đạo Tổng điều tra dân số Trung ương, cuộc Tổng điều tra dân số năm 1979 đã hoàn thành tốt, đúng tiến độ quy định của Trung ương.
Kết quả Tổng điều tra dân số năm 1979 của tỉnh Hà Tuyên đã hoàn thành tốt. Ngành Thống kê của tỉnh được Tỉnh ủy, UBND tỉnh đánh giá cao, sự đóng góp của lãnh đạo, cán bộ công nhân viên chức toàn ngành đã góp phần tích cực trong cuộc Tổng điều tra này. Ngoài kết quả đó, hàng năm Thống kê Dân số cung cấp kịp thời các thông tin về tăng, giảm, tỷ lệ sinh, tử, tăng tự nhiên và tỷ lệ tăng dân số; dân số trung bình; đã đóng góp tích cực vào chương trình dân số, kế hoạch hóa gia đình của Nhà nước và của địa phương.
Trong thời kỳ còn thực hiện chế độ cung cấp hàng hoá, nhu yếu phẩm nhất là cấp phát tem phiếu, thống kê Dân số là nơi thu thập, tổng hợp và cung cấp số liệu làm căn cứ để các cơ quan chức năng cấp tem phiếu mua hàng cho nhân dân; cho cán bộ công nhân viên chức và các lực lượng vũ trang. Cũng qua công tác cấp phát tem, phiếu mua hàng đã làm cho vai trò của thống kê Dân số, lao động tiền lương thời kỳ này thực sự có vị trí trong quản lý điều hành của các cấp chính quyền, của các ngành chức năng, ngược lại chất lượng của công tác dân số, lao động, tiền lương được nâng cao hơn.
- Thống kê Văn xã: Thực hiện chế độ báo cáo theo qui định, Ngành Thống kê tỉnh đã sử dụng các nguồn thông tin từ các Sở, ban, ngành phản ánh sự nghiệp giáo dục, văn hóa, y tế và đời sống khá chi tiết. Trên cơ sở đó hàng năm Ngành Thống kê (trực tiếp là Phòng Thống kê Dân số - Văn xã) đã thu thập, xử lý tổng hợp phân tích để lập các báo cáo phục vụ Tỉnh ủy, UBND về các nội dung: Giáo dục về số trường học, lớp học, số giáo viên, học sinh của hệ phổ thông, bổ túc văn hóa vào ba thời điểm (khai giảng, kết thúc kỳ I và kết thúc năm học). Ngoài ra theo yêu cầu của các cấp, các ngành trong giáo dục còn phản ánh những chỉ tiêu chất lượng của công tác này như: kết quả thi tốt nghiệp các cấp phổ thông, bổ túc văn hóa, số học sinh và tỷ lệ học sinh bỏ học, học sinh là dân tộc ít người,… về sự nghiệp y tế phản ánh các chỉ tiêu cơ sở khám, chữa bệnh, số cán bộ y tế, số giường bệnh, kết quả khám, chữa bệnh, các hoạt động về bảo vệ bà mẹ trẻ em, kết quả vận động sinh đẻ có kế hoạch hàng năm, về sự nghiệp văn hóa phản ánh các chỉ tiêu: số sách xuất bản, số thư viện, tủ sách, nhà văn hóa, số sách trong thư viện, bạn đọc, công tác truyền thanh, truyền hình. (Riêng truyền hình thời kỳ này chưa phát triển, duy nhất chỉ khu vực thị xã Tuyên Quang, huyện Yên Sơn bắt được tín hiệu qua trạm thu phát lớn Tam Đảo song cũng rất hạn chế), chiếu bóng và nghệ thuật sân khấu phản ánh về số đội chiếu bóng lưu động, rạp chiếu bóng, số buổi chiếu và buổi biểu diễn nghệ thuật, số người xem. Về đời sống nhân dân thời kỳ này do yêu cầu bức thiết phải phản ánh cho được diễn biến đời sống nông dân, công nhân viên chức, nhà ăn tập thể, thiếu đói giáp hạt trong nông thôn, do vậy trong phòng Văn xã đã bố trí cán bộ theo dõi từng mảng đặc điểm điều tra đời sống nông dân qua hình thức ghi sổ thu chi; cũng như vậy đời sống công nhân viên chức và nhà ăn tập thể cũng bố trí cán bộ đặt sổ ghi chép hàng tháng. Riêng đời sống nông dân 6 tháng thu sổ tổng hợp một lần. Ở các điểm được chọn ghi chép Ngành Thống kê sử dụng cộng tác viên. Tuy với thù lao ít ỏi song với công tác tuyên truyền vận động tốt của cán bộ chuyên trách; với nhiệt tình của cộng tác viên nên kết quả thông tin thu được đã phản ánh diễn biến đời sống các tầng lớp dân cư. Qua đó đã giúp Đảng và Nhà nước cấp ủy và chính quyền địa phương có những chính sách kịp thời đảm bảo đời sống nhân dân. Riêng công tác thu thập thông tin tình hình thiếu đói giáp hạt ở khu vực nông thôn được giao cho các huyện hướng dẫn thống kê các xã báo cáo khi có xảy ra thiếu đói.
3.5 Thống kê Tổng hợp - Phương pháp chế độ và thống kê Cân đối - Tài chính, Ngân hàng
Thời kỳ 1976 - 1986 công tác thống kê Tổng hợp và công tác Phương pháp chế độ được bố trí chung trong một phòng; công tác Thống kê Cân đối - thống kê Tài chính ngân hàng được bố trí một phòng. Thực chất đây là những nhiệm vụ đều mang tính tổng hợp được sử dụng các thông tin chuyên ngành của các phòng nghiệp vụ trong Cục Thống kê cung cấp. Song do đặc thù của việc tổng hợp khác nhau và chuyên môn cũng cần được chuyên sâu; hơn nữa khi hợp nhất hai tỉnh lực lượng cán bộ đông cho phép bố trí thành các phòng khác nhau để nâng cao chất lượng của các loại báo cáo tổng hợp.
Đối với thống kê Tổng hợp có hai nhiệm vụ chính là:
+ Căn cứ vào thông tin của các phòng nghiệp vụ cung cấp, mặt khác đồng thời tập trung vào những đặc điểm nổi bật về kinh tế - xã hội trên cơ sở đó thống kê Tổng hợp có nhiệm vụ xây dựng báo cáo nhanh hàng tháng, quí, 6 tháng, 9 tháng và cả năm bằng lời văn nhận xét, đánh giá và nêu kiến nghị phục vụ lãnh đạo địa phương và báo cáo Tổng cục Thống kê, cùng với báo cáo lời văn còn kèm theo kết quả thực hiện của từng lĩnh vực hoạt động kinh tế - xã hội thể hiện trên các biểu số liệu thống kê có nội dung số liệu chính thức kỳ trước; số liệu ước tính kỳ này, so sánh tỷ lệ thực hiện với kỳ trước, với kế hoạch.
+ Kết thúc năm kế hoạch thu thập tài liệu từ các phòng nghiệp vụ để xây dựng Niên giám hàng năm, cuối kỳ kế hoạch 5 năm có Niên giám số liệu 5 năm.
Ngoài hai nội dung chính của thống kê Tổng hợp nêu trên, thống kê Tổng hợp còn phải thực hiện các báo cáo chuyên đề, báo cáo phân tích kinh tế - xã hội tổng hợp phục vụ cho các kỳ họp của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh. Đối với thống kê cấp huyện do chưa có qui định làm Niên giám nhưng cũng phải có các báo cáo tổng hợp phục vụ huyện ủy, UBND huyện, thị xã.
Về công tác phương pháp chế độ nằm trong phòng tổng hợp có một bộ phận cán bộ thực hiện các nội dung phối hợp với các phòng nghiệp vụ triển khai chế độ báo cáo cho các đơn vị. Đặc biệt thời kỳ này để nâng cao chất lượng báo cáo, thực hiện Pháp lệnh kế toán thống kê của Nhà nước và Thông tư hướng dẫn của Tổng cục Thống kê nên việc thực hiện hạch toán cơ sở được chú ý. Ngành Thống kê thành lập một tổ công tác gồm cán bộ của Cục Thống kê và các ngành Tài chính, Ngân hàng, Kế hoạch đóng góp cán bộ tham gia, tổ chức triển khai thực hiện ở các doanh nghiệp, HTX kể cả HTX nông nghiệp.
Đối với thống kê Cân đối - Tài chính - Ngân hàng. Thời kỳ này có nhiệm vụ thực hiện các công việc: Lập các bảng cân đối vật chất, cân đối sản phẩm chủ yếu, cân đối lao động, cân đối tiền tệ… (Theo hệ thống cũ, nay không còn sử dụng và được thay thế bằng hệ thống tài khoản quốc gia). Hàng năm thống kê Cân đối phải tính toán tổng hợp được chỉ tiêu Tổng sản phẩm xã hội, thu nhập quốc dân chia theo ngành, chia theo thành phần kinh tế theo hướng dẫn của Tổng cục Thống kê. Ngoài nhiệm vụ lập các bảng cân đối và tính các chỉ tiêu tổng hợp, còn làm các báo cáo; Thu chi ngân sách địa phương, báo cáo tín dụng ngân hàng và sau này phải thực hiện theo dõi thu quyết toán của các doanh nghiệp để lập báo cáo tài chính xí nghiệp.
Tóm lại công tác thống kê Tổng hợp - Phương pháp chế độ, Cân đối Tài chính, ngân hàng cùng với các nghiệp vụ được nâng lên một bước mới, đáp ứng được các yêu cầu của lãnh đạo địa phương cũng như chấp hành chế độ báo cáo với Tổng cục Thống kê được đánh giá kịp thời, chất lượng tốt. Thời kỳ này ngành Thống kê có một vị trí rất quan trọng trong việc duyệt hoàn thành kế hoạch các đơn vị xí nghiệp, HTX và căn cứ số liệu thống kê để làm cơ sở phân phối vật tư cho các đơn vị.
Những văn bản Tổng cục Thống kê chỉ đạo Ngành Thống kê tỉnh đã tổ chức triển khai thực hiện là:
- Nghị định số 29/NĐ-CP ngày 12/2/1976 của Chính phủ ban hành chế độ báo cáo nhanh cho Nhà nước.
- Quyết định số 407/TCTK-PPCĐ ngày 17/5/1978 của Tổng cục Thống kê ban hành sửa đổi những biểu mẫu báo cáo ước tính và báo cáo nhanh áp dụng cho các Chi cục Thống kê các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
- Quyết định số 308/TCTK-PPCĐ ngày 2/8/1980 của Tổng cục Thống kê ban hành chế độ báo cáo thống kê định kỳ chính thức của cấp huyện.
- Quyết định số 201/TCTK ngày 5/6/1984 của Tổng cục Thống kê ban hành chế độ báo cáo chính thức năm cho thống kê huyện, thị xã.
- Quyết định số 610/TCTK ngày 21/1/1985 của Tổng cục Thống kê ban hành chế độ báo cáo thống kê định kỳ về ngân sách địa phương áp dụng đối với UBND tỉnh, thành phố đặc khu trực thuộc Trung ương.
- Quyết định số 612/TCTK ngày 21/1/1985 của Tổng cục Thống kê ban hành chế độ báo cáo thống kê định kỳ về tài chính xí nghiệp, áp dụng đối với UBND tỉnh, thành phố đặc khu trực thuộc Trung ương.
Về phương pháp chế độ giai đoạn này ban hành nhiều bảng phân loại bảng danh mục như:
- Quyết định số 693/TCTK-QĐ ngày 1/11/1977 của Tổng cục Thống kê ban hành bảng danh mục các ngành đào tạo cán bộ kỹ thuật và cán bộ quản lý có trình độ đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp.
- Quyết định số 100/TCTK-PPCĐ ngày 24/1/1979 của Tổng cục Thống kê ban hành bảng danh mục các thành phần dân tộc Việt Nam.
- Quyết định số 384/TCTK-QĐ ngày 25/6/1981 của Tổng cục Thống kê ban hành danh mục ngành chuyên môn cán bộ khoa học có trình độ trên đại học đã sử dụng thống nhất trong tất cả các ngành, các cấp thuộc Trung ương và địa phương.
Ngoài ra còn nhiều văn bản có liên quan đến phương pháp chế độ được ban hành dưới dạng Thông tư hướng dẫn theo các văn bản quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê, có nhiều thông tư liên quan đến tất cả các phần nghiệp vụ chung của ngành như:
- Thông tư số 1261/TCTK-PPCĐ ngày 22/12/1978 của Tổng cục Thống kê hướng dẫn việc tổng hợp thống kê theo vùng địa lý (miền núi, trung du, đồng bằng).
- Thông tư số 06/LB-TT ngày 10/12/1980 của Liên bộ Tài chính- Tổng cục Thống kê hướng dẫn vận dụng chế độ Kế toán - Thống kê HTX nông nghiệp, lâm nghiệp, XDCB và giá cước, vận tải.
Tất cả các quyết định, thông tư của Trung ương ban hành để triển khai thực hiện đã được Ngành Thống kê tỉnh tổ chức thực hiện nghiêm túc, đầy đủ, do vậy đã có những tiến bộ vượt bậc của ngành Thống kê tỉnh trong thời kỳ này, mà kết quả cao nhất năm 1983 Hà Tuyên đã được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Ba cho cán bộ CNVC ngành Thống kê Hà Tuyên. Cùng năm này Ngành Thống kê Hà Tuyên được Tổng cục Thống kê tặng cờ thi đua đơn vị khá nhất khu vực miền núi.
4. Các mặt hoạt động khác
Cơ quan Thống kê tỉnh Hà Tuyên giai đoạn 1976 - 1986, ngoài công tác nghiệp vụ chuyên môn, hoạt động của công tác Đảng và các đoàn thể (công đoàn thanh niên, tự vệ) Cơ quan Thống kê là một trong những cơ quan có phong trào mạnh. Chi bộ Đảng luôn giữ vững vai trò lãnh đạo cơ quan thường xuyên phát triển đảng viên mới là Chi bộ luôn đạt chi bộ 4 tốt. Hoạt động công đoàn đã hỗ trợ tích cực cho hoạt động công tác chuyên môn đặc biệt trong việc cải thiện đời sống của cán bộ, đoàn viên như phong trào tăng gia sản xuất, tìm thêm việc làm để cải thiện đời sống, đồng thời duy trì phong trào thi đua sôi nổi trong cơ quan, nhằm hoàn thành tốt công tác chuyên môn, tạo điều kiện giúp nhau vượt qua những khó khăn của thời bao cấp. Công đoàn thống kê những ngày đầu thật sự là một tổ chức có hoạt động đóng góp giải quyết đời sống cho cán bộ rất hiệu quả tăng gia sản xuất được nhiều ngô, sắn, thóc, thêm vào bữa ăn; kiếm thêm công việc để cán bộ đoàn viên có thêm thu nhập, như lao động thêm ở các xí nghiệp (rửa chai, gói kẹo, gánh cát…), những công việc đó đều được công đoàn đứng lên tổ chức tập thể đóng góp đáng kể vào nâng cao đời sống cán bộ CNVC trong lúc khó khăn.
Hoạt động tự vệ cơ quan cũng là một hoạt động mạnh. Toàn cơ quan được thành lập một trung đội gồm 3 tiểu đội. Là trung đội mạnh của Thị đội ngày đó được trang bị vũ khí đầy đủ gồm: 1 súng 12,7 ly và đủ cơ số đạn, nhiều súng bộ binh. Khi xảy ra chiến tranh biên giới Trung đội tự vệ của cơ quan được điều động 1 tiểu đội gồm 12 đồng chí đi phục vụ xây dựng phòng tuyến. Lúc cơ quan di chuyển về Tuyên Quang ở Thị xã Hà Giang được Ban chỉ huy tuyến I phân công suốt những tháng đầu năm 1979, thường xuyên bố trí tại cơ quan Thống kê 1 tiểu đội vừa bảo vệ cơ quan, vừa làm nhiệm vụ trực chiến gồm 1 khẩu trung liên 12,7 ly và trang bị đầy đủ súng bộ binh cho cả tiểu đội. Đơn vị tự vệ đã bố trí luân phiên mỗi tiểu đội (12 người) trực chiến trong 1 thời gian dài. Trong thời kỳ này, ngành Thống kê đã bố trí cán bộ tham gia trong Ban tội ác chiến tranh của tỉnh, hoạt động theo nhiệm vụ của Ban phân công.
Về hoạt động văn hóa, thể thao: Đoàn thanh niên và công đoàn thường xuyên phối hợp tổ chức cũng là một đơn vị có nhiều hoạt động tích cực, nhận được nhiều giải thưởng về hoạt động văn nghệ, TDTT quần chúng của tỉnh của thị xã như: Bóng chuyền, bóng bàn, chạy vũ trang, bắn súng thể thao, văn nghệ quần chúng. Là cơ quan luôn được đánh giá cao về các hoạt động này của thị xã và của tỉnh.
Phong trào thi đua hàng năm: Trong thời kỳ này có nhiều khó khăn như: Nghiệp vụ chuyên môn ngoài các chế độ thường xuyên còn có các cuộc Tổng điều tra phải hoàn thành như Tổng điều tra đất nông nghiệp năm 1978, Tổng điều tra dân số năm 1979. Về cơ sở vật chất thiếu thốn, phải di chuyển trụ sở làm việc, đời sống cán bộ khó khăn, cuộc sống chủ yếu dựa vào định lượng tem phiếu được cung cấp. Tuy có khó khăn nhưng cấp ủy, lãnh đạo cơ quan, các tổ chức công đoàn, thanh niên, tự vệ đã phối hợp chặt chẽ, khơi dậy phong trào thi đua sôi nổi, cán bộ CNVC toàn ngành từ Văn phòng Cục, đến các huyện, thị xã; thống kê các ngành, các xí nghiệp, công trường… đã đoàn kết hăng hái thi đua. Tổng kết hàng năm nhiều tập thể cá nhân đạt danh hiệu thi đua cao như: tổ đội lao động XHCN, phòng tiên tiến, chiến sĩ thi đua cấp tỉnh, cấp cơ sở.
Phong trào thi đua của cả thời kỳ này luôn được duy trì và thúc đẩy phát triển. Tổng cục Thống kê tặng cờ thi đua đơn vị dẫn đầu khu vực miền núi. Nhiều đồng chí được tặng thưởng bằng khen của Tổng cục Thống kê; UBND tỉnh. Các Phòng Thống kê huyện, thị xã cũng có phong trào thi đua sôi nổi.
Bằng hệ thống điểm thi đua được xây dựng từ Tổng cục Thống kê cho các Cục Thống kê thực hiện và là căn cứ xếp loại. Trên cơ sở nhiệm vụ được giao Cục Thống kê tỉnh đã xây dựng hệ thống điểm thi đua giao cho các huyện, thị xã. Các phòng nghiệp vụ xây dựng hệ thống điểm thi đua giao cho các đơn vị chấp hành chế độ báo cáo để thực hiện. Ngành Thống kê cả nước nói chung và Thống kê tỉnh đã chỉ đạo các đơn vị trực thuộc theo dõi, đánh giá kết quả thi đua một cách khách quan chính xác; cũng chính từ cách làm này, Ngành Thống kê duy trì được phong trào thi đua một cách liên tục. Hàng năm tổ chức hội nghị tổng kết đánh giá công tác toàn ngành có nội dung thiết thực và có tác dụng thúc đẩy phong trào thi đua, động viên được mọi đơn vị, mọi cá nhân tham gia thi đua đẩy mạnh công tác được giao.
5. Đánh giá kết quả chung và những kinh nghiệm
Kết quả công tác Thống kê Hà Tuyên sau 10 năm nhập tỉnh được đánh giá chung là đã có nhiều cố gắng và hoàn thành tốt nhiệm vụ chuyên môn.
Một trong những thành quả đạt được, có sự đóng góp của những người làm công tác thống kê toàn tỉnh là phần thưởng tặng Huân chương Lao động hạng Ba, Tổng cục tặng cờ thi đua dẫn đầu khối các tỉnh miền núi.
Về tổ chức toàn ngành dưới sự lãnh đạo của cấp ủy, chính quyền địa phương, của Tổng cục Thống kê. Ngành Thống kê của tỉnh đã xây dựng một hệ thống thống kê hoàn chỉnh từ cấp xã, cấp huyện và cấp tỉnh; thống kê từng đơn vị cơ sở đến thống kê từng ngành kinh tế với hệ thống tổ chức hoàn chỉnh đã tổ chức thực hiện đầy đủ nhiệm vụ công tác của Tổng cục Thống kê giao; Đảm bảo các yêu cầu về thông tin kinh tế - xã hội phục vụ đặc lực cho cấp ủy, chính quyền địa phương làm cơ sở để xây dựng các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế của địa phương hàng năm và các kỳ kế hoạch 5 năm; đồng thời là căn cứ phục vụ cấp ủy các cấp làm cơ sở để đánh giá và xây dựng các Nghị quyết các kỳ đại hội Đảng các cấp là căn cứ để HĐND xây dựng chương trình, mục tiêu, chỉ tiêu cụ thể của các kỳ họp HĐND, UBND các cấp.
Thời kỳ này cũng là một quá trình giáo dục, bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ những người làm công tác thống kê toàn ngành hăng hái, nhiệt tình, trách nhiệm vượt qua mọi khó khăn gian khổ và ngày càng nâng cao nghiệp vụ công tác chuyên môn, yên tâm phục vụ lâu dài cho sự phát triển của Ngành Thống kê địa phương.
Đạt được những thành tựu trên có thể rút ra những kinh nghiệm sau:
- Trong mọi hoạt động của Ngành từ chuyên môn, nghiệp vụ đến các hoạt động có liên quan luôn bám sát yêu cầu của Đảng và Nhà nước, của cấp ủy và chính quyền địa phương, của các ngành để làm động lực thúc đẩy nhiệm vụ công tác. Đồng thời thực hiện nghiêm túc, đầy đủ chương trình kế hoạch công tác của Tổng cục Thống kê giao. Tranh thủ sự quan tâm của Tổng cục Thống kê về nghiệp vụ, xây dựng cơ sở vật chất tạo điều kiện để có được những phương tiện phục vụ công tác.
- Giáo dục, rèn luyện, đào tạo và chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ công nhân viên chức vừa có đạo đức tốt, vừa có chuyên môn sâu. Đoàn kết chặt chẽ, luôn biết vượt qua mọi khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ. Tích cực bồi dưỡng đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ, công nhân viên chức, bố trí cán bộ đúng năng lực, biết phát huy thế mạnh của từng người vào từng nhiệm vụ công tác. Quan tâm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ không chỉ ở Văn phòng Cục Thống kê tỉnh mà phải quan tâm đến cán bộ thống kê huyện, xã, các ngành, các đơn vị cơ sở. Xây dựng mối quan hệ công tác tốt trong toàn hệ thống thống kê (cả thống kê Nhà nước: tỉnh, huyện, xã) và thống kê các ngành.
- Duy trì và luôn khơi dậy tinh thần thi đua ở từng cá nhân, tập thể và toàn ngành thông qua việc đánh giá đúng đắn kết quả công tác; khen thưởng, kỷ luật nghiêm minh. Duy trì công tác sơ, tổng kết phong trào thi đua gắn với sơ kết tổng kết công tác hàng năm giữa thống kê của tỉnh với thống kê các huyện; Các Phòng Thống kê của Cục Thống kê với thống kê các ngành, các đơn vị chấp hành chế độ báo cáo.
CHƯƠNG IV
THỐNG KÊ HÀ TUYÊN TỪ 1987 – 1991
Đây là thời kỳ còn tồn tại tỉnh Hà Tuyên. Công tác Thống kê của tỉnh được chỉ đạo thống nhất từ tỉnh đến huyện, thị xã và các xã, phường cùng với hệ thống thống kê các ngành, các đơn vị cơ sở. Song đây là một thời kỳ Ngành Thống kê cả nước gặp rất nhiều khó khăn. Trong đó Ngành Thống kê Hà Tuyên (bao gồm hai tỉnh Hà Giang và Tuyên Quang) càng khó khăn hơn.
I. Đặc điểm, tình hình kinh tế - xã hội
Trên địa bàn tỉnh Hà Tuyên đặc biệt là các huyện thuộc tỉnh Tuyên Quang cũ, ngoài những khó khăn của cả nước, khó khăn vốn có của một tỉnh vùng núi, cán bộ, nhân dân phải sản xuất, vừa sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu chống sự phá hoại của đối phương. Ngoài ra còn phải ra sức chống thiên tai lũ lụt, hạn hán, sâu bệnh. Cả tỉnh Hà Tuyên nói chung và tỉnh Tuyên Quang nói riêng tập trung sức người, sức của, tập trung toàn lực để xây dựng phòng thủ tuyến biên giới. Chính vì vậy cả giai đoạn này, ngoài xây dựng phòng tuyến biên giới, các cơ sở vật chất khác của tỉnh nói chung phải đình hoãn vì thế sau này tách tỉnh Hà Tuyên trở lại nguyên trạng của tỉnh Hà Giang và tỉnh Tuyên Quang cũ cơ sở vật chất của cả hai tỉnh đều phải bắt đầu xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, hạ tầng cơ sở gần như từ đầu.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (tháng 12/1986) Đảng ta đã khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới toàn diện trên phạm vi cả nước. Trong đó trước hết là đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, kiên quyết xóa bỏ cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp, thực hiện nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Tình hình kinh tế - xã hội từng bước thoát khỏi khó khăn, khủng hoảng và bắt đầu đi vào thế phát triển ổn định, khởi sắc từ sau năm 1989.
Đối với tỉnh Hà Tuyên tuy chưa bắt kịp với đường lối đổi mới do những khó khăn của một tỉnh miền núi, kinh tế phát triển chậm song cũng từng bước hòa nhập với cơ chế quản lý kinh tế - xã hội do Trung ương đề ra mà bước đột phá là Nghị quyết 50 của Ban chấp hành tình Đảng bộ, tinh giảm bộ máy quản lý.
II. Hoạt động của công tác Thống kê
Đối với tỉnh Hà Tuyên công tác thống kê cũng đã có bước phát triển. Song khi chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế - xã hội theo đường lối đổi mới, các phòng, ban thống kê trong hệ thống Thống kê của tỉnh lúc đó không còn phù hợp với cơ chế quản lý kinh tế - xã hội được đổi mới.
Ngày 12/12/1987, Ban Bí thư Trung ương ra thông báo số 46/TB-TƯ về việc sáp nhập một số Bộ, ngành và giảm đầu mối tổ chức ở các địa phương. Trong đó Tổng cục Thống kê chuyển giao tổ chức thống kê các địa phương về UBND tỉnh quản lý. Ở Hà Tuyên, Tỉnh ủy ra Nghị quyết 50 thực hiện thông báo của Ban Bí thư Trung ương Đảng tinh giảm đầu mối tổ chức, tinh giảm bộ máy hành chính triệt để. Ngành Thống kê chuyển về cấp quản lý, trong đó Ngành Thống kê được nhập vào Uỷ ban Kế hoạch tỉnh, được gọi là Chi cục Thống kê và không còn tổ chức, tài khoản riêng mọi kinh phí hoạt động do Uỷ ban Kế hoạch tỉnh chi phối.
Biên chế cán bộ của Chi cục giảm mạnh, nhất là bộ phận hành chính. Khi nhập vào UBKH tỉnh: Chỉ còn sử dụng 1 nhân viên đánh máy, các chức danh kế toán, thủ quỹ, văn thư, thậm trí cả tổ chức không còn, phần lớn được giải quyết nghỉ theo chế độ. Các phòng nghiệp vụ cũng được bố trí gọn lại thành các tổ công tác, lãnh đạo chi cục không còn điều hành tổ chức, kinh phí hoạt động như trước đây. Cán bộ nghiệp vụ cũng được sắp xếp lại, nhiều cán bộ phải nghỉ theo chế độ, thậm chí còn nằm trong danh sách dôi dư chờ giải quyết.
Ở Chi cục Thống kê tỉnh: Lãnh đạo có 2 đồng chí: Chi cục trưởng và Chi cục phó mới được đề bạt. Các tổ công tác chuyên môn còn lại là: Tổ thống kê sản xuất gồm: nghiệp vụ thống kê Nông, lâm nghiệp, Công nghiệp, XDCB, Vận tải có 3 đồng chí theo dõi, mỗi nghiệp vụ 1 người còn tổ khác ngoài tổ sản xuất. Riêng phòng máy tính tổ chức thành xí nghiệp máy tính, các công nhân máy tính và một số đồng chí cán bộ thuộc diện dôi dư đưa về, trực thuộc Uỷ ban Kế hoạch tỉnh, chủ yếu làm chức năng kinh doanh biểu mẫu.
Ở cấp huyện không còn Phòng Thống kê, mỗi huyện còn lại 1 đến 2 đồng chí về công tác chỉ đạo trực tuyến với thường trực UBND các huyện thị, sinh hoạt với văn phòng Ủy ban, có huyện ghép với Kế hoạch thành Bộ phận Thống kê - Kế hoạch, song làm việc trực tuyến với lãnh đạo UBND huyện về công tác Thống kê - Kế hoạch.
Ở cấp xã không còn thống kê chuyên trách, công tác thống kê có nơi giao cho đồng chí phụ trách Văn phòng, có nơi giao cho cán bộ Địa chính, có nơi lại giao cho Kế toán xã kiêm nhiệm, song về thực chất không còn người theo dõi chuyên trách.
Ở các ngành, các đơn vị cơ sở sản xuất kinh doanh chức danh cán bộ thống kê do giảm biên chế, nên không có ngành nào, đơn vị nào bố trí người chuyên trách làm công tác thống kê.
Về mặt tổ chức cán bộ, đây là thời kỳ khó khăn đặc biệt của Ngành Thống kê tỉnh từ một hệ thống tổ chức có nề nếp, chặt chẽ từ tỉnh đến các huyện, từ các ngành đến các đơn vị cơ sở, thích ứng với cơ chế quản lý kế hoạch tập trung, chuyển sang cơ chế thị trường theo định hướng xã hội Chủ nghĩa. Ở các cấp, các ngành không ai không biết sự cần thiết của công tác thống kê để thu thập, tổng hợp các thông tin kinh tế - xã hội, song ở các ngành các đơn vị cơ sở không còn người làm chuyên trách công tác thống kê.
Về hoạt động chuyên môn thống kê. Do thay đổi cơ chế quản lý, do biến động về mặt tổ chức, hoạt động công tác thống kê cũng có nhiều thay đổi. Những mặt công tác nghiệp vụ không còn phù hợp được Tổng cục Thống kê chỉ đạo cho bỏ hoặc chuyển giao về ngành quản lý theo dõi, gồm những nhiệm vụ sau:
- Bãi bỏ một số báo cáo và chế độ thống kê áp dụng cho Cục Thống kê gồm có báo cáo cân đối lao động xã hội, chuyển giao công tác theo dõi và báo cáo thống kê tiến độ sản xuất nông nghiệp từ ngành Thống kê sang ngành Nông nghiệp thực hiện. Bãi bỏ việc tham gia xét duyệt và lập báo cáo quyết toán cấp phát tem phiếu các mặt hàng thực phẩm, công nghệ phẩm cho cán bộ công chức và các đối tượng hưởng chính sách BHXH; xét duyệt quyết toán sử dụng vật tư của các đơn vị cơ sở và của cơ quan quản lý cấp trên; xét duyệt hoàn thành kế hoạch Nhà nước đối với doanh nghiệp Nhà nước và UBND các huyện, thị xã.
- Bên cạnh việc bãi bỏ một số chế độ báo cáo các hoạt động không phù hợp, Tổng cục Thống kê không giao kế hoạch công tác hàng năm cho các tỉnh, thành phố đã từng bước điều chỉnh bổ sung thêm các chế độ báo cáo, các chỉ tiêu phản ánh kết quả thực hiện 3 chương trình kinh tế lớn: tình hình kinh tế phát triển nhiều thành phần, ban hành chế độ báo cáo thống kê giá cả áp dụng đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh của cả nước, chế độ điều tra giá bán lẻ hàng hoá và dịch vụ áp dụng cho các Cục Thống kê theo Quyết định số 211/TCTK-PPCĐ ngày 25/11/1989. Từ cuối năm 1990, Tổng cục Thống kê ban hành khá đồng bộ hệ thống chế độ báo cáo thống kê và điều tra thống kê áp dụng cho các Chi cục Thống kê tỉnh, thành phố về các lĩnh vực Thống kê chức năng, Nông, lâm nghiệp thủy sản, thống kê Thương nghiệp, Giá cả, thống kê Xây dựng cơ bản, Giao thông vận tải, Dân số - Lao động, Đời sống - Văn xã, Cân đối - Tài chính - Ngân hàng và thống kê Tổng hợp.
- Các chế độ báo cáo và điều tra thống kê mới ban hành này là mốc đánh dấu bước chuyển hướng từ hệ thống chỉ tiêu thống kê trong cơ chế hàng hoá sang hệ thống chỉ tiêu thống kê của cơ chế thị trường định hướng xã hội Chủ nghĩa. Phương pháp thu thập thông tin cũng từng bước thay đổi theo hướng giảm dần các chế độ báo cáo thống kê định kỳ, mở rộng hình thức thu thập thông tin qua điều tra thống kê.
Giai đoạn khó khăn của Ngành Thống kê tỉnh Hà Tuyên kéo dài suốt cả thời kỳ từ 1986 cho đến khi chia tách tỉnh Hà Tuyên thành hai tỉnh Hà Giang và Tuyên Quang theo đúng địa giới trước khi nhập tỉnh. Kết thúc thời kỳ nhập tỉnh, tỉnh Tuyên Quang được tái lập, song Ngành Thống kê Tuyên Quang có điều kiện thuận lợi, đội ngũ cán bộ Thống kê Tuyên Quang có bề dày kinh nghiệm công tác trong ngành, có năng lực và kinh nghiệm công tác lâu năm.
CHƯƠNG V
THỐNG KÊ TUYÊN QUANG TỪ NĂM 1992 ĐẾN 2015
I. Đặc điểm tình hình kinh tế - xã hội
Thực hiện Nghị quyết kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa VIII của nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, tỉnh Hà Tuyên được chia tách làm 2 tỉnh Tuyên Quang và Hà Giang, tỉnh Tuyên Quang khi tách tỉnh có 5 huyện, 01 thị xã. Tổng diện tích đất tự nhiên là 580.080 ha. Dân số Tuyên Quang năm 1991 là 598.051 người, đơn vị hành chính có 145 xã, phường, thị trấn, trong đó có 135 xã, 3 phường và 7 thị trấn, mật độ dân số là 103 người/km2.
Trong quá trình thực hiện công cuộc đổi mới, cùng với cả nước, Tuyên Quang đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, kinh tế - xã hội từng bước ổn định và phát triển, cơ sở hạ tầng được chú ý và đầu tư, đời sống nhân dân được cải thiện hơn. Tuy nhiên đến ngày tách tỉnh, Tuyên Quang vẫn là một tỉnh nghèo, nền kinh tế chủ yếu là nông, lâm nghiệp, quy mô còn nhỏ bé, vẫn là nền kinh tế tự sản tự tiêu, công nghiệp còn nhỏ bé. Tổng sản phẩm GRDP (theo giá cố định 1994) năm 1991 là 791.800 triệu đồng, trong đó ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản 445.314 triệu đồng, ngành công nghiệp và xây dựng 269.230 triệu đồng, các ngành dịch vụ 77.256 triệu đồng. Cơ cấu GRDP năm 1991, ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản chiếm 66,89%, ngành công nghiệp và xây dựng chiếm 23,68%, các ngành dịch vụ chiếm 9,43%. Nguồn thu ngân sách nhỏ, lẻ, thu không đủ chi, năm 1992 tổng thu ngân sách toàn tỉnh 81.581 triệu đồng, trong đó thu trên địa bàn là 21.259 triệu đồng, thu trợ cấp từ Trung ương 60.322 triệu đồng.
Sau 24 năm tách tỉnh (1991 - 2015) thực hiện Nghị quyết đại hội tỉnh Đảng bộ tỉnh các khóa XII, XIII; XIV, XV đặc biệt là năm 2015 mặc dù trong điều kiện không thuận lợi, thời tiết diễn biến phức tạp, các cấp, các ngành đã tập trung chỉ đạo nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội với những mục tiêu cụ thể, đồng bộ, do đó các chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu đề ra hàng năm đều đạt và vượt kế hoạch, tăng trưởng kinh tế năm sau cao hơn năm trước, kinh tế có sự chuyển dịch theo hướng tích cực, tăng dần tỷ trọng công nghiệp - xây dựng và dịch vụ, giảm dần tỷ trọng nông, lâm nghiệp thủy sản trong GRDP, việc thu hút nguồn đầu tư phát triển trong các năm qua tăng nhanh, quản lý, sử dụng ngày càng có hiệu quả hơn, thu ngân sách hàng năm tăng khá, cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội được chú ý đầu tư đồng đều giữa thành thị và nông thôn, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn. Đào tạo lao động và giải quyết việc làm đã được chú ý hơn, thu nhập bình quân đầu người tăng dần, đời sống nhân dân nhiều nơi kể cả nông thôn và thành thị được cải thiện rõ rệt, công tác xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn được chăm lo chú ý. Các lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa, khoa học công nghệ được coi trọng và thu được nhiều thành tựu đáng kể. Thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở, ý thức tôn trọng và chấp hành Pháp luật của cán bộ và nhân dân ngày càng thực hiện tốt hơn. Quốc phòng an ninh và quan hệ đối ngoại đã gắn với nhiệm vụ phát triển kinh tế và củng cố hệ thống chính trị. Chính quyền địa phương ở các cấp ngày càng được củng cố, hoạt động có hiệu quả hơn. Chính sách dân tộc, tôn giáo, đại đoàn kết dân tộc được thực hiện tốt đã đem lại không khí phấn khởi cho cán bộ, nhân dân các dân tộc yên tâm, tin tưởng và chấp hành tốt chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Bộ mặt nông thôn có nhiều khởi sắc, chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới được triển khai rộng khắp các xã trong tỉnh, đến hết năm 2015 toàn tỉnh có 10 xã đạt 19/19 tiêu chí về xây dựng nông thôn mới (xã Tân Trào huyện Sơn Dương, xã An Khang, xã Tràng Đà thành phố Tuyên Quang, xã Mỹ Bằng, xã Hoàng Khai huyện Yên Sơn, xã Thượng Lâm huyện Lâm Bình, xã Bình Xa huyện Hàm Yên, xã Kim Bình, xã Yên Nguyên huyện Chiêm Hóa và xã Năng Khả huyện Na Hang).
Về nông nghiệp: Để đảm bảo an ninh lương thực trên địa bàn từ khi tách tỉnh đến nay tỉnh tập trung chỉ đạo phát triển nông nghiệp coi phát triển nông nghiệp là mặt trận hàng đầu. Tỉnh đã giành nguồn vốn đầu tư cho nông nghiệp như hỗ trợ giúp cho nhân dân phát triển các cây trồng vật nuôi có năng suất cao như lúa lai, ngô lai, giống cỏ. Trong nông nghiệp tỉnh đã quy hoạch thành vùng sản xuất hàng hóa tập trung như vùng cam, chè lạc, cây ăn quả, nhiều giống cây trồng, vật nuôi có năng suất cao được trồng và nuôi phổ biến ở các địa phương, công tác chuyển giao khoa học kỹ thuật, áp dụng cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp được bà con nông dân triển khai, áp dụng khá phổ biến, nhiều mô hình trang trại, gia trại làm ăn có hiệu quả. Sản xuất nông nghiệp đã phát triển với tốc độ tăng trưởng tương đối cao và bình quân hàng năm tăng từ 5 - 6%. Tổng sản lượng lương thực từ 121,3 vạn tấn năm 1991 tăng lên 333,47 vạn tấn năm 2014; đàn gia súc hàng năm tăng từ 3 - 6%. Do đó đời sống nhân dân đã được cải thiện một bước. Bình quân lương thực đầu người từ 203 kg năm 1991 tăng lên 442 kg/người năm 2014. Với số lượng lương thực như trên đã đảm bảo vững chắc an ninh lương thực trên địa bàn và bước đầu có sản phẩm hàng hoá.
Về công nghiệp: Sản xuất công nghiệp so với khi tỉnh chia tách tăng trưởng khá nhanh. Năm 1991 giá trị sản xuất công nghiệp khi tách tỉnh nền công nghiệp gần như chưa có gì, chủ yếu là sản xuất tiểu thủ công nghiệp trong nhân dân, giá trị công nghiệp năm 1991 là 131.566 triệu đồng, đến năm 2014, giá trị sản xuất công nghiệp (theo giá hiện hành) là 11.195.295 triệu đồng. Do yêu cầu phát triển của nền kinh tế, tỉnh có chủ trương ưu tiên phát triển công nghiệp trong những năm qua công nghiệp đã có sự phát triển nhanh. Đến nay đã có 2 nhà máy Xi măng, 1 nhà máy gạch Tuy nen, 2 nhà máy đường, nhà máy sản xuất giấy và bột giấy, nhà máy tuyển quặng ăng ty mon kim loại, nhà máy cao lanh PenFát, 2 nhà máy thủy điện Tuyên Quang và Chiêm Hoá, nhiều cơ sở sản xuất công nghiệp đã được đầu tư xây dựng làm cho công nghiệp của tỉnh phát triển với tốc độ tương đối cao.
Về XDCB: Do cơ sở hạ tầng khi tách tỉnh còn nhiều hạn chế. Trong những năm qua tỉnh có chủ trương xây dựng mạnh cơ sở hạ tầng như: điện, đường, trường, trạm… với phương châm chung toàn tỉnh sau thập kỷ 90 là đại công trường xây dựng, từ đó cơ sở hạ tầng được tập trung nguồn lực phát triển cơ cấu hạ tầng của tỉnh. Đến hết năm 2014 toàn tỉnh, 100% số xã có điện và có đường ô tô đến trung tâm xã, các xã đều có trường học 2 tầng, tại trung tâm xã. 100% số xã có trạm xá và trụ sở làm việc của xã khang trang, từ đó bộ mặt trong nông thôn đã được thay đổi, đời sống của đồng bào các dân tộc trong tỉnh được nâng lên.
Các hoạt động văn hóa xã hội tiếp tục được quan tâm và có nhiều tiến bộ, cơ sở vật chất trường học được đầu tư xây dựng từ 253 trường học các cấp, tăng lên 335 trường năm học 2014 - 2015. Đội ngũ giáo viên được bổ sung, tăng cường về số lượng và chất lượng, năm 1991 - 1992 chỉ có 6.181 giáo viên đến năm 2014 - 2015 tăng lên 8.346 giáo viên. Học sinh theo học các trường phổ thông tăng lên, năm học 1991-1992 có 116.343 em đến năm 2014 - 2015 có 125.718 em. Đến nay toàn tỉnh đã phổ cập trung học phổ thông. Các hoạt động văn hóa - thông tin, lễ hội được tổ chức tốt phục vụ các nhiệm vụ chính trị của địa phương, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa và sinh hoạt tinh thần của nhân dân góp phần giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, công tác chăm sóc sức khỏe cho nhân dân và khám, chữa bệnh ngày càng đảm bảo chất lượng. Công tác xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm, thực hiện chính sách xã hội tiếp tục được triển khai có hiệu quả, tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh năm 2014 còn 13,09%.
II. Hoạt động công tác Thống kê
1. Chức năng nhiệm vụ của ngành Thống kê
Thực hiện Quyết định số 303/QĐ-TCTK ngày 20/4/2004 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê về việc quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Thống kê tỉnh Tuyên Quang. Căn cứ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao trong hoạt động Cục Thống kê đã bám sát chương trình kế hoạch công tác được Tổng cục Thống kê giao, để đáp ứng yêu cầu thông tin phục vụ công tác lãnh đạo, điều hành trong tình hình hiện nay của một tỉnh mới được tái lập, ngay sau khi Quốc hội có Nghị quyết chia tách tỉnh Hà Tuyên thành hai tỉnh Tuyên Quang và Hà Giang, Chủ tịch UBND tỉnh đã giao cho ngành Thống kê thực hiện nhiệm vụ tách số liệu theo địa giới hành chính của tỉnh Tuyên Quang. Tiếp tục thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo Quyết định của TCTK và đáp ứng yêu cầu phục vụ địa phương. Ngành Thống kê Tuyên Quang đã đạt được những thành tích đáng khích lệ. Tuy nhiên, trong điều kiện nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự biến đổi và phát triển nhanh chóng về công tác chuyên môn của ngành Thống kê Tuyên Quang nói riêng và ngành Thống kê trong cả nước nói chung không tránh khỏi những hạn chế, bất cập. Hệ thống chỉ tiêu thống kê chưa đồng bộ, thiếu thông tin, một số thông tin thống kê chưa đảm bảo độ tin cậy cần thiết; thông tin, số liệu thống kê chưa được lưu giữ và truyền đưa bằng các phương tiện hiện đại, nên chưa thuận tiện cho việc khai thác sử dụng.
Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ công tác thống kê trong tình hình mới và phù hợp với thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Ngày 14/01/2011, Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê ban hành Quyết định số 25/QĐ-TCTK về Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Thống kê tỉnh Tuyên Quang, so với Quyết định 303/QĐ-TCTK ngày 20/4/2004 và Quyết định 25/QĐ-TCTK ngày 14/01/2011 của Tổng cục Thống kê thay đổi tên gọi phòng Phương pháp chế độ - Thanh tra - thi đua thành phòng Thanh tra Cục Thống kê. Để phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ, đảm bảo tính hợp lý, tiện cho việc theo dõi, đánh giá cán bộ ngày 02/4/2014 Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê ban hành Quyết định số 188/QĐ-TCTK về Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Thống kê tỉnh Tuyên Quang, tại Quyết định này chuyển bộ phận thi đua - khen thưởng về Phòng Tổ chức - Hành chính.
Để khắc phục những hạn chế, thiếu sót, đồng thời quán triệt Chỉ thị số 28/1998/CT-TTg ngày 19/8/1998 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường hiện đại hoá công tác thống kê tiếp theo các chế độ đã ban hành năm 1994,1995 từ năm 1996 đến năm 2004, TCTK tiếp tục sửa đổi, bổ sung, ban hành nhiều chế độ báo cáo và điều tra thống kê áp dụng cho các Cục Thống kê tỉnh Thành phố. Đặc biệt căn cứ vào chương trình hành động thực hiện định hướng phát triển thống kê Việt Nam đến năm 2010 lộ trình 2020 do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo Quyết định số 141/2002/QĐ-TTg ngày 21/10/2002. Năm 2003, Bộ Kế hoạch và Đầu tư và TCTK đã ban hành đồng bộ chế độ báo cáo và điều tra thống kê mới áp dụng cho các cục Thống kê tỉnh, thành phố và các đơn vị kinh tế cơ sở. Đặc điểm chung của các chế độ báo cáo mới là hệ thống chỉ tiêu, phương pháp thu thập thông tin phù hợp với điều kiện nền kinh tế thị trường, định hướng XHCN, bổ sung nhiều chỉ tiêu phản ánh năng suất, chất lượng và hiệu quả nền kinh tế, mức độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá phản ánh tình hình lao động, đời sống dân cư, tình hình xã hội, môi trường sống...
2. Cơ cấu tổ chức và cán bộ
2.1. Giai đoạn tháng 10/1991 đến 5/1992
Sau khi chia tách tỉnh (tháng 10/1991) Chi cục Thống kê Tuyên Quang vẫn là đơn vị trực thuộc ủy ban Kế hoạch tỉnh Tuyên Quang.
Lãnh đạo chi cục có ông Phạm Thiếu Lăng - Chi Cục trưởng, sau một thời gian, bổ nhiệm ông Nguyễn Hữu Giám giữ chức vụ Phó Chi cục trưởng. Giúp việc cho lãnh đạo Chi cục có 2 tổ công tác.
1- Tổ thống kê tổng hợp do ông Hoàng Đình Cương làm Tổ trưởng.
Cán bộ trong tổ gồm có: Ông Lê Văn Thảo, bà Định Thị Hoa, bà Nguyễn Thị Hằng, bà Vũ Thị Hiển, bà Hà Thị Kiếm, bà Lê Thị Kính.
2- Tổ Thống kê Sản xuất do ông Luyện Văn Minh làm Tổ trưởng (Sau đó ông Luyện Văn Minh được điều động sang bộ phận sản xuất cao lanh thuộc Ủy ban kế hoạch).
Cán bộ trong tổ gồm có: Ông Trần Ngọc Toàn, bà Trần Thị Thắng, bà Mai Thanh Thảo, bà Nguyễn Thị Cương, bà Đỗ Thị Hiền, bà Phạm Thị Nhuần, bà Lê Thị Minh Nguyệt, bà Ma Thị Hợi, bà Nguyễn Thị Liên.
Ở cấp huyện thời kỳ này mỗi huyện, thị xã có 1 đến 2 người làm công tác thống kê nằm trong Ban Kế hoạch của các huyện, thị xã, không có tổ chức riêng.
2.2. Giai đoạn từ tháng 6/1992 - tháng 9/1994
Theo Quyết định của UBND tỉnh Tuyên Quang, ngày 25/5/1992 tách chi cục Thống kê ra khỏi UBKH tỉnh, thành lập Cục Thống kê tỉnh Tuyên Quang (Trực thuộc UBND tỉnh) đánh dấu một bước thay đổi lớn đối với ngành thống kê Tuyên Quang. Sau 4 năm sáp nhập với Ủy ban Kế hoạch tỉnh, Cục Thống kê được tái lập là cơ quan chuyên môn có tư cách pháp nhân, hoạt động độc lập.
2.2.1. Về cơ cấu tổ chức
I- Lãnh đạo cục
- Ông Phạm Thiếu Lăng - Cục trưởng
- Ông Hoàng Đình Cương - Phó cục trưởng
II- Các đơn vị trực thuộc lãnh đạo cục
Bước đầu chưa thành lập các phòng chuyên môn và các đơn vị trực thuộc lãnh đạo Cục. Lúc này được chia thành các bộ phận công tác bao gồm:
- Bộ phận Tổ chức - Hành chính
+ Ông Lê Văn Thảo - Phụ trách
+ Bà Ma Thị Hợi - Kế toán
+ Bà Đỗ Thị Bích - Đánh máy
+ Bà Vương Thị Bướm - Văn Thư
+ Bà Phạm Thị Nhuần - Thủ quỹ kiêm tạp vụ
+ Ông Vũ Xuân Canh - Lái xe
- Bộ phận Thống kê tổng hợp
+ Ông Vũ Văn Đức - Phụ trách
+ Bà Nguyễn Thị Bình
+ Lê Thị Kính
+ Bà Lê Thị Minh Nguyệt
+ Bà Hà Thị Kiếm
- Bộ phận Thống kê sản xuất
+ Bà Đinh Thị Hoa - Phụ trách
+ Bà Nguyễn Thị Hằng
+ Ông Trần Ngọc Toàn.
2.2.2. Về cơ sở vật chất
Sau khi có Quyết định tách Chi cục Thống kê từ Uỷ ban Kế hoạch thành lập Cục Thống kê. Lãnh đạo Uỷ ban Kế hoạch và Cục Thống kê đã bàn bạc và thống nhất việc phân chia tài sản của 2 cơ quan.
Cục Thống kê được sử dụng 2 nhà 1 nhà kiên cố xây 2 tầng và 1 nhà cấp 4, 1 xe Uoát.
Với 8 gian nhà cấp 4 và 10 gian nhà 2 tầng, Cục Thống kê sử dụng làm việc, các phòng nghiệp vụ làm việc phần lớn là xen ghép; tuy chật chội song cán bộ thống kê rất phấn khởi vì dù sao cũng là 1 cơ quan độc lập chấm dứt tình trạng phụ thuộc như những ngày sáp nhập với Ủy ban Kế hoạch.
Sau khi tách ngành Thống kê ra khỏi Uỷ ban Kế hoạch, Cục Thống kê Tuyên Quang, được Tổng cục Thống kê cấp kinh phí phục vụ cho việc đầu tư mua sắm trang thiết bị phục vụ công tác chuyên môn. Lãnh đạo Cục đã dần từng bước trang bị cơ sở vật chất cho các phòng nghiệp vụ như: Bàn, ghế, máy tính… đáp ứng yêu cầu trong công tác.
2.3. Giai đoạn từ tháng 10/1994 đến năm 1996
2.3.1. Về cơ cấu tổ chức
Ngày 23/3/1994, Chính phủ ra Nghị định số 23/NĐ-CP về việc qui định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức bộ máy của Tổng cục Thống kê. Theo nội dung của Nghị định này cơ cấu tổ chức của Ngành Thống kê Việt Nam, Tổng cục Thống kê quản lý theo ngành dọc từ Trung ương đến các Phòng Thống kê các huyện, thị xã trong cả nước. Tháng 9/1994, Tổng cục Thống kê cử đoàn công tác lên làm việc với tỉnh Tuyên Quang nhận bàn giao Ngành Thống kê Tuyên Quang về Tổng cục Thống kê quản lý. Đối với Tuyên Quang từ tháng 10/1992 đã quản lý ngành dọc từ Cục Thống kê đến các huyện, thị xã nên việc bàn giao và tiếp nhận giữa UBND tỉnh Tuyên Quang với Tổng cục Thống kê được thực hiện thuận lợi. Tổng cục Thống kê tiếp nhận với UBND tỉnh Tuyên Quang toàn bộ cán bộ Ngành Thống kê Tuyên Quang hiện có đến 30/9/1994 và toàn bộ tài sản của ngành như trụ sở làm việc, xe ô tô… về Tổng cục Thống kê quản lý. Như vậy đến thời điểm này, đây là lần thứ 2 Tổng cục Thống kê được Chính phủ giao cho quản lý ngành dọc từ Trung ương đến các địa phương.
Cơ cấu tổ chức: Tại thời điểm bàn giao
a. Văn phòng Cục: Tổng số có 28 cán bộ được phân bổ như sau:
+ Lãnh đạo Cục: gồm 2 đồng chí
- Đồng chí Phạm Thiếu Lăng - Cục trưởng
- Đồng chí Hoàng Đình Cương - Phó Cục trưởng
+ Các phòng nghiệp vụ gồm:
- Phòng Máy tính có 5 cán bộ do ông Nguyễn Bá Lựu làm Trưởng phòng
- Tổ Thống kê Tổng hợp có 5 cán bộ do ông Vũ Văn Đức làm tổ trưởng
- Tổ Thống kê Sản xuất có 4 cán bộ do Bà Hà Thị Kiếm làm tổ trưởng.
- Tổ Thống kê Thương nghiệp -Văn xã có 6 cán bộ do bà Đinh Thị Hoa làm tổ trưởng
- Phòng Tổ chức - Hành chính có 6 cán bộ do ông Lê Văn Thảo làm trưởng phòng.
b- Phòng Thống kê các huyện, thị phân ra như sau:
- Phòng Thống kê huyện Na Hang: Có 3 cán bộ do bà Đào Thị Hoà làm Trưởng phòng: Cán bộ có ông Lục Văn Quang, ông Hoàng Ngọc Thuyết.
- Phòng Thống kê huyện Chiêm Hoá: có 3 cán bộ do ông Ma Doãn Thắng làm Trưởng phòng. Cán bộ có ông Ma Văn Dương, bà Lại Thị Ngọc.
- Phòng Thống kê huyện Hàm Yên có 3 cán bộ do ông Nguyễn Công Mẫn làm Trưởng phòng. Cán bộ có bà Bùi Thị Hà, bà Mai Thị Hạ.
- Phòng Thống kê huyện Yên Sơn có 1 cán bộ do Bà Phạm Thị Dòn làm Trưởng phòng.
- Phòng Thống kê huyện Sơn Dương có 3 cán bộ do ông Nguyễn Việt Thái làm Trưởng phòng. Cán bộ có ông Ma Trường Thọ, ông Nguyễn Tiến Sỹ
- Phòng Thống kê Thị xã Tuyên Quang có1 cán bộ do bà Lã Thị Hiền làm Trưởng phòng.
2.3.2. Về cơ sở vật chất
Tại thời điểm bàn giao cơ sở vật chất của Cục Thống kê còn gặp rất nhiều khó khăn, trụ sở làm việc gồm 2 nhà (1 nhà cấp 4 và 1 nhà kiên cố 2 tầng cũ, có 1 xe Uóat cũ). Được sự quan tâm của Tổng cục Thống kê - UBND tỉnh đã tạo điều kiện cấp vốn để xây dựng trụ sở làm việc cho Cục Thống kê tỉnh Tuyên Quang. Vốn ban đầu UBND tỉnh cấp 400 triệu đồng để xây dựng phần móng, hoàn thành năm 1994, Tổng cục Thống kê cấp vốn để xây dựng phần nhà làm việc. Với sự quan tâm của Tổng cục Thống kê và UBND tỉnh, Cục Thống kê tỉnh Tuyên Quang khởi công xây dựng trụ sở làm việc việc từ tháng 11/1994 đến hết năm 1996 công trình hoàn thành. Tổng diện tích Cục Thống kê là 950 m2 gồm 2 nhà: xung quanh tường rào có cổng ra vào. Nhìn chung trụ sở hoàn thành khang trang sạch, đẹp đáp ứng yêu cầu công tác của ngành.
2.4. Giai đoạn từ 1997 đến 2005
Từ 1997 đến trước tháng 9/2003 cơ cấu bộ máy tổ chức và cán bộ, cơ bản vẫn thực hiện theo Nghị định 23/CP của Chính phủ. Thực hiện chỉ đạo của Tổng cục Thống kê, cơ cấu, tổ chức, bộ máy của ngành Thống kê Tuyên Quang tiếp tục được củng cố, kiện toàn, được tăng cường về cán bộ. Tháng 9/2003, Chính phủ ban hành Nghị định 101/2003/NĐ-CP ngày 3/9/2003 qui định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cục Thống kê. Thực hiện Nghị định này Tổng cục Thống kê đã ban hành các quyết định đối với Cục Thống kê các tỉnh, thành phố trong cả nước. Đối với Tuyên Quang, Tổng cục đã ban hành quyết định số 303/QĐ-TCTK ngày 20/4/2004 qui định, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Thống kê Tuyên Quang. Về chức năng, nhiệm vụ trong quyết định ghi rõ: Cục Thống kê Tuyên Quang là cơ quan trực thuộc Tổng cục Thống kê, giúp Tổng cục Thống kê thống nhất quản lý công tác thống kê trên địa bàn theo đúng quy định của pháp luật; Cục thống kê Tuyên Quang có trách nhiệm tổ chức thực hiện các hoạt động thống kê theo chương trình công tác của Tổng cục Thống kê giao; Đồng thời đáp ứng nhu cầu thông tin thống kê trên địa bàn, phục vụ sự lãnh đạo, quản lý, điều hành của các cấp lãnh đạo Đảng, chính quyền địa phương.
2.4.1. Về mô hình tổ chức
Cơ quan Cục Thống kê tỉnh Tuyên Quang gồm 6 phòng: Phòng Thống kê Tổng hợp; Phòng Thống kê Nông nghiệp; Phòng Thống kê Công - Thương; Phòng Thống kê Dân số - Văn xã; Phòng Tổ chức - Hành chính; Phòng Phương pháp chế độ - Thanh tra - Thi đua. Ở cấp huyện, thị xã, mỗi huyện, thị có một Phòng Thống kê đặt tại huyện, thị xã. Số lượng biên chế do Tổng cục Thống kê giao. Theo đó, biên chế cán bộ của Cục Thống kê Tuyên Quang được bố trí cụ thể như sau:
I- Lãnh đạo Cục
- Ông Phạm Thiếu Lăng - Cục trưởng
- Ông Hoàng Đình Cương - Phó Cục trưởng
- Ông Lê Văn Thảo - Trưởng phòng TCCB được bổ nhiệm Phó Cục trưởng (Tháng 12/2001).
II. Các phòng trực thuộc lãnh đạo cục
1- Phòng Thống kế Tổng hợp
- Ông Vũ Văn Đức - Trưởng phòng
- Bà Hà Thị Kiếm - Phó phòng
- Bà Nguyễn Thị Bình
- Bà Lê Thị Kính
- Bà Lê Thị Nguyệt
- Ông Phạm Hùng Sơn
2- Phòng Thống kê Nông nghiệp
- Ông Trần Ngọc Toàn - Phó phòng, phụ trách phòng; Sau đó bổ nhiệm ông Nguyễn Văn Chuyển - Trưởng phòng.
- Bà Mai Thanh Thảo
- Bà Đỗ Thị Hiền
- Ông Phạm Quang Vinh
- Bà Vũ Thị Bích Thủy.
3- Phòng Thống kê Dân số - Văn xã
- Bà Phạm Thị Dòn - Trưởng phòng
- Bà Vũ Thị Hiển - Phó phòng
- Bà Trần Thị Vân
- Bà Lê Thị Thu Nga
4- Phòng Thống kê Công - Thương
- Bà Đinh Thị Hoa - Trưởng phòng
- Bà Nguyễn Thị Hằng
- Bà Trần Thị Thắng
5- Phòng Tổ chức - Hành chính
- Ông Lê Văn Thảo - Phó cục trưởng kiêm Trưởng phòng; Năm 2002 điều động ông Nguyễn Việt Thái - Trưởng Phòng Thống kê huyện Sơn Dương lên làm Trưởng phòng
- Bà Đỗ Thị Bích - Phó phòng
- Bà Vương Thị Bướm
- Bà Phạm Thị Nhuần (nghỉ hưu 2003), bà Hoàng Thị Bắc thay
- Ông Vũ Xuân Canh (lái xe).
Ngoài số cán bộ nêu trên có 4 cán bộ khi tách tỉnh Hà Tuyên được điều động lên Hà Giang, sau đó chuyển về Tuyên Quang như: Ông Vũ Xuân Canh về phòng Tổ chức - Hành chính, ông Lê Đức Khải về phòng Tổng hợp, ông Nguyễn Văn Chuyển tăng cường Phòng Thống kê Chiêm Hóa, ông Trần Đức Độ tăng cường Phòng Thống kê huyện Hàm Yên.
6. Phòng Phương pháp chế độ - Thanh tra - Thi đua
- Ông Lê Đức Khải - Trưởng phòng kiêm Chánh thanh tra
- Bà Lê Thị Kính.
Các Phòng Thống kê huyện, thị xã có 18 cán bộ được bố trí như sau:
1- Phòng Thống kê Thị xã Tuyên Quang: 3 cán bộ
Bà Lã Thị Hiền - Trưởng phòng; bà Trần Thị Việt Thu; bà Nguyễn Thị Hiền.
2- Phòng Thống kê Na Hang: 3 cán bộ
Bà Đào Thị Hòa - Trưởng phòng; ông Hoàng Ngọc Thuyết; ông Lục Văn Quang.
3- Phòng Thống kê Chiêm Hóa: 3 cán bộ
Ông Ma Doãn Thắng - Trưởng phòng; bà Lại Thị Ngọc; ông Ma Văn Dương.
4- Phòng Thống kê Hàm Yên: 3 cán bộ
Ông Nguyễn Công Mẫn - Trưởng phòng; bà Bùi Thị Hà; bà Mai Thị Hạ.
5- Phòng Thống kê Yên Sơn: 3 cán bộ
Ông Đỗ Văn Chiến - Trưởng phòng; bà Nguyễn Thị Liên; ông Trần Đức Độ.
6- Phòng Thống kê Sơn Dương:
Ông Nguyễn Việt Thái - Trưởng phòng (2002 chuyển về Cục làm Trưởng phòng TCHC). Ông Trần Ngọc Toàn - Phó Trưởng phòng lên làm Trưởng phòng; ông Ma Trường Thọ; bà Lê Thị Ngọ.
Vào những năm cuối của giai đoạn này công tác cán bộ có sự biến động. Một số cán bộ đã đến tuổi nghỉ hưu, trong đó có cả cán bộ lãnh đạo và cán bộ cốt cán. Ông Phạm Thiếu Lăng - Cục trưởng, ông Hoàng Đình Cương - Phó Cục trưởng nghỉ hưu tháng 10/2005; ông Nguyễn Bá Lựu - Trưởng phòng Thương nghiệp - Văn xã nghỉ hưu (năm 2000); ông Vũ Văn Đức - Trưởng phòng Tổng hợp nghỉ hưu năm 2002; bà Phạm Thị Dòn - Trưởng phòng Dân số -Văn xã nghỉ năm 2003; bà Đinh Thị Hoa (Trưởng phòng CN - XDCB); bà Nguyễn Thị Hằng; bà Đỗ Thị Hiền nghỉ năm 2005. Công tác cán bộ đã kịp thời được bổ sung. Tháng 12/2005 Tổng cục Thống kê đã bổ nhiệm ông Lê Văn Thảo - Phó cục trưởng làm Cục trưởng. Lãnh đạo các phòng đã được kiện toàn: bà Vũ Thị Hiển được giao quyền Trưởng phòng Dân số - Văn xã; bà Trần Thị Thắng được bổ nhiệm Trưởng phòng Công - Thương nghiệp; bà Hà Thị Kiếm được bổ nhiệm Trưởng phòng Tổng hợp, ông Nguyễn Văn Chuyển được bổ nhiệm Trưởng phòng Nông nghiệp.
Ở cấp huyện: Bà Lã Thị Hiền - Trưởng Phòng Thống kê Thị xã nghỉ hưu năm 2005; bà Trần Thị Việt Thu được giao phụ trách phòng, sau đó được bổ nhiệm là Trưởng phòng.
2.4.2. Về cơ sở vật chất
+ Cơ sở vật chất của ngành do có sự quan tâm của Tổng cục Thống kê, cơ sở vật chất của ngành đã có sự thay đổi cả về số lượng và chất lượng.
- Trụ sở làm việc: Được sự đầu tư của Tổng cục Thống kê Cục Thống kê đã tiến hành đầu tư xây dựng trụ sở làm việc 3 tầng khang trang có hội trường phục vụ cho các cuộc họp, hội nghị tập huấn, có các phòng làm việc, các phòng làm việc đã lắp đặt điều hòa, cán bộ công chức được trang bị bàn ghế, máy tính, hệ thống mạng tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ, công chức trong ngành làm việc.
- Ô tô: Năm 1995 Tổng cục Thống kê cấp kinh phí mua 1 xe ô tô 4 chỗ ngồi hệ MazDa 626 hoạt động từ năm 1995. Năm 2005 được sự quan tâm của UBND tỉnh và của Tổng cục Thống kê đã cấp kinh phí cho Cục Thống kê mua 1 ô tô xe Mitsubisi 7 chỗ ngồi.
- Máy tính: Tại thời điểm này về cơ bản thiết bị làm việc được Tổng Cục quan tâm trang bị bình quân mỗi phòng nghiệp vụ có từ 4 đến 5 máy vi tính, mỗi huyện có từ 3 đến 4 máy vi tính. Năm 2004 Tổng cục Thống kê cấp kinh phí Cục đã lắp mạng Lan (mạng nội bộ). Việc áp dụng công nghệ thông tin vào trong công tác đã có tác dụng rất lớn trong công tác. Tại thời điểm này 100% các nghiệp vụ đã truyền được thông tin qua mạng về Tổng cục Thống kê, bước đầu khắc phục việc chậm thời gian gửi báo cáo về Tổng cục Thống kê.
2.5. Giai đoạn từ 2006 đến 2011
Trong giai đoạn này ngành Thống kê Tuyên Quang, ngoài thực hiện nhiệm vụ thường xuyên theo chương trình công tác được Tổng cục Thống kê giao toàn ngành phải tập trung lực lượng vật chất và kinh phí thực hiện các cuộc Tổng điều tra lớn theo yêu cầu của nhà nước như: Tổng điều tra Nông thôn, nông nghiệp và thủy sản (2006-2011); Tổng điều tra cơ sở kinh tế - hành chính sự nghiệp năm 2007-2012; Tổng điều tra Dân số và nhà ở năm 2009. Về Tổ chức bộ máy theo chỉ đạo của Chính phủ cũng có một số thay đổi.
- Năm 2010, thực hiện chỉ đạo của Chính phủ chuyển Tổng cục Thống kê trực thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư để phù hợp với công tác quản lý điều hành của Chính phủ. Kể từ khi Tổng cục Thống kê trực thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư, hoạt động của ngành thống kê không có sự biến động lớn, cơ sở vật chất được Bộ quan tâm hơn so với những năm trước, điều kiện làm việc, đời sống cán bộ công chức được cải thiện, công chức ngành thống kê gắn bó với ngành hơn.
- Thực hiện Nghị quyết số 27/NQ-CP ngày 2/7/2010 của Chính phủ về việc thành lập thành phố Tuyên Quang thuộc tỉnh Tuyên Quang. Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, phù hợp với tên gọi của đơn vị hành chính, ngày 27/8/2010 Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê ban hành quyết định 543/QĐ-TCTK về việc thành lập Phòng Thống kê Thành phố Tuyên Quang, thuộc Cục Thống kê.
- Ngày 29/9/2010 Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê ban hành Quyết định số 666/QĐ-TCTK về việc thành lập Chi cục thống kê huyện, thành phố trực thuộc Cục Thống kê tỉnh Tuyên Quang, tại Quyết định này có 6 Chi cục Thống kê huyện, thành phố được thành lập dựa trên cơ sở 6 phòng thống kê, chỉ khác là thay tên gọi.
- Thực hiện Nghị quyết số 07/NQ-CP ngày 28/01/2011 của Chính phủ về việc điều chỉnh địa giới hành chính huyện Na Hang và huyện Chiêm Hóa để thành lập huyện Lâm Bình. Đối với ngành Thống kê, để đáp ứng yêu cầu công tác phục vụ cấp ủy, chính quyền huyện Lâm Bình mới được thành lập Tổng cục Thống kê đã ban hành Quyết định số 143/QĐ-TCTK ngày 17/02/2011 về việc thành lập Chi cục Thống kê huyện Lâm Bình trực thuộc Cục Thống kê tỉnh Tuyên Quang.
Về bộ máy tổ chức:
- Đến năm 2011 Tổng cục Thống kê ban hành Quyết định số 25/QĐ-TCTK ngày 14/01/2011 về việc Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Thống kê tỉnh Tuyên Quang.
- Quyết định số 20/QĐ-TCTK ngày 14 tháng 01 năm 2011, Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức của Chi cục Thống kê huyện, thành phố thuộc tỉnh.
Thực hiện các quyết định trên đến cuối năm 2011 ngành Thống kê Tuyên Quang có cơ cấu tổ chức và bố trí cán bộ như sau:
I. Lãnh đạo cục
- Ông Lê Văn Thảo - Cục trưởng
- Ông Nguyễn Việt Thái - Phó Cục trưởng (Bổ nhiệm năm 2008)
- Bà Hoàng Thu Hiền - Phó cục trưởng (Bổ nhiệm năm 2008)
II. Các đơn vị trực thuộc
A. Văn phòng Cục:
1- Phòng Tổ chức - Hành chính
- Ông Nguyễn Văn Chuyển - Trưởng phòng
- Bà Đỗ Thị Bích - Phó trưởng phòng
- Bà Hoàng Thị Bắc - Thủ quỹ, kiêm tạp vụ (Nghỉ hưu năm 2013)
- Bà Vương Thị Bướm - Văn thư (nghỉ hưu năm 2011)
- Ông Nguyễn Quốc Đông - Lái xe
- Ông Nguyễn Hữu Hồng - Lái xe
2- Phòng Thống kê Tổng hợp
- Bà Hà Thị Kiếm - Trưởng phòng (Nghỉ hưu năm 2010);
- Ông Vũ Tuấn Hà - Phó phòng lên thay bà Kiếm nghỉ hưu
- Bà Nguyễn Thị Bình (Nghỉ hưu năm 2006)
- Bà Trương Thị Mỹ Linh cán bộ mới được tuyển dụng
3- Phòng Thanh tra - Phương pháp chế độ - Thi đua
- Ông Lê Đức Khải - Trưởng phòng kiêm Chánh Thanh tra (Nghỉ hưu năm 2008)
- Ông Trần Ngọc Toàn được điều từ Sơn Dương lên thay ông Khải làm Trưởng phòng.
- Bà Lê Thị Kính - Cán bộ theo dõi thi đua (Nghỉ hưu 2011)
4- Phòng Thống kê Nông - Lâm nghiệp
- Bà Đỗ Thị Thủy - Trưởng phòng (Nghỉ hưu năm 2012)
- Bà Mai Thanh Thảo - Cán bộ (Nghỉ hưu năm 2012)
- Ông Hoàng Lê Tuyên - Cán bộ
5- Phòng Thống kê Công - Thương nghiệp
- Bà Trần Thị Thắng - Trưởng phòng (Nghỉ hưu năm 2011)
- Bà Ngô Thị Thu Sang - Phó phòng (Bà Thắng nghỉ hưu được giao phụ trách phòng)
- Bà Phạm Thị Hồng Thắm - Cán bộ
- Ông Phạm Hồng Hải - Cán bộ
6- Phòng Thống kê Dân số - Văn xã
- Bà Vũ Thị Hiển - Quyền trưởng phòng (Nghỉ hưu năm 2006); Bổ nhiệm bà Lê Thị Thu Nga từ Phó phòng lên làm Trưởng phòng
- Ông Phạm Quang Vinh - Phó phòng (Năm 2011 điều động làm Chi cục trưởng Chi cục Thống kê huyện Yên Sơn thay ông Đỗ Văn Chiến nghỉ hưu)
- Bà Nguyễn Thị Thu Nga - Cán bộ.
B- Chi cục Thống kê các huyện, thành phố:
- Chi cục Thống kê thành phố Tuyên Quang có 4 cán bộ do bà Vũ Thị Bích Thuỷ làm Chi cục trưởng, bà Nguyễn Thị Thu Hiền làm Phó Chi cục trưởng.
- Chi cục Thống kê huyện Na Hang có 3 cán bộ do ông Ma Văn Dương làm Chi cục trưởng.
- Chi cục Thống kê huyện Hàm Yên có 4 cán bộ do ông Nguyễn Công Mẫn làm Chi cục trưởng bà Bùi Thị Hà làm Phó Chi cục trưởng.
- Chi cục Thống kê huyện Sơn Dương có 2 cán bộ do bà Lê Thị Minh Nguyệt làm Chi cục trưởng.
- Chi cục Thống kê huyện Yên Sơn có 3 cán bộ do ông Phạm Quang Vinh làm Chi cục trưởng.
- Chi cục Thống kê huyện Chiêm Hoá có 3 cán bộ do ông Ma Doãn Thắng làm Chi cục trưởng.
- Chi cục Thống kê huyện Lâm Bình có 1 cán bộ và 3 lao động hợp đồng do ông Lục Văn Quang làm Chi cục trưởng.
2.6. Giai đoạn từ 2011 đến 2015
Thời gian này công tác cán bộ có sự thay đổi một số cán bộ đủ tuổi nghỉ hưu, Lãnh đạo Cục có sự thay đổi tháng 10/2011, ông Lê Văn Thảo - Cục trưởng nghỉ hưu. Tổng cục Thống kê đã kịp thời kiện toàn Ban lãnh đạo Cục, Trong quý IV/2011, Tổng cục đã ban hành Quyết định bổ nhiệm ông Nguyễn Việt Thái làm Cục trưởng. Đến tháng 9/2012, theo yêu cầu nhiệm vụ công tác, Tổng cục đã điều động bà Hoàng Thu Hiền - Phó Cục trưởng Cục Thống kê Tuyên Quang chuyển công tác về Viện khoa học Thống kê nên lúc này Ban Lãnh đạo Cục có 1 đồng chí Cục trưởng.
Để kịp thời kiện toàn Ban lãnh đạo Cục, bổ sung Phó Cục trưởng. Đến tháng 6/2013, Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê đã ban hành quyết định tiếp nhận và bổ nhiệm ông Phạm Hùng Sơn - Phó Trưởng phòng Tổng hợp UBND tỉnh Tuyên Quang giữ chức vụ Phó Cục trưởng Cục Thống kê Tuyên Quang.
Tháng 7 năm 2013, Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê đã ban hành quyết định bổ nhiệm ông Nguyễn Văn Chuyển - Trưởng phòng Tổ chức - Hành chính giữ chức vụ Phó Cục trưởng Cục Thống kê Tuyên Quang.
Cùng với việc kiện toàn Ban lãnh đạo Cục, việc bổ sung lực lượng cán bộ chuyên môn nghiệp vụ cũng được Cục Thống kê và Tổng cục Thống kê quan tâm, Cục đã phối hợp với Tổng cục Thống kê tổ chức nhận hồ sơ thi tuyển công chức. Căn cứ kết quả thi tuyển công chức, tháng 12/2011 Tổng cục Thống kê ban hành quyết định về việc tuyển dụng và bổ nhiệm vào ngạch công chức cho 7 công chức. Năm 2014-2015, Tổng cục Thống kê ban hành quyết định bổ nhiệm vào ngạch công chức 9 công chức.
Tính đến tháng 12/2015, toàn ngành thống kê Tuyên Quang hiện có 50 cán bộ công chức, 3 lao động hợp đồng theo Nghị định 68/NĐ-CP.
Ban lãnh đạo cục gồm có:
- Ông Nguyễn Việt Thái - Cục trưởng.
- Ông Nguyễn Văn Chuyển - Phó Cục trưởng.
- Ông Phạm Hùng Sơn - Phó Cục trưởng.
Về mô hình tổ chức: Thực hiện Quyết định số 188/QĐ-TCTK ngày 02/4/2014 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Thống kê tỉnh Tuyên Quang, lúc này tại Văn phòng Cục có 6 phòng nghiệp vụ với tổng số cán bộ nghiệp vụ tại Văn phòng Cục có 20 cán bộ công chức và 3 lao động hợp đồng theo Nghị định 68/NĐ-CP (1hợp đồng tạp vụ, 2 hợp đồng lái xe) được bố trí như sau:
- Phòng Tổ chức - Hành chính có 4 cán bộ do bà Đỗ Thị Bích làm Phó Trưởng phòng, phụ trách phòng.
- Phòng Thống kê Tổng hợp có 3 cán bộ do ông Vũ Tuấn Hà làm Trưởng phòng.
- Phòng Thanh tra có 1 cán bộ do ông Phạm Quang Vinh làm Trưởng phòng.
- Phòng Thống kê Công - Thương có 4 cán bộ do bà Vũ Thị Bích Thuỷ làm Trưởng phòng.
- Phòng Thống kê Nông nghiệp có 4 cán bộ do bà Nguyễn Thị Thu Nga phụ trách phòng.
- Phòng Thống kê Dân số - Văn xã có 3 cán bộ do bà Lê Thị Thu Nga làm Trưởng phòng.
Chi cục Thống kê huyện, thành phố có 31 cán bộ, được bố trí như sau:
- Chi cục Thống kê thành phố Tuyên Quang có 4 cán bộ do bà Nguyễn Thị Thu Hiền làm Chi cục trưởng.
- Chi cục Thống kê huyện Na Hang có 4 cán bộ do ông Quan Văn Tuấn làm Chi cục trưởng.
- Chi cục thống kê huyện Hàm Yên có 4 cán bộ do ông Nguyễn Công Mẫn làm Chi cục trưởng.
- Chi cục Thống kê huyện Sơn Dương có 6 cán bộ do ông Hồ Khánh Hoàn làm Phó Chi cục trưởng phụ trách Chi cục.
- Chi cục Thống kê huyện Yên Sơn có 4 cán bộ do bà Ngô Thị Thu Sang làm Chi cục trưởng.
- Chi cục Thống kê huyện Chiêm Hoá có 5 cán bộ do ông Ma Văn Dương làm Chi cục trưởng.
- Chi cục Thống kê huyện Lâm Bình có 4 cán bộ do ông Lục Văn Quang làm Chi cục trưởng.
Để kịp thời động viên cán bộ công chức làm công tác thống kê, ngày 27/3/2009 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 45/2009/QĐ-TTg về chế độ phụ cấp ưu đãi theo nghề đối với cán bộ, công chức làm công tác thống kê. Kể từ khi có chế độ phụ cấp ưu đãi theo nghề đối với cán bộ, công chức làm công tác thống kê, đời sống cán bộ làm công tác thống kê được cải thiện, cán bộ thống kê gắn bó với nghề hơn.
3. Mạng lưới thống kê
3.1. Thống kê xã, phường, thị trấn
Thống kê cấp xã không thuộc quản lý về tổ chức, cán bộ của ngành Thống kê, nhưng có vị trí quan trọng không thể thiếu được trong việc tổ chức thực hiện nhiệm vụ của ngành Thống kê, từ năm 1998 trở về trước, tổ chức bộ máy của mạng lưới thống kê cấp xã chủ yếu hoạt động theo Điều lệ 695/TTg ngày 20/2/1956 và Thông tư số 108/TTg ngày 25/3/1987 của Thủ tướng Chính phủ, tức là cấp xã có cán bộ làm công tác Ban Thống kê. Đại bộ phận cán bộ thống kê cấp xã của tỉnh Tuyên Quang đều kiêm nhiệm Văn phòng - Thống kê, cán bộ thống kê xã không được ổn định và thay đổi theo nhiệm kỳ của UBND và HĐND; Cán bộ thống kê xã, không được đào tạo cơ bản về chuyên môn nghiệp vụ, chỉ được hướng dẫn nghiệp vụ qua các đợt tập huấn điều tra, kê khai biểu mẫu, mang tính chất ghi chép ban đầu, không có khả năng tính toán, phân tích, tổng hợp tình hình thành một báo cáo hoàn chỉnh, giúp cấp ủy, chính quyền lãnh đạo điều hành phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Thực hiện Nghị định số 09/1999/NĐ-CP của Chính phủ và Thông tư hướng dẫn của Ban tổ chức cán bộ Chính phủ (nay là Bộ Nội vụ) từ năm 2000 đến nay, Thống kê cấp xã được quy định trong một biên chế cán bộ Văn phòng - Thống kê tổng hợp, đến nay hầu hết các xã, phường, thị trấn đều bố trí 1 cán bộ kiêm nhiệm công tác thống kê. Về cơ bản cán bộ làm công tác thống kê xã, phường, thị trấn đều có trình độ chuyên môn từ Trung cấp trở lên ngoài ra cán bộ thống kê còn được cử đi học quản lý nhà nước, bồi dưỡng lý luận chính trị qua hệ thống trường Đảng của tỉnh và huyện. Trong công tác chuyên môn cán bộ thống kê cơ sở đã tổ chức triển khai thực hiện các cuộc điều tra thống kê theo kế hoạch của Cục Thống kê, ngoài ra còn tham mưu giúp cấp ủy Đảng, chính quyền tổng hợp số liệu, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch.
3.2. Thống kê các sở, ban, ngành, doanh nghiệp
Tại các sở, ban, ngành, các đơn vị sản xuất kinh doanh, đơn vị sự nghiệp trên địa bàn tỉnh, đều bố trí cán bộ làm công tác thống kê tổng hợp chuyên trách hoặc kiêm nhiệm công tác tài vụ, kế toán - thống kê. Hầu hết cán bộ thống kê các sở, ban, ngành, các đơn vị đều tốt nghiệp đại học hoặc trung cấp thống kê - kế toán hoặc đại học chuyên ngành. Trong hoạt động, thực hiện nhiệm vụ thống kê, cán bộ thống kê tại các sở, ban, ngành, các đơn vị đã đóng góp tích cực, thực hiện tốt chế độ báo cáo thống kê, góp phần quan trọng trong việc thực hiện nhiệm vụ chuyên môn do Cục Thống kê chỉ đạo.
4. Về chế độ báo cáo
4.1. Thống kê tổng hợp
Hàng năm, Cục tiếp tục thực hiện chế độ báo cáo với Tổng cục theo Qui định 296/TCTK ngày 5/11/1995. Gồm báo cáo ước tính số liệu, phân tích tình hình thực hiện kế hoạch kinh tế - xã hội quý I, 6 tháng, 9 tháng và dự báo cả năm (lần 1 và lần 2). Báo cáo kết quả thực hiện các chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu và biên soạn Niên giám Thống kê tỉnh. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ Cục Thống kê đã có nhiều đổi mới, ngoài việc đảm bảo hệ thống chỉ tiêu của Tổng cục Thống kê quy định. Ngành Thống kê Tuyên Quang đã bám sát các mục tiêu nghị quyết Đại hội đảng các cấp, Nghị quyết HĐND tỉnh, chương trình mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội hàng năm của địa phương, hướng dẫn, chỉ đạo hệ thống mạng lưới Thống kê trong tỉnh thu thập, tổng hợp báo cáo kịp thời, có hệ thống với cấp ủy và chính quyền các cấp, bước đầu có những dự báo tốc độ phát triển và khả năng thực hiện từng chỉ tiêu, chương trình có cơ sở khoa học, giúp cho sự chỉ đạo, điều hành của các cấp, các ngành hiệu quả hơn. Hàng tháng, lãnh đạo Cục đã chỉ đạo các phòng nghiệp vụ bám sát cơ sở, kịp thời phát hiện những số liệu và sự đánh giá khác giữa Cục với các ngành để tiến hành phúc tra, xác minh đi đến thống nhất khi báo cáo với tỉnh và Tổng cục Thống kê. Vì vậy báo cáo của Cục và Phòng Thống kê các huyện, thị xã đã được cấp ủy và chính quyền địa phương sử dụng trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo điều hành kinh tế - xã hội của địa phương.
Từ năm 1998, Tổng cục Thống kê giao nhiệm vụ hướng dẫn, thu thập tổng hợp Niên giám Thống kê huyện, Cục Thống kê đã chỉ đạo Phòng Thống kê các huyện, thị xã, phối hợp với các phòng nghiệp vụ, tổ chức thu thập thông tin biên soạn niên giám thống kê cấp huyện, nhờ có việc tổ chức biên soạn niên giám thống kê huyện, thị xã, các số liệu thống kê hàng năm được lưu giữ, phục vụ cho việc xây dựng hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
Thực hiện đề án đổi mới đồng bộ các hệ thống chỉ tiêu thống kê ban hành theo Quyết định số 312/QĐ-TTgngày 03/3/2010 của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã ban hành Thông tư số 08/2012/TT-BKHĐT ngày 07/11/2012 quy định chế độ báo cáo thống kê tổng hợp áp dụng đối với Cục Thống kê thành phố trực thuộc Trung ương, cùng với 63 Cục Thống kê tỉnh, thành phố trong cả nước Cục Thống kê Tuyên Quang triển khai thực hiện áp dụng từ ngày 07/11/2012, chế độ báo cáo ban hành theo Thông tư 08/2012/TT-BKHĐT Cục Thống kê Tuyên Quang phải thực hiện 10 biểu báo cáo gồm các báo cáo về giá trị sản xuất, chi phí tăng thêm thuế và trợ cấp sản phẩm phân theo ngành kinh tế cấp I, II (theo giá hiện hành và giá so sánh); tổng sản phẩm bình quân đầu người; thu ngân sách nhà nước tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; chi ngân sách địa phương và cân đối ngân sách địa phương.
Về biên soạn Niên giám Thống kê, định kỳ hàng năm Cục Thống kê duy trì biên soạn niên giám Thống kê. Đây là cuốn số liệu quan trọng, hệ thống hóa toàn bộ dữ liệu thống kê tổng hợp của ngành qua các năm bên cạnh việc tổ chức biên soạn cuốn niên giám thống kê tỉnh, hàng năm chỉ đạo Chi cục Thống kê các huyện, thành phố biên soạn niên giám, hệ thống hóa số liệu, cập nhật các chỉ tiêu kinh tế - xã hội ở cấp huyện, phục vụ cho sự chỉ đạo, điều hành của cấp huyện, đồng thời cũng là một nhiệm vụ quan trọng cần duy trì thực hiện của ngành Thống kê. Nhằm lưu trữ số liệu một cách có hệ thống.
Ngoài việc biên soạn cuốn Niên giám Thống kê, hàng năm Cục Thống kê còn biên soạn hệ thống số liệu ước tính các chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu dưới hình thức tờ gấp phục vụ cho các kỳ họp của Tỉnh ủy và HĐND tỉnh.
4.2. Hệ thống tài khoản quốc gia
Đối với chế độ báo cáo hệ thống tài khoản quốc gia, Cục Thống kê tỉnh thực hiện nhiệm vụ theo Quyết định 32/TCTK-QĐ ngày 29/3/1994 của Tổng cục Thống kê và có bổ sung một số nhiệm vụ mới. Năm 1997 báo cáo bảng cân đối sản phẩm chủ yếu trong nông nghiệp (gồm 6 sản phẩm chính trồng trọt và chăn nuôi). Năm 1995, báo cáo tài sản cố định khu vực hành chính sự nghiệp, tổ chức một số cuộc điều tra thu thập thông tin tất cả các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp (GDP) như điều tra kết quả hoạt động dịch vụ ngoài quốc doanh (năm 2001 - 2002), thu thập thông tin để ước tính các chỉ tiêu GDP quý (từ năm 2001).
Ngày 11/01/2003, Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê ra Quyết định số 75/2003/QĐ -TCTK ban hành tạm thời chế độ báo cáo Thống kê định kỳ tài khoản quốc gia áp dụng từ ngày 01/01/2003, thay thế Quyết định 31/TCTK-PPCĐ, theo quyết định này, giảm một số chỉ tiêu báo cáo chính thức về tài chính doanh nghiệp Nhà nước, thực hiện 16 biểu về tổng hợp hệ thống tài khoản quốc gia, về tài sản cố định doanh nghiệp Nhà nước và khu vực hành chính sự nghiệp về thống kê Ngân hàng và thống kê Ngân sách.
4.3. Thống kê công nghiệp, XDCB và GTVT
a. Thống kê Công nghiệp
Những năm qua, Tổng cục Thống kê đã ban hành một số quyết định về chế độ báo cáo thống kê Công nghiệp áp dụng cho các Cục Thống kê tỉnh, thành phố.
- Năm 1997, Ban hành Quyết định số 146/TCTK-QĐ quy định báo cáo tháng gồm 2 biểu: Giá trị sản xuất và sản phẩm công nghiệp chủ yếu. Báo cáo năm gồm 12 biểu: Giá trị sản xuất công nghiệp chia theo thành phần kinh tế, giá trị công nghiệp và doanh thu của các cơ sở sản xuất công nghiệp nhỏ, sản phẩm công nghiệp nhỏ, doanh thu, lợi nhuận và các khoản nộp ngân sách, nguồn vốn và tài sản của doanh nghiệp, nguồn vốn và tài sản của doanh nghiệp nhỏ, lao động, tiền công và nộp ngân sách của doanh nghiệp nhỏ, giá trị sản xuất, chi phí trung gian, giá trị tăng thêm của doanh nghiệp Nhà nước, giá trị sản xuất, chi phí trung gian, giá trị tăng thêm của doanh nghiệp ngoài quốc doanh.
- Năm 1999, tiếp tục sửa đổi, bổ sung chế độ báo cáo, phạm vi thu thập thông tin các biểu báo cáo được mở rộng hơn: Cả công nghiệp địa phương, công nghiệp quốc doanh Trung ương và công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, sửa đổi phương án điều tra công nghiệp cá thể, theo đó các hộ được chọn mẫu đại diện điều tra ở các xã, phường, thị trấn có quy mô sản xuất lớn (không chọn ở các xã, phường có ít hộ sản xuất công nghiệp).
- Năm 2001, Cục tiến hành chỉ đạo điều tra tình hình sản xuất của các loại hình doanh nghiệp theo Quyết định số 109/TCTK-QĐ ngày 20/3/2001 của Tổng cục Thống kê nhằm thu thập thông tin phục vụ báo cáo chính thức năm 2000 về doanh nghiệp của các chuyên ngành sản xuất và làm dữ liệu về doanh nghiệp phục vụ cho việc đánh giá tình hình chuyển đổi cơ chế quản lý doanh nghiệp Nhà nước.
- Năm 2002, Tổng cục Thống kê ban hành Quyết định số 735/2002 ngày 15/11/2002 quy định chế độ báo cáo Thống kê định kỳ chính thức về Thống kê công nghiệp, theo chế độ này, báo cáo tháng gồm 3 biểu (Giá trị sản xuất theo giá cố định, giá trị sản xuất theo giá thực tế và sản phẩm công nghiệp chủ yếu). 10 biểu báo cáo chính thức năm (Gồm các chỉ tiêu theo thành phần kinh tế, loại hình doanh nghiệp nhỏ, Quyết định số 146/TCTK-QĐ năm 1997). Trong đó kết quả điều tra chọn mẫu 3 cấp có chủ định đối với các đơn vị cơ sở sản xuất công nghiệp ngoài quốc doanh thời điểm 01/12 hàng năm, được sử dụng vào báo cáo năm về cơ sở, lao động, nguồn vốn, tài sản, doanh thu, nộp ngân sách và chi phí sản xuất.
Thực hiện Thông tư số 08/2012/TT-BKHĐT ngày 07/11/2012 của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư, quy định Chế độ báo cáo thống kê công nghiệp:
Báo cáo tháng gồm: Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp; Chỉ số sản xuất công nghiệp (theo giá hiện hành); Chỉ số sản xuất công nghiệp (theo giá so sánh 2010); Sản phẩm chủ yếu ngành công nghiệp; Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo; Chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo; Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp.
Báo cáo năm gồm: Giá trị sản xuất công nghiệp (theo giá so sánh 1994); Giá trị sản xuất công nghiệp (theo giá hiện hành); Giá trị sản xuất công nghiệp (theo giá so sánh 2010); Sản phẩm chủ yếu ngành công nghiệp; Lao động ngành công nghiệp; Số lượng cơ sở ngành công nghiệp; Nguồn vốn, tài sản cố định cơ sở cá thể ngành công nghiệp thời điểm 01/10; Doanh thu, nộp ngân sách cơ sở cá thể ngành công nghiệp năm vào ngày 30/4 năm sau.
b. Thống kê XDCB
Đối với nghiệp vụ này, vẫn tiếp tục thực hiện chế độ báo cáo theo Quyết định 59/TCTK-QĐ ngày 4/4/1995 của Tổng cục Thống kê. Năm 1997 tiến hành điều tra tình hình sản xuất, kinh doanh và vốn đầu tư phát triển của các doanh nghiệp xây lắp ngoài quốc doanh phục vụ cho việc tổng hợp báo cáo chính thức về XDCB. Năm 2001, tiến hành điều tra vốn đầu tư phát triển toàn xã hội năm 2000 và dự báo đầu tư phát triển năm 2001, làm cơ sở cho việc dự báo khả năng thu hút vốn đầu tư các năm tiếp theo. Từ năm 2002, Tổng cục Thống kê sửa đổi nội dung báo cáo chính thức năm 2001 về vốn đầu tư XDCB thành vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn Nhà nước do địa phương quản lý. Cùng với các báo cáo theo chế độ quy định của Tổng cục Thống kê, hàng năm Cục Thống kê Tuyên Quang đã giúp cấp ủy, chính quyền các cấp đánh giá về tăng trưởng cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, xác định độ bền vững của tăng trưởng hàng năm của nền kinh tế - xã hội của tỉnh. Thực hiện Thông tư số 08/2012/TT-BKHĐT ngày 07/11/2012 của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư, quy định Chế độ báo cáo thống kê Xây dựng. Cục Thống kê đã tổ chức triển khai thực hiện các báo cáo tháng, quý, năm gồm: Thực hiện vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý; Thực hiện vốn đầu tư phát triển trên địa bàn quý; Ước thực hiện vốn đầu tư phát triển trên địa bàn năm; Thực hiện vốn đầu tư phát triển trên địa bàn chia theo nguồn vốn và chia theo khoản mục đầu tư năm; Thực hiện vốn đầu tư phát triển trên địa bàn chia theo ngành kinh tế cấp II (VSIC 2007) năm; Giá trị tài sản cố định của khu vực doanh nghiệp thời điểm 31/12 hàng năm; Giá trị tài sản cố định của đơn vị hành chính sự nghiệp thời điểm 31/12 hàng năm; Danh mục dự án/công trình thực hiện trên địa bàn năm; Báo cáo hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tháng; Giá trị sản xuất ngành xây dựng theo giá hiện hành quý; Giá trị sản xuất ngành xây dựng theo giá so sánh quý; Giá trị sản xuất ngành xây dựng theo giá hiện hành năm; Giá trị sản xuất ngành xây dựng theo giá so sánh năm; Công trình, hạng mục công trình xây dựng hoàn thành trong 5 năm; Số lượng doanh nghiệp xây dựng và cơ sở cá thể hoạt động xây dựng có đến 31/12 hàng năm; Số lượng lao động trong doanh nghiệp xây dựng và cơ sở cá thể hoạt động xây dựng có đến 31/12 hàng năm; Thu nhập của người lao động trong doanh nghiệp xây dựng năm; Tài sản và nguồn vốn của doanh nghiệp xây dựng năm; Doanh thu, nộp ngân sách của doanh nghiệp xây dựng năm; Nhà tự xây, tự ở hoàn thành trong năm của hộ dân cư.
c. Thống kê Giao thông vận tải
Đến thời điểm hiện nay, về cơ bản Thống kê Giao thông vận tải thực hiện báo cáo các chỉ tiêu như đã quy định theo Quyết định số 03/TCTK Tổng cục Thống kê. Báo cáo tháng về vận tải hàng hoá, hành khách, bốc xếp, đơn vị vận tải, giá trị sản xuất, chi phí trung gian và giá trị tăng thêm của ngành vận tải bốc xếp. Năm 1998 tiến hành điều tra mạng lưới giao thông theo Quyết định số 192/QĐ-TCTK của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê đã phục vụ kịp thời cho công tác quản lý, chỉ đạo và đảm bảo an toàn giao thông.
Từ ngày 01/01/2003, Cục Thống kê Tuyên Quang thực hiện chế độ báo cáo Thống kê định kỳ vận tải, bốc xếp, dịch vụ, đại lý vận tải và bưu chính viễn thông theo Quyết định số 732/2002/QĐ-TCTK ngày 15/11/2002 của TCTK. Theo quyết định này chế độ báo cáo có một số thay đổi: Bổ sung thêm phần bưu chính viễn thông (áp dụng đối với đơn vị không thuộc tổng công ty Bưu chính viễn thông), thêm báo cáo giao thông công cộng đường bộ và đường sông đến 31/12 hàng năm và chỉ tiêu về phương tiện vận tải, số lượng doanh nghiệp và cơ sở vận tải, bốc xếp, dịch vụ, đại lý vận tải có đến 31/12 hàng năm.
Phương pháp thu thập số liệu về giao thông vận tải trong thời kỳ này theo Quyết định số 732/202QĐ-TCTK ngày 15/11/2002 đối với các doanh nghiệp Nhà nước chủ yếu dựa vào chế độ báo cáo định kỳ, đối với doanh nghiệp và các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh chủ yếu theo điều tra chọn mẫu thời điểm 01/10 hàng năm, phù hợp với cơ chế quản lý của nền kinh tế thị trường.
4.4. Thống kê Nông, lâm nghiệp
Đối với chế độ báo cáo thống kê Nông, Lâm nghiệp vẫn thực hiện chế độ báo cáo theo quyết định số 300/TCTK-NLTS ngày 19/7/1996 thay thế cho chế độ báo cáo theo quyết định 1995/TCTK-NN; theo quyết định này, chế độ báo cáo rộng hơn về phạm vi và số lượng chỉ tiêu như: Công tác thủy lợi, diện tích năng suất, sản lượng cây lâu năm; khai thác gỗ và lâm sản. Nuôi trồng thủy sản, sản lượng, sản phẩm ngành thủy sản và giá trị sản xuất, chi phí trung gian và giá trị tăng thêm của 3 ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản.
Đầu năm 1997 đến nay Tổng cục Thống kê bổ sung chế độ báo cáo trang trại thời điểm 01/7 hàng năm. Ngày 30/6/1998 Tổng cục Thống kê ra quyết định số 359/TCTK về tiến hành điều tra trang trại. Từ năm 2002 bổ sung thêm chế độ báo cáo phân tích tình hình Nông, Lâm nghiệp hàng tháng, quý, 6 tháng và cả năm. Năm 2001 tiến hành điều tra Nông thôn, nông nghiệp và thủy sản lần 2 theo Quyết định số 34/QĐ-TTg ngày 13/3/2001 của Thủ tướng Chính phủ. Gồm 05 nội dung chính:
- Tình hình cơ bản Nông thôn.
- Cơ sở hạ tầng của các xã và thực trạng tình hình thực hiện chủ trương công nghiệp hóa, hiện đại hóa Nông nghiệp - Nông thôn.
- Quan hệ sản xuất nông thôn, kinh tế trang trại.
- Năng lực sản xuất ngành thủy sản.
- Cơ cấu nông thôn, nông nghiệp và thủy sản và vốn trong nông thôn.
Cuộc Tổng điều tra Nông thôn - nông nghiệp và thuỷ sản lần thứ 2, được thực hiện ở thời điểm 01/10/2001.
Cuộc tổng điều tra Nông thôn - nông nghiệp và thuỷ sản lần thứ 3, được thực hiện ở thời điểm 01/7/2006.
Cuộc tổng điều tra Nông thôn - nông nghiệp và thuỷ sản lần thứ 4, được thực hiện ở thời điểm 01/7/2011.
Ngày 02/10/2002 Tổng cục Thống kê ban hành Quyết định số 657/2002 thay cho chế độ báo cáo theo quyết định số 300/TCTK-NLTS. Ngày 19/7/1996 theo quyết định này số lượng chỉ tiêu, biểu mẫu rút gọn hơn, bỏ biểu hộ, khẩu, lao động Nông, lâm nghiệp và thuỷ sản, diện tích các loại đất. Một số năng lực thiết bị chủ yếu, cơ giới hoá làm đất và tưới tiêu cho cây trồng hàng năm, các biểu chi phí trung gian giá trị tăng thêm các ngành Nông, lâm nghiệp và thuỷ sản. Bổ sung thêm một số chỉ tiêu cơ bản về Hợp tác xã, về trang trại, doanh nghiệp Nông, lâm nghiệp và thuỷ sản có vốn đầu tư nước ngoài. Trong chỉ đạo tổ chức thực hiện nhiệm vụ thống kê Nông nghiệp, ngoài việc thu thập thông tin đáp ứng nhiệm vụ Tổng cục Thống kê giao, Cục Thống kê tỉnh còn lồng ghép chỉ đạo thu thập số liệu, tổng hợp phân tích phục vụ công tác chỉ đạo nhiệm vụ phát triển Nông, lâm nghiệp và thuỷ sản theo hướng sản xuất hàng hoá của địa phương. Những số liệu điều tra trên đã được cấp uỷ, chính quyền các cấp, các ngành khai thác, sử dụng vào công tác lãnh đạo, chỉ đạo phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Theo yêu cầu của cấp uỷ, chính quyền các cấp và yêu cầu đổi mới trong việc thu thập, phân tích và cung cấp thông tin thống kê, Thống kê Nhà nước đã tiến hành tính toán giá trị sản phẩm/1 ha diện tích từ năm 2003. Ngày 7/11/2012 Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã ban hành Thông tư số 08/2012/TT-BKHĐT Quy định chế độ báo cáo thống kê tổng hợp áp dụng đối với Cục Thống kê tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Tại Thông tư 08/2012/TT-BKHĐT ngày 7/11/2012, nghiệp vụ thống kê Nông nghiệp phải áp dụng thực hiện 32 biểu gồm: Một số chỉ tiêu chủ yếu của trang trại; Một số chỉ tiêu cơ bản của trang trại; Giá trị sản phẩm trên 1 ha đất trồng trọt và nuôi trồng thủy sản; Diện tích, năng suất, sản lượng cây hàng năm; diện tích, năng suất, sản lượng cây lâu năm; số lượng và sản phẩm chăn nuôi; Giá trị sản xuất nông nghiệp (theo giá hiện hành và giá so sánh 2010); Giá trị sản xuất lâm nghiệp (theo giá hiện hành và giá so sánh 2010); Giá trị sản xuất thủy sản (theo giá hiện hành và giá so sánh 2010); Trồng, chăm sóc và nuôi dưỡng rừng; Khai thác, thu nhặt gỗ và lâm sản; thiệt hại rừng; Tình hình cơ bản về nuôi trồng và khai thác thủy sản nội địa; Sản lượng thủy sản...
Ngày 27/9/2010 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1785/QĐ-TTg Về tổ chức Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp và thủy sản năm 2011. Nội dung cuộc Tổng điều tra lần này bao gồm:
- Thực trạng nền sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản: Số lượng đơn vị sản xuất; số lao động và cơ cấu lao động; quy mô sản xuất; năng lực sản xuất, tình hình thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá và ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản; tiếp cận thông tin của các đơn vị sản xuất; tác động của sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản tới môi trường; phát triển kinh tế trang trại; vai trò phụ nữ,... trong sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản.
- Thực trạng nông thôn: Thực trạng và sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn; thực trạng và những chuyển biến về kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn.
- Thông tin về cư dân nông thôn: Điều kiện sống của cư dân nông thôn; tích luỹ và khả năng huy động vốn, tình hình vay vốn, khả năng tiếp cận tín dụng của cư dân nông thôn; đào tạo nghề cho lao động nông thôn.
4.5. Thống kê Thương mại, giá cả và dịch vụ
Thống kê Thương nghiệp, Vật tư thực hiện theo Quyết định số 34/TCTK ngày 01/4/1994, thống kê Du lịch theo Quyết định số 110/TCTK và thống kê Giá cả theo Quyết định số 302/TCTK-QĐ.
Từ năm 1997 tình hình thị trường đã có sự biến đổi lớn về cơ cấu, thành phần kinh tế trên thị trường, mức lưu chuyển hàng hoá của các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh chiếm tỷ trọng chủ yếu, ngay cả các tổ chức thương nghiệp, quốc doanh chủ yếu đã khoán cho mậu dịch viên về doanh thu và mức thuế, vốn, nguồn hàng… chủ yếu do mậu dịch viên đầu tư và khai thác do đó Tổng cục Thống kê đã sửa đổi, bổ sung thay thế chế độ báo cáo bằng chế độ điều tra:
- Chế độ báo cáo thống kê định kỳ Thương nghiệp, khách sạn, nhà hàng, du lịch ngày 15/11/2002 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê ra Quyết định số 734/2002/QĐ-TCTK thay thế cho Quyết định số 34/TCTK-QĐ ngày 1/4/1994.
- Từ Quyết định số 219/TCTK ngày 5/6/1967 về việc điều tra thương nghiệp, khách sạn, nhà hàng ngoài quốc doanh định kỳ hàng năm được thay thế bằng Quyết định số 256/TCTK-QĐ ngày 10/7/1997 về chế độ điều tra lưu chuyển hàng hoá và dịch vụ hàng tháng.
Đến ngày 29/7/2003 Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kêban hành quyết định mới thay thế cho Quyết định số 256/TCTK-QĐ ngày 10/7/1997 cụ thể:
+ Quyết định số 410/2003/QĐ-TCTK ngày 29/7/2003 về việc ban hành phương án điều tra Thống kê định kỳ kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp ngoài Nhà nước có ngành kinh doanh chính là Thương nghiệp, Khách sạn, Nhà hàng, Du lịch và Dịch vụ.
+ Quyết định số 411/2003/QĐ-TCTK ngày 29/7/2003 về việc ban hành phương án điều tra thống kê định kỳ kết quả kinh doanh của các cơ sở cá thể thuộc ngành Thương nghiệp, Khách sạn, Nhà hàng, Du lịch và Dịch vụ.
Ngày 19/7/2003, Tổng cục Thống kê ban hành Quyết định số 412/2003/QĐ-TCTK về việc điều tra báo cáo thống kê giá tiêu dùng, Quyết định này thay thế cho Quyết định số 302/TCTK-QĐ ngày 30/10/1995 cho phù hợp với điều kiện thực tế của nền kinh tế thị trường.
Từ tháng 01 năm 1998 chế độ báo cáo thống kê Thương mại có sự cải tiến, báo cáo giá và chỉ số giá bán lẻ hàng hoá và dịch vụ được cải tiến thành báo cáo giá và chỉ số giá tiêu dùng. Phạm vi thu thập thông tin, tổng mức lưu chuyển hàng hoá và dịch vụ xã hội bao gồm tất cả các thành phần kinh tế trên địa bàn: Quốc doanh địa phương, quốc doanh Trung ương, thương nghiệp ngoài quốc doanh, hộ cá thể và bán lẻ trực tiếp của các đơn vị sản xuất, xuất nhập khẩu chỉ bao gồm phần xuất nhập khẩu của các thành phần kinh tế do địa phương quản lý.
Năm 2001 Tổng cục Thống kê bỏ chế độ báo cáo chính thức 6 tháng đầu năm. Song Cục Thống kê vẫn duy trì chế độ báo cáo Thương mại, Dịch vụ 6 tháng đầu năm đồng bộ với báo cáo các ngành kinh tế khác, phục vụ báo cáo các kỳ họp cuối năm của HĐND các cấp, năm 2002 Cục Thống kê phối hợp với các ngành của tỉnh tiến hành cuộc Tổng điều tra các cơ sở kinh tế, hành chính, sự nghiệp lần 2 vào thời điểm 01/7/2002 theo Quyết định số 05/2002/QĐ-TTg ngày 04/1/2002 của Thủ tướng Chính phủ. Cuộc điều tra nhằm thu thập số liệu về số lượng đơn vị, địa điểm hoạt động, loại hình tổ chức, số lượng lao động, một số kết quả hoạt động cơ bản và một số chỉ tiêu về tình hình ứng dụng công nghệ thông tin của đơn vị cơ sở hoạt động sản xuất kinh doanh, quản lý hành chính, hoạt động Đảng, đoàn thể, hoạt động sự nghiệp trên địa bàn (trừ hộ sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản). Cũng trong năm 2002 Tổng cục Thống kê tiếp tục cải tiến chế độ báo cáo thống kê Thương mại định kỳ áp dụng từ tháng 1/2003. Báo cáo tháng (cũ 06 biểu), 11 biểu báo cáo chính thức năm (cũ 15 biểu) trong đó có một số chỉ tiêu mới là :
- Báo cáo tháng: Giá bán của người sản xuất Nông, lâm nghiệp - Thủy sản, Công nghiệp, Vật tư.
- Báo cáo quý: Chỉ số giá bán lẻ sản phẩm của người sản xuất Nông, Lâm nghiệp - Thủy sản.
- Báo cáo năm: Kết quả kinh doanh Khách sạn, nhà hàng, du lịch lữ hành, khách sạn du lịch do cơ sở lưu trú, cơ sở du lịch lữ hành phục vụ, năng lực và kết quả hoạt động của các cơ sở lưu trú du lịch, danh mục khách sạn, điểm cắm trại và các dịch vụ nghỉ trọ ngắn ngày, báo cáo điều tra định kỳ thương nghiệp dịch vụ ngoài quốc doanh.
Để phục vụ kịp thời sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp và phản ánh những cố gắng của hoạt động xuất, nhập khẩu của tỉnh, Cục Thống kê đã thực hiện thu thập gồm cả xuất nhập khẩu trên địa bàn, gồm kinh tế quốc doanh, các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh và các đơn vị kinh tế khác đóng trên địa bàn tỉnh tham gia hoạt động xuất, nhập khẩu.
Thực hiện Đề án đổi mới đồng bộ các hệ thống chỉ tiêu thống kê ban hành theo Quyết định 312/QĐ-TTg ngày 02/3/2010 của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã ban hành Thông tư số 08/2012/TT-BKHĐT ngày 07/11/2012 quy định chế độ báo cáo thống kê tổng hợp, Chế độ báo cáo chuyên ngành thương mại và dịch vụ áp dụng đối với Cục Thống kê tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Do vậy, kể từ ngày 7/11/2012 Cục Thống kê Tuyên Quang phải thực hiện 27 biểu báo cáo gồm:
Báo cáo tháng gồm: Tổng mức bán lẻ hàng hóa; Doanh thu của một số ngành kinh doanh dịch vụ; Kết quả hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành; Kết quả hoạt động vận tải hành khách; Kết quả hoạt động vận tải hàng hóa; Kết quả hoạt động kho bãi, hỗ trợ vận tải; Xuất khẩu hàng hóa; Nhập khẩu hàng hóa; Thu/chi về dịch vụ với nước ngoài (Xuất, nhập khẩu dịch vụ).
Báo cáo năm gồm: Tổng mức bán lẻ hàng hóa; Kết quả hoạt động bán lẻ hàng hóa; Doanh thu của một số ngành kinh doanh dịch vụ; Kết quả hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành; Khách du lịch do cơ sở lưu trú, cơ sở du lịch lữ hành phục vụ; Khách du lịch do cơ sở lưu trú phục vụ phân theo loại cơ sở lưu trú; Năng lực và kết quả hoạt động của các cơ sở lưu trú du lịch; Danh sách khách sạn, điểm cắm trại và các dịch vụ nghỉ trọ ngắn ngày; Kết quả hoạt động vận tải hành khách; Kết quả hoạt động vận tải hàng hóa; Doanh thu hoạt động kho bãi, hỗ trợ vận tải; Số phương tiện vận tải trong các đơn vị kinh doanh vận tải có đến 31/12; Số phương tiện vận tải đang lưu hành; Giao thông công cộng đường bộ và đường sông; Khối lượng hàng hóa thông qua cảng; Xuất khẩu hàng hóa; Nhập khẩu hàng hóa; Thu/chi về dịch vụ với nước ngoài (Xuất, nhập khẩu dịch vụ).
4.6. Thống kê Dân số, xã hội, môi trường
a. Thống kê Dân số và Lao động
Cho đến năm 2001, ngành Thống kê Tuyên Quang vẫn tổ chức thực hiện chế độ báo cáo chính thức và ước tính dân số hàng năm, điều tra điển hình về biến động dân số và KHHGĐ vào thời điểm 01/4 và 01/10 hàng năm. Báo cáo tình hình điều động dân cư đi xây dựng vùng kinh tế mới. Tình hình giải quyết việc làm ở khu vực thành thị, tình hình lao động, tiền lương khu vực Nhà nước.
Ngày 01/4/1999 thực hiện Quyết định số 106/1998/QĐ-TTg ngày 09/6/1998 của Thủ tướng Chính phủ. Cục Thống kê tỉnh đã giúp ban chỉ đạo Tổng điều tra Dân số tiến hành cuộc Tổng điều tra Dân số và nhà ở lần thứ ba.
Nội dung điều tra: Thu thập toàn diện về số lượng, cơ cấu dân số, nguồn lao động (18 câu hỏi), về nhà ở của các hộ dân cư (9 câu hỏi) điều tra mẫu về khả năng sinh đẻ của phụ nữ, tình hình tử vong của các hộ (13 câu hỏi).
Từ đầu năm 2002 theo chế độ báo cáo cải tiến (dự thảo) Tổng cục Thống kê bãi bỏ chế độ báo cáo điều tra lao động dân cư đi xây dựng vùng kinh tế mới. Đồng thời sửa đổi, bổ sung 5 biểu báo cáo chính thức năm về lao động xã hội đó là:
1- Số người từ 45 tuổi trở lên hoạt động kinh tế và những hoạt động kinh tế.
2- Lao động có việc phân theo ngành kinh tế quốc dân.
3- Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động và thất nghiệp.
4- Lao động có việc làm phân theo loại hình kinh tế.
5- Đăng ký xin việc làm và giải quyết việc làm khu vực thành thị.
b. Thống kê xã hội - Môi trường
Cục Thống kê tỉnh Tuyên Quang tổ chức thực hiện các báo cáo định kỳ, chính thức giáo dục, đào tạo, y tế, văn hóa thông tin, đời sống dân cư, xã hội, môi trường theo qui định của Tổng cục Thống kê. Do tình hình xã hội ngày càng phát triển và tăng cường quản lý của Nhà nước các cấp, nên chế độ báo cáo Thống kê Xã hội - Môi trường ngày càng mở rộng. Năm 1997 bổ sung thêm báo cáo tình hình xã hội cấp xã và tiến hành điều tra hộ gia đình đa mục tiêu hàng năm. Năm 1998, bổ sung thêm chế độ báo cáo phát thanh, báo cáo xã hội, môi trường, báo cáo Lao động - TBXH chính thức năm và báo cáo tình hình, tiến độ thực hiện chương trình phổ cập giáo dục trung học cơ sở, các báo cáo về giáo dục chi tiết, cụ thể hơn như báo cáo tình hình đào tạo chuyên nghiệp, công nhân kỹ thuật, báo cáo y tế, tình hình dịch bệnh lây lan 6 tháng và cả năm. Năm 1999, bổ sung chế độ báo cáo tình hình Xã hội - Môi trường hàng quý. Năm 2000, tiếp tục bổ sung chế độ báo cáo đối với thư viện, trung tâm văn hóa, thể thao, triển lãm, bảo tàng, di tích lịch sử, di tích văn hóa, xuất bản và phát hành sách. Từ ngày 01/01/2003, Cục Thống kê Tuyên Quang áp dụng chế độ báo cáo định kỳ về giáo dục - đào tạo, văn hóa thông tin, Thể dục thể thao, y tế, thiếu đói trong nông dân theo Quyết định số 730/2002/TCTK-QĐ ngày 15/11/2002 của Tổng cục Thống kê thay thế cho chế độ báo cáo theo Quyết định 220 ngày 31/12/1990 của Tổng cục Thống kê. Từ khi Thông tư số 08/2012/TT-BKHĐT ngày 07/11/2012 của Bộ Kế hoạch đầu tư có hiệu lực thi hành, Phòng Thống kê Dân số - Văn xã đã triển khai thực hiện chế độ báo cáo chuyên ngành xã hội và môi trường cụ thể như: Lĩnh vực thống kê chuyên ngành xã hội môi trường có 10 biểu báo các gồm các biểu: Giáo dục phổ thông đầu năm học; Học sinh phổ thông chia theo lớp học đầu năm học; Giáo viên và học sinh phổ thông giữa năm học; Học viên giáo dục thường xuyên giữa năm học; Học sinh phổ thông bỏ học; học sinh tốt nghiệp phổ thông và giáo dục thường xuyên; Cơ sở y tế và giường bệnh (có đến 31/12 năm..); Nhân lực ý tế (có đến 31/12 năm...); Đánh giá thiệt hại do thiên tai; thiếu đói trong dân. Đến năm 2015 nghiệp vụ thống kê xã hội và môi trường có thay đổi, 2 báo cáo (Giáo viên và học sinh phổ thông giữa năm học…; giáo dục thường xuyên giữa năm học…). Số liệu ngành giáo dục không thu thập được nên Tổng cục Thống kê bỏ không áp dụng.
Ngoài ra, định kỳ hàng tháng Phòng Dân số - Văn xã còn phải triển khai thực hiện các báo cáo tháng: Phân tích xã hội - môi trường, đời sống dân cư.
Tóm lại, khi tổ chức triển khai thực hiện chế độ báo cáo thống kê tổng hợp, Cục Thống kê Tuyên Quang đã triển khai áp dụng thuộc các lĩnh vực thống kê Tài khoản quốc gia: 10 biểu; Lĩnh vực thống kê Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản: 32 biểu; Lĩnh vực thống kê Công nghiệp: 15 biểu; Lĩnh vực thống kê Đầu tư và xây dựng: 20 biểu; Lĩnh vực thống kê Thương mại và dịch vụ: 27 biểu; Lĩnh vực thống kê Xã hội, môi trường: 10 biểu. Kể từ khi Bộ Kế hoạch và Đầu tư ban hành Thông tư số 08/2012/TT-BKHĐT, đã bải bỏ các văn bản, quyết định ban hành chế độ báo cáo như: Quyết định số 633/2003/QĐ-TCTK ngày 29/10/2003 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê ban hành chế độ báo cáo thống kê định kỳ về Lao động và thu nhập áp dụng đối với Cục Thống kê tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Quyết định số 75/2003/QĐ-TCTK ngày 15/01/2003 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê ban hành chế độ báo cáo thống kê định kỳ về Tài khoản quốc gia áp dụng đối với Cục Thống kê tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Quyết định số 657/2002/QĐ-TCTK ngày 2/10/2002 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê ban hành chế độ báo cáo thống kê định kỳ về Nông, lâm nghiệp và thủy sản áp dụng đối với Cục Thống kê tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Quyết định số 735/2002/QĐ-TCTK ngày 15/11/2002 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê ban hành chế độ báo cáo thống kê định kỳ về Công nghiệp áp dụng đối với Cục Thống kê tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Quyết định số 733/2002/QĐ-TCTK ngày 15/11/2002 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê ban hành chế độ báo cáo thống kê định kỳ về Vốn đầu tư và xây dựng áp dụng đối với Cục Thống kê tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Quyết định số 734/2002/QĐ-TCTK ngày 15/11/2002 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê ban hành chế độ báo cáo thống kê định kỳ về Thương mại, khách sạn, nhà hàng, du lịch lữ hành và dịch vụ áp dụng đối với Cục Thống kê tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Quyết định số 732/2002/QĐ-TCTK ngày 15/11/2002 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê ban hành chế độ báo cáo thống kê định kỳ về Vận tải, bốc xếp dịch vụ, đại lý vận tải và bưu chính viễn thông áp dụng đối với Cục Thống kê tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và Quyết định số 730/2002/QĐ-TCTK ngày 15/11/2002 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê ban hành chế độ báo cáo thống kê định kỳ về Giáo dục, đào tạo, văn hóa thông tin, y tế, thể dục thể thao, thiếu đói trong nông dân áp dụng đối với Cục Thống kê tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
5. Công tác xuất bản các ấn phẩm Thống kê
Từ khi tái lập ngành (tháng 5/1992), Cục Thống kê đã chỉ đạo các Phòng Thống kê nghiệp vụ căn cứ vào các tài liệu sẵn có để chia tách số liệu về các chỉ tiêu kinh tế chủ yếu của tỉnh Tuyên Quang.
Từ đầu năm 1993 trở về đây, hàng năm Cục Thống kê Tuyên Quang thường xuyên duy trì công tác biên soạn Niên giám Thống kê. Năm 2006 đã biên soạn Niên giám Thống kê 2000 - 2005 để phục vụ kịp thời Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh và các cấp, các ngành đánh giá hoạt động của nhiệm kỳ HĐND tỉnh (1999 - 2004). Các năm từ 2006 đến nay, Cục Thống kê duy trì biên soạn cuốn niên giám thống kê qua các năm, điều đáng quan tâm từ năm 2007 trở lại đây niên giám thống kê được biên soạn 2 thứ tiếng (tiếng Anh và tiếng Việt).
Ngoài ra để kịp thời phục vụ các kỳ họp của Hội đồng nhân dân tỉnh hàng năm, Cục còn tổ chức biên soạn các tờ gấp, Niên giám rút gọn (Tổng hợp một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu của địa phương) phục vụ cho công tác điều hành phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
Cùng với việc biên soạn niên giám thống kê qua các năm, qua các kỳ tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp và thủy sản năm 2011, Tổng điều tra cơ sở kinh tế năm 2012, Cục Thống kê Tuyên Quang đã tổ chức biên soạn các cuốn số liệu phản ánh kết quả của cuộc Tổng điều tra.
Bên cạnh việc biên soạn cuốn niên giám thống kê, vào những năm có tổng điều tra. Cục Thống kê đã tổ chức biên soạn cuốn số liệu của Tổng điều tra (Tổng điều tra dân số năm 2009; Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp và thuỷ sản năm 2006 và 2011; tổng điều tra cơ sở kinh tế, hành chính, sự nghiệp năm 2012), tài liệu biên soạn kết quả tổng điều tra đã giúp lãnh đạo Đảng, Nhà nước, chính quyền các cấp, các ngành xây dựng hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương.
Cùng với việc xuất bản cuốn niên giám thống kê, hàng năm Cục Thống kê còn tổ chức biên soạn các ấn phẩm, số liệu kinh tế xã hội 6 tháng phục vụ các kỳ họp Hội đồng nhân dân tỉnh, nhờ các ấn phẩm này, đã giúp công tác chỉ đạo, điều hành của cấp ủy, chính quyền các cấp trong việc phát triển kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng, xóa đói giảm nghèo được kịp thời và hiệu quả hơn.
Thông qua công tác biên soạn Niên giám Thống kê và các ấn phẩm đã góp phần nâng cao vị thế, uy tín, vai trò và trách nhiệm của ngành Thống kê đối với cấp ủy, chính quyền trong tỉnh.
6. Công tác thanh tra Thống kê, Phương pháp chế độ
Hoạt động thanh tra đã có nhiều đổi mới trong việc kiểm tra thực hiện chế độ báo cáo định kỳ, chính thức đối với các doanh nghiệp Nhà nước, các thành phần kinh tế ngoài Nhà nước. Việc thực hiện các cuộc điều tra, phương án điều tra, hướng dẫn của Tổng cục Thống kê về kiểm tra sử dụng kinh phí chi thường xuyên, chi cho các cuộc điều tra trong nội bộ ngành có đối chiếu với quy định của Nhà nước.
Đặc biệt là sau khi Luật Thống kê được Quốc hội khóa XI thông qua, thay thế cho Pháp lệnh Kế toán - Thống kê năm 1988 và đi vào thực tế, đã khẳng định vị trí, vai trò quan trọng của công tác Thống kê.
Hàng năm phòng Thanh tra Cục Thống kê xây dựng kế hoạch thanh tra cho từng nội dung công việc trong năm, sau đó bộ phận thanh tra tổ chức thanh tra, kiểm tra đối với các đơn vị doanh nghiệp Nhà nước, các thành phần kinh tế ngoài Nhà nước và các Chi cục Thống kê huyện, thành phố trong việc thực hiện phương án điều tra; thực hiện Luật Thống kê.
Thực hiện nghiêm túc các nội dung hướng dẫn tại Nghị định 79/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thống kê; tiếp nhận giải quyết đơn thư kịp thời (nếu có phát sinh).
7. Về chiến lược phát triển ngành thống kê, công tác đổi mới đồng bộ hệ thống chỉ tiêu Thống kê
7.1. Chiến lược phát triển ngành thống kê
Ngày 18/10/2011 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1803/QĐ-TTg về việc phê duyệt Chiến lược phát triển thống kê Việt Nam giai đoạn 2011-2020 và tầm nhìn đến năm 2030. Sau khi Chiến lược phát triển thống kê Việt Nam được Thủ tướng Chính phủ ký ban hành đã giúp ngành Thống kê có đầy đủ các điều kiện về cơ sở pháp lý, bộ máy tổ chức, nguồn nhân lực, nguồn kinh phí, cơ sở vật chất khác, tạo tiền đề cho ngành thống kê phát triển.
Công tác tổ chức, triển khai thực hiện Chiến lược phát triển thống kê Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 tại tỉnh Tuyên Quang. UBND tỉnh đã ban hành Quyết định thành lập Ban chỉ đạo thực hiện chiến lược, Quyết định về xây dựng kế hoạch thực hiện chiến lược, phân công các sở ngành phối hợp với ngành Thống kê để tổ chức triển khai trên địa bàn.
7.2. Về đổi mới đồng bộ hệ thống chỉ tiêu thống kê
Ngày 02/3/2010 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 312/QĐ-TTg về việc phê duyệt Đề án đổi mới đồng bộ các Hệ thống chỉ tiêu thống kê; Ngày 02/6/2010 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 43//2010/QĐ-TTg về việc ban hành hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia; để tổ chức triển khai thực hiện thống nhất Quyết định của Thủ tướng Chính phủ. Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã ban hành Thông tư số 02/2011/TT-BKHĐT ngày 10/01/2011 Quy định nội dung Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia; danh mục và nội dung Hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh, huyện, xã. Đồng thời, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cũng đã ban hành Thông tư số 02/2012/TT-BKHĐT ngày 04/4/2012 quy định năm 2010 làm năm gốc thay cho năm gốc 1994 để tính các chỉ tiêu thống kê theo giá so sánh. Ngoài ra Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã ban hành Thông tư số 04/2011/TTBKHĐT ngày 31/3/2011 quy định hệ thống biểu mẫu báo cáo thống kê cơ sở áp dụng đối với doanh nghiệp nhà nước doanh nghiệp và dự án có vốn đầu tư trực tiếp với nước ngoài.
Thực hiện Quyết định số 43/2010/QĐ-TTg ngày 2/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Hệ thống chỉ tiêu quốc gia, để tổ chức thực hiện có hiệu quả hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh, huyện, xã trên địa bàn tỉnh, UBND tỉnh Tuyên Quang đã ban hành Quyết định số 890/QĐ-UBND ngày 16/8/2014 về việc phân công trách nhiệm thu thập, tổng hợp và báo cáo Hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh, huyện, xã trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang.
Đối với Ngành Thống kê đã tham mưu với UBND tỉnh xây dựng kế hoạch tổ chức thực hiện đề án, đồng thời tổ chức 4 hội nghị để phổ biến nội dung, kế hoạch triển khai. Cục Thống kê đã ban hành Quyết định số 45/QĐ-CTK ngày 19/9/2014 về việc phân công trách nhiệm thu thập, tổng hợp và báo cáo Hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh thuộc trách nhiệm của Cục Thống kê. Căn cứ quyết định của Cục Thống kê, các phòng nghiệp vụ đã chủ động triển khai thực hiện và lập báo cáo hệ thống chỉ tiêu thống kê thuộc phạm vi đơn vị được phân công.
8. Các hoạt động khác của ngành Thống kê Tuyên Quang
8.1. Các tổ chức Đảng, đoàn thể
Vai trò nông cốt của các tổ chức đoàn thể được nâng cao, tại Cục Thống kê Tuyên Quang có Chi bộ đảng, Công đoàn, Đoàn thanh niên, Nữ công được thành lập từ ngày thành lập Cục thống kê. Riêng tổ chức Cựu Chiến binh được thành lập vào năm 2007, các tổ chức đoàn thể luôn là nòng cốt tạo ra động lực cho các phong trào thi đua của cơ quan.
Sự phối hợp công tác chỉ đạo chuyên môn nghiệp vụ giữa chính quyền với chi bộ Đảng và các tổ chức đoàn thể trong toàn ngành, đã tạo ra sức mạnh tổng hợp và khí thế thi đua sôi nổi trong việc thực hiện nhiệm vụ công tác được giao, nhất là trong việc chấp hành chế độ báo cáo, tổ chức triển khai thực hiện các cuộc điều tra, Tổng điều tra... Đảm bảo tài liệu điều tra phản ánh sát tình hình thực tế, chất lượng số liệu được nâng lên, kịp thời đáp ứng được yêu cầu của Tổng cục Thống kê và lãnh đạo địa phương. Với những kết quả đã đạt được trong những năm vừa qua, đã góp phần xây dựng ngành Thống kê phát triển, đưa thứ bậc chung của Cục Thống kê xếp ở mức trung bình khá, nhiều nghiệp vụ đứng thứ bậc giỏi trong phạm vi toàn quốc.
Ban chấp hành Chi bộ luôn nêu cao vai trò lãnh đạo có tinh thần, trách nhiệm cao với nhiệm vụ được giao; luôn nêu cao tinh thần đoàn kết nội bộ, chi bộ đảng liên tục nhiều năm được công nhận là chi bộ trong sạch vững mạnh.
Các tổ chức đoàn thể: Công đoàn, Đoàn thanh niên, Hội cựu chiến binh, Ban nữ công luôn là những tổ chức được công nhận là vững mạnh, là nòng cốt của các hoạt động văn hóa, thể thao ở trong cơ quan.
8.2. Công tác thi đua khen thưởng
Do có sự nỗ lực phấn đấu vươn lên, đồng thời khắc phục các khó khăn của một tỉnh miền núi đối với công tác chuyên môn và các hoạt động đoàn thể nên ngành Thống kê Tuyên Quang từ khi thành lập đến nay đã giành được những thành tích tương đối toàn diện.
Hàng năm có trên 98% cán bộ công chức đạt danh hiệu lao động tiến tiến, 55 - 65% tập thể nhỏ được công nhận là tập thể lao động giỏi. Có từ 15 - 20% đơn vị được công nhận là tập thể lao động xuất sắc, trên 20% công chức đạt danh hiệu chiến sỹ thi đua cơ sở, có nhiều công chức đạt danh hiệu chiến sỹ thi đua cấp Bộ, nhiều tập thể và cá nhân được tặng bằng khen của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Tổng cục Thống kê; bằng khen của UBND tỉnh, giấy khen của các cấp, các ngành. Cục Thống kê liên tục được công nhận là đơn vị hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ từ năm 2010 đến 2015, đặc biệt trong năm 2013 Cục Thống kê đã được Thủ tướng Chính phủ tặng bằng khen. 02 tập thể Phòng Tổ chức - hành chính và Phòng Thống kê Tổng hợp và 02 công chức được bằng khen của Thủ tướng Chính phủ.
CHƯƠNG VI
THỐNG KÊ TUYÊN QUANG TỪ NĂM 2016 ĐẾN NAY
I. Đặc điểm tình hình kinh tế - xã hội
Thời gian này các đơn vị hành chính của tỉnh Tuyên Quang về cơ bản không có sự thay đổi lớn tỉnh Tuyên Quang có 6 huyện, 01 thành phố trực thuộc tỉnh (Ngày 02 tháng 02 năm 2021 Thủ tướng chính phủ đã ban hành Quyết định số 161/QĐ-TTg về việc công nhận thành phố Tuyên Quang là đô thị loại II trực thuộc tỉnh Tuyên Quang). Đến năm 2019, tỉnh Tuyên Quang có 5.867,9 ha đất tự nhiên. Dân số 786.258 người, có 138 xã, phường, thị trấn (Trong đó có 124 xã, 10 phường và 4 thị trấn), mật độ dân số 134 người/km2.
Thực hiện công cuộc đổi mới và xây dựng đất nước cùng với cả nước, Tuyên Quang đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, kinh tế vĩ mô ổn định; sức cạnh tranh, tiềm lực và quy mô kinh tế được nâng lên; kinh tế - xã hội từng bước ổn định và phát triển, cơ sở hạ tầng được chú ý và đầu tư, đời sống nhân dân được cải thiện hơn. Tổng sản phẩm GRDP năm 2019 (theo giá so sánh năm 2010) là 20.135 tỷ đồng, trong đó ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản 4.777 tỷ đồng, ngành công nghiệp và xây dựng 6.536 tỷ đồng, các ngành dịch vụ 8.307 tỷ đồng, thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm 515 tỷ đồng. Cơ cấu GRDP năm 2019, ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản chiếm 23,85%, ngành công nghiệp và xây dựng chiếm 30,42%, các ngành dịch vụ chiếm 41,03%, thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 4,70%. Tổng sản phẩm trên địa bàn bình quân đầu người 39.143 nghìn đồng/ người. Tổng thu ngân sách năm 2019 toàn tỉnh 10.551,86 tỷ đồng, trong đó thu cân đối ngân sách nhà nước là 3.661,42 tỷ đồng, các khoản thu để lại đơn vị chi quản lý qua ngân sách nhà nước 20,84 tỷ đồng, thu bổ sung từ ngân sách cấp trên 6.869,60 triệu đồng.
Sau 28 năm tách tỉnh (1991 - 2019) thực hiện Nghị quyết đại hội tỉnh Đảng bộ tỉnh các khóa XII, XIII; XIV, XV, XVI đặc biệt là năm 2019 mặc dù trong điều kiện không thuận lợi do tác động của môi trường, biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh diễn biến phức tạp, đặc biệt là đại dịch Covid - 19 bùng phát mặt khác nguồn lực đầu tư phát triển chưa đáp ứng nhu cầu; kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội, nhất là hạ tầng giao thông còn thiều và chưa đồng bộ, thu hút đầu tư gặp nhiều khó khăn; chất lượng nguồn nhân lực còn hạn chế. Những nhân tố trên đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc thực hiện các mục tiêu nghị quyết Đại hội đảng bộ tỉnh đã đề ra.
Trong bối cảnh đó, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc trong tỉnh, tiếp tục phát huy truyền thống quê hương cách mạng, đoàn kết, thống nhất, khai thác tiềm năng, huy động nguồn lực, vận dụng sáng tạo chủ trương đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, các cấp, các ngành đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội với những mục tiêu cụ thể, đồng bộ, do đó các chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu đề ra hàng năm đều đạt và vượt kế hoạch, tăng trưởng kinh tế năm sau cao hơn năm trước, kinh tế có sự chuyển dịch theo hướng tích cực, tăng dần tỷ trọng công nghiệp - xây dựng và dịch vụ, giảm dần tỷ trọng nông, lâm nghiệp thủy sản trong GRDP, việc thu hút nguồn vốn đầu tư phát triển sản xuất trong các năm qua tăng nhanh, quản lý, sử dụng ngày càng có hiệu quả hơn, thu ngân sách hàng năm tăng khá, cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội được chú ý đầu tư đồng đều giữa thành thị và nông thôn, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn. Đào tạo lao động và giải quyết việc làm đã được chú ý hơn, thu nhập bình quân đầu người tăng dần, đời sống nhân dân nhiều nơi kể cả nông thôn và thành thị được cải thiện rõ rệt, công tác xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn được chăm lo chú ý. Các lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa, khoa học công nghệ được coi trọng và thu được nhiều thành tựu đáng kể. Thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở, ý thức tôn trọng và chấp hành Pháp luật của cán bộ và nhân dân ngày càng thực hiện tốt hơn. Quốc phòng an ninh và quan hệ đối ngoại đã gắn với nhiệm vụ phát triển kinh tế và củng cố hệ thống chính trị. Chính quyền địa phương ở các cấp ngày càng được củng cố, hoạt động có hiệu quả hơn. Chính sách dân tộc, tôn giáo, đại đoàn kết dân tộc được thực hiện tốt đã đem lại không khí phấn khởi cho cán bộ, nhân dân các dân tộc yên tâm, tin tưởng và chấp hành tốt chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Bộ mặt nông thôn có nhiều khởi sắc, chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới được triển khai rộng khắp các xã trong tỉnh, kết quả đã đạt được trên một số lĩnh vực :
Về nông nghiệp: Đại hội tỉnh đảng bộ Tuyên Quang lần thứ XVI (Nhiệm kỳ 2015-2020) đã đề ra một số mục tiêu về phát triển nông nghiệp Nâng cao hiệu quả sản xuất nông lâm nghiệp hàng hóa gắn với xây dựng nông thôn mới. Thực hiện các giải pháp tái cơ cấu ngành nông nghiệp; xây dựng, rà soát, điều chỉnh các quy hoạch, chính sách hỗ trợ phát triển nông nghiệp, nông thôn. Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản tăng bình quân trên 4%/năm, đảm bảo an ninh lương thực trên địa bàn. Khai thác và phát huy có hiệu quả một số tiềm năng, lợi thế của địa phương để phát triển sản xuất hàng hóa tập trung hướng tới sản xuất an toàn, nâng cao chất lượng sản phẩm và gắn với nhu cầu thị trường nhất là một số sản phẩm chủ lực như: Chè 8473 ha, cam 8691 ha, cây ăn quả khác 18.967 ha, cây lâm nghiệp trên 140.000 ha… Mở rộng phát triển chăn nuôi theo hình thức gia trại, trang trại, đảm bảo an toàn dịch bệnh và vệ sinh môi trường. Ngành thủy sản tiếp tục phát triển, nhất là hình thức nuôi cá lồng trên sông, trên các hồ thủy điện; bước đầu đã nhân giống và nuôi thành công một số loại cá đặc sản có giá trị kinh tế cao.
Kinh tế lâm nghiệp phát triển khá nhanh và vững chắc, đã có sự liên kết giữa nhà máy chế biến và người trồng rừng. Đến nay toàn tỉnh có trên 140.000 ha rừng. Sản lượng khai thác gỗ rừng trồng trong 5 năm đạt trên 4 triệu m3, đáp ứng nguyên liệu cho phát triển công nghiệp chế biến gỗ, giấy của tỉnh; Tuyên Quang là một trong những tỉnh có tỷ lệ che phủ rừng và diện tích rừng trồng cũng như sản lượng khai thác gỗ rừng trồng đứng đầu cả nước; tỷ lệ che phủ của rừng trên 65%, nét mới trong sản xuất lâm nghiệp tỉnh đã cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững theo tiêu chuẩn quốc tế FSC với diện tích rừng trồng được trên 25.300 ha.
Cùng với việc sản xuất nông lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản trong những năm quan tỉnh Tuyên Quang đã quan tâm ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản từ đó giá trị trên diện tích đất canh tác được nâng lên. Các hình thức tổ chức sản xuất từng bước được đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả Toàn tỉnh đến nay toàn tỉnh có 830 trang trại, tăng 472 trang trại so với năm 2015 và 267 hợp tác xã nông nghiệp, tăng 98 hợp tác xã so với năm 2015; bước đầu đã hình thành liên kết trong sản xuất hàng hoá, gắn sản xuất với thị trường tiêu thụ sản phẩm đã triển khai và áp dụng việc đăng ký nhãn hiệu và quảng bá thương hiệu sản phẩm hàng hóa đáp ứng yêu cầu thị trường trong nước và xuất khẩu.
Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội phục vụ sản xuất nông nghiệp, phát triển kinh tế nông thôn được tỉnh quan tâm đầu tư xây dựng theo phương châm “nhân dân làm, nhà nước hỗ trợ”; đã thực hiện kiên cố hóa được 1.004 km kênh mương; xây dựng được 934 nhà văn hóa xã, thôn, tổ dân phố; bê tông hóa được 633 km đường giao thông nội đồng phục vụ sản xuất; chủ động thực hiện các giải pháp phòng, chống thiên tai. Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới được cả hệ thống chính trị vào cuộc tham gia thực hiện với sự nỗ lực cao và nhiều cách làm sáng tạo, đạt kết quả tích cực, diện mạo nông thôn có nhiều đổi mới đến năm 2020, toàn tỉnh có 46 xã đạt chuẩn nông thôn mới, số tiêu chí bình quân đạt trên 15 tiêu chí/xã. Thực hiện tốt việc huy động, lồng ghép các nguồn vốn từ chương trình mục tiêu, các tổ chức, doanh nghiệp và người dân tham gia xây dựng nông thôn mới với tổng kinh phí huy động cho xây dựng nông thôn mới được trên 9.500 tỷ đồng.
Về sản xuất công nghiệp tiếp tục có bước phát triển tăng trưởng khá, tập trung vào một số ngành có tiềm năng, lợi thế trong những năm qua tỉnh đã thu hút được các dự án công nghiệp có quy mô lớn đầu tư vào các lĩnh vực tiềm năng, lợi thế của tỉnh. Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2019 đạt 18.029 tỷ đồng, bình quân tăng 12,1%/năm; sản lượng một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng khá so với kế hoạch như: thép, gỗ tinh chế, điện thương phẩm, điện sản xuất, bột giấy, xi măng... Huy động các nguồn lực xây dựng hạ tầng các khu, cụm công nghiệp, cơ bản đáp ứng nhu cầu sản xuất và đã thu hút được nhiều dự án đầu tư tại các khu, cụm công nghiệp; cấp giấy chứng nhận đầu tư cho 37 dự án sản xuất công nghiệp, trong đó có 15 dự án hoàn thành đi vào sản xuất, tạo việc làm cho lao động địa phương, đóng góp vào ngân sách và góp phẩn chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh. Điển hình như: Nhà máy chế biến gỗ của công ty cổ phần Woodsland Tuyên Quang tại huyện Yên Sơn; các nhà máy sản xuất viên gỗ nén tại huyện Yên Sơn và Chiêm Hóa; Nhà máy đường và Nhà máy điện sinh khối mía đường tại huyện Hàm Yên; nhà máy may Tuyên Quang; Nhà máy chế biến thức ăn gia súc xã Phúc Ứng huyện Sơn Dương nhà máy phôi thép khu công nghiệp Long Bình An; Nhà máy sản xuất giầy dép xuất khẩu xã Trung môn huyện Yên Sơn.
Công nghiệp chế biến nông, lâm sản có sự phát triển, nhất là công nghiệp chế biễn gỗ; ứng dụng công nghệ tiên tiến, liên kết chặt chẽ giữa sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm với phát triển vùng nguyên liệu theo chuỗi giá trị, gia tăng giá trị sản phẩm và phát triển bền vững.
Công nghiệp chế biến khoáng sản tiếp tục tập trung vào chế biến sâu các loại khoáng sản tiềm năng như Ăngtimon, mangan, sắt Nhà máy sản xuất Ferro, SilicoMangan tại khu công nghiệp Long Bình An; Các nhà máy sản xuất bột Ba rit, bột Pelspat; Nhà máy luyện Ăng ty mon Lâm Bình; dư án nhà máy Gang thép công ty TTHH gang thép Tuyên Quang. Các nhà máy trên được thực hiện đồng bộ giữa việc phát triển kinh tế với nhiệm vụ bảo vệ môi trường; kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm trong thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản.
Các hoạt động khuyến công được tăng cường, trên 50 đề án khuyến công được xây dựng và triển khai thực hiện; sản xuất tiểu thủ công nghiệp tiếp tục phát triển. Việc xây dựng thương hiệu sản phẩm bước đầu được quan tâm, chú trọng.
Về xây dựng cơ bản: Trong những năm qua tỉnh có chủ trương đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng như: Điện, đường, trường, trạm… . Đến hết năm 2019 toàn tỉnh, 100% số xã có điện và có đường ô tô đến trung tâm xã, các xã đều có trường học kiên cố. 100% số xã có trạm xá và trụ sở làm việc của xã khang trang, từ đó bộ mặt trong nông thôn đã được thay đổi, đời sống của đồng bào các dân tộc trong tỉnh được nâng lên.
Các hoạt động văn hóa xã hội tiếp tục được quan tâm và có nhiều tiến bộ, cơ sở vật chất trường học được đầu tư xây dựng. Năm học 2019-2020, toàn tỉnh có 330 trường, trong đó: (có 141 trường tiểu học, 135 trường trung học cơ sở, 29 trường trung học phổ thông, 21 trường phổ thông cơ sở... ). Đội ngũ giáo viên được bổ sung, tăng cường về số lượng và chất lượng, năm (2019 – 2020) toàn tỉnh có 8.249 giáo viên. Học sinh theo học các trường phổ thông tăng lên, năm học 2015-2016 có 133.495 em đến năm 2019 - 2020 có 155.912 em. Đến nay toàn tỉnh đã phổ cập trung học phổ thông. Các hoạt động văn hóa - thông tin, lễ hội được tổ chức tốt phục vụ các nhiệm vụ chính trị của địa phương, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa và sinh hoạt tinh thần của nhân dân góp phần giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. Công tác bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân đạt nhiều kết quả; hằng năm trên 95% trẻ em dưới 1 tuổi được tiêm đủ các loại vắc xin phòng bệnh; tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng thể nhẹ cân giảm còn dưới 13%, thể thấp còi còn 24%. Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm được quan tâm.
Mạng lưới y tế công lập được sắp xếp lại hợp lý, các cơ sở y tế ngoài công lập được khuyến khích phát triển, đáp ứng nhu cầu khám, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe nhân dân đến nay toàn tỉnh có 155 cơ sở y tế công lập, gồm 5 bệnh viện tuyến tỉnh, 9 bệnh viện đa khoa tuyến huyện, 9 phòng khám đa khoa khu vực, 132 trạm y tế cơ sở; 162 cơ sở y tế ngoài công lập, gồm 2 bệnh viện đa khoa, 11 phòng khám đa khoa, 149 cơ sở hành nghề y, y học cổ truyền và dịch vụ chăm sóc sức khỏe.
Cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế tiếp tục được đầu tư, nâng cấp; quy mô giường bệnh tăng, đạt 34,2 giường bệnh/10.000 dân. Đội ngũ cán bộ y tế, số bác sỹ có trình độ chuyên môn cao phát triển cả về số lượng và chất lượng; đạt 8,3 bác sỹ/10.000 dân; Bảo hiểm y tế toàn dân được đẩy mạnh, tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế đạt trên 98%; Chất lượng khám, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cho nhân dân được nâng lên.
Thực hiện tốt các nhiệm vụ, giải pháp về lao động, việc làm; trong 5 năm từ 2015-2020 đã tạo việc làm cho trên 114.000 lao động. Các giải pháp giảm nghèo bền vững được triển khai đồng bộ, hiệu quả. Huy động nguồn lực thực hiện các dự án thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững, chú trọng hỗ trợ phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp góp phần tăng thu nhập, nâng cao đời sống cho người dân. Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều năm 2020 còn 12,9 % .
An sinh xã hội được bảo đảm; Phong trào đền ơn đáp nghĩa được đẩy mạnh; thực hiện đúng, kịp thời chế độ, chính sách đối với người có công với cách mạng, đời sống của gia đình người có công với cách mạng được chăm lo, cải thiện.
II. Hoạt động công tác thống kê
1. Chức năng nhiệm vụ của ngành Thống kê
Từ năm 2016 đến năm 2020 thời gian này toàn ngành thống kê Tuyên Quang tiếp tục triển khai thực hiện Quyết định số 188/QĐ-TCTK ngày 02 tháng 4 năm 2014 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê về Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Thống kê tỉnh Tuyên Quang, tại Quyết định này chuyển bộ phận thi đua - khen thưởng về Phòng Tổ chức - Hành chính.
Ngày 22 tháng 4 năm 2020 Bộ Kế hoạch và Đầu tư ban hành Quyết định số 608/QĐ-BKHĐT phê duyệt kế hoạch sắp xếp, sát nhập các đơn vị thuộc cơ quan Tổng cục Thống kê; các phòng thuộc Cục Thống kê và Chi cục thống kê quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc Cục Thống kê tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
Căn cứ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao trong hoạt động Cục Thống kê đã bám sát chương trình kế hoạch công tác được Tổng cục Thống kê giao đồng thời đáp ứng yêu cầu phục vụ địa phương. Cán bộ công chức Ngành Thống kê Tuyên Quang đã nêu cao tinh thần đoàn kết khắc phục khó khăn quyết tân phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.
2. Cơ cấu tổ chức và cán bộ
Đến năm 2016 về bộ máy tổ chức Cục Thống kê Tuyên Quang tiếp tục triển khai thực hiện theo Quyết định số 25/QĐ-TCTK ngày 14/01/2011 về việc quy định chức năng nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Thống kê Tuyên Quang. Chi cục Thống kê cấp huyện tiếp tục thực hiện Quyết định số 25/QĐ-TCTK ngày 14/01/2011 về việc quy định chức năng nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức của Chi cục Thống kê huyện, thành phố trực thuộc tỉnh thực hiện quyết định trên, cuối năm 2016 ngành Thống kê Tuyên Quang có cơ cấu tổ chức và bố trí cán bộ như sau:
Về bộ máy tổ chức: Năm 2016 Cục Thống kê Tuyên Quang có 6 phòng nghiệp vụ và 7 Chi cục Thống kê huyện, thành phố. Tại văn phòng Cục có 6 phòng nghiệp vụ gồm: (Phòng Tổ chức - Hành chính; Phòng Thống kê Tổng hợp; Phòng Thống kê Nông nghiệp; Phòng Thống kê Công - Thương nghiệp; Phòng Thống kê Dân số - Văn xã và phòng Thanh tra PPCĐ). Ở cấp huyện có Chi cục Thống kê huyện Lâm Bình; Chi cục Thống kê huyện Na Hang; Chi cục Thống kê huyện Chiêm Hóa; Chi cục Thống kê huyện Hàm Yên; Chi cục Thống kê huyện Yên Sơn; Chi cục Thống kê huyện Sơn Dương và Chi cục Thống kê thành phố Tuyên Quang.
Về cán bộ:
I. Lãnh đạo cục:
- Ông Nguyễn Việt Thái - Cục trưởng
- Ông Nguyễn Văn Chuyển - Phó cục trưởng
- Ông Phạm Hùng Sơn - Phó cục trưởng
- Ngày 15 tháng 3 năm 2016 Tổng cục Thống kê có Quyết định số 93/QĐ-TCTK Về việc bổ nhiệm Phó cục trưởng Cục Thống kê tỉnh Tuyên Quang đối với Ông Vũ Tuấn Hà.
II. Các đơn vị trực thuộc
A. Văn phòng Cục gồm 6 phòng
1. Phòng Tổ chức- Hành chính có 2 công chức và 6 lao động hợp đồng
- Bà Đỗ Thị Bích – Phó trưởng phòng phụ trách (Nghỉ hưu năm 2017)
- Ông Nguyễn Ngọc Quỳnh – Thống kê viên
- Lao động hợp đồng: Ông Nguyễn Quốc Đông và Ông Nguyễn Hữu Hồng Lái xe; Bà Trương Thị Hải Duyên và Bà Đào Vân Hương hợp đồng tạp vụ cơ quan; Ông Lê Ngọc Quân bảo vệ; Bà Ngô Thị Nga văn thư
2. Phòng Thống kê Tổng hợp, có 2 công chức và 1 lao động hợp đồng
- Bà Trương Thị Mỹ Linh – Phó trưởng phòng
- Ông Phạm Hùng Cường – Thống kê viên cao đẳng và bà Trần Thị Duy Linh lao động hợp đồng
3. Phòng Thống kê Dân số - văn xã, có 3 công chức và 1 lao động hợp đồng
- Bà Lê Thị Thu Nga – Trưởng phòng (đến tháng 5 năm 2016 luân chuyển về Chi Cục Thống kê thành phố Tuyên Quang làm Chi Cục trưởng thay bà Nguyễn Thị Thu Hiền)
- Bà Nguyễn Thu Giang – Phó trưởng phòng
- Ông Phạm Dũng – Thống kê viên và ông Trần Phạm Tuân lao động hợp đồng
4. Phòng Thống kê Công – Thương nghiệp, có 3 công chức và 3 lao động hợp đồng
- Bà Vũ Thị Bích Thủy – Trưởng phòng (nghỉ hưu năm 2019)
- Bà Phạm Thị Hồng Thắm – Phó trưởng phòng
- Ông Luyện Đức An – Thống kê viên và 3 lao động hợp đồng (ông Đồng Dương Ngọc; bà Đỗ Thị Kim Ngọc; bà Trần Thị Thùy Linh)
5. Phòng Thanh tra Phương pháp chế độ có 1 công chức và 1 lao động hợp đồng
- Ông Phạm Quang Vinh – Trưởng phòng và ông Nguyễn Đức Hòa Lao động hợp đồng
6. Phòng Thống kê Nông nghiệp có 4 công chức
- Bà Nguyễn Thị Thu Nga – Phó Trưởng phòng (bổ nhiệm trưởng phòng năm 2017)
- Bà Đinh Thị Kiều Liên – Thống kê viên
- Bà Trần Thị Thức – Thống kê viên
-Ông Lê Anh Tuấn – Thống kê viên
B. Chi cục Thống kê các huyện, Thành phố
1- Chi cục Thống kê Thành phố Tuyên Quang Chi cục có 4 công chức và 2 lao động hợp đồng
- Bà Nguyễn Thị Thu Hiền – Chi cục trưởng (đến tháng 5 năm 2016 luân chuyển về Văn phòng Cục làm Trưởng phòng Tổng hợp thay Ông Vũ Tuấn Hà được bổ nhiệm Phó cục trưởng)
- Ông Phạm Hồng Hải – Phó chi cục trưởng
- Bà Ngô Thị Thu Hường – Thống kê viên cao đẳng
- Ông Nguyễn Tiến Quân – Thống kê viên cao đẳng
2 lao động hợp đồng (Bà Ngô Mai Hiệp và bà Nguyễn Thị Thùy)
2- Chi cục Thống kê huyện Lâm Bình có 4 công chức
- Ông Lục Văn Quang – Chi cục trưởng (đến tháng 01 năm 2021 luân chuyển về Phòng Thống kê Tổng hợp Cục Thống kê Tuyên Quang)
- Ông Phạm Quốc Tuấn – Thống kê viên
- Bà Vương Thị Huyền – Thống kê viên cao đẳng
- Bà Nguyễn Thị Xuân – Thống kê viên (đến năm 2017 luân chuyển về Chi cục Thống kê huyện Chiêm Hoá)
3- Chi cục Thống kê huyện Na Hang có 4 công chức và 1 lao động hợp đồng
- Ông Quan Văn Tuấn - Chi Cục trưởng
- Ông Hoàng Lê Tuyên – Thống kê viên (được bổ nhiệm Phó Chi Cục trưởng năm 2016)
- Ông Hoàng Ngọc Thuyết – Thống kê viên trung cấp ( nghỉ hưu năm 2018)
- Ông Lê Quang Thái – Thống kê viên và Ông Lưu Đức Toàn Lao động hợp đồng
4- Chi cục Thống kê huyện Chiêm Hóa có 4 công chức và 2 lao động hợp đồng
- Ông Ma Văn Dương – Chi cục trưởng
- Bà Hà Thị Dung – Thống kê viên (được bổ nhiệm Phó chi cục trưởng năm 2016)
- Bà Ma Thị Yến – Thống kê viên Cao đẳng
- Ông Trần Trung Nghĩa Thống kê viên cao đẳng (đến năm 2016 luân chuyển về Chi cục Thống kê huyện Yên Sơn)
- Ông Quốc Tiến Vinh – Thống kê viên Cao đẳng, (đến năm 2017 luân chuyển lên Chi cục Thống kê huyện Na Hang); và bà Đào Thị Quyên Nhung lao động hợp đồng
5. Chi cục Thống kê huyện Hàm Yên có 4 công chức
- Ông Nguyễn Công Mẫn – Chi cục trưởng (nghỉ hưu năm 2019)
- Ông Đặng Ngọc Quang – Thống kê viên (Năm 2016 được bổ nhiệm Phó Chi Cục trưởng)
- Bà Trần Thị Thu Hoài – Thống kê viên
- Bà Lương Thanh Hà – Thống kê viên cao đẳng
6. Chi cục Thống kê huyện Yên Sơn có 3 công chức và 3 lao động hợp đồng
- Bà Ngô Thị Thu Sang – Chi cục trưởng
- Ông Vũ Thọ Hùng - Thống kê viên ( xin ra khỏi ngành Thống kê năm 2016)
- Bà Nông Thị Vân Khánh – Thống kê viên
3 lao động hợp đồng (bà Ngô Thị Như Quỳnh; bà Phạm Thị Linh Thanh và bà Lê Thị Ngọc)
7. Chi cục Thống kê huyện Sơn Dương có 6 công chức
- Ông Hồ Khánh Hoàn – Phó Chi cục trưởng ( Năm 2016 được bổ nhiệm Chi cục trưởng)
- Ông Trần Xuân Hưng- Thống kê viên Cao đẳng
- Ông Nguyễn Chí Kiên - Thống kê viên
- Ông Ma Duy Cương – Thống kê viên Cao đẳng
- Bà Phạm Thị Thu Thủy – Thống kê viên
- Bà Bùi Thị Hương – Thống kê viên cao đẳng
Thời gian này công tác cán bộ có sự thay đổi một số cán bộ đủ tuổi nghỉ hưu. Lãnh đạo Cục có sự thay đổi tháng 1/2017, ông Nguyễn Việt Thái - Cục trưởng nghỉ hưu. Tổng cục Thống kê đã kịp thời kiện toàn Ban lãnh đạo Cục. Ngày 23 tháng 2 năm 2017 Tổng cục Thống kê đã ban hành Quyết định số 238/QĐ-TCTK về việc bổ nhiệm ông Phạm Hùng Sơn làm Cục trưởng Cục Thống kê tỉnh Tuyên Quang. Đến tháng 2 năm 2018, ông Nguyễn Văn Chuyển – Phó cục trưởng nghỉ hưu lúc này Ban lãnh đạo còn 2 ông Ông Phạm Hùng Sơn - Cục trưởng; Ông Vũ Tuấn Hà – Phó Cục trưởng.
Đến tháng 10 năm 2020 Tổng cục Thống kê ban hành quyết định số 1480/QĐ - TCTK bổ nhiệm bà Lê Thị Thu Nga – Chi cục trưởng Chi cục Thống kê Thành phố Tuyên Quang làm Phó Cục trưởng Cục Thống kê Tỉnh Tuyên Quang. Như vậy đến năm 2020 Ban lãnh đạo Cục Thống kê Tuyên Quang đã được kiện toàn các ông, bà lãnh đạo Cục có độ tuổi dưới 50 tuổi đây là điều kiện thuận lợi cho Cục Thống kê Tuyên Quang. Việc trẻ hoá cán bộ lãnh đạo Cục có thuận lợi như nhanh nhậy với công nghệ thông tin, đáp ứng với yêu cầu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Cùng với việc kiện toàn Ban lãnh đạo Cục, việc bổ sung lực lượng cán bộ chuyên môn nghiệp vụ cũng được Cục Thống kê và Tổng cục Thống kê quan tâm. Cục đã phối hợp với Tổng cục Thống kê tổ chức nhận hồ sơ 2 đợt thi tuyển công chức. Căn cứ kết quả thi tuyển công chức, tháng 9/2017 Tổng cục Thống kê ban hành Quyết định về việc tuyển dụng 9 công chức; Tháng 4/2020 Tổng cục Thống kê ban hành Quyết định về việc tuyển dụng 3 công chức Như vậy trong thời gian từ 2016 đến nay Cục Thống kê Tuyên Quang đã tuyển dụng được 12 công chức, tất cả 12 công chức qua thời gian 1 năm thử việc hầu hết các công chức mới được tuyển dụng đã hoàn thành nhiệm vụ và được Tổng cục Thống kê bổ nhiệm vào ngạch công chức .
Trong thời gian này cán bộ công chức làm công tác Thống kê tiếp tục được hưởng chế độ phụ cấp ưu đãi theo nghề theo Quyết định số 45/2009/QĐ-TTg ngày 27/3/2009 của Thủ tướng Chính phủ, do vậy đời sống cán bộ làm công tác thống kê được cải thiện, cán bộ thống kê gắn bó với nghề hơn.
Những năm tiếp theo công tác tổ chức cán bộ ngành thống kê thường xuyên có biến động. Đến ngày 31/12/2019 toàn ngành Thống kê tỉnh Tuyên Quang hiện có 52 công chức và 6 lao động hợp đồng theo Nghị định 68/CP.
Lãnh đạo cục 02 người có 1 Cục trưởng và 1 Phó cục trưởng. Cục trưởng Ông Phạm Hùng Sơn; Phó Cục trưởng ông Vũ Tuấn Hà Phó cục trưởng.
Toàn ngành có 52 công chức làm công tác nghiệp vụ được bố trí theo các đơn vị tại Văn phòng cục có 20 công chức; Chi cục thống kê huyện thành phố có 32 công chức.
1- Phòng Tổ chức - Hành chính có 3 công chức và 4 lao động hợp đồng theo Nghị định 68
- Ông Hoàng Lê Tuyên - Phó Trưởng phòng phụ trách (Luân chuyển từ Chi cục Thống kê huyện Na Hang về Văn phòng Cục Thống kê năm 2017)
- Ông Nguyễn Ngọc Quỳnh Thống kê viên (được bổ nhiệm Phó Trưởng phòng tháng 7/2019)
- Bà Đào Thị Trang Thu – Kế toán (tiếp nhận từ Tỉnh đoàn Tuyên Quang về thay bà Đỗ Thị Bích Nghỉ hưu năm 2017)
- Lao động hợp đồng theo Nghị định 68/CP (Ông Nguyễn Quốc Đông và Ông Nguyễn Hữu Hồng lái xe; Bà Đào Vân Hương và Bà Trương Thị Hải Duyên làm Tạp vụ)
2. Phòng Thanh tra Ông Phạm Quang Vinh – Trưởng phòng
3. Phòng Thống kê Công – thương có 4 công chức
- Bà Phạm Thị Hồng Thắm – Phó trưởng phòng
- Ông Lê Quang Thái – Thống kê viên
- Ông Luyện Đức An- Thống kê viên
- Bà Trần Duy Linh – Thống kê viên
4. Phòng Thống kê Tổng hợp có 3 công chức
- Bà Nguyễn Thị Thu Hiền – Trưởng phòng
- Bà Trương Thị Mỹ Linh - Phó trưởng phòng
- Ông Lê Anh Tuấn- Thống kê viên
5- Phòng Thống kê Nông nghiệp có 3 công chức
-Bà Nguyễn Thị Thu Nga – Trưởng phòng
- Bà Trần Thị Thức – Thống kê viên
- Ông Trần Xuân Hưng – Thống kê viên ( Luân chuyển từ Chi cục Thống kê Sơn Dương lên Văn phòng Cục Thống kê năm 2018)
6-Phòng Thống kê Dân số -Văn xã có 4 công chức
-Bà Nguyễn Thu Giang – Phó trưởng phòng
-Bà Đinh Thị Kiều Liên – Thống kê viên
- Ông Phạm Hùng Cường – Thống kê viên
- Bà Phạm Thị Thuỳ Linh – Thống kê viên
7- Chi cục Thống kê Thành phố Tuyên Quang có 4 công chức
- Bà Lê Thị Thu Nga – Chi cục trưởng
-Ông Phạm Hồng Hải - Phó chi cục trưởng
-Ông Nguyễn Tiến Quân – Thống kê viên
-Bà Ngô Thị Thu Hường - Thống kê viên
8 - Chi cục Thống kê Huyện Na Hang có 4 công chức
- Ông Quan Văn Tuấn – Chi cục trưởng
- Ông Quốc Tiến Vinh – Thống kê viên Cao đẳng
- Ông Lưu Đức Toàn – Thống kê viên
- Ông La Anh Tú – Thống kê viên
9. Chi cục Thống kê Huyện Chiêm Hoá có 5 công chức
- Ông Ma Văn Dương – Chi cục trưởng
- Bà Hà Thị Dung – Phó chi cục trưởng
- Bà Ma Thị Yến – Thống kê viên Cao đẳng
- Ông Hà Tiến Khôi – Thống kê viên
- Bà Nguyễn Thị Xuân – Thống kê viên
10- Chi cục Thống kê huyện Hàm Yên có 3 công chức và 1 lao động hợp đồng theo Nghị định 68/CP
- Ông Đặng Ngọc Quang – Phó Chi cục trưởng
- Bà Trần Thị Thu Hoài – Thống kê viên
- Bà Lương Thanh Hà – Thống kê viên Cao đẳng
-Ông Trần Khánh Toàn Thống kê – Lao động hợp đồng theo Nghị định 68/CP (chấm dứt hợp đồng tháng 4/2020)
11- Chi cục Thống kê huyện Yên Sơn có 6 công chức và 1 lao động hợp đồng theo Nghị định 68/CP
- Bà Ngô Thị Thu Sang – Chi cục trưởng
- Bà Nông Thị Vân Khánh – Thống kê viên Cao đẳng
- Ông Trần Trung Nghĩa – Thống kê viên Cao đẳng
- Ông Phạm Dũng – Thống kê viên (bổ nhiệm phó Chi cục trưởng tháng 7/2019)
- Bà Đỗ Kim Ngọc – Thống kê viên
- Bà Ngô Thị Như Quỳnh – Thống kê viên
- Ông Nguyễn Đức Hoà – Lao động hợp đồng theo nghị định 68/CP (chấm dứt hợp đồng tháng 4/2020)
12. Chi cục Thống kê huyện Lâm Bình có 4 công chức
-Ông Lục Văn Quang – Chi cục trưởng
-Ông Phạm Quốc Tuấn – Thống kê viên
-Ông Lê Ngọc Quân – Thống kê viên
-Bà Vương Thị Huyền – Thống kê viên Cao đẳng
13- Chi cục Thống kê huyện Sơn Dương có 6 công chức
- Ông Hồ Khánh Hoàn – Chi cục trưởng
- Ông Nguyễn Chí Kiên – Thống kê viên
- Ông Ma Duy Cương – Thống kê viên
- Bà Bùi Thị Hương - Thống kê viên Cao đẳng
- Bà Phạm Thị Thu Thuỷ- Thống kê viên
- Bà Nguyễn Thị Thuỳ- Thống kê viên.
Ngày 22 tháng 4 năm 2020 Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã ban hành Quyết định số 608/QĐ-BKH về việc phê duyệt Kế hoạch sắp xếp, sáp nhập các đơn vị thuộc cơ quan Tổng cục Thống kê, các Phòng thuộc Cục Thống kê và Chi cục Thống kê quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc Cục Thống kê tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Thực hiện Quyết định của Bộ Kế hoạch và đầu tư. Tổng cục Thống kê đã ban hành Quyết định số 1006/QĐ-TCTK ngày 20/5/2020 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Thống kê tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương Theo Quyết định số 1006/QĐ-TCTK quy định vị trí và chức năng nhiệm vụ của Cục Thống kê tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cụ thể như sau:
+ Về Vị trí và chức năng: Cục Thống kê tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là Cục Thống kê) là cơ quan thuộc Tổng cục Thống kê, thực hiện chức năng tổ chức, điều phối các hoạt động thống kê theo chương trình công tác của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê giao; tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quản lý nhà nước về hoạt động thống kê trên địa bàn tỉnh/thành phố; tổ chức các hoạt động thống kê; cung cấp, công bố, phổ biến thông tin thống kê kinh tế - xã hội phục vụ sự lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của lãnh đạo Đảng, chính quyền cấp tỉnh và các cơ quan, tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật. Cục Thống kê có tư cách pháp nhân, con dấu, trụ sở làm việc và tài khoản tại Kho bạc Nhà nước theo quy định của pháp luật.
+ Về Nhiệm vụ và quyền hạn : Cục Thống kê thực hiện chiến lược, chương trình, kế hoạch, chính sách phát triển hoạt động thống kê; tổ chức, chỉ đạo hướng dẫn và triển khai thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về thống kê. Tổ chức thu thập, tiếp nhận, xử lý, tổng hợp thông tin từ điều tra Thống kê, tổng điều tra thống kê, báo cáo thống kê theo quy định của pháp luật. Tiếp nhận, quản lý, sử dụng dữ liệu, thông tin từ cơ sở dữ liệu hành chính do các cơ quan quản lý dữ liệu cung cấp cho hoạt động thống kê trên địa bàn theo quy định của pháp luật, Bảo mật thông tin của tổ chức, cá nhân trong quá trình cung cấp, chia sẻ dữ liệu hành chính cho hoạt động thống kê theo quy định của pháp luật. Thực hiện các cuộc điều tra thống kê do Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh/thành phố giao sau khi Tổng cục Thống kê thẩm định về chuyên môn, nghiệp vụ. Tổng hợp thông tin thống kê, kết quả điều tra thống kê do các Sở, ban, ngành, Ủy ban nhân dân quận, huyện,thị xã, thành phố thuộc tỉnh và các cơ quan, đơn vị khác trên địa bàn tỉnh/thành phố cung cấp. Xây dựng và quản lý hệ thống thông tin thống kê cấp tỉnh. Phân tích và dự báo thống kê phục vụ việc xây dựng, đánh giá thực hiện chiến lược,chính sách, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội; báo cáo kết quả điều tra, tổng điều tra thống kê; báo cáo phân tích chuyên đề; báo cáo đánh giá tình hình thực hiện chiến lược, chính sách, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội; biên soạn các chỉ tiêu thống kê được phân công. Biên soạn, xuất bản Niên giám thống kê và các sản phẩm thống kê khác. Ban hành và tổ chức thực hiện phổ biến thông tin thống kê nhà nước theo quy định của pháp luật. Tổ chức họp báo công bố thông tin thống kê kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh/thành phố. Quản lý và thực hiện công bố, phổ biến, cung cấp thông tin thống kê kinh tế - xã hội thuộc hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã theo quy định của pháp luật và phân cấp của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê. Chủ trì, phối hợp với các Sở, ngành liên quan xây dựng và tổ chức thực hiện quy chế phối hợp cung cấp, chia sẻ thông tin thống kê, sử dụng dữ liệu hành chính cho hoạt động thống kê theo quy định của pháp luật. Tổ chức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về thống kê. Hướng dẫn về chuyên môn nghiệp vụ thống kê đối với điều tra viên, người làm công tác thống kê Sở, ngành, doanh nghiệp, xã, phường, thị trấn và người làm công tác thống kê thuộc phạm vi quản lý của Cục Thống kê theo quy định của pháp luật. Tổ chức thực hiện thanh tra chuyên ngành thống kê, kiểm tra, giám sát hoạt động thống kê; giải quyết khiếu nại, tố cáo về thống kê; phát hiện, ngăn chặn và xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm pháp luật về thống kê. Thực hiện tự đánh giá chất lượng Thống kê theo Bộ tiêu chí chất lượng thống kê nhà nước do Thủ tướng Chính phủ ban hành. Ứng dụng phương pháp thống kê tiên tiến và công nghệ thông tin - truyền thông vào hoạt động thống kê. Triển khai các phần mềm ứng dụng công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu công tác quản lý hoạt động thống kê, công tác quản lý công chức và người lao động của Cục Thống kê. Quản lý tổ chức bộ máy, vị trí việc làm, biên chế công chức, cơ cấu ngạch công chức và lao động hợp đồng; thực hiện chế độ tiền lương, chế độ phụ cấp ưu đãi nghề thống kê và các chế độ chính sách độ đãi ngộ khác; thực hiện công tác thi đua, khen thưởng, kỷ luật và đánh giá, phân loại công chức, lao động hợp đồng thuộc phạm vi quản lý theo quy định của pháp luật và phân cấp của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê. Lập dự toán, tổ chức thực hiện dự toán và quyết toán kinh phí hàng năm theo hướng dẫn của Tổng cục Thống kê; quản lý tài chính, tài sản và các dự án đầu tư xây dựng được giao theo quy định của pháp luật. Thực hiện cải cách hành chính; giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng thuộc phạm vi quản lý của Cục Thống kê theo quy định của pháp luật. Quản lý, cập nhật, lưu trữ hồ sơ nghiệp vụ, hồ sơ công chức, người lao động và các văn bản pháp quy của Nhà nước theo quy định của pháp luật. Thực hiện cung cấp dịch vụ công về thống kê theo quy định của pháp luật. Tổ chức tham khảo ý kiến người sử dụng thông tin thống kê để nâng cao chất lượng thông tin thống kê. Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác do Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê giao và theo quy định của pháp luật.
+ Về Cơ cấu tổ chức : Cục Thống kê được tổ chức thành hệ thống dọc 2 cấp theo đơn vị hành chính cấp tỉnh và cấp huyện, bảo đảm nguyên tắc tập trung thống nhất:
1. Cơ quan Cục Thống kê gồm 5 phòng, như sau:
- Phòng Thống kê Tổng hợp
- Phòng Thống kê Kinh tế
- Phòng Thống kê Xã hội
- Phòng Thu thập Thông tin Thống kê
- Phòng Tổ chức - Hành chính.
2. Chi cục Thống kê tại các huyện, thành phố thuộc tỉnh, Chi cục Thống kê khu vực (gọi chung là Chi cục Thống kê) thuộc Cục Thống kê. Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức của Chi cục Thống kê; quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các Phòng thuộc Cục Thống kê.
Thực hiện Quyết định số 1006/QĐ-TCTK ngày 20/5/2020 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê. Văn bản số 1112/TCTK-TCCB ngày 10/8/2020 của Tổng cục Thống kê về xây dựng Đề án bố trí, sắp xếp nhân sự các Phòng thuộc Cục Thống kê và Chi cục Thống kê cấp huyện. Cục Thống kê Tuyên Quang đã xây dựng kế hoạch, tổ chức rà soát lực lượng cán bộ, sắp xếp các Phòng nghiệp vụ và các Chi cục Thống kê huyện, thành phố theo mô hình tổ chức mới cụ thể:
- Về tổ chức:
+ Văn phòng cục gồm 5 phòng nghiệp vụ: Phòng Tổ chức - Hành chính; Phòng Thống kê Tổng hợp; Phòng Thống kê Kinh tế; Phòng Thống kê Xã hội; Phòng Thu thập Thông tin Thống kê.
+ Chi cục Thống kê huyện, Thành phố: gồm 5 Chi cuc: Chi cục Thống kê khu vực Na Hang - Lâm Bình; Chi cục Thống kê khu vực Chiêm Hoá - Hàm Yên; Chi cục Thống kê huyện Yên Sơn; Chi cục Thống kê huyện Sơn Dương và Chi cục Thống kê Thành phố Tuyên Quang.
- Về cán bộ:
I. Lãnh đạo Cục
- Ông Phạm Hùng Sơn - Cục trưởng (Bổ nhiệm năm 2017)
- Ông Vũ Tuấn Hà – Phó Cục trưởng (Bổ nhiệm năm 2016)
- Bà Lê Thị Thu Nga – Phó Cục trưởng (Bổ nhiệm năm 2020)
II. Các đơn vị trực thuộc
A. Văn phòng Cục:
1.Phòng Tổ chức - Hành chính.
- Ông Hoàng Lê Tuyên - Phó Trưởng phòng phụ trách
- Ông Nguyễn Ngọc Quỳnh – Phó Trưởng phòng
- Bà Đào Thị Trang Thu – Kế toán
- Ông Nguyễn Quốc Đông lái xe
- Ông Nguyễn Hữu Hồng lái xe
- Bà Đào Vân Hương tạp vụ
- Bà Trương Thị Hải Duyên Tạp vụ.
2. Phòng Thống kê Tổng hợp
- Bà Nguyễn Thị Thu Hiền – Trưởng phòng
- Ông Lê Anh Tuấn- Thống kê viên
- Ông Lục Văn Quang – Thống kê viên Trung cấp ( luân chuyển từ chi cục Thống kê huyện Lâm Bình về Văn Phòng Cục)
- Ông La Anh Tú – Thống kê viên (luân chuyển từ Chi cục Thống kê khu vực Na Hang – Lâm Bình về Văn phòng cục)
- Bà Triệu Thị Nhung – Thống kê viên
3. Thống kê Kinh tế
- Bà Nguyễn Thị Thu Nga – Trưởng phòng
- Bà Trương Thị Mỹ Linh - Phó trưởng phòng
- Ông Lê Quang Thái – Thống kê viên
- Ông Nguyễn Chí Kiên - Thống kê viên (năm 2020 luân chuyển từ Chi cục Thống kê huyện Sơn Dương về Văn phòng Cục)
- Bà Lê Thuỳ Chang- Thống kê viên
- Bà Đinh Thị Kiều Liên – Thống kê viên
4. Phòng Thống kê Xã hội
- Bà Nguyễn Thu Giang – Phó trưởng phòng
- Bà Phạm Thị Thuỳ Linh - Thống kê viên
5. Phòng Thu thập Thông tin thống kê
- Ông Phạm Quang Vinh – Trưởng phòng
- Bà Phạm Thị Hồng Thắm – Phó trưởng phòng
- Bà Đỗ Thị Kim Ngọc -Thống kê viên (năm 2020 luân chuyển từ chi cục Thống kê huyện Yên Sơn về Văn Phòng Cục)
- Ông Phạm Hùng Cường – Thống kê viên
- Bà Trần Thị Thức – Thống kê viên
- Bà Trần Duy Linh – Thống kê viên
B. Chi cục Thống kê các huyện , thành phố
1. Chi cục Thống kê khu vực Na Hang - Lâm Bình
- Ông Quan Văn Tuấn – Chi cục trưởng
-Ông Phạm Quốc Tuấn – Thống kê viên (luân chuyển từ chi cục Thống kê huyện Hàm Yên về)
- Ông Quốc Tiến Vinh – Thống kê viên Cao đẳng
- Ông Lê Ngọc Quân -Thống kê viên
- Bà Vi Thị Na - Thống kê viên
- Bà Vương Thị Huyền – Thống kê viên Cao đẳng
2. Chi cục Thống kê khu vực Chiêm Hoá - Hàm Yên
- Ông Ma Văn Dương – Chi cục trưởng
- Bà Hà Thị Dung – Phó Chi cục trưởng
- Ông Đặng Ngọc Quang – Phó Chi cục trưởng
- Bà Ma Thị Yến – Thống kê viên Cao đẳng
- Ông Hà Tiến Khôi – Thống kê viên
- Bà Nguyễn Thị Xuân – Thống kê viên
- Ông Lưu Đức Toàn - Thống kê viên
- Bà Trần Thị Thu Hoài – Thống kê viên
- Bà Lương Thanh Hà – Thống kê viên Cao đẳng
3. Chi cục Thống kê huyện Yên Sơn
- Bà Ngô Thị Thu Sang – Chi cục trưởng
- Ông Phạm Dũng – Phó Chi cục trưởng (Bổ nhiệm năm 2019)
- Bà Nông Thị Vân Khánh – Thống kê viên Cao đẳng
- Ông Trần Trung Nghĩa – Thống kê viên Cao đẳng
- Bà Ngô Thị Như Quỳnh – Thống kê viên
4. Chi cục Thống kê huyện Sơn Dương
- Ông Hồ Khánh Hoàn – Chi cục trưởng
- Ông Ma Duy Cương – Thống kê viên
- Ông Trần Xuân Hưng - Thống kê viên (luân chuyển từ Phòng Thống kê Nông nghiệp về năm 2020)
- Bà Bùi Thị Hương - Thống kê viên Cao đẳng
- Bà Phạm Thị Thu Thuỷ- Thống kê viên
- Bà Nguyễn Thị Thuỳ- Thống kê viên
5. Chi cục Thống kê Thành phố Tuyên Quang.
- Ông Phạm Hồng Hải - Phó chi cục trưởng phụ trách ( Bổ nhiệm năm 2020)
- Ông Luyện Đức An- Thống kê viên (năm 2020 luân chuyển từ Văn phòng Cục về)
- Ông Nguyễn Tiến Quân – Thống kê viên
- Bà Ngô Thị Thu Hường - Thống kê viên
Bên cạnh việc ban hành Quyết định quy định chức năng nhiệm vụ quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Thống kê tỉnh thành phố trực thuộc Trung ương. Ngày 05 tháng 8 năm 2020 Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê đã ban hành Quyết định số 1246/QĐ-TCTK Ban hành Quy định vị trí, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của các phòng thuộc Cục Thống kê tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Ngày 30 tháng 12 năm 2020 Tổng cục Thống kê ban hành quyết định số 1908/QĐ-TCTK Ban hành Quy chế phối hợp giữa các phòng thuộc Cục Thống kê tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong hoạt động Thống kê. Từ khi có Quyết định 1246/QĐ-TCTK; Quyết định 1908/QĐ-TCTK của Tổng cục Thống kê các hoạt động của Cục Thống kê đã thực hiện chuyên môn hoá trong công việc đồng thời tránh được việc trùng chéo trong công tác Thống kê.
3. Về cơ sở vật chất
Trong những năm này nhờ có sự quan tâm của Bộ Kế hoạch và Đầu tư mà trực tiếp là Tổng cục Thống kê nên cơ sở vất chất của Cục Thống kê Tuyên Quang đã có sự thay đổi đáng kể cả về số lượng và chất lượng.
- Trụ sở làm việc: Được sự quan tâm đầu tư của Tổng cục Thống kê Cục Thống kê đã tiến hành cải tạo trụ sở làm việc 3 tầng khang trang có hội trường phục vụ cho các cuộc họp, hội trường được trang bị đầy đủ các thiết bị như (máy chiếu, điều hoà) phục vụ cho các cuộc họp và hội nghị tập huấn của ngành, các phòng làm việc đã lắp đặt điều hòa, cán bộ công chức được trang bị bàn ghế, máy tính, hệ thống mạng tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ, công chức trong ngành làm việc. Tháng 10 năm 2011 Tổng cục Thống kê đã tạo điều kiện cho cục Thống kê đầu tư xây dựng mở rộng trụ sở Cục Thống kê. Đặc biệt năm 2020 Tổng cục Thống kê đã đầu tư trang bị cho Cục Thống kê đầy đủ các trang thiết bị phòng họp trực tuyến, phòng họp trực tuyến đã phục vụ trực tiếp các đợt tấp huấn nghiệp vụ giữa Tổng cục Thống kê với Cục Thống kê. Nhờ có phòng họp trực tuyến đã giảm được một số khoản chi phí, tiết kiệm được thời gian và tăng số lượng người dự tập huấn (trước đây mỗi đợt tập huấn do Tổng cục Thống kê Tổ chức chỉ có 3 đến 4 người tham gia), đến nay số người tham gia tập huấn được đông hơn, thành phần các lớp tập huấn đa đạng và đầy đủ hơn; chất lượng tập huấn nghiệp vụ đạt hiệu quả cao hơn.
Cùng với việc đầu tư xây dựng trụ sở cục Thống kê tỉnh, Tổng cục còn quan tâm đầu tư xây dựng trụ sở làm việc Chi cục Thống kê các huyện thành phố (Năm 2010 xây dựng trụ sở làm việc Chi cục Thống kê huyện Chiêm Hoá; năm 2011 xây dựng trụ sở làm việc Chi cục Thống kê huyện Yên Sơn; năm 2012 xây dựng trụ sở làm việc Chi cục Thống kê huyện Sơn Dương; năm 2017 xây dựng trụ sở làm việc Chi cục thống kê Thành phố Tuyên Quang và trụ sở làm việc Chi cục Thống kê huyện Hàm Yên; năm 2019 xây dựng trụ sở làm việc Chi cục thống kê huyện Na Hang và năm 2020 xây dựng trụ sở làm việc Chi cục Thống kê huyện Lâm Bình) . Đến nay 100% trụ sở làm việc Chi cục Thống kê huyện, thành phố của tỉnh Tuyên Quang đã có trụ sở kiên cố 2 tầng với diện tích sàn trên 120 M2. Nhờ có sự quan tâm đầu tư xây dựng của Tổng cục Thống kê nên về cơ sở vật chất của Chi cục thống kê các huyện, thành phố trong tỉnh được xây dựng khang trang sạch đẹp, thông qua việc đầu tư xây dựng trụ sở và mua sắm thiết bị cho Cục Thống kê và Chi cục Thống kê huyện, thành phố, đây là nguồn động viên to lớn đối với cán bộ công chức làm công tác Thống kê tại các huyện, thành phố, đồng thời vị thế ngành thống kê được năng cao.
- Ô tô: Năm 2012 được sự quan tâm của Tổng cục Thống kê đã cấp kinh phí cho Cục Thống kê mua 1 ô tô xe Fortuner 7 chỗ ngồi. Đến nay Cục Thống kê có 2 xe ô tô 7 chỗ ngồi phục vụ cho nhu cầu công tác của toàn ngành.
- Thiết bị làm việc: Đến nay về cơ bản các máy móc, thiết bị làm việc của Công chức trong toàn ngành được Tổng cục Thống kê quan tâm trang bị từ Cục Thống kê tới các Chi cục Thống kê mỗi công chức 1 máy vi tính có cấu hình cao. Ngoài ra hàng năm Cục Thống kê còn tiết kiệm nguồn kinh phí chi thường xuyên giành để mua sắm máy photocopy trang bị cho Chi cục Thống kê huyện thành phố, đến nay 100% Chi cục Thống kê huyện, thành phố trong tỉnh đã được trang bị máy photocopy phục vụ cho yêu cầu công tác.
Mạng Lan (mạng nội bộ) của Cục Thống kê hàng năm thường xuyên duy tu bảo dưỡng, hệ thống mạng hoạt động tốt kết nối giữa Tổng cục Thống kê tới Cục Thống kê và Chi cục Thống kê các huyện, thành phố trong tỉnh. Việc áp dụng công nghệ thông tin vào công tác chuyên môn đã có tác dụng rất lớn các cuộc điều tra sau khi hoàn thiện các phiếu điều tra được ngành Thống kê nhập tin và truyền dữ liệu về Tổng cục. Đến nay hầu hết các nghiệp vụ đã thực hiện việc truyền thông tin báo cáo và số liệu điều tra qua mạng về Tổng cục Thống kê.
4. Mạng lưới thống kê
4.1. Thống kê xã, phường, thị trấn
Công tác Thống kê xã, phường, thị trấn luôn được Cấp uỷ, chính quyền các cấp quan tâm. Căn cứ Nghị định số 34/2019/NĐ-CP ngày 24 tháng 4 năm 2019 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số quy định về cán bộ, công chức cấp xã và người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố; Thông tư số 13/2019/TT-BNV ngày 06/11/2019 của Bộ Nội vụ Hướng dẫn một số quy định về cán bộ công chức cấp xã và người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố. Theo Thông tư 13/2019/TT-BNV của Bộ Nội vụ ở cấp xã mỗi xã được bố trí một công chức Văn phòng - Thống kê, đến nay hầu hết các xã, phường, thị trấn đều bố trí 1 cán bộ kiêm nhiệm công tác thống kê. Về cơ bản cán bộ làm công tác thống kê xã, phường, thị trấn đều có trình độ chuyên môn từ Trung cấp trở lên ngoài ra cán bộ thống kê còn được cử đi học quản lý nhà nước, bồi dưỡng lý luận chính trị. Trong công tác chuyên môn cán bộ thống kê cơ sở đã tổ chức triển khai thực hiện các cuộc điều tra thống kê theo kế hoạch của Cục Thống kê và thực hiện các báo cáo Thống kê theo hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp xã được Nhà nước quy định, ngoài ra còn tham mưu giúp cấp ủy Đảng, chính quyền tổng hợp số liệu, đánh giá tình hình thực các mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội của địa phương.
4.2. Thống kê các sở, ban, ngành, doanh nghiệp
Hầu hết các sở, ban, ngành, các đơn vị sản xuất kinh doanh, đơn vị sự nghiệp trên địa bàn tỉnh, đều bố trí cán bộ làm công tác thống kê tổng hợp chuyên trách hoặc kiêm nhiệm công tác tài vụ, kế toán - thống kê hoặc công tác Kế hoạch – Thống kê. Phần lớn cán bộ làm công tác thống kê các sở, ban, ngành, các đơn vị đều có trình độ từ đại học trở lên. Trong hoạt động, thực hiện nhiệm vụ thống kê, cán bộ thống kê tại các sở, ban, ngành, các đơn vị đã triển khai thực hiện các chế độ báo cáo thống kê theo hệ thống chỉ tiêu thống kê được Nhà nước quy định, đồng thời góp phần quan trọng trong việc thực hiện nhiệm vụ chuyên môn do Cục Thống kê chỉ đạo.
5. Về chế độ báo cáo
5.1. Thống kê tổng hợp
Thời gian gần đây Thống kê Tổng hợp tiếp tục thực hiện chế độ báo cáo với Tổng cục theo qui định. Gồm báo cáo nhanh hàng tháng, báo cáo ước tính số liệu, phân tích tình hình thực hiện kế hoạch kinh tế - xã hội quý I, 6 tháng, 9 tháng và dự báo cả năm (lần 1 và lần 2). Báo cáo kết quả thực hiện các chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu và biên soạn Niên giám Thống kê tỉnh. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ Cục Thống kê đã có nhiều đổi mới, ngoài việc đảm bảo hệ thống chỉ tiêu của Tổng cục Thống kê quy định. Ngành Thống kê Tuyên Quang đã bám sát các mục tiêu nghị quyết Đại hội đảng các cấp, Nghị quyết HĐND tỉnh, chương trình mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội hàng năm của địa phương, hướng dẫn, chỉ đạo Chi cục Thống kê và Thống kê cấp xã, thống kê các sở, ban, ngành trong tỉnh thu thập, tổng hợp báo cáo kịp thời với cấp ủy và chính quyền các cấp, giúp cho sự chỉ đạo, điều hành của các cấp, các ngành hiệu quả hơn. Định kỳ hàng tháng, lãnh đạo Cục đã chỉ đạo các phòng nghiệp vụ bám sát cơ sở, kịp thời thu thập thông tin lập báo cáo. Các báo cáo của Cục và Chi cục Thống kê các huyện, thành phố số liệu thu thập đã sát với tình hình thực tế tại địa phương được cấp ủy và chính quyền địa phương sử dụng trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo điều hành phát triển kinh tế - xã hội.
Ngoài việc lập các báo nhanh tháng, quý thống kê Tổng hợp còn thu thập thông tin tổng hợp số liệu lập Niên giám Thống kê cấp tỉnh và huyện,
Tiếp tục triển khai thực hiện đề án đổi mới đồng bộ các hệ thống chỉ tiêu thống kê ban hành theo Quyết định số 312/QĐ-TTg ngày 03/3/2010 của Thủ tướng Chính phủ. Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã ban hành Thông tư số 08/2012/TT-BKHĐT ngày 07/11/2012 quy định chế độ báo cáo thống kê tổng hợp áp dụng đối với Cục Thống kê thành phố trực thuộc Trung ương, cùng với 63 Cục Thống kê tỉnh, thành phố trong cả nước Cục Thống kê Tuyên Quang triển khai thực hiện áp dụng từ ngày 07/11/2012, chế độ báo cáo ban hành theo Thông tư 08/2012/TT-BKHĐT Cục Thống kê Tuyên Quang tiếp tục triển khai thực hiện 10 biểu báo cáo gồm các báo cáo về giá trị sản xuất, chi phí tăng thêm thuế và trợ cấp sản phẩm phân theo ngành kinh tế cấp I, II (theo giá hiện hành và giá so sánh); tổng sản phẩm bình quân đầu người; thu ngân sách nhà nước tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; chi ngân sách địa phương và cân đối ngân sách địa phương.
Về biên soạn Niên giám Thống kê, định kỳ hàng năm Cục Thống kê duy trì biên soạn niên giám Thống kê. Đây là cuốn số liệu quan trọng, hệ thống hóa toàn bộ dữ liệu thống kê tổng hợp của ngành qua các năm công tác biên soạn niên giám thống kê có nhiều đổi mới ngoài việc tổng hợp số liệu niên giám Thống kê do Cục Thống kê biên soạn còn có những biểu đồ minh hoạ và giải thích thuật ngữ, nội dung và phương pháp tính các chỉ tiêu thống kê giúp cho người đọc dễ dàng nắm bắt, hiểu hơn về thông tin thống kê, điểm mới của niên giám thống kê trong những năm gần đây niên giám thống kê biên soạn song ngữ (tiếng việt và tiếng anh) nhằm đa dạng hoá đối tượng sử dụng thông tin thống kê. Cùng với việc biên soạn niên giám thống kê cấp tỉnh Cục Thống kê đã chỉ đạo Chi cục Thống kê các huyện, thành phố, phối hợp với các phòng nghiệp vụ, tổ chức thu thập thông tin biên soạn niên giám thống kê cấp huyện, nhờ có việc tổ chức biên soạn niên giám thống kê huyện, thành phố, các số liệu thống kê hàng năm được lưu giữ, phục vụ cho việc đánh giá kết quả thực hiện và xây dựng hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương. Ngoài việc biên soạn cuốn Niên giám Thống kê, hàng năm Cục Thống kê còn biên soạn hệ thống số liệu ước tính các chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu dưới hình thức tờ gấp phục vụ cho các kỳ họp của Tỉnh ủy và HĐND tỉnh. Đặc biệt trong năm 2020 Cục Thống kê đã phối hợp với các sở (Kế hoạch và Đầu tư; Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; sở Công – Thương) thu thập tổng hợp số liệu đánh giá kết quả thực hiện các mục tiêu Nghị quyết Đảng bộ tỉnh khoá XVI (nhiệm kỳ 2015-2020), xây dựng mục tiêu nghị quyết đại hội Tỉnh đảng bộ nhiệm kỳ (2020-2025).
5.2. Hệ thống tài khoản quốc gia
Trong thời gian này chế độ báo cáo hệ thống tài khoản quốc gia tiếp tục thực hiện nhiệm vụ theo Quyết định số 75/2003/QĐ –TCTK ngày11/01/2003 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê ban hành tạm thời chế độ báo cáo Thống kê định kỳ tài khoản quốc gia áp dụng từ ngày 01/01/2003, theo quyết định này, giảm một số chỉ tiêu báo cáo chính thức về tài chính doanh nghiệp Nhà nước, thực hiện 16 biểu về tổng hợp hệ thống tài khoản quốc gia, về tài sản cố định doanh nghiệp Nhà nước và khu vực hành chính sự nghiệp về thống kê Ngân hàng và thống kê Ngân sách.
Ngày 04 tháng 01 năm 2019 Bộ Kế hoạch và Đầu tư ban hành Thông tư số 01/2019/ TT-BKHĐT quy định Chế độ báo cáo thống kê ngành Thống kê. Theo thông tư 01/2019 /TT-BKHĐT Thống kê Tài khoản quốc gia phải triển khai thực hiện 9 biểu gồm : Biểu số 01.N/BCC-TKQG Báo cáo chính thức số cơ sở hành chính và số lao động trong các cơ sở hành chính; Biểu 02.H/BCC-TKQG Báo cáo ước tính, sơ bộ thu và cơ cấu thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Biểu 03.H/BCC-TKQG Báo cáo sơ bộ thu ngân sách nhà nước theo ngành kinh tế và loại hình kinh tế trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Biểu 04.H/BCC-TKQG Báo cáo ước tính, sơ bộ chi và cơ cấu chi ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Biểu 05.H/BCC-TKQG Báo cáo sơ bộ chi ngân sách nhà nước theo ngành kinh tế trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Biểu 06.N/BCC-TKQG Báo cáo chính thức số người đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp; Biểu 07.N/BCC-TKQG Báo cáo chính thức số người hưởng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp; Biểu 08.H/BCC-TKQG Báo cáo ước tính, chính thức thu, chi bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp; Biểu 09.H/BCC-TKQG Báo cáo ước tính, chính thức một số chỉ tiêu về tiền tệ, ngân hàng và hoạt động kinh doanh xổ số
5.3. Thống kê công nghiệp, XDCB và GTVT
a. Thống kê Công nghiệp
Tiếp tục triển khai thực hiện Thông tư số 08/2012/TT-BKHĐT ngày 07/11/2012 của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư, quy định Chế độ báo cáo thống kê công nghiệp:
Báo cáo tháng gồm: Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp; Chỉ số sản xuất công nghiệp (theo giá hiện hành); Chỉ số sản xuất công nghiệp (theo giá so sánh 2010); Sản phẩm chủ yếu ngành công nghiệp; Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo; Chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo; Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp.
Báo cáo năm gồm: Giá trị sản xuất công nghiệp (theo giá so sánh 1994); Giá trị sản xuất công nghiệp (theo giá hiện hành); Giá trị sản xuất công nghiệp (theo giá so sánh 2010); Sản phẩm chủ yếu ngành công nghiệp; Lao động ngành công nghiệp; Số lượng cơ sở ngành công nghiệp; Nguồn vốn, tài sản cố định cơ sở cá thể ngành công nghiệp thời điểm 01/10; Doanh thu, nộp ngân sách cơ sở cá thể ngành công nghiệp năm vào ngày 30/4 năm sau.
Đến tháng 01 năm 2019 Thống kê Công nghiệp áp dụng theo chế độ báo cáo mới theo Thông tư số 01/2019/TT-BKHĐT ngày 04 tháng 01 năm 2019 gồm 5 biểu: Biểu 01.N/BCC-CN Báo cáo chính thức Sản lượng sản phẩm chủ yếu của ngành công nghiệp; Biểu 02.N/BCC-CN Báo cáo chính thức Số lượng cơ sở ngành công nghiệp; Biểu 03.N/BCC-CN Báo cáo chính thức Lao động ngành công nghiệp; Biểu 04.N/BCC-CN Báo cáo chính thức Nguồn vốn, tài sản cố định của cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể ngành công nghiệp; Biểu 05.N/BCC-CN Báo cáo chính thức Doanh thu, nộp ngân sách của cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể ngành công nghiệp.
b. Thống kê XDCB
Đối với nghiệp vụ này, vẫn tiếp tục thực hiện chế độ báo cáo theo Thông tư số 08/2012/TT-BKHĐT ngày 07/11/2012 của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư, quy định Chế độ báo cáo thống kê Xây dựng. Cục Thống kê đã tổ chức triển khai thực hiện các báo cáo tháng, quý, năm gồm: Thực hiện vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý; Thực hiện vốn đầu tư phát triển trên địa bàn quý; Ước thực hiện vốn đầu tư phát triển trên địa bàn năm; Thực hiện vốn đầu tư phát triển trên địa bàn chia theo nguồn vốn và chia theo khoản mục đầu tư năm; Thực hiện vốn đầu tư phát triển trên địa bàn chia theo ngành kinh tế cấp II (VSIC 2007) năm; Giá trị tài sản cố định của khu vực doanh nghiệp thời điểm 31/12 hàng năm; Giá trị tài sản cố định của đơn vị hành chính sự nghiệp thời điểm 31/12 hàng năm; Danh mục dự án/công trình thực hiện trên địa bàn năm; Báo cáo hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tháng; Giá trị sản xuất ngành xây dựng theo giá hiện hành quý; Giá trị sản xuất ngành xây dựng theo giá so sánh quý; Giá trị sản xuất ngành xây dựng theo giá hiện hành năm; Giá trị sản xuất ngành xây dựng theo giá so sánh năm; Công trình, hạng mục công trình xây dựng hoàn thành trong 5 năm; Số lượng doanh nghiệp xây dựng và cơ sở cá thể hoạt động xây dựng có đến 31/12 hàng năm; Số lượng lao động trong doanh nghiệp xây dựng và cơ sở cá thể hoạt động xây dựng có đến 31/12 hàng năm; Thu nhập của người lao động trong doanh nghiệp xây dựng năm; Tài sản và nguồn vốn của doanh nghiệp xây dựng năm; Doanh thu, nộp ngân sách của doanh nghiệp xây dựng năm; Nhà tự xây, tự ở hoàn thành trong năm của hộ dân cư.
c. Thống kê Giao thông vận tải
Thống kê giao thông vận tải trong thời gian từ năm 2016 đến tháng 12/2019 vẫn áp dụng theo Quyết định số 732/2002QĐ-TCTK ngày 15/11/2002 đối với các doanh nghiệp Nhà nước chủ yếu dựa vào chế độ báo cáo định kỳ, đối với doanh nghiệp và các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh chủ yếu theo điều tra chọn mẫu thời điểm 01/10 hàng năm, phù hợp với cơ chế quản lý của nền kinh tế thị trường.
Đến tháng 01/2019 chế độ báo cáo Thống kê giao thông vận tải được gộp với mảng thống kê Thương mại và Dịch vụ.
5.4. Thống kê Nông, lâm nghiệp
Đối với chế độ báo cáo thống kê Nông, Lâm nghiệp vẫn thực hiện chế độ báo cáo theo Thông tư số 08/2012/TT-BKHĐT ngày 7/11/2012 Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Quy định chế độ báo cáo thống kê tổng hợp áp dụng đối với Cục Thống kê tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Tại Thông tư 08/2012/TT-BKHĐT ngày 7/11/2012, nghiệp vụ thống kê Nông nghiệp phải áp dụng thực hiện 32 biểu gồm: Một số chỉ tiêu chủ yếu của trang trại; Một số chỉ tiêu cơ bản của trang trại; Giá trị sản phẩm trên 1 ha đất trồng trọt và nuôi trồng thủy sản; Diện tích, năng suất, sản lượng cây hàng năm; diện tích, năng suất, sản lượng cây lâu năm; số lượng và sản phẩm chăn nuôi; Giá trị sản xuất nông nghiệp (theo giá hiện hành và giá so sánh 2010); Giá trị sản xuất lâm nghiệp (theo giá hiện hành và giá so sánh 2010); Giá trị sản xuất thủy sản (theo giá hiện hành và giá so sánh 2010); Trồng, chăm sóc và nuôi dưỡng rừng; Khai thác, thu nhặt gỗ và lâm sản; thiệt hại rừng; Tình hình cơ bản về nuôi trồng và khai thác thủy sản nội địa; Sản lượng thủy sản...
Ngày 04 tháng 01 năm 2019 Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã ban hành Thông tư số 01/2019/TT-BKHĐT chế độ báo cáo thống kê ngành thống kê, theo Thông tư số 01/2019/TT- BKHĐT Thống kê Nông, lâm nghiệp phải thực hiện 16 biểu báo cáo cụ thể như: Biểu 01.N/BCC- BKHĐT Thống kê Nông, lâm nghiệp và Thuỷ sản phải thực hiện 18 biểu các loại gồm: NLTS Báo cáo chính thức Số lượng trang trại; Biểu 02.N/BCC-NLTS Báo cáo sơ bộ, chính thức Giá trị sản phẩm thu hoạch trên một hecta đất trồng trọt và nuôi trồng thủy sản; Biểu 03.H/BCC-NLTS Báo cáo ước tính, sơ bộ Diện tích, năng suất, sản lượng cây hàng năm; Biểu 04.V/BCC-NLTS Báo cáo chính thức Diện tích, năng suất, sản lượng cây hàng năm: Biểu 05.N/BCC-NLTS Báo cáo chính thức diện tích, năng suất, sản lượng cây hàng năm cả năm; Biểu 06.H/BCC-NLTS Báo cáo ước tính, sơ bộ Diện tích, sản lượng cây lâu năm; Biểu 07.N/BCC-NLTS Báo cáo ước tính, sơ bộ Diện tích, năng suất, sản lượng cây lâu năm (năm);
Ngày 31/7/2015 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1225/QĐ-TTg về tổ chức Tổng điều tra Nông thôn, nông nghiệp và thủy sản năm 2016 đây là cuộc Tổng điều tra lần thứ 5 được tổ chức triển khai thực hiện trên phạm vi toàn quốc. Cuộc Tổng điều tra lần này được thực hiện theo 03 nội dung chính:
1. Thông tin về sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, diêm nghiệp và thuỷ sản: Số lượng đơn vị sản xuất; số lao động và cơ cấu lao động; quy mô sản xuất; tình hình thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá và ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản; năng lực sản xuất; tiếp cận thông tin của các đơn vị sản xuất; đánh giá kết quả tái cơ cấu ngành nông nghiệp; phát triển kinh tế trang trại; tác động của sản xuất nông nghiệp tới môi trường,...
2. Thông tin về nông thôn: Thực trạng và sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn; thực trạng và những chuyển biến về kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn; thông tin về ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và nước biển dâng; vệ sinh môi trường nông thôn; thông tin phản ánh một số nội dung trong kết quả thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới.
3. Thông tin về cư dân nông thôn: điều kiện sống của cư dân nông thôn; tích luỹ và khả năng huy động vốn, tình hình vay vốn, khả năng tiếp cận tín dụng của cư dân nông thôn; đào tạo nghề cho lao động nông thôn; vai trò phụ nữ trong sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản.
Tổng điều tra Nông thôn nông nghiệp và thuỷ sản năm 2016 đã được tỉnh Tuyên Quang thực hiện nghiêm túc theo đúng kế hoạch của Tổng cục Thống kê, kết quả của cuộc Tổng điều tra đã được các cấp ,các ngành, các địa phương sử dụng trong công tác hoạch định chính sách phát triển về nông thôn nông nghiệp và thuỷ sản.
5.5. Thống kê Thương mại, giá cả và dịch vụ
Tiếp tục triển khai thực hiện chế độ báo cáo theo Thông tư số 08/2012/TT-BKHĐT ngày 07/11/2012 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư quy định chế độ báo cáo thống kê tổng hợp, Chế độ báo cáo chuyên ngành thương mại và dịch vụ áp dụng đối với Cục Thống kê tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.Theo Thông tư 08/2012/TT-BKHĐT Cục Thống kê Tuyên Quang phải thực hiện 27 biểu báo cáo gồm:
Báo cáo tháng gồm: Tổng mức bán lẻ hàng hóa; Doanh thu của một số ngành kinh doanh dịch vụ; Kết quả hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành; Kết quả hoạt động vận tải hành khách; Kết quả hoạt động vận tải hàng hóa; Kết quả hoạt động kho bãi, hỗ trợ vận tải; Xuất khẩu hàng hóa; Nhập khẩu hàng hóa; Thu/chi về dịch vụ với nước ngoài (Xuất, nhập khẩu dịch vụ).
Báo cáo năm gồm: Tổng mức bán lẻ hàng hóa; Kết quả hoạt động bán lẻ hàng hóa; Doanh thu của một số ngành kinh doanh dịch vụ; Kết quả hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành; Khách du lịch do cơ sở lưu trú, cơ sở du lịch lữ hành phục vụ; Khách du lịch do cơ sở lưu trú phục vụ phân theo loại cơ sở lưu trú; Năng lực và kết quả hoạt động của các cơ sở lưu trú du lịch; Danh sách khách sạn, điểm cắm trại và các dịch vụ nghỉ trọ ngắn ngày.
Đến đầu năm 2019 Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã ban hành Thông tư số 01/2019/TT-BKHĐT ngày 04 tháng 01 năm 2019 chế độ báo cáo thống kê về lĩnh vực Thương mại và Dịch vụ gồm 20 biểu cụ thể: Biểu 01.T/BCC-TMDV Báo cáo ước tính tổng mức bán lẻ hàng hóa; Biểu 02.T/BCC-TMDV Báo cáo ước tính doanh thu bán buôn hàng hóa; Biểu 03.T/BCC-TMDV Báo cáo ước tính kết quả hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành; Biểu 04.T/BCC-TMDV Báo cáo ước tính doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản; Biểu 05.T/BCC-TMDV Báo cáo ước tính doanh thu các ngành dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ, giáo dục và đào tạo, y tế, nghệ thuật, vui chơi và giải trí và dịch vụ khác (ngành S trừ ngành 94); Biểu 06.T/BCC-TMDV Báo cáo ước tính kết quả hoạt động vận tải, kho bãi; Biểu 07.Q/BCC-TMDV Báo cáo ước tính doanh thu dịch vụ thông tin và truyền thông và chuyên môn khoa học công nghệ; Biểu 08.N/BCC-TMDV Báo cáo chính thức tổng mức bán lẻ hàng hóa; Biểu 09.N/BCC-TMDV Báo cáo chính thức doanh thu bán buôn hàng hóa; Biểu10.N/BCC-TMDV Báo cáo chính thức kết quả hoạt động thương nghiệp; Biểu11.N/BCC-TMDV Báo cáo chính thức kết quả hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành; Biểu12.N/BCC-TMDV Báo cáo chính thức danh mục các cơ sở lưu trú; Biểu13.N/BCC-TMDV Báo cáo chính thức kết quả hoạt động dịch vụ thông tin và truyền thông và chuyên môn khoa học công nghệ; Biểu14.N/BCC-TMDV Báo cáo chính thức kết quả hoạt động dịch vụ kinh doanh bất động sản; Biểu15.N/BCC-TMDV Báo cáo chính thức kết quả hoạt động dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ, giáo dục và đào tạo, y tế, nghệ thuật, vui chơi và giải trí và dịch vụ khác (ngành S trừ ngành 94); Biểu 16.N/BCC-TMDV Báo cáo chính thức kết quả hoạt động vận tải hành khách; Biểu17.N/BCC-TMDV Báo cáo chính thức kết quả hoạt động vận tải hàng hóa; Biểu18.N/BCC-TMDV Báo cáo chính thức doanh thu hoạt động kho bãi, hỗ trợ vận tải; Biểu 19.N/BCC-TMDV Báo cáo chính thức số phương tiện vận tải trong các đơn vị kinh doanh vận tải có đến 31/12; Biểu 20.N/BCC-TMDV Báo cáo chính thức khối lượng hàng hóa thông qua cảng.
5.6. Thống kê Dân số, xã hội, môi trường
a. Thống kê Dân số và Lao động
Cho đến năm 2001, ngành Thống kê Tuyên Quang vẫn tổ chức thực hiện chế độ báo cáo chính thức và ước tính dân số hàng năm, điều tra điển hình về biến động dân số và KHHGĐ vào thời điểm 01/4 và 01/10 hàng năm. Báo cáo tình hình điều động dân cư đi xây dựng vùng kinh tế mới. Tình hình giải quyết việc làm ở khu vực thành thị, tình hình lao động, tiền lương khu vực Nhà nước.
Thực hiện Quyết định số 772/QĐ-TTG ngày 26 tháng 6 năn 2018 của Thủ tướng Chính phủ về tổ chức Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019 Đây là cuộc Tổng điều tra lần thứ 5 được triển khai trên phạm vi cả nước cuộc Tổng điều tra lần này thu thập 10 nội dung chính: Thông tin chung về dân số; Tình trạng di cư; Trình độ học vấn và trình độ chuyên môn kỹ thuật; Tình trạng khuyết tật; Tình trạng hôn nhân; Mức độ sinh chết và phát triển dân số; Tình hình đăng ký khai sinh của trẻ em; Tình hình lao động việc làm; Thực trạng nhà ở; Điều kiện sinh hoạt cơ bản của hộ dân cư. So với Tổng điều tra năm 2009, Tổng điều tra năm 2019 đã cải tiến cả về phương pháp và hình thức thu thập thông tin. Như Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009 chỉ sử dụng phương pháp điều tra trực tiếp (điều tra viên thống kê phỏng vấn trực tiếp đối tượng điều tra và ghi chép thông tin vào phiếu giấy), thì Tổng điều tra năm 2019 áp dụng cả hai phương pháp là điều tra trực tiếp và điều tra gián tiếp (hộ dân cư tự cung cấp thông tin về dân số và nhà ở thông qua phiếu điều tra trực tuyến). Về hình thức thu thập thông tin, Tổng điều tra năm 2019 áp dụng hai hình thức: điều tra bằng phiếu điện tử trên thiết bị di động (còn gọi là CAPI - đây là hình thức chủ yếu và điều tra bằng phiếu trực tuyến sử dụng Internet (còn gọi là Webform), tuy nhiên một số địa bàn điều tra áp dụng phiếu giấy truyền thống (PAPI).
Công tác Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019 đã được tỉnh Tuyên Quang thực hiện nghiêm túc theo đúng kế hoạch của Tổng cục Thống kê, kết quả của cuộc Tổng điều tra đã được các cấp ,các ngành, các địa phương sử dụng trong công tác hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội.
b. Thống kê Xã hội - Môi trường
Trong thời gian từ 2016 đến tháng 12/2019 Thống kê xã hội Môi trường tiếp tục triển khai thực hiện theo Thông tư số 08/2012/TT-BKHĐT ngày 07/11/2012 của Bộ Kế hoạch đầu tư có hiệu lực thi hành, Phòng Thống kê Dân số - Văn xã đã triển khai thực hiện chế độ báo cáo chuyên ngành xã hội và môi trường cụ thể như: Lĩnh vực thống kê chuyên ngành xã hội môi trường có 10 biểu báo các gồm các biểu: Giáo dục phổ thông đầu năm học; Học sinh phổ thông chia theo lớp học đầu năm học; Giáo viên và học sinh phổ thông giữa năm học; Học viên giáo dục thường xuyên giữa năm học; Học sinh phổ thông bỏ học; học sinh tốt nghiệp phổ thông và giáo dục thường xuyên; Cơ sở y tế và giường bệnh (có đến 31/12 năm..); Nhân lực ý tế (có đến 31/12 năm...); Đánh giá thiệt hại do thiên tai; thiếu đói trong dân. Đến năm 2015 nghiệp vụ thống kê xã hội và môi trường có thay đổi, 2 báo cáo (Giáo viên và học sinh phổ thông giữa năm học…; giáo dục thường xuyên giữa năm học…). Số liệu ngành giáo dục không thu thập được nên Tổng cục Thống kê bỏ không áp dụng.
Ngoài ra, định kỳ hàng tháng Phòng Dân số - Văn xã còn phải triển khai thực hiện các báo cáo tháng: Phân tích xã hội - môi trường, đời sống dân cư.
Tháng 01/2019 Bộ Kế hoạch và Đầu tư Ban hành Thông tư số 01/2019/TT-BKHĐT ngày 04 tháng 01 năm 2019 về chế độ báo cáo thống kê đối với ngành Thống kê, Thống kê Xã hội - Môi trường thực hiện 7 biểu mẫu gồm: Biểu 01.N/BCC-XHMT Báo cáo chính thức giáo viên, học sinh và lớp học giáo dục phổ thông đầu năm học; Biểu 02.N/BCC-XHMT Báo cáo chính thức bác sĩ và giường bệnh; Biểu 03.K/BCC-XHMT Báo cáo chính thức đại biểu Hội đồng nhân dân; Biểu 04.N/BCC-XHMT Báo cáo chính thức lãnh đạo chính quyền; Biểu 05-N/BCC-XHMT Báo cáo chính thức lãnh đạo ngành kiểm sát; Biểu 06.N/BCC-XHMT Báo cáo chính thức lãnh đạo ngành tòa án; Biểu 07.H/BCC-XHMT Báo cáo chính thức số vụ thiên tai và mức độ thiệt hại.
Tóm lại, Kể từ ngày 18/02/2019 Thông tư số 01/2019/TT-BKHĐT của Bộ Kế hoạch và Đầu tư có hiệu lực thi hành và bãi bỏ Thông tư số 08/2012/TT-BKHĐT ngày 07 tháng 11 năm 2012 của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư quy định Chế độ báo cáo thống kê tổng hợp áp dụng đối với Cục Thống kê tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Cục Thống kê Tuyên Quang đã triển khai áp dụng thuộc các lĩnh vực thống kê Tài khoản quốc gia: 9 biểu; Lĩnh vực thống kê Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản: 16 biểu; Lĩnh vực thống kê Công nghiệp: 5 biểu; Lĩnh vực thống kê Vốn đầu tư và xây dựng: 15 biểu; Lĩnh vực thống kê Thương mại và Dịch vụ: 20 biểu; Lĩnh vực thống kê Xã hội và Môi trường: 7 biểu.
6. Công tác điều tra Thống kê
Để phù hợp với cơ chế tổ chức và quản lý sản xuất trong tình hình mới. Thời gian này công tác điều tra thống kê có nhiều thay đổi cả về phương pháp và hình thức điều tra. Trước đây điều tra thống kê đơn thuần chủ yếu điều tra viên gặp đối tượng điều tra để thu thập thông tin ghi phiếu điều tra, đến nay điều tra thống kê được áp dụng hai hình thức: điều tra bằng phiếu điện tử trên thiết bị di động (còn gọi là CAPI - đây là hình thức chủ yếu và điều tra bằng phiếu trực tuyến sử dụng Internet (còn gọi là Webform), ngoài ra một số địa bàn điều tra vẫn áp dụng điều tra ghi phiếu giấy truyền thống (PAPI). Về tổ chức điều tra từ năm 2020 về trước các cuộc điều tra do các phòng nghiệp vụ trực tiếp triển khai. Thực hiện Quyết định số 1006/QĐ-TCTK ngày 20/5/2020 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê thành lập Phòng thu thập thông tin thống kê, công tác điều tra thống kê được chuyên sâu hơn, chất lượng số liệu điều tra được đảm bảo, thông tin điều tra thu thập đầy đủ độ tin cậy cao. Cùng với công tác điều tra ra công tác kiểm tra giám sát các cuộc điều tra được Cục Thống kê quan tâm khi triển khai các cuộc điều tra, thường xuyên phân công công chức trong ngành tham gia công tác kiểm tra giám sát các cuộc điều tra đối với điều tra viên. Do quan tâm tới công tác kiểm tra giám sát cho nên chất lượng tài liệu điều tra ngày càng đảm bảo độ tin cậy cao.
7. Công tác xuất bản các ấn phẩm Thống kê
Từ năm 2016 trở về đây, hàng năm Cục Thống kê Tuyên Quang thường xuyên duy trì công tác biên soạn Niên giám Thống kê. Năm 2020 đã biên soạn Niên giám Thống kê 2015 - 2020 để phục vụ kịp thời cấp ủy địa phương đánh giá kết quả thực hiện các mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng các cấp nhiệm kỳ 2015-2020. Đặc biệt trong năm 2020 Cục Thống kê Tuyên Quang đã phối hợp với các ngành có liên quan (Sở Kế hoạch và Đầu tư; Sở Công Thương; sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn...) đánh giá các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh phục vụ cho Tỉnh ủy xây dựng văn kiện đại hội đại biểu đảng bộ tỉnh Tuyên Quang lần thứ XVII nhiệm kỳ 2020- 2025. Các huyện thành phố Chi cục Thống kê huyện đã tổng hợp, cung cấp số liệu phục vụ cho công tác xây dựng văn kiện Đại hội Đảng bộ các huyện thành phố. Hàng năm Cục Thống kê còn cung cấp số liệu phục vụ cho các cấp các ngành cố liên quan đáp ứng đầy đủ nhu cầu sử dụng thông tin thống kê của các cấp các ngành.
Các năm từ 2016 đến nay, Cục Thống kê duy trì biên soạn cuốn niên giám thống kê qua các năm, điều đáng quan tâm từ năm 2007 trở lại đây niên giám thống kê được biên soạn 2 thứ tiếng (tiếng Anh và tiếng Việt).
Ngoài ra để kịp thời phục vụ các kỳ họp của Hội đồng nhân dân tỉnh hàng năm, Cục còn tổ chức biên soạn các tờ gấp, Niên giám rút gọn (Tổng hợp một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu của địa phương), nhờ các ấn phẩm này, đã giúp công tác chỉ đạo, điều hành của cấp ủy, chính quyền các cấp trong việc phát triển kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng, xóa đói giảm nghèo được kịp thời và hiệu quả hơn.
Cùng với việc biên soạn niên giám thống kê qua các năm, qua các kỳ tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019, tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp và thủy sản năm 2016, Tổng điều tra cơ sở kinh tế hành chính sự nghiệp năm 2017, Cục Thống kê Tuyên Quang đã tổ chức biên soạn các cuốn số liệu phản ánh kết quả của cuộc Tổng điều tra, tài liệu biên soạn kết quả tổng điều tra đã giúp lãnh đạo Đảng, Nhà nước, chính quyền các cấp, các ngành xây dựng hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương.
Thông qua công tác biên soạn Niên giám Thống kê và các ấn phẩm đã góp phần nâng cao vị thế, uy tín, vai trò và trách nhiệm của ngành Thống kê đối với cấp ủy và chính quyền địa phương trong tỉnh.
8. Công tác thanh tra Thống kê, Phương pháp chế độ
Từ năm 2016 trở lại đây, hoạt động thanh tra đã có nhiều đổi mới trong việc kiểm tra thực hiện chế độ báo cáo định kỳ, báo cáo chính thức đối với các doanh nghiệp Nhà nước, các thành phần kinh tế ngoài Nhà nước. Việc thực hiện phương án các cuộc điều tra và hướng dẫn của Tổng cục Thống kê về kiểm tra sử dụng kinh phí chi thường xuyên, kinh phí chi cho các cuộc điều tra.
Căn cứ Luật số 56/2010/QH12 ban hành ngày 15/11/2010; Nghị định số 07/2012/NĐ-CP ngày 09 tháng 02 năm 2012 của Chỉnh phủ quy định về thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành và hoạt động thanh tra chuyên ngành; Quyết định số 1006/QĐ-TCTK ngày 20 tháng 5 năm 2020 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê quy định chức năng nhiệm vụ, quyền hạn, và cơ cấu tổ chức của Cục Thống kê tỉnh thành phố trực thuộc Trung ương. Hàng năm phòng Thanh tra Cục Thống kê xây dựng kế hoạch thanh tra cho từng nội dung công việc trình Tổng cục Thống kê phê duyệt, sau đó bộ phận thanh tra tổ chức thanh tra, kiểm tra đối với các đơn vị doanh nghiệp Nhà nước, các thành phần kinh tế ngoài Nhà nước và các Chi cục Thống kê huyện, thành phố trong việc thực hiện phương án điều tra; thực hiện Luật Thống kê. Sau khi Luật Thống kê được Quốc hội khóa XI thông qua, thay thế cho Pháp lệnh Kế toán - Thống kê năm 1988 và đi vào thực tế, đã khẳng định vị trí, vai trò quan trọng của công tác Thống kê.
Công tác xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thống kê được triển khai thực hiện nghiêm túc theo đúng các nội dung hướng dẫn tại Nghị định 95/2016 NĐ-CP Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thống kê thay cho (Nghị định 79/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013), cùng với công tác thanh tra công tác tiếp nhận giải quyết kịp thời thư khiếu nại được giải quyết kịp thời.
9. Về chiến lược phát triển ngành thống kê, công tác đổi mới đồng bộ hệ thống chỉ tiêu Thống kê
9.1. Chiến lược phát triển ngành thống kê
Từ năm 2016 đến nay Cục Thống kê Tuyên Quang, tiếp tục triển khai thực hiện Chiến lược phát triển ngành thống kê được Thủ tướng Chính phủ đã ban hành theo Quyết định số 1803/QĐ-TTg ngày 18/10/2011 về việc phê duyệt Chiến lược phát triển thống kê Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020 và tầm nhìn đến năm 2030. Sau khi Chiến lược phát triển thống kê Việt Nam được Thủ tướng Chính phủ ký ban hành đã giúp ngành Thống kê có đầy đủ các điều kiện về cơ sở pháp lý, bộ máy tổ chức, nguồn nhân lực, nguồn kinh phí, cơ sở vật chất, tạo tiền đề cho ngành thống kê phát triển.
Công tác tổ chức, triển khai thực hiện Chiến lược phát triển thống kê Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020 và tầm nhìn đến năm 2030. UBND tỉnh Tuyên Quang đã ban hành Quyết định thành lập Ban chỉ đạo thực hiện chiến lược; Quyết định về xây dựng kế hoạch thực hiện chiến lược, phân công các sở ngành phối hợp với ngành Thống kê để tổ chức triển khai trên địa bàn.
9.2. Về đổi mới đồng bộ hệ thống chỉ tiêu thống kê
Trong thời gian này Toàn ngành Thống kê Tuyên Quang tiếp tục thực hiện Quyết định số 54/2016/QĐ-TTg ngày 19 tháng 12 năm 2016 của Thủ tướng Chính phủ Ban hành hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã (Quyết định bao gồm danh mục và nội dung chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã). Quyết định này có hiệu lực thi hành từ ngày 05 tháng 02 năm 2017 và thay thế cho Quyết định số 312/QĐ-TTg Ngày 02/3/2010 của Thủ tướng Chính phủ; Quyết định số 43//2010/QĐ-TTg ngày 02/6/2010 về việc ban hành hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia; Thông tư số 02/2011/TT-BKHĐT ngày 10/01/2011 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư; Thông tư số 02/2012/TT-BKHĐT ngày 04/4/2012 Bộ Kế hoạch và Đầu tư quy định năm 2010 làm năm gốc thay cho năm gốc 1994 để tính các chỉ tiêu thống kê theo giá so sánh; Thông tư số 04/2011/TTBKHĐT ngày 31/3/2011của Bộ Kế hoạch và Đầu tư quy định hệ thống biểu mẫu báo cáo thống kê cơ sở áp dụng đối với doanh nghiệp nhà nước doanh nghiệp và dự án có vốn đầu tư trực tiếp với nước ngoài.
Theo Quyết định số 54/2016/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ ban hành hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh, huyện, xã. Đối với cấp tỉnh có 20 chỉ tiêu gồm: Đất đai, dân số; Lao động, việc làm và bình đẳng giới; Doanh nghiệp cơ sở kinh tế Hành chính sự nghiệp; Đầu tư và xây dựng; Tài khoản quốc gia; Tài chính công; Bảo hiểm; Nông, lâm nghiệp và Thuỷ sản; Công Nghiệp; Thương mại, Dịch vụ; Giá cả; Giao thông vận tải; Công nghệ thông tin và truyền thông; Khoa học và công nghệ thông tin; Giáo dục ; Y tế và chăm sóc sức khoẻ ; Văn hoá, thể thao và du lịch ; Mức sống dân cư; Trật tự, an toàn xã hội và tư pháp; Bảo vệ môi trường. Đối với hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp huyện gồm 3 chỉ tiêu ( Đất đai dân số và bình đẳng giới; Kinh tế; Xã hội, môi trường). Đối với hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp xã gồm 3 chỉ tiêu ( Đất đai, dân số; Kinh tế; Xã hội, môi trường).
Để triển khai có hiệu quả hệ thống chỉ tiêu cấp tỉnh trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang. Ngày 24 tháng 10 năm 2017 Uỷ ban nhân dân tỉnh Tuyên Quang đã ban hành Quyết định số 1218/QĐ-UBND về việc Phân công trách nhiệm thu thập, tổng hợp và báo cáo hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh trên địa phàn tỉnh Tuyên Quang, theo Quyết định của UBND tỉnh đã phân công cụ thể đối với các ngành trong việc thu thập thông tin và lập báo cáo thống kê.
10. Các hoạt động khác của ngành Thống kê Tuyên Quang
10.1. Các tổ chức Đảng, đoàn thể
Vai trò nông cốt của các tổ chức đoàn thể tiếp tục được nâng cao, các tổ chức đoàn thể luôn là cầu nối giữa Chi bộ đảng và lãnh đạo Cục với các tổ chức đoàn thể (Công đoàn, Đoàn thanh niên, Nữ công). Riêng tổ chức Cựu Chiến binh thời gian này do một số đồng chí hội viên trong hội nghỉ hưu theo chế độ và luân chuyển công tác. Lãnh đạo Hội cựu chiến binh được chuyển sang Sở Kế hoạch và Đầu tư (Lúc này Cục Thống kê không còn hội viên nào); các tổ chức đoàn thể luôn là nòng cốt tạo ra động lực cho các phong trào thi đua của cơ quan.
Sự phối hợp công tác chỉ đạo chuyên môn nghiệp vụ giữa chính quyền với chi bộ Đảng và các tổ chức đoàn thể trong toàn ngành, đã tạo ra sức mạnh tổng hợp và khí thế thi đua sôi nổi trong thực hiện nhiệm vụ công tác được giao, nhất là trong việc chấp hành chế độ báo cáo việc tổ chức triển khai thực hiện các cuộc điều tra, Tổng điều tra... Đảm bảo tài liệu điều tra phản ánh sát tình hình thực tế, chất lượng số liệu được nâng lên, kịp thời đáp ứng được yêu cầu của Tổng cục Thống kê và lãnh đạo địa phương. Với những kết quả đã đạt được đã góp phần xây dựng ngành Thống kê phát triển, đưa thứ bậc chung của Cục Thống kê những năm gần đây xếp ở mức trung bình khá, nhiều nghiệp vụ đứng thứ bậc giỏi trong toàn quốc.
Ban chấp hành Chi bộ luôn nêu cao vai trò lãnh đạo có tinh thần, trách nhiệm cao với nhiệm vụ được giao; luôn nêu cao tinh thần đoàn kết nội bộ, chi bộ đảng liên tục nhiều năm được công nhận là chi bộ trong sạch vững mạnh.
Các tổ chức đoàn thể: Công đoàn, Đoàn thanh niên, Ban nữ công luôn được công nhận đạt danh hiệu vững mạnh.
10.2. Công tác thi đua khen thưởng
Với quyết tâm nêu cao tinh thần đoàn kết, khắc phục khó khăn, nỗ lực phấn đấu vươn lên, từ 2016 đến nay công tác chuyên môn và các hoạt động đoàn thể của Cục Thống kê Tuyên Quang đã giành được những thành tích khá toàn diện trong các lĩnh vực nghiệp vụ chuyên môn.
Hàng năm toàn ngành có trên 98% cán bộ công chức đạt danh hiệu lao động tiến tiến, 55 - 65% tập thể nhỏ được công nhận là tập thể lao động giỏi. Có từ 15 - 20% đơn vị được công nhận là tập thể lao động xuất sắc, trên 20% công chức đạt danh hiệu chiến sỹ thi đua cơ sở, có nhiều công chức đạt danh hiệu chiến sỹ thi đua cấp Bộ, nhiều tập thể và cá nhân được tặng bằng khen của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư; bằng khen của UBND tỉnh, giấy khen của các cấp, các ngành. Từ năm 2015 đến 2020 Cục Thống kê liên tục được công nhận là đơn vị hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, đặc biệt năm 2015 Cục Thống kê đã được UBND tỉnh Tuyên Quang tặng cờ thi đua khối Tổng hợp. Năm 2020 Chủ tịch nước tặng Huân chương lao động hạng 3 cho (Phòng Tổ chức - hành chính và Phòng Thống kê Tổng hợp).
CHƯƠNG VII
TỔNG KẾT VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM
I. Tổng kết chung
Trải qua 75 năm xây dựng và trưởng thành, Ngành Thống kê trong quá trình xây dựng và phát triển đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận, bên cạnh đó cũng gặp không ít khó khăn, thách thức, song dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, cấp ủy chính quyền các cấp, sự quan tâm tạo điều kiện trực tiếp của Tổng cục Thống kê, cùng với sự cố gắng của toàn thể cán bộ công chức, viên chức trong ngành, Ngành Thống kê Việt Nam nói chung, cán bộ công chức ngành Thống kê Tuyên Quang nói riêng ngày càng trưởng thành và phát triển thực hiện tốt nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước giao, thực hiện tốt chức năng thu thập, tổng hợp, tính toán, phân tích, cung cấp những thông tin kinh tế - xã hội cho cấp uỷ và chính quyền địa phương, phục vụ kịp thời việc chỉ đạo, điều hành phát triển kinh tế - xã hội đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước.
Ngành Thống kê Tuyên Quang, trong quá trình xây dựng và phát triển đã có những bước phát triển khá, theo kịp với sự phát triển chung của toàn ngành.
Từ khi mới được thành lập, với số lượng cán bộ có hạn từ chỗ chỉ có 7 cán bộ trình độ chuyên môn nghiệp vụ còn hạn chế, đội ngũ cán bộ được tập hợp từ các ngành chuyển sang, về tổ chức hoạt động xen ghép với Văn phòng UBND tỉnh, cơ sở vật chất phụ thuộc Văn phòng UBND tỉnh. Bước đầu Ngành Thống kê Tuyên Quang tuy còn gặp những khó khăn, song với sự cố gắng nỗ lực của cán bộ công chức trong toàn ngành, Ngành Thống kê Tuyên Quang đã phát triển cả về số lượng và chất lượng. Cơ sở vật chất đã được quan tâm đáng kể, đó là động lực để ngành Thống kê hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.
Về tổ chức: Từ chỗ chỉ là 1 tổ công tác dần dần thành lập Chi cục Thống kê rồi đến Cục Thống kê là đơn vị có con dấu và tài khoản riêng hoạt động độc lập. Các huyện được thành lập các Phòng Thống kê nay là Chi cục Thống kê hoạt động dưới sự chỉ đạo của Cục Thống kê và UBND các cấp. Cục Thống kê từ chỗ UBND tỉnh quản lý sau đó Tổng cục Thống kê quản lý ngành dọc từ Trung ương đến địa phương. Qua quá trình phát triển về tổ chức của Ngành Thống kê tỉnh Tuyên Quang có thay đổi, có thời gian do Tổng cục Thống kê quản lý, có thời gian UBND tỉnh quản lý, có những giai đoạn sát nhập với Uỷ ban Kế hoạch. Nhưng dù ở hoàn cảnh nào Ngành Thống kê Tuyên Quang vẫn thể hiện vai trò trách nhiệm, vượt qua mọi khó khăn, thử thách vươn lên đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị được giao. Kể từ khi chuyển giao Cục Thống kê về Tổng cục Thống kê quản lý theo ngành dọc, Cục Thống kê Tuyên Quang được thành lập với mô hình 6 phòng nghiệp vụ ở Văn Phòng Cục, mỗi huyện có 1 Chi cục Thống kê trực thuộc Cục Thống kê tỉnh, số lượng cán bộ nghiệp vụ có trên 96% cán bộ có trình độ từ cao đẳng, đại học và trên đại học. Đội ngũ cán bộ đã được trang bị đầy đủ kiến thức cả về trình độ chuyên môn, lý luận, tin học, ngoại ngữ, quản lý nhà nước và an ninh quốc phòng, trang bị đầy đủ các điều kiện để đáp ứng yêu cầu công tác trong thời kỳ công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước. Nhiều đồng chí là cán bộ trong Ngành Thống kê khi chuyển ngành sang ngành khác công tác đã giữ các chức vụ chủ chốt như, đồng chí Đỗ Minh Huyện - Trưởng Phòng Thống kê huyện Na Hang chuyển sang UBND huyện giữ chức vụ Chủ tịch UBND huyện, Đồng chí Chẩu Công Chế chuyển sang Hội đồng nhân dân huyện giữ chức vụ Phó Chủ tịch hội đồng nhân dân huyện Na Hang; Đồng chí Luyện Văn Minh chuyển sang Tỉnh uỷ Tuyên Quang, rồi sang Đảng uỷ khối các cơ quan dân chính đảng tỉnh, giữ chức vụ Phó bí thư Đảng uỷ khối các cơ quan tỉnh. Về chuyên môn: Từ chỗ tổ chức thu thập các thông tin qua các chế độ báo cáo và qua các cuộc điều tra việc xử lý, tổng hợp còn mang tính thủ công, các thông tin chỉ phục vụ sự lãnh đạo chỉ đạo của các cấp còn hạn hẹp. Thời gian về sau việc thu thập tổng hợp, xử lý thông tin qua chế độ báo cáo và qua các cuộc điều tra ngày càng phong phú, khoa học, chất lượng thông tin ngày càng đảm bảo, đã đáp ứng ngày càng đầy đủ nhu cầu đòi hỏi của lãnh đạo Đảng, Nhà nước ở các cấp Trung ương và địa phương với hệ thống chỉ tiêu phong phú cả về số lượng và chất lượng. Công tác hệ thống hoá biên soạn các tài liệu Thống kê được nâng lên, những năm trước đây ngoài việc báo cáo về hệ thống biểu tổng hợp các cuộc điều tra, nhận xét đánh giá. Từ năm 2005 đến nay, công tác biên soạn hệ thống hoá số liệu được nâng lên, kết quả các cuộc điều tra, nhất là các cuộc Tổng điều tra có quy mô lớn như Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009 và năm 2019; Tổng điều tra Nông thôn, nông nghiệp và thuỷ sản năm 2001, năm 2006, năm 2011 và năm 2016, Tổng điều tra cơ sở kinh tế, hành chính, sự nghiệp năm 2007, năm 2012, năm 2017 ngoài việc công bố số liệu, còn được biên soạn thành sách giúp cho các đối tượng dùng tin sử dụng thuận tiện, dễ dàng trong việc đánh giá, phân tích tình hình kinh tế - xã hội của địa phương. Hàng năm phục vụ các kỳ họp Hội đồng nhân dân tỉnh, đã biên soạn số liệu thống kê thông qua hình thức tờ gấp.
Về xây dựng cơ sở vật chất: Từ chỗ gần như chưa có gì chỉ là 1 vài chiếc bàn ghế xen ghép với các bộ phận trong khối Uỷ ban huyện, cho đến nay với sự quan tâm của Tổng cục Thống kê, sự hỗ trợ của UBND tỉnh, với sự phát triển chung của Ngành, cơ sở vật chất của Ngành Thống kê Tuyên Quang đã dần từng bước được củng cố xây dựng, mua sắm đáp ứng yêu cầu công tác. Khi tách ra Chi cục Thống kê xây dựng những gian nhà tranh vách đất; thậm chí phải đi ở nhờ trong thời kỳ chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ mở rộng ra miền Bắc. Với sự phát triển chung của tỉnh, Ngành Thống kê cũng phát triển theo sự phát triển chung của đất nước, được UBND tỉnh, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, trực tiếp là Tổng cục Thống kê đã tạo điều kiện cho Cục Thống kê xây dựng trụ sở làm việc ở Văn phòng cục và các huyện, thành phố. Đến nay trụ sở của Văn phòng cục Thống kê tỉnh có 3 tầng khang trang sạch đẹp, có đầy đủ thiết bị làm việc, bàn ghế và đồ dùng văn phòng được trang bị đáp ứng yêu cầu công tác của Ngành. Có 7/7 Chi cục thống kê huyện, thành phố có trụ sở làm việc độc lập, trụ sở Chi cục Thống kê huyện, thành phố được đầu tư xây dựng kiên cố 2 tầng khang trang, được trang bị đầy đủ tiện nghi làm việc, đáp ứng yêu cầu công tác của Ngành.
Về phương tiện làm việc: Máy tính là công cụ để phục vụ cho việc tổng hợp thông tin từ chỗ sử dụng bàn tính gảy, máy tính quay tay. Đến nay đã có hệ thống máy tính hiện đại, máy tính đã trang bị cho mỗi cán bộ, công chức có 1 máy để sử dụng cho công việc. Văn phòng Cục Thống kê đã có hệ thống mạng LAN, hệ thống máy chủ truy cập Internet tốc độ cao phục vụ cho việc khai thác thông tin và truyền tin của ngành, các phương tiện khác như ô tô, các máy văn phòng đã đáp ứng yêu cầu công tác của Ngành.
75 năm phát triển và trưởng thành của Ngành Thống kê nói chung và của Ngành Thống kê Tuyên Quang nói riêng đã thể hiện rõ sự trưởng thành của Ngành Thống kê trên tất cả các lĩnh vực, sự trưởng thành đó là những bông hoa tươi thắm chào mừng 75 năm thành lập Ngành Thống kê Nhà nước và 64 năm thành lập Ngành Thống kê tỉnh Tuyên Quang.
II. Những bài học kinh nghiệm của ngành Thống kê Tuyên Quang từ ngày thành lập đến nay
Ngành Thống kê tỉnh Tuyên Quang được hình thành và phát triển ngay từ ngày đầu có Sắc lệnh, song chính thức đến năm 1957 mới thành lập tại Tuyên Quang; muộn hơn so với Thống kê Việt Nam 11 năm (Ngành Thống kê Quốc gia thành lập 06/5/1946). Trong quá trình xây dựng, phát triển, hoạt động của ngành Thống kê Tuyên Quang đã gắn liền với lịch sử đấu tranh cách mạng giải phòng miền Nam thống nhất đất nước, bảo vệ miền Bắc XHCN, bảo vệ Biên giới phía Bắc của tổ quốc, gắn liền với lịch sử cải tạo, xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Tuyên Quang và toàn quốc. Từ thực tế hoạt động trên 64 năm qua, có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm về công tác tổ chức, hoạt động và sự phát triển của ngành Thống kê tỉnh Tuyên Quang.
Một là: Phải thường xuyên nắm bắt đầy đủ, kịp thời chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước và những định hướng của địa phương, đặc biệt là những chủ trương, chính sách có liên quan trực tiếp đến công tác thống kê. Trên cơ sở đó vận dụng vào thực tiễn công tác của ngành, áp dụng các phương pháp thống kê phù hợp, nâng cao chất lượng các hoạt động thống kê, tổ chức thu thập, xử lý, tổng hợp, phân tích thông tin thống kê. Phục vụ có hiệu quả công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành phát triển kinh tế - xã hội của Đảng, Nhà nước, cấp ủy, chính quyền địa phương trên địa bàn.
Hai là: Phải thường xuyên quan tâm xây dựng, củng cố, kiện toàn hệ thống bộ máy, tổ chức thống kê từ cấp tỉnh đến cơ sở. Chăm lo công tác đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, năng lực công tác, phẩm chất chính trị, phẩm chất đạo đức nghề nghiệp cho đội ngũ cán bộ công chức trong ngành; Xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác thống kê vừa hồng vừa chuyên, gắn bó mật thiết với ngành, nâng cao tinh thần trách nhiệm phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị được giao.
Ba là: Tăng cường công tác nghiên cứu khoa học, cải tiến phương pháp chế độ; ứng dụng khoa học kỹ thuật vào các hoạt động công tác thống kê một cách toàn diện, từ khâu tổ chức thu thập thông tin ban đầu đến khâu xử lý tổng hợp, phân tích và dự báo thống kê; Tuân thủ tuyệt đối hướng dẫn, chỉ đạo nghiệp vụ của Tổng cục Thống kê; Đảm bảo tính chính xác, đầy đủ, kịp thời các thông tin thống kê phục vụ cho sự lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành phát triển kinh tế - xã hội của Đảng, nhà nước, cấp ủy và chính quyền địa phương.
Bốn là: Phải thường xuyên chăm lo, xây dựng khối đoàn kết, thống nhất, trước hết là đoàn kết trong lãnh đạo, cấp ủy, chi bộ Đảng, các tổ chức đoàn thể, đoàn kết trong toàn ngành; trên cơ sở phát huy dân chủ công khai, giữ vững nguyên tắc tập chung dân chủ, đấu tranh tự phê bình và phê bình; đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước; chăm lo cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho đội ngũ cán bộ công chức, để cán bộ yên tâm công tác, gắn bó với nghề tạo tiền đề cho ngành thống kê phát triển toàn diện.
Năm là: Tranh thủ sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện của Tổng cục Thống kê, cấp ủy và chính quyền địa phương. Nhằm tạo ra những điều kiện thuận lợi về cơ chế chính sách, quan tâm xây dựng cơ sở vật chất, phương tiện làm việc, kinh phí, giúp cho ngành thống kê địa phương hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ chính trị được giao.