Tình hình kinh tế - xã hội tháng 6 và quý II năm 2026 tỉnh Tuyên Quang
- 13/07/2026 17:03
Trong 6 tháng đầu năm 2026, tình hình thế giới, khu vực tiếp tục diễn biến nhanh, phức tạp, khó lường; nhiều biến động với những thay đổi sâu sắc về kinh tế, chính trị, xã hội; sự dịch chuyển chuỗi cung ứng, thương mại, đầu tư toàn cầu và các xu thế lớn về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, trí tuệ nhân tạo (AI), kinh tế số, kinh tế xanh...; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn tiếp tục gia tăng, xung đột quân sự tại một số quốc gia, khu vực kéo dài tác động mạnh đến thị trường hàng hóa, chuỗi cung ứng, giá nguyên, nhiên, vật liệu, các yếu tố đầu vào biến động mạnh, ảnh hưởng tới dịch vụ vận tải và hoạt động sản xuất, kinh doanh. Trong nước với quyết tâm tạo động lực đột phá để phát triển kinh tế - xã hội theo mục tiêu tăng trưởng “02 con số”, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo quyết liệt các Bộ, ngành, địa phương tập trung triển khai nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội. Tỉnh Tuyên Quang triển khai các nhiệm vụ trong bối cảnh có những thuận lợi nhất định như việc vận hành mô hình chính quyền địa phương 02 cấp tạo điều kiện để nâng cao tính chủ động, trách nhiệm và hiệu lực quản lý nhà nước của chính quyền các cấp; không gian phát triển được mở rộng; quy hoạch và kết cấu hạ tầng từng bước hoàn thiện; không gian quản lý, điều hành được sắp xếp lại đồng bộ hơn; chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan, đơn vị từng bước được rà soát, điều chỉnh phù hợp; đội ngũ cán bộ, công chức cơ bản có tinh thần trách nhiệm, đoàn kết, nỗ lực khắc phục khó khăn để bảo đảm bộ máy mới đi vào hoạt động. Kết quả đạt được cụ thể ở các ngành, lĩnh vực như sau: I. PHÁT TRIỂN KINH TẾ 1. Tăng trưởng kinh tế 6 tháng đầu năm 2026 1.1. Tốc độ tăng trưởng GRDP trên địa bàn (giá so sánh 2020) 6 tháng đầu năm 2026 Tốc độ tăng trưởng GRDP (giá so sánh năm 2020) trên địa bàn tỉnh tăng 7,72% so với cùng kỳ năm 2025, cụ thể của các lĩnh vực như sau: 1.1.1. Khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 5,32%; đóng góp 1,5 điểm phần trăm trong mức tăng chung của GRDP. Ngành nông nghiệp mặc dù còn gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng của thời tiết; thị trường tiêu thụ nông sản, giá vật tư đầu vào nhưng cũng đã vượt mọi khó khăn đạt mức tăng trưởng tương đối ấn tượng. Ngành nông nghiệp tăng 4,99%, đóng góp 1,15 điểm phần trăm; ngành lâm nghiệp tăng 6,47%, đóng góp 0,28 điểm phần trăm; ngành thủy sản tăng 8,59%, đóng góp 0,07 điểm phần trăm. 1.1.2. Khu vực Công nghiệp, xây dựng tiếp tục có nhiều tín hiệu khởi sắc và có những bước tăng trưởng ấn tượng, với mức tăng 10,29%, đóng góp vào tốc độ tăng trưởng chung là 2,36 điểm phần trăm. Trong đó: - Ngành công nghiệp, tăng 11,81%, với mức đóng góp 1,90 điểm phần trăm (trong đó: Ngành khai khoáng tăng trưởng âm 8,65%, làm giảm đóng góp vào tốc độ tăng trưởng chung là âm 0,07 điểm phần trăm; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 14,56%, đóng góp 1,33 điểm phần trăm; sản xuất và phân phối điện tăng 10,71%, đóng góp 0,63 điểm phần trăm; cung cấp nước tăng 5,06%, đóng góp 0,01 điểm phần trăm). - Ngành xây dựng tăng 6,73%, đóng góp 0,46 điểm phần trăm. Tỉnh đã tập trung chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ thi công các công trình, dự án trọng điểm, nhất là các dự án giao thông, hạ tầng kỹ thuật, tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế -xã hội, góp phần tăng trưởng khu vực xây dựng. 1.1.3. Khu vực dịch vụ tăng 7,95%, đóng góp 3,52 điểm phần trăm. Trong khu vực dịch vụ, đóng góp của một số ngành có tỷ trọng lớn vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm như sau: Bán buôn, bán lẻ và sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy tăng 8,19%, đóng góp 0,47 điểm phần trăm; vận tải kho bãi tăng 10,55%, đóng góp 0,33 điểm phần trăm; lưu trú và ăn uống tăng 3,71%, đóng góp 0,10 điểm phần trăm; hoạt động tài chính ngân hàng và bảo hiểm tăng 8,44%, đóng góp 0,29 điểm phần trăm,…Ngay từ đầu năm tỉnh đã tổ chức các hoạt động xúc tiến, quảng bá du lịch có tiềm năng phát triển như du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, du lịch cộng đồng;… 1.1.4. Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 7,44%; (đóng góp 0,34 điểm phần trăm). 1.2. Quy mô và cơ cấu kinh tế 1.2.1. Quy mô tổng sản phẩm Quy mô tổng sản phẩm trên địa bàn 6 tháng đầu năm 2026 (giá hiện hành) ước đạt 46.907 tỷ đồng. 1.2.2. Cơ cấu kinh tế Cơ cấu kinh tế tỉnh tiếp tục chuyển biến tích cực với chiều hướng tăng dần tỷ trọng khu vực dịch vụ, cụ thể như sau: Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 24,86%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 25,59%, trong cơ cấu nội hàm ngành công nghiệp đã có sự chuyển dịch theo hướng, giảm dần tỷ trọng công nghiệp khai thác, tăng dần tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo; khu vực dịch vụ chiếm 45,04%; thuế sản phầm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 4,51%.Nhìn chung, trong 6 tháng năm 2026 các ngành: Công nghiệp, xây dựng và dịch vụ tiếp tục đóng góp chủ yếu vào mức tăng trưởng GRDP của toàn tỉnh, chứng tỏ cơ cấu kinh tế của tỉnh đã có sự chuyển dịch đúng hướng và tái cơ cấu kinh tế đang mang lại hiệu quả rõ rệt. Đây là sự chuyển dịch cơ cấu tích cực phù hợp với yêu cầu thúc đẩy nhanh sự tăng trưởng kinh tế theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa và tăng dần tỷ trọng dịch vụ góp phần nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế của tỉnh. 2. Tình hình tài chính, ngân hàng 2.1. Thu, chi ngân sách nhà nước 2.1.1. Thu ngân sách nhà nước: Tổng thu ngân sách nhà nước ước thực hiện 6 tháng đầu năm 2026 là 4.228,5 tỷ đồng, tăng 28,44% so với cùng kỳ. Trong đó thu nội địa ước thực hiện là 4.000,3 tỷ đồng, tăng 35,64%. Một số khoản thu đạt khá là: Thu từ khu vực kinh tế ngoài quốc doanh là 1.421,8 tỷ đồng, tăng 45,84%; thu phí – lệ phí là 329,1 tỷ đồng, tăng 12,91%;… 2.1.2. Chi ngân sách nhà nước: Tổng chi ngân sách nhà nước là 26.204,7 tỷ đồng, tăng 20,48% so với cùng kỳ. Trong đó: Chi đầu tư phát triển là 7.804,5 tỷ đồng; chi thường xuyên là 18.386,3 tỷ đồng;... Ngay từ đầu năm, Tỉnh đã tập trung điều hành dự toán ngân sách nhà nước chủ động chỉ đạo các cơ quan chuyên môn triển khai kịp thời việc nhập dự toán vốn đầu tư cho các công trình, dự án, tạo điều kiện thuận lợi cho các ngành, đơn vị và các xã, phường triển khai tổ chức thực hiện ngay từ đầu năm, đồng thời chỉ đạo việc tích cực đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án và tiến độ giải ngân vốn đầu tư năm 2026. 2.2. Hoạt động tín dụng ngân hàng Triển khai Công điện số 12/CĐ-TTg ngày 08/02/2026 của Thủ tướng Chính phủ về một số giải pháp trọng tâm điều hành chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa năm 2026. Các chương trình tín dụng ưu tiên tiếp tục được triển khai nhằm khơi thông dòng vốn, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Tổng nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh đến 30/6/2026 ước đạt 79.599 tỷ đồng, tăng 5,5% so với 31/12/2025. Tổng dư nợ ước đạt 82.426 tỷ đồng, tăng 4,0% so với 31/12/2025. Chất lượng tín dụng được đảm bảo, tỷ lệ nợ xấu là 0,8%/tổng dư nợ. Tăng cường sử dụng các phương thức thanh toán điện tử thay cho tiền mặt. Tổ chức thực hiện nghiêm túc, kịp thời, đầy đủ các cơ chế, chính sách về tiền tệ và hoạt động ngân hàng. Tiếp tục triển khai các giải pháp thúc đẩy tăng trưởng tín dụng gắn với nâng cao chất lượng tín dụng; tăng cường kiểm soát và xử lý nợ xấu, bảo đảm an toàn hoạt động của hệ thống các tổ chức tín dụng trên địa bàn. 3. Giá cả Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 6 năm 2026 giảm 0,66% so với tháng trước, tăng 5,36% so với cùng kỳ năm trước. Trong số 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính thì có 4 nhóm giảm giá, 6 nhóm tăng giá so với tháng trước, 01 nhóm thuốc và dịch vụ y tế giữ nguyên, cụ thể như sau. Trong 4 nhóm hàng giảm giá, so với tháng trước, bao gồm những nhóm hàng sau: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,36%, nguyên nhân chủ yếu là do nhóm lương thực giảm 0,9%, nhóm thực phẩm giảm 0,33%; nhóm giao thông giảm 4,47% chủ yếu là do giá xăng dầu giảm; nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,04%; nhóm giáo dục giả 0,04%. Có 6 nhóm hàng tăng giá so với tháng trước gồm: Nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,11% do thời tiết vào hè nắng nóng kéo dài giá một số mặt hàng bia, nước ngọt tăng; nhóm may mặc, mũ nón và giày dép tăng 0,09%; nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0,29% chủ yếu do các mặt hàng vật liệu xây dựng chính tăng; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,37%; nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,25%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,49%. CPI bình quân quý II/2026 tăng 6,34% so với cùng kỳ. Một số nguyên nhân cơ bản đã tác động tăng CPI là những nguyên nhân chủ yếu sau: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 6,38%; nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 17,09%;… - CPI bình quân 6 tháng đầu năm 2026 tăng 5,58% so với cùng kỳ năm 2025. Một số nguyên nhân cơ bản đã tác động tăng CPI là những nguyên nhân chủ yếu sau: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 6,17%, chủ yếu do nhóm hàng lương thực tăng 2,95% (do giá gạo tăng), thực phẩm tăng 5,6% (do giá thịt gia súc tăng), ăn uống ngoài gia đình tăng 13,01%; đồ uống và thuốc lá tăng 3,98%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 17,07%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 3,49%,…. Chỉ số giá vàng tăng 40,87% so với cùng kỳ, tăng 6,59% so với tháng 12 năm trước và giảm 2,24% so với tháng trước. Tính chung trong quý II/2026 chỉ số giá vàng tăng 47,26% so với cùng kỳ. Bình quân 6 tháng đầu năm 2026 giá vàng tăng 66,35%. Chỉ số giá đô la Mỹ tăng 0,06% so với cùng kỳ, giảm 0,04% so với tháng 12 năm trước và tăng 0,06% so với tháng trước. Tính chung trong quý II/2026 chỉ số giá vàng tăng 0,43% so với cùng kỳ. Bình quân 6 tháng đầu năm 2026 giá đô la Mỹ tăng 1,28%. 4. Vốn đầu tư và Xây dựng 4.1. Vốn đầu tư 4.1.1. Tình hình thực hiện Vốn đầu tư phát triển toàn xã hội Ước thực hiện quý II/2026 đạt 7.798 tỷ đồng, tăng 34,96% so với quý I/2026, tăng 8,84% so với quý cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 13.576,2 tỷ đồng, tăng 3,26% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Nguồn vốn từ khu vực nhà nước ước đạt 4.202,3 tỷ đồng, giảm 0,42% (chiếm 30,95% tổng nguồn vốn đầu tư); nguồn vốn đầu tư của dân cư và tư nhân ước đạt 8.593 tỷ đồng, tăng 13,84% (chiếm 63,29% tổng nguồn vốn) khu vực tư nhân chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong đầu tư phát triển toàn xã hội và giữ vai trò quan trọng trong tổng nguồn vốn, trong bối cảnh ngân sách nhà nước còn hạn hẹp rất cần các nguồn lực đầu tư từ khu vực tư nhân; vốn huy động khác ước đạt 498,3 tỷ đồng, giảm 50,29% (chiếm 3,67%); vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 7,4 tỷ đồng, giảm 69,25%;... 4.1.2. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước - Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước thực hiện tháng 6 đạt 926,1 tỷ đồng, tăng 14,45% so với tháng trước, trong đó: Vốn ngân sách cấp tỉnh đạt 727,5 tỷ đồng, tăng 15,52%; vốn ngân sách cấp xã đạt 198,5 tỷ đồng, tăng 10,68%. - Ước thực hiện quý II/2026 đạt 2.456,4 tỷ đồng, tăng 3,90% so với quý cùng kỳ, trong đó: Vốn ngân sách cấp tỉnh đạt 1.926,6 tỷ đồng, tăng 7,45%; vốn ngân sách cấp xã đạt 529,8 tỷ đồng, giảm 7,27%. - Ước thực hiện 6 tháng đầu năm 2026 đạt 4.083,9 tỷ đồng, giảm 1,17% so với cùng kỳ, trong đó: Vốn ngân sách cấp tỉnh đạt 3.250,2 tỷ đồng, tăng 3,65%; vốn ngân sách cấp xã đạt 833,7 tỷ đồng, giảm 16,36%. 4.2. Xây dựng Tăng cường kiểm tra tiến độ giải phóng mặt bằng, đẩy nhanh tiến độ thi công các dự án trọng điểm: 04 khu tái định cư thuộc Khu đô thị nghỉ dưỡng Mỹ Lâm và tuyến đường từ Khu du lịch suối khoáng Mỹ Lâm đến Quốc lộ 2D kết nối với tuyến cao tốc Tuyên Quang - Phú Thọ; Dự án cao tốc Tuyên Quang - Hà Giang (giai đoạn 1) đoạn qua tỉnh Tuyên Quang; Bệnh viện đa khoa tỉnh tại địa điểm mới; 17 trường phổ thông nội trú liên cấp tiểu học và trung học cơ sở tại các xã biên giới. Thông qua chủ trương đầu tư dự án Cao tốc Tuyên Quang - Hà Giang (giai đoạn hoàn chỉnh), đoạn qua tỉnh Tuyên Quang. Giải ngân vốn đầu tư công năm 2026 đến hết ngày 15/6/2026 đạt 1.896,6 tỷ đồng, đạt 35% kế hoạch giao (nếu không tính số kế hoạch vốn giao bổ sung trong năm, đạt 54,8% kế hoạch), trong đó: giải ngân kế hoạch vốn NSTW là: 582,06 tỷ đồng, đạt 17% kế hoạch; giải ngân kế hoạch vốn ngân sách địa phương là 1.314,54 tỷ đồng, đạt 65,71% kế hoạch. 5. Hoạt động của doanh nghiệp 5.1. Về tình hình hoạt động của doanh nghiệp Từ ngày 01/01/2026 đến ngày 24/6/2026, cấp Giấy chứng nhận đăng ký thành lập mới cho 574 doanh nghiệp (tăng 66% so với cùng kỳ), với số vốn đăng ký trên 3.811 tỷ đồng (tăng 206%). Số doanh nghiệp hoạt động trở lại: 148 doanh nghiệp (tăng 16%); giải thể 89 doanh nghiệp (tăng 102%); tạm ngừng 303 doanh nghiệp giảm 3%). Lũy kế tổng số doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh hiện có 6.773 doanh nghiệp, với tổng số vốn đăng ký trên 94.239 tỷ đồng (trong đó có 21 doanh nghiệp có 100% vốn đầu tư nước ngoài). Để hỗ trợ doanh nghiệp phát triển, tỉnh đã triển khai đồng bộ, hiệu quả các chính sách hỗ trợ; tạo môi trường đầu tư và kinh doanh thuận lợi, bình đẳng, ổn định để các doanh nghiệp đóng góp ngày càng cao vào sự phát triển kinh tế - xã hội; góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế của doanh nghiệp. Trong thời gian tới, tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong giải quyết thủ tục đầu tư, rút ngắn thời gian cấp phép kinh doanh, hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận nguồn lực đất đai, tín dụng. 5.2. Điều tra xu hướng kinh doanh ngành công nghiệp chế biến chế tạo trong quý II Kết quả điều tra về xu hướng kinh doanh của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong quý II năm 2026 cho thấy: Số doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh quý II năm nay khả quan hơn so với cùng kỳ quý trước đạt tỷ lệ 35,19%; doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh ổn định đạt tỷ 44,44%; có 20,37% số doanh nghiệp đánh giá gặp khó khăn trong sản xuất kinh doanh. Chỉ số cân bằng của quý II năm 2026 so với quý I là 14,81%. Dự kiến xu hướng kinh doanh quý III năm 2026 so với quý II năm 2025 cho thấy: Có 29,63% số doanh nghiệp đánh giá xu hướng sẽ tốt lên (trong đó có ngành: Chế biến gỗ và các sản phẩm từ gỗ, tre, nứa; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn); 48,15% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh sẽ ổn định (trong đó có ngành: Sản xuất da và các sản phẩm có liên quan; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học và sản xuất giường, tủ, bàn, ghế); có 22,22% số doanh nghiệp dự báo tiếp tục khó khăn hơn. Dự tính chỉ số cân bằng của quý tiếp theo so với quý hiện tại là 7,41%. 6. Kết quả tình hình sản xuất Nông, lâm nghiệp và thủy sản 6 tháng đầu năm 2026 6.1. Trồng trọt 6.1.1. Kết quả sản xuất vụ Đông Xuân Vụ Đông Xuân năm 2026 diễn ra trong điều kiện khó khăn thuận lợi đan xen. Về cơ bản thời tiết trong vụ thuận lợi, có mưa, thời tiết không quá lạnh thích hợp cho cây trồng sinh trưởng phát triển tốt. Tuy nhiên đầu tháng 5, một số ngày xuất hiện mưa rào và dông trên diện rộng, cục bộ có nơi mưa to, lốc sét, mưa đá gây gẫy đổ cây trồng. - Cây Lúa: Diện tích gieo trồng ước đạt 27.351,71 ha, giảm 1,92% (giảm 535,14 ha) so với cùng vụ năm trước. Năng suất ước đạt 60,14 tạ/ha, tăng 0,13% (tăng 0,08 tạ/ha). Sản lượng ước đạt 164.489,53 tấn, giảm 1,79%. Sản lượng lúa giảm do diện tích gieo trồng giảm.- Cây ngô: Diện tích gieo trồng ngô ước đạt 34.214,37 ha, giảm 1,87 (giảm 653,17 ha). Năng suất ước đạt 41,30 tạ/ha, tăng 2,11% (tăng 0,85 tạ/ha). Sản lượng ước đạt 141.298,09 tấn, tăng 0,20% (tăng 280,02 tấn) so với cùng vụ năm trước.- Cây khoai lang: Diện tích khoai lang đạt 2.271,74 ha giảm 0,62% (giảm 14,19 ha). Năng suất khoai lang đạt 66,43 tạ/ha, tăng 0,38% (tăng 0,25 tạ/ha). Sản lượng đạt 15.092,28 tấn, giảm 0,24% (giảm 36,28 tấn).- Cây đậu tương: Diện tích cây đậu tương đạt 3.828,52 ha, giảm 8,60% (giảm 360,13 ha). Năng suất cây đậu tương đạt 15,79 tạ/ha, tăng 1,34% (tăng 0,21 tạ/ha). Sản lượng đạt 6.046,89 tấn, giảm 7,37% (giảm 481,34 tấn).6.1.2. Cây lâu nămToàn tỉnh diện tích hiện có 57.547,69 ha, giảm 5,85% (giảm 3.577,36 ha) so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó: Nhóm cây ăn quả là 26.147,63 ha, giảm 11,21% (giảm 3.302,28 ha); nhóm cây chè là 27.399,13 ha, giảm 2,24% (giảm 627,49 ha); nhóm cây gia vị cây dược liệu năm là 1.318,66 ha, tăng 1,53% (tăng 19,89%); nhóm cây lâu năm khác là 1.001,14 ha, tăng 34% (tăng 254,04 ha). Sản lượng cây lâu năm tăng cao so với cùng kỳ 2025. Các loại quả cho sản phẩm theo mùa chủ yếu như: Cây xoài ước đạt 2.184,39 tấn, tăng 10,20%; cây hồng xiêm ước đạt 50,47 tấn, tăng 32,02%; cây chuối ước đạt 13.339,64 tấn, tăng 4,75%; cây thanh long ước đạt 620 tấn, tăng 6,53%; cây đu đủ ước đạt 390,73 tấn, tăng 4,45%; cây chanh ước đạt 1.852,08 tấn, tăng 14,15%; cây mận ước đạt 2.757,19 tấn, tăng 7,50%; Cây vải ước đạt 2.344,68 tấn, giảm 3,66%; Cây chè sản lượng ước đạt 74.349,76 tấn, tăng 0,76%.6.1.3. Sản xuất vụ mùa năm 2026 Đến ngày 20/6/2026, diện tích cấy lúa đạt 7.849,4 ha, tăng 0,27% so với cùng kỳ năm trước. Các cây trồng khác chưa gieo trồng do một phần đang thu hoạch vụ Đông Xuân, một phần đang làm đất.6.1.3. Tình hình sinh vật gây hại Trên cây lúa vụ Xuân rầy nâu, rầy lưng trắng, sâu cuốn lá nhỏ, sâu đục thân 2 chấm, bọ xít dài, bệnh đạo ôn lá, đạo ôn cổ bông, bệnh đốm sọc vi khuẩn, bệnh bạc lá, bệnh khô vằn, chuột xuất hiện rải rác. Cây ngô vụ Xuân xuất hiện sâu keo mùa thu, châu chấu tre lưng vàng, rệp hại, sâu đục bắp, bệnh đốm lá, bệnh khô vằn gây hại rải rác. Trên cây lạc xuất hiện rải rác sâu cuốn lá, bệnh rỉ sắt, bệnh đốm lá. Trên cây đậu tương xuất hiện sâu đục quả, sâu cuốn lá, sâu khoang, bệnh rỉ sắt, bệnh đốm lá gây hại rải rác. Trên cây rau đậu xuất hiện bọ trĩ, nhện trắng, ruồi đục lá, sâu ăn lá, rệp, bệnh thán thư, bệnh lở cổ rễ, bệnh xoăn lá gây hại rải rác.6.2. Về chăn nuôi 6.2.1. Về số lượng đàn gia súc, gia cầmTổng đàn trâu hiện có 202.157 con, giảm 9,12% so với cùng kỳ năm 2025; đàn bò 175.814 con, tăng 2,13%; đàn lợn 1.210.458 con, tăng 3,22%; đàn gia cầm 14.790 nghìn con, tăng 4,60%. 6.2.2. Về sản phẩm đàn gia súc, gia cầm 6 tháng đầu năm 2026, sản lượng thịt trâu hơi xuất chuồng ước đạt 7.911 tấn, tăng 6,99% so với cùng kỳ năm 2025; đàn bò 4.525 tấn, tăng 7,18%; đàn lợn đạt 66.574 tấn, tăng 5,93%; đàn gia cầm đạt 19.349 tấn, tăng 6,74%. Nhìn chung, tình hình chăn nuôi trong 6 tháng đầu năm 2026 duy trì ổn định, không có biến động lớn. Công tác phòng chống dịch bệnh được chú trọng, đặc biệt là các bệnh nguy hiểm như Dịch tả lợn Châu Phi. 6.3. Về công tác phòng chống dịch bệnh gia súc, gia cầm trong quý6.3.1. Công tác phòng chống và điều trị Trong 6 tháng đầu năm, bệnh Dịch tả lợn Châu Phi phát sinh tại 129 hộ/69thôn/27 xã; toàn tỉnh có 1.392 con lợn mắc bệnh, buộc tiêu hủy tổng khối lượng 56.457 kg. Đến ngày 08/6/2026 đã có 09 xã công bố hết dịch. 6.3.2. Công tác kiểm dịch vận chuyển động vật, sản phẩm động vật Từ đầu năm đến nay, đã kiểm tra cấp 1.725 giấy chứng nhận kiểm dịch,vận chuyển. Trong đó: 825 chuyến, vận chuyển 110.029 con gia súc, gia cầm; 900 chuyến, vận chuyển 16.034 tấn sữa tươi nguyên liệu. Vận chuyển đi các tỉnh: Bắc Ninh, Hà Nội, Cao Bằng, Phú Thọ, Lai Châu, Nghệ An, Thái Nguyên...; kiểm soát giết mổ, kiểm tra vệ sinh thú y được 6.519 con gia súc các loại. 6.4. Về sản xuất lâm nghiệp (ước tính có đến ngày 20/6/2026) 6.4.1. Kết quả trồng rừng Tình hình sản xuất lâm nghiệp trong tháng 6 khởi sắc hơn so với tháng cùng kỳ, yếu tố thời tiết cùng với sự quan tâm, chỉ đạo của các cấp chính quyền địa phương là nguyên nhân chính tác động. Tiến độ trồng rừng, khai thác gỗ được đẩy nhanh, tiếp tục tuyên truyền, phổ biến về công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, phòng cháy chữa cháy rừng và ký cam kết với các hộ dân đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát, theo dõi, cập nhật diễn biến rừng kịp thời phát hiện, ngăn chặn các vụ phá rừng. Diện tích rừng trồng mới tập trung ước thực hiện trong tháng đạt 3.481,99 ha, tăng 10,67% so với cùng kỳ (tăng 335,65 ha), nguyên nhân là do trong tháng có những đợt mưa thuận lợi cho việc trồng rừng. Luỹ kế đến hết tháng báo cáo, tổng diện tích rừng trồng tập trung toàn tỉnh đã trồng được 12.063,18 ha giảm 0,88% (giảm 106,74 ha) so với cùng kỳ. 6.4.2. Kết quả khai thác rừng trồng Ước tính tháng 6 toàn tỉnh khai thác được 144.213 m3 gỗ, tăng 51,75% (tăng 93.890,39 m3) so với cùng kỳ. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, sản lượng gỗ khai thác đạt 746.455,50 m3, tăng 2,13% (tăng 15.552,28 m3). Nguyên nhân tăng là do có nhiều diện tích rừng đến tuổi khai thác và thời tiết thuận lợi người dân đẩy nhanh tiến độ. 6.4.3. Công tác bảo vệ rừng: Trong tháng không xảy ra vụ cháy rừng nào, luỹ kế 6 tháng đầu năm xảy ra 01 vụ, giảm 37 vụ so với cùng kỳ; thiệt hại 0,12 ha, giảm 80,01 ha. Nguyên nhân chính giảm số vụ cháy rừng là do các cơ quan chính quyền địa phương đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến về công tác quản lý, bảo vệ và phòng cháy chữa cháy rừng, chủ động cập nhật diễn biến rừng, theo dõi thời tiết để có những phương án phù hợp. Số vụ phá rừng xảy ra 02 vụ, giảm 04 vụ so với tháng cùng kỳ; 6 tháng đầu năm giảm 6 vụ. 6.5. Về thuỷ sản Tổng sản lượng thuỷ sản 8.097,63 tấn, tăng 8,22%, trong đó: Sản lượng nuôi trồng 7.157,64 tấn, tăng 8,4%; sản lượng khai thác 939,99 tấn, tăng 6,89%. 7. Sản xuất công nghiệp Trong tháng 6 và 6 tháng đầu năm 2026 các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh đối mặt với nhiều thách thức do chi phí vận tải và giá nguyên liệu tăng cao, xuất phát từ xung đột tại Trung Đông làm gián đoạn quá trình vận chuyển hàng hóa cũng như kéo dài thời gian giao hàng gây áp lực tài chính cho doanh nghiệp. Mặc dù có những khó khăn nhưng các doanh nghiệp trong tỉnh đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm thích ứng nhanh với tình hình mới. Nhiều sản phẩm công nghiệp sản lượng sản xuất tăng so với cùng kỳ năm trước như: Đường RE, Bao bì đóng gói bằng plastic, Cấu kiện làm sẵn cho xây dựng, Thép cán, Mangan và sản phẩm Mangan, Cửa ra vào bằng sắt, thép,... Riêng lĩnh vực sản xuất điện do đầu quý II lượng mưa thấp, lưu lượng nước về lòng hồ giảm, các nhà máy thủy điện hoạt động không hết công suất, do đó sản lượng điện sản xuất trong quý II giảm so với quý trước, tuy nhiên lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 so với cùng kỳ thì sản lượng điện sản xuất tăng do năm nay mùa mưa kết thúc muộn hơn, cùng với một số nhà máy thủy điện hoàn thành trong 6 tháng cuối năm 2025 đi vào hoạt động ổn định đã bổ sung năng lực sản xuất mới cho ngành điện. 7.1. Về phát triển công nghiệp trong tháng Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) trong tháng tăng 13,61% so với tháng trước, tăng 10,10% so với cùng kỳ, trong đó: Ngành khai khoáng tăng 46,20%, tăng 10,72%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 5,63%, tăng 15,49%; sản xuất và và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 69,55%, tăng 2,14%; cung cấp nước và hoạt động thu gom xử lý rác, nước thải tăng 1,30%, tăng 2,07%. Một số ngành công nghiệp cấp II có chỉ số sản xuất tăng so với tháng trước và tăng so với cùng kỳ như: Dệt tăng 7,41%, tăng 3,57%; sản xuất kim loại tăng 10,74%, tăng 11,99%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 5,24%; tăng 21,42%;... Trong tháng, một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng so với tháng trước và tăng so với cùng kỳ năm trước như: Cát tự nhiên đạt 24.152 m3, tăng 7,73%, tăng 81,47%; chè (trà) nguyên chất đạt 1.382 tấn, tăng 3,96%; tăng 18,01%; điện thương phẩm đạt 193 triệu Kwh, tăng 2,43%, tăng 13,03%;...Tuy nhiên, cũng có một số sản phẩm công nghiệp giảm so với tháng trước và giảm so với cùng kỳ như: Quần áo lót cho người lớn dệt kim đạt 120 nghìn cái, giảm 29,82%, giảm 33,33%; bột giấy đạt 12.163 tấn, giảm 3,93%, giảm 22,09%;… 7.2. Về phát triển công nghiệp trong quý II/2026 - Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) quý II/2026 ước tính tăng 10,59% so với quý cùng kỳ, trong đó: Công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 11,92%; sản xuất và phân phối điện tăng 9,72%; cung cấp nước và xử lý rác, nước thải tăng 4,61%; khai khoáng giảm 10,08%. - Trong quý II/2026 một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu của tỉnh đạt mức tăng trưởng khá so với quý cùng kỳ như: Điện thương phẩm tăng 14,31%; điện sản xuất tăng 9,41%; chè chế biến tăng 28,30%;…Tuy nhiên, cũng có một số sản phẩm công nghiệp giảm so với quý cùng kỳ như: Bột giấy giảm 12,92%; bột Felspat giảm 2,14%; xi măng giảm 7,03%;... 7.3. Về phát triển công nghiệp 6 tháng đầu năm 2026 Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, số lao động làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp giảm 6,70% so với cùng kỳ. Trong đó: Doanh nghiệp nhà nước giảm 2,84%; doanh nghiệp ngoài quốc doanh giảm 1,67%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài giảm 13,64%. Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước đến tháng 6 năm 2026 giảm 15,89% so với tháng trước và giảm 1,97% so với tháng cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng đầu 2026, chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 10,96% so với cùng kỳ, trong đó một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng như: Ngành sản xuất chế biến thực phẩm tăng 51,89%; ngành sản xuất trang phục tăng 3,59%; ngành sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 37,26%; ngành sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 20,09%...; một số ngành có chỉ số tiêu thụ giảm như: Ngành dệt giảm 3,45%; sản xuất chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ giảm 52,77%; in, sao chép bản ghi các loại giảm 27,22%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn giảm 56,88%... Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước đến tháng 6 năm 2026 giảm 1,46% so với tháng trước và tăng 11,61% so với cùng thời điểm năm trước, trong đó ngành có chỉ số tồn kho tăng cao hơn mức tăng chung như: Sản xuất trang phục tăng 41,72%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 14,35%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 71,53%... Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 9,30% so với cùng kỳ năm trước, Chia theo từng ngành kinh tế cấp I như sau: + Ngành khai khoáng giảm 10,79%, nguyên nhân chủ yếu do Công ty cổ phần đầu tư khoáng sản An Thông chất lượng quặng khai thác xấu, công ty tập trung hoàn tất thủ tục xin khai thác mỏ mới để có quặng tốt hơn nên sản lượng sản xuất của doanh nghiệp giảm. + Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,76%, do chủ yếu một số doanh nghiệp sản xuất ổn định: CTCP công nghiệp và XNK lâm nghiệp Hà Giang, CTCP Hải Hàn, CTCP chè Mỹ Lâm, công ty TNHH MSA YB, công ty TNHH xây dựng và thương mại Hiệp Phát, CTCP xây dựng Tổng hợp, CTCP giấy An Hòa, CTCP xi măng Tân Quang, CTCP xi măng Tuyên Quang, công ty TNHH Gang thép Tuyên Quang, công ty Future of Sound Vina… + Ngành sản xuất và phân phối điện tăng 10,96%, do 05 nhà máy thủy điện đã hòa lưới phát điện cùng với thời tiết năm nay mưa nhiều hơn và mùa mưa cũng kết thúc muộn hơn so với năm trước. Một số thủy điện có sản lượng điện 6 tháng tăng cao so với cùng kỳ: Thủy điện Sông Miện 5N tăng 32,92%; Xuân Thiện Hà Giang tăng 35,61%; Sông Lô 4N tăng 82,44%; Sông Chảy 6N tăng 39,34%; Sông Lô 2N tăng 130,0%.... + Ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 4,23%, do hoạt động thu gom, xử lý rác thải tăng 14,30% so cùng kỳ. Tính chung 6 tháng năm 2026, một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng so với cùng kỳ năm trước như: Cát tự nhiên tăng 18,87%; chè (trà) nguyên chất tăng 17,22%; điện thương phẩm tăng 12,60%; điện sản xuất tăng 10,52%;…Tuy nhiên, một số sản phẩm công nghiệp có chiều hướng giảm so với cùng kỳ như: Áo sơ mi cho người lớn giảm 9,71%; giày, dép thể thao có mũ bằng da giảm 9,14%; xi măng giảm 10,65%;…8. Thương mại và Dịch vụ Tình hình thương mại và dịch vụ tỉnh Tuyên Quang trong 6 tháng đầu năm ghi nhận những tín hiệu phục hồi rõ nét và khởi sắc. Tổ chức hiệu quả Hội chợ OCOP tỉnh Tuyên Quang năm 2026. Tăng cường theo dõi, nắm bắt diễn biến thị trường và tình hình lưu thông hàng hóa; chủ động xây dựng và triển khai các phương án bảo đảm cân đối cung - cầu, bình ổn thị trường. Thúc đẩy phát triển hạ tầng thương mại, cơ bản đáp ứng nhu cầu phân phối và mua sắm của người tiêu dùng. Thương mại điện tử tiếp tục được duy trì, phát triển; hoàn thiện các nền tảng số, hỗ trợ quảng bá sản phẩm địa phương trên nền tảng số. 8.1. Doanh thu bán lẻ hàng hóa, dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch và dịch vụ khác8.1.1. Doanh thu bán lẻ hàng hóa Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng trưởng mạnh, tháng 6/2026 doanh thu bán lẻ hàng hóa trong tháng ước đạt 3.819 tỷ đồng, tăng 1,98% so với tháng trước, tăng 25,86% so với tháng cùng kỳ. Trong đó, một số nhóm hàng tăng so với tháng trước, tăng so với cùng kỳ, cụ thể như sau: Hàng may mặc đạt 377 tỷ đồng, tăng 2,03%, tăng 43,85%; đồ dùng dụng cụ, trang thiết bị gia đình đạt 532 tỷ đồng, tăng 5,06%, tăng 4,42%;… Tính chung trong quý II/2026, doanh thu bán lẻ hàng hóa ước đạt 11.251 tỷ đồng, tăng 24,84% so với quý cùng kỳ. 6 tháng đầu năm 2025, doanh thu bán lẻ hàng hóa ước đạt 21.746 tỷ đồng, tăng 20,27% so với cùng kỳ. 8.1.2. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ khác Trong tháng, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 590,5 tỷ đồng, giảm 8,19% so với tháng trước, tăng 16,44% so với cùng kỳ. Trong đó: Dịch vụ lưu trú đạt 57,05 tỷ đồng, giảm 3,18%, tăng 5,76%; ăn uống đạt 533,45 tỷ đồng, giảm 8,69%, tăng 17,34%. Tính chung trong quý II/2026 dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 1.929 tỷ đồng, tăng 21,62% so với quý cùng kỳ. 6 tháng đầu năm 2026, dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 3.733,65 tỷ đồng, tăng 19,98% so với cùng kỳ. Trong tháng, doanh thu du lịch lữ hành ước đạt 2,90 tỷ đồng, giảm 37,67% so với tháng trước, tăng 15,01% so với cùng kỳ. Tính chung trong quý II/2026 du lịch lữ hành ước đạt 15 tỷ đồng, tăng 29,78% so quý cùng kỳ. 6 tháng đầu năm 2026 du lịch lữ hành ước đạt 37,49 tỷ đồng, tăng 45,62%. Doanh thu dịch vụ khác trong tháng ước đạt 95,13 tỷ đồng, tăng 1,27% so với tháng trước, tăng 37,96% so với cùng kỳ. Tính chung trong quý II/2026 dịch vụ khác ước đạt 283 tỷ đồng, tăng 31,62% so quý cùng kỳ. 6 tháng đầu năm 2026, dịch vụ khác ước đạt 566,42 tỷ đồng, tăng 21,49% so với cùng kỳ. 8.2. Xuất, nhập khẩu hàng hóa Tăng cường kiểm tra, kiểm soát, đấu tranh chống buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả, hàng kém chất lượng. 6 tháng đầu năm, lực lượng Quản lý thị trường tổ chức kiểm tra 381 vụ việc, xử lý vi phạm hành chính 316 vụ, với 329 hành vi vi phạm (chủ yếu là kinh doanh hàng hóa nhập lậu, hàng hoá giả mạo nhãn hiệu,…), nộp ngân sách nhà nước 2,46 tỷ đồng. Tiếp tục cải cách, rút ngắn thủ tục hành chính trong lĩnh vực hải quan; rút ngắn thời gian thông quan hàng hóa, giảm chi phí cho doanh nghiệp, người nộp thuế, tạo thuận lợi thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu.Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa trong tháng ước đạt 55,1 triệu USD, giảm 55,2% so với cùng kỳ. 6 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa ước đạt 301,14 triệu USD, đạt 51% kế hoạch, giảm 20,12% so với cùng kỳ. Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa trong tháng ước đạt 22,2 triệu USD, tăng 32,1% so với cùng kỳ. 6 tháng đầu năm 2026, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa ước đạt 129,85 triệu USD, đạt 51,9% kế hoạch, tăng 31,7% so với cùng kỳ. 9. Vận tải hàng hóa và hành khách Trước biến động của giá xăng dầu, tỉnh đã yêu cầu các đơn vị liên quan theo dõi chặt chẽ tác động của giá xăng dầu đến giá cước vận tải trên địa bàn, nhất là với vận chuyển hành khách và hàng hóa thiết yếu; hướng dẫn doanh nghiệp kê khai giá đúng quy định. Tăng cường kiểm tra công tác kê khai, niêm yết và bán đúng giá niêm yết của các đơn vị kinh doanh vận tải trên địa bàn, tập trung kiểm tra các đơn vị có mức tăng giá lớn, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm (nếu có) theo quy định; tuyệt đối không để xảy ra tình trạng lợi dụng biến động giá nhiên liệu để tăng giá bất hợp lý. 9.1. Doanh thu vận tải tải kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải Doanh thu vận tải trong tháng ước đạt 473,03 tỷ đồng, tăng 2,38% so với tháng trước, tăng 26,69% so với cùng kỳ. Trong đó, vận tải hành khách ước đạt 131,29 tỷ đồng, tăng 1,45%, tăng 34,50%; vận tải hàng hóa ước đạt 339,02 tỷ đồng, tăng 2,76%, tăng 23,88%; hỗ trợ vận tải ước đạt 1,92 tỷ đồng, tăng 1,28%, tăng 27,77%; bưu chính, chuyển phát ước đạt 0,8 tỷ đồng, tăng 0,28%, tăng 30,01%,… Ước thực hiện quý II/2026 doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 1.396,92 tỷ đồng, tăng 16,35% so với quý cùng kỳ. Trong đó, vận tải hành khách ước đạt 389,54 tỷ đồng, tăng 28,74%; vận tải hàng hóa ước đạt 999,18 tỷ đồng, tăng 12,08%; kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 5,81 tỷ đồng, tăng 22,47%; bưu chính, chuyển phát đạt 2,39 tỷ đồng, tăng 31,21%. Tính chung, trong 6 tháng đầu năm 2026, doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 2.712,04 tỷ đồng, tăng 17,99% so với cùng kỳ. Trong đó, doanh thu vận tải hành khách ước đạt 749,26 tỷ đồng, tăng 24,24%; vận tải hàng hóa ước đạt 1.946,34 tỷ đồng, tăng 15,74%; kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 11,40 tỷ đồng, tăng 16,41%; bưu chính, chuyển phát đạt 5,05 tỷ đồng, tăng 27,09%. 9.2. Vận tải hành khách Vận chuyển hành khách trong tháng ước đạt 2,10 triệu lượt hành khách, tăng 2,24% so với tháng trước, tăng 30,21% so với cùng kỳ; luân chuyển hành khách ước đạt 170,12 triệu lượt hành khách.km, tăng 3,53%, tăng 27,65%. Tính chung trong quý II/2026, vận chuyển hành khách ước đạt 6,2 triệu lượt hành khách, tăng 25,59% so với cùng kỳ; luân chuyển hành khách ước đạt 458,36 triệu lượt hành khách.km, tăng 13,55%. Tính chung trong 6 tháng, hành khách vận chuyển ước đạt 11,72 triệu lượt hành khách, tăng 20,13% so với cùng kỳ; hành khách luân chuyển ước đạt 931,74 triệu lượt hành khách.km, tăng 17,72%. 9.3. Vận tải hàng hóa Vận chuyển hàng hóa ước đạt 2,19 triệu tấn, tăng 2,73% so với tháng trước, tăng 18,01% so với cùng kỳ; luân chuyển hàng hóa ước đạt 139,02 triệu tấn.km, tăng 2,87%, tăng 22,38%. Tính chung trong quý II/2026, vận chuyển hàng hóa ước đạt 6,46 triệu tấn, tăng 13,69% so với cùng kỳ; luân chuyển hàng hóa ước đạt 409,05 triệu tấn.km, tăng 19,01%. Tính chung trong 6 tháng, hàng hóa vận chuyển ước đạt 12,72 triệu tấn, tăng 12,21% so với cùng kỳ; hàng hóa luân chuyển ước đạt 815,37 triệu tấn.km, tăng 17%. 10. Về du lịch Tổ chức thành công Chương trình nghệ thuật “Tuyên Quang chào năm 2026” và đón những vị khách đầu tiên đến Tuyên Quang và nhiều chương trình, lễ hội trong dịp đầu xuân năm mới, thu hút khách du lịch đến thăm quan, trải nghiệm. Chỉ đạo tăng cường công tác quản lý nhà nước về hoạt động lễ hội, tôn giáo, tín ngưỡng; công tác bảo vệ môi trường trong hoạt động du lịch, nhất là trong dịp nghỉ lễ, tết. Chuẩn bị tốt công tác tái đánh giá Công viên địa chất toàn cầu cao nguyên đá Đồng Văn lần thứ IV năm 2026; lập dự án sửa chữa các Trạm Thông tin khu vực (Trạm thông tin du khách Đồng Văn - Mèo Vạc và xã Đường Thượng bị sụt lún ảnh hưởng đến công trình). Khẩn trương hoàn thành xây dựng Đề án thu phí tham quan Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Cao nguyên đá Đồng Văn. Kiểm tra tiến độ triển khai các công trình xây dựng và khảo sát một số điểm du lịch tại xã Đồng Văn, Lũng Cú, Sà Phìn, Phố Bảng.Trong tháng 6 năm 2026, toàn tỉnh ước đón 305.000 lượt khách du lịch, trong đó có khoảng 60.000 lượt khách quốc tế (bao gồm khách mang hộ chiếu và giấy thông hành), 245.000 lượt khách nội địa; tổng chi tiêu của khách du lịch ước đạt 854,8 tỷ đồng, trong đó khách quốc tế đạt 247,2 tỷ đồng, khách nội địa đạt 607,6 tỷ đồng. 6 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh ước đón 2.093.011 lượt khách du lịch, trong đó 406.368 lượt khách quốc tế (bao gồm khách mang hộ chiếu và giấy thông hành), 1.686.643 lượt khách nội địa, đạt 51% kế hoạch năm; tổng chi tiêu của khách du lịch ước đạt 5.857 tỷ đồng, trong đó khách quốc tế đạt 1.674,2 tỷ đồng, khách nội địa đạt 4.182,8 tỷ đồng). II. LĨNH VỰC VĂN HÓA - XÃ HỘI 1. Về lao động việc làm Đẩy mạnh các hoạt động kết nối cung - cầu lao động, hỗ trợ người lao động tìm kiếm, tiếp cận cơ hội việc làm phù hợp với trình độ, kỹ năng và nhu cầu của thị trường lao động; đưa 518 lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, trong đó 88 lao động làm việc thời vụ tại Hàn Quốc; cho phép 06 đơn vị tham gia đưa lao động sang Trung Quốc theo thỏa thuận quản lý lao động qua biên giới, với 4.633 lượt lao động được đưa sang làm việc. 2. Đời sống dân cư Triển khai chính sách bình ổn giá xăng dầu trên địa bàn tỉnh theo chỉ đạo của Chính phủ[1]. Bảo đảm cung ứng các mặt hàng thiết yếu phục vụ nhu cầu tiêu dùng của người dân. Yêu cầu xử lý nghiêm hành vi đầu cơ, găm hàng, tăng giá bất hợp lý, đảm bảo an sinh xã hội và đời sống nhân dân. 3. Công tác người có công, giảm nghèo, bảo trợ xã hội và phòng chống tệ nạn xã hội 3.1. Công tác đối với người có công với cách mạngTừ đầu năm đến nay, đã tổ chức tặng quà của Đảng, Nhà nước nhân dịp chào mừng Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng và Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026. Tổ chức thăm và tặng quà 22.644 người có công với cách mạng, đối tượng bảo trợ xã hội, hưu trí xã hội và các đối tượng yếu thế khác nhân dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026 với kinh phí 9,594 tỷ đồng. Thực hiện tốt công tác chăm lo đời sống các đối tượng chính sách; duy trì chi trả trợ cấp ưu đãi thường xuyên hằng tháng cho trên 9.000 người có công, thân nhân người có công và các đối tượng chính sách khác đang hưởng trợ cấp trên địa bàn tỉnh.3.2. Công tác bảo trợ xã hội và phòng chống các tệ nạn xã hộiTiếp tục thực hiện tốt các chính sách trợ giúp xã hội, thực hiện đầy đủ, kịp thời các chế độ, chính sách an sinh xã hội cho các hộ có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. Tiếp tục thực hiện các giải pháp hỗ trợ, tạo việc làm cho người lao động; đôn đốc thực hiện các giải pháp phát triển đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội chăm lo, giúp đỡ các đối tượng chính sách xã hội, thực hiện các chính sách, chương trình thúc đẩy bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ.Trong tháng, các cơ sở cai nghiện của tỉnh đã tiếp nhận 24 học viên, cấp giấy chứng nhận hoàn thành cai nghiện cho 13 học viên; tại thời điểm báo cáo, 2 cơ sở cai nghiện đang quản lý 200 học viên (cai nghiện bắt buộc 194 học viên, cai nghiện tự nguyện 6 học viên).4. Hoạt động giáo dục và đào tạoTổ chức khởi công 11 trường phổ thông nội trú liên cấp Trung học và Trung học cơ sở tại các xã biên giới. Đẩy nhanh tiến độ xây dựng, sửa chữa, cải tạo trường, lớp học, nhất là tiến độ thi công các 06 trường phổ thông nội trú Trung học và Trung học cơ sở các xã biên giới khởi công giai đoạn 1. Tiếp tục triển khai đồng bộ các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục các bậc học. Thực hiện rà soát, sắp xếp tổ chức lại cơ sở giáo dục đại học công lập và cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập; sắp xếp các cơ sở giáo dục phổ thông tại 17/17 xã biên giới; sắp xếp mạng lưới cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông và giáo dục thường xuyên công lập trên địa bàn tỉnh. Hoàn thành nhiệm vụ năm học 2025-2026; tổ chức thi học sinh giỏi cấp tỉnh lớp 9 và lớp 12; tham dự Kỳ thi chọn học sinh giỏi quốc gia THPT, kết quả đạt 59 giải (02 giải nhất; 11 giải nhì, 12 giải Ba và 34 giải Khuyến khích), đặc biệt có 02 học sinh được Bộ Giáo dục và Đào tạo chọn tham dự Kỳ thi chọn đội tuyển Olympic quốc tế. Tổ chức Kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 năm học 2026-2027, Kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông năm 2026 an toàn, nghiêm túc. Tăng cường công tác quản lý, tổ chức các hoạt động hè cho trẻ em, học sinh; công tác phòng, chống tai nạn, thương tích và phòng, chống đuối nước trẻ em trong dịp hè. 5. Hoạt động y tế Tăng cường kiểm tra, giám sát công tác bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm, nhất là trong dịp lễ, Tết. Quan tâm, nâng cao chất lượng công tác khám, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe Nhân dân, tổ chức khám sức khỏe trên 200.000 lượt cho người dân các xã vùng biên giới; chủ động dự trữ đầy đủ thuốc, máu, dịch truyền cùng các phương tiện, trang thiết bị cần thiết phục vụ cấp cứu và điều trị; đặc biệt là công tác thường trực cấp cứu tai nạn giao thông, ngộ độc thực phẩm. Triển khai Bệnh án điện tử đạt kết quả tích cực. Đẩy mạnh công tác truyền thông, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp, các ngành, gia đình và cộng đồng trong công tác bảo vệ trẻ em, phòng, chống bạo lực, xâm hại trẻ em. Trong tháng 6 /2026 thực hiện khám, chữa bệnh cho 245.028 lượt người; quý II năm 2026 khám, chữa bệnh cho 718.290 lượt người; lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 khám, chữa bệnh cho 1.315.432 lượt người, đạt 56,8% kế hoạch. 6. Hoạt động văn hoá - thể dục, thể thao Triển khai các bước lập Quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi Danh lam thắng cảnh quốc gia đặc biệt Khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang - Lâm Bình. Tổ chức các chương trình nghệ thuật, hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao trong dịp lễ, Tết,... Tổ chức Lễ khánh thành Dự án Khu liên hợp thể thao và văn hóa Hà Giang. Chú trọng bảo tồn, gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc gắn với phát triển du lịch cộng đồng, du lịch trải nghiệm. Triển khai thực hiện Quy định chi tiết tiêu chuẩn và việc xét tặng danh hiệu "Gia đình văn hóa"; "Thôn, tổ dân phố văn hóa"; "Xã, phường tiêu biểu"; Giải báo chí năm 2026; Lễ phát động Ngày chạy Olympic vì sức khỏe toàn dân năm 2026. Tổ chức các hoạt động kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh; tuyên truyền Ngày Sách và Văn hóa đọc Việt Nam 21/4. Chỉ đạo, hướng dẫn Ủy ban nhân dân các xã, phường triển khai Đại hội thể dục, thể thao cấp xã; tổ chức đoàn cán bộ, vận động viên tỉnh Tuyên Quang tham dự Giải Bóng đá Mùa xuân giữa tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc và 5 tỉnh, thành phố của Việt Nam. 7. Tình hình an toàn giao thông Trong tháng, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 17 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 9 người và làm bị thương 9 người. Số vụ tai nạn tăng 6,25% so với tháng trước, số người chết và số người bị thương giữ nguyên. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn tăng 30,77%, số người chết tăng 125%, số người bị thương giảm 10%. Tính chung trong quý II/2026, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 46 vụ tai nạn giao thông, làm 24 người chết và làm 27 người bị thương. So với cùng kỳ năm trước giảm 9,8% số vụ, số người chết giảm 11,11%, số người bị thương giảm 12,90%. Trong 6 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh đã xảy ra 92 vụ tai nạn giao thông, 53 người chết và 49 người bị thương. So với cùng kỳ năm trước: Số vụ tai nạn giao thông giảm 8,91%; số người chết giữ nguyên; số người bị thương giảm 23,44%. 8. Thiệt hại do thiên tai, phòng chống cháy, nổ 8.1. Về thiên tai Trong 6 tháng đầu năm 2026, trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang đã chịu ảnh hưởng của 10 đợt thiên tai; mưa đá, giông lốc và mưa lớn cục bộ đã gây thiệt hại nặng nề về nhà ở, tài sản của người dân; làm hư hỏng các cơ sở, hạ tầng giao thông và các công trình dân dụng khác trên địa bàn tỉnh. Thiệt hại về người: 02 người chết và 09 người bị thương. Thiệt hại về nhà ở: Tổng số có 1.690 ngôi nhà bị sập,hư hỏng, tốc mái. Thiệt hại về nông, lâm nghiệp và thủy sản: Diện tích cây hoa màu thiệt hại 3.197,32 ha; 18 con gia súc, 957 con gia cầm bị chết, cuốn trôi; Thiệt hại về cơ sở hạ tầng: 53 điểm trường bị tốc mái, hư hỏng; 05 trạm y tế bị tốc mái; Thiệt hại về giao thông: 239 điểm giao thông bị ách tắc; 2.772 m đường, 14 công trình cầu và cống thoát nước bị hư hỏng. Ước tính tổng giá trị thiệt hại: khoảng 259,0 tỷ đồng. 8.2. Về cháy nổ Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh xảy ra 10 vụ cháy. Không ghi nhận thiệt hại về người, ước tính thiệt hại tài sản 798,8 triệu đồng. 9. Một số nhiệm vụ giải pháp trong thời gian tới Với quyết tâm hoàn thành cao nhất các mục tiêu, chỉ tiêu kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh đã đề ra trong năm 2026. Để phấn đấu hoàn thành các mục tiêu theo kế hoạch cần phải tiếp tục thực hiện tốt một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm sau: Một là, Thường xuyên theo dõi, nắm chắc tình hình sản xuất của các doanh nghiệp công nghiệp; kịp thời hỗ trợ tháo gỡ khó khăn, vướng mắc về thị trường, vốn, nguyên liệu, tạo điều kiện để doanh nghiệp phát huy công suất, duy trì ổn định sản xuất, phấn đấu hoàn thành mục tiêu tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp theo kế hoạch. Tập trung đôn đốc đẩy nhanh tiến độ các dự án đã được phê duyệt chủ trương đầu tư. Xây dựng Quy định về quản lý an toàn trong sử dụng điện. Khẩn trương triển khai việc lập quy hoạch chung đô thị và nông thôn thuộc thẩm quyền cấp xã, đảm bảo phù hợp với các cấp độ quy hoạch còn hiệu lực, các quy chuẩn, tiêu chuẩn hiện hành và tuân thủ theo đúng trình tự, thủ tục, quy định của pháp luật. Xây dựng Quyết định quy định về trình tự, thủ tục phê duyệt điều chỉnh cục bộ quy hoạch đô thị và nông thôn đã được UBND tỉnh phê duyệt do UBND cấp xã tổ chức lập. Triển khai các bước lập điều chỉnh Quy hoạch chung xây dựng Khu kinh tế cửa khẩu Thanh Thủy; Quy hoạch chung Khu du lịch quốc gia Cao nguyên đá Đồng Văn; Quy hoạch chung Khu du lịch quốc gia Tân Trào,... Khẩn trương triển khai thực hiện điều chỉnh Chương trình phát triển nhà ở tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 2021 - 2030, định hướng đến năm 2045. Thực hiện công bố giá vật liệu xây dựng hằng tháng bảo đảm kịp thời, đúng quy định. Tăng cường kiểm tra, hướng dẫn, theo dõi sát diễn biến thị trường, không để xảy ra tình trạng giá công bố thấp hơn giá bán vật liệu xây dựng trên thị trường, gây khó khăn cho chủ đầu tư, nhà thầu và làm phát sinh tiêu cực. Công bố, điều chỉnh đơn giá vật liệu xây dựng, đơn giá nhân công xây dựng, ca máy và thiết bị thi công bảo đảm phù hợp với mặt bằng giá thị trường, làm cơ sở cho việc lập, thẩm định và triển khai các dự án đầu tư trên địa bàn.Hai là, Tập trung rà soát, xử lý các dự án chậm tiến độ, tồn đọng, kéo dài trên địa bàn tỉnh, phân loại để xác định phương án xử lý phù hợp; đối với các dự án có khả năng tiếp tục triển khai thì tập trung tháo gỡ khó khăn, đẩy nhanh tiến độ; đối với các dự án không còn phù hợp hoặc không đủ điều kiện thực hiện thì xem xét điều chỉnh, chấm dứt hoặc xử lý theo quy định của pháp luật. Nâng cao chất lượng công tác chuẩn bị đầu tư và tổ chức thực hiện dự án; chủ động, linh hoạt trong thực hiện thủ tục đầu tư và công tác giải phóng mặt bằng; tập trung đẩy nhanh tiến độ thi công các dự án, đặc biệt là các dự án trọng điểm trên địa bàn tỉnh như: Dự án Cao tốc Tuyên Quang - Hà Giang (giai đoạn 1); Bệnh viện Đa khoa tỉnh Tuyên Quang; Dự án đường và từ khu du lịch suối khoáng Mỹ Lâm đến QL2D kết nối với đường cao tốc Tuyên Quang - Phú Thọ,…Ba là, Tổ chức thực hiện nghiêm túc, kịp thời, đầy đủ các cơ chế, chính sách về tiền tệ và hoạt động ngân hàng. Tiếp tục triển khai các giải pháp thúc đẩy tăng trưởng tín dụng gắn với nâng cao chất lượng tín dụng; tăng cường kiểm soát và xử lý nợ xấu, bảo đảm an toàn hoạt động của hệ thống các tổ chức tín dụng trên địa bàn. Tiếp tục thực hiện cải cách, rút ngắn thủ tục hành chính trong lĩnh vực hải quan, thuế; rút ngắn thời gian thông quan hàng hóa, giảm chi phí cho doanh nghiệp, người nộp thuế, tạo thuận lợi thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu. Công tác sắp xếp, xử lý tài sản công là các trụ sở dôi dư: Tiếp tục hướng dẫn các cơ quan, tổ chức, đơn vị thực hiện sắp xếp, bố trí, xử lý các cơ sở nhà, đất, tài sản công khi sắp xếp tổ chức theo đúng các quy định của pháp luật. Bốn là, Tiếp tục theo dõi chặt chẽ tình hình thời tiết, chủ động xây dựng các phương án phòng chống thiên tai, cảnh báo mưa lũ nhắm hạn chế tối thiểu thiệt hại về người và tài sản do thiên tai gây ra. Thực hiện tốt các chính sách về an sinh xã hội, lao động, việc làm, công tác trợ giúp đột xuất, bảo đảm người dân khi gặp rủi ro, thiên tai được hỗ trợ kịp thời, khắc phục khó khăn ổn định cuộc sống. Tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát bảo đảm an ninh trật tự, an toàn giao thông và phòng chống cháy nổ.THỐNG KÊ TỈNH TUYÊN QUANG
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 5 năm 2026 tỉnh Tuyên Quang
- 03/06/2026 07:44
I. PHÁT TRIỂN KINH TẾ 1. Về sản xuất nông nghiệp (tính đến ngày 20/5/2026) 1.1. Trồng trọt 1.1.1. Sản xuất vụ xuân năm 2026 Trong tháng thời tiết phổ biến trời nắng, ít mưa, đầu tháng 5 một số ngày xuất hiện mưa rào và dông trên diện rộng, cục bộ có nơi mưa to, lốc sét, mưa đá. Hiện nay bà con nhân dân đã hoàn thành gieo trồng cây hàng năm vụ xuân 2026 đảm bảo khung thời vụ và đang tiến hành chăm sóc, phòng chống dịch bệnh trên cây trồng. - Cây Lúa: Diện tích lúa gieo trồng đạt 26.933 ha, giảm 3,42% so với cùng kỳ. Trong đó: 140 ha mất do làm đường cao tốc, phần còn lại chuyển sang trồng ngô vụ xuân. - Ngô lấy hạt: Diện tích gieo trồng đạt 38.150 ha, tăng 14,12% (tăng 4.719 ha). Diện tích gieo trồng Ngô tăng cao do các xã duy trì ổn định tổng sản lượng lương thực có hạt trên địa bàn tỉnh, bằng cách trồng bù phần diện tích vụ Đông không gieo trồng, chuyển một phần diện tích lúa, khoai lang sang trồng ngô và trồng thêm trên diện tích cây cam, chè bị chết. - Khoai lang: Diện tích gieo trồng đạt 1.740 ha, giảm 10,84% (giảm 211,52 ha). Diện tích khoai lang giảm ở hầu hết các xã trên địa bàn tỉnh, nguyên nhân do người dân một số địa phương trong tỉnh chuyển đổi sang trồng ngô và rau đậu các loại có hiệu quả kinh tế cao hơn. - Đậu tương: Diện tích gieo trồng đạt 4.619 ha, tăng 10,28% (tăng 430,45 ha). Diện tích gieo trồng đậu tương tăng do người dân tăng diện tích trồng xen trên diện tích trồng ngô tăng trong vụ. Cây đậu tương vụ xuân đang trong giai đoạn ra hoa – quả non – quả xanh. - Lạc: Diện tích gieo trồng đạt 8.851 ha, tăng 3,22% (tăng 276,14 ha). - Rau các loại: Diện tích gieo trồng đạt 20.773 ha, tăng 2,65% (tăng 535,38 ha). Diện tích gieo trồng tăng do người dân trồng chuyển từ diện tích trồng khoai lang và trồng xen cây ngô. - Diện tích gieo trồng cây đậu các loại đạt 2.174 ha, tăng 0,56% (tăng 12 ha). 1.1.2. Cây lâu năm Diện tích cây chuối hiện có trên địa bàn tỉnh 3.105 ha, giảm 5,22% so với cùng kỳ (giảm 171 ha). Diện tích cây chè toàn tỉnh hiện có 27.428 ha, giảm 2,02% (giảm 568 ha). Diện tích chè vẫn tiếp tục giảm do một phần diện tích trồng chè của xã Bắc Quang nhà nước thu hồi đất sử dụng mục đích mở đường quốc lộ và phát triển một số dự án xây dựng mới sau sát nhập. Chia theo thành phần kinh tế: Tư nhân là 3.522 ha; cá thể là 23.906 ha. 1.2. Tình hình sinh vật gây hại Trên cây lúa vụ xuân rầy nâu, rầy lưng trắng, sâu cuốn lá nhỏ, sâu đục thân 2 chấm, bọ xít dài, bệnh đạo ôn lá, đạo ôn cổ bông, bệnh đốm sọc vi khuẩn, bệnh bạc lá, bệnh khô vằn, chuột xuất hiện rải rác. Cây ngô vụ đông xuất hiện rải rác bệnh đốm lá, bệnh khô vằn, chuột gây hại rải rác. Cây ngô vụ xuân xuất hiện sâu keo mùa thu, rệp hại, bệnh đốm lá, bệnh khô vằn gây hại rải rác. Trên cây lạc xuất hiện rải rác sâu cuốn lá, rầy xanh lá mạ, bệnh rỉ sắt, bệnh đốm lá, bệnh héo xanh. Trên cây đậu tương xuất hiện ruồi đục thân, sâu cuốn lá, sâu khoang, bệnh rỉ sắt, bệnh đốm lá gây hại rải rác. Trên cây rau đậu xuất hiện bọ trĩ, nhện trắng, ruồi đục lá, sâu ăn lá, rệp, bệnh mốc sương, bệnh thán thư, bệnh lở cổ rễ, bệnh xoăn lá gây hại rải rác. 1.3. Về chăn nuôi 1.3.1. Về số lượng đàn gia súc, gia cầm Trong tháng, tình hình chăn nuôi trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang nhìn chung duy trì ổn định và có xu hướng tăng trưởng nhẹ, tuy nhiên sự phát triển giữa các loại vật nuôi không đồng đều, thể hiện rõ quá trình chuyển dịch cơ cấu trong nội ngành. Đàn trâu 215.451 con, giảm 3,0% so với cùng kỳ năm 2025. Nguyên nhân chủ yếu do phương thức chăn nuôi truyền thống phụ thuộc vào chăn thả tự nhiên đang dần thu hẹp, diện tích đồng cỏ bị giảm, hiệu quả kinh tế không cao so với các vật nuôi khác. Bên cạnh đó, tập quán sử dụng sức kéo của trâu trong sản xuất nông nghiệp giảm mạnh do cơ giới hóa, dẫn đến nhu cầu nuôi trâu không còn lớn như trước. Tuy vậy, việc giảm đàn trâu không làm ảnh hưởng lớn đến giá trị sản xuất do một bộ phận người chăn nuôi đã chuyển sang hình thức nuôi vỗ béo, nâng cao giá trị thương phẩm. Đàn bò 175.521 con, tăng 0,13%, đàn bò tiếp tục tăng nhẹ nhờ hiệu quả từ các chương trình cải tạo giống và hỗ trợ phát triển chăn nuôi của địa phương. Người dân từng bước chuyển sang nuôi bò sinh sản và bò thịt theo hướng hàng hóa, áp dụng tiến bộ kỹ thuật như thụ tinh nhân tạo, cải thiện tầm vóc và năng suất đàn bò. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng của đàn bò vẫn còn chậm do hạn chế về nguồn vốn đầu tư, quy mô chăn nuôi còn nhỏ lẻ và chưa hình thành nhiều chuỗi liên kết tiêu thụ ổn định. Đàn lợn 1.215.238 con, giảm 1,69%, nguyên nhân chủ yếu là do ảnh hưởng của bệnh dịch tả châu Phi. Tuy nhiên, giá lợn hơi thời gian qua tương đối ổn định, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tái đàn. Xu hướng chuyển từ chăn nuôi nhỏ lẻ sang chăn nuôi theo hướng an toàn sinh học, quy mô trang trại ngày càng rõ nét. Vẫn cần phải theo dõi sát sao do chăn nuôi lợn còn tiềm ẩn rủi ro, phụ thuộc nhiều vào biến động giá thị trường và nguy cơ tái phát dịch bệnh. Đàn gia cầm 14.252,15 nghìn con, tăng 3,48%. Nguyên nhân: Sự tăng trưởng này chủ yếu do nhu cầu tiêu dùng thịt gia cầm và trứng ổn định, thời gian nuôi ngắn, khả năng quay vòng vốn nhanh, phù hợp với điều kiện của nhiều hộ chăn nuôi. Ngoài ra, việc phát triển các mô hình chăn nuôi gà theo hướng trang trại, an toàn sinh học và liên kết tiêu thụ đã góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất. 1.4. Về công tác phòng chống dịch bệnh gia súc, gia cầm trong tháng 1.4.1. Công tác phòng chống và điều trị Trong tháng 5, bệnh Dịch tả lợn Châu Phi phát sinh tại 49 hộ, số lợn tiêu hủy là 739 con, trọng lượng tiêu hủy 21.252 kg. Luỹ kế từ ngày 01/01/2026 đến ngày 11/5/2026, toàn tỉnh có 1.134 con lợn mắc bệnh buộc tiêu hủy tại 99 hộ, khối lượng tiêu hủy 43.664 kg. Đến ngày 11/5/2026 đã có 07 xã công bố hết dịch. Cơ quan chức năng phối hợp với các xã, phường theo dõi chặt chẽ tình hình dịch bệnh gia súc, gia cầm, thuỷ sản trên địa bàn, đặc biệt các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, đồng thời chỉ đạo các địa phương triển khai tiêm phòng vụ Xuân - Hè năm 2026. 1.4.2. Công tác kiểm dịch vận chuyển động vật, sản phẩm động vật Tiếp tục thực hiện chặt chẽ đúng quy định công tác kiểm dịch vận chuyển ngoài tỉnh, kết quả: Trong tháng đã kiểm tra cấp 446 giấy chứng nhận kiểm dịch vận chuyển, trong đó: 259 chuyến, vận chuyển 21.005 con gia súc, gia cầm; 187 chuyến, vận chuyển 3.098.000 kg sữa tươi nguyên liệu. Lũy kế từ đầu năm đến nay đã kiểm tra cấp 1.741 giấy chứng nhận kiểm dịch vận chuyển, trong đó: 875 chuyến, vận chuyển 103.412 con gia súc, gia cầm; 886 chuyến, vận chuyển 16.471.000 kg sữa tươi nguyên liệu được vận chuyển đi các tỉnh: Bắc Ninh, Hà Nội, Cao Bằng, Phú Thọ, Lai Châu, Nghệ An, Thái Nguyên...; trong tháng kiểm soát giết mổ, kiểm tra vệ sinh thú y được 209 con gia súc (lũy kế 5 tháng đầu năm kiểm soát được 6.519 con gia súc các loại). 1.5. Về sản xuất lâm nghiệp 1.5.1. Công tác trồng rừng Tình hình sản xuất lâm nghiệp trong tháng tương đối ổn định, tỉnh đã đưa ra những định hướng cụ thể đối với phương án phát triển nông lâm nghiệp, thủy sản phù hợp với từng xã, phường tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất lâm nghiệp. Đẩy nhanh tiến độ thực hiện kế hoạch trồng rừng năm 2026, tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến về công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, phòng cháy chữa cháy rừng và ký cam kết với các hộ dân đồng thời thường xuyên theo dõi, cập nhật diễn biến rừng. Ước tính trong tháng, tổng diện tích rừng trồng mới tập trung toàn tỉnh đã trồng được 2.397 ha, giảm 7,28% (giảm 188,33 ha). Lũy kế 5 tháng đầu năm, diện tích trồng rừng đạt 8.581,19 ha, giảm 4,9% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân là do nhiều rừng chưa đến tuổi khai thác, diện tích đất trống để trồng mới giảm. 1.5.2. Khai thác gỗ rừng trồng Trong tháng sản lượng gỗ khai thác ước đạt 138.864 m3 gỗ, giảm 23,17% (giảm 41.873,29 m3) so với cùng kỳ năm 2025. Lũy kế 5 tháng đầu năm, sản lượng gỗ khai thác đạt 602.242,82 m3, giảm 5,29% (giảm 33.625,09 m3). Sản lượng gỗ khai thác giảm do diện tích rừng sản xuất đến tuổi khai thác giảm. 1.5.3. Công tác quản lý bảo vệ rừng Tổ chức tuyên truyền, phổ biến về công tác quản lý, bảo vệ, phát triển rừng, PCCCR và ký cam kết được 8.801 hộ gia đình, tuyên truyền được 12.715 lượt người tham gia; cập nhật, theo dõi diễn biến rừng được 3.934,6 ha; lũy kế 5 tháng đầu năm là 9.693,57 ha. Lũy kế từ đầu năm đến nay xảy ra 01vụ cháy rừng tự nhiên tại thôn Cốc Lầy, xã Tân Tiến, diện tích thiệt hại 0,118 ha. Đã phát hiện và xử lý 08 vụ vi phạm Luật Lâm nghiệp, tịch thu 0,583 m3 gỗ, thu nộp ngân sách nhà nước 35 triệu đồng. 2. Sản xuất công nghiệp 2.1. Chỉ số phát triển công nghiệp Chỉ số sản xuất công nghiệp IIP trong tháng tăng 7,46% so với tháng trước, tăng 11,48% so với cùng kỳ, cụ thể của các ngành như sau: Ngành khai khoáng tăng 100,55%, giảm 11,39%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 0,70%, tăng 15,37%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí tăng 42,60%, tăng 2,75%. Ở chiều ngược lại, cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải giảm 7,36%, giảm 1,98%. Một số ngành công nghiệp cấp II có chỉ số sản xuất tăng so với cùng kỳ năm trước như: Sản xuất chế biến thực phẩm tăng 18,26%; sản xuất đồ uống tăng 298,36%; sản xuất trang phục tăng 12,40%; sản xuất kim loại tăng 38,65%;... Sản xuất công nghiệp trong tháng 5/2026 tiếp tục xu hướng tăng trưởng tích cực, các doanh nghiệp chủ động nắm bắt thị trường tập trung tháo gỡ khó khăn vướng mắc đối với các vấn đề về nguyên liệu, vốn kinh doanh, thị trường tiêu thụ sản phẩm, nguồn cung cấp điện…Với quyết tâm đưa công nghiệp thành trụ cột tăng trưởng, Tuyên Quang đang tập trung cải thiện môi trường đầu tư và hoàn thiện hạ tầng để lấp đầy các khu, cụm công nghiệp, hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững sau sáp nhập. - Tính chung trong 5 tháng đầu năm 2026, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 9,21% so với cùng kỳ năm trước, Chia theo từng ngành kinh tế cấp I như sau: + Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,52%, do một số ngành chế biến tăng như: Sản xuất chế biến thực phẩm tăng 21,22%; sản xuất đồ uống tăng 157,50%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế) tăng 8,72%; sản xuất giường, tủ, bàn ghế tăng 70,83%; sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 11,62%;... + Ngành sản xuất và phân phối điện tăng 12,78%, nguyên nhân là do lượng nước tại các lòng hồ đảm bảo việc tích nước và thực hiện các đợt xả nước của Trung tâm Điều độ Hệ thống điện Quốc gia phục vụ cho gieo cấy vụ xuân dẫn đến sản lượng điện sản xuất trong 5 tháng đầu năm tăng. + Ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 3,94%, do nhu cầu sử dụng nước sinh hoạt và khối lượng rác thải tăng. Công ty Cổ phần Cấp thoát nước và công ty Đô thị đã tăng cường kiểm tra, bảo dưỡng máy móc, thiết bị, nhằm bảo đảm các hoạt động cấp nước và thu gom rác thải ổn định. 2.2. Sản phẩm công nghiệp chủ yếu Trong tháng, nhóm sản phẩm chủ yếu tăng so với cùng kỳ cụ thể như sau: Điện thương phẩm đạt 182 triệu Kwh, tăng 13,06%; cát tự nhiên ước đạt 15.422 m3, tăng 10,32%; chè (trà) nguyên chất đạt 1.409 tấn, tăng 39,42%; đá xây dựng khác đạt 56.248 m3, tăng 61,58%;... Một số nhóm giảm so với cùng kỳ là: Áo sơ mi cho người lớn đạt 120 nghìn cái, giảm 19,07%; xi măng đạt 108.500 tấn, giảm 2,31%;... Tính chung trong 5 tháng, một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng khá so với cùng kỳ năm trước: Điện thương phẩm đạt 822 triệu Kwh, tăng 11,65%; điện sản xuất đạt 1.110 triệu Kwh, tăng 13,19%; mangan và sản phẩm của mangan đạt 5.700 tấn, tăng 78,37%;... Đánh giá chung, Tháng 5/2026 một số doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp tiếp tục duy trì sản xuất ổn định như: Công ty cổ phần Môi trường đô thị Hà Giang, HTX Lâm Thành, Công ty cổ phần Woodsland Tuyên Quang, Công ty TNHH sản xuất giày Chung Jye Tuyên Quang, Công ty TNHH Gang thép Tuyên Quang,… Bên cạnh đó, ảnh hưởng chung từ kinh tế thế giới, một số doanh nghiệp khai thác khoáng sản do không tiêu thụ được hàng tồn kho, phải điều chỉnh lại kế hoạch sản xuất, một số doanh nghiệp chưa đi vào sản xuất do vướng mắc trong quá trình bồi thường, giải phóng mặc bằng. Một số doanh nghiệp chế biến nông lâm sản cũng bị hạn chế về thị trường tiêu thụ sản phẩm. Trước tình hình đó, Tỉnh đã triển khai nhiều chính sách hỗ trợ, thu hút đầu tư trong lĩnh vực công nghiệp, cải thiện thủ tục hành chính, minh bạch hóa môi trường đầu tư, kinh doanh nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho các doanh nghiệp, phấn đấu hoàn thành kế hoạch đã đề ra. 3. Vốn đầu tư, xây dựng 3.1. Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước thực hiện tháng 5 ước đạt 800,7 tỷ đồng, tăng 11,03% so với tháng trước. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 630,8 tỷ đồng, tăng 10,80%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã đạt 170 tỷ đồng, tăng 11,91%. Tính chung trong 5 tháng, nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 3.149,4 tỷ đồng, giảm 4,63% so với cùng kỳ. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 2.523,6 tỷ đồng, tăng 1,10%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã đạt 625,8 tỷ đồng, giảm 22,38%. 3.2. Hoạt động xây dựng Tăng cường kiểm tra tiến độ giải phóng mặt bằng, thi công các dự án: 04 khu tái định cư thuộc Khu đô thị nghỉ dưỡng Mỹ Lâm và tuyến đường từ Khu du lịch suối khoáng Mỹ Lâm đến Quốc lộ 2D kết nối với tuyến cao tốc Tuyên Quang - Phú Thọ. Triển khai thực hiện thanh tra đối với các dự án có khó khăn, vướng mắc, tồn đọng kéo dài. Đẩy nhanh tiến độ thực hiện các công trình, dự án trọng điểm, nhất là các dự án giao thông, hạ tầng kỹ thuật, giáo dục, y tế và công trình dân sinh thiết yếu. Chỉ đạo các Ban quản lý dự án, chính quyền địa phương và các nhà đầu tư 06 trường học tại các xã biên giới (khởi công đợt 1) tập trung nguồn lực, tranh thủ điều kiện thời tiết thuận lợi, tổ chức thi công bảo đảm hoàn thành đúng tiến độ đề ra. Giải ngân vốn đầu tư năm 2026 đến ngày 15/5/2026 đạt 1.226,06/6.386,95 tỷ đồng, đạt 19,2% kế hoạch giao, nếu không tính số kế hoạch vốn giao bổ sung trong năm đạt 35,4%, trong đó: vốn ngân sách trung ương 125,99 tỷ đồng; vốn ngân sách địa phương 1.100,07 tỷ đồng. 4. Thương mại và Dịch vụ Trong tháng 5/2026, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang ghi nhận đà tăng trưởng ổn định, phản ánh tâm lý tiêu dùng tích cực của người dân. Tiếp tục thực hiện bình ổn giá xăng dầu và các biện pháp bình ổn giá xăng dầu trên địa bàn tỉnh theo chỉ đạo của Chính phủ. 4.1. Doanh thu bán lẻ hàng hóa Doanh thu bán lẻ hàng hóa tháng 5 ước đạt 3.729 tỷ đồng, tăng 1,14% so với tháng trước, tăng 24,22% so với cùng kỳ. Trong đó: Nhóm hàng lương thực, thực phẩm đạt 935 tỷ đồng, tăng 0,94%, tăng 9,63%; nhóm hàng may mặc đạt 369 tỷ đồng, tăng 0,71%, tăng 40,71%; nhóm vật phẩm văn hóa, giáo dục đạt 91 tỷ đồng, tăng 2,74%, tăng 46,48%… Tính chung trong 5 tháng, tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 17.911 tỷ đồng, tăng 19,04% so với năm 2025. 4.2. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ khác Trong tháng, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 666,24 tỷ đồng, giảm 4,23% so với tháng trước, tăng 23,93% so với cùng kỳ. Trong đó: Dịch vụ lưu trú đạt 59,22 tỷ đồng, giảm 3,99%, tăng 18,29%; ăn uống đạt 607,0 tỷ đồng, giảm 4,25%, tăng 25,48%. Tính chung trong 5 tháng, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 3.166,25 tỷ đồng, tăng 21,68% so với cùng kỳ. Doanh thu du lịch lữ hành đạt 6,25 tỷ đồng, giảm 17,30%, tăng 69,88% so với cùng kỳ. Tính chung 5 tháng, doanh thu du lịch lữ hành ước đạt 36,19 tỷ đồng, tăng 55,81%. Doanh thu dịch vụ khác trong tháng ước đạt 96,45 tỷ đồng, tăng 2,29% so với tháng trước, tăng 39,85% so với cùng kỳ. Tính chung trong 5 tháng, doanh thu dịch vụ khác ước đạt 473,80 tỷ đồng, tăng 19,26%. 4.3. Giá cả Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trong tháng tăng 6,66% so với cùng kỳ năm trước, tăng 4,66% so với tháng 12 năm trước, giảm 0,13% so với tháng trước. Tính chung trong 5 tháng, CPI bình quân tăng 5,61% so với cùng kỳ. Tiếp tục theo dõi, nắm bắt diễn biến thị trường và tình hình lưu thông hàng hóa; triển khai các phương án bảo đảm cân đối cung - cầu, thực hiện bình ổn giá xăng dầu và các biện pháp bình ổn giá xăng dầu trên địa bàn tỉnh theo chỉ đạo của Chính phủ. Trong số 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính thì có 4 nhóm giảm giá, 7 nhóm tăng giá so với tháng trước. Trong 4 nhóm có giá giảm gồm: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,67%, nguyên nhân chủ yếu là do giá thực phẩm giảm; nhóm may mặc, mũ nón và giày dép giảm 0,14%; nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,23%; nhóm văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,49%. Trong 7 nhóm hàng tăng so với tháng trước, bao gồm những nhóm hàng sau: Nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,68%, do thời tiết vào hè nắng nóng làm cho nhu cầu về bia, nước ngọt tăng cao; nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0,11%; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,38% do nhu cầu mua sắm các thiết bị như quạt, điều hòa tăng; nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,13%; nhóm giao thông tăng 0,44% nguyên nhân chủ yếu là do giá xăng dầu tăng; nhóm giáo dục tăng nhẹ 0,01%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,46%. - Chỉ số giá vàng tăng 42,75% so với cùng kỳ năm trước, tăng 9,03% so với tháng 12 năm trước, giảm 4,38% so với tháng trước. Tính chung trong 5 tháng đầu năm 2026, giá vàng tăng 71,97% so với cùng kỳ. - Chỉ số giá đô la Mỹ tăng 0,38% so với cùng kỳ năm trước, giảm 0,1% so với tháng 12 năm trước, tăng 0,01% so với tháng trước. Tính chung trong 5 tháng đầu năm 2026, tăng 1,52% so với cùng kỳ. 4.4. Tình hình xuất, nhập khẩu hàng hóa Tổng kim ngạch xuất hàng hóa trong tháng 5 ước đạt 99,7 triệu USD, giảm 52,48% so với cùng kỳ. Tổng kim ngạch nhập khẩu ước đạt 12,5 triệu USD, tăng 171,53% so cùng kỳ, trong đó chủ yếu là nhập máy móc, thiết bị, phụ tùng và nguyên liệu may mặc. Lũy kế 5 tháng đầu năm, kim ngạch xuất, nhập khẩu là 318,37 triệu USD, đạt 37,9% kế hoạch, giảm 5,84% so với cùng kỳ. 5. Vận tải hàng hóa và hành khách Tháng 5, hoạt động vận tải và kho bãi tiếp tục tăng do trong tháng có kỳ nghỉ lễ dài ngày nên lượng khách tham quan, du lịch và nhu cầu đi lại của người dân tăng cao. Cùng với đó khối lượng vận chuyển hàng hóa tăng mạnh, đặc biệt từ các ngành sản xuất và thương mại điện tử, tạo áp lực lớn lên hạ tầng vận tải. Doanh thu trong tháng tăng cũng do giá xăng, dầu có nhiều biến động buộc các doanh nghiệp, hộ cá thể vận tải phải điều chỉnh tăng giá cước để bù đắp chi phí đầu vào nên đã tác động đến ngành dịch vụ vận tải. 5.1. Doanh thu vận tải tải kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải Doanh thu vận tải trong tháng ước đạt 473,83 tỷ đồng, tăng 2,59% so với tháng trước, tăng 24,12% so với cùng kỳ. Trong đó, vận tải hành khách đạt 131,41 tỷ đồng, tăng 2%, tăng 27,18%; vận tải hàng hóa đạt 339,50 tỷ đồng, tăng 2,80%, tăng 22,92%; doanh thu dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 2,07 tỷ đồng, tăng 3,10%, tăng 25,60%; hoạt động bưu chính, chuyển phát đạt 0,85 tỷ đồng, tăng 7,84%, tăng 45,77%. Tính chung trong 5 tháng đầu năm 2026, doanh thu vận tải kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 2.250,84 tỷ đồng, tăng 16,92% so với cùng kỳ. Trong đó: vận tải hành khách đạt 619,97 tỷ đồng, tăng 22,66%; vận tải hàng hóa đạt 1.616,91 tỷ đồng, tăng 14,83%; dịch vụ hỗ trợ vận tải kho bãi đạt 9,66 tỷ đồng, tăng 16,45%; bưu chính, chuyển phát đạt 4,31 tỷ đồng, tăng 28,27%. 5.2. Vận tải hành khách và hàng hóa Trong tháng khối lượng hành khách vận chuyển ước đạt 2,1 triệu lượt hành khách, tăng 2,08% so với tháng trước, tăng 23,59% so với cùng kỳ; khối lượng hành khách luân chuyển ước đạt 167,77 triệu lượt hành khách.km, tăng 35,39%, tăng 22,39%. Tính chung 5 tháng đầu năm 2026, khối lượng hành khách vận chuyển ước đạt 9,68 triệu lượt hành khách, tăng 18,78% so với cùng kỳ; khối lượng hành khách luân chuyển ước đạt 765,07 triệu lượt hành khách.km, tăng 16,23%. Khối lượng hàng hóa vận chuyển trong tháng ước đạt 2,17 triệu tấn, tăng 1,25% so với tháng trước, tăng 14,11% so với cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 141,32 triệu tấn.km, tăng 4,77%, tăng 23,84%. Tính chung 5 tháng đầu năm 2026, khối lượng hàng hóa vận chuyển ước đạt 10,57 triệu tấn, tăng 11,51% so với cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 682,53 triệu tấn.km, tăng 17,01%. 6. Về du lịch Chuẩn bị tốt công tác tái đánh giá Công viên địa chất toàn cầu cao nguyên đá Đồng Văn lần thứ IV năm 2026; lập dự án sửa chữa các Trạm Thông tin khu vực (Trạm thông tin du khách Đồng Văn - Mèo Vạc và xã Đường Thượng bị sụt lún ảnh hưởng đến công trình). Khẩn trương hoàn thành xây dựng Đề án thu phí tham quan Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Cao nguyên đá Đồng Văn. Kiểm tra tiến độ triển khai các công trình xây dựng và khảo sát một số điểm du lịch tại xã Đồng Văn, Lũng Cú, Sà Phìn, Phố Bảng. Trong tháng 5, Tuyên Quang đón 350.813 lượt khách, trong đó 73.813 lượt khách quốc tế, 277.000 lượt khách nội địa; tổng chi tiêu khách du lịch trên địa bàn ước đạt 991 tỷ đồng. 5 tháng đầu năm 2026, Tuyên Quang đón 1.788.011 lượt khách, trong đó 346.368 lượt khách quốc tế, 1.441.643 lượt khách nội địa (đạt 43,6% kế hoạch năm); tổng chi tiêu khách du lịch trên địa bàn ước đạt 5.022,2 tỷ đồng. II. LĨNH VỰC VĂN HÓA - XÃ HỘI 1. Công tác lao động, việc làm, giáo dục nghề nghiệp Tiếp tục thực hiện quản lý nhà nước về công tác đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; lao động người nước ngoài làm việc tại tỉnh; đẩy mạnh kết nối cung - cầu lao động, hỗ trợ người lao động tìm kiếm, tiếp cận cơ hội việc làm phù hợp; triển khai Tháng an toàn, vệ sinh lao động năm 2026. 2. Công tác đảm bảo chế độ người có công với cách mạng, bảo trợ, an sinh xã hội và phòng chống các tệ nạn 2.1. Công tác đối với người có công với cách mạng Triển khai công tác tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ; thực hiện tốt công tác chăm lo đời sống các đối tượng chính sách. Tiếp tục duy trì việc chi trả trợ cấp ưu đãi thường xuyên hằng tháng cho trên 9.000 người có công, thân nhân người có công và các đối tượng chính sách khác đang hưởng trợ cấp trên địa bàn tỉnh, bảo đảm đầy đủ, đúng đối tượng và kịp thời theo quy định.2.2. Công tác bảo trợ, an sinh xã hội và phòng chống các tệ nạn Chủ động chuẩn bị nguồn lực, thực hiện đầy đủ, kịp thời các chế độ, chính sách đối với hộ nghèo, hộ cận nghèo, đối tượng bảo trợ xã hội và các hộ bị ảnh hưởng bởi thiên tai, bão lũ.Trong tháng, Cơ sở cai nghiện của 02 tỉnh ( Tuyên Quang cũ và Hà Giang cũ) đã tiếp nhận 17 học viên, cấp giấy chứng nhận hoàn thành cai nghiện cho 8 học viên; tại thời điểm báo cáo, 2 cơ sở cai nghiện đang quản lý 188 học viên (cai nghiện bắt buộc 169 học viên, cai nghiện tự nguyện 19 học viên).3. Hoạt động giáo dục và đào tạoHoàn thành thi học kỳ II năm học 2025-2026. Chuẩn bị đầy đủ các điều kiện tổ chức kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 năm học 2026-2027, kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông năm 2026 an toàn, nghiêm túc; triển khai kế hoạch tuyển sinh, đào tạo giáo dục nghề nghiệp năm 2026. Tăng cường công tác phòng, chống tai nạn, thương tích và phòng, chống đuối nước trẻ em trong dịp hè, mùa mưa bão năm 2026. Hoàn thành tổ chức đánh giá, công nhận "Cộng đồng học tập" cấp xã năm 2025. Đẩy nhanh tiến độ xây dựng, sửa chữa, cải tạo trường, lớp học, nhất là xây dựng các trường phổ thông nội trú liên cấp tiểu học và trung học cơ sở tại các xã biên giới.4. Hoạt động y tế Tiếp tục nâng cao chất lượng công tác khám, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe Nhân dân. Đẩy mạnh công tác truyền thông, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp, các ngành, gia đình và cộng đồng trong công tác bảo vệ trẻ em, phòng, chống bạo lực, xâm hại trẻ em. Trong tháng 5/2026, đã tổ chức khám, chữa bệnh cho 242.175 lượt người, lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 khám, chữa bệnh cho 1.070.404 lượt người đạt 46,26% kế hoạch.5. Hoạt động văn hoá - thể dục, thể thaoChuẩn bị các điều kiện tổ chức Chương trình toàn dân tập luyện thể dục thể thao tỉnh Tuyên Quang năm 2026; ban hành Điều lệ và kế hoạch, Quyết định thành lập Ban tổ chức, trọng tài, tiểu ban chuyên môn tổ chức giải Bóng đá nữ tỉnh Tuyên Quang năm 2026; 4 vận động viên của tỉnh tham gia giải Vô địch các đội mạnh Vovinam quốc gia; giải Vô địch Wushu các câu lạc bộ quốc gia năm 2026; cử vận động viên tham gia tập trung đội tuyển Pencak Silat trẻ quốc gia năm 2026; cử huấn luyện viên tham dự giải Vô địch Châu Á Pencak Silat năm 2026... 6. Tình hình an toàn giao thông, thiên tai và phòng chống cháy, nổ Hướng dẫn triển khai dự án nâng cấp, hiện đại hóa camera giám sát trật tự an toàn giao thông trên địa bàn tỉnh. Giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, chủ động phòng ngừa, đấu tranh hiệu quả với các loại tội phạm, tệ nạn xã hội; tăng cường bảo đảm trật tự an toàn giao thông, phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ, không để phát sinh điểm nóng, tình huống phức tạp về an ninh, trật tự. 6.1. Về an toàn giao thông trong tháng Trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 16 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 9 người và làm bị thương 9 người. So với tháng trước tăng 23,08% về số vụ tai nạn; tăng 50% về số người chết; số người bị thương giữ nguyên. So với tháng cùng kỳ số vụ tai nạn giao thông giảm 5,88%; số người chết giảm 10%; số người bị thương giữ nguyên. Tính chung 5 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh đã xảy ra 75 vụ tai nạn giao thông; làm chết 44 người và làm bị thương 40 người. So với cùng kỳ năm trước: Số vụ tai nạn giao thông giảm 14,77%; số người chết giảm 10,20%; số người bị thương giảm 9,09%. 6.2. Về thiên tai, cháy, nổ 6.2.1. Về tình hình cháy, nổ Trong tháng, trên địa bàn tỉnh xảy ra 04 vụ cháy. Không ghi nhận thiệt hại về người, ước tính thiệt hại tài sản 325 triệu đồng. 6.2.2. Về tình hình thiên tai Từ 15/4-15/5/2026, trên địa bàn các xã thuộc tỉnh Tuyên Quang đã xảy ra 03 đợt thiên tai. Do ảnh hưởng của mưa to kéo dài, một số nơi đã xảy ra tình trạng lũ cục bộ trên các hệ thống sông suối đã gây thiệt hại về người, nhà ở, tài sản của người dân và một số công trình dân dụng trên địa bàn tỉnh. Thiệt hại về người: 01 người tử vong do nước lũ cuốn trôi tại thôn 6 Minh Tiến, xã Bình Xa, tỉnh Tuyên Quang. Thiệt hại về nhà ở: 469 nhà bị tốc mái và hư hỏng nặng. Thiệt hại về nông, lâm nghiệp, thủy sản: Thiệt hại 666,4 ha diện tích lúa bị thiệt hại; 635,93 ha hoa màu bị gãy đổ. Thiệt hại về chăn nuôi: 35 con gia cầm bị chết, cuốn trôi; 141 chuồng trại bị hư hỏng. Thiệt hại về cơ sở hạ tầng: 10 điểm trường bị tốc mái, hư hỏng và nhiều thiết bị dụng cụ khác bị thiệt hại. Thiệt hại về giao thông: 12 điểm giao thông bị ách tắc; 98m đường và 01 cầu bị hư hỏng. Ước tính tổng giá trị thiệt hại: 50 tỷ đồng.THỐNG KÊ TỈNH TUYÊN QUANG
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 4 năm 2026 tỉnh Tuyên Quang
- 15/05/2026 15:08
I. PHÁT TRIỂN KINH TẾ 1. Về sản xuất nông nghiệp (tính đến ngày 20/4/2026) 1.1. Trồng trọt 1.1.1. Sản xuất vụ xuân năm 2026 Hiện nay, bà con nhân dân đã hoàn thành gieo trồng cây hàng năm vụ Xuân 2026 đảm bảo khung thời vụ và đang tiến hành chăm sóc, phòng chống dịch bệnh trên cây trồng. - Cây Lúa: Diện tích lúa gieo trồng đạt 26.933 ha giảm 3,42% (giảm 953,85 ha) so với cùng kỳ. - Ngô lấy hạt: Diện tích gieo trồng vụ Đông – Xuân đạt 38.150 ha, tăng 14,12% (tăng 4.719 ha). Diện tích gieo trồng Ngô tăng cao do các xã thực hiện duy trì ổn định tổng sản lượng lương thực có hạt trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang năm 2026, bằng cách trồng bù phần diện tích vụ Đông không gieo trồng, chuyển một phần diện tích lúa, khoai lang sang trồng ngô và trồng thêm trên diện tích cây cam, chè bị chết. - Khoai lang: Diện tích gieo trồng vụ Đông – Xuân đạt 1.740,39 ha, giảm 10,84% (giảm 211,52 ha) so. Diện tích khoai lang giảm ở hầu hết các xã trên địa bàn tỉnh, nguyên nhân do người dân một số địa phương trong tỉnh chuyển đổi sang trồng ngô và rau đậu các loại có hiệu quả kinh tế cao hơn. - Đậu tương: Diện tích gieo trồng vụ Đông - Xuân đạt 4.619,1 ha, tăng 10,28% (tăng 430,45 ha). Diện tích gieo trồng đậu tương tăng do người dân tăng diện tích trồng xen trên diện tích trồng ngô tăng trong vụ. - Lạc: Diện tích gieo trồng vụ Đông – Xuân đạt 8.850,59 ha, tăng 3,22% (tăng 276,14 ha). - Rau các loại: Diện tích gieo trồng vụ Đông – Xuân đạt 20.772,89 ha, tăng 2,65% (tăng 535,38 ha). Diện tích gieo trồng tăng do người dân trồng chuyển từ diện tích trồng khoai lang và trồng xen cây ngô. - Diện tích gieo trồng cây đậu các loại đạt 2174,03 ha, tăng 0,56% (tăng 12 ha). 1.1.2 Cây lâu năm Diện tích cây chuối hiện có trên địa bàn tỉnh 3.105,29 ha, giảm 5,22% so với cùng kỳ (giảm 171,07 ha). Diện tích cây chè toàn tỉnh hiện có 27.427,83 ha, giảm 2,02% (giảm 567,71 ha) so với cùng kỳ năm trước. Diện tích chè vẫn tiếp tục giảm do một phần diện tích trồng chè của xã Bắc Quang nhà nước thu hồi đất sử dụng mục đích mở đường quốc lộ và phát triển một số dự án xây dựng mới sau sát nhập. Chia theo thành phần kinh tế: Tư nhân là 3.522,27 ha; cá thể là 23.905,56 ha. 1.2. Tình hình sinh vật gây hại Trên cây lúa vụ xuân bệnh đạo ôn, bệnh nghẹt rễ, bệnh đốm sọc vi khuẩn, bệnh bạc lá, bệnh khô vằn, chuột xuất hiện rải rác. Cây ngô vụ Xuân xuất hiện sâu keo mùa thu, rệp hại, bệnh đốm lá, bệnh khô vằn. Trên cây lạc xuất hiện rải rác sâu cuốn lá, rầy xanh lá mạ, bệnh rỉ sắt, bệnh đốm lá, bệnh héo xanh. Trên cây đậu tương xuất hiện ruồi đục thân, sâu cuốn lá, sâu khoang, bệnh rỉ sắt gây hại rải rác. Trên cây rau đậu xuất hiện bọ trĩ, sâu xanh bướm trắng, rệp, bệnh thối nhũn, bệnh mốc sương, bệnh thán thư, bệnh lở cổ rễ gây hại rải rác. 1.3. Về chăn nuôi 1.3.1. Về số lượng đàn gia súc, gia cầm Trong tháng, tình hình chăn nuôi trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang nhìn chung duy trì ổn định và có xu hướng tăng trưởng nhẹ, tuy nhiên sự phát triển giữa các loại vật nuôi không đồng đều. Ngành chăn nuôi Tuyên Quang có một số thuận lợi cơ bản như thị trường tiêu thụ tương đối ổn định, các chính sách hỗ trợ của Nhà nước tiếp tục được triển khai, dịch bệnh cơ bản được kiểm soát, tạo điều kiện cho người dân yên tâm sản xuất. Bên cạnh đó, xu hướng chuyển đổi sang chăn nuôi hàng hóa, áp dụng kỹ thuật và phát triển theo chuỗi giá trị đang dần hình thành rõ nét. Tuy nhiên, ngành vẫn đối mặt với nhiều khó khăn như giá thức ăn chăn nuôi ở mức cao làm tăng chi phí sản xuất, giá bán sản phẩm chưa thực sự ổn định, đặc biệt đối với thịt lợn; điều kiện thời tiết giao mùa tiềm ẩn nguy cơ phát sinh dịch bệnh; quy mô sản xuất nhỏ lẻ còn phổ biến, khả năng liên kết tiêu thụ còn hạn chế. Đàn trâu 216.179 con, giảm 3,17% so với cùng kỳ năm 2025. Nguyên nhân chủ yếu do phương thức chăn nuôi truyền thống phụ thuộc vào chăn thả tự nhiên đang dần thu hẹp, diện tích đồng cỏ bị giảm, hiệu quả kinh tế không cao so với các vật nuôi khác. Bên cạnh đó, tập quán sử dụng sức kéo của trâu trong sản xuất nông nghiệp giảm mạnh do cơ giới hóa, dẫn đến nhu cầu nuôi trâu không còn lớn như trước. Tuy vậy, việc giảm đàn trâu không làm ảnh hưởng lớn đến giá trị sản xuất do một bộ phận người chăn nuôi đã chuyển sang hình thức nuôi vỗ béo, nâng cao giá trị thương phẩm. Đàn bò 175.733 con, tăng 0,12%, đàn bò tiếp tục tăng nhẹ nhờ hiệu quả từ các chương trình cải tạo giống và hỗ trợ phát triển chăn nuôi của địa phương. Người dân từng bước chuyển sang nuôi bò sinh sản và bò thịt theo hướng hàng hóa, áp dụng tiến bộ kỹ thuật như thụ tinh nhân tạo, cải thiện tầm vóc và năng suất đàn bò. Đàn lợn 1.238.014 con, tăng 0,14%. Mặc dù hầu hết các ổ dịch tả lợn Châu Phi trên địa bàn tỉnh đã công bố hết dịch nhưng tâm lý người dân còn e ngại, chưa mạnh dạn tái đàn với số lượng lớn. Đàn gia cầm 14.242,15 nghìn con, tăng 3,48%. Nguyên nhân: Sự tăng trưởng này chủ yếu do nhu cầu tiêu dùng thịt gia cầm và trứng ổn định, thời gian nuôi ngắn, khả năng quay vòng vốn nhanh, phù hợp với điều kiện của nhiều hộ chăn nuôi. Ngoài ra, việc phát triển các mô hình chăn nuôi gà theo hướng trang trại, an toàn sinh học và liên kết tiêu thụ đã góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất. 1.4. Về công tác phòng chống dịch bệnh gia súc, gia cầm trong tháng 1.4.1. Công tác phòng chống và điều trị Trong tháng 4, bệnh Dịch tả lợn Châu Phi phát sinh tại 40 hộ/21thôn/09 xã mới, số lợn tiêu hủy là 223 con/8.916 kg. Luỹ kế từ ngày 01/01/2026 đến ngày 15/4/2026, toàn tỉnh ghi nhận 395 con lợn mắc bệnh buộc tiêu hủy tại 50 hộ/29 thôn/15 xã; tổng khối lượng 22.412 kg. Đến ngày 15/4/2026 đã có 04 xã công bố hết dịch. Cơ quan chức năng phối hợp với các xã, phường theo dõi chặt chẽ tình hình dịch bệnh gia súc, gia cầm, thuỷ sản trên địa bàn, đặc biệt các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, đồng thời chỉ đạo các địa phương triển khai tiêm phòng vụ Xuân - Hè năm 2026. 1.4.2. Công tác kiểm dịch vận chuyển động vật, sản phẩm động vật Tiếp tục thực hiện nghiêm quy định về kiểm dịch vận chuyển động vật, sản phẩm động vật ra ngoài tỉnh. Trong tháng đã kiểm tra, cấp 425 giấy chứng nhận kiểm dịch, gồm 232 chuyến, vận chuyển 40.559 con gia súc, gia cầm và 193 chuyến, vận chuyển 3.437.000 kg sữa tươi nguyên liệu. Lũy kế từ đầu năm đến nay, đã cấp 1.295 giấy, gồm 616 chuyến, vận chuyển 82.407 con gia súc, gia cầm và 679 chuyến vận chuyển 13.373.000 kg sữa tươi nguyên liệu đi các tỉnh như Bắc Ninh, Hà Nội, Cao Bằng, Phú Thọ, Lai Châu.... 1.5. Về sản xuất lâm nghiệp 1.5.1. Công tác trồng rừng Ước tính trong tháng, tổng diện tích rừng trồng mới tập trung toàn tỉnh đã trồng được 2.765,75 ha, giảm 6,65% (giảm 196,93 ha). Lũy kế 4 tháng đầu năm, diện tích trồng rừng đạt 6.184,21 ha, giảm 3,95% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân là do nhiều rừng chưa đến tuổi khai thác, diện tích đất trống để trồng mới giảm. 1.5.2. Khai thác gỗ rừng trồng Trong tháng sản lượng gỗ khai thác ước đạt 156.081,98 m3 gỗ, giảm 6,31% (giảm 10.506,99 m3) so với cùng kỳ năm 2025. Lũy kế 4 tháng đầu năm, sản lượng gỗ khai thác đạt 463.378,88 m3, tăng 1,81% (tăng 8.248,20 m3). Sản lượng gỗ khai thác giảm do diện tích rừng sản xuất đến tuổi khai thác giảm. 1.5.3. Công tác quản lý bảo vệ rừng Theo báo cáo của Chi cục Kiểm lâm tỉnh, trong tháng đã xảy ra 01 vụ cháy rừng; luỹ kế từ đầu năm 01 vụ, giảm 35 vụ so với cùng kỳ; thiệt hại 0,12 ha, giảm 78,21 ha so với cộng dồn đến tháng thực hiện. Nguyên nhân chính gây ra 01 vụ cháy rừng là do người dân đốt nương làm rẫy cháy lan vào rừng sản xuất. Số vụ phá rừng giảm do cơ quan chức năng địa phương đã tăng cường kiểm tra, giám sát, phát hiện và ngăn chặn kịp thời. Tăng cường tuyên truyền về công tác PCCCR và chủ động cập nhật diễn biến thời tiết để có những phương án phù hợp. 2. Sản xuất công nghiệp 2.1. Chỉ số phát triển công nghiệp Chỉ số sản xuất công nghiệp IIP trong tháng tăng 6,37% so với tháng trước, tăng 12,97% so với cùng kỳ, cụ thể của các ngành như sau: Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 4,40%, tăng 12,01%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí tăng 22,94%, tăng 30,62%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 2,57%, tăng 2,32%. Ở chiều ngược lại, khai khoáng giảm 16,15%, giảm 29,86%. Một số ngành công nghiệp cấp II có chỉ số sản xuất tăng so với cùng kỳ năm trước như: Sản xuất chế biến thực phẩm tăng 41,43%; sản xuất đồ uống tăng 331,87%; sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất tăng 21,81%; sản xuất giường, tủ, bàn ghế tăng 18,34%;... Sản xuất công nghiệp trong tháng 4/2026 tiếp tục xu hướng tăng trưởng tích cực, các doanh nghiệp chủ động nắm bắt thị trường tập trung tháo gỡ khó khăn vướng mắc đối với các vấn đề về nguyên liệu, vốn kinh doanh, thị trường tiêu thụ sản phẩm, nguồn cung cấp điện… Đồng thời lên kế hoạch nâng công suất các nhà máy đã đi vào hoạt động (công ty TNHH Gang thép Tuyên Quang); mở rộng lĩnh vực sản suất (công ty TNHH HITARP Việt Nam, dự án nhà máy sản xuất vải bạt nhựa PE) và thu hút các dự án thuộc nhóm công nghệ mới, hiện đại. - Tính chung trong 04 tháng đầu năm 2026, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 9,15% so với cùng kỳ năm trước, Chia theo từng ngành kinh tế cấp I như sau: + Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 8,72%, do một số ngành chế biến tăng như: Sản xuất chế biến thực phẩm tăng 22,53%; sản xuất đồ uống tăng 141,49%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế) tăng 10,77%; sản xuất giường, tủ, bàn ghế tăng 97,77%; sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 12,89%;... + Ngành sản xuất và phân phối điện tăng 17,32%, nguyên nhân là do lượng nước tại các lòng hồ đảm bảo việc tích nước và thực hiện các đợt xả nước của Trung tâm Điều độ Hệ thống điện Quốc gia phục vụ cho gieo cấy vụ Xuân dẫn đến sản lượng điện sản xuất trong 04 tháng đầu năm tăng. + Ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 3,47%, do nhu cầu sử dụng nước sinh hoạt và khối lượng rác thải tăng. Công ty Cổ phần Cấp thoát nước và công ty Đô thị đã tăng cường kiểm tra, bảo dưỡng máy móc, thiết bị, nhằm bảo đảm các hoạt động cấp nước và thu gom rác thải ổn định. 2.2. Sản phẩm công nghiệp chủ yếu Trong tháng, nhóm sản phẩm chủ yếu tăng so với cùng kỳ cụ thể như sau: Điện thương phẩm đạt 173 triệu Kwh, tăng 12,79%; điện sản xuất đạt 216 triệu Kwh, tăng 43,52%; cát tự nhiên ước đạt 17.833 m3, tăng 12,16%; đá xây dựng khác đạt 50.792 m3, tăng 34,01%;... Một số nhóm giảm so với cùng kỳ là: Bột Felspar đạt 9.200 tấn, giảm 3,16%; xi măng đạt 103.000 tấn, giảm 14,07%;... Tính chung trong 4 tháng, một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng khá so với cùng kỳ năm trước: Điện thương phẩm đạt 640 triệu Kwh, tăng 11,20%; điện sản xuất đạt 809 triệu Kwh, tăng 19,60%; mangan và sản phẩm của mangan đạt 4.200 tấn, tăng 74,17%;... Đánh giá chung, Tháng 4/2026, một số doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp tiếp tục duy trì sản xuất ổn định. Tuy nhiên, do ảnh hưởng chung từ kinh tế thế giới, một số doanh nghiệp khai thác khoáng sản do không tiêu thụ được hàng tồn kho, phải điều chỉnh lại kế hoạch sản xuất, một số doanh nghiệp chưa đi vào sản xuất do vướng mắc trong quá trình bồi thường, giải phóng mặc bằng. Một số doanh nghiệp chế biến nông lâm sản cũng bị hạn chế về thị trường tiêu thụ sản phẩm. Trước tình hình đó, Tỉnh đã triển khai nhiều chính sách hỗ trợ, thu hút đầu tư trong lĩnh vực công nghiệp, cải thiện thủ tục hành chính, minh bạch hóa môi trường đầu tư, kinh doanh nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho các doanh nghiệp, phấn đấu hoàn thành kế hoạch đã đề ra. 3. Vốn đầu tư, xây dựng 3.1. Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước thực hiện tháng 4 ước đạt 708,8 tỷ đồng, tăng 41,16% so với tháng trước. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 553,1 tỷ đồng, tăng 41,94%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã đạt 155,7 tỷ đồng, tăng 38,48%. Tính chung trong 4 tháng, nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 2.336,3 tỷ đồng, giảm 7,23% so với cùng kỳ. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 1.876,6 tỷ đồng, giảm 1,26%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã đạt 459,7 tỷ đồng, giảm 25,59%. 3.2. Hoạt động xây dựng Tiếp tục đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công và triển khai thi công các dự án trọng điểm: Dự án cao tốc Tuyên Quang - Hà Giang (giai đoạn 1) đoạn qua tỉnh Tuyên Quang; Bệnh viện đa khoa tỉnh tại địa điểm mới; 17 trường phổ thông nội trú liên cấp tiểu học và trung học cơ sở tại các xã biên giới,… Tập trung chỉ đạo các công trình giao thông, trường học vùng biên giới, hạ tầng khu công nghiệp, du lịch, nông, lâm nghiệp, khoáng sản và các dự án động lực khác. Rà soát, báo cáo khó khăn, vướng mắc trong lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Tài chính khi triển khai chính quyền địa phương 02 cấp. Giải ngân vốn đầu tư công năm 2026 đến ngày 15/4/2026 đạt 1.037,76/6.386,95 tỷ đồng, bằng 16,3% kế hoạch, nếu không bao gồm vốn ngân sách trung ương mới bổ sung, giải ngân của tỉnh đạt 30,01% kế hoạch. (Trong đó: Vốn ngân sách Trung ương đạt 106,611/3.416,873 tỷ đồng, bằng 3,12% kế hoạch; vốn ngân sách địa phương đạt 931,153/3.126,4 tỷ đồng, bằng 31,35% kế hoạch). 4. Thương mại và Dịch vụ Trong tháng 4/2026, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang tiếp tục ghi nhận đà tăng trưởng ổn định, phản ánh tâm lý tiêu dùng tích cực của người dân. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng so với tháng trước. Do sức mua tiêu dùng của thị trường được phục hồi rõ nét, nhu cầu tiêu dùng thiết yếu duy trì ổn định. Nổi bật là doanh thu bán lẻ có tốc độ tăng trưởng khá cao tại các nhóm có quyền số lớn như: Lương thực thực phẩm; đồ gia dụng; nhóm vật liệu xây dựng; nhóm bán lẻ xăng dầu, nhóm vàng bạc, đá quý, ... Nguồn cung hàng hóa dồi dào đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, nhất là vào thời điểm vào hè, nhu cầu đi du lịch tăng cao. Hoạt động thương mại dịch vụ gắn với du lịch phát triển tích cực. Chuyển đổi số trong thương mại dịch vụ bước đầu mạng lại hiệu quả cao thể hiện trong các hoạt động như: tăng cường thanh toán không dùng tiền mặt; mở rộng bán hàng qua nền tảng số, mạng xã hội; kết hợp mô hình bán lẻ truyền thống và hiện đại, ... Các hộ kinh doanh, doanh nghiệp nhỏ từng bước thích ứng với mội trường kinh doanh số. 4.1. Doanh thu bán lẻ hàng hóa Doanh thu bán lẻ hàng hóa tháng 4 ước đạt 3.654 tỷ đồng, tăng 1,36% so với tháng trước, tăng 22,80% so với cùng kỳ. Trong đó, một số nhóm hàng tăng so tháng trước, tăng so cùng kỳ cụ thể như sau: Nhóm hàng lương thực, thực phẩm đạt 931 tỷ đồng, tăng 0,41%, tăng 10,65%; nhóm hàng may mặc đạt 369 tỷ đồng, tăng 0,89%, tăng 39,28%; nhóm vật phẩm văn hóa, giáo dục đạt 83 tỷ đồng, tăng 1,40%, tăng 35,94%… Tính chung trong 4 tháng, tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 14.149 tỷ đồng, tăng 17,47% so với năm 2025. 4.2. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ khác Trong tháng, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, lữ hành ước đạt 698,05 tỷ đồng, tăng 10,71% so với tháng trước, tăng 27,54% so với cùng kỳ. Trong đó: Dịch vụ lưu trú đạt 62,03 tỷ đồng, tăng 8,04%, tăng 28,01%; ăn uống đạt 636,02 tỷ đồng, tăng 10,98%, tăng 27%. Tính chung trong 4 tháng, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 2.502,40 tỷ đồng, tăng 20,98% so với cùng kỳ. Doanh thu du lịch lữ hành đạt 8,01 tỷ đồng, tăng 1,03%, tăng 85,38% so với cùng kỳ. Tính chung 4 tháng, doanh thu du lịch lữ hành ước đạt 30,39 tỷ đồng, tăng 55,47%. Doanh thu dịch vụ khác trong tháng ước đạt 92,73 tỷ đồng, tăng 2,41% so với tháng trước, tăng 19,87% so với cùng kỳ. Tính chung trong 4 tháng, doanh thu dịch vụ khác ước đạt 375,79 tỷ đồng, tăng 14,46%. 4.3. Giá cả Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trong tháng tăng 6,91% so với cùng kỳ năm trước, tăng 4,79% so với tháng 12 năm trước, tăng 0,22% so với tháng trước. Tính chung trong 4 tháng, CPI bình quân tăng 5,35% so với cùng kỳ. Tỉnh đã chỉ đạo tăng cường theo dõi, nắm bắt diễn biến thị trường và tình hình lưu thông hàng hóa; triển khai các phương án bảo đảm cân đối cung - cầu, thực hiện bình ổn giá xăng dầu và các biện pháp bình ổn giá xăng dầu trên địa bàn tỉnh theo chỉ đạo của Chính phủ. Trong số 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính thì có 7 nhóm tăng giá so với tháng trước, 4 nhóm giảm giá. Trong 7 nhóm hàng tăng so với tháng trước, bao gồm những nhóm hàng sau: Nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 1,19%, do thời tiết vào hè nắng nóng làm cho nhu cầu về bia, nước ngọt tăng cao; nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,59% do nhu cầu mua sắm quần áo may sẵn và giầy dép của người dân tăng; nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 2,32%; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,96% do nhu cầu mua sắm các thiết bị như quạt, điều hòa tăng; nhóm giáo dục tăng nhẹ 0,02%; nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,35%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,69% tập trung ở giá nhóm đồ trang sức tăng do giá vàng tăng. Trong 4 nhóm có giá giảm gồm: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,02%, nguyên nhân chủ yếu là do giá thực phẩm giảm; nhóm thuốc và dịch vụ y tế giảm 0,86%; nhóm giao thông giảm 1,61%; nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,16%. - Chỉ số giá vàng tăng 58,80% so với cùng kỳ năm trước, tăng 14,03% so với tháng 12 năm trước, giảm 6,15% so với tháng trước. Tính chung trong 4 tháng đầu năm 2026, giá vàng tăng 80,17% so với cùng kỳ. - Chỉ số giá đô la Mỹ tăng 0,87% so với cùng kỳ năm trước, giảm 0,02% so với tháng 12 năm trước, tăng 0,26% so với tháng trước. Tính chung trong 4 tháng đầu năm 2026, tăng 1,81% so với cùng kỳ. 4.4. Tình hình xuất, nhập khẩu hàng hóa Tỉnh đã chỉ đạo Công an, Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh (Biên phòng), Hải quan, Chi Cục Quản lý thị trường tăng cường kiểm tra, kiểm soát, đấu tranh chống buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả, hàng kém chất lượng. Tổng kim ngạch xuất hàng hóa trong tháng 4 ước đạt 56,85 triệu USD, giảm 18,15% so với cùng kỳ. Tổng kim ngạch nhập khẩu ước đạt 14,63 triệu USD, tăng 48,26% so cùng kỳ, trong đó chủ yếu là nhập máy móc, thiết bị, phụ tùng và nguyên liệu may mặc. Lũy kế 4 tháng đầu năm, kim ngạch xuất, nhập khẩu đạt 236,6 triệu USD, đạt 28,2% kế hoạch, tăng 5,8% so với cùng kỳ. 5. Vận tải hàng hóa và hành khách Tháng 4, hoạt động vận tải và kho bãi tiếp tục tăng do trong tháng có kỳ nghỉ lễ dài ngày nên lượng khách tham quan, du lịch và nhu cầu đi lại của người dân tăng cao. Cùng với đó khối lượng vận chuyển hàng hóa tăng mạnh, đặc biệt từ các ngành sản xuất và thương mại điện tử, tạo áp lực lớn lên hạ tầng vận tải. Doanh thu trong tháng tăng cũng do giá xăng, dầu có nhiều biến động buộc các doanh nghiệp, hộ cá thể vận tải phải điều chỉnh tăng giá cước để bù đắp chi phí đầu vào nên đã tác động đến ngành dịch vụ vận tải. 5.1. Doanh thu vận tải tải kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải Doanh thu vận tải trong tháng ước đạt 456,77 tỷ đồng, tăng 3,58% so với tháng trước, tăng 20,50% so với cùng kỳ. Trong đó, vận tải hành khách đạt 129,86 tỷ đồng, tăng 4,19%, tăng 29,40%; vận tải hàng hóa đạt 323,99 tỷ đồng, tăng 3,33%, tăng 17,30%; doanh thu dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 2,05 tỷ đồng, tăng 6,46%, tăng 20,50%; hoạt động bưu chính, chuyển phát đạt 0,87 tỷ đồng, tăng 0,76%, tăng 40,07%. Tính chung trong 4 tháng đầu năm 2026, doanh thu vận tải kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 1.771,89 tỷ đồng, tăng 12,60% so với cùng kỳ. Trong đó: vận tải hành khách đạt 489,58 tỷ đồng, tăng 19,40%; vận tải hàng hóa đạt 1.271,14 tỷ đồng, tăng 10,10%; dịch vụ hỗ trợ vận tải kho bãi đạt 7,64 tỷ đồng, tăng 11,90%; bưu chính, chuyển phát đạt 3,53 tỷ đồng, tăng 27,28%. 5.2. Vận tải hành khách và hàng hóa Trong tháng khối lượng hành khách vận chuyển ước đạt 2,02 triệu lượt hành khách, tăng 3,78% so với tháng trước, tăng 24,90% so với cùng kỳ; khối lượng hành khách luân chuyển ước đạt 157,87 triệu lượt hành khách.km, tăng 4,91%, tăng 20,80%. Tính chung 4 tháng đầu năm 2026, khối lượng hành khách vận chuyển ước đạt 7,54 triệu lượt hành khách, tăng 14,50% so với cùng kỳ; khối lượng hành khách luân chuyển ước đạt 591,26 triệu lượt hành khách.km, tăng 11,40%. Khối lượng hàng hóa vận chuyển trong tháng ước đạt 2,12 triệu tấn, tăng 3,57% so với tháng trước, tăng 15,50% so với cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 135,14 triệu tấn.km, tăng 4,08%, tăng 24,10%. Tính chung 4 tháng đầu năm 2026, khối lượng hàng hóa vận chuyển ước đạt 8,38 triệu tấn, tăng 11,50% so với cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 541,46 triệu tấn.km, tăng 16,60%. 6. Về du lịch Chú trọng bảo tồn, gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc gắn với phát triển du lịch cộng đồng, du lịch trải nghiệm; tổ chức các hoạt động văn hóa, thể thao thiết thực, hiệu quả, tránh hình thức, phô trương, dàn trải; quan tâm đổi mới nội dung, phương thức quảng bá, xây dựng sản phẩm văn hóa, du lịch đặc trưng của tỉnh. Trong tháng 4/2026, toàn tỉnh đón 310.823 lượt khách du lịch, tổng thu từ du lịch đạt 944,4 tỷ đồng. Lũy kế 4 tháng đầu năm đón 1.437.198 lượt khách du lịch đạt 35% kế hoạch, tổng thu du lịch đạt 4.011,2 tỷ đồng. II. LĨNH VỰC VĂN HÓA - XÃ HỘI 1. Công tác lao động, việc làm, giáo dục nghề nghiệp Triển khai nắm bắt tình hình tuyển dụng, sử dụng, phổ biến các chủ trương, chính sách về lao động, việc làm; cung cấp thông tin nhu cầu tuyển dụng của các doanh nghiệp trong nước và cơ hội đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Đồng thời, cán bộ chuyên môn trực tiếp tư vấn, giải đáp thắc mắc, hướng dẫn đăng ký tuyển dụng và hoàn thiện thủ tục cần thiết. Thông qua hoạt động này, người lao động được tiếp cận kịp thời thông tin thị trường lao động, nâng cao nhận thức, hạn chế rủi ro trong quá trình tìm việc, góp phần kết nối cung - cầu lao động, giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương. 2. Công tác đảm bảo chế độ người có công với cách mạng, bảo trợ, an sinh xã hội và phòng chống các tệ nạn2.1. Công tác đối với người có công với cách mạng Thực hiện tốt công tác chăm lo đời sống các đối tượng chính sách; duy trì chi trả trợ cấp ưu đãi thường xuyên hằng tháng cho trên 9.000 người có công, thân nhân người có công và các đối tượng chính sách khác đang hưởng trợ cấp trên địa bàn tỉnh. 2.2. Công tác bảo trợ, an sinh xã hội và phòng chống các tệ nạn Chủ động chuẩn bị nguồn lực, thực hiện đầy đủ, kịp thời các chế độ, chính sách đối với hộ nghèo, hộ cận nghèo, đối tượng bảo trợ xã hội và các hộ bị ảnh hưởng bởi thiên tai, bão lũ.Trong tháng, Cơ sở cai nghiện của 02 tỉnh ( Tuyên Quang cũ và Hà Giang cũ) đã tiếp nhận 8 học viên, cấp giấy chứng nhận hoàn thành cai nghiện cho 22 học viên; tại thời điểm báo cáo, 2 cơ sở cai nghiện đang quản lý 179 học viên (cai nghiện bắt buộc 176 học viên, cai nghiện tự nguyện 3 học viên).3. Hoạt động giáo dục và đào tạoThực hiện công tác tuyển dụng viên chức; tổ chức kiểm tra, sát hạch viên chức sự nghiệp giáo dục năm 2025. Ban hành và triển khai Phương án sắp xếp, tổ chức lại cơ sở giáo dục đại học công lập và cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập; phương án sắp xếp các cơ sở giáo dục phổ thông tại 17/17 xã biên giới trên địa bàn tỉnh; phương án sắp xếp mạng lưới cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông và giáo dục thường xuyên công lập trên địa bàn tỉnh. Đẩy nhanh tiến độ thi công các 06 trường phổ thông nội trú TH&THCS các xã biên giới khởi công giai đoạn 1; chuẩn bị các điều kiện tổ chức thi công 11 trường phổ thông nội trú TH&THCS tại các xã biên giới khởi công giai đoạn 2 theo kế hoạch. Tăng cường tổ chức kiểm tra công tác tổ chức ôn thi tốt nghiệp THPT. Tổ chức thành công Hội thao Giáo dục Quốc phòng và An ninh cấp tỉnh dành cho học sinh trung học phổ thông và tham dự cấp toàn quốc, năm học 2025-2026.4. Hoạt động y tế Chủ động triển khai các biện pháp phòng, chống dịch bệnh truyền nhiễm, nhất là trong thời điểm chuyển mùa, không để dịch bệnh phát sinh, lây lan trên diện rộng; trong tháng 4/2026 tổ chức khám, chữa bệnh cho 231.087 lượt người, lũy kế 4 tháng đầu năm 2026 khám, chữa bệnh cho 828.229 lượt người đạt 35,7% kế hoạch.5. Hoạt động văn hoá - thể dục, thể thaoTổ chức thành công giải Siêu đường mòn "Chạy trên cung đường Hạnh Phúc" tỉnh Tuyên Quang mở rộng lần thứ VII, năm 2026; chuẩn bị tổ chức Đại hội Thể dục thể thao các cấp đến hết quý I năm 2026; Chuẩn bị các điều kiện tổ chức giải bóng đá khánh thành sân vận động tỉnh Tuyên Quang; thành lập đoàn vận động viên của tỉnh tham gia giải Vô địch các đội mạnh Vovinam quốc gia, giải Vô địch Wushu các câu lạc bộ quốc gia năm 2026... 6. Tình hình an toàn giao thông, thiên tai và phòng chống cháy, nổ Tổ chức “Ngày hội toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc” năm 2026. Giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, chủ động phòng ngừa, đấu tranh hiệu quả với các loại tội phạm, tệ nạn xã hội; tăng cường bảo đảm trật tự an toàn giao thông, phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ, không để phát sinh điểm nóng, tình huống phức tạp về an ninh, trật tự. 6.1. Về an toàn giao thông trong tháng Trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 13 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 6 người và làm bị thương 9 người. So với tháng trước tăng 62,50% về số vụ tai nạn; số người chết giữ nguyên; số người bị thương tăng 800%. So với tháng cùng kỳ số vụ tai nạn giao thông giảm 38,10; số người chết giảm 53,85%; số người bị thương giảm 25%. Tính chung 4 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh đã xảy ra 59 vụ tai nạn giao thông; làm chết 35 người và làm bị thương 31 người. So với cùng kỳ năm trước: Số vụ tai nạn giao thông giảm 16,90%; số người chết giảm 10,26%; số người bị thương giảm 31,11%. 6.2. Về thiên tai, cháy, nổ 6.2.1. Về tình hình cháy, nổ Trong tháng, trên địa bàn tỉnh xảy ra 02 vụ cháy. Không ghi nhận thiệt hại về người, ước tính thiệt hại tài sản 110,5 triệu đồng. 6.2.2. Về tình hình thiên tai Trong các ngày từ 29/3-15/4/2026, trên địa bàn các xã thuộc tỉnh Tuyên Quang đã xuất hiện mưa dông kèm theo các hiện tượng lốc, sét, mưa đá và gió giật mạnh. Mưa to kèm theo giông lốc đã gây thiệt hại về người, nhà ở, tài sản của người dân và một số công trình dân dụng trên địa bản tỉnh. Thiệt hại về người: 01 người tử vong tại xã Trung Thịnh, tỉnh Tuyên Quang do sét đánh. Thiệt hại về nhà ở: 856 nhà bị tốc mái và hư hỏng nặng. Thiệt hại về nông, lâm nghiệp, thủy sản: Thiệt hại 1.301,2 ha diện tích lúa bị thiệt hại; 1.107,53 ha lâm nghiệp (cây keo, cây xưa) bị gãy đổ. Thiệt hại về chăn nuôi: 02 con lợn bị chết, cuốn trôi; 714 con gia cầm bị chết, cuốn trôi. Thiệt hại về cơ sở hạ tầng: Thiệt hại 29 phòng học tại các điểm trường bị tốc mái hoàn toàn, tường rào bị đổ; máy tính cơ quan; công trình phụ, mái che nhà bị hư hỏng và nhiều thiết bị dụng cụ khác bị thiệt hại. Thiệt hại về giao thông: 76 điểm giao thông bị ách tắc; 30m đường và 01 cầu bị hư hỏng. Thiệt hại về thủy lợi: 270m kênh bị bồi lấp, hư hỏng. Ước tính tổng giá trị thiệt hại: 125 tỷ đồng.THỐNG KÊ TỈNH TUYÊN QUANG
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 3 và quý I năm 2026 tỉnh Tuyên Quang
- 15/05/2026 13:54
I. PHÁT TRIỂN KINH TẾ 1. Tăng trưởng kinh tế quý I năm 2026 1.1. Tốc độ tăng trưởng GRDP trên địa bàn (giá so sánh 2020) quý I năm 2026 Tốc độ tăng trưởng GRDP (giá so sánh năm 2020) trên địa bàn tỉnh tăng 7,55% so với cùng kỳ năm 2025, cụ thể của các lĩnh vực như sau: 1.1.1. Khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 4,84%; đóng góp 1,22 điểm phần trăm trong mức tăng chung của GRDP. Ngành nông nghiệp mặc dù còn gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng của thời tiết; thị trường tiêu thụ nông sản, giá vật tư đầu vào nhưng cũng đã vượt mọi khó khăn đạt mức tăng trưởng tương đối ấn tượng. Ngành nông nghiệp tăng 4,80%, đóng góp 1,04 điểm phần trăm; ngành lâm nghiệp tăng 4,33%, đóng góp 0,12 điểm phần trăm; ngành thủy sản tăng 7,80%, đóng góp 0,06 điểm phần trăm. 1.1.2. Khu vực Công nghiệp, xây dựng tiếp tục có nhiều tín hiệu khởi sắc và có những bước tăng trưởng ấn tượng, với mức tăng 11,46%, đóng góp vào tốc độ tăng trưởng chung là 2,54 điểm phần trăm. Trong đó: - Ngành công nghiệp, tăng 13,13%, với mức đóng góp 1,95 điểm phần trăm (trong đó: Ngành khai khoáng tăng trưởng âm 8,83%, làm giảm đóng góp vào tốc độ tăng trưởng chung là âm 0,09 điểm phần trăm; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 15,99%, đóng góp 1,6 điểm phần trăm; sản xuất và phân phối điện tăng 12,17%, đóng góp 0,44 điểm phần trăm; cung cấp nước tăng 3,68%, đóng góp 0,01 điểm phần trăm). - Ngành xây dựng tăng 8,06%, đóng góp 0,59 điểm phần trăm. Tỉnh đã tập trung chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ thi công các công trình, dự án trọng điểm, nhất là các dự án giao thông, hạ tầng kỹ thuật, tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế -xã hội, góp phần tăng trưởng khu vực xây dựng. 1.1.3. Khu vực dịch vụ tăng 7,11%, đóng góp 3,38 điểm phần trăm. Trong khu vực dịch vụ, đóng góp của một số ngành có tỷ trọng lớn vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm như sau: Bán buôn, bán lẻ và sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy tăng 7,53%, đóng góp 0,48 điểm phần trăm; vận tải kho bãi tăng 9,53%, đóng góp 0,34 điểm phần trăm; lưu trú và ăn uống tăng 2,24%, đóng góp 0,07 điểm phần trăm; hoạt động tài chính ngân hàng và bảo hiểm tăng 7,90%, đóng góp 0,31 điểm phần trăm,…Ngay từ đầu năm tỉnh đã tổ chức các hoạt động xúc tiến, quảng bá du lịch có tiềm năng phát triển như du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, du lịch cộng đồng;… 1.1.4. Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 8,16%; (đóng góp 0,41 điểm phần trăm). 1.2. Quy mô và cơ cấu kinh tế 1.2.1. Quy mô tổng sản phẩm Quy mô tổng sản phẩm trên địa bàn quý I năm 2026 (giá hiện hành) ước đạt 20.755,8 tỷ đồng. 1.2.2. Cơ cấu kinh tế Cơ cấu kinh tế tỉnh tiếp tục chuyển biến tích cực với chiều hướng tăng dần tỷ trọng khu vực dịch vụ, cụ thể như sau: Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 21,35%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 25,58%, trong cơ cấu nội hàm ngành công nghiệp đã có sự chuyển dịch theo hướng, giảm dần tỷ trọng công nghiệp khai thác, tăng dần tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo; khu vực dịch vụ chiếm 48,00%; thuế sản phầm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 5,07%. Nhìn chung, trong quý I năm 2026 các ngành: Công nghiệp, xây dựng và dịch vụ tiếp tục đóng góp chủ yếu vào mức tăng trưởng GRDP của toàn tỉnh, chứng tỏ cơ cấu kinh tế của tỉnh đã có sự chuyển dịch đúng hướng và tái cơ cấu kinh tế đang mang lại hiệu quả rõ rệt. Đây là sự chuyển dịch cơ cấu tích cực phù hợp với yêu cầu thúc đẩy nhanh sự tăng trưởng kinh tế theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa và tăng dần tỷ trọng dịch vụ góp phần nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế của tỉnh. 2. Tình hình tài chính, ngân hàng 2.1. Thu, chi ngân sách nhà nước 2.1.1. Thu ngân sách nhà nước: Tổng thu ngân sách nhà nước ước thực hiện trong quý I/2026 là 1.869,67 tỷ đồng, tăng 140,60% so với cùng kỳ. Trong đó thu nội địa ước thực hiện là 1.806,11 tỷ đồng, tăng 48,41%. Một số khoản thu đạt khá là: Thu từ khu vực kinh tế ngoài quốc doanh là 721,48 tỷ đồng, tăng 153,39%; thuế Thu nhập cá nhân là 151,25 tỷ đồng, tăng 55,12%; thu phí – lệ phí là 159,93 tỷ đồng, tăng 79,93%;… 2.1.2. Chi ngân sách nhà nước: Tổng chi ngân sách nhà nước là 9.321,65 tỷ đồng, giảm 4,6% so với cùng kỳ. Trong đó: Chi đầu tư phát triển là 4.598,15 tỷ đồng; chi thường xuyên là 4.723,49 tỷ đồng;... Ngay từ đầu năm, Tỉnh đã tập trung điều hành dự toán ngân sách nhà nước chủ động chỉ đạo các cơ quan chuyên môn triển khai kịp thời việc nhập dự toán vốn đầu tư cho các công trình, dự án, tạo điều kiện thuận lợi cho các ngành, đơn vị và các huyện, thành phố triển khai tổ chức thực hiện ngay từ đầu năm, đồng thời chỉ đạo việc tích cực đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án và tiến độ giải ngân vốn đầu tư năm 2026. 2.2. Hoạt động tín dụng ngân hàng Triển khai Công điện số 12/CĐ-TTg ngày 08/02/2026 của Thủ tướng Chính phủ về một số giải pháp trọng tâm điều hành chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa năm 2026. Tổng nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh đến 31/3/2026 ước đạt 77.500 tỷ đồng, tăng 19,01%. Tổng dư nợ đến 31/3/2026 ước đạt 79.800 tỷ đồng, tăng 19,58% so với quý trước. Tỷ lệ nợ xấu là 0,92%/tổng dư nợ. Tổ chức thực hiện nghiêm túc, kịp thời, đầy đủ các cơ chế, chính sách về tiền tệ và hoạt động ngân hàng. Tiếp tục triển khai các giải pháp thúc đẩy tăng trưởng tín dụng gắn với nâng cao chất lượng tín dụng; tăng cường kiểm soát và xử lý nợ xấu, bảo đảm an toàn hoạt động của hệ thống các tổ chức tín dụng trên địa bàn. 3. Giá cả Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 3 năm 2026 tăng 2,15% so với tháng trước, tăng 6,92% so với cùng kỳ năm trước. Trong số 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính thì có 9 nhóm tăng giá so với tháng trước, 02 nhóm giữ nguyên, cụ thể như sau. Trong 9 nhóm hàng tăng giá, so với tháng trước, bao gồm những nhóm hàng sau: Nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,73% do giá vận chuyển một số mặt hàng bia, nước ngọt tăng, làm giá bán tăng; nhóm may mặc, mũ nón và giày dép tăng 0,11%; nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 1,79% chủ yếu do các mặt hàng vật liệu xây dựng chính tăng; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,4%; nhóm giao thông tăng 13,35% do ảnh hưởng tăng của giá xăng dầu thế giới; nhóm bưu chính viễn thông tăng 0,52%; nhóm giáo dục tăng 0,02%; nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,79%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,62%. Có 02 nhóm hàng giữ nguyên so với tháng trước là: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống và nhóm thuốc và dịch vụ y tế. CPI bình quân quý I/2026 tăng 4,90% so với cùng kỳ. Một số nguyên nhân cơ bản đã tác động tăng CPI là những nguyên nhân chủ yếu sau: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 5,96%; nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 17,05%;… Chỉ số giá vàng tăng 87,77% so với cùng kỳ, tăng 21,50% so với tháng 12 năm trước và tăng 1,38% so với tháng trước. Tính chung trong quý I/2026 chỉ số giá vàng tăng 87,92% so với cùng kỳ. Chỉ số giá đô la Mỹ tăng 1,77% so với cùng kỳ, giảm 0,37% so với tháng 12 năm trước và tăng 0,84% so với tháng trước. Tính chung trong quý I/2026 chỉ số giá vàng tăng 2,13% so với cùng kỳ. 4. Vốn đầu tư và Xây dựng 4.1. Vốn đầu tư 4.1.1. Tình hình thực hiện Vốn đầu tư phát triển toàn xã hội Ước thực hiện quý I đạt 6.111,7 tỷ đồng, tăng 2,16% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Nguồn vốn 2026 từ khu vực nhà nước ước đạt 1.589,3 tỷ đồng, giảm 11,10% (chiếm 26% tổng nguồn vốn đầu tư), nguồn vốn từ ngân sách nhà nước tiếp tục giữ vai trò chủ đạo là động lực chính để phục hồi và phát triển kinh tế, do đó tỉnh đã triển khai nhiều biện pháp thúc đẩy tốc độ giải ngân vốn đầu tư công, tập trung vào cơ sở hạ tầng, đẩy nhanh tiến độ xây dựng các công trình trọng điểm, thu hút nguồn vốn đầu tư của các khu vực kinh tế khác và toàn xã hội; nguồn vốn đầu tư của dân cư và tư nhân ước đạt 3.870,5 tỷ đồng, tăng 11,02% (chiếm 63,33% tổng nguồn vốn) khu vực tư nhân chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong đầu tư phát triển toàn xã hội và giữ vai trò quan trọng trong tổng nguồn vốn, trong bối cảnh ngân sách nhà nước còn hạn hẹp rất cần các nguồn lực đầu tư từ khu vực tư nhân; vốn huy động khác ước đạt 570,1 tỷ đồng, tăng 7,46% (chiếm 9,33%); vốn tự có của doanh nghiệp nhà nước ước đạt 77,7 tỷ đồng, tăng 16,99%, (chiếm 1,27%); nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ước đạt 4 tỷ đồng, giảm 65,67% (chiếm 0,07%).4.1.2. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước- Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước thực hiện tháng 3 đạt 432,5 tỷ đồng, tăng 31,40% so với tháng trước, trong đó: Vốn ngân sách cấp tỉnh đạt 323,6 tỷ đồng, tăng 29,30%; vốn ngân sách cấp xã đạt 108,9 tỷ đồng, tăng 38,03%. - Ước thực hiện quý I/2026 đạt 1.557,8 tỷ đồng, giảm 11,89% so với quý cùng kỳ, trong đó: Vốn ngân sách cấp tỉnh đạt 1.257,5 tỷ đồng, giảm 6,34%; vốn ngân sách cấp xã đạt 300,4 tỷ đồng, giảm 29,4%. 4.2. Xây dựng Tăng cường quản lý, phát triển vật liệu xây dựng trong giai đoạn mới; tiếp tục đột phá xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, trọng tâm là hạ tầng giao thông, hạ tầng công nghệ, hạ tầng đô thị, hạ tầng khu, cụm công nghiệp. Chỉ đạo cập nhật và công bố giá vật liệu xây dựng hằng tháng bảo đảm kịp thời, đúng quy định. Tăng cường kiểm tra, hướng dẫn, theo dõi sát diễn biến thị trường, không để xảy ra tình trạng giá công bố thấp hơn giá bán vật liệu xây dựng trên thị trường, gây khó khăn cho chủ đầu tư, nhà thầu và làm phát sinh tiêu cực. Công bố, điều chỉnh đơn giá vật liệu xây dựng, đơn giá nhân công xây dựng, ca máy và thiết bị thi công bảo đảm phù hợp với mặt bằng giá thị trường, làm cơ sở cho việc lập, thẩm định và triển khai các dự án đầu tư trên địa bàn.Tăng cường thực hiện các dự án lớn trọng điểm; rà soát nguồn vốn đầu tư công năm 2025 được phép kéo dài thời gian thanh toán sang năm 2026; hoàn thiện Nghị quyết về quyết định kế hoạch đầu tư công trung hạn vốn ngân sách nhà nước, giai đoạn 2026-2030; tổ chức kiểm tra tiến độ thi công một số công trình, dự án trọng điểm. Giải ngân vốn đầu tư năm 2026 đến ngày 27/3/2026 đạt 666/9.968,96 tỷ đồng, bằng 6,7% kế hoạch. 5. Hoạt động của doanh nghiệp5.1. Về tình hình hoạt động của doanh nghiệpTừ ngày 01/01/2026 đến ngày 30/3/2026, cấp Giấy chứng nhận đăng ký thành lập mới cho 327 doanh nghiệp (tăng 144% so với cùng kỳ), với số vốn đăng ký trên 1.902,996 tỷ đồng (tăng 366%); số doanh nghiệp hoạt động trở lại 120 doanh nghiệp (tăng 30%); giải thể 46 doanh nghiệp (tăng 130%); tạm ngừng 223 doanh nghiệp (giảm 9%). Lũy kế tổng số doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh hiện có 6.588 doanh nghiệp, với tổng số vốn đăng ký trên 95.421,413 tỷ đồng (trong đó có 22 doanh nghiệp có 100% vốn đầu tư nước ngoài). Để hỗ trợ doanh nghiệp phát triển, tỉnh đã triển khai đồng bộ, hiệu quả các chính sách hỗ trợ; tạo môi trường đầu tư và kinh doanh thuận lợi, bình đẳng, ổn định để các doanh nghiệp đóng góp ngày càng cao vào sự phát triển kinh tế - xã hội; góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế của doanh nghiệp. Trong thời gian tới, tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong giải quyết thủ tục đầu tư, rút ngắn thời gian cấp phép kinh doanh, hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận nguồn lực đất đai, tín dụng. Trung tâm Phục vụ hành chính công tỉnh Tuyên Quang hoạt động hiệu quả, giúp doanh nghiệp và nhà đầu tư giảm đáng kể thời gian thực hiện thủ tục. 5.2. Điều tra xu hướng kinh doanh ngành công nghiệp chế biến chế tạo trong quý I Tổng hợp kết quả phiếu điều tra xu hướng của các doanh nghiệp công nghiệp chế biến chế tạo cho thấy có 69,09% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh quý I/2026 so với quý IV/2025 tốt hơn và giữ ổn định (18,18% doanh nghiệp dự báo tốt hơn; 50,91% giữ ổn định), trong khi có 30,91% số doanh nghiệp cho rằng khó khăn hơn. Dự báo quý II/2026 xu hướng sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp công nghiệp chế biến, chế tạo trên địa bàn tỉnh thuận lợi hơn so với quý I/2026 khi có 43,64% doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp tốt hơn (trong đó có ngành: sản xuất trang phục; chế biến gỗ và sản phẩm từ gỗ; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại; sản xuất kim loại; sản xuất xe có động cơ); 38,18% doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp giữ ổn định (trong đó có ngành: Sản xuất chế biến thực phẩm; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy; in, sao chép bản ghi các loại; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học); 18,18% doanh nghiệp dự báo tình hình sản xuất kinh doanh khó khăn hơn. 6. Về sản xuất nông nghiệp (tính đến ngày 20/3/2026) 6.1. Trồng trọt 6.1.1. Sản xuất vụ Đông năm 2025-2026Ngô lấy hạt: Diện tích đạt 7.261,29 ha, bằng 92,87% (giảm 557,3 ha) so với cùng kỳ. Diện tích gieo trồng ngô giảm chủ yếu tại các xã Vị Xuyên, Linh Hồ, Bắc Quang do một số diện tích bãi bồi ven sông bị ngập lụt, không kịp thu hoạch vụ Mùa và chuẩn bị đất gieo trồng vụ Đông nên người dân không trồng ngô vụ Đông; khu vực xã Chiêm Hóa, Hàm Yên, Hùng An, Đồng Yên, Quang Bình, Bằng Lang, Tiên Yên diện tích giảm do một phần diện tích chuyển sang trồng ngô sinh khối, một phần người dân đi làm thời vụ có thu nhập cao hơn nên không tiếp tục trồng ngô. Khoai lang: Diện tích đạt 1.285,39 ha, giảm 2,28% (giảm 29,96 ha) so với cùng kỳ. Diện tích khoai lang giảm ở hầu hết các xã trên địa bàn tỉnh, nguyên nhân do người dân một số địa phương trong tỉnh chuyển đổi sang trồng rau đậu các loại có hiệu quả kinh tế cao hơn. Đậu tương: Diện tích gieo trồng đạt 4,1 ha, bằng 5,86% (giảm 65,89 ha) so với cùng kỳ. Diện tích gieo trồng đậu tương giảm tại xã Tri Phú, Linh Phú do cây đậu tương trồng vụ Đông cho năng suất thấp, người dân không tiếp tục gieo trồng nữa. Lạc: Diện tích gieo trồng đạt 43,59 ha, bằng 83,14% (giảm 8,84 ha) so với cùng kỳ. Diện tích gieo trồng lạc giảm tại xã Tân Mỹ. Rau các loại: Diện tích gieo trồng đạt 12.050,89 ha, bằng 98,65% (giảm 164,65 ha) so với cùng kỳ. Diện tích gieo trồng giảm do ảnh hưởng của cơn bão BUALOI làm một số diện tích bị ngập, thời gian thu hoạch vụ Mùa bị kéo dài, người dân không kịp làm đất nên một số diện tích gieo trồng vụ Đông không thực hiện được. Diện tích gieo trồng cây đậu các loại đạt 648,43 ha, bằng 95,33% (giảm 31,8 ha) so với cùng kỳ. Diện tích gieo trồng giảm tại các xã Trường Sinh, Bình Ca, Ngọc Long, Yên Cường. 6.1.2. Sản xuất vụ xuân Cây Lúa: Diện tích lúa gieo trồng đạt 26.932,99 ha giảm 3,42% (giảm 953,86 ha) so với cùng kỳ do một số diện tích bị mất do làm đường cao tốc, phần còn lại chuyển sang trồng ngô vụ Xuân. Ngô: Diện tích gieo trồng đạt 30.888,71 ha tăng 20,6% (tăng 5.276,31 ha). Diện tích ngô tăng cao do các xã trồng bù phần diện tích vụ Đông không gieo trồng, chuyển một phần diện tích lúa, khoai lang sang trồng ngô và trồng thêm trên diện tích cây cam, chè bị chết. Khoai lang: Diện tích gieo trồng đạt 455 ha, bằng 71,48% (giảm 181,6 ha) do chuyển sang trồng ngô. Đậu tương: Diện tích gieo trồng đạt 4.615 ha, tăng 12,05% (tăng 496,3 ha) do người dân chuyển diện tích trồng đậu tương không hiệu quả của vụ Đông sang trồng vụ Xuân. Lạc: Diện tích lạc gieo trồng đạt 8.807 ha, tăng 3,34% (tăng 284,98 ha). Rau các loại: Diện tích gieo trồng đạt 8.722 ha, tăng 8,73% (tăng 700,03 ha) do người dân tăng diện tích gieo trồng vụ Xuân tại các diện tích vụ Đông bị ảnh hưởng ngập lụt không kịp thời vụ trồng vụ Đông, đồng thời tăng diện tích trồng xen cây ngô. Đậu các loại: Diện tích gieo trồng đạt 1.525,6 ha, tăng 2,96% (tăng 43,8 ha). Đánh giá chung, Vụ xuân năm nay nhìn chung có nhiều thuận lợi về thời tiết, song các địa phương vẫn cần theo dõi sát diễn biến khí hậu và sâu bệnh để kịp thời ứng phó. Ngành nông nghiệp tỉnh đã yêu cầu các địa phương tăng cường kiểm tra đồng ruộng, hướng dẫn bà con chăm sóc lúa đúng kỹ thuật để cây lúa sinh trưởng đồng đều, hạn chế sâu bệnh ngay từ giai đoạn đầu. 6.1.3. Cây lâu năm Diện tích cây chuối hiện có trên địa bàn tỉnh 3.105,29 ha, giảm 5,22% so với cùng kỳ (giảm 171,07 ha). Diện tích cây chè toàn tỉnh hiện có 27.427,83 ha, giảm 2,02% (giảm 567,71 ha) so với cùng kỳ năm trước. Diện tích chè vẫn tiếp tục giảm do một phần diện tích trồng chè của xã Bắc Quang nhà nước thu hồi đất sử dụng mục đích mở đường quốc lộ và phát triển một số dự án xây dựng mới sau sát nhập. Chia theo thành phần kinh tế: Tư nhân là 3.522,27 ha; cá thể là 23.905,56 ha. 6.1.3. Tình hình sinh vật gây hại Trên cây lúa vụ xuân bệnh nấm mốc, tập đoàn rầy, bệnh thối nhũn, chuột, rầy xanh, rầy nâu, ốc bươu vàng phát sinh rải rác. Cây ngô vụ Đông xuất hiện bệnh đốm lá, bệnh khô vằn, chuột gây hại rải rác. Cây ngô vụ Xuân xuất hiện sâu xám, sâu keo mùa thu, bệnh huyết dụ. Trên cây rau đậu xuất hiện sâu xám, sâu khoang, bọ nhảy, sâu tơ, sâu xanh bướm trắng, bệnh thối nhũn, mốc sương, đốm vòng gây hại rải rác. Nguyên nhân: Thời tiết sương mù dày ban sáng và nắng hanh ban ngày tạo điều kiện cho nấm bệnh và sâu phát triển. 6.2. Về chăn nuôi 6.2.1. Về số lượng đàn gia súc, gia cầmTổng đàn trâu hiện có 216.452 con, giảm 3,34% ( giảm 7.695 con) so với cùng kỳ năm 2025; đàn bò 175.548 con, tăng 0,2%( tăng 342 con); đàn lợn 1.221.071 con, giảm 1,32% (giảm 16.297 con); đàn gia cầm 14.237,14 nghìn con, tăng 3,44% (tăng 473,9 nghìn con). 6.2.2. Về sản phẩm đàn gia súc, gia cầm Sản lượng thịt trâu hơi xuất chuồng ước đạt 3.691 tấn, tăng 7,64% so với cùng kỳ năm 2025; đàn bò 2.414 tấn, tăng 7,58%; đàn lợn đạt 35.284 tấn, tăng 3,54%; đàn gia cầm đạt 10.252 tấn, tăng 6,88%. Nhìn chung, tình hình chăn nuôi trong quý I/2026 duy trì ổn định, không có biến động lớn. Công tác phòng chống dịch bệnh được chú trọng, đặc biệt là các bệnh nguy hiểm như Dịch tả lợn Châu Phi. 6.3. Về công tác phòng chống dịch bệnh gia súc, gia cầm trong quý6.3.1. Công tác phòng chống và điều trị Trong tháng 3, bệnh Dịch tả lợn Châu Phi phát sinh tại 04 hộ, số lợn tiêu hủy là 36 con/1.915 kg. Luỹ kế từ ngày 01/01/2026 đến ngày 13/3/2026, toàn tỉnh ghi nhận 172 con lợn mắc bệnh buộc tiêu hủy tại 10 hộ thuộc 6 xã. Tổng khối lượng 13.496 kg. Đến ngày 13/03/2026 đã có 03 xã công bố hết dịch. 6.3.2. Công tác kiểm dịch vận chuyển động vật, sản phẩm động vật Tiếp tục thực hiện chặt chẽ đúng quy định công tác kiểm dịch vận chuyển ngoài tỉnh, kết quả: Trong tháng đã kiểm tra cấp 261 giấy chứng nhận kiểm dịch vận chuyển, trong đó: 154 chuyến vận chuyển, 12.553 con gia súc, gia cầm; 107 chuyến, vận chuyển 2.889.000 kg sữa tươi nguyên liệu. Lũy kế từ đầu năm đến nay đã kiểm tra cấp 870 giấy chứng nhận kiểm dịch vận chuyển, trong đó: 384 chuyến, vận chuyển 41.848 con gia súc, gia cầm, 486 chuyến vận chuyển, 9.936.000 kg sữa tươi nguyên liệu được vận chuyển đi các tỉnh: Bắc Ninh, Hà Nội, Cao Bằng, Phú Thọ, Lai Châu... 6.4. Về sản xuất lâm nghiệp (ước tính có đến ngày 20/3/2026) 6.4.1. Kết quả trồng rừng Ước tính trong tháng 03, tổng diện tích rừng trồng mới tập trung toàn tỉnh đã trồng được 2.721,62 ha, giảm 9,34% (giảm 280,4 ha). Lũy kế quý I/2026, diện tích trồng rừng đạt 3.418,46 ha, giảm 1,64% (giảm 57,14 ha) so với cùng kỳ năm trước. Diện tích rừng trồng mới tập trung giảm do diện tích còn trống để thực hiện trồng rừng giảm. 6.4.2. Kết quả khai thác rừng trồng Ước tính tháng 03 toàn tỉnh khai thác được 129.461,10 m3 gỗ, tăng 263,95% (tăng 93.890,39 m3) so với cùng kỳ. Lũy kế quý I năm 2026, sản lượng gỗ khai thác đạt 307.296,90 m3, tăng 6,5% (tăng 18.755,19 m3). Sản lượng gỗ khai thác tăng do diện tích rừng sản xuất đến tuổi khai thác tăng. 6.4.3. Công tác bảo vệ rừng: Công tác quản lý, bảo vệ rừng được các cấp, các ngành quan tâm, đồng thời tuyên truyền, vận động nhân dân tích cực tham gia thực hiện kế hoạch trồng rừng năm 2026; tuyên truyền, phổ biến giáo dục cho người dân nâng cao nhận thức về các chính sách quản lý bảo vệ và phát triển rừng; tăng cường kiểm tra, ngăn chặn việc phá rừng, đốt rừng, triệt phá các đường dây buôn bán, vận chuyển lâm sản trái phép. Thường xuyên cảnh báo nguy cơ cháy rừng, đẩy mạnh tuyên truyền về công tác phòng cháy chữa cháy rừng; phối hợp chặt chẽ với cơ quan chức năng và chính quyền cơ sở, các chủ rừng tăng cường kiểm tra, kiểm soát, phát hiện kịp thời, xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật các hành vi xâm hại rừng. Theo báo cáo của Chi cục Kiểm lâm tỉnh, trong tháng không phát sinh vụ cháy rừng, phát sinh 02 vụ phá rừng tăng 02 vụ so với cùng kỳ do người dân phá rừng trồng cây, diện tích rừng bị phá 0,61 ha. Lũy kế quý I/2026, không có vụ cháy rừng, số vụ phá rừng là 09 vụ, diện tích rừng bị phá 1,14 ha số vụ phá rừng và diện tích rừng bị phá giảm mạnh do cơ quan chức năng tăng cường kiểm tra, giám sát, phát hiện và ngăn chặn kịp thời. 6.5. Về thuỷ sản Tổng sản lượng thuỷ sản 3.793,33 tấn, tăng 9,63%, trong đó: Sản lượng nuôi trồng 3.481,40 tấn, tăng 9,35%; sản lượng khai thác có 311,93 tấn, tăng 12,75%. 6.6. Phát động Tết trồng cây “Đời đời nhớ ơn Bác Hồ” Xuân Bính Ngọ và thực hiện kế hoạch trồng rừng năm 2026 Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành Kế hoạch số 30/KH-UBND ngày 03/02/2026 về tổ chức Lễ phát động “Tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác Hồ” Xuân Bính Ngọ và phát động phong trào thi đua thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2026 (tổ chức vào ngày 23/02/2026, tức ngày mùng 7, tháng Giêng, năm Bính Ngọ) và chỉ đạo các cấp, các ngành chuẩn bị đầy đủ các điều kiện để tổ chức Tết trồng cây bảo đảm thiết thực, hiệu quả, gắn với trồng rừng, bảo vệ môi trường và phòng, chống thiên tai. Tại buổi Lễ, toàn tỉnh trồng 170.025 cây (tương đương diện tích 130,45 ha); chuẩn bị đầy đủ, kịp thời cây giống phục vụ trồng rừng năm 2026. 7. Sản xuất công nghiệp Quý I/2026, các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh đối mặt thách thức lớn từ chi phí vận tải cũng nguyên liệu tăng cao, rủi ro địa chính trị. Cùng với đó, ảnh hưởng từ xung đột tại Trung Đông làm gián đoạn quá trình vận chuyển hàng hóa cũng như kéo dài thời gian giao hàng gây áp lực tài chính cho doanh nghiệp. Mặc dù gặp một số khó khăn do ảnh hưởng chung từ tình hình kinh tế thế giới, các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh vẫn đang tìm cách khắc phục và đẩy mạnh sản xuất. Nhiều sản phẩm công nghiệp sản lượng sản xuất tăng so với cùng kỳ năm trước như: Đường RE, Bao bì đóng gói bằng plastic, Cấu kiện làm sẵn cho xây dựng, Thép cán, Mangan và sản phẩm Mangan, Cửa ra vào bằng sắt, thép,... Riêng lĩnh vực sản xuất điện do quý I tăng cao so với cùng kỳ do năm nay mùa mưa kết thúc muộn hơn, cùng với một số nhà máy thủy điện hoàn thành đi vào hoạt động ổn định đã bổ sung năng lực sản xuất mới cho ngành điện. 7.1. Về phát triển công nghiệp trong tháng Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) trong tháng tăng 26,18% so với tháng trước, tăng 9,80% so với cùng kỳ, trong đó: Ngành khai khoáng tăng 42,74%, giảm 12,16%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 31,38%, tăng 12,13%; sản xuất và và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 0,54%, tăng 2,32%; cung cấp nước và hoạt động thu gom xử lý rác, nước thải giảm 8,97%, tăng 5,33%. Một số ngành công nghiệp cấp II có chỉ số sản xuất tăng so với tháng trước và tăng so với cùng kỳ như: Sản xuất trang phục tăng 46,14%, tăng 12,51%; sản xuất kim loại tăng 39,82%, tăng 34,62%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 12,47%, tăng 110,06%;... Ước lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tính đến thời điểm 31/3/2026 tăng 3,17% so với tháng trước; so với cùng thời điểm năm trước giảm 6,98%. Tính chung 3 tháng đầu năm 2026, số lao động làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp giảm 9,19% so với cùng kỳ. Trong đó: Doanh nghiệp nhà nước tăng 1,03%; doanh nghiệp ngoài quốc doanh giảm 2,61%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài giảm 19,71%. Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước đến 31/3/2026 tăng 26,7% so với tháng trước và giảm 11,44% so với tháng cùng kỳ năm trước. Tính chung quý I/2026, chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 14,12% so với quý I/2025, trong đó một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng như: Ngành sản xuất chế biến thực phẩm tăng 18,64%, ngành sản xuất trang phục tăng 20,14%, ngành sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 45,51%,...; một số ngành có chỉ số tiêu thụ giảm như: Ngành dệt giảm 18,61%, sản xuất chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ giảm 59,18%, sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn giảm 67,4%, sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất giảm 14,4%;... Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước tính tại thời điểm 31/3/2026 tăng 9,44% so với tháng trước và tăng 35,5% so với cùng thời điểm năm trước, trong đó ngành có chỉ số tồn kho tăng cao hơn mức tăng chung như: Dệt tăng 36,17%; Sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 47,01%;... Tính chung trong quý I năm 2026, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 9,08% so với cùng kỳ năm trước, Chia theo từng ngành kinh tế cấp I như sau: + Ngành khai khoáng giảm 10,28%, nguyên nhân chủ yếu do Công ty cổ phần đầu tư khoáng sản An Thông chất lượng quặng khai thác xấu, công ty tập trung hoàn tất thủ tục xin khai thác mỏ mới để có quặng tốt hơn nên sản lượng sản xuất của doanh nghiệp giảm. + Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,32%, do một số nhóm ngành công nghiệp chế biến có nguồn nguyên liệu đầu vào đảm bảo đủ phục vụ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cũng như nhận được nhiều đơn đặt hàng, sản lượng sản xuất tăng cao như: Công ty cổ phần mía đường Sơn Dương, Công Ty Trách Nhiệm Hữu Hạn 1 Thành Viên Seshin Vn 2, Công Ty Trách Nhiệm Hữu Hạn Gang thép Tuyên Quang, Công ty TNHH HITARP Việt Nam, Công ty cổ phần xây dựng và thương mại Thái Hoàng, Công ty cổ phần Hải Hà, …cụ thể: Chế biến thực phẩm tăng 15,67%; sản xuất đồ uống tăng 127,66%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 45,87%; sản xuất kim loại tăng 30,11%... + Ngành sản xuất và phân phối điện tăng 12,22%, do 05 nhà máy thủy điện đã hòa lưới phát điện cùng với thời tiết năm nay mưa nhiều hơn và mùa mưa cũng kết thúc muộn hơn so với năm trước. Một số thủy điện có sản lượng điện quý I tăng cao so với cùng kỳ: Thủy điện Nho Quế 2 (tăng 64,77%), thủy điện Thái An (tăng 26,99%), thủy điện sông Bạc (tăng 36,93%), thủy điện Nho Quế 1 (tăng 29,38%), thủy điện Thuận Hòa (tăng 20,59%),… + Ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 3,28%, do hoạt động thu gom, xử lý rác thải tăng 14,07% so cùng kỳ. 7.2. Sản phẩm công nghiệp chủ yếu Sản phẩm công nghiệp chủ yếu trong tháng của tỉnh đạt mức tăng trưởng khá, một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng so với cùng kỳ năm trước như: Mangan đạt 1.250 tấn, tăng 92,29%; giày, dép thể thao có mũ đạt 764 nghìn đôi, tăng 67,82%; điện thương phẩm đạt 163 triệu Kwh, tăng 12,22%; điện sản xuất đạt 153 triệu Kwh, tăng 3,39%;…Tuy nhiên, cũng có một số sản phẩm công nghiệp giảm so với cùng kỳ như: ván ép từ gỗ và các vật liệu tương tự đạt 9.750 m3, giảm 9,92%; áo sơ mi cho người lớn đạt 180 nghìn cái, giảm 14,29%; quặng sắt và tinh sắt chưa nung kết đạt 7.024 tấn, giảm 45,71%… Tính chung trong quý I năm 2026, một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng khá so với cùng kỳ năm trước: Mangan và sản phẩm từ mangan đạt 3.130 tấn, tăng 76,61%; cấu kiện làm sẵn cho xây dựng đạt 3.445 tấn, tăng 46,90%; điện sản xuất đạt 590 triệu Kwh, tăng 12,29%;… Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu giảm so với cùng kỳ năm trước như: Bột Felspat đạt 27.600 tấn, giảm 1,78%; giày, dép thể thao có mũ bằng da đạt 1.991 nghìn đôi, giảm 12,50%;...8. Thương mại và Dịch vụ Tình hình thương mại dịch vụ tỉnh Tuyên Quang quý I/2026 duy trì mức tăng trưởng tích cực. Thị trường hàng hóa, dịch vụ trên địa bàn vẫn tiếp nối đà tăng trưởng do nhu cầu mua sắm của người dân tăng cao, do ảnh hưởng của việc tăng giá xăng dầu cao theo giá xăng dầu thế giới và nhu cầu mua sắm của người dân tăng nhất trong dịp tết Nguyên đán Bính Ngọ và kỷ niệm ngày Quốc tế phụ nữ 8/3. 8.1. Doanh thu bán lẻ hàng hóa, dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch và dịch vụ khácNhằm thúc đẩy kinh tế phát triển nhanh, bền vững, tỉnh đã yêu cầu các sở, ngành, địa phương thực hiện thực hiện đồng bộ các giải pháp cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, thu hút mạnh các nguồn vốn đầu tư ngoài ngân sách, đặc biệt là vốn đầu tư tư nhân và FDI. Các hoạt động xúc tiến thương mại, du lịch được tổ chức linh hoạt và hiệu quả, góp phần thúc đẩy tiêu dùng nội địa, nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp, các hộ sản xuất kinh doanh cá thể trên địa bàn; các chỉ tiêu kinh tế chủ yếu như tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu dịch vụ tiêu trên địa bàn tỉnh được ghi nhận có mức tăng trưởng tốt so với cùng kỳ quý 1 năm trước8.1.1. Doanh thu bán lẻ hàng hóa Doanh thu bán lẻ hàng hóa trong tháng ước đạt 3.529 tỷ đồng, tăng 1,27% so với tháng trước, tăng 19,74% so với tháng cùng kỳ. Trong đó, một số nhóm hàng tăng so với tháng trước, tăng so với cùng kỳ, cụ thể như sau: Hàng may mặc đạt 383 tỷ đồng, tăng 0,32%, tăng 41,18%; vật phẩm văn hóa, giáo dục đạt 79 tỷ đồng, tăng 5,69%, tăng 31,17%;… Tính chung trong quý I/2026, doanh thu bán lẻ hàng hóa ước đạt 10.419 tỷ đồng, tăng 14,88% so với quý cùng kỳ. 8.1.2. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ khác Trong tháng, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 600,81 tỷ đồng, tăng 2% so với tháng trước, tăng 14,41% so với cùng kỳ. Trong đó: Dịch vụ lưu trú đạt 55,39 tỷ đồng, tăng 3,28%, tăng 28,90%; ăn uống đạt 545,42 tỷ đồng, tăng 1,87%, tăng 11,42%. Tính chung trong quý I/2026 dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 1.774,66 tỷ đồng, tăng 17,40% so với quý cùng kỳ. Trong tháng, doanh thu du lịch lữ hành ước đạt 7,86 tỷ đồng, tăng 1,79% so với tháng trước, tăng 61,19% so với cùng kỳ. Tính chung trong quý I/2026 du lịch lữ hành ước đạt 22,31 tỷ đồng, tăng 46,53% so quý cùng kỳ. Doanh thu dịch vụ khác trong tháng ước đạt 93,58 tỷ đồng, tăng 0,12% so với tháng trước, tăng 14,87% so với cùng kỳ. Tính chung trong quý I/2026 dịch vụ khác ước đạt 286,09 tỷ đồng, tăng 14% so quý cùng kỳ. 8.2. Xuất, nhập khẩu hàng hóa Tăng cường kiểm tra, kiểm soát, đấu tranh chống buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả, hàng kém chất lượng; tiếp tục cải cách, rút ngắn thủ tục hành chính trong lĩnh vực hải quan; rút ngắn thời gian thông quan hàng hóa, giảm chi phí cho doanh nghiệp, người nộp thuế, tạo thuận lợi thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu. Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa trong tháng ước đạt 43,7 triệu USD, tăng 44,2% so với cùng kỳ. Tính trong quý I/2026, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa ước đạt 117,4 triệu USD, đạt 19,9% kế hoạch, tăng 20,3% so với cùng kỳ. Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa trong tháng ước đạt 21,2 triệu USD, giảm 13,8% so với cùng kỳ. Tính trong quý I/2026 kim ngạch nhập khẩu hàng hóa ước đạt 49,4 triệu USD, đạt 19,8% kế hoạch, giảm 9,6% so với cùng kỳ. 9. Vận tải hàng hóa và hành khách Trước biến động của giá xăng dầu, tỉnh đã yêu cầu các đơn vị liên quan theo dõi chặt chẽ tác động của giá xăng dầu đến giá cước vận tải trên địa bàn, nhất là với vận chuyển hành khách và hàng hóa thiết yếu; hướng dẫn doanh nghiệp kê khai giá đúng quy định. Tăng cường kiểm tra công tác kê khai, niêm yết và bán đúng giá niêm yết của các đơn vị kinh doanh vận tải trên địa bàn, tập trung kiểm tra các đơn vị có mức tăng giá lớn, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm (nếu có) theo quy định; tuyệt đối không để xảy ra tình trạng lợi dụng biến động giá nhiên liệu để tăng giá bất hợp lý. 9.1. Doanh thu vận tải tải kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải Doanh thu vận tải trong tháng ước đạt 440,96 tỷ đồng, tăng 1,76% so với tháng trước, tăng 20,50% so với cùng kỳ. Trong đó, vận tải hành khách ước đạt 123,69 tỷ đồng, tăng 0,87%, tăng 29,40%; vận tải hàng hóa ước đạt 314,38 tỷ đồng, tăng 2,10%, tăng 17,30%; hỗ trợ vận tải ước đạt 1,99 tỷ đồng, tăng 3,83%, tăng 20,50%; bưu chính, chuyển phát ước đạt 0,9 tỷ đồng, tăng 4,74%, tăng 38%,… Tính chung trong quý I/2026, doanh thu vận tải kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 1.315,09 tỷ đồng, tăng 12,60% so với cùng kỳ. Trong đó: Vận tải hành khách đạt 358,77 tỷ đồng, tăng 19,40%; vận tải hàng hóa đạt 947,98 tỷ đồng, tăng 10,10%; hỗ trợ vận tải đạt 5,65 tỷ đồng, tăng 11,90%; bưu chính, chuyển phát đạt 2,70 tỷ đồng, tăng 25,40%,… 9.2. Vận tải hành khách Vận chuyển hành khách trong tháng ước đạt 1,95 triệu lượt hành khách, tăng 2,48% so với tháng trước, tăng 24,90% so với cùng kỳ; luân chuyển hành khách ước đạt 149,47 triệu lượt hành khách.km, tăng 0,19%, tăng 20,80%. Tính chung trong quý I/2026, vận chuyển hành khách ước đạt 5,51 triệu lượt hành khách, tăng 14,50% so với cùng kỳ; luân chuyển hành khách ước đạt 432,08 triệu lượt hành khách.km, tăng 11,40%. 9.3. Vận tải hàng hóa Vận chuyển hàng hóa ước đạt 2,10 triệu tấn, tăng 2,92% so với tháng trước, tăng 15,50% so với cùng kỳ; luân chuyển hàng hóa ước đạt 135,30 triệu tấn.km, tăng 3,46%, tăng 24,10%. Tính chung trong quý I/2026, vận chuyển hàng hóa ước đạt 6,31 triệu tấn, tăng 11,50% so với cùng kỳ; luân chuyển hàng hóa ước đạt 411,78 triệu tấn.km, tăng 16,60%. 10. Về du lịch Tổ chức đoàn đại biểu tham dự Chương trình giao lưu văn hoá du lịch năm 2026 giữa Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây (Trung Quốc) và các tỉnh Quảng Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng, Tuyên Quang, Hải Phòng (Việt Nam); phối hợp với Dự án Heveltas Việt Nam xây dựng và hoàn thiện Đề án phát triển du lịch tỉnh Tuyên Quang, tầm nhìn 2050; phối hợp khảo sát, xây dựng hướng dẫn quản lý điểm đến du lịch cộng đồng theo tiêu chuẩn của UN Tourism; tổ chức Lễ trao Bộ nhận diện kết hợp với trao Giấy chứng nhận Làng Du lịch tốt nhất của UN Tourism cho làng Lô Lô Chải (xã Lũng Cú); xây dựng điểm check in (chụp ảnh) tại vị trí phù hợp tại làng để tăng cường nhận diện và quảng bá cho làng và du lịch Tuyên Quang; thành lập đoàn kiểm tra các cơ sở lưu trú du lịch trên địa bàn phường Hà Giang và một số xã vùng Cao nguyên đá Đồng Văn. Tháng 03/2026: Tuyên Quang đón 425.119 lượt khách, trong đó 61.119 lượt khách quốc tế (bao gồm khách mang hộ chiếu và giấy thông hành); 364.000 lượt khách nội địa; tổng chi tiêu khách du lịch trên địa bàn ước đạt 1.154,5 tỷ đồng (Trong đó khách du lịch quốc tế 251,8 tỷ đồng và khách nội địa 902,7 tỷ đồng). Quý I/2026: Tuyên Quang đón 1.126.375 lượt khách, trong đó 166.732 lượt khách quốc tế (bao gồm khách mang hộ chiếu và giấy thông hành); 960.000 lượt khách nội địa (đạt 27,5% kế hoạch năm); tổng chi tiêu khách du lịch trên địa bàn ước đạt 3.067,6 tỷ đồng (Trong đó khách du lịch quốc tế 686,9 tỷ đồng và khách nội địa 2.380,7 tỷ đồng). II. LĨNH VỰC VĂN HÓA - XÃ HỘI 1. Về lao động việc làm Sáng 21/3/2026, tỉnh Tuyên Quang tổ chức Ngày hội việc làm năm 2026 tại Trung tâm Dịch vụ việc làm và Lưu trữ lịch sử tỉnh. Đây là sự kiện quan trọng nhằm tạo điều kiện kết nối trực tiếp giữa doanh nghiệp và người lao động, góp phần giải quyết việc làm và phát triển nguồn nhân lực địa phương. Sự kiện năm nay ghi nhận sự góp mặt của trên 20 đơn vị tuyển dụng, bao gồm các trường đại học, cơ sở giáo dục nghề nghiệp và các doanh nghiệp lớn trong và ngoài tỉnh tham gia. Các đơn vị, doanh nghiệp không chỉ tư vấn về thị trường lao động trong nước mà còn mở rộng cơ hội đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng và du học cho người lao động. Cùng với các gian hàng phỏng vấn trực tiếp, các cơ quan chức năng như: Bảo hiểm xã hội và Ngân hàng Chính sách xã hội cũng tích cực tham gia tuyên truyền, phổ biến các chính sách về bảo hiểm và tín dụng hỗ trợ tạo việc làm cho người dân. 2. Đời sống dân cư Triển khai chính sách bình ổn giá xăng dầu trên địa bàn tỉnh theo chỉ đạo của Chính phủ. Bảo đảm cung ứng các mặt hàng thiết yếu phục vụ nhu cầu tiêu dùng của người dân. Yêu cầu xử lý nghiêm hành vi đầu cơ, găm hàng, tăng giá bất hợp lý, đảm bảo an sinh xã hội và đời sống nhân dân. 3. Công tác người có công, giảm nghèo, bảo trợ xã hội và phòng chống tệ nạn xã hội 3.1. Công tác đối với người có công với cách mạngTừ đầu năm đến nay, đã tổ chức tặng quà của Đảng, Nhà nước nhân dịp chào mừng Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng và Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026. Tổ chức thăm và tặng quà 22.644 người có công với cách mạng, đối tượng bảo trợ xã hội, hưu trí xã hội và các đối tượng yếu thế khác nhân dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026 với kinh phí 9,594 tỷ đồng. Thực hiện tốt công tác chăm lo đời sống các đối tượng chính sách; duy trì chi trả trợ cấp ưu đãi thường xuyên hằng tháng cho trên 9.000 người có công, thân nhân người có công và các đối tượng chính sách khác đang hưởng trợ cấp trên địa bàn tỉnh.3.2. Công tác bảo trợ xã hội và phòng chống các tệ nạn xã hộiTiếp tục thực hiện tốt các chính sách trợ giúp xã hội, thực hiện đầy đủ, kịp thời các chế độ, chính sách an sinh xã hội cho các hộ có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. Tiếp tục thực hiện các giải pháp hỗ trợ, tạo việc làm cho người lao động; đôn đốc thực hiện các giải pháp phát triển đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội chăm lo, giúp đỡ các đối tượng chính sách xã hội, thực hiện các chính sách, chương trình thúc đẩy bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ.Trong tháng, Cơ sở cai nghiện của 02 tỉnh ( Tuyên Quang cũ và Hà Giang cũ) đã tiếp nhận 02 học viên, cấp giấy chứng nhận hoàn thành cai nghiện cho 25 học viên; tại thời điểm báo cáo, 2 cơ sở cai nghiện đang quản lý 193 học viên (cai nghiện bắt buộc 188 học viên, cai nghiện tự nguyện 5 học viên).4. Hoạt động giáo dục và đào tạoTổ chức Khởi công 11 trường phổ thông nội trú liên cấp Trung học và Trung học cơ sở tại các xã biên giới. Tiếp tục triển khai đồng bộ các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục các bậc học và tổ chức triển khai thực hiện hiệu quả Kế hoạch năm học 2025-2026. Thực hiện rà soát, sắp xếp tổ chức lại cơ sở giáo dục đại học công lập và cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập; sắp xếp các cơ sở giáo dục phổ thông tại 17/17 xã biên giới; Tổ chức Hội nghị sơ kết Học kỳ 1 năm học 2025-2026; thi học sinh giỏi cấp tỉnh lớp 9 và lớp 12 năm học 2025-2026. Quan tâm nâng cao chất lượng giáo dục, tại kỳ thi chọn học sinh giỏi quốc gia THPT năm học 2025-2026, toàn tỉnh đạt 59 giải (02 giải nhất; 11 giải nhì, 12 giải Ba và 34 giải Khuyến khích), đặc biệt có 02 học sinh được Bộ Giáo dục và Đào tạo chọn tham dự Kỳ thi chọn đội tuyển Olympic quốc tế.5. Hoạt động y tế Tăng cường kiểm tra, giám sát công tác bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm, nhất là trong dịp Tết Nguyên đán năm 2026. Ban hành Kế hoạch thực hiện Chương trình hành động số 12-CTr/TU ngày 18/11/2025 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh thực hiện Nghị quyết số 72-NQ/TW ngày 09/9/2025 của Bộ Chính trị về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân. Quan tâm, nâng cao chất lượng công tác khám, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe Nhân dân; đồng thời, chủ động xây dựng, tăng cường mối quan hệ hợp tác với Sở Y tế và các cơ sở y tế tại Thành phố Hồ Chí Minh trong hoạt động khám, chữa bệnh. Nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh, hướng tới sự hài lòng của Nhân dân tại các tuyến y tế; chú trọng công tác dự phòng, phát hiện sớm, quản lý và khống chế kịp thời các bệnh, dịch trong giai đoạn chuyển mùa; trong tháng 3/2026 tổ chức khám, chữa bệnh cho 160.690 lượt người, lũy kế quý I/2026 tổ chức khám, chữa bệnh cho 597.142 lượt người. 6. Hoạt động văn hoá - thể dục, thể thaoTổ chức chương trình nghệ thuật chào mừng kỷ niệm 96 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03/2/1930 - 03/2/2026) với chủ đề: “Mùa Xuân dâng Đảng” tại Quảng trường 26/3, phường Hà Giang 1; chào mừng thành công Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng; hướng tới cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031; Chương trình nghệ thuật đặc biệt với chủ đề “Tháng 3 - Ngày hội non sông” chào mừng Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp, nhiệm kỳ 2026 - 2031 tại Quảng trường Nguyễn Tất Thành, phường Minh Xuân và Quảng trường 26/3, phường Hà Giang 1. Hoàn thiện Chương trình thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW, ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam; Nghị quyết về xây dựng và phát triển con người Tuyên Quang phát triển toàn diện về đạo đức, nhân cách, trí tuệ, thể lực, thẩm mỹ, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững, giai đoạn 2026-2030. Ban hành và triển khai Kế hoạch tổ chức Lễ phát động Ngày chạy Olympic vì sức khỏe toàn dân năm 2026; Kế hoạch phát triển du lịch giai đoạn 2025-2030; Công bố Danh mục thủ tục hành chính mới ban hành của ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch áp dụng trên địa bàn tỉnh,... Chỉ đạo hướng dẫn cấp xã tổ chức các lễ hội trong dịp đầu xuân năm mới, các lễ hội phải đảm bảo an ninh trật tự, an toàn giao thông, gìn giữ và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, lành mạnh, phù hợp thuần phong, mỹ tục. Tổ chức đoàn cán bộ, vận động viên tỉnh Tuyên Quang tham dự Giải Bóng đá Mùa xuân giữa tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc và 5 tỉnh, thành phố của Việt Nam. Tổ chức nghiệm thu, khánh thành dự án Khu liên hợp thể thao Hà Giang.7. Một số hoạt động khácThực hiện công tác tuyển chọn gọi công dân nhập ngũ và tham gia thực hiện nghĩa vụ công an nhân dân. Năm 2026 là năm đầu tiên tiến hành công tác tuyển quân gắn với thực hiện chính quyền địa phương hai cấp. Tỉnh Tuyên Quang được Bộ Quốc phòng và Quân khu 2 giao chỉ tiêu tuyển chọn, gọi 2.849 công dân nhập ngũ. Trong đó, 2.300 công dân thực hiện nghĩa vụ quân sự tại các đơn vị quân đội thuộc Bộ Quốc phòng và 549 công dân tham gia nghĩa vụ Công an nhân dân. Thực hiện kế hoạch tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ, Hội đồng Nghĩa vụ quân sự các xã, phường trên địa bàn tỉnh đã tổ chức phát lệnh gọi công dân nhập ngũ đảm bảo đúng quy định của Luật Nghĩa vụ quân sự, đảm bảo tính công khai, dân chủ và đúng tiến độ. 8. Tình hình an toàn giao thông Trong tháng, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 8 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 6 người và làm bị thương 1 người. Số vụ tai nạn giảm 52,94% so với tháng trước, số người chết giảm 50%; số người bị thương giảm 88,89%. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giảm 20%, số người chết giữ nguyên, số người bị thương giảm 75%. Tính chung trong quý I/2026, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 46 vụ tai nạn giao thông, làm 29 người chết và làm 22 người bị thương. So với cùng kỳ năm trước giảm 8% số vụ, số người chết tăng 11,54%, số người bị thương giảm 33,33%. 9. Thiệt hại do thiên tai, phòng chống cháy, nổ 9.1. Về thiên tai Trong Quý I năm 2026, trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang đã xảy ra 01 vụ thiên tai vào các ngày từ 22 - 24/3/2026. Mưa to kèm theo giông lốc đã gây thiệt hại hư hỏng 776 ngôi nhà, 518 ha hoa màu, 08 điểm trường, 02 trạm y tế, 03 nhà văn hóa, 115m kênh, 01 cây cầu dân sinh bắc qua sông Con đi thôn Tân Tiến - xã Tân Trịnh bị cuốn trôi. Ước tính thiệt hại khoảng 60 tỷ đồng. 9.2. Về cháy nổ Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh xảy ra 03 vụ cháy. Không ghi nhận thiệt hại về người, ước tính thiệt hại tài sản 351,3 triệu đồng. 10. Một số nhiệm vụ giải pháp trong thời gian tới Với quyết tâm hoàn thành cao nhất các mục tiêu, chỉ tiêu kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh đã đề ra trong năm 2026. Để phấn đấu hoàn thành các mục tiêu theo kế hoạch cần phải tiếp tục thực hiện tốt một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm sau: Một là, Thường xuyên theo dõi, nắm chắc tình hình sản xuất của các doanh nghiệp công nghiệp; kịp thời hỗ trợ tháo gỡ khó khăn, vướng mắc về thị trường, vốn, nguyên liệu, tạo điều kiện để doanh nghiệp phát huy công suất, duy trì ổn định sản xuất, phấn đấu hoàn thành mục tiêu tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp theo kế hoạch. Tập trung đôn đốc đẩy nhanh tiến độ các dự án đã được phê duyệt chủ trương đầu tư. Xây dựng Quy định về quản lý an toàn trong sử dụng điện. Khẩn trương triển khai việc lập quy hoạch chung đô thị và nông thôn thuộc thẩm quyền cấp xã, đảm bảo phù hợp với các cấp độ quy hoạch còn hiệu lực, các quy chuẩn, tiêu chuẩn hiện hành và tuân thủ theo đúng trình tự, thủ tục, quy định của pháp luật. Xây dựng Quyết định quy định về trình tự, thủ tục phê duyệt điều chỉnh cục bộ quy hoạch đô thị và nông thôn đã được UBND tỉnh phê duyệt do UBND cấp xã tổ chức lập. Triển khai các bước lập điều chỉnh Quy hoạch chung xây dựng Khu kinh tế cửa khẩu Thanh Thủy; Quy hoạch chung Khu du lịch quốc gia Cao nguyên đá Đồng Văn; Quy hoạch chung Khu du lịch quốc gia Tân Trào,... Khẩn trương triển khai thực hiện điều chỉnh Chương trình phát triển nhà ở tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 2021 - 2030, định hướng đến năm 2045. Thực hiện công bố giá vật liệu xây dựng hằng tháng bảo đảm kịp thời, đúng quy định. Tăng cường kiểm tra, hướng dẫn, theo dõi sát diễn biến thị trường, không để xảy ra tình trạng giá công bố thấp hơn giá bán vật liệu xây dựng trên thị trường, gây khó khăn cho chủ đầu tư, nhà thầu và làm phát sinh tiêu cực. Công bố, điều chỉnh đơn giá vật liệu xây dựng, đơn giá nhân công xây dựng, ca máy và thiết bị thi công bảo đảm phù hợp với mặt bằng giá thị trường, làm cơ sở cho việc lập, thẩm định và triển khai các dự án đầu tư trên địa bàn.Hai là, Tập trung rà soát, xử lý các dự án chậm tiến độ, tồn đọng, kéo dài trên địa bàn tỉnh, phân loại để xác định phương án xử lý phù hợp; đối với các dự án có khả năng tiếp tục triển khai thì tập trung tháo gỡ khó khăn, đẩy nhanh tiến độ; đối với các dự án không còn phù hợp hoặc không đủ điều kiện thực hiện thì xem xét điều chỉnh, chấm dứt hoặc xử lý theo quy định của pháp luật. Nâng cao chất lượng công tác chuẩn bị đầu tư và tổ chức thực hiện dự án; chủ động, linh hoạt trong thực hiện thủ tục đầu tư và công tác giải phóng mặt bằng; tập trung đẩy nhanh tiến độ thi công các dự án, đặc biệt là các dự án trọng điểm trên địa bàn tỉnh như: Dự án Cao tốc Tuyên Quang - Hà Giang (giai đoạn 1); Bệnh viện Đa khoa tỉnh Tuyên Quang; Dự án đường và từ khu du lịch suối khoáng Mỹ Lâm đến QL2D kết nối với đường cao tốc Tuyên Quang - Phú Thọ,…Ba là, Tổ chức thực hiện nghiêm túc, kịp thời, đầy đủ các cơ chế, chính sách về tiền tệ và hoạt động ngân hàng. Tiếp tục triển khai các giải pháp thúc đẩy tăng trưởng tín dụng gắn với nâng cao chất lượng tín dụng; tăng cường kiểm soát và xử lý nợ xấu, bảo đảm an toàn hoạt động của hệ thống các tổ chức tín dụng trên địa bàn. Tiếp tục thực hiện cải cách, rút ngắn thủ tục hành chính trong lĩnh vực hải quan, thuế; rút ngắn thời gian thông quan hàng hóa, giảm chi phí cho doanh nghiệp, người nộp thuế, tạo thuận lợi thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu. Công tác sắp xếp, xử lý tài sản công là các trụ sở dôi dư: Tiếp tục hướng dẫn các cơ quan, tổ chức, đơn vị thực hiện sắp xếp, bố trí, xử lý các cơ sở nhà, đất, tài sản công khi sắp xếp tổ chức theo đúng các quy định của pháp luật. Bốn là, Tiếp tục theo dõi chặt chẽ tình hình thời tiết, chủ động xây dựng các phương án phòng chống thiên tai, cảnh báo mưa lũ nhắm hạn chế tối thiểu thiệt hại về người và tài sản do thiên tai gây ra. Thực hiện tốt các chính sách về an sinh xã hội, lao động, việc làm, công tác trợ giúp đột xuất, bảo đảm người dân khi gặp rủi ro, thiên tai được hỗ trợ kịp thời, khắc phục khó khăn ổn định cuộc sống. Tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát bảo đảm an ninh trật tự, an toàn giao thông và phòng chống cháy nổ.THỐNG KÊ TỈNH TUYÊN QUANG
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 02 năm 2026 tỉnh Tuyên Quang
- 15/05/2026 13:19
I. PHÁT TRIỂN KINH TẾ 1. Về sản xuất nông nghiệp (tính đến ngày 20/02/2026) 1.1. Trồng trọt 1.1.1. Sản xuất vụ đông Đến thời điểm báo cáo bà con nông dân trong tỉnh đang khẩn trương tiếp tục thu hoạch diện tích cây màu vụ đông, giải phóng đất phục vụ cho công tác gieo trồng các loại cây trồng vụ xuân năm 2026. Kết quả thu hoạch cụ thể như sau: - Ngô lấy hạt: Diện tích đạt 6.912,0 ha, bằng 97,14% (giảm 203,86 ha) so với cùng kỳ. Diện tích ngô giảm chủ yếu tại các xã Vị Xuyên, Linh Hồ do một số diện tích bãi bồi ven sông bị ngập lụt, không gieo trồng được. Mặt khác diện tích bãi chăn thả của trâu, bò hạn hẹp, thức ăn cho gia súc ngày càng khan hiếm một số xã Hùng An, Đồng Yên, Quang Bình, Bằng Lang, Tiên Yên bà con chuyển đổi cây trồng từ cây ngô lấy hạt sang trồng cây ngô thức ăn chăn nuôi, chính vì vậy diện tích ngô giảm so với vụ cùng kỳ năm trước. - Khoai lang: Diện tích đạt 1.337,88 ha, tăng 5,18% (tăng 65,86 ha) so với cùng kỳ. Diện tích khoai lang tăng tại các xã Khâu Vai, Kiến Đài, Mèo Vạc, Phú Lương. - Đậu tương: Diện tích đạt 63,7 ha, bằng 91,01% (giảm 6,29 ha) so với cùng kỳ. Diện tích đậu tương giảm tại xã Tri Phú, Linh Phú. - Lạc: Diện tích đạt 43,59 ha, bằng 83,14% (giảm 8,84 ha) so với cùng kỳ. Diện tích lạc giảm tại xã Tân Mỹ. - Rau các loại: Diện tích đạt 12.207,34 ha, bằng 99,65% (giảm 43,01 ha)so với cùng kỳ. Diện tích giảm do ảnh hưởng của cơn bão BUALOI làm một số diện tích bị ngập, thời gian thu hoạch vụ Mùa bị kéo dài gây ảnh hưởng tiến độ gieo trồng vụ Đông - Diện tích cây đậu các loại đạt 1.197,50 ha, tăng 74,59% (tăng 511,6 ha) so với cùng kỳ. Diện tích tăng tại các xã Bản Máy, Đồng Văn, Lũng Cú, Phố Bảng. 1.1.2. Sản xuất vụ xuân Trong tháng 02, các hoạt động sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh diễn ra trong điều kiện thời tiết tương đối thuận lợi. Bà con nhân dân bắt đầu gieo trồng một số cây vụ Xuân năm 2026 đảm bảo khung thời vụ, chủ động các phương án phòng, chống dịch bệnh trên cây trồng. Kết quả: Cây lúa đã cấy 17.518 ha, tăng 1,79% so với cùng kỳ; cây ngô 8.186 ha, tăng 0,53%; cây lạc 3.821 ha, tăng 3,53%; cây rau củ các loại 2.431 ha, tăng 4,73%;…. Theo kế hoạch lấy nước đợt 2 diễn ra trong 7 ngày, nhằm bảo đảm cho các địa phương lấy nước được thuận lợi Tập đoàn Điện lực Việt Nam đã thực hiện xả gia tăng các hồ thủy điện (hồ Hòa Bình, Thác Bà, Tuyên Quang) từ 0 giờ ngày 29/01/2026 đến 24h ngày 04/02/2026. Tỉnh đã chỉ đạo ngành chức năng và các địa phương quản lý chặt chẽ và khai thác hợp lý các nguồn nước; tăng cường nạo vét hệ thống kênh mương, đào ao trữ nước, lắp đặt và vận hành các trạm bơm dã chiến để tận dụng tối đa nguồn nước, giảm thất thoát, lãng phí nguồn nước; thực hiện các giải pháp tiết kiệm nước cho lúa và cây trồng cạn, đặc biệt với cây ăn quả, cây trồng có giá trị kinh tế cao, chuẩn bị các điều kiện để sẵn sàng bơm nước chống hạn khi cần thiết, trong đó chú trọng giải pháp cấp nước sản xuất, nước sinh hoạt cho các khu vực, các hộ dân có nguy cơ thiếu nước trong trường hợp nguồn nước bị thiếu hụt. 1.2. Tình hình sinh vật gây hại Trên cây lúa vụ xuân bệnh nấm mốc, tập đoàn rầy, bệnh thối nhũn, chuột, rầy xanh, rầy nâu, ốc bươu vàng phát sinh rải rác. Cây ngô vụ Đông xuất hiện sâu xám, sâu keo mùa thu, bệnh huyết dụ gây hại rải rác. Trên cây rau đậu xuất hiện sâu xám, sâu khoang, bọ nhảy, sâu tơ, sâu xanh bướm trắng, sâu khoang, bệnh thối nhũn, mốc sương, đốm vòng gây hại rải rác. Nguyên nhân: Thời tiết sương mù dày ban sáng và nắng hanh ban ngày tạo điều kiện cho nấm bệnh và sâu tơ phát triển. 1.3. Về chăn nuôi 1.3.1. Về số lượng đàn gia súc, gia cầm Tình hình chăn nuôi trong tháng duy trì ổn định, không có biến động lớn. Công tác phòng chống dịch bệnh được chú trọng, đặc biệt là các bệnh nguy hiểm như Dịch tả lợn Châu Phi. Dự ước đàn gia súc, gia cầm tháng 02/2026: Đàn trâu 217.024 con, giảm 3,27% so với cùng kỳ năm 2025. Nguyên nhân: Hiệu quả kinh tế từ việc nuôi trâu lấy sức kéo và lấy thịt không cao bằng các loại vật nuôi khác, đồng thời diện tích chăn thả tự nhiên ngày càng bị thu hẹp do quá trình đô thị hóa và chuyển đổi mục đích sử dụng đất. Đàn bò 175.715 con, tăng 0,41%, đàn bò tiếp tục tăng nhẹ nhờ các chính sách hỗ trợ phát triển chăn nuôi của tỉnh. Đàn lợn 1.211.451 con, giảm 2,09%. Mặc dù hầu hết các ổ dịch tả lợn Châu Phi trên địa bàn tỉnh đã công bố hết dịch nhưng tâm lý người dân còn e ngại, chưa mạnh dạn tái đàn với số lượng lớn. Đàn gia cầm 14.162,02 nghìn con, tăng 3,44%. Nguyên nhân: Nhu cầu thị trường ổn định, các mô hình liên kết chăn nuôi gia cầm theo chuỗi giá trị phát huy hiệu quả tốt. 1.4. Về công tác phòng chống dịch bệnh gia súc, gia cầm trong tháng 1.4.1. Công tác phòng chống và điều trị Cơ quan chức năng phối hợp với các xã, phường theo dõi chặt chẽ tình hình dịch bệnh gia súc, gia cầm, thuỷ sản trên địa bàn, đặc biệt các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm. Trong tháng 02, tình hình dịch bệnh trong chăn nuôi được kiểm soát, hoạt động chăn nuôi phát triển ổn định. 1.4.2. Công tác kiểm dịch vận chuyển động vật, sản phẩm động vật Tiếp tục thực hiện chặt chẽ đúng quy định công tác kiểm dịch vận chuyển ngoài tỉnh, kết quả: Trong tháng đã kiểm tra cấp 304 giấy chứng nhận kiểm dịch vận chuyển, trong đó: 112 chuyến, vận chuyển 12.718 con gia súc, gia cầm; 192 chuyến, vận chuyển 3.570.500 kg sữa tươi nguyên liệu. Lũy kế từ đầu năm đến nay đã kiểm tra cấp 609 giấy chứng nhận kiểm dịch vận chuyển, trong đó: 230 chuyến, vận chuyển 29.295 con gia súc, gia cầm; 379 chuyến, vận chuyển 7.047.000 kg sữa tươi nguyên liệu (vận chuyển đi các tỉnh: Bắc Ninh, Hà Nội, Cao Bằng, Phú Thọ, Lai Châu)... 1.5. Về sản xuất lâm nghiệp 1.5.1. Công tác trồng rừng Ước tính trong tháng 02 tổng diện tích rừng trồng mới tập trung toàn tỉnh đã trồng được 560,3 ha, tăng 21,26% (tăng 98,25 ha), lũy kế 2 tháng đầu năm diện tích trồng rừng đạt 696,84 ha, tăng 47,14% (tăng 223,26 ha) so với cùng kỳ năm trước. Diện tích rừng trồng mới tập trung tăng mạnh do thời tiết thuận lợi các xã triển khai sớm kế hoạch trồng rừng năm 2026. 1.5.2. Khai thác gỗ rừng trồng Trong tháng sản lượng gỗ khai thác ước đạt 98.935,2 m3 gỗ, giảm 37,49% so với cùng kỳ năm 2025. Lũy kế 2 tháng đầu năm, sản lượng gỗ khai thác đạt 177.835,8 m3, giảm 29,7% (giảm 75.135,2 m3). Sản lượng gỗ khai thác giảm do diện tích rừng sản xuất đến tuổi khai thác giảm. 1.5.3. Công tác quản lý bảo vệ rừng Công tác quản lý, bảo vệ rừng được các cấp, các ngành quan tâm, đồng thời tuyên truyền, vận động nhân dân tích cực tham gia thực hiện kế hoạch trồng rừng năm 2026; tuyên truyền, phổ biến giáo dục cho người dân nâng cao nhận thức về các chính sách quản lý bảo vệ và phát triển rừng; tăng cường kiểm tra, ngăn chặn việc phá rừng, đốt rừng, triệt phá các đường dây buôn bán, vận chuyển lâm sản trái phép. Thường xuyên cảnh báo nguy cơ cháy rừng, đẩy mạnh tuyên truyền về công tác phòng cháy chữa cháy rừng; phối hợp chặt chẽ với cơ quan chức năng và chính quyền cơ sở, các chủ rừng tăng cường kiểm tra, kiểm soát, phát hiện kịp thời, xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật các hành vi xâm hại rừng. Theo báo cáo của Chi cục Kiểm lâm tỉnh, trong tháng không phát sinh vụ cháy rừng, phát sinh 03 vụ phá rừng, giảm 01 vụ so với cùng kỳ, diện tích rừng bị phá 0,27 ha. Lũy kế 2 tháng đầu năm không có vụ cháy rừng, số vụ phá rừng là 07 vụ, diện tích rừng bị phá 0,53 ha số vụ phá rừng. Diện tích rừng bị phá giảm mạnh do cơ quan chức năng tăng cường kiểm tra, giám sát, phát hiện và ngăn chặn kịp thời. 1.6. Phát động Tết trồng cây “Đời đời nhớ ơn Bác Hồ” Xuân Bính Ngọ và thực hiện kế hoạch trồng rừng năm 2026 Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành Kế hoạch số 30/KH-UBND ngày 03/02/2026 về tổ chức Lễ phát động “Tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác Hồ” Xuân Bính Ngọ và phát động phong trào thi đua thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2026 (tổ chức vào ngày 23/02/2026, tức ngày mùng 7, tháng Giêng, năm Bính Ngọ) và chỉ đạo các cấp, các ngành chuẩn bị đầy đủ các điều kiện để tổ chức Tết trồng cây bảo đảm thiết thực, hiệu quả, gắn với trồng rừng, bảo vệ môi trường và phòng, chống thiên tai. Tại buổi Lễ đã trồng được 1.500 cây lát, trên diện tích 02 ha. 2. Sản xuất công nghiệp 2.1. Chỉ số phát triển công nghiệp Chỉ số sản xuất công nghiệp IIP trong tháng giảm 16,36% so với tháng trước, giảm 0,07% so với cùng kỳ, cụ thể của các ngành như sau: Ngành khai khoáng giảm 24,70%, giảm 23,47%; công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 14,05%, giảm 2,59%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí giảm 23,66%, tăng 15,18%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải giảm 0,76%, tăng 4,42%. Một số ngành công nghiệp cấp II có chỉ số sản xuất tăng so với cùng kỳ năm trước như: Sản xuất chế biến thực phẩm tăng 24,26%; sản xuất đồ uống tăng 376,37%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ tăng 10,36%; sản xuất giường, tủ, bàn ghế tăng 114,96%;... Nguyên nhân chủ yếu chỉ số IIP giảm so với tháng trước là do tháng 02/2026 diễn ra kỳ nghỉ Tết Nguyên đán, số ngày thực tế hoạt động của các doanh nghiệp không đủ, cùng với các hợp đồng mới chưa được triển khai do mới bước vào đầu năm 2026. Do đó có nhiều sản phẩm công nghiệp sản lượng sản xuất giảm. - Tính chung trong 02 tháng đầu năm 2026, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 9,28% so với cùng kỳ năm trước, Chia theo từng ngành kinh tế cấp I như sau: + Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 5,77%, do một số ngành chế biến tăng như: Sản xuất chế biến thực phẩm tăng 21,99%; sản xuất đồ uống tăng 66,49%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế) tăng 14,18%; sản xuất giường, tủ, bàn ghế tăng 149,17%; sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 27,52%;... + Ngành sản xuất và phân phối điện tăng 28%, nguyên nhân là do lượng nước tại các lòng hồ đảm bảo việc tích nước và thực hiện các đợt xả nước của Trung tâm Điều độ Hệ thống điện Quốc gia phục vụ cho gieo cấy vụ Xuân dẫn đến sản lượng điện sản xuất trong 02 tháng đầu năm tăng. + Ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 1,97%, do nhu cầu sử dụng nước sinh hoạt và khối lượng rác thải sau Tết tăng cao. Công ty Cổ phần Cấp thoát nước và công ty Đô thị đã tăng cường kiểm tra, bảo dưỡng máy móc, thiết bị, nhằm bảo đảm các hoạt động cấp nước và thu gom rác thải ổn định. 2.2. Sản phẩm công nghiệp chủ yếu Trong tháng, nhóm sản phẩm chủ yếu tăng so với cùng kỳ cụ thể như sau: Điện thương phẩm đạt 143 triệu Kwh, tăng 4,76%; điện sản xuất đạt 214 triệu Kwh, tăng 17,98%; cát tự nhiên ước đạt 14.994 m3, tăng 4,79%; bê tông trộn sẵn đạt 2.000 m3, tăng 71,14%;... Một số nhóm giảm so với cùng kỳ là: Bột ba rít đạt 485 tấn, giảm 20%; áo sơ mi cho người lớn đạt 92 nghìn sản phẩm, giảm 26,40%; xi măng đạt 87.441 tấn, giảm 12,95%;... Tính chung trong 02 tháng, một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng khá so với cùng kỳ năm trước: Điện thương phẩm đạt 309 triệu Kwh, tăng 11,37%; điện sản xuất đạt 499 triệu Kwh, tăng 32,21%; mangan và sản phẩm của mangan đạt 1.490 tấn, tăng 29,25%;... Đánh giá chung, ngay sau kỳ nghỉ Tết Nguyên đán, các doanh nghiệp đã hoạt động trở lại với không khí khẩn trương, nghiêm túc, tư tưởng người lao động ổn định, phấn khởi, thể hiện quyết tâm cùng doanh nghiệp hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu kế hoạch đã đề ra, đảm bảo hoàn thành các đơn hàng đã được ký kết. Các doanh nghiệp đã chủ động tìm kiếm đơn hàng, mở rộng thị trường, cùng với đó là tập trung sản xuất đa dạng hóa các mặt hàng, giữ vững chất lượng và thương hiệu, nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường, tạo việc làm ổn định và thu nhập cho người lao động. 3. Vốn đầu tư, xây dựng 3.1. Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước thực hiện tháng 02 ước đạt 459,7 tỷ đồng, giảm 42,26% so với tháng trước. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 371,8 tỷ đồng, giảm 45,61%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã đạt 87,9 tỷ đồng, giảm 21,91%. Tính chung trong 02 tháng, nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 1.256 tỷ đồng, tăng 3,97% so với cùng kỳ. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 1.055,4 tỷ đồng, tăng 10,63%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã đạt 200,5 tỷ đồng, giảm 21,04%. 3.2. Hoạt động xây dựng Từ đầu năm đến ngày 13/02/2026, có 07 dự án được Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt điều chỉnh chủ trương đầu tư; Quyết định chấp thuận chủ trương đầu tư đồng thời chấp thuận nhà đầu tư 01 dự án, với tổng vốn đăng ký trên 20,67 tỷ đồng. Lũy kế, trên địa bàn tỉnh có 817 dự án được phê duyệt chủ trương đầu tư, cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, vốn đăng ký trên 139.566,03 tỷ đồng, có 532 dự án đã hoàn thành đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh, với tổng mức đầu tư trên 57.171 tỷ đồng. Thực hiện cấp giấy chứng nhận đăng ký thành lập mới cho 206 doanh nghiệp, với số vốn đăng ký trên 777,03 tỷ đồng (tăng 342% so với cùng kỳ); số doanh nghiệp hoạt động trở lại 100 doanh nghiệp; giải thể 26 doanh nghiệp, tạm ngừng 201 doanh nghiệp. Lũy kế đến ngày 13/02/2026, trên địa bàn tỉnh có 6.487 doanh nghiệp, vốn đăng ký trên 94.453,3 tỷ đồng; có 09 hợp tác xã thành lập mới, với số vốn đăng ký 13,8 tỷ đồng, giải thể 02 hợp tác xã. Lũy kế toàn tỉnh có 1.649 hợp tác xã, với số vốn đăng ký 4.641,3 tỷ đồng. 4. Thương mại và Dịch vụ Tỉnh đã tập trung chỉ đạo triển khai thực hiện quyết liệt các giải pháp đảm bảo cân đối cung cầu, bình ổn thị trường cuối năm 2025 và dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026. Tình hình thị trường hàng hóa trên địa bàn tỉnh cơ bản ổn định; giá cả hàng hóa nhìn chung không có nhiều biến động, nguồn cung hàng hóa dồi dào, đa dạng về chủng loại, phong phú về mẫu mã, kiểu dáng, chất lượng, đáp ứng nhu cầu mua sắm của người dân. Các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu, khí dầu mỏ hóa lỏng chấp hành nghiêm quy định của pháp luật đảm bảo cung ứng đầy đủ số lượng, chất lượng phục vụ nhu cầu sản xuất, tiêu dùng của người dân, doanh nghiệp tại địa phương. 4.1. Doanh thu bán lẻ hàng hóa Doanh thu bán lẻ hàng hóa tháng 02 ước đạt 3.603 tỷ đồng, giảm 52,12% so với tháng trước, tăng 18,18% so với cùng kỳ. Trong đó, một số nhóm hàng tăng so tháng trước, tăng so cùng kỳ cụ thể như sau: Nhóm hàng lương thực, thực phẩm đạt 1.037 tỷ đồng, tăng 10,13%, tăng 14,15%; nhóm hàng may mặc đạt 365 tỷ đồng, tăng 12,13%, tăng 36,30%; nhóm vật phẩm văn hóa, giáo dục đạt 83 tỷ đồng, tăng 5,03%, tăng 37,59%…Ở chiều ngược lại, nhóm gỗ và vật liệu xây dưng đạt 513 tỷ đồng, giảm 3,69% so với cùng kỳ;…Tính chung trong 02 tháng, tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 7.009 tỷ đồng, tăng 14,48% so với năm 2025. 4.2. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ khác Trong tháng, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, lữ hành ước đạt 588,27 tỷ đồng, tăng 0,59% so với tháng trước, tăng 17,87% so với cùng kỳ. Trong đó: Dịch vụ lưu trú đạt 53,28 tỷ đồng, tăng 2,76%, tăng 17,93%; ăn uống đạt 534,99 tỷ đồng, tăng 0,38%, tăng 15,50%; du lịch lữ hành đạt 7,3 tỷ đồng, tăng 8,28%, tăng 1,88%. Tính chung trong 02 tháng, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, lữ hành ước đạt 1.173,08 tỷ đồng, tăng 18,92% so với cùng kỳ. Doanh thu dịch vụ khác trong tháng ước đạt 73,17 tỷ đồng, giảm 0,58% so với tháng trước, tăng 22,49% so với cùng kỳ. Tính chung trong 02 tháng, doanh thu dịch vụ khác ước đạt 146,77 tỷ đồng, tăng 16,41%. 4.3. Giá cả Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trong tháng tăng 4,15% so với cùng kỳ năm trước, tăng 2,01% so với tháng 12 năm trước, tăng 1,37% so với tháng trước. Tính chung trong 02 tháng, CPI bình quân tăng 3,63% so với cùng kỳ. Tỉnh đã chỉ đạo tăng cường theo dõi, nắm bắt diễn biến thị trường và tình hình lưu thông hàng hóa; triển khai các phương án bảo đảm cân đối cung - cầu, bình ổn giá cả thị trường; đáp ứng nhu cầu hàng hóa thiết yếu, lương thực, thực phẩm trước, trong và sau Tết. Trong số 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính thì có 9 nhóm tăng giá so với tháng trước, 02 nhóm giảm giá. Trong 9 nhóm hàng tăng so với tháng trước, bao gồm những nhóm hàng sau: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 4,11%, trong đó: Nhóm lương thực tăng 1,81%, nhóm thực phẩm tăng 4,8%, nhóm ăn uống ngoài gia đình tăng 2,5%, nguyên nhân là do giá các loại gạo tẻ ngon, gạo nếp, thịt lợn, bò và thịt gia cầm tăng trước và sau dịp Tết Nguyên đán; nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 3,24%, do nhu cầu tiêu dùng và sử dụng làm quà biếu tặng trong dịp Tết khiến giá rượu bia tăng; nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,43% do nhu cầu mua sắm quần áo may sẵn và giầy dép của người dân tăng; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,49%, do nhu cầu mua sắm các đồ dùng trong gia đình tăng vào dịp Tết; nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,01%; nhóm giao thông tăng 0,96% là do giá xăng, dầu điều chỉnh tăng theo giá nhiên liệu thế giới tại các kỳ điều hành giá của Tập đoàn xăng dầu Việt Nam; nhóm giáo dục tăng nhẹ 0,01%; nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 1,01%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 1,45% tập trung ở giá nhóm đồ trang sức tăng do giá vàng tăng; bên cạnh đó, nhu cầu đồ thờ cúng vào đầu năm tăng nên giá các mặt hàng này tăng.Trong 02 nhóm có giá giảm gồm: Nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng giảm 2,33%; nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,32% một số mặt hàng điện thoại giảm giá kích cầu cuối năm.- Chỉ số giá vàng tăng 93,35% so với cùng kỳ năm trước, tăng 19,85% so với tháng 12 năm trước, tăng 11,33% so với tháng trước, do nhu cầu mua sắm vàng trước Tết Nguyên đán và ngày Vía Thần Tài (mùng 10 tháng Giêng hàng năm) của người dân tăng cao. Tính chung trong 02 tháng đầu năm 2025, giá vàng tăng 87,99% so với cùng kỳ. - Chỉ số giá đô la Mỹ tăng 1,90% so với cùng kỳ năm trước, giảm 1,19% so với tháng 12 năm trước, giảm 1,02% so với tháng trước. Tính chung trong 02 tháng đầu năm 2026, tăng 2,31% so với cùng kỳ. 4.4. Tình hình xuất, nhập khẩu hàng hóa Tỉnh đã chỉ đạo Công an, Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh (Biên phòng), Hải quan, Chi Cục Quản lý thị trường tăng cường kiểm tra, kiểm soát, đấu tranh chống buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả, hàng kém chất lượng trong dịp trước, trong và sau Tết. Tổng kim ngạch xuất hàng hóa trong tháng 02 ước đạt 105,95 triệu USD, tăng 383,90% so với cùng kỳ. Tổng kim ngạch nhập khẩu ước đạt 24,88 triệu USD, tăng 75,49% so cùng kỳ, trong đó chủ yếu là nhập máy móc, thiết bị, phụ tùng và nguyên liệu may mặc. Lũy kế 02 tháng đầu năm đạt 252,7 triệu USD, đạt 30,8% kế hoạch, tăng 4,5% so với cùng kỳ. 5. Vận tải hàng hóa và hành khách Các cơ quan, đơn vị liên quan triển khai các phương án phục vụ vận tải hành khách trước, trong và sau Tết Nguyên đán; tăng cường công tác quản lý hoạt động vận tải, không để xảy ra tình trạng tăng giá vé, phụ thu trái quy định. Các đơn vị quản lý, khai thác kết cấu hạ tầng giao thông đã chuẩn bị đầy đủ vật tư, thiết bị, nhân lực thường trực, kịp thời xử lý các tình huống phát sinh, bảo đảm giao thông thông suốt, an toàn trên các tuyến đường. Công tác quản lý bến xe, phương tiện và người lái được tăng cường; yêu cầu các doanh nghiệp vận tải chấp hành nghiêm quy định về an toàn giao thông, giá cước, thời gian làm việc của lái xe, không vận chuyển hàng cấm, hàng hóa không rõ nguồn gốc. Các lực lượng chức năng tăng cường tuần tra, kiểm soát, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm, nhất là xe quá khổ, quá tải, chở quá số người quy định; duy trì đường dây nóng để tiếp nhận, xử lý kịp thời các phản ánh của người dân, góp phần bảo đảm trật tự, an toàn giao thông trong dịp Tết, hoạt động vận tải hành khách, hàng hóa được bảo đảm an toàn, thông suốt. 5.1. Doanh thu vận tải tải kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải Doanh thu vận tải trong tháng ước đạt 442,47 tỷ đồng, tăng 0,37% so với tháng trước, tăng 18,98% so với cùng kỳ. Trong đó, vận tải hành khách đạt 130,33 tỷ đồng, tăng 15,90%, tăng 23,92%; vận tải hàng hóa đạt 309,40 tỷ đồng, giảm 5%, tăng 17,02%; doanh thu dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 1,93 tỷ đồng, tăng 10,66%, tăng 18,18%; hoạt động bưu chính, chuyển phát đạt 0,81 tỷ đồng, giảm 14,26%, tăng 21,23%. Tính chung trong 02 tháng đầu năm 2026, doanh thu vận tải kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 883,30 tỷ đồng, tăng 10,06% so với cùng kỳ. Trong đó: vận tải hành khách đạt 242,79 tỷ đồng, tăng 18,51%; vận tải hàng hóa đạt 635,08 tỷ đồng, tăng 7,14%; dịch vụ hỗ trợ vận tải kho bãi đạt 3,67 tỷ đồng, tăng 8,11%; bưu chính, chuyển phát đạt 1,76 tỷ đồng, tăng 16,83%. 5.2. Vận tải hành khách và hàng hóa Trong tháng khối lượng hành khách vận chuyển ước đạt 1,92 triệu lượt hành khách, tăng 15,16% so với tháng trước, tăng 15,43% so với cùng kỳ; khối lượng hành khách luân chuyển ước đạt 153,83 triệu lượt hành khách.km, tăng 14,78%, tăng 13,99%. Tính chung 02 tháng đầu năm 2026, khối lượng hành khách vận chuyển ước đạt 3,58 triệu lượt hành khách, tăng 10,02% so với cùng kỳ; khối lượng hành khách luân chuyển ước đạt 287,85 triệu lượt hành khách.km, tăng 8,88%. Khối lượng hàng hóa vận chuyển trong tháng ước đạt 2,05 triệu tấn, giảm 5,3% so với tháng trước, tăng 16,93% so với cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 131,62 triệu tấn.km, giảm 9,67%, tăng 18,51%. Tính chung 02 tháng đầu năm 2026, khối lượng hàng hóa vận chuyển ước đạt 4,22 triệu tấn, tăng 10% so với cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 277,33 triệu tấn.km, tăng 13,60%. 6. Về du lịch Trong dịp nghỉ Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026, các khu, điểm du lịch, cơ sở lưu trú, cơ sở dịch vụ du lịch và các làng văn hóa du lịch cộng đồng duy trì hoạt động phục vụ khách du lịch, đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng của Nhân dân và du khách. Một số khu, điểm du lịch ghi nhận lượng khách tăng cao, tập trung chủ yếu trong các ngày đầu năm, như: Cột cờ Lũng Cú; khu vực sông Nho Quế; dốc Thẩm Mã; điểm du lịch Nhà của Pao; Khu di tích Quốc gia đặc biệt Tân Trào;Khu du lịch sinh thái Na Hang – Lâm Bình; các điểm du lịch tâm linh (Đền Hạ, Đền Thượng, Đền Ỷ La, Đền Pác Tạ, Đền Mẫu,…). Trong tháng 02/2026, toàn tỉnh đón 320.638 lượt khách du lịch, tổng thu từ du lịch đạt 884,7 tỷ đồng. Lũy kế 02 tháng đầu năm đón 701.613 lượt khách du lịch đạt 17,1% kế hoạch, tổng thu du lịch đạt 1.913,1 tỷ đồng. II. LĨNH VỰC VĂN HÓA - XÃ HỘI 1. Công tác lao động, việc làm, giáo dục nghề nghiệp Các ngành chức năng đã chủ động nắm bắt tình hình sản xuất và đời sống công nhân, đảm bảo doanh nghiệp thực hiện đúng chính sách tiền lương, thưởng và phúc lợi trong dịp Tết Nguyên đán 2026. Đồng thời, chỉ đạo các cơ sở sản xuất tăng cường tự kiểm tra an toàn vệ sinh lao động, phòng, chống cháy nổ và rà soát máy móc, quy trình vận hành nghiêm ngặt. Đặc biệt chú trọng các lĩnh vực rủi ro cao và yêu cầu khắc phục ngay các nguy cơ gây tai nạn, sự cố tại nơi làm việc và khu vực giáp dân cư. Triển khai nắm bắt tình hình tuyển dụng, sử dụng, biến động lao động trong các doanh nghiệp trên địa bàn quản lý; kịp thời hướng dẫn các doanh nghiệp giải quyết chế độ đối với người lao động thôi việc, mất việc làm; không để tình trạng ngừng việc tập thể hoặc đình công trong dịp Tết Nguyên đán năm 2026. 2. Công tác đảm bảo chế độ người có công với cách mạng, bảo trợ, an sinh xã hội và phòng chống các tệ nạn2.1. Công tác đối với người có công với cách mạng Tổ chức thăm và tặng quà nhân dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026 cho người có công với cách mạng, đối tượng bảo trợ xã hội, hưu trí xã hội và các đối tượng yếu thế khác, kết quả đã tặng quà cho 22.644 người, với kinh phí 9,594 tỷ đồng. Thực hiện tốt công tác chăm lo đời sống cho các đối tượng chính sách; duy trì chi trả trợ cấp ưu đãi thường xuyên hằng tháng cho 9.032 người có công, thân nhân người có công và các đối tượng chính sách khác đang được hưởng trợ cấp trên địa bàn tỉnh. Triển khai tặng quà của Chủ tịch nước nhân dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026 cho: 10.888 người có công với số tiền là 3.355,5 triệu đồng. Đồng thời, trích ngân sách tỉnh tặng quà cho: 11.756 người có công với số tiền là 6.038,5 triệu đồng (theo Nghị quyết số 22/2025/NQ-HĐND ngày 09/12/2025 của Hội đồng nhân dân tỉnh).2.2. Công tác bảo trợ, an sinh xã hội và phòng chống các tệ nạn Lãnh đạo tỉnh đã tổ chức các đoàn công tác đi thăm, động viên các đơn vị, tặng quà người cao tuổi, hộ nghèo tại các xã biên giới, xã khó khăn (thăm, tặng quà cho 431 người có công, đối tượng bảo trợ xã hội; 550 hộ nghèo; 300 bệnh nhân đang nằm điều trị tại khoa cấp cứu của các Bệnh viện tuyến tỉnh vì sức khỏe không về ăn tết cùng gia đình và 58 đơn vị với số tiền 1.325 triệu đồng).Tổ chức triển khai mừng thọ, tặng quà cho 2.154 người cao tuổi trên địa bàn tỉnh ở độ tuổi 90, 95, 100 và trên 100 tuổi với tổng số kinh phí thực hiện chúc thọ, mừng thọ là 3.240 triệu đồng. Cấp phát gạo dự trữ quốc gia (nguồn của Trung ương) cho 119 xã, phường với 12.956 hộ/48.608 nhân khẩu, với 729.120 kg gạo.Trong tháng, Cơ sở cai nghiện của 02 tỉnh ( Tuyên Quang cũ và Hà Giang cũ) đã tiếp nhận 4 học viên, cấp giấy chứng nhận hoàn thành cai nghiện cho 13 học viên; tại thời điểm báo cáo, 2 cơ sở cai nghiện đang quản lý 226 học viên (cai nghiện bắt buộc 212 học viên, cai nghiện tự nguyện 14 học viên).3. Hoạt động giáo dục và đào tạoChuẩn bị các điều kiện tổ chức Khởi công 11 trường phổ thông nội trú liên cấp Trung học và Trung học cơ sở tại các xã biên giới. Thực hiện rà soát, sắp xếp lại mạng lưới điểm trường, lớp học đối với giáo dục mầm non và giáo dục phổ thông trên địa bàn tỉnh theo hướng tinh gọn, hiệu quả, phù hợp với điều kiện thực tiễn; sắp xếp, tổ chức lại cơ sở giáo dục đại học công lập và cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập; sắp xếp các cơ sở giáo dục phổ thông tại 17/17 xã biên giới. Chuẩn bị các điều kiện tổ chức thi học sinh giỏi cấp tỉnh lớp 9 và lớp 12 năm học 2025-2026.4. Hoạt động y tế Tiếp tục triển khai đồng bộ các giải pháp nâng cao chất lượng công tác khám, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe nhân dân, trọng tâm là y tế tuyến cơ sở; trong tháng 02/2026 tổ chức khám, chữa bệnh cho 206.868 lượt người. Tăng cường kiểm tra, giám sát công tác bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm, nhất là trong dịp trước, trong và sau Tết Nguyên đán năm 2026.5. Hoạt động văn hoá - thể dục, thể thaoCác địa phương trên địa bàn tỉnh đã tổ chức nhiều hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao và lễ hội truyền thống, góp phần tạo không khí vui tươi, phấn khởi trong nhân dân và thu hút du khách, như: Các hoạt động văn hóa, nghệ thuật chào xuân; tổ chức bắn pháo hoa chào năm mới; tổ chức ngày hội văn hóa, thể thao các dân tộc với các hoạt động giao lưu văn hóa, thể thao và trò chơi dân gian; tổ chức các lễ hội truyền thống (như: Lễ hội Lồng Tông; lễ hội Gầu Tào; lễ hội Nhảy lửa; lễ hội Cầu may; Hội đua thuyền trên Sông Lô,...) góp phần bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.Tổ chức thành công chương trình nghệ thuật chào mừng kỷ niệm 96 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03/2/1930 - 03/2/2026) với chủ đề: “Mùa Xuân dâng Đảng” tại Quảng trường 26/3, phường Hà Giang 1; chào mừng thành công Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng; hướng tới cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Chỉ đạo hướng dẫn Ủy ban nhân dân các xã, phường triển khai Đại hội thể dục, thể thao cấp xã. Tổ chức đoàn cán bộ, vận động viên tỉnh Tuyên Quang tham dự Giải Bóng đá Mùa xuân giữa tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc và 5 tỉnh, thành phố của Việt Nam. 6. Một số hoạt động khác Năm 2026 là năm đầu tiên tiến hành công tác tuyển quân gắn với thực hiện chính quyền địa phương hai cấp. Tỉnh Tuyên Quang được Bộ Quốc phòng và Quân khu 2 giao chỉ tiêu tuyển chọn, gọi 2.849 công dân nhập ngũ. Trong đó, 2.300 công dân thực hiện nghĩa vụ quân sự tại các đơn vị quân đội thuộc Bộ Quốc phòng và 549 công dân tham gia nghĩa vụ Công an nhân dân. Thực hiện kế hoạch tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ, Hội đồng Nghĩa vụ quân sự các xã, phường trên địa bàn tỉnh đã tổ chức phát lệnh gọi công dân nhập ngũ đảm bảo đúng quy định của Luật Nghĩa vụ quân sự, đảm bảo tính công khai, dân chủ và đúng tiến độ. 7. Tình hình an toàn giao thông, thiên tai và phòng chống cháy, nổ Các lực lượng chức năng tăng cường tuần tra, kiểm soát, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm, nhất là xe quá khổ, quá tải, chở quá số người quy định; duy trì đường dây nóng để tiếp nhận, xử lý kịp thời các phản ánh của người dân, góp phần bảo đảm trật tự, an toàn giao thông trong dịp Tết, hoạt động vận tải hành khách, hàng hóa được bảo đảm an toàn, thông suốt. Duy trì nghiêm chế độ trực sẵn sàng chiến đấu; triển khai các đợt cao điểm tấn công, trấn áp tội phạm, đảm bảo an ninh trật tự, an toàn giao thông, nhất là trong dịp Tết Nguyên đán. Trong kỳ báo cáo, thực hiện bảo đảm tuyệt đối an ninh, an toàn 02 đoàn công tác của lãnh đạo Đảng, Nhà nước đến thăm, làm việc tại tỉnh. Trong kỳ báo cáo (từ ngày 14/02 đến ngày 21/02/2026), trên địa bàn tỉnh xảy ra 07 vụ tai nạn giao thông đường bộ làm chết 06 người, bị thương 01 người (so với cùng kỳ Tết Nguyên đán Ất Tỵ năm 2025 số vụ tai nạn tăng 01, tăng 03 người chết, giảm 04 người bị thương); không xảy ra tai nạn giao thông đường thủy. 7.1. Về an toàn giao thông trong tháng Trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 17 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 12 người và làm bị thương 9 người. So với tháng trước giảm 19,05% về số vụ tai nạn; số người chết tăng 9,09%; số người bị thương giảm 25%. So với tháng cùng kỳ số vụ tai nạn giao thông giữ nguyên; số người chết tăng 9,09%; số người bị thương giảm 30,77%. Tính chung 02 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh đã xảy ra 38 vụ tai nạn giao thông; làm chết 23 người và làm bị thương 21 người. So với cùng kỳ năm trước: Số vụ tai nạn giao thông giảm 5%; số người chết tăng 15%; số người bị thương giảm 27,59%. 7.2. Về thiên tai, cháy, nổ Trong tháng trên địa bàn tỉnh không ghi nhận các đợt thiên tai, cháy nổ nào xảy ra.
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 01 năm 2026 tỉnh Tuyên Quang
- 15/05/2026 13:10
I. PHÁT TRIỂN KINH TẾ 1. Về sản xuất nông nghiệp (tính đến ngày 20/01/2026) 1.1. Trồng trọt Trong tháng 01, các hoạt động sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh diễn ra trong điều kiện thời tiết tương đối thuận lợi. Bà con nhân dân bắt đầu gieo trồng một số cây vụ Xuân năm 2026 đảm bảo khung thời vụ, chủ động các phương án phòng, chống dịch bệnh trên cây trồng. 1.1.1. Sản xuất vụ đông - Ngô lấy hạt: Diện tích đạt 6.912,0 ha, bằng 97,14% (giảm 203,86 ha) so với cùng kỳ. Diện tích gieo trồng ngô giảm chủ yếu tại các xã Vị Xuyên, Linh Hồ do một số diện tích bãi bồi ven sông bị ngập lụt, không gieo trồng được. Mặt khác diện tích bãi chăn thả của trâu, bò hạn hẹp, thức ăn cho gia súc ngày càng khan hiếm một số xã Hùng An, Đồng Yên, Quang Bình, Bằng Lang, Tiên Yên bà con chuyển đổi cây trồng từ cây ngô lấy hạt sang trồng cây ngô thức ăn chăn nuôi, chính vì vậy diện tích ngô giảm so với vụ cùng kỳ năm trước. - Khoai lang: Diện tích đạt 1.337,88 ha, tăng 5,18% (tăng 65,86 ha) so với cùng kỳ. Diện tích gieo trồng khoai lang tăng tại các xã Khâu Vai, Kiến Đài, Mèo Vạc, Phú Lương. - Đậu tương: Diện tích gieo trồng đạt 63,7 ha, bằng 91,01% (giảm 6,29 ha) so với cùng kỳ. Diện tích gieo trồng đậu tương giảm tại xã Tri Phú, Linh Phú. - Lạc: Diện tích gieo trồng đạt 43,59 ha, bằng 83,14% (giảm 8,84 ha) so với cùng kỳ. Diện tích gieo trồng lạc giảm tại xã Tân Mỹ. - Rau các loại: Diện tích gieo trồng đạt 12.207,34 ha, bằng 99,65% (giảm 43,01 ha)so với cùng kỳ. Diện tích gieo trồng chậm do ảnh hưởng của cơn bão BUALOI làm một số diện tích bị ngập, thời gian thu hoạch vụ Mùa bị kéo dài gây ảnh hưởng tiến độ gieo trồng vụ Đông - Diện tích gieo trồng cây đậu các loại đạt 1.197,50 ha, tăng 74,59% (tăng 511,6 ha) so với cùng kỳ. Diện tích gieo trồng tăng tại các xã Bản Máy, Đồng Văn, Lũng Cú, Phố Bảng. 1.1.2. Sản xuất vụ xuân Trong tháng người dân tích cực làm đất, gieo trồng các cây trồng vụ Xuân - Lúa: Người dân đã làm đất, cày bừa 17.587,2 ha, đạt 65,3% diện tích. Số lượng thóc giống đã ngâm ủ và gieo mạ được 701,4 tấn. Diện tích lúa gieo trồng đạt 1.137,2 ha, tăng 0,54% (tăng 6,1 ha) so với cùng kỳ. - Ngô: Diện tích gieo trồng đạt 1.144,5 ha, tăng 0,21% (tăng 2,4 ha) so với cùng kỳ. - Lạc: Diện tích lạc gieo trồng đạt 1.382,7 ha, tăng 2,17% (tăng 29,37 ha) so với cùng kỳ. - Rau các loại: Người dân đang thu hoạch vụ Đông và tiếp tục làm đất gieo trồng tiếp vụ Xuân. Diện tích gieo trồng đạt 786,5 ha, tăng 3,68% (tăng 27,92%) so với cùng kỳ. 1.2. Tình hình sinh vật gây hại Trên cây lúa vụ xuân bệnh nấm mốc, tập đoàn rầy, bệnh thối nhũn, chuột phát sinh rải rác. Cây ngô vụ Đông xuất hiện sâu keo mùa thu, rệp, bệnh đốm lá, khô vằn, chuột gây hại rải rác. Trên cây rau đậu xuất hiện bọ nhảy, sâu tơ, sâu xanh bướm trắng, sâu khoang, bệnh thối nhũn, mốc sương, đốm vòng gây hại rải rác. Nguyên nhân: Thời tiết sương mù dày ban sáng và nắng hanh ban ngày tạo điều kiện cho nấm bệnh và sâu tơ phát triển. 1.3. Về chăn nuôi Tình hình chăn nuôi trong tháng duy trì ổn định, không có biến động lớn. Công tác phòng chống dịch bệnh được chú trọng, đặc biệt là các bệnh nguy hiểm như Dịch tả lợn Châu Phi. Dự ước đàn gia súc, gia cầm tháng 01/2026: - Đàn trâu 217.289 con, giảm 3,15% so với cùng kỳ năm 2025. Nguyên nhân chủ yếu là do hiệu quả kinh tế từ việc nuôi trâu lấy sức kéo và lấy thịt không cao bằng các loại vật nuôi khác, đồng thời diện tích chăn thả tự nhiên ngày càng bị thu hẹp do quá trình đô thị hóa và chuyển đổi mục đích sử dụng đất. - Đàn bò 175.898 con, tăng 0,51%, đàn bò tiếp tục tăng nhẹ nhờ các chính sách hỗ trợ phát triển chăn nuôi của tỉnh. - Đàn lợn 1.200.820 con, giảm 2,95%. Mặc dù hầu hết các ổ dịch tả lợn Châu Phi trên địa bàn tỉnh đã công bố hết dịch nhưng tâm lý người dân còn e ngại, chưa mạnh dạn tái đàn với số lượng lớn. - Đàn gia cầm 14.188,97 nghìn con, tăng 3,63%. Nhu cầu thị trường dịp cuối năm và Tết Nguyên đán ổn định, các mô hình liên kết chăn nuôi gia cầm theo chuỗi giá trị phát huy hiệu quả tốt. 1.4. Về công tác phòng chống dịch bệnh gia súc, gia cầm trong tháng 1.4.1. Công tác phòng chống và điều trị Cơ quan chức năng phối hợp với các xã, phường theo dõi chặt chẽ tình hình dịch bệnh gia súc, gia cầm, thuỷ sản trên địa bàn, đặc biệt các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm. Trong tháng 01 bệnh Dịch tả lợn Châu Phi phát sinh tại 04 hộ, 03 thôn, 03 xã mới (phường Bình Thuận, xã Kim Bình, xã Nà Hang), số lợn tiêu hủy là 121 con, trọng lượng tiêu hủy 10.744 kg. 1.4.2. Công tác kiểm dịch vận chuyển động vật, sản phẩm động vật Thực hiện chặt chẽ, đúng quy định công tác kiểm dịch vận chuyển ngoài tỉnh, trong tháng đã kiểm tra cấp 305 giấy chứng nhận kiểm dịch vận chuyển, trong đó: 118 chuyến vận chuyển 16.577 con gia súc, gia cầm, 187 chuyến vận chuyển 3.476.500 kg sữa tươi nguyên liệu được vận chuyển đi các tỉnh: Bắc Ninh, Hà Nội, Cao Bằng... 1.5. Về sản xuất lâm nghiệp 1.5.1. Công tác trồng rừng Ước tính trong tháng 01 tổng diện tích rừng trồng mới tập trung toàn tỉnh đã trồng được 136,51 ha, tăng 125,1 ha so với cùng kỳ năm trước. Diện tích rừng trồng mới tập trung tăng mạnh do thời tiết thuận lợi các xã triển khai sớm kế hoạch trồng rừng năm 2026. 1.5.2. Khai thác gỗ rừng trồng Ước tính tháng 01 toàn tỉnh khai thác được 78.900,60 m3 gỗ, giảm 16,69% (giảm 15.808,2 m3) so với cùng kỳ. Sản lượng gỗ khai thác giảm do diện tích rừng sản xuất đến tuổi khai thác giảm. Ngoài ra do thời tiết mưa lạnh gây chậm tiến độ khai thác, hạn chế việc vận chuyển gỗ nguyên liệu ra khỏi rừng. 1.5.3. Công tác quản lý bảo vệ rừng Công tác quản lý, bảo vệ rừng được các cấp, các ngành quan tâm, đồng thời tuyên truyền, vận động nhân dân tích cực tham gia thực hiện kế hoạch trồng rừng năm 2026; tuyên truyền, phổ biến giáo dục cho người dân nâng cao nhận thức về các chính sách quản lý bảo vệ và phát triển rừng; tăng cường kiểm tra, ngăn chặn việc phá rừng, đốt rừng, triệt phá các đường dây buôn bán, vận chuyển lâm sản trái phép. Thường xuyên cảnh báo nguy cơ cháy rừng, đẩy mạnh tuyên truyền về công tác phòng cháy chữa cháy rừng; phối hợp chặt chẽ với cơ quan chức năng và chính quyền cơ sở, các chủ rừng tăng cường kiểm tra, kiểm soát, phát hiện kịp thời, xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật các hành vi xâm hại rừng. Theo báo cáo của Chi cục Kiểm lâm tỉnh, trong tháng không phát sinh vụ cháy rừng, tuy nhiên đã xảy ra 04 vụ chặt phá rừng giảm 02 vụ so với cùng kỳ năm trước, diện tích rừng bị chặt phá 0,26 ha, giảm 2,33 ha so với cùng kỳ. Số vụ phá rừng và diện tích rừng bị phá giảm mạnh do cơ quan chức năng tăng cường kiểm tra, giám sát, phát hiện và ngăn chặn kịp thời. 1.6. Phát động Tết trồng cây “Đời đời nhớ ơn Bác Hồ” Xuân Bính Ngọ và thực hiện kế hoạch trồng rừng năm 2026 Tỉnh đã ban hành văn bản chỉ đạo các sở, ban, ngành, các địa phương trên địa bàn tỉnh tổ chức lễ phát động "Tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác Hồ" Xuân Bính Ngọ năm 2026; việc tổ chức cần thiết thực, đảm bảo hiệu quả, tiết kiệm và kêu gọi mọi tầng lớp nhân dân hưởng ứng tích cực tham gia trồng cây, trồng rừng, để góp phần thúc đẩy phong trào trồng cây, trồng rừng và bảo vệ rừng năm 2026 đạt kết quả cao. 2. Sản xuất công nghiệp 2.1. Chỉ số phát triển công nghiệp Chỉ số sản xuất công nghiệp trong tháng tăng 7,03% so với cùng kỳ, giảm 6,03% so với tháng trước, cụ thể như sau: Ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí tăng 14,56%, giảm 15,02%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 5,55%, giảm 4,13%; khai khoáng tăng 1,99%, tăng 16,73%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải giảm 4,11%, giảm 2,28%. 2.2. Sản phẩm công nghiệp chủ yếu Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng so với cùng kỳ năm trước như: Chè (trà) đạt 1.512 tấn, tăng 56,80%; cấu kiện làm sẵn cho xây dựng đạt 1.815 tấn, tăng 107,90%; điện sản xuất đạt 220 triệu Kwh, tăng 12,29%; áo sơ mi đạt 180 nghìn cái, tăng 2,39%; ...Tuy nhiên, cũng có một số sản phẩm công nghiệp giảm so với cùng kỳ như: Giày, dép thể thao có mũ bằng da đạt 800 nghìn đôi, giảm 11,11%; bột Felspat đạt 9.000 tấn, giảm 5,26%; nước máy thương phẩm đạt 1.052 nghìn m3, giảm 8,70%;... Đánh giá chung, tháng 01/2026 là tháng giáp Tết Nguyên đán, nhu cầu về thực phẩm và một số sản phẩm phục vụ Tết tăng cao nên các cơ sở sản xuất các mặt hàng công nghệ thực phẩm thuộc ngành công nghiệp chế biến chế tạo tập trung đẩy mạnh sản xuất đáp ứng nhu cầu thị trường. Cùng với đó, việc đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công và tập trung thi công các dự án trọng điểm đã tạo ra nhu cầu tiêu thụ và sản xuất sản phẩm vật liệu xây dựng thông thường tăng. Tỉnh đang tiếp tục đôn đốc tiến độ xây dựng hạ tầng tại Khu kinh tế Cửa khẩu Thanh Thủy, KCN Long Bình An, KCN Bình Vàng, CCN Phúc Ứng 2, CCN Xuân Vân, CCN Nhữ Khê... Đáng chú ý, Sở Công Thương đang đề xuất với tỉnh lựa chọn CCN Phúc Ứng 2 thực hiện mô hình thí điểm Cụm công nghiệp thông minh đầu tiên của tỉnh. Đây là bước đi cụ thể trong định hướng phát triển công nghiệp hiện đại, ứng dụng công nghệ cao và chuyển đổi số trong sản xuất, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng và tính cạnh tranh của doanh nghiệp địa phương. 3. Vốn đầu tư, xây dựng 3.1. Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước thực hiện tháng 1 năm 2026 đạt 889,4 tỷ đồng, tăng 11,4% so với tháng cùng kỳ. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 780,5 tỷ đồng, tăng 14,54%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã đạt 108,9 tỷ đồng, giảm 6,88%. 3.2. Hoạt động xây dựng Tập trung chỉ đạo nâng cao chất lượng công tác chuẩn bị đầu tư và tổ chức thực hiện dự án; chủ động, linh hoạt trong thực hiện các thủ tục đầu tư và công tác giải phóng mặt bằng; tập trung đẩy nhanh tiến độ thi công các dự án, nhất là các dự án trọng điểm trên địa bàn tỉnh. Kết quả giải ngân vốn đầu tư công từ ngày 01/01/2025 đến ngày 15/01/2026 đạt 10.556,37/21.019,62 tỷ đồng, bằng 50,22% kế hoạch vốn năm 2025 được giao. 4. Thương mại và Dịch vụ Tăng cường theo dõi, nắm bắt diễn biến thị trường và tình hình lưu thông hàng hóa, nhất là các mặt hàng thiết yếu (lương thực, thực phẩm, xăng dầu…); chủ động xây dựng và triển khai các phương án bảo đảm cân đối cung - cầu, bình ổn thị trường, đáp ứng đầy đủ nhu cầu hàng hóa thiết yếu của nhân dân trước, trong và sau dịp Tết Nguyên đán năm 2026. 4.1. Doanh thu bán lẻ hàng hóa Doanh thu bán lẻ hàng hóa trong tháng 01 ước đạt 3.659 tỷ đồng, tăng 2,98% so với tháng trước, tăng 23,14% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, một số nhóm hàng tăng so với tháng trước, tăng so với cùng kỳ, cụ thể như sau: Lương thực, thực phẩm đạt 1.105 tỷ đồng, tăng 4,44%, tăng 25,82%; may mặc đạt 374 tỷ đồng, tăng 5,06%, tăng 39,72%; đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình đạt 539 tỷ đồng, tăng 2,28%, tăng 13,73%; ô tô con (dưới 9 chỗ ngồi) đạt 55 tỷ đồng, tăng 3,77%, tăng 11,27%;… 4.2. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ tiêu dùng khác Trong tháng, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 581,76 tỷ đồng, giảm 8,31% so với tháng trước, tăng 16,04% so với cùng kỳ. Trong đó: Doanh thu dịch vụ lưu trú đạt 50,72 tỷ đồng, giảm 18,34%, tăng 30,69%; dịch vụ ăn uống đạt 531,05 tỷ đồng, giảm 7,22%, tăng 19,31%. Doanh thu du lịch lữ hành trong tháng ước đạt 6,04 tỷ đồng, giảm 26,78% so với tháng trước, tăng 89,24% so với cùng kỳ. Doanh thu nhóm dịch vụ tiêu dùng khác trong tháng ước đạt 279,19 tỷ đồng, tăng 4,19% so với tháng trước, tăng 24,36% so với cùng kỳ. 4.3. Giá cả Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trong tháng 01/2025 tăng 3,11% so với cùng kỳ năm trước, tăng 0,63% so với tháng 12 năm trước. Trong số 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính thì có 6 nhóm tăng giá so với tháng trước, 5 nhóm giảm giá. Trong 6 nhóm hàng tăng so với tháng trước, bao gồm những nhóm hàng sau: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 2,15% (trong đó, nhóm lương thực tăng 0,44%; nhóm thực phẩm tăng 2,60%; nhóm ăn uống ngoài gia đình tăng 1,33%); nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,81% do nhu cầu vào dịp tết Nguyên đán tăng; nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 1,16%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,1%; văn hoá, giải trí và du lịch tăng 0,04% nguyên nhân chủ yếu là do giá hoa, cây cảnh trong dịp Tết tăng; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,33% do nhu cầu tiêu dùng các loại đồ dùng cá nhân của người dân tăng. Có 6 nhóm hàng giảm so với tháng trước là: may mặc, mũ nón và giày dép giảm 0,05% chủ yếu là do các mặt hàng quần áo giảm giá, ưu đãi dịp cuối năm; thuốc và dịch vụ y tế giảm 1,03%; giao thông giảm 2,18%; bưu chính viễn thông giảm 0,46%; giáo dục giảm 0,02%. - Chỉ số giá vàng tăng 82,78% so với cùng kỳ năm trước, tăng 7,65% so với tháng trước. - Chỉ số giá đô la Mỹ tăng 2,72% so với cùng kỳ năm trước, giảm 0,18% so với tháng trước. 4.4. Tình hình xuất, nhập khẩu hàng hóa Xây dựng kế hoạch về thúc đẩy phát triển kinh tế cửa khẩu và thương mại biên giới trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 2026-2030. Tiếp tục thực hiện cải cách, rút ngắn thủ tục hành chính trong lĩnh vực hải quan, thuế; rút ngắn thời gian thông quan hàng hóa, giảm chi phí cho doanh nghiệp, người nộp thuế, tạo thuận lợi thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu, nhất là trong dịp Tết Nguyên đán năm 2026. Trong tháng, xuất khẩu ước đạt 97,2 triệu USD, tăng 337,95%, nhập khẩu ước đạt 23,70 triệu USD, tăng 231,08%. 5. Vận tải hàng hóa và hành khách Dịp cuối năm, đặc biệt là những dịp trước, trong và sau Tết hàng năm, nhu cầu đi lại của người dân bằng các phương tiện vận tải tăng cao, đặc biệt là ô tô. Nhằm đảm bảo nhu cầu đi lại của người dân được thuận tiện, an toàn trong dịp Tết, các lực lượng chức năng tăng cường công tác kiểm tra, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm trong lĩnh vực vận tải hành khách và hàng hóa, đồng thời chỉ đạo các bến xe khách, các doanh nghiệp, hợp tác xã và các hộ kinh doanh cá thể vận tải trên địa bàn tỉnh chuẩn bị đầy đủ phương tiện, bảo đảm phục vụ nhu cầu đi lại của nhân dân trong dịp này được thuận lợi, an toàn... tăng cường công tác kiểm tra, giám sát về việc kê khai, niêm yết giá và việc bán vé đúng giá niêm yết đối với các đơn vị kinh doanh vận tải. Triển khai các biện pháp kiểm soát chặt chẽ việc vận chuyển hàng hóa, đặc biệt là hàng hóa ký gửi; không sử dụng rượu, bia và các chất kích thích khác khi lái xe. 5.1. Doanh thu vận tải tải kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải Doanh thu vận tải trong tháng ước đạt 447,51 tỷ đồng, tăng 6,02% so với tháng trước, tăng 4,12% so với tháng cùng kỳ. Trong đó, doanh thu vận tải hành khách ước đạt 107,47 tỷ đồng, tăng 8,47%, tăng 7,82%; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 337,36 tỷ đồng, tăng 5,21%, tăng 2,74%; doanh thu dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 1,75 tỷ đồng, tăng 15,20%, tăng 0,03%,… 5.2. Vận tải hành khách và hàng hóa Khối lượng hành khách vận chuyển ước đạt 1,71 triệu lượt hành khách, tăng 9,24% so với tháng trước, tăng 7,28% so với tháng cùng kỳ; khối lượng hành khách luân chuyển ước đạt 130,69 triệu lượt hành khách.km, giảm 9,57%, tăng 0,97%. Khối lượng hàng hóa vận chuyển ước đạt 2,26 triệu tấn, tăng 12,76% so với tháng trước, tăng 8,55% so với tháng cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 135,42 triệu tấn.km, tăng 5,11%, tăng 1,77%. 6. Về du lịch Tiếp tục triển khai các bước xây dựng dự thảo Đề án phát triển du lịch tỉnh Tuyên Quang đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2045; dự thảo Nghị quyết của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về phát triển du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn; dự thảo Nghị quyết Quy định một số chính sách hỗ trợ phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang; thành lập đoàn kiểm tra các cơ sở lưu trú du lịch trên địa bàn phường Hà Giang và một số xã vùng Cao nguyên đá Đồng Văn. Tổ chức thành công chương trình nghệ thuật “Tuyên Quang chào năm 2026” và đón những vị khách đầu tiên đến Tuyên Quang tại Quảng trường Nguyễn Tất Thành, phường Minh Xuân và Quảng trường 26/3, phường Hà Giang 1; hướng dẫn cấp xã tổ chức các lễ hội trong dịp đầu xuân năm mới. Trong tháng 01 ước đón 380.975 lượt khách, trong đó 50.975 lượt khách quốc tế (bao gồm khách mang hộ chiếu và giấy thông hành); khách nội địa là 330.000 lượt người; Tổng chi tiêu khách du lịch trên địa bàn ước đạt 1.028,4 tỷ đồng (trong đó khách du lịch quốc tế 210 tỷ đồng và nội địa 818,4 tỷ đồng). II. LĨNH VỰC VĂN HÓA - XÃ HỘI 1. Công tác lao động, việc làm, giáo dục nghề nghiệp Toàn tỉnh tiếp tục triển khai nhiều giải pháp tạo việc làm mới cho người lao động. Trong đó, các cấp, các ngành tập trung rà soát nhu cầu người lao động; tổ chức hiệu quả các phiên giao dịch việc làm, tư vấn, kết nối cung cầu, xúc tiến xuất khẩu lao động. Đồng thời nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đào tạo nghề theo nhu cầu và địa chỉ; khuyến khích đẩy mạnh các mô hình sản xuất, kinh doanh, thu hút đầu tư trên địa bàn… Từ đó nâng cao tỷ lệ lao động có việc làm, nâng cao thu nhập và thúc đẩy kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh. 2. Công tác đảm bảo chế độ chính sách và an sinh xã hội, phòng chống các tệ nạn và tình hình lương thưởng Tết của người lao động tại các doanh nghiệp2.1. Công tác đối với người có công với cách mạng Triển khai thực hiện Nghị quyết số 418/NQ-CP ngày 28/12/2025 của Chính phủ về tặng quà của Đảng, Nhà nước nhân dịp chào mừng Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng và Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026 cho người có công với cách mạng, đối tượng bảo trợ xã hội, hưu trí xã hội và các đối tượng yếu thế khác, kết quả đã tặng quà cho 10.431 đối tượng, với tổng kinh phí 4,172 tỷ đồng. Thực hiện tốt công tác chăm lo đời sống các đối tượng chính sách; duy trì chi trả trợ cấp ưu đãi thường xuyên hằng tháng cho 9.032 người có công, thân nhân người có công và các đối tượng chính sách khác đang hưởng trợ cấp trên địa bàn tỉnh.2.2. Công tác bảo trợ xã hội và phòng chống các tệ nạn xã hộiHướng dẫn triển khai công tác chuẩn bị chăm lo các đối tượng chính sách xã hội dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026, thường xuyên rà soát, nằm tình hình đời sống nhân dân, hướng dẫn hỗ trợ kịp thời cho các hộ gia đình, cá nhân có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, bị ảnh hưởng do thiên tai, tai nạn rủi ro bất khả kháng. Trong tháng, Cơ sở cai nghiện của 02 tỉnh ( Tuyên Quang cũ và Hà Giang cũ) đã tiếp nhận 11 học viên, cấp giấy chứng nhận hoàn thành cai nghiện cho 12 học viên; tại thời điểm báo cáo, 2 cơ sở cai nghiện đang quản lý 226 học viên (cai nghiện bắt buộc 218 học viên, cai nghiện tự nguyện 8 học viên).2.3. Về tình hình lương thưởng Tết của người lao động tại các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnhTheo thông tin của Sở Nội vụ tỉnh Tuyên Quang về tình hình lao động, tiền lương năm 2025, mức thu nhập bình quân của công nhân, người lao động đang làm việc tại các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh đạt khoảng 6,8 triệu đồng/người/tháng.Trong đó, khối công ty TNHH một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ có mức thu nhập bình quân cao nhất, gần 10,2 triệu đồng/người/tháng. Đối với các công ty có cổ phần, vốn góp chi phối của Nhà nước do địa phương quản lý, thu nhập bình quân đạt trên 8,5 triệu đồng/người/tháng.Khối doanh nghiệp dân doanh ghi nhận mức thu nhập bình quân trên 8,8 triệu đồng/người/tháng, trong khi doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt trên 6,9 triệu đồng/người/tháng. Cùng với tiền lương, chế độ thưởng dịp lễ, Tết tiếp tục được các doanh nghiệp quan tâm. Mức thưởng Tết Dương lịch 2026 bình quân đạt trên 972.000 đồng/người, còn thưởng Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026 đạt trên 4,2 triệu đồng/người. Tuy nhiên, hiện vẫn còn 2 doanh nghiệp nợ lương người lao động với tổng số tiền trên 2,6 tỷ đồng. 3. Hoạt động giáo dục và đào tạo Xây dựng Nghị quyết của Ban thường vụ Tỉnh uỷ về thực hiện phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ từ 3 đến 5 tuổi; Đề án phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em từ 3 đến 5 tuổi trên địa bàn tỉnh. Tổ chức triển khai nhiệm vụ học kỳ II năm học 2025-2026. Tiếp tục rà soát, sắp xếp lại mạng lưới điểm trường, lớp học đối với giáo dục mầm non và giáo dục phổ thông trên địa bàn tỉnh theo hướng tinh gọn, hiệu quả, phù hợp với điều kiện thực tiễn. Quan tâm nâng cao chất lượng giáo dục đại trà, chất lượng giáo dục mũi nhọn được nâng lên, tại kỳ thi chọn học sinh giỏi quốc gia THPT năm học 2025-2026, toàn tỉnh đạt 59 giải (02 giải nhất; 11 giải nhì, 12 giải Ba và 34 giải Khuyến khích), đặc biệt có 02 học sinh được Bộ Giáo dục và Đào tạo chọn tham dự Kỳ thi chọn đội tuyển Olympic quốc tế. 4. Hoạt động y tế Tiếp tục triển khai đồng bộ các giải pháp nâng cao chất lượng công tác khám, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe nhân dân, trọng tâm là y tế tuyến cơ sở. Tăng cường kiểm tra, giám sát công tác bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm, nhất là trong dịp Tết Nguyên đán năm 2026. Trong tháng 01/2026 tổ chức khám, chữa bệnh cho 229.584 lượt người. 5. Hoạt động văn hoá - thể dục, thể thaoXây dựng Nghị quyết của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về xây dựng và phát triển con người Tuyên Quang phát triển toàn diện về đạo đức, nhân cách, trí tuệ, thể lực, thẩm mỹ, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững, giai đoạn 2026 - 2030; Kế hoạch về phát triển công nghiệp văn hoá trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2026 - 2035; Đề án Bảo tồn và phát huy các giá trị bản sắc văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc trên địa bàn tỉnh gắn với phát triển du lịch giai đoạn 2026 - 2030, định hướng đến năm 2035.Triển khai các bước lập Quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi Danh lam thắng cảnh quốc gia đặc biệt Khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang - Lâm Bình. Chỉ đạo hướng dẫn Ủy ban nhân dân các xã, phường triển khai Đại hội thể dục, thể thao cấp xã.6. Tình hình an toàn giao thông, thiên tai và phòng chống cháy, nổ Để đảm bảo trật tự an toàn giao thông trước, trong và sau Tết Nguyên đán, lực lượng Cảnh sát giao thông đã tăng cường tuần tra, kiểm soát, xử lý vi phạm trên các tuyến đường, đặc biệt là các tuyến giao thông có lưu lượng phương tiện qua lại đông, có nguy cơ tiềm ẩn xảy ra tai nạn giao thông. Duy trì nghiêm chế độ trực sẵn sàng chiến đấu; triển khai các đợt cao điểm tấn công, trấn áp tội phạm, đảm bảo an ninh trật tự, nhất là trong dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ.6.1. Về an toàn giao thông trong thángTrên địa bàn tỉnh đã xảy ra 21 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 11 người và làm bị thương 12 người. So với tháng trước tăng 10,53% về số vụ tai nạn, tăng 10% số người chết và số người bị thương giữ nguyên. So với tháng cùng kỳ số vụ tai nạn giao thông giữ nguyên; số người chết tăng 22,22%; số người bị thương giảm 25%. 6.2. Về cháy, nổ Trong tháng trên địa bàn tỉnh xảy ra 02 vụ cháy. Không gây thiệt hại về người; tổng thiệt hại tài sản ước tính 13,3 triệu đồng. 6.3. Thiệt hại do thiên taiTrong tháng trên địa bàn tỉnh không ghi nhận các đợt thiên tai nào xảy ra. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của các đợt không khí lạnh tăng cường, trên địa bàn tỉnh xuất hiện các đợt mưa kết hợp với độ ẩm trong không khí tăng cao khiến nền nhiệt giảm mạnh, dẫn đến các đợt rét đậm, rét hại đã ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống sinh hoạt của người dân và gây hại cho cây trồng, vật nuôi. THỐNG KÊ TỈNH TUYÊN QUANG
Tình hình kinh tế - xã hội năm 2025 tỉnh Tuyên Quang
- 31/12/2025 17:03
Năm 2025, tình hình thế giới, khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường; khó khăn, thách thức lớn, nhiều yếu tố rủi ro, nổi lên là cạnh tranh chiến lược, chính sách thương mại, an ninh chính trị, xung đột vũ trang tại nhiều nơi, chính sách thuế quan thay đổi nhanh chóng, làm suy giảm triển vọng tăng trưởng kinh tế toàn cầu. Kinh tế thế giới phục hồi chậm, thiếu bền vững, niềm tin và tâm lý đầu tư, kinh doanh suy giảm. Trong nước, nền kinh tế chịu tác động mạnh từ biến động bên ngoài, thời cơ, thuận lợi và thách thức đan xen nhưng khó khăn, thách thức nhiều hơn, cùng với thiên tai, dịch bệnh, biến đổi khí hậu diễn biến khó lường. Đảng và Nhà nước ta đã, đang lãnh đạo, chỉ đạo đồng bộ nhiều quyết sách lớn về tổ chức bộ máy chính quyền 2 cấp, thể chế, pháp luật, phát triển khoa học - công nghệ, kinh tế tư nhân, hội nhập quốc tế; đột phá về phát triển giáo dục, đào tạo; giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân. Trong bối cảnh khó khăn, thách thức đan xen, tỉnh Tuyên Quang cũng chịu nhiều tác động bất lợi từ tình hình thế giới và trong nước. Một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh tiếp tục gặp khó khăn; sản xuất công nghiệp và xuất khẩu chuyển biến chậm, thu hút đầu tư còn hạn chế. Vị trí địa lý, hạ tầng giao thông chưa đồng bộ, xa các trung tâm kinh tế lớn, làm giảm tính cạnh tranh so với các tỉnh lân cận. Hoạt động xuất nhập khẩu chưa ổn định, chịu ảnh hưởng từ chính sách biên mậu của Trung Quốc và việc cắt giảm thuế quan theo các hiệp định thương mại tự do, tác động đến thu ngân sách nhà nước. Bên cạnh đó, thời tiết, khí hậu diễn biến bất thường; rét đậm, rét hại, thiên tai (nhất là cơn bão số 10, 11), dịch bệnh (nhất là dịch tả lợn Châu Phi) gây thiệt hại sản xuất và ảnh hưởng lớn đến đời sống nhân dân. Bên cạnh những khó khăn, có những yếu tố thuận lợi, đó là: Các chính sách điều hành về tiền tệ, tín dụng của Trung ương được triển khai quyết liệt trên địa bàn tỉnh, tác động tích cực đến các hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Kinh tế của tỉnh tiếp tục phát triển ổn định hơn. Các hoạt động du lịch, thương mại, dịch vụ diễn ra sôi động và tăng trưởng mạnh. Giải ngân vốn đầu tư công, các dự án lớn, trọng điểm, nhất là về kết cấu hạ tầng giao thông được quan tâm chỉ đạo sát sao để đẩy nhanh tiến độ, hoàn thành đưa vào sử dụng. Các cấp, ngành, địa phương đã nỗ lực hoàn thành khối lượng lớn công việc; bảo đảm tiến độ sắp xếp tố chức bộ máy, đơn vị hành chính theo chỉ đạo của Trung ương. Công tác đối ngoại được mở rộng, đi vào chiều sâu. Kết quả đạt được cụ thể ở các ngành, lĩnh vực như sau: I. PHÁT TRIỂN KINH TẾ 1. Tăng trưởng kinh tế năm 2025 1.1. Tốc độ tăng trưởng GRDP trên địa bàn (theo giá so sánh 2010) năm 2025 Tốc độ tăng trưởng GRDP (giá so sánh năm 2010) trên địa bàn tỉnh tăng 6,40% so với cùng kỳ năm 2024, cụ thể của các lĩnh vực như sau: 1.1.1. Khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 3,94%; đóng góp 1,06 điểm phần trăm trong mức tăng chung của GRDP. Trong đó: Nông nghiệp tăng 3,74%; lâm nghiệp tăng 4,03%; thủy sản tăng 9,6% so với cùng kỳ 2024. Ngành nông nghiệp mặc dù còn gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng của thời tiết, đặc biệt là ảnh hưởng của cơn bão số 10 và số 11; thị trường tiêu thụ nông sản, giá vật tư đầu vào nhưng cũng đã vượt mọi khó khăn đạt mức tăng trưởng tương đối ấn tượng. 1.1.2. Khu vực Công nghiệp, xây dựng tăng 7,17%, đóng góp vào tốc độ tăng trưởng chung là 1,87 điểm phần trăm. Trong đó: - Ngành công nghiệp, tăng 9,13%, với mức đóng góp 1,46 điểm phần trăm (trong đó: Ngành khai khoáng tăng 1,43%, đóng góp 0,02 điểm phần trăm; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 11,37%, đóng góp 0,85 điểm phần trăm; sản xuất và phân phối điện tăng 8,38%, đóng góp 0,60 điểm phần trăm; cung cấp nước tăng trưởng âm 3,67%, tăng trưởng âm 0,01 điểm phần trăm). - Ngành xây dựng tăng 4,05%, đóng góp 0,41 điểm phần trăm trong khu vực. Với mục tiêu “lấy đầu tư công dẫn dắt đầu tư tư”, tập trung tháo gỡ khó khăn, vướng mắc về đất đai, tài nguyên môi trường, giải phóng mặt bằng các dự án đầu tư, nhất là các dự án trọng điểm của tỉnh như: Cao tốc Tuyên Quang - Hà Giang (giai đoạn 2); đường từ Khu du lịch suối khoáng Mỹ Lâm đến Quốc lộ 2D kết nối với đường cao tốc Tuyên Quang - Phú Thọ; Dự án đầu tư xây dựng đường từ thị trấn Sơn Dương đi Tân Trào; đường Minh Ngọc - Mậu Duệ (ĐT.176B); đường Yên Bình - Cốc Pài (ĐT 178); Bệnh viện Đa khoa tỉnh tại địa điểm mới và các dự án quan trọng khác. 1.1.3. Khu vực dịch vụ tăng 7,70%, đóng góp 3,27 điểm phần trăm. Trong khu vực dịch vụ, đóng góp của một số ngành có tỷ trọng lớn vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm như sau: Bán buôn, bán lẻ và sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy tăng 7,85%, đóng góp 0,37 điểm phần trăm; vận tải kho bãi tăng 10,43%, đóng góp 0,32 điểm phần trăm; lưu trú và ăn uống tăng 11,05%, đóng góp 0,27 điểm phần trăm; hoạt động tài chính ngân hàng và bảo hiểm tăng 7,52%, đóng góp 0,31 điểm phần trăm,…Ngay từ đầu năm tỉnh đã tổ chức các hoạt động xúc tiến, quảng bá du lịch có tiềm năng phát triển như du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, du lịch cộng đồng;… 1.1.4. Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 4,40% (đóng góp 0,20 điểm phần trăm vào tốc độ tăng trưởng chung của nền kinh tế; 1.2. Quy mô và cơ cấu kinh tế 1.2.1. Quy mô tổng sản phẩm Quy mô tổng sản phẩm trên địa bàn năm 2025 (giá hiện hành) ước đạt 95.634,3 tỷ đồng. 1.2.2. Cơ cấu kinh tế Cơ cấu kinh tế tỉnh tiếp tục chuyển biến tích cực với chiều hướng tăng dần tỷ trọng khu vực dịch vụ, cụ thể như sau: Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 25,77%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 27,99%, trong cơ cấu nội hàm ngành công nghiệp đã có sự chuyển dịch theo hướng, giảm dần tỷ trọng công nghiệp khai thác, tăng dần tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo; khu vực dịch vụ chiếm 41,79%; thuế sản phầm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 4,45%. Nhìn chung, trong năm 2025 các ngành kinh tế đều có sự chuyển dịch tích cực và tiếp tục đóng góp chủ yếu vào mức tăng trưởng GRDP của toàn tỉnh, chứng tỏ các giải pháp của tỉnh đã mang lại những hiệu quả giúp cho việc chuyển dịch cơ cấu đúng hướng và mang lại hiệu quả rõ rệt. Đây là sự chuyển dịch cơ cấu tích cực phù hợp với yêu cầu thúc đẩy nhanh sự tăng trưởng kinh tế. 2. Tài chính, ngân hàng 2.1. Tình hình thu, chi ngân sách nhà nước 2.1.1. Thu ngân sách nhà nước: Tổng thu ngân sách nhà nước ước thực hiện là 6.684,6 tỷ đồng, giảm 4,3% so với cùng kỳ. Trong đó thu nội địa ước thực hiện là 6.001 tỷ đồng, giảm 6,7%. Một số khoản thu đạt khá là: Thu từ khu vực kinh tế ngoài quốc doanh là 2.296,2 tỷ đồng, tăng 16,9%; thuế Thu nhập cá nhân là 381,9 tỷ đồng, tăng 19%; thu lệ phí trước bạ là 429,9 tỷ đồng, tăng 40,1%;… Một số khoản thu thấp: Thu từ khu vực Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là 25,8 tỷ đồng, giảm 50,4%; thu tiền sử dụng đất đạt 936,9 tỷ đồng, giảm 39,5%,... 2.1.2. Chi ngân sách nhà nước: Tổng chi ngân sách nhà nước là 38.142,9 tỷ đồng, tăng 10,3% so với cùng kỳ. Trong đó: Chi đầu tư phát triển 12.247,9 tỷ đồng, tăng 3,7%; chi thường xuyên 25.889,6 tỷ đồng, tăng 13,9%;... Tỉnh đã tập trung điều hành dự toán ngân sách nhà nước chủ động chỉ đạo các cơ quan chuyên môn triển khai kịp thời việc nhập dự toán vốn đầu tư cho các công trình, dự án, tạo điều kiện thuận lợi cho các ngành, đơn vị và các huyện, thành phố triển khai tổ chức thực hiện ngay từ đầu năm, đồng thời chỉ đạo việc tích cực đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án và tiến độ giải ngân vốn đầu tư năm 2025. 2.2. Hoạt động tín dụng ngân hàng Tổng nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh ước thực hiện đến 31/12/2025 ước đạt 72.300 tỷ đồng, tăng 13,2% so với cùng kỳ. Tổng dư nợ ước thực hiện đến 31/12/2025 đạt 79.000 tỷ đồng, tăng 18,4% so với cùng kỳ. Tỷ lệ nợ xấu là 0,73%/tổng dư nợ. 3. Giá cả - Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 12 năm 2025 tăng 0,34% so với tháng trước, tăng 3,46% so với cùng kỳ năm trước. Trong số 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính thì có 7 nhóm tăng giá so với tháng trước, 4 nhóm giảm giá so với tháng trước, cụ thể của các nhóm như sau: + Có 7/11 nhóm hàng có chỉ số CPI tăng so với tháng trước, trong đó: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,87%, nguyên nhân chủ yếu là do nhóm lương thực tăng 1,9%; nhóm thực phẩm tăng 0,83%; nhóm may mặc, mũ nón và giày dép tăng 0,79% do một số mặt hàng giày, dép, quần áo mùa đông tăng giá; nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,38%, do nhu cầu sử dụng điện, nước sinh hoạt của người dân tăng cùng với đó giá thuê nhà ở tăng cao; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,41%; nhóm giáo dục tăng 0,03%; nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,09%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,12% nguyên nhân chủ yếu là do giá vàng trang sức tăng. + Có 04/11 nhóm giảm, trong đó: Nhóm đồ uống và thuốc lá giảm 0,02%; nhóm thuốc và dịch vụ y tế giảm 0,18%; nhóm giao thông giảm 0,73%, nguyên nhân chủ yếu là do giá xăng, dầu điều chỉnh giảm; nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,06%. + Chỉ số giá vàng tăng 0,21% so với tháng trước, tăng 71,94% so với cùng kỳ năm trước và tăng 81,87% so với kỳ gốc 2024. + Chỉ số giá đô la Mỹ tăng 0,09% so với tháng trước, tăng 3,06% so với cùng kỳ năm trước và tăng 4,39% so với kỳ gốc 2024. - CPI bình quân năm 2025 tăng 2,67% so với cùng kỳ năm 2024. Một số nguyên nhân cơ bản đã tác động tăng CPI là những nguyên nhân chủ yếu sau: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 3,58%, chủ yếu do nhóm hàng lương thực tăng 2,14% (do giá gạo tăng), thực phẩm tăng 3,92% (do giá thịt gia súc tăng), ăn uống ngoài gia đình tăng 3,22%; đồ uống và thuốc lá tăng 1,80%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 10,45%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 9,52%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 3,13%,…. chỉ số giá vàng tăng 48,66%, giá đô la Mỹ tăng 3,64%.4. Vốn đầu tư và xây dựng 4.1. Tình hình thực hiện vốn đầu tư 4.1.1. Vốn đầu tư phát triển toàn xã hội Ước thực hiện quý IV/2025 đạt 9.395 tỷ đồng, tăng 10,28% so với quý III/2025, giảm 1,08% so với quý cùng kỳ năm trước. Nguồn vốn từ khu vực nhà nước ước đạt 4.425,24 tỷ đồng, giảm 3,86%; nguồn vốn ngoài nhà nước ước đạt 4.964,68 tỷ đồng, tăng 1,89%; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ước đạt 5,32 tỷ đồng, giảm 76,82%. Tính chung cả năm 2025 ước đạt 32.089 tỷ đồng, tăng 2,16% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Nguồn vốn từ khu vực nhà nước ước đạt 10.523 tỷ đồng, giảm 2,17% so với cùng kỳ (chiếm 32,79% tổng nguồn vốn đầu tư); nguồn vốn đầu tư của dân cư và tư nhân ước đạt 18.258 tỷ đồng, tăng 3,96% (chiếm 56,90% tổng nguồn vốn) khu vực tư nhân chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong đầu tư phát triển toàn xã hội và giữ vai trò quan trọng trong tổng nguồn vốn, trong bối cảnh ngân sách nhà nước còn hạn hẹp rất cần các nguồn lực đầu tư từ khu vực tư nhân; vốn huy động khác ước đạt 2.060 tỷ đồng, tăng 1,41% (chiếm 6,42%); vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 54 tỷ đồng, giảm 39,31%;... 4.1.2. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước - Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước thực hiện quý IV/2025 đạt 3.320,9 tỷ đồng, giảm 4,11% so với cùng quý năm trước, trong đó: Vốn ngân sách cấp tỉnh đạt 2.535,8 tỷ đồng, tăng 6%; vốn ngân sách cấp xã đạt 785,1 tỷ đồng, giảm 23,51%. - Ước thực hiện cả năm 2025 đạt 10.163,1 tỷ đồng, giảm 3,15% so với cùng kỳ, trong đó: Vốn ngân sách cấp tỉnh đạt 7.771,6 tỷ đồng, tăng 2,39%; vốn ngân sách cấp xã đạt 2.391,6 tỷ đồng, giảm 17,65%. 4.2. Xây dựng Tổ chức lễ khởi công Dự án: Cao tốc Tuyên Quang - Hà Giang (giai đoạn 2) đoạn Tân Quang đến của khẩu quốc tế Thanh Thủy; dự án cải tạo, nâng cấp tuyến đường cách mạng từ xã Tân Trào đến xã Trung Yên (nay là xã Tân Trào, tỉnh Tuyên Quang); dự án đầu tư xây dựng Trường Chính trị đạt chuẩn giai đoạn 2022 -2030. Tổ chức Lễ thông xe kỹ thuật Dự án cao tốc Tuyên Quang - Hà Giang (giai đoạn 1) đoạn qua Hà Giang; khánh thành Dự án bảo tồn, tôn tạo Khu di tích Ban Thường vụ Quốc hội, xã Trung Yên, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Đôn đốc, đẩy mạnh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công tháng cuối năm theo Công điện số 237/CĐ-TTg ngày 06/12/2025 của Thủ tướng Chính phủ[1]. Giải ngân vốn đầu tư công từ đầu năm đến ngày 15/12/2025 đạt 6.713,745/18.012,698 tỷ đồng, đạt 37,3% kế hoạch vốn được giao, trong đó: Giải ngân vốn kế hoạch năm trước được phép kéo dài là 773,360/1.980,165 tỷ đồng, đạt 39,0% kế hoạch; Giải ngân vốn kế hoạch năm 2025 là 5.846,177/16.032,533 tỷ đồng, đạt 36,5% kế hoạch. 5. Hoạt động của doanh nghiệp 5.1. Về tình hình hoạt động của doanh nghiệp Kết quả, từ ngày 01/01/2025 đến ngày 25/12/2025, cấp giấy chứng nhận đăng ký thành lập mới cho 768 doanh nghiệp, đạt 129% kế hoạch năm (tăng 69% so với cùng kỳ năm 2024) với số vốn đăng ký trên 2.892,286 tỷ đồng (tăng 13%). Số doanh nghiệp hoạt động trở lại: 206 doanh nghiệp (tăng 10%); giải thể 110 doanh nghiệp (tăng 69%); tạm ngừng 423 doanh nghiệp (tăng 10%). Lũy kế tổng số doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh (theo Hệ thống thông tin đăng ký doanh nghiệp Quốc gia) hiện có 6.290 doanh nghiệp, với tổng số vốn đăng ký trên 92.348 tỷ đồng (trong đó có 22 doanh nghiệp có 100% vốn đầu tư nước ngoài). Nhìn chung, số lượng doanh nghiệp thành lập mới tăng trong năm 2025 cho thấy môi trường kinh doanh được cải thiện, thủ tục hành chính được quan tâm, tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong giải quyết thủ tục đầu tư, rút ngắn thời gian cấp phép kinh doanh, hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận nguồn lực đất đai, tín dụng. 5.2. Tình hình xu hướng kinh doanh của các doanh nghiệp ngành chế biến chế tạo quý IV năm 2025 Tổng hợp kết quả phiếu điều tra xu hướng của các doanh nghiệp công nghiệp chế biến chế tạo cho thấy có 75,44% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh quý IV/2025 so với quý III/2025 tốt hơn và giữ ổn định (31,58% doanh nghiệp dự báo tốt hơn; 43,86% giữ ổn định), trong khi có 24,56% số doanh nghiệp cho rằng khó khăn hơn. Dự báo quý I/2026 xu hướng sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp công nghiệp chế biến, chế tạo trên địa bàn tỉnh khó khăn hơn so với quý IV/2025 khi chỉ có 22,81% doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp tốt hơn (trong đó có ngành: sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy; in, sao chép bản ghi các loại; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất); 42,11% doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp giữ ổn định (trong đó có ngành: Sản xuất trang phục; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan; chế biến gỗ và các sản phẩm từ gỗ, tre, nứa; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic; sản xuất kim loại; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học); 35,09% doanh nghiệp dự báo tình hình sản xuất kinh doanh khó khăn hơn. 6. Kết quả sản xuất Nông, lâm nghiệp và thủy sản năm 2025 6.1. Trồng trọt 6.1.1. Kết quả sản xuất nông nghiệp năm 2025 Sản xuất nông nghiệp năm 2025 diễn ra trong bối cảnh khó khăn và thuận lợi đan xen: mặt tích cực là sự phục hồi mạnh mẽ tại các địa phương bị ảnh hưởng bởi cơn bão YAGI năm 2024, mặt khác là những thiệt hại nặng nề do mưa lớn và hoàn lưu Bão số 10 (BUALOI) gây ra tại một số khu vực trên địa bàn tỉnh. Tuy nhiên, với tinh thần chủ động vượt khó, sự chỉ đạo sát sao của các cấp các ngành trên địa bàn, sản xuất nông nghiệp toàn tỉnh vẫn đạt được những kết quả tích cực. - Cây lúa: Diện tích cả năm đạt 80.811,4 ha, tăng 2,48% so với cùng kỳ, ước tính năng suất lúa bình quân chung 58,55 tạ/ha, tăng 0,48%. Sản lượng ước tính 473.149,9 tấn, tăng 2,98%. - Cây ngô: Trồng được 74.403,5 ha tăng 1,72%; năng suất đạt 39,44 tạ/ha, tăng 1,45%; sản lượng 293.421 tấn, tăng 3,19%. - Cây khoai lang: trồng được 3.344,2 ha, tăng 0,29%; năng suất đạt 64,59 tạ/ha, giảm 0,05%; sản lượng đạt 21.599 tấn, tăng 0,24%. - Cây đậu tương: trồng được 11.005,5 ha, giảm 9,3%; năng suất đạt 15,63tạ/ha, tăng 0,49%; sản lượng đạt 17.206 tấn, giảm 8,85%. - Cây lạc: năng suất đạt 27,91 tạ/ha, giảm 0,04%; sản lượng đạt 36.884,5 tấn, giảm 1,6%. 6.1.2. Sản xuất vụ mùa Đông năm 2025 - Ngô lấy hạt: Diện tích đạt 6.912,0 ha, giảm 2,87% so với cùng kỳ. Diện tích gieo trồng ngô giảm chủ yếu tại các xã Vị Xuyên, Linh Hồ do một số diện tích bãi bồi ven sông bị ngập lụt, không gieo trồng được. Mặt khác diện tích bãi chăn thả của trâu, bò hạn hẹp, thức ăn cho gia súc ngày càng khan hiếm một số xã Hùng An, Đồng Yên, Quang Bình, Bằng Lang, Tiên Yên bà con chuyển đổi cây trồng từ cây ngô lấy hạt sang trồng cây ngô sinh khối, chính vì vậy diện tích ngô giảm so với vụ cùng kỳ năm trước. - Khoai lang: Diện tích đạt 1.338 ha, tăng 5,18%. Diện tích gieo trồng khoai lang tăng tại các xã Khâu Vai, Kiến Đài, Mèo Vạc, Phú Lương. - Đậu tương: Diện tích gieo trồng đạt 63,7 ha, bằng 91,01% so với cùng kỳ. Diện tích gieo trồng đậu tương giảm tại xã Tri Phú, Linh Phú. - Lạc: Diện tích gieo trồng đạt 43,59 ha, bằng 83,14% so với cùng kỳ. Diện tích gieo trồng lạc giảm tại xã Tân Mỹ. - Rau các loại: Diện tích gieo trồng đạt 12.207 ha, giảm 0,35% so với cùng kỳ. Diện tích gieo trồng chậm do ảnh hưởng của cơn bão BUALOI làm một số diện tích bị ngập, thời gian thu hoạch vụ Mùa bị kéo dài gây ảnh hưởng tiến độ gieo trồng vụ Đông - Diện tích gieo trồng cây đậu các loại đạt 1.197,50 ha, tăng 74,59%. Diện tích gieo trồng tăng tại các xã Bản Máy, Đồng Văn, Lũng Cú, Phố Bảng. 6.1.3 Cây lâu năm a. Diện tích Qua số liệu điều tra chính thức diện tích ngày 01/11/2025. Toàn tỉnh Tuyên Quang hiện có 58.100,93 ha, giảm 3,96% (giảm 2.398,69 ha) so với cùng kỳ năm 2024. Nguyên nhân diện tích giảm nhiều do phần lớn diện tích cây lâu năm đã đến tuổi già cỗi, kém hiệu quả không mang lại giá trị kinh tế (như cây cam, quýt, nhãn...) và ngoài ra một phần do nhà nước lấy đất mở đường quốc lộ (xã Bắc Quang) dẫn đến diện tích trồng cây lâu năm giảm so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể diện tích các nhóm cây giảm như sau: Cây ăn quả là 26.690,22 ha, giảm 7,48% (giảm 2.157,02 ha); cây chè là 27.427,87 ha, giảm 2,03% (giảm 567,67ha); cây dược liệu lâu năm là 1.306,98 ha, giảm 1,84%; ở chiều ngược lại cây lâu năm khác là 994,15 ha, tăng 36,08%, tăng, giảm cụ thể ở từng nhóm cây ăn quả như sau: Các loại quả có múi thuộc họ cam, quýt diện tích hiện có 15.074 ha giảm 11,85% (giảm 2.026,52ha) so với cùng kỳ 2024 và (giảm chính trong nhóm này là cây cam). Trong đó: Diện tích cây cam hiện có 7.332,20 ha, giảm 21,35% (giảm 1.990,38 ha); cây quýt 262,81 ha, giảm 13,97% (giảm 42,69 ha); cây chanh 1.959,05 ha, tăng 7,46% (tăng 136,03 ha ); cây bưởi 5.447,65 ha, giảm 2,16% (giảm 120,46 ha). Năm 2025 diện tích cây cam vẫn tiếp tục giảm mạnh, giảm cụ thể ở các xã Phù Lưu, xã Tân Thành, xã Yên Lâm, xã Vĩnh Tuy và xã Đồng Yên ... do một số diện tích cây cho sản phẩm đã già cỗi, chết, nấm sâu bệnh và năng suất thấp, nên người dân đã chuyển đổi sang trồng cây ăn quả khác đem lại giá trị kinh tế cao hơn. Táo, mận và các loại quả có hạt như táo diện tích hiện có 3.487,39 ha, tăng 0,61% (tăng 21,30 ha). Trong đó: Cây táo là 147,58 ha, tăng 2,28% (tăng 3,29 ha); cây mận là 1.411,67 ha, tăng 0,21% (tăng 2,96 ha); cây lê 1.325,68 ha, tăng 1,06% (tăng 13,94 ha). Nhóm này có sự tăng nhẹ về diện tích do cây trồng phân bố già hoá đều, và có sự đan sen trồng mới thay thế cây đến tuổi già cỗi. Nhãn, vải diện tích hiện có 1.459,63 ha, giảm 5,07% (giảm 77,89 ha). Trong đó: Cây nhãn là 1.032,83 ha, giảm 6,51% (giảm 71,94 ha); cây vải là 426,80 ha, giảm 1,38% (giảm 5,98ha). Nhóm cây nhãn, vải diện tích giảm nhiều do cây đã đến tuổi già cỗi, lâu năm chậm phát triển nên người dân chặt phá bỏ chuyển sang mục đích trồng cây khác. Cây chè: Toàn tỉnh diện tích hiện có 27.427,87 ha, giảm 2,03% (giảm 567,67 ha). Diện tích chè vẫn tiếp tục giảm do một phần diện tích trồng chè của xã Bắc Quang nhà nước thu hồi đất sử dụng mục đích mở đường quốc lộ và phát triển một số dự án xây dựng mới sau sát nhập. Chia theo thành phần kinh tế: Tư nhân là 3.582,27 ha; cá thể là 23.845,60 ha. b. Sản lượng Sản lượng cây cam ước đạt 90.494,74 tấn, giảm 21,62%; cây quýt ước đạt 1.962,08 tấn, giảm 15,19%; cây chanh ước đạt 9.891,10 tấn tăng 10,44%; cây bưởi ước đạt 55.192,40 tấn tăng 4,75%. Sản lượng cây cam, quýt sơ bộ giảm nhiều so với cùng kỳ,nguyên nhân chính là do diện tích cho sản phẩm già cỗi kém năng suất giảm nên sản lượng giảm. Tuy nhiên sản lượng cây chanh năm nay lại tăng cao, tăng 10,44% (tăng 934,76 tấn) so với cùng kỳ năm trước, sản lượng cây chanh tăng phần lớn là do diện tích cho sản phẩm đang thời kỳ thu hoạch. Cây táo sản lượng ước đạt 842,75 tấn, giảm 0,12% so với cùng kỳ năm trước; cây mận ước đạt 2.842,57 tấn, tăng 3,52%; cây đào sản lượng ước đạt 1.509,66 tấn, tăng 2,75%; cây lê ước đạt 3.852,85 tấn, tăng 5,38%. Năng suất nhóm cây táo, mận và các loại quả có hạt như táo năm nay cho năng suất tăng do thời kỳ cây đang đơm hoa kết trái khí hậu thời tiết thuận lợi cây trồng phát triển. Sản lượng cây nhãn đạt 6.397,88 tấn, tăng 7,87%; cây vải đạt 2.411,23 tấn, tăng 8,45%. Sản lượng chè ước đạt 159.225,62 tấn, giảm 1,03% so với cùng kỳ năm 2024. Chia ra thành phần kinh tế: tư nhân là 32.567,05 tấn; cá thể là 126.658,57 tấn. 6.2. Tình hình sinh vật gây hại a. Cây hàng năm vụ Đông: Bệnh đốm lá, khô vằn trên ngô và sâu ăn lá trên rau họ thập tự gia tăng. Nguyên nhân: Thời tiết sương mù dày ban sáng và nắng hanh ban ngày tạo điều kiện cho nấm bệnh và sâu tơ phát triển. b. Cây lâu năm: Bệnh vàng lá thối rễ đã gây hại cho diện tích 58 ha đất trồng cam tại xã Hàm Yên và các vùng lân cận. Nguyên nhân: Do độ ẩm đất thay đổi đột ngột sau mưa bão và ảnh hưởng lâu dài của bệnh Greening trên các vườn cây già cỗi. 6.3. Về chăn nuôi Tỉnh đã kịp thời ban hành các chính sách hỗ trợ khuyến khích các hộ dân phát triển chăn nuôi tăng dần các hộ có quy mô lớn, chăn nuôi tập trung đồng thời áp dụng kỹ thuật tiên tiến, giảm dần các hộ nuôi nhỏ lẻ, từng bước đưa chăn nuôi phát triển bền vững. Đàn lợn trong năm 2025, bệnh dịch tả lợn Châu phi bùng phát mạnh ở nhiều xã trên địa bàn tỉnh và phát sinh một số dịch bệnh khác tại một số địa phương trong tỉnh dịch bệnh gia súc, gia cầm phát sinh nhưng mức độ thiệt hại không đáng kể; sản lượng sản phẩm chăn nuôi có sự tăng nhẹ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng thực phẩm trong tỉnh. 6.3.1. Về số lượng đàn gia súc, gia cầm Tình hình chăn nuôi trong tháng duy trì ổn định, không có biến động lớn. Công tác phòng chống dịch bệnh được chú trọng, đặc biệt là các bệnh nguy hiểm như Dịch tả lợn Châu Phi. Dự ước đàn gia súc, gia cầm tháng 12/2025: - Đàn trâu: Tổng đàn là 217.289 con, giảm 3,15% (giảm 7.078 con) so với cùng kỳ năm 2024. - Đàn bò: Tổng đàn là 175.898 con, tăng 0,51% (tăng 892 con). Trong đó: Bò sữa 6.781 con, tăng 0,27% (tăng 18 con). - Đàn lợn: Tổng đàn là 1.200.818 con, giảm 2,99% (giảm 37.018 con). - Đàn gia cầm: Tổng đàn là 14.154,07 nghìn con, tăng 3,38% (tăng 462,5 nghìn con). 6.3.2. Về sản phẩm đàn gia súc, gia cầm Ước năm 2025, đàn trâu sản lượng đạt 14.492 tấn, tăng 7,60% so với cùng kỳ năm 2024; đàn bò đạt 7.581 tấn, tăng 9,53%; đàn lợn đạt 120.306 tấn, tăng 6,65%; đàn gia cầm đạt 38.313 tấn, tăng 7,01%. Trong năm 2025, chăn nuôi gia cầm trên địa bàn tỉnh luôn được các ngành chức năng quan tâm và phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về thịt gia cầm; trên địa bàn tỉnh đã xuất hiện nhiều mô hình trang trại chăn nuôi gia cầm tiên tiến chủ yếu chăn nuôi gà, theo hướng liên kết hiệu quả kinh tế cao. 6.4. Công tác phòng chống dịch bệnh gia súc, gia cầm 6.4.1. Công tác phòng chống và điều trị Chi cục Thú y trên địa bàn tỉnh luôn chủ động phối hợp với các xã, phường trên địa bàn, đồng thời theo dõi chặt chẽ tình hình dịch bệnh gia súc, gia cầm, thuỷ sản, đặc biệt các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm như bệnh Dịch tả lợn Châu phi. Triển khai thực hiện đồng bộ các giải pháp phòng, chống dịch bệnh động vật. Trong tháng dịch tả lợn Châu Phi phát sinh tại 346 hộ, 17 thôn, số lợn tiêu hủy là 3.745 con/174.565 kg. Luỹ kế từ ngày 05/7/2025 đến ngày 15/12/2025, toàn tỉnh ghi nhận 198.085 con lợn mắc bệnh buộc tiêu hủy tại 21.481 hộ/1.992 thôn/117 xã; tổng khối lượng 9.764.998 kg. Đến ngày 15/12/2025 đã có 92 xã qua 21 ngày không phát sinh ca mắc bệnh mới, 66 xã đã công bố hết dịch. 6.4.2. Công tác tiêm phòng: Triển khai kế hoạch tiêm phòng trên đàn gia súc, gia cầm vụ Thu – Đông. Kiểm soát giết mổ và kiểm tra vệ sinh thú y năm 2025 được 46.444 con gia súc, gia cầm. Kết quả cụ thể như sau: Đàn trâu: 109.457 lượt tiêm, trong đó: Vắc xin LMLM 104.330 con, vắc xin THT 4.636 con, vắc xin VDNC 491 con. Đàn bò: 108.100 lượt tiêm, trong đó: vắc xin LMLM 100.976 con, vắc xin THT 5.543 con, vắc xin VDNC 1.581 con. Đàn lợn: 110.059 lượt tiêm, trong đó: vắc xin LMLM 17.052 con, vắc xin THT 65.285 con, vắc xin Dịch tả lợn 27.028 con, vắc xin Dịch tả lợn Châu Phi 695 con. Đàn gia cầm: 1.015.003 lượt tiêm, trong đó: vắc xin THT 447.177 con, vắc xin Newcastle, Lasota 424.266 con. Đàn chó: 67.073 lượt con. Đàn dê: 545 lượt con. 6.5. Công tác kiểm dịch vận chuyển động vật và công tác kiểm soát giết mổ Tiếp tục thực hiện chặt chẽ đúng quy định công tác kiểm dịch vận chuyển ngoài tỉnh, kết quả: Trong tháng 12 đã kiểm tra cấp 402 giấy chứng nhận kiểm dịch vận chuyểnTrong đó: 218 chuyến với 15.123 con gia súc, gia cầm, 184 chuyến với 3.419.000 kg sữa tươi nguyên liệu. Lũy kế từ đầu năm đến nay đã cấp 4.164 giấy chứng nhận kiểm dịch vận chuyển. Trong đó: 2.181 chuyến vận chuyển 284.201 con gia súc, gia cầm và 5.760 con cá giống; 1.983 chuyến vận chuyển 37.433.647 kg sữa tươi nguyên liệu và 16.040 kg sản phẩm động vật chế biến làm thức ăn chăn nuôi, các lô hàng được vận chuyển đi các tỉnh: Bắc Ninh, Hà Nội, Cao Bằng... 6.6. Về sản xuất lâm nghiệp 6.6.1. Công tác trồng rừng Ước tính trong tháng 12 tổng diện tích rừng trồng tập trung toàn tỉnh đã trồng được 212,47 ha, bằng 98,22% so với cùng kỳ năm 2024. Cộng dồn 12 tháng toàn tỉnh đã trồng được 14.758,57 ha, bằng 87,02% so với cùng kỳ. Diện tích trồng mới giảm do đã vào cuối năm, nguồn vốn hỗ trợ trồng rừng bị cắt giảm. Tại các xã Phú Linh, Quảng Ngần, Thượng Bình, Tiên Yên giảm diện tích trồng cây Giang. 6.6.2. Khai thác gỗ rừng trồng Ước tính tháng 12 toàn tỉnh khai thác được 148.128,28 m3 gỗ, tăng 19,31% (tăng 23.970 m3) so với cùng kỳ. Cộng dồn 12 tháng toàn tỉnh đã khai thác được 1.436.661,08 m3, tăng 3,1% (tăng 43.189 m3) so với cùng kỳ. Sản lượng khai thác trong tháng đã tăng trở lại so với tháng trước do thời tiết thuận lợi, các xưởng sản xuất tăng thu mua gỗ sau thời gian khắc phục thiên tai, ngoài ra nhu cầu khai thác dùng cho xây dựng nhà cửa của người dân tăng cao dẫn đến sản lượng khai thác tăng. 6.6.3. Công tác quản lý bảo vệ rừng Công tác quản lý, bảo vệ rừng được các cấp, các ngành quan tâm, đồng thời tuyên truyền, vận động nhân dân tích cực tham gia thực hiện kế hoạch trồng rừng năm 2025; tuyên truyền, phổ biến giáo dục cho người dân nâng cao nhận thức về các chính sách quản lý bảo vệ và phát triển rừng; tăng cường kiểm tra, ngăn chặn việc phá rừng, đốt rừng, triệt phá các đường dây buôn bán, vận chuyển lâm sản trái phép. Thường xuyên cảnh báo nguy cơ cháy rừng, đẩy mạnh tuyên truyền về công tác phòng cháy chữa cháy rừng; phối hợp chặt chẽ với cơ quan chức năng và chính quyền cơ sở, các chủ rừng tăng cường kiểm tra, kiểm soát, phát hiện kịp thời, xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật các hành vi xâm hại rừng. Theo báo cáo của Chi cục Kiểm lâm tỉnh, Trong tháng không phát sinh vụ cháy rừng. Lũy kế 12 tháng xảy ra 27 vụ, tăng 125% về số vụ, diện tích thiệt hại là 64,72 ha, tăng 115,24%; trong tháng không xảy ra vụ chặt phá rừng. Lũy kế 12 tháng xảy ra 36 vụ phá rừng giảm 27 vụ so với cùng kỳ năm trước, diện tích rừng bị phá 10,09 ha giảm 12,96 ha. Số vụ phá rừng và diện tích rừng bị phá giảm mạnh do cơ quan chức năng tăng cường kiểm tra, giám sát, phát hiện và ngăn chặn kịp thời. 6.7. Về thuỷ sản Là tỉnh miền núi có nhiều sông, ngòi, là điều kiện thuận lợi để phát triển nhiều loại hình nuôi trồng thủy sản, đa dạng hóa đối tượng nuôi và phương thức nuôi trồng. Nuôi cá lồng trên sông, hồ chứa nhiều tiềm năng, lợi thế để phát triển đem lại hiệu quả kinh tế cao vừa tận dụng được tài nguyên đất đai, nguồn nước, giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho các hộ nông dân. Bên cạnh đó việc thực hiện cơ chế, chính sách cho vay vốn phát triển cá đặc sản (cá Anh vũ, Chiên, Lăng, Bỗng...) để khuyến khích các hộ dân, doanh nghiệp đầu tư, mở rộng quy mô, phát triển mạnh số lượng lồng nuôi các đặc sản trên sông, hồ thủy điện được tỉnh và các địa phương quan tâm, đặc biệt là phát triển lồng nuôi có kích thước lớn (trên 100 m3). Lũy kế 12 tháng tổng sản lượng thủy sản đạt 16.453,2 tấn, tăng 11,26%. Trong đó: sản lượng cá nuôi trồng đạt 14.326 tấn, tăng 8,80%; sản lượng tôm đạt 3,10 tấn, tăng 21,09%; sản lượng thủy sản khác đạt 21,37 tấn, tăng 53,85%; sản lượng thủy sản khai thác đạt 2.102,7, tăng 12,84%. Sản lượng cá tăng cao so với cùng kỳ do điều kiện thời tiết năm 2025 tương đối thuận lợi cho nuôi trồng thủy sản, số lượng thủy sản thiệt hại do mưa lũ thấp hơn hẳn so với năm trước. Người dân chủ động mở rộng diện tích và tăng mật độ thả giống (đặc biệt là mô hình nuôi ốc và tôm) tại xã Quang Minh, Vô Điếm, Vị Xuyên. 7. Sản xuất công nghiệp 7.1. Về phát triển công nghiệp trong tháng - Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) trong tháng giảm 9,68% so với tháng trước, tăng 2,46% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Ngành sản xuất và và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí giảm 41,04%, tăng 46,73%; khai khoáng tăng 0,23%, giảm 38,92%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 4,71%, giảm 3,23%; cung cấp nước và hoạt động thu gom xử lý rác, nước thải giảm 7,83%, tăng 10,75%. - Trong tháng, một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng so với tháng trước và tăng so với cùng kỳ năm trước như: Chè (trà) nguyên chất đạt 1.642 tấn, tăng 7,04%, tăng 15,61%; sắt, thép không hợp kim dạng thỏi đạt 30.000 tấn, tăng 2,18%, tăng 6,01%; mangan và các sản phẩm của mangan đạt 1.050 tấn, tăng 25%, tăng 43,28%;...Tuy nhiên, cũng có một số sản phẩm công nghiệp giảm so với tháng trước và giảm so với cùng kỳ như: Đá xây dựng đạt 49.619 tấn, giảm 1,59%, giảm 46,61%; bột Felspat đạt 9.000 tấn, giảm 3,23%, giảm 3,23%;… 7.2. Về phát triển công nghiệp trong quý IV/2025 - Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) quý IV/2025 ước tính tăng 7,89% so với quý cùng kỳ, trong đó: Sản xuất và phân phối điện tăng 38,09%; cung cấp nước và xử lý rác, nước thải tăng 11,56%; khai khoáng giảm 32,20%; công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 0,54%. - Trong quý IV/2025 một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu của tỉnh đạt mức tăng trưởng khá so với quý cùng kỳ như: Mangan và các sản phẩm từ mangan tăng 37,55%; điện sản xuất tăng 41,28%; điện thương phẩm tăng 4,18%;... Tuy nhiên, cũng có một số sản phẩm công nghiệp giảm so với quý cùng kỳ như: Cát tự nhiên giảm 11,50%; bột Felspat giảm 0,49%; xi măng giảm 4,75%; giày dép thể thao có mũ bằng da giảm 26,12%;…… 7.3. Về phát triển công nghiệp năm 2025 - Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp cả năm 2025 tăng 7,17% so với cùng kỳ năm trước, Chia theo từng ngành kinh tế cấp I như sau: + Ngành khai khoáng giảm 8,74%. Nguyên nhân do một số công ty khai thác quặng kim loại gặp khó khăn nên tạm ngừng hoạt động sản xuất làm cho sản lượng khai thác giảm so với cùng kỳ. + Ngành sản xuất và phân phối điện tăng 11,41%, nguyên nhân là do lượng mưa từ đầu năm đến nay nhiều hơn và kết thúc muộn hơn so với cùng kỳ, các nhà máy thủy điện trên địa bàn tỉnh đã tích nước tận dụng được tối đa nguồn tài nguyên nước để sản xuất điện. + Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 6,07%, trong đó: Sản xuất chế biến thực phẩm tăng 4,65%; dệt tăng 57,52%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 0,77%; sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 61,23%; giường, tủ, bàn, ghế tăng 20,46%,... + Ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 1,59%: nguyên nhân: Do hoạt động thu gom, xử lý và tiêu hủy rác thải tăng so với cùng kỳ. - Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng so với cùng kỳ năm trước như: Điện sản xuất tăng 11,27%; bột Felspat tăng 12,24%; xi măng tăng 7,19%; giày, dép thể thao có mũ bằng da tăng 0,77%;… Tuy nhiên, một số sản phẩm công nghiệp có chiều hướng giảm so với cùng kỳ như: Áo sơ mi cho người lớn giảm 17,97%; bột barit giảm 65,77%;… Nhìn chung, các doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất trong lĩnh vực công nghiệp hoạt động ổn định, tiếp tục tập trung thu hút đầu tư phát triển các cụm công nghiệp trên trên địa bàn tỉnh. Tổ chức khởi công Dự án hạ tầng kỹ thuật Cụm công nghiệp Xuân Vân; Dự án Nhà máy điện sinh khối Tuyên Quang. Rà soát, đôn đốc tiến độ xây dựng hạ tầng Cụm công nghiệp Ninh Lai -Thiện Kế, An Hòa - Long Bình An, Xuân Vân, Phúc Ứng 2. Thành lập mới 03 Cụm công nghiệp (Phúc Ứng 2, Phúc Ứng 3 và Nhữ Khê). Đề xuất lựa chọn Cụm công nghiệp Phúc Ứng 2 thí điểm theo mô hình Cụm công nghiệp thông minh trên địa bàn tỉnh. 8. Thương mại và Dịch vụ Thực hiện có hiệu quả các hoạt động xúc tiến thương mại năm 2025. Tăng cường kiểm tra ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trên địa bàn. 8.1. Doanh thu bán lẻ hàng hóa Doanh thu bán lẻ hàng hóa trong tháng ước đạt 4.955 tỷ đồng, tăng 2,93% so với tháng trước, tăng 12,94% so với tháng cùng kỳ. Trong đó, một số nhóm hàng tăng so với tháng trước, tăng so với cùng kỳ, cụ thể như sau: Hàng lương thực, thực phẩm đạt 1.531 tỷ đồng, tăng 2,06%, tăng 4,50%; may mặc đạt 380 tỷ đồng, tăng 4,64%, tăng 24,29%; đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình đạt 511 tỷ đồng, tăng 5,70%, tăng 8,87%;… Tính chung trong quý IV/2025, doanh thu bán lẻ hàng hóa ước đạt 14.286 tỷ đồng, tăng 11,15% so với quý cùng kỳ. Tính chung cả năm 2025, doanh thu bán lẻ hàng hóa ước đạt 51.425 tỷ đồng, tăng 12,20% so với cùng kỳ. 8.2. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ khác - Trong tháng, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 644 tỷ đồng, tăng 2,55% so với tháng trước, tăng 29,81% so với cùng kỳ. Trong đó: Dịch vụ lưu trú đạt 65 tỷ đồng, tăng 1,56%, tăng 27,83%; ăn uống đạt 579 tỷ đồng, tăng 2,66%, tăng 30,04%. Tính chung trong quý IV/2025 dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 1.809 tỷ đồng, tăng 26,68% so với quý cùng kỳ. Tính chung cả năm 2025, dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 6.518 tỷ đồng, tăng 18,49% so với cùng kỳ. - Trong tháng, doanh thu du lịch lữ hành ước đạt 8 tỷ đồng, tăng 0,69% so với tháng trước, tăng 130,73% so với cùng kỳ. Tính chung trong quý IV/2025 du lịch lữ hành ước đạt 19 tỷ đồng, tăng 110,88% so quý cùng kỳ. Tính chung cả đầu năm 2025 du lịch lữ hành ước đạt 56 tỷ đồng, tăng 70,04%. - Doanh thu dịch vụ khác trong tháng ước đạt 258 tỷ đồng, tăng 6,05% so với tháng trước, tăng 25,08% so với cùng kỳ. Tính chung trong quý IV/2025 dịch vụ khác ước đạt 722 tỷ đồng, tăng 14,88% so quý cùng kỳ. Tính chung cả năm 2025, dịch vụ khác ước đạt 2.585 tỷ đồng, tăng 16,10% so với cùng kỳ. 8.3. Xuất, nhập khẩu hàng hóa Hoạt động xuất nhập khẩu có chuyển biến tích cực tại cửa khẩu quốc tế Thanh Thủy - Thiên Bảo. Thường xuyên nắm bắt tình hình, kịp thời hỗ trợ các doanh nghiệp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu trong bối cảnh thị trường thế giới có nhiều biến động Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa trong năm 2025 ước đạt 801,8 triệu USD, tăng 116,1% so với cùng kỳ. Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa ước đạt 230 triệu USD, tăng 26,1% so với cùng kỳ. Một số mặt hàng nhập khẩu chính được dùng làm nguyên liệu phục vụ sản xuất hàng may mặc tiếp tục tăng, cho thấy những dấu hiệu trong phục hồi trong sản xuất may mặc. 9. Vận tải hàng hóa và hành khách Từ đầu năm đến nay, nhu cầu đi du lịch, lễ hội và vận chuyển hàng hóa của người dân tăng cao. Hoạt động vận tải, kho bãi tăng khá. Các doanh nghiệp bưu chính, viễn thông bảo đảm an toàn, an ninh trong quá trình cung ứng dịch vụ bưu chính; an toàn mạng lưới, thông tin liên lạc thông suốt đáp ứng nhu cầu thông tin liên lạc của các cơ quan nhà nước, tổ chức, doanh nghiệp và người dân. 9.1. Doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải - Doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải tháng 12 ước đạt 589,95 tỷ đồng, tăng 8,59% so với tháng trước, tăng 2% so với cùng kỳ. Trong đó, vận tải hành khách ước đạt 110,88 tỷ đồng, tăng 6,32%, tăng 1,92%; vận tải hàng hóa ước đạt 476,73 tỷ đồng, tăng 9,10%, tăng 2%; kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 1,52 tỷ đồng, tăng 16,56%, tăng 6,55%; bưu chính, chuyển phát đạt 0,82 tỷ đồng, tăng 11,87%, tăng 8,91%. - Ước thực hiện quý IV/2025 doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 1.623,85 tỷ đồng, tăng 2,16% so với quý cùng kỳ. Trong đó, vận tải hành khách ước đạt 311,71 tỷ đồng, tăng 1,11%; vận tải hàng hóa ước đạt 1.305,93 tỷ đồng, tăng 2,40%; kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 4,03 tỷ đồng, tăng 9,53%; bưu chính, chuyển phát đạt 2,18 tỷ đồng, tăng 3,51%. - Năm 2025, doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 6.295,15 tỷ đồng, tăng 13,86% so với cùng kỳ. Trong đó, doanh thu vận tải hành khách ước đạt 1.276,55 tỷ đồng, tăng 14,86%; vận tải hàng hóa ước đạt 4.991,58 tỷ đồng, tăng 13,60%; kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 19,05 tỷ đồng, tăng 14,67%; bưu chính, chuyển phát đạt 7,97 tỷ đồng, tăng 10,20%. 9.2. Vận tải hành khách và hàng hóa 9.2.1. Vận tải hành khách - Hành khách vận chuyển trong tháng 12 ước đạt 1,74 triệu lượt hành khách, tăng 4,24% so với tháng trước, tăng 1,36% so với cùng kỳ; khối lượng hành khách luân chuyển ước đạt 162,32 triệu lượt hành khách.km, tăng 5,59%, tăng 4,19%. - Ước thực hiện quý IV/2025, hành khách vận chuyển ước đạt 4,95 triệu lượt hành khách, tăng 1,66% so với quý cùng kỳ; hành khách luân chuyển ước đạt 428,62 triệu lượt hành khách.km, tăng 4,78%. - Năm 2025, hành khách vận chuyển ước đạt 20,54 triệu lượt hành khách, tăng 14,14% so với cùng kỳ; hành khách luân chuyển ước đạt 1.762,0 triệu lượt hành khách.km, tăng 13,29%. 9.2.2. Vận tải hàng hóa - Hàng hóa vận chuyển trong tháng 12 ước đạt 2,98 triệu tấn, tăng 12,40% so với tháng trước, tăng 1,35% so với cùng kỳ; hàng hóa luân chuyển ước đạt 192,15 triệu tấn.km, tăng 9,09%, tăng 3,01%. - Ước thực hiện quý IV/2025, hàng hóa vận chuyển ước đạt 8,16 triệu tấn, tăng 0,92% so với quý cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 529,07 triệu tấn.km, tăng 3,77%. - Năm 2025, hàng hóa vận chuyển ước đạt 32,62 triệu tấn, tăng 13,53% so với cùng kỳ; hàng hóa luân chuyển ước đạt 2.042,57 triệu tấn.km, tăng 13,31%. 10. Về du lịch Tổ chức thành công nhiều sự kiện, các hoạt động kích cầu du lịch, sự kiện văn hóa, các lễ hội truyền thống thu hút đông đảo du khách[2]; thương hiệu du lịch Tuyên Quang được khẳng định mạnh mẽ qua hàng loạt giải thưởng quốc gia và quốc tế như: World Travel Awards (WTA) trao tặng 02 danh hiệu cho Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Cao nguyên đá Đồng Văn là “Điểm đến Văn hóa khu vực hàng đầu châu Á 2025" và “Điềm đến Văn hóa khu vực hàng đầu thế giới 2025. Khu du lịch sinh thái Panhou Retreat (xã Thông Nguyên) được WTA 2025 vinh danh là “Khu du lịch sinh thái hàng đầu châu Á năm 2025. Thôn Lô Lô Chải (xã Lũng Cú) được UNTourism công nhận là “Làng Du lịch Tốt nhất Thế giới 2025. Giải thưởng Du lịch Việt Nam 2025 tôn vinh Khu nghỉ dưỡng H’mong Village (Lùng Tám) là “Khách sạn xanh tốt nhất ” và Làng du lịch Pả Vi Hạ là “Điếm du lịch cộng đồng tiêu biểu nhất Việt Nam. Trong tháng 12, toàn tỉnh đón 359.763 lượt khách du lịch, tổng chi tiêu khách du lịch đạt 993,2 tỷ đồng; lũy kế cả năm đón 3.926.027 lượt khách, đạt 109,1% kế hoạch, tổng chi tiêu khách du lịch đạt 10.633 tỷ đồng, bằng 113% kế hoạch. II. LĨNH VỰC VĂN HÓA - XÃ HỘI 1. Về lao động việc làm Đẩy mạnh hoạt động thông tin thị trường lao động, tư vấn, giới thiệu việc làm; tăng cường giải pháp kết nối cung - cầu lao động thông qua hoạt động phiên giao dịch việc làm Online nhằm hỗ trợ người lao động tìm kiếm việc làm; quan tâm triến khai công tác đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng và thời vụ tại Hàn Quốc, Trung Quốc theo các Thỏa thuận hợp tác; tăng cường công tác quản lý nhà nước về lao động, tiền lương và cấp giấy phép lao động cho người nước ngoài làm việc tại tỉnh; xây dụng quan hệ lao động hài hòa, ổn định; phát triển đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội. Triển khai Kế hoạch thực hiện thu thập, cập nhật, chỉnh sửa thông tin về người lao động gắn với cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư trên địa bàn tỉnh năm 2025. Tiếp tục thực hiện các giải pháp hỗ trợ, tạo việc làm cho người lao động; hướng dẫn, thực hiện cấp giấy phép lao động cho người nước ngoài; Trong tháng 12 tạo việc làm cho 298 lao động, ước cả năm tạo việc làm cho 44.730 lao động, đạt 106,5% kế hoạch. 2. Đời sống dân cư Từ đầu năm đến nay, tình hình đời sống dân cư trên địa bàn tỉnh tiếp tục ổn định. Giá cả các mặt hàng thiết yếu không có biến động lớn, duy trì sự bình ổn. Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong các khu, cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh cơ bản đạt kế hoạch đề ra, đa số doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả và phát triển, không xảy ra tình trạng cắt giảm giờ làm, nghỉ việc, nghỉ luân phiên và chấm dứt hợp đồng với người lao động, đời sống của người lao động trong các công ty đang dần được cải thiện. Tiếp tục triển khai, thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững năm 2025; Thành lập BCĐ triển khai kế hoạch rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ làm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp có mức sống trung bình cuối năm 2025. Hoàn thành Kế hoạch xóa nhà tạm, nhà dột nát cho hộ gia đình có người có công với cách mạng, hộ nghèo, hộ cận nghèo và hộ gia đình khó khăn về nhà ở; số nhà đã hoàn thành đưa vào sử dụng 15.064 nhà, đạt 100% kế hoạch. Phân bổ, hỗ trợ và vận động nguồn kinh phí để hỗ trợ khắc phục hậu quả thiên tai (hoàn lưu bão số 10, 11) với tổng số tiền là 529,6 tỷ đồng (trong đó: 200 tỷ từ nguồn ngân sách trung ương; 133,6 tỷ từ nguồn dự phòng ngân sách tỉnh năm 2025; 170,8 tỳ từ nguồn huy động ủng hộ, đóng góp thông qua ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh)[3], cấp phát 703.905 kg gạo cứu đói từ nguồn dự trữ quốc gia cho các hộ gia đình thiếu đói do ảnh hưởng của cơn bão số 10 tại 46 xã, phường đảm bảo đúng quy định, đúng đối tượng. 3. Công tác người có công, giảm nghèo, bảo trợ xã hội và phòng chống tệ nạn xã hội Duy trì chi trả trợ cấp thường xuyên cho trên 9.000 người có công và thân nhân người có công; giải quyết chính sách, chế độ người có công và đối tượng chính sách khác cho 1.670 đối tượng, với tổng kinh phí 38.427,035 triệu đồng. Công tác thăm, tặng quà và tổ chức các hoạt động tri ân người có công và thân nhân liệt sỹ nhân dịp Tết Nguyên đán, kỷ niệm các ngày Lễ trong năm 2025 được thực hiện trang trọng, kịp thời, ý nghĩa[4]. Chú trọng thực hiện công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em; công tác bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ; tăng cường phòng, chống tệ nạn xã hội. Duy trì công tác tiếp nhận, quản lý, điều trị, cai nghiện cho người nghiện ma túy tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh, tại thời điểm báo cáo Cơ sở đang quản lý tổng 228 học viên cai nghiện ma túy bắt buộc. Cai nghiện bắt buộc 217 học viên, cai nghiện tự nguyện 11 học viên. 4. Hoạt động giáo dục và đào tạo Ban hành Chương trình nâng cao chất lượng giáo dục mầm non tại địa bàn đô thị và khu công nghiệp giai đoạn 2025-2035, định hướng đến năm 2045[5]; Kế hoạch bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống các dân tộc trong các cơ sở giáo dục giai đoạn 2025-2030[6]. Xây dựng Đề án phát triển Giáo dục và Đào tạo đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045[7]. Tăng cường quản lý, giáo dục nâng cao nhận thức và chấp hành pháp luật đối với học sinh, sinh viên[8]. Hoàn thành việc tổ chức thi học kỳ 1 năm học 2025-2026. Tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia toàn tỉnh: Mầm non đạt 64,4%; tiểu học đạt 74,6%; THCS đạt 61,5%; THPT đạt 46,7%. 5. Hoạt động y tế Triển khai Chương trình hành động số 12-CTr/TU ngày 18/11/2025 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh thực hiện Nghị quyết số 72-NQ/TW ngày 09/9/2025 của Bộ Chính trị về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân. Trong tháng 12 tổ chức khám, chữa bệnh cho 249.024 lượt người; ước cả năm khám, chữa bệnh 2.590.460 lượt người. Tỷ lệ trẻ em dưới 01 tuổi được tiêm đủ các loại vắc xin đạt 91,9,% kế hoạch. Tỷ lệ người dân có thẻ bảo hiểm y tế đạt 97%. 6. Hoạt động văn hoá, thể dục, thể thao Hoàn thành dự án Bảo tồn, tôn tạo Khu di tích lịch sử quốc gia đặc biệt Tân Trào; dự án Bảo tồn, tôn tạo Khu di tích Ban Thường trực Quốc hội, xã Trung Yên; dự án Bảo tồn Làng văn hóa truyền thống dân tộc Tày, thôn Bản Bung, xã Thanh Tương... Tổ chức thành công giải Võ cổ truyền tỉnh[9]; tham gia Hội thi thể thao các dân tộc thiểu số toàn quốc lần thứ XIV khu vực I năm 2025[10] và Giải Đua thuyền Canoeing Cup vô địch các đội mạnh quốc gia năm 2025[11]. 7. Tình hình an toàn giao thông, thiên tai và phòng chống cháy, nổ 7.1. Về an toàn giao thông Trong tháng, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 19 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 10 người và bị thương 12 người. So với tháng trước tăng 5,56% về số vụ tai nạn, số người chết giảm 9,09%, số người bị thương tăng 100%. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông tăng 5,56%, số người chết tăng 66,67%, số người bị thương giảm 33,33%. Trong quý IV/2025, toàn tỉnh đã xảy ra 54 vụ tai nạn giao thông, làm chết 34 người và làm bị thương 29 người. So với cùng quý trước: Số vụ tai nạn giao thông tăng 28,57%; số người chết tăng 3,03%; số người bị thương tăng 20,83%. Trong năm 2025, toàn tỉnh đã xảy ra 244 vụ tai nạn giao thông, 132 người chết và 167 người bị thương. So với cùng kỳ năm trước: Số vụ tai nạn giao thông giảm 2,4%; số người chết giảm 0,75%; số người bị thương giảm 9,73%. 7.2. Về cháy nổ Tháng 12/2025, toàn tỉnh xảy ra 02 vụ cháy, nổ. Tính chung cả năm 2025, trên địa bàn tỉnh xảy ra 20 vụ cháy, làm 03 người chết, 01 người bị thương, thiệt hại về tài sản ước tính 10.821 triệu đồng. 7.3. Thiệt hại do thiên tai 7.3.1. Thiệt hại do thiên tai năm 2025 Trong năm 2025 trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang đã xảy ra 23 đợt thiên tai mưa lớn, lũ, sạt lở gây thiệt hại về tài sản của người dân trên địa bàn: Ước tính thiệt hại khoảng 5.246 tỷ đồng. - Thiệt hại về người: 17 người chết; 16 người bị thương. - Thiệt hại về nhà ở: 30.694 nhà (Trong đó: 186 nhà thiệt hại trên 70%; 300 nhà thiệt hại từ 50-70%; 490 nhà thiệt hại từ 30-50%; 2.395 nhà thiệt hại dưới 30%; 26.590 nhà bị ngập nước, phải di dời khẩn cấp; 737 nhà có nguy cơ bị ảnh hưởng do sạt lở); - Thiệt hại về nông nghiệp: Diện tích lúa bị ảnh hưởng, thiệt hại: 6.207 ha lúa bị ngập, thiệt hại (Trong đó: 3.995 ha bị ngập, thiệt hại trên 70%; 1.928 ha bị ngập, thiệt hại từ 30-70%; 284 ha bị ngập, thiệt hại dưới 30%); Diện tích ngô, hoa màu bị ảnh hưởng, thiệt hại: 4.948 ha. Diện tích cây trồng lâu năm bị ảnh hưởng, thiệt hại: 1.000 ha; Diện tích cây trồng hàng năm, cây ăn quả bị ảnh hưởng, thiệt hại: 390 ha. Thiệt hại về chăn nuôi: Gia súc: 3.083 con; Gia cầm: 116.997 con; Ong mật: 338 đàn; Các loại vật nuôi khác: 102 con. - Thiệt hại về giao thông: Đường Quốc lộ: Nhiều vị trí sạt lở, ách tắc giao thông; Chiều dài sạt lở, hư hỏng: 9.841 m; Chiều dài bị ngập: 2.380m; Khối lượng sạt lở đất, đá: 129.838 m3; Đường giao thông địa phương: Nhiều vị trí sạt lở, ách tắc giao thông; chiều dài sạt lở, hư hỏng: 132.894m; 582.993 m3 đất, đá sạt lở; 69 cây cầu, 101 cống qua đường bị hư hỏng; - Thiệt hại về thuỷ lợi: 06 công trình, 1.084 m kênh bị hư hỏng; - Thiệt hại khác: thiệt hại về công nghiệp 333 cột điện bị đổ, gãy; 06 trạm biến thế bị hư hỏng; 1.433m đường dây điện bị đứt; 67 nhà xưởng bị thiệt hại; 840m bị sạt và 29.900 m2 bị bong xô kè bờ thuỷ điện; thông tin liên lạc: 160 cột treo cáp bị gãy, đổ; 262 nhà trạm, 14 tuyến cáp bị hư hỏng; Nước sạch: 51 công trình cấp nước sinh hoạt nông thôn bị hư hỏng; 38 trụ sở cơ quan, 25 chợ, trung tâm thương mại, 06 nhà kho bị hư hỏng,… cùng nhiều trang thiết bị, vật tư, đồ dùng trang thiết bị khác. 8. Một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm năm 2026 Năm 2026 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là năm tố chức Đại hội toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI, bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp và năm đầu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2026-2030, bước vào Kỷ nguyên vươn mình phát triển giàu mạnh, thịnh vượng của dân tộc với mục tiêu tăng trưởng hai con số ngay từ năm đầu nhiệm kỳ. Với quyết tâm hoàn thành cao nhất các mục tiêu, chỉ tiêu kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh đã đề ra trong năm 2026. Để phấn đấu hoàn thành các mục tiêu theo kế hoạch cần phải tiếp tục thực hiện tốt một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm sau: 1. Về phát triển kinh tế: Thúc đẩy phát triển kinh tế nông nghiệp nhanh, hiệu quả, bền vững, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp gắn với hình thành các chuỗi liên kết trong sản xuất, chế biến tiêu thụ sản phẩm. Xây dựng Đề án phát triển nông nghiệp bền vững gắn với kinh tế nông nghiệp xanh, nông nghiệp số và mục tiêu xây dựng nông thôn, nông dân giàu có. Tập trung phát triển vùng nguyên liệu, ứng dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật nhằm nâng cao giá trị sản xuất trồng trọt tính trên đơn vị diện tích; nhân rộng các mô hình sản xuất hiệu quả. Thực hiện có hiệu quả Chương trình Mỗi xã một sản phẩm (OCOP) năm 2026, chú trọng xây dựng và phát triển giá trị thương hiệu các sản phẩm nông nghiệp; quan tâm tái công nhận các sản phẩm OCOP, Viet GAP; Đề án “Xây dụng Tuyên Quang trở thành Khu Lâm nghiệp úng dụng công nghệ cao và Trung tâm sản xuất, chế biển gẫ”, từng bước tiếp cận thị trường tín chỉ carbon trong ngành lâm nghiệp và thúc đẩy phát triển kinh tế rừng. Quản lý chặt chẽ việc khai thác gỗ rừng trồng, việc kinh doanh, chế biến lâm sản. Đẩy mạnh hoạt động xúc tiến đầu tư, tranh thủ tối đa các nguồn lực của Trung ương và địa phương để đầu tư hoàn thiện kết cấu hạ tầng cụm công nghiệp. Tiếp tục kêu gọi các doanh nghiệp có năng lực đầu tư và kinh doanh hạ tầng kỹ thuật các khu, cụm công nghiệp. Hoàn thành đầu tư xây dựng hạ tầng các cụm công nghiệp đã thành lập trên địa bàn tỉnh, như: Ninh Lai - Thiện Kế, An Hòa - Long Bình An, Xuân Vân, Phúc Ứng 2, Nam Quang, Tân Bắc,...Thu hút đầu tư các dự án sản xuất, chế biến gỗ, cơ khí, điện tử, năng lượng tái tạo, đặc biệt là những dự án quy mô lớn, trong đó ưu tiên đầu tư các dự án chế tạo, gia công máy móc thiết bị. Phát triến công nghiệp hỗ trợ với mục tiêu tạo nền tảng cho phát triển các ngành công nghiệp chủ lực của tỉnh bền vững và thân thiện với môi trường. Tăng cường công tác thông tin tuyên truyền, tư vấn về chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và phát triển bền vũng trong hoạt động thương mại, phân phối tiêu dùng. Tích cực triển khai đổi mới, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động xúc tiến thương mại, xây dựng, quảng bá thương hiệu, kết nối cung cầu cho một số sản phẩm chủ yếu của tỉnh. Tiếp tục triển khai đầu tư xây dựng, quản lý, khai thác chợ trên địa bàn tỉnh. Tăng cường thực hiện công tác đấu tranh chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả trong tình hình mới. Tập trung triển khai các kế hoạch, chương trình, nhiệm vụ trọng tâm về phát triến kinh tế biên mậu, thúc đẩy xuất nhập khẩu. Triển khai đồng bộ các giải pháp phát triển hệ thống hạ tầng và các dịch vụ hỗ trợ xuất nhập khẩu. Đẩy mạnh các hoạt động hội đàm, trao đổi thông tin, xúc tiến thương mại với các cơ quan đồng cấp phía Trung Quốc để duy trì, phát triển hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa qua các cửa khấu của tỉnh. Tích cực triến khai đồng bộ các Hiệp định thương mại song phương và đa phương mà hai bên cùng tham gia ký kết. Hỗ trợ nâng cao năng lực cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu trên địa bàn. Nâng cao chất lượng, hiệu quả các ngành dịch vụ: vận tải, bưu chính, viễn thông, thương mại, xuất khẩu... phát triển các loại hình dịch vụ mới có giá trị gia tăng cao phù họp với định hướng phát triến của tỉnh, như: giáo dục, đào tạo, văn hoá, y tế, tài chính, ngân hàng, khoa học công nghệ,...; đẩy mạnh xã hội hoá các dịch vụ công. Phát huy tiềm năng, lợi thế, bản sắc văn hoá, không gian, cảnh quan, di sản để thúc đẩy du lịch theo hướng chuyên nghiệp, xanh, đặc trưng, bền vững, sớm đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh. Tiếp tục triển khai chiến lược truyền thông và tham gia bình chọn Giải thưởng Du lịch Thế giới, giữ vững danh hiệu “Điểm đến văn hóa khu vực hàng đầu Châu Á Tập trung các nguồn lực đầu tư, phát triển hạ tầng phục vụ phát triển du lịch; chú trọng thu hút đầu tư các dịch vụ nghỉ dưỡng, khu vui chơi, giải trí cao cấp; dịch vụ mua sắm, ẩm thực; phát triển các làng nghề truyền thống... 2. Cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh; phát triển các thành phần kinh tế và thu hút đầu tư: Tập trung triển khai các nhiệm vụ, giải pháp thực hiện Chương trình của Tỉnh ủy và Kế hoạch của ƯBND tỉnh về thực hiện Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân. Đẩy mạnh triển khai các nhiệm vụ, giải pháp về cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh, tạo môi trường đầu tư thông thoáng, thuận lợi, thu hút các nhà đầu tư, tập đoàn lớn, tiềm năng đến đầu tư tại tỉnh, cắt giảm, đơn giản hóa 30% thủ tục hành chính, thời gian thực hiện thủ tục hành chính thuộc phạm vi chức năng quản lý của tỉnh có liên quan đến hoạt động đầu tư, sản xuất kinh doanh; công khai, minh bạch các thủ tục về đầu tư, kinh doanh; đẩy mạnh việc hỗ trợ người dân, doanh nghiệp sử dụng dịch vụ công trực tuyến không phụ thuộc vào địa giới hành chính. Triển khai thực hiện các cơ chế, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp, kinh tế tư nhân, kinh tế tập thể, hợp tác xã về vốn, đất đai, thị trường, thuế,... Chú trọng phát triên kinh tế tập thế; quan tâm xây dựng một số hợp tác xã gắn với tổ chức sản xuất theo chuỗi giá trị, đáp ứng nhu cầu thị trường. Tiếp tục thực hiện cơ câu lại, đôi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp có vốn nhà nước; hoàn thành việc sắp xếp, thoái vốn nhà nước đối với doanh nghiệp do tỉnh quản lý theo lộ trình, kế hoạch đã được phê duyệt. Triển khai Chương trình Xúc tiến đầu tư năm 2026; nâng cao hiệu quả, chất lượng công tác tư vấn, xúc tiến đầu tư và hỗ trợ nhà đầu tư tìm hiểu, lập và triển khai dự án. Tập trung tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ thi công, hoàn thành các dự án đầu tư ngoài ngân sách nhất là một số dự án trọng điếm. Rà soát, phân loại tiến độ thực hiện các dự án để có biện pháp xử lý phù hợp; kiên quyết thu hồi các dự án, nhà đầu tư không đủ năng lực theo quy định. 3. Văn hóa - xã hội: Tiếp tục triển khai đồng bộ các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông; tố chức triển khai thực hiện hiệu quả Kế hoạch năm học 2025 - 2026. Chú trọng bố trí, sử dụng giáo viên đảm bảo hợp lý, quan tâm bố trí giáo viên tại các trường học vùng sâu, vùng xa; đổi mới phương pháp dạy học, kiếm tra đánh giá chất lượng giáo dục, đảm bảo thực chất, chống bệnh thành tích. Tiếp tục thực hiện các giải pháp để nâng cao chất lượng giáo dục đại trà; huy động trẻ đi nhà trẻ. Rà soát, sắp xếp lại quy mô trường lớp theo hướng tinh gọn, hiệu quả; mở rộng mạng lưới trường ngoài công lập; tiếp tục xây dựng và thực hiện Đề án đầu tư xây dựng, nâng cấp các trường tiểu học, trung học cơ sở thành trường nội trú liên cấp tại các xã biên giới; củng cố hệ thống trường mầm non đạt chuẩn. Thực hiện đồng bộ các giải pháp nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh, hướng tới sự hài lòng của người bệnh tại các tuyến y tế. Tiếp tục kiện toàn, hoàn thiện hệ thống tổ chức y tế và tăng cường quản lý nhân lực y tế sau sáp nhập, đảm bảo tinh gọn, phù hợp và đạt hiệu quả cao. Thực hiện sắp xếp lại các trạm y tế đảm bảo đạt tiêu chí mỗi trạm y tế xã có 02 bác sĩ trở lên. Tăng cường thực hiện hiệu quả các thỏa thuận đã ký kết hợp tác với các bệnh viện tuyến Trung ương trong việc tiếp nhận hỗ trợ chuyên môn, chuyển giao kỹ thuật, đào tạo nâng cao chất lượng khám chữa bệnh tại các tuyến. Tiếp tục xây dựng Bệnh viện Đa khoa tỉnh trở thành Trung tâm khoa học, kỹ thuật y tế, chuyển giao công nghệ, đảm bảo chăm sóc sức khỏe nhân dân tuyến Đông Bắc; chuẩn bị đầy đủ phương án và các điều kiện bảo đảm Bệnh viện Đa khoa tỉnh tại địa điểm mới đi vào hoạt động ngay sau khi hoàn thành đầu tư xây dựng. Đẩy mạnh hoạt động thông tin thị trường lao động, tư vấn, giới thiệu việc làm; tăng cường giải pháp kết nối cung - cầu lao động thông qua hoạt động phiên giao dịch việc làm Online nhằm hỗ trợ người lao động tìm kiếm việc làm; quan tâm triến khai công tác đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng và thời vụ tại Hàn Quốc, Trung Quốc theo các thỏa thuận hợp tác; tăng cường công tác quản lý nhà nước về lao động, tiền lương và cấp giấy phép lao động cho người nước ngoài làm việc tại tỉnh; xây dụng quan hệ lao động hài hòa, ổn định; phát triển đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội. Thực hiện kịp thời, đầy đủ chính sách người có công với cách mạng và thân nhân; làm tốt công tác "Đền ơn đáp nghĩa"; tích cực phối hợp thực hiện công tác tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ, phối hợp lấy mẫu hài cốt giám định ADN xác định danh tính liệt sĩ. Quan tâm rà soát nhà tạm, nhà dột nát để tiếp tục hỗ trợ. Thực hiện tốt công tác trợ giúp xã hội, thúc đẩy bình đẳng giới, bảo đảm quyền trẻ em. 4. Quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường; thích ứng với biến đổi khí hậu: Tiếp tục hoàn thiện hệ thống văn bản pháp lý liên quan đến quản lý đất đai, môi trường và tài nguyên, đảm bảo tính đồng bộ và hiệu quả trong triển khai thực hiện. Đẩy nhanh tiến độ triển khai Dự án xây dựng hệ thống hồ sơ địa chính và cơ sở dữ liệu quản lý đất đai tỉnh Tuyên Quang; đề án tăng cường quản lý đối với đất đai có nguồn gốc từ các nông, lâm trường; tổ chức thực hiện kiểm kê đất đai cấp xã và lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất. Kịp thời giải quyết tháo gỡ khó khăn về thủ tục đất đai cho các dự án phát triển kinh tế - xã hội; các khó khăn, vướng mắc trong công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng. 5. Phát triển khoa học, công nghệ; đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số Quản lý, tổ chức thực hiện các đề tài, dự án khoa học và công nghệ cấp tỉnh năm 2026 đảm bảo tiến độ, đạt chất lượng, mang lại hiệu quả; đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao khoa học, công nghệ trên các lĩnh vực, chú trọng ứng dụng công nghệ cao trong tạo giống, thâm canh, thu hoạch, bảo quản, chế biến các sản phẩm nông, lâm nghiệp, thủy sản chủ lực, đặc sản, có lợi thế của tỉnh gắn với việc xây dựng nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, dần hình thành được vùng sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao quy mô lớn và đẩy mạnh ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn sản xuất, đời sống. Đẩy mạnh thực hiện Kế hoạch phát triển hạ tầng số tỉnh Tuyên Quang, kế hoạch chuyển đối số tỉnh Tuyên Quang năm 2026. Tiếp tục triển khai các giải pháp kỹ thuật hợp nhất hạ tầng thông tin, hạ tầng số của tỉnh; ưu tiên đầu tư phủ sóng di động tại các vùng sâu, vùng xa, vùng trắng, lõm sóng; tăng cường vùng phủ sóng 4G/5G. Vận hành ổn định hệ thống điều hành thông minh, nền tảng tích hợp chia sẻ dữ liệu, trung tâm tích hợp dữ liệu; phát triển chính quyền số, kinh tế số, xã hội số đồng bộ từ cấp tỉnh đến cơ sở. Thực hiện có hiệu quả phong trào “Bình dân học vụ số”; “Phổ cập kỹ năng số cho người dân” thông qua các Tố công nghệ số cộng đồng.6. Quốc phòng, an ninh và đối ngoại: Triển khai thực hiện đồng bộ, toàn diện các nhiệm vụ, giải pháp chiến lược về bảo vệ tổ quốc, bảo vệ an ninh quốc gia, tăng cường lực lượng, phương tiện cho công tác tuần tra, kiểm soát, ngăn chặn các trường hợp xâm phạm, buôn lậu, xuất nhập cảnh trái phép, đấu tranh phòng chống tội phạm, giữ gìn an ninh trật tự khu vực biên giới. Thực hiện tốt nhiệm vụ bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm và nhiệm vụ quốc phòng. Xây dựng cơ sở chính trị vững mạnh, giúp nhân dân phát triển kinh tế, xoá đói, giảm nghèo. Triển khai các giải pháp ứng phó, bảo đảm trật tự an toàn giao thông, phòng, chống cháy, nổ và cứu nạn, cứu hộ. Giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, tôn giáo, không đế phát sinh “điểm nóng”. Hoàn thành 100% chỉ tiêu tuyển quân và hoàn thành nhiệm vụ quân sự, quốc phòng theo kế hoạch. Tiếp tục đẩy mạnh rà phá bom, mìn, vật nổ và tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sỹ. Nâng cao chất lượng điều tra, giải quyết các loại án đảm bảo đúng pháp luật. THỐNG KÊ TỈNH TUYÊN QUANG
Tình hình kinh tế - xã hội năm 2025 tỉnh Tuyên Quang
- 21/01/2026 08:14
Năm 2025, tình hình thế giới, khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường; khó khăn, thách thức lớn, nhiều yếu tố rủi ro, nổi lên là cạnh tranh chiến lược, chính sách thương mại, an ninh chính trị, xung đột vũ trang tại nhiều nơi, chính sách thuế quan thay đổi nhanh chóng, làm suy giảm triển vọng tăng trưởng kinh tế toàn cầu. Kinh tế thế giới phục hồi chậm, thiếu bền vững, niềm tin và tâm lý đầu tư, kinh doanh suy giảm. Trong nước, nền kinh tế chịu tác động mạnh từ biến động bên ngoài, thời cơ, thuận lợi và thách thức đan xen nhưng khó khăn, thách thức nhiều hơn, cùng với thiên tai, dịch bệnh, biến đổi khí hậu diễn biến khó lường. Đảng và Nhà nước ta đã, đang lãnh đạo, chỉ đạo đồng bộ nhiều quyết sách lớn về tổ chức bộ máy chính quyền 2 cấp, thể chế, pháp luật, phát triển khoa học - công nghệ, kinh tế tư nhân, hội nhập quốc tế; đột phá về phát triển giáo dục, đào tạo; giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân. Trong bối cảnh khó khăn, thách thức đan xen, tỉnh Tuyên Quang cũng chịu nhiều tác động bất lợi từ tình hình thế giới và trong nước. Một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh tiếp tục gặp khó khăn; sản xuất công nghiệp và xuất khẩu chuyển biến chậm, thu hút đầu tư còn hạn chế. Vị trí địa lý, hạ tầng giao thông chưa đồng bộ, xa các trung tâm kinh tế lớn, làm giảm tính cạnh tranh so với các tỉnh lân cận. Hoạt động xuất nhập khẩu chưa ổn định, chịu ảnh hưởng từ chính sách biên mậu của Trung Quốc và việc cắt giảm thuế quan theo các hiệp định thương mại tự do, tác động đến thu ngân sách nhà nước. Bên cạnh đó, thời tiết, khí hậu diễn biến bất thường; rét đậm, rét hại, thiên tai (nhất là cơn bão số 10, 11), dịch bệnh (nhất là dịch tả lợn Châu Phi) gây thiệt hại sản xuất và ảnh hưởng lớn đến đời sống nhân dân. Bên cạnh những khó khăn, có những yếu tố thuận lợi, đó là: Các chính sách điều hành về tiền tệ, tín dụng của Trung ương được triển khai quyết liệt trên địa bàn tỉnh, tác động tích cực đến các hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Kinh tế của tỉnh tiếp tục phát triển ổn định hơn. Các hoạt động du lịch, thương mại, dịch vụ diễn ra sôi động và tăng trưởng mạnh. Giải ngân vốn đầu tư công, các dự án lớn, trọng điểm, nhất là về kết cấu hạ tầng giao thông được quan tâm chỉ đạo sát sao để đẩy nhanh tiến độ, hoàn thành đưa vào sử dụng. Các cấp, ngành, địa phương đã nỗ lực hoàn thành khối lượng lớn công việc; bảo đảm tiến độ sắp xếp tố chức bộ máy, đơn vị hành chính theo chỉ đạo của Trung ương. Công tác đối ngoại được mở rộng, đi vào chiều sâu. Kết quả đạt được cụ thể ở các ngành, lĩnh vực như sau: I. PHÁT TRIỂN KINH TẾ 1. Tăng trưởng kinh tế năm 2025 1.1. Tốc độ tăng trưởng GRDP trên địa bàn (theo giá so sánh 2010) năm 2025 Tốc độ tăng trưởng GRDP (giá so sánh năm 2010) trên địa bàn tỉnh tăng 6,40% so với cùng kỳ năm 2024, cụ thể của các lĩnh vực như sau: 1.1.1. Khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 3,94%; đóng góp 1,06 điểm phần trăm trong mức tăng chung của GRDP. Trong đó: Nông nghiệp tăng 3,74%; lâm nghiệp tăng 4,03%; thủy sản tăng 9,6% so với cùng kỳ 2024. Ngành nông nghiệp mặc dù còn gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng của thời tiết, đặc biệt là ảnh hưởng của cơn bão số 10 và số 11; thị trường tiêu thụ nông sản, giá vật tư đầu vào nhưng cũng đã vượt mọi khó khăn đạt mức tăng trưởng tương đối ấn tượng. 1.1.2. Khu vực Công nghiệp, xây dựng tăng 7,17%, đóng góp vào tốc độ tăng trưởng chung là 1,87 điểm phần trăm. Trong đó: - Ngành công nghiệp, tăng 9,13%, với mức đóng góp 1,46 điểm phần trăm (trong đó: Ngành khai khoáng tăng 1,43%, đóng góp 0,02 điểm phần trăm; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 11,37%, đóng góp 0,85 điểm phần trăm; sản xuất và phân phối điện tăng 8,38%, đóng góp 0,60 điểm phần trăm; cung cấp nước tăng trưởng âm 3,67%, tăng trưởng âm 0,01 điểm phần trăm). - Ngành xây dựng tăng 4,05%, đóng góp 0,41 điểm phần trăm trong khu vực. Với mục tiêu “lấy đầu tư công dẫn dắt đầu tư tư”, tập trung tháo gỡ khó khăn, vướng mắc về đất đai, tài nguyên môi trường, giải phóng mặt bằng các dự án đầu tư, nhất là các dự án trọng điểm của tỉnh như: Cao tốc Tuyên Quang - Hà Giang (giai đoạn 2); đường từ Khu du lịch suối khoáng Mỹ Lâm đến Quốc lộ 2D kết nối với đường cao tốc Tuyên Quang - Phú Thọ; Dự án đầu tư xây dựng đường từ thị trấn Sơn Dương đi Tân Trào; đường Minh Ngọc - Mậu Duệ (ĐT.176B); đường Yên Bình - Cốc Pài (ĐT 178); Bệnh viện Đa khoa tỉnh tại địa điểm mới và các dự án quan trọng khác. 1.1.3. Khu vực dịch vụ tăng 7,70%, đóng góp 3,27 điểm phần trăm. Trong khu vực dịch vụ, đóng góp của một số ngành có tỷ trọng lớn vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm như sau: Bán buôn, bán lẻ và sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy tăng 7,85%, đóng góp 0,37 điểm phần trăm; vận tải kho bãi tăng 10,43%, đóng góp 0,32 điểm phần trăm; lưu trú và ăn uống tăng 11,05%, đóng góp 0,27 điểm phần trăm; hoạt động tài chính ngân hàng và bảo hiểm tăng 7,52%, đóng góp 0,31 điểm phần trăm,…Ngay từ đầu năm tỉnh đã tổ chức các hoạt động xúc tiến, quảng bá du lịch có tiềm năng phát triển như du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, du lịch cộng đồng;… 1.1.4. Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 4,40% (đóng góp 0,20 điểm phần trăm vào tốc độ tăng trưởng chung của nền kinh tế; 1.2. Quy mô và cơ cấu kinh tế 1.2.1. Quy mô tổng sản phẩm Quy mô tổng sản phẩm trên địa bàn năm 2025 (giá hiện hành) ước đạt 95.634,3 tỷ đồng. 1.2.2. Cơ cấu kinh tế Cơ cấu kinh tế tỉnh tiếp tục chuyển biến tích cực với chiều hướng tăng dần tỷ trọng khu vực dịch vụ, cụ thể như sau: Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 25,77%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 27,99%, trong cơ cấu nội hàm ngành công nghiệp đã có sự chuyển dịch theo hướng, giảm dần tỷ trọng công nghiệp khai thác, tăng dần tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo; khu vực dịch vụ chiếm 41,79%; thuế sản phầm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 4,45%. Nhìn chung, trong năm 2025 các ngành kinh tế đều có sự chuyển dịch tích cực và tiếp tục đóng góp chủ yếu vào mức tăng trưởng GRDP của toàn tỉnh, chứng tỏ các giải pháp của tỉnh đã mang lại những hiệu quả giúp cho việc chuyển dịch cơ cấu đúng hướng và mang lại hiệu quả rõ rệt. Đây là sự chuyển dịch cơ cấu tích cực phù hợp với yêu cầu thúc đẩy nhanh sự tăng trưởng kinh tế. 2. Tài chính, ngân hàng 2.1. Tình hình thu, chi ngân sách nhà nước 2.1.1. Thu ngân sách nhà nước: Tổng thu ngân sách nhà nước ước thực hiện là 6.684,6 tỷ đồng, giảm 4,3% so với cùng kỳ. Trong đó thu nội địa ước thực hiện là 6.001 tỷ đồng, giảm 6,7%. Một số khoản thu đạt khá là: Thu từ khu vực kinh tế ngoài quốc doanh là 2.296,2 tỷ đồng, tăng 16,9%; thuế Thu nhập cá nhân là 381,9 tỷ đồng, tăng 19%; thu lệ phí trước bạ là 429,9 tỷ đồng, tăng 40,1%;… Một số khoản thu thấp: Thu từ khu vực Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là 25,8 tỷ đồng, giảm 50,4%; thu tiền sử dụng đất đạt 936,9 tỷ đồng, giảm 39,5%,... 2.1.2. Chi ngân sách nhà nước: Tổng chi ngân sách nhà nước là 38.142,9 tỷ đồng, tăng 10,3% so với cùng kỳ. Trong đó: Chi đầu tư phát triển 12.247,9 tỷ đồng, tăng 3,7%; chi thường xuyên 25.889,6 tỷ đồng, tăng 13,9%;... Tỉnh đã tập trung điều hành dự toán ngân sách nhà nước chủ động chỉ đạo các cơ quan chuyên môn triển khai kịp thời việc nhập dự toán vốn đầu tư cho các công trình, dự án, tạo điều kiện thuận lợi cho các ngành, đơn vị và các huyện, thành phố triển khai tổ chức thực hiện ngay từ đầu năm, đồng thời chỉ đạo việc tích cực đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án và tiến độ giải ngân vốn đầu tư năm 2025. 2.2. Hoạt động tín dụng ngân hàng Tổng nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh ước thực hiện đến 31/12/2025 ước đạt 72.300 tỷ đồng, tăng 13,2% so với cùng kỳ. Tổng dư nợ ước thực hiện đến 31/12/2025 đạt 79.000 tỷ đồng, tăng 18,4% so với cùng kỳ. Tỷ lệ nợ xấu là 0,73%/tổng dư nợ. 3. Giá cả - Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 12 năm 2025 tăng 0,34% so với tháng trước, tăng 3,46% so với cùng kỳ năm trước. Trong số 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính thì có 7 nhóm tăng giá so với tháng trước, 4 nhóm giảm giá so với tháng trước, cụ thể của các nhóm như sau: + Có 7/11 nhóm hàng có chỉ số CPI tăng so với tháng trước, trong đó: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,87%, nguyên nhân chủ yếu là do nhóm lương thực tăng 1,9%; nhóm thực phẩm tăng 0,83%; nhóm may mặc, mũ nón và giày dép tăng 0,79% do một số mặt hàng giày, dép, quần áo mùa đông tăng giá; nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,38%, do nhu cầu sử dụng điện, nước sinh hoạt của người dân tăng cùng với đó giá thuê nhà ở tăng cao; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,41%; nhóm giáo dục tăng 0,03%; nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,09%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,12% nguyên nhân chủ yếu là do giá vàng trang sức tăng. + Có 04/11 nhóm giảm, trong đó: Nhóm đồ uống và thuốc lá giảm 0,02%; nhóm thuốc và dịch vụ y tế giảm 0,18%; nhóm giao thông giảm 0,73%, nguyên nhân chủ yếu là do giá xăng, dầu điều chỉnh giảm; nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,06%. + Chỉ số giá vàng tăng 0,21% so với tháng trước, tăng 71,94% so với cùng kỳ năm trước và tăng 81,87% so với kỳ gốc 2024. + Chỉ số giá đô la Mỹ tăng 0,09% so với tháng trước, tăng 3,06% so với cùng kỳ năm trước và tăng 4,39% so với kỳ gốc 2024. - CPI bình quân năm 2025 tăng 2,67% so với cùng kỳ năm 2024. Một số nguyên nhân cơ bản đã tác động tăng CPI là những nguyên nhân chủ yếu sau: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 3,58%, chủ yếu do nhóm hàng lương thực tăng 2,14% (do giá gạo tăng), thực phẩm tăng 3,92% (do giá thịt gia súc tăng), ăn uống ngoài gia đình tăng 3,22%; đồ uống và thuốc lá tăng 1,80%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 10,45%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 9,52%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 3,13%,…. chỉ số giá vàng tăng 48,66%, giá đô la Mỹ tăng 3,64%. 4. Vốn đầu tư và xây dựng 4.1. Tình hình thực hiện vốn đầu tư 4.1.1. Vốn đầu tư phát triển toàn xã hội Ước thực hiện quý IV/2025 đạt 9.395 tỷ đồng, tăng 10,28% so với quý III/2025, giảm 1,08% so với quý cùng kỳ năm trước. Nguồn vốn từ khu vực nhà nước ước đạt 4.425,24 tỷ đồng, giảm 3,86%; nguồn vốn ngoài nhà nước ước đạt 4.964,68 tỷ đồng, tăng 1,89%; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ước đạt 5,32 tỷ đồng, giảm 76,82%. Tính chung cả năm 2025 ước đạt 32.089 tỷ đồng, tăng 2,16% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Nguồn vốn từ khu vực nhà nước ước đạt 10.523 tỷ đồng, giảm 2,17% so với cùng kỳ (chiếm 32,79% tổng nguồn vốn đầu tư); nguồn vốn đầu tư của dân cư và tư nhân ước đạt 18.258 tỷ đồng, tăng 3,96% (chiếm 56,90% tổng nguồn vốn) khu vực tư nhân chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong đầu tư phát triển toàn xã hội và giữ vai trò quan trọng trong tổng nguồn vốn, trong bối cảnh ngân sách nhà nước còn hạn hẹp rất cần các nguồn lực đầu tư từ khu vực tư nhân; vốn huy động khác ước đạt 2.060 tỷ đồng, tăng 1,41% (chiếm 6,42%); vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 54 tỷ đồng, giảm 39,31%;... 4.1.2. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước - Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước thực hiện quý IV/2025 đạt 3.320,9 tỷ đồng, giảm 4,11% so với cùng quý năm trước, trong đó: Vốn ngân sách cấp tỉnh đạt 2.535,8 tỷ đồng, tăng 6%; vốn ngân sách cấp xã đạt 785,1 tỷ đồng, giảm 23,51%. - Ước thực hiện cả năm 2025 đạt 10.163,1 tỷ đồng, giảm 3,15% so với cùng kỳ, trong đó: Vốn ngân sách cấp tỉnh đạt 7.771,6 tỷ đồng, tăng 2,39%; vốn ngân sách cấp xã đạt 2.391,6 tỷ đồng, giảm 17,65%. 4.2. Xây dựng Tổ chức lễ khởi công Dự án: Cao tốc Tuyên Quang - Hà Giang (giai đoạn 2) đoạn Tân Quang đến của khẩu quốc tế Thanh Thủy; dự án cải tạo, nâng cấp tuyến đường cách mạng từ xã Tân Trào đến xã Trung Yên (nay là xã Tân Trào, tỉnh Tuyên Quang); dự án đầu tư xây dựng Trường Chính trị đạt chuẩn giai đoạn 2022 -2030. Tổ chức Lễ thông xe kỹ thuật Dự án cao tốc Tuyên Quang - Hà Giang (giai đoạn 1) đoạn qua Hà Giang; khánh thành Dự án bảo tồn, tôn tạo Khu di tích Ban Thường vụ Quốc hội, xã Trung Yên, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Đôn đốc, đẩy mạnh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công tháng cuối năm theo Công điện số 237/CĐ-TTg ngày 06/12/2025 của Thủ tướng Chính phủ. Giải ngân vốn đầu tư công từ đầu năm đến ngày 15/12/2025 đạt 6.713,745/18.012,698 tỷ đồng, đạt 37,3% kế hoạch vốn được giao, trong đó: Giải ngân vốn kế hoạch năm trước được phép kéo dài là 773,360/1.980,165 tỷ đồng, đạt 39,0% kế hoạch; Giải ngân vốn kế hoạch năm 2025 là 5.846,177/16.032,533 tỷ đồng, đạt 36,5% kế hoạch. 5. Hoạt động của doanh nghiệp 5.1. Về tình hình hoạt động của doanh nghiệp Kết quả, từ ngày 01/01/2025 đến ngày 25/12/2025, cấp giấy chứng nhận đăng ký thành lập mới cho 768 doanh nghiệp, đạt 129% kế hoạch năm (tăng 69% so với cùng kỳ năm 2024) với số vốn đăng ký trên 2.892,286 tỷ đồng (tăng 13%). Số doanh nghiệp hoạt động trở lại: 206 doanh nghiệp (tăng 10%); giải thể 110 doanh nghiệp (tăng 69%); tạm ngừng 423 doanh nghiệp (tăng 10%). Lũy kế tổng số doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh (theo Hệ thống thông tin đăng ký doanh nghiệp Quốc gia) hiện có 6.290 doanh nghiệp, với tổng số vốn đăng ký trên 92.348 tỷ đồng (trong đó có 22 doanh nghiệp có 100% vốn đầu tư nước ngoài). Nhìn chung, số lượng doanh nghiệp thành lập mới tăng trong năm 2025 cho thấy môi trường kinh doanh được cải thiện, thủ tục hành chính được quan tâm, tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong giải quyết thủ tục đầu tư, rút ngắn thời gian cấp phép kinh doanh, hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận nguồn lực đất đai, tín dụng. 5.2. Tình hình xu hướng kinh doanh của các doanh nghiệp ngành chế biến chế tạo quý IV năm 2025 Tổng hợp kết quả phiếu điều tra xu hướng của các doanh nghiệp công nghiệp chế biến chế tạo cho thấy có 75,44% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh quý IV/2025 so với quý III/2025 tốt hơn và giữ ổn định (31,58% doanh nghiệp dự báo tốt hơn; 43,86% giữ ổn định), trong khi có 24,56% số doanh nghiệp cho rằng khó khăn hơn. Dự báo quý I/2026 xu hướng sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp công nghiệp chế biến, chế tạo trên địa bàn tỉnh khó khăn hơn so với quý IV/2025 khi chỉ có 22,81% doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp tốt hơn (trong đó có ngành: sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy; in, sao chép bản ghi các loại; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất); 42,11% doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp giữ ổn định (trong đó có ngành: Sản xuất trang phục; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan; chế biến gỗ và các sản phẩm từ gỗ, tre, nứa; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic; sản xuất kim loại; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học); 35,09% doanh nghiệp dự báo tình hình sản xuất kinh doanh khó khăn hơn. 6. Kết quả sản xuất Nông, lâm nghiệp và thủy sản năm 2025 6.1. Trồng trọt 6.1.1. Kết quả sản xuất nông nghiệp năm 2025 Sản xuất nông nghiệp năm 2025 diễn ra trong bối cảnh khó khăn và thuận lợi đan xen: mặt tích cực là sự phục hồi mạnh mẽ tại các địa phương bị ảnh hưởng bởi cơn bão YAGI năm 2024, mặt khác là những thiệt hại nặng nề do mưa lớn và hoàn lưu Bão số 10 (BUALOI) gây ra tại một số khu vực trên địa bàn tỉnh. Tuy nhiên, với tinh thần chủ động vượt khó, sự chỉ đạo sát sao của các cấp các ngành trên địa bàn, sản xuất nông nghiệp toàn tỉnh vẫn đạt được những kết quả tích cực. - Cây lúa: Diện tích cả năm đạt 80.811,4 ha, tăng 2,48% so với cùng kỳ, ước tính năng suất lúa bình quân chung 58,55 tạ/ha, tăng 0,48%. Sản lượng ước tính 473.149,9 tấn, tăng 2,98%. - Cây ngô: Trồng được 74.403,5 ha tăng 1,72%; năng suất đạt 39,44 tạ/ha, tăng 1,45%; sản lượng 293.421 tấn, tăng 3,19%. - Cây khoai lang: trồng được 3.344,2 ha, tăng 0,29%; năng suất đạt 64,59 tạ/ha, giảm 0,05%; sản lượng đạt 21.599 tấn, tăng 0,24%. - Cây đậu tương: trồng được 11.005,5 ha, giảm 9,3%; năng suất đạt 15,63tạ/ha, tăng 0,49%; sản lượng đạt 17.206 tấn, giảm 8,85%. - Cây lạc: năng suất đạt 27,91 tạ/ha, giảm 0,04%; sản lượng đạt 36.884,5 tấn, giảm 1,6%. 6.1.2. Sản xuất vụ mùa Đông năm 2025 - Ngô lấy hạt: Diện tích đạt 6.912,0 ha, giảm 2,87% so với cùng kỳ. Diện tích gieo trồng ngô giảm chủ yếu tại các xã Vị Xuyên, Linh Hồ do một số diện tích bãi bồi ven sông bị ngập lụt, không gieo trồng được. Mặt khác diện tích bãi chăn thả của trâu, bò hạn hẹp, thức ăn cho gia súc ngày càng khan hiếm một số xã Hùng An, Đồng Yên, Quang Bình, Bằng Lang, Tiên Yên bà con chuyển đổi cây trồng từ cây ngô lấy hạt sang trồng cây ngô sinh khối, chính vì vậy diện tích ngô giảm so với vụ cùng kỳ năm trước. - Khoai lang: Diện tích đạt 1.338 ha, tăng 5,18%. Diện tích gieo trồng khoai lang tăng tại các xã Khâu Vai, Kiến Đài, Mèo Vạc, Phú Lương. - Đậu tương: Diện tích gieo trồng đạt 63,7 ha, bằng 91,01% so với cùng kỳ. Diện tích gieo trồng đậu tương giảm tại xã Tri Phú, Linh Phú. - Lạc: Diện tích gieo trồng đạt 43,59 ha, bằng 83,14% so với cùng kỳ. Diện tích gieo trồng lạc giảm tại xã Tân Mỹ. - Rau các loại: Diện tích gieo trồng đạt 12.207 ha, giảm 0,35% so với cùng kỳ. Diện tích gieo trồng chậm do ảnh hưởng của cơn bão BUALOI làm một số diện tích bị ngập, thời gian thu hoạch vụ Mùa bị kéo dài gây ảnh hưởng tiến độ gieo trồng vụ Đông - Diện tích gieo trồng cây đậu các loại đạt 1.197,50 ha, tăng 74,59%. Diện tích gieo trồng tăng tại các xã Bản Máy, Đồng Văn, Lũng Cú, Phố Bảng. 6.1.3 Cây lâu năm a. Diện tích Qua số liệu điều tra chính thức diện tích ngày 01/11/2025. Toàn tỉnh Tuyên Quang hiện có 58.100,93 ha, giảm 3,96% (giảm 2.398,69 ha) so với cùng kỳ năm 2024. Nguyên nhân diện tích giảm nhiều do phần lớn diện tích cây lâu năm đã đến tuổi già cỗi, kém hiệu quả không mang lại giá trị kinh tế (như cây cam, quýt, nhãn...) và ngoài ra một phần do nhà nước lấy đất mở đường quốc lộ (xã Bắc Quang) dẫn đến diện tích trồng cây lâu năm giảm so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể diện tích các nhóm cây giảm như sau: Cây ăn quả là 26.690,22 ha, giảm 7,48% (giảm 2.157,02 ha); cây chè là 27.427,87 ha, giảm 2,03% (giảm 567,67ha); cây dược liệu lâu năm là 1.306,98 ha, giảm 1,84%; ở chiều ngược lại cây lâu năm khác là 994,15 ha, tăng 36,08%, tăng, giảm cụ thể ở từng nhóm cây ăn quả như sau: Các loại quả có múi thuộc họ cam, quýt diện tích hiện có 15.074 ha giảm 11,85% (giảm 2.026,52ha) so với cùng kỳ 2024 và (giảm chính trong nhóm này là cây cam). Trong đó: Diện tích cây cam hiện có 7.332,20 ha, giảm 21,35% (giảm 1.990,38 ha); cây quýt 262,81 ha, giảm 13,97% (giảm 42,69 ha); cây chanh 1.959,05 ha, tăng 7,46% (tăng 136,03 ha ); cây bưởi 5.447,65 ha, giảm 2,16% (giảm 120,46 ha). Năm 2025 diện tích cây cam vẫn tiếp tục giảm mạnh, giảm cụ thể ở các xã Phù Lưu, xã Tân Thành, xã Yên Lâm, xã Vĩnh Tuy và xã Đồng Yên ... do một số diện tích cây cho sản phẩm đã già cỗi, chết, nấm sâu bệnh và năng suất thấp, nên người dân đã chuyển đổi sang trồng cây ăn quả khác đem lại giá trị kinh tế cao hơn. Táo, mận và các loại quả có hạt như táo diện tích hiện có 3.487,39 ha, tăng 0,61% (tăng 21,30 ha). Trong đó: Cây táo là 147,58 ha, tăng 2,28% (tăng 3,29 ha); cây mận là 1.411,67 ha, tăng 0,21% (tăng 2,96 ha); cây lê 1.325,68 ha, tăng 1,06% (tăng 13,94 ha). Nhóm này có sự tăng nhẹ về diện tích do cây trồng phân bố già hoá đều, và có sự đan sen trồng mới thay thế cây đến tuổi già cỗi. Nhãn, vải diện tích hiện có 1.459,63 ha, giảm 5,07% (giảm 77,89 ha). Trong đó: Cây nhãn là 1.032,83 ha, giảm 6,51% (giảm 71,94 ha); cây vải là 426,80 ha, giảm 1,38% (giảm 5,98ha). Nhóm cây nhãn, vải diện tích giảm nhiều do cây đã đến tuổi già cỗi, lâu năm chậm phát triển nên người dân chặt phá bỏ chuyển sang mục đích trồng cây khác. Cây chè: Toàn tỉnh diện tích hiện có 27.427,87 ha, giảm 2,03% (giảm 567,67 ha). Diện tích chè vẫn tiếp tục giảm do một phần diện tích trồng chè của xã Bắc Quang nhà nước thu hồi đất sử dụng mục đích mở đường quốc lộ và phát triển một số dự án xây dựng mới sau sát nhập. Chia theo thành phần kinh tế: Tư nhân là 3.582,27 ha; cá thể là 23.845,60 ha. b. Sản lượng Sản lượng cây cam ước đạt 90.494,74 tấn, giảm 21,62%; cây quýt ước đạt 1.962,08 tấn, giảm 15,19%; cây chanh ước đạt 9.891,10 tấn tăng 10,44%; cây bưởi ước đạt 55.192,40 tấn tăng 4,75%. Sản lượng cây cam, quýt sơ bộ giảm nhiều so với cùng kỳ,nguyên nhân chính là do diện tích cho sản phẩm già cỗi kém năng suất giảm nên sản lượng giảm. Tuy nhiên sản lượng cây chanh năm nay lại tăng cao, tăng 10,44% (tăng 934,76 tấn) so với cùng kỳ năm trước, sản lượng cây chanh tăng phần lớn là do diện tích cho sản phẩm đang thời kỳ thu hoạch. Cây táo sản lượng ước đạt 842,75 tấn, giảm 0,12% so với cùng kỳ năm trước; cây mận ước đạt 2.842,57 tấn, tăng 3,52%; cây đào sản lượng ước đạt 1.509,66 tấn, tăng 2,75%; cây lê ước đạt 3.852,85 tấn, tăng 5,38%. Năng suất nhóm cây táo, mận và các loại quả có hạt như táo năm nay cho năng suất tăng do thời kỳ cây đang đơm hoa kết trái khí hậu thời tiết thuận lợi cây trồng phát triển. Sản lượng cây nhãn đạt 6.397,88 tấn, tăng 7,87%; cây vải đạt 2.411,23 tấn, tăng 8,45%. Sản lượng chè ước đạt 159.225,62 tấn, giảm 1,03% so với cùng kỳ năm 2024. Chia ra thành phần kinh tế: tư nhân là 32.567,05 tấn; cá thể là 126.658,57 tấn. 6.2. Tình hình sinh vật gây hại a. Cây hàng năm vụ Đông: Bệnh đốm lá, khô vằn trên ngô và sâu ăn lá trên rau họ thập tự gia tăng. Nguyên nhân: Thời tiết sương mù dày ban sáng và nắng hanh ban ngày tạo điều kiện cho nấm bệnh và sâu tơ phát triển. b. Cây lâu năm: Bệnh vàng lá thối rễ đã gây hại cho diện tích 58 ha đất trồng cam tại xã Hàm Yên và các vùng lân cận. Nguyên nhân: Do độ ẩm đất thay đổi đột ngột sau mưa bão và ảnh hưởng lâu dài của bệnh Greening trên các vườn cây già cỗi. 6.3. Về chăn nuôi Tỉnh đã kịp thời ban hành các chính sách hỗ trợ khuyến khích các hộ dân phát triển chăn nuôi tăng dần các hộ có quy mô lớn, chăn nuôi tập trung đồng thời áp dụng kỹ thuật tiên tiến, giảm dần các hộ nuôi nhỏ lẻ, từng bước đưa chăn nuôi phát triển bền vững. Đàn lợn trong năm 2025, bệnh dịch tả lợn Châu phi bùng phát mạnh ở nhiều xã trên địa bàn tỉnh và phát sinh một số dịch bệnh khác tại một số địa phương trong tỉnh dịch bệnh gia súc, gia cầm phát sinh nhưng mức độ thiệt hại không đáng kể; sản lượng sản phẩm chăn nuôi có sự tăng nhẹ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng thực phẩm trong tỉnh. 6.3.1. Về số lượng đàn gia súc, gia cầm Tình hình chăn nuôi trong tháng duy trì ổn định, không có biến động lớn. Công tác phòng chống dịch bệnh được chú trọng, đặc biệt là các bệnh nguy hiểm như Dịch tả lợn Châu Phi. Dự ước đàn gia súc, gia cầm tháng 12/2025: - Đàn trâu: Tổng đàn là 217.289 con, giảm 3,15% (giảm 7.078 con) so với cùng kỳ năm 2024. - Đàn bò: Tổng đàn là 175.898 con, tăng 0,51% (tăng 892 con). Trong đó: Bò sữa 6.781 con, tăng 0,27% (tăng 18 con). - Đàn lợn: Tổng đàn là 1.200.818 con, giảm 2,99% (giảm 37.018 con). - Đàn gia cầm: Tổng đàn là 14.154,07 nghìn con, tăng 3,38% (tăng 462,5 nghìn con). 6.3.2. Về sản phẩm đàn gia súc, gia cầm Ước năm 2025, đàn trâu sản lượng đạt 14.492 tấn, tăng 7,60% so với cùng kỳ năm 2024; đàn bò đạt 7.581 tấn, tăng 9,53%; đàn lợn đạt 120.306 tấn, tăng 6,65%; đàn gia cầm đạt 38.313 tấn, tăng 7,01%. Trong năm 2025, chăn nuôi gia cầm trên địa bàn tỉnh luôn được các ngành chức năng quan tâm và phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về thịt gia cầm; trên địa bàn tỉnh đã xuất hiện nhiều mô hình trang trại chăn nuôi gia cầm tiên tiến chủ yếu chăn nuôi gà, theo hướng liên kết hiệu quả kinh tế cao. 6.4. Công tác phòng chống dịch bệnh gia súc, gia cầm 6.4.1. Công tác phòng chống và điều trị Chi cục Thú y trên địa bàn tỉnh luôn chủ động phối hợp với các xã, phường trên địa bàn, đồng thời theo dõi chặt chẽ tình hình dịch bệnh gia súc, gia cầm, thuỷ sản, đặc biệt các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm như bệnh Dịch tả lợn Châu phi. Triển khai thực hiện đồng bộ các giải pháp phòng, chống dịch bệnh động vật. Trong tháng dịch tả lợn Châu Phi phát sinh tại 346 hộ, 17 thôn, số lợn tiêu hủy là 3.745 con/174.565 kg. Luỹ kế từ ngày 05/7/2025 đến ngày 15/12/2025, toàn tỉnh ghi nhận 198.085 con lợn mắc bệnh buộc tiêu hủy tại 21.481 hộ/1.992 thôn/117 xã; tổng khối lượng 9.764.998 kg. Đến ngày 15/12/2025 đã có 92 xã qua 21 ngày không phát sinh ca mắc bệnh mới, 66 xã đã công bố hết dịch. 6.4.2. Công tác tiêm phòng: Triển khai kế hoạch tiêm phòng trên đàn gia súc, gia cầm vụ Thu – Đông. Kiểm soát giết mổ và kiểm tra vệ sinh thú y năm 2025 được 46.444 con gia súc, gia cầm. Kết quả cụ thể như sau: Đàn trâu: 109.457 lượt tiêm, trong đó: Vắc xin LMLM 104.330 con, vắc xin THT 4.636 con, vắc xin VDNC 491 con. Đàn bò: 108.100 lượt tiêm, trong đó: vắc xin LMLM 100.976 con, vắc xin THT 5.543 con, vắc xin VDNC 1.581 con. Đàn lợn: 110.059 lượt tiêm, trong đó: vắc xin LMLM 17.052 con, vắc xin THT 65.285 con, vắc xin Dịch tả lợn 27.028 con, vắc xin Dịch tả lợn Châu Phi 695 con. Đàn gia cầm: 1.015.003 lượt tiêm, trong đó: vắc xin THT 447.177 con, vắc xin Newcastle, Lasota 424.266 con. Đàn chó: 67.073 lượt con. Đàn dê: 545 lượt con. 6.5. Công tác kiểm dịch vận chuyển động vật và công tác kiểm soát giết mổ Tiếp tục thực hiện chặt chẽ đúng quy định công tác kiểm dịch vận chuyển ngoài tỉnh, kết quả: Trong tháng 12 đã kiểm tra cấp 402 giấy chứng nhận kiểm dịch vận chuyểnTrong đó: 218 chuyến với 15.123 con gia súc, gia cầm, 184 chuyến với 3.419.000 kg sữa tươi nguyên liệu. Lũy kế từ đầu năm đến nay đã cấp 4.164 giấy chứng nhận kiểm dịch vận chuyển. Trong đó: 2.181 chuyến vận chuyển 284.201 con gia súc, gia cầm và 5.760 con cá giống; 1.983 chuyến vận chuyển 37.433.647 kg sữa tươi nguyên liệu và 16.040 kg sản phẩm động vật chế biến làm thức ăn chăn nuôi, các lô hàng được vận chuyển đi các tỉnh: Bắc Ninh, Hà Nội, Cao Bằng... 6.6. Về sản xuất lâm nghiệp 6.6.1. Công tác trồng rừng Ước tính trong tháng 12 tổng diện tích rừng trồng tập trung toàn tỉnh đã trồng được 212,47 ha, bằng 98,22% so với cùng kỳ năm 2024. Cộng dồn 12 tháng toàn tỉnh đã trồng được 14.758,57 ha, bằng 87,02% so với cùng kỳ. Diện tích trồng mới giảm do đã vào cuối năm, nguồn vốn hỗ trợ trồng rừng bị cắt giảm. Tại các xã Phú Linh, Quảng Ngần, Thượng Bình, Tiên Yên giảm diện tích trồng cây Giang. 6.6.2. Khai thác gỗ rừng trồng Ước tính tháng 12 toàn tỉnh khai thác được 148.128,28 m3 gỗ, tăng 19,31% (tăng 23.970 m3) so với cùng kỳ. Cộng dồn 12 tháng toàn tỉnh đã khai thác được 1.436.661,08 m3, tăng 3,1% (tăng 43.189 m3) so với cùng kỳ. Sản lượng khai thác trong tháng đã tăng trở lại so với tháng trước do thời tiết thuận lợi, các xưởng sản xuất tăng thu mua gỗ sau thời gian khắc phục thiên tai, ngoài ra nhu cầu khai thác dùng cho xây dựng nhà cửa của người dân tăng cao dẫn đến sản lượng khai thác tăng. 6.6.3. Công tác quản lý bảo vệ rừng Công tác quản lý, bảo vệ rừng được các cấp, các ngành quan tâm, đồng thời tuyên truyền, vận động nhân dân tích cực tham gia thực hiện kế hoạch trồng rừng năm 2025; tuyên truyền, phổ biến giáo dục cho người dân nâng cao nhận thức về các chính sách quản lý bảo vệ và phát triển rừng; tăng cường kiểm tra, ngăn chặn việc phá rừng, đốt rừng, triệt phá các đường dây buôn bán, vận chuyển lâm sản trái phép. Thường xuyên cảnh báo nguy cơ cháy rừng, đẩy mạnh tuyên truyền về công tác phòng cháy chữa cháy rừng; phối hợp chặt chẽ với cơ quan chức năng và chính quyền cơ sở, các chủ rừng tăng cường kiểm tra, kiểm soát, phát hiện kịp thời, xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật các hành vi xâm hại rừng. Theo báo cáo của Chi cục Kiểm lâm tỉnh, Trong tháng không phát sinh vụ cháy rừng. Lũy kế 12 tháng xảy ra 27 vụ, tăng 125% về số vụ, diện tích thiệt hại là 64,72 ha, tăng 115,24%; trong tháng không xảy ra vụ chặt phá rừng. Lũy kế 12 tháng xảy ra 36 vụ phá rừng giảm 27 vụ so với cùng kỳ năm trước, diện tích rừng bị phá 10,09 ha giảm 12,96 ha. Số vụ phá rừng và diện tích rừng bị phá giảm mạnh do cơ quan chức năng tăng cường kiểm tra, giám sát, phát hiện và ngăn chặn kịp thời. 6.7. Về thuỷ sản Là tỉnh miền núi có nhiều sông, ngòi, là điều kiện thuận lợi để phát triển nhiều loại hình nuôi trồng thủy sản, đa dạng hóa đối tượng nuôi và phương thức nuôi trồng. Nuôi cá lồng trên sông, hồ chứa nhiều tiềm năng, lợi thế để phát triển đem lại hiệu quả kinh tế cao vừa tận dụng được tài nguyên đất đai, nguồn nước, giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho các hộ nông dân. Bên cạnh đó việc thực hiện cơ chế, chính sách cho vay vốn phát triển cá đặc sản (cá Anh vũ, Chiên, Lăng, Bỗng...) để khuyến khích các hộ dân, doanh nghiệp đầu tư, mở rộng quy mô, phát triển mạnh số lượng lồng nuôi các đặc sản trên sông, hồ thủy điện được tỉnh và các địa phương quan tâm, đặc biệt là phát triển lồng nuôi có kích thước lớn (trên 100 m3). Lũy kế 12 tháng tổng sản lượng thủy sản đạt 16.453,2 tấn, tăng 11,26%. Trong đó: sản lượng cá nuôi trồng đạt 14.326 tấn, tăng 8,80%; sản lượng tôm đạt 3,10 tấn, tăng 21,09%; sản lượng thủy sản khác đạt 21,37 tấn, tăng 53,85%; sản lượng thủy sản khai thác đạt 2.102,7, tăng 12,84%. Sản lượng cá tăng cao so với cùng kỳ do điều kiện thời tiết năm 2025 tương đối thuận lợi cho nuôi trồng thủy sản, số lượng thủy sản thiệt hại do mưa lũ thấp hơn hẳn so với năm trước. Người dân chủ động mở rộng diện tích và tăng mật độ thả giống (đặc biệt là mô hình nuôi ốc và tôm) tại xã Quang Minh, Vô Điếm, Vị Xuyên. 7. Sản xuất công nghiệp 7.1. Về phát triển công nghiệp trong tháng - Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) trong tháng giảm 9,68% so với tháng trước, tăng 2,46% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Ngành sản xuất và và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí giảm 41,04%, tăng 46,73%; khai khoáng tăng 0,23%, giảm 38,92%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 4,71%, giảm 3,23%; cung cấp nước và hoạt động thu gom xử lý rác, nước thải giảm 7,83%, tăng 10,75%. - Trong tháng, một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng so với tháng trước và tăng so với cùng kỳ năm trước như: Chè (trà) nguyên chất đạt 1.642 tấn, tăng 7,04%, tăng 15,61%; sắt, thép không hợp kim dạng thỏi đạt 30.000 tấn, tăng 2,18%, tăng 6,01%; mangan và các sản phẩm của mangan đạt 1.050 tấn, tăng 25%, tăng 43,28%;...Tuy nhiên, cũng có một số sản phẩm công nghiệp giảm so với tháng trước và giảm so với cùng kỳ như: Đá xây dựng đạt 49.619 tấn, giảm 1,59%, giảm 46,61%; bột Felspat đạt 9.000 tấn, giảm 3,23%, giảm 3,23%;… 7.2. Về phát triển công nghiệp trong quý IV/2025 - Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) quý IV/2025 ước tính tăng 7,89% so với quý cùng kỳ, trong đó: Sản xuất và phân phối điện tăng 38,09%; cung cấp nước và xử lý rác, nước thải tăng 11,56%; khai khoáng giảm 32,20%; công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 0,54%. - Trong quý IV/2025 một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu của tỉnh đạt mức tăng trưởng khá so với quý cùng kỳ như: Mangan và các sản phẩm từ mangan tăng 37,55%; điện sản xuất tăng 41,28%; điện thương phẩm tăng 4,18%;... Tuy nhiên, cũng có một số sản phẩm công nghiệp giảm so với quý cùng kỳ như: Cát tự nhiên giảm 11,50%; bột Felspat giảm 0,49%; xi măng giảm 4,75%; giày dép thể thao có mũ bằng da giảm 26,12%;…… 7.3. Về phát triển công nghiệp năm 2025 - Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp cả năm 2025 tăng 7,17% so với cùng kỳ năm trước, Chia theo từng ngành kinh tế cấp I như sau: + Ngành khai khoáng giảm 8,74%. Nguyên nhân do một số công ty khai thác quặng kim loại gặp khó khăn nên tạm ngừng hoạt động sản xuất làm cho sản lượng khai thác giảm so với cùng kỳ. + Ngành sản xuất và phân phối điện tăng 11,41%, nguyên nhân là do lượng mưa từ đầu năm đến nay nhiều hơn và kết thúc muộn hơn so với cùng kỳ, các nhà máy thủy điện trên địa bàn tỉnh đã tích nước tận dụng được tối đa nguồn tài nguyên nước để sản xuất điện. + Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 6,07%, trong đó: Sản xuất chế biến thực phẩm tăng 4,65%; dệt tăng 57,52%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 0,77%; sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 61,23%; giường, tủ, bàn, ghế tăng 20,46%,... + Ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 1,59%: nguyên nhân: Do hoạt động thu gom, xử lý và tiêu hủy rác thải tăng so với cùng kỳ. - Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng so với cùng kỳ năm trước như: Điện sản xuất tăng 11,27%; bột Felspat tăng 12,24%; xi măng tăng 7,19%; giày, dép thể thao có mũ bằng da tăng 0,77%;… Tuy nhiên, một số sản phẩm công nghiệp có chiều hướng giảm so với cùng kỳ như: Áo sơ mi cho người lớn giảm 17,97%; bột barit giảm 65,77%;… Nhìn chung, các doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất trong lĩnh vực công nghiệp hoạt động ổn định, tiếp tục tập trung thu hút đầu tư phát triển các cụm công nghiệp trên trên địa bàn tỉnh. Tổ chức khởi công Dự án hạ tầng kỹ thuật Cụm công nghiệp Xuân Vân; Dự án Nhà máy điện sinh khối Tuyên Quang. Rà soát, đôn đốc tiến độ xây dựng hạ tầng Cụm công nghiệp Ninh Lai -Thiện Kế, An Hòa - Long Bình An, Xuân Vân, Phúc Ứng 2. Thành lập mới 03 Cụm công nghiệp (Phúc Ứng 2, Phúc Ứng 3 và Nhữ Khê). Đề xuất lựa chọn Cụm công nghiệp Phúc Ứng 2 thí điểm theo mô hình Cụm công nghiệp thông minh trên địa bàn tỉnh. 8. Thương mại và Dịch vụ Thực hiện có hiệu quả các hoạt động xúc tiến thương mại năm 2025. Tăng cường kiểm tra ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trên địa bàn. 8.1. Doanh thu bán lẻ hàng hóa Doanh thu bán lẻ hàng hóa trong tháng ước đạt 4.955 tỷ đồng, tăng 2,93% so với tháng trước, tăng 12,94% so với tháng cùng kỳ. Trong đó, một số nhóm hàng tăng so với tháng trước, tăng so với cùng kỳ, cụ thể như sau: Hàng lương thực, thực phẩm đạt 1.531 tỷ đồng, tăng 2,06%, tăng 4,50%; may mặc đạt 380 tỷ đồng, tăng 4,64%, tăng 24,29%; đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình đạt 511 tỷ đồng, tăng 5,70%, tăng 8,87%;… Tính chung trong quý IV/2025, doanh thu bán lẻ hàng hóa ước đạt 14.286 tỷ đồng, tăng 11,15% so với quý cùng kỳ. Tính chung cả năm 2025, doanh thu bán lẻ hàng hóa ước đạt 51.425 tỷ đồng, tăng 12,20% so với cùng kỳ. 8.2. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ khác - Trong tháng, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 644 tỷ đồng, tăng 2,55% so với tháng trước, tăng 29,81% so với cùng kỳ. Trong đó: Dịch vụ lưu trú đạt 65 tỷ đồng, tăng 1,56%, tăng 27,83%; ăn uống đạt 579 tỷ đồng, tăng 2,66%, tăng 30,04%. Tính chung trong quý IV/2025 dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 1.809 tỷ đồng, tăng 26,68% so với quý cùng kỳ. Tính chung cả năm 2025, dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 6.518 tỷ đồng, tăng 18,49% so với cùng kỳ. - Trong tháng, doanh thu du lịch lữ hành ước đạt 8 tỷ đồng, tăng 0,69% so với tháng trước, tăng 130,73% so với cùng kỳ. Tính chung trong quý IV/2025 du lịch lữ hành ước đạt 19 tỷ đồng, tăng 110,88% so quý cùng kỳ. Tính chung cả đầu năm 2025 du lịch lữ hành ước đạt 56 tỷ đồng, tăng 70,04%. - Doanh thu dịch vụ khác trong tháng ước đạt 258 tỷ đồng, tăng 6,05% so với tháng trước, tăng 25,08% so với cùng kỳ. Tính chung trong quý IV/2025 dịch vụ khác ước đạt 722 tỷ đồng, tăng 14,88% so quý cùng kỳ. Tính chung cả năm 2025, dịch vụ khác ước đạt 2.585 tỷ đồng, tăng 16,10% so với cùng kỳ. 8.3. Xuất, nhập khẩu hàng hóa Hoạt động xuất nhập khẩu có chuyển biến tích cực tại cửa khẩu quốc tế Thanh Thủy - Thiên Bảo. Thường xuyên nắm bắt tình hình, kịp thời hỗ trợ các doanh nghiệp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu trong bối cảnh thị trường thế giới có nhiều biến động Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa trong năm 2025 ước đạt 801,8 triệu USD, tăng 116,1% so với cùng kỳ. Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa ước đạt 230 triệu USD, tăng 26,1% so với cùng kỳ. Một số mặt hàng nhập khẩu chính được dùng làm nguyên liệu phục vụ sản xuất hàng may mặc tiếp tục tăng, cho thấy những dấu hiệu trong phục hồi trong sản xuất may mặc. 9. Vận tải hàng hóa và hành khách Từ đầu năm đến nay, nhu cầu đi du lịch, lễ hội và vận chuyển hàng hóa của người dân tăng cao. Hoạt động vận tải, kho bãi tăng khá. Các doanh nghiệp bưu chính, viễn thông bảo đảm an toàn, an ninh trong quá trình cung ứng dịch vụ bưu chính; an toàn mạng lưới, thông tin liên lạc thông suốt đáp ứng nhu cầu thông tin liên lạc của các cơ quan nhà nước, tổ chức, doanh nghiệp và người dân. 9.1. Doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải - Doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải tháng 12 ước đạt 589,95 tỷ đồng, tăng 8,59% so với tháng trước, tăng 2% so với cùng kỳ. Trong đó, vận tải hành khách ước đạt 110,88 tỷ đồng, tăng 6,32%, tăng 1,92%; vận tải hàng hóa ước đạt 476,73 tỷ đồng, tăng 9,10%, tăng 2%; kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 1,52 tỷ đồng, tăng 16,56%, tăng 6,55%; bưu chính, chuyển phát đạt 0,82 tỷ đồng, tăng 11,87%, tăng 8,91%. - Ước thực hiện quý IV/2025 doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 1.623,85 tỷ đồng, tăng 2,16% so với quý cùng kỳ. Trong đó, vận tải hành khách ước đạt 311,71 tỷ đồng, tăng 1,11%; vận tải hàng hóa ước đạt 1.305,93 tỷ đồng, tăng 2,40%; kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 4,03 tỷ đồng, tăng 9,53%; bưu chính, chuyển phát đạt 2,18 tỷ đồng, tăng 3,51%. - Năm 2025, doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 6.295,15 tỷ đồng, tăng 13,86% so với cùng kỳ. Trong đó, doanh thu vận tải hành khách ước đạt 1.276,55 tỷ đồng, tăng 14,86%; vận tải hàng hóa ước đạt 4.991,58 tỷ đồng, tăng 13,60%; kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 19,05 tỷ đồng, tăng 14,67%; bưu chính, chuyển phát đạt 7,97 tỷ đồng, tăng 10,20%. 9.2. Vận tải hành khách và hàng hóa 9.2.1. Vận tải hành khách - Hành khách vận chuyển trong tháng 12 ước đạt 1,74 triệu lượt hành khách, tăng 4,24% so với tháng trước, tăng 1,36% so với cùng kỳ; khối lượng hành khách luân chuyển ước đạt 162,32 triệu lượt hành khách.km, tăng 5,59%, tăng 4,19%. - Ước thực hiện quý IV/2025, hành khách vận chuyển ước đạt 4,95 triệu lượt hành khách, tăng 1,66% so với quý cùng kỳ; hành khách luân chuyển ước đạt 428,62 triệu lượt hành khách.km, tăng 4,78%. - Năm 2025, hành khách vận chuyển ước đạt 20,54 triệu lượt hành khách, tăng 14,14% so với cùng kỳ; hành khách luân chuyển ước đạt 1.762,0 triệu lượt hành khách.km, tăng 13,29%. 9.2.2. Vận tải hàng hóa - Hàng hóa vận chuyển trong tháng 12 ước đạt 2,98 triệu tấn, tăng 12,40% so với tháng trước, tăng 1,35% so với cùng kỳ; hàng hóa luân chuyển ước đạt 192,15 triệu tấn.km, tăng 9,09%, tăng 3,01%. - Ước thực hiện quý IV/2025, hàng hóa vận chuyển ước đạt 8,16 triệu tấn, tăng 0,92% so với quý cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 529,07 triệu tấn.km, tăng 3,77%. - Năm 2025, hàng hóa vận chuyển ước đạt 32,62 triệu tấn, tăng 13,53% so với cùng kỳ; hàng hóa luân chuyển ước đạt 2.042,57 triệu tấn.km, tăng 13,31%. 10. Về du lịch Tổ chức thành công nhiều sự kiện, các hoạt động kích cầu du lịch, sự kiện văn hóa, các lễ hội truyền thống thu hút đông đảo du khách; thương hiệu du lịch Tuyên Quang được khẳng định mạnh mẽ qua hàng loạt giải thưởng quốc gia và quốc tế như: World Travel Awards (WTA) trao tặng 02 danh hiệu cho Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Cao nguyên đá Đồng Văn là “Điểm đến Văn hóa khu vực hàng đầu châu Á 2025" và “Điềm đến Văn hóa khu vực hàng đầu thế giới 2025. Khu du lịch sinh thái Panhou Retreat (xã Thông Nguyên) được WTA 2025 vinh danh là “Khu du lịch sinh thái hàng đầu châu Á năm 2025. Thôn Lô Lô Chải (xã Lũng Cú) được UNTourism công nhận là “Làng Du lịch Tốt nhất Thế giới 2025. Giải thưởng Du lịch Việt Nam 2025 tôn vinh Khu nghỉ dưỡng H’mong Village (Lùng Tám) là “Khách sạn xanh tốt nhất ” và Làng du lịch Pả Vi Hạ là “Điếm du lịch cộng đồng tiêu biểu nhất Việt Nam. Trong tháng 12, toàn tỉnh đón 359.763 lượt khách du lịch, tổng chi tiêu khách du lịch đạt 993,2 tỷ đồng; lũy kế cả năm đón 3.926.027 lượt khách, đạt 109,1% kế hoạch, tổng chi tiêu khách du lịch đạt 10.633 tỷ đồng, bằng 113% kế hoạch. II. LĨNH VỰC VĂN HÓA - XÃ HỘI 1. Về lao động việc làm Đẩy mạnh hoạt động thông tin thị trường lao động, tư vấn, giới thiệu việc làm; tăng cường giải pháp kết nối cung - cầu lao động thông qua hoạt động phiên giao dịch việc làm Online nhằm hỗ trợ người lao động tìm kiếm việc làm; quan tâm triến khai công tác đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng và thời vụ tại Hàn Quốc, Trung Quốc theo các Thỏa thuận hợp tác; tăng cường công tác quản lý nhà nước về lao động, tiền lương và cấp giấy phép lao động cho người nước ngoài làm việc tại tỉnh; xây dụng quan hệ lao động hài hòa, ổn định; phát triển đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội. Triển khai Kế hoạch thực hiện thu thập, cập nhật, chỉnh sửa thông tin về người lao động gắn với cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư trên địa bàn tỉnh năm 2025. Tiếp tục thực hiện các giải pháp hỗ trợ, tạo việc làm cho người lao động; hướng dẫn, thực hiện cấp giấy phép lao động cho người nước ngoài; Trong tháng 12 tạo việc làm cho 298 lao động, ước cả năm tạo việc làm cho 44.730 lao động, đạt 106,5% kế hoạch. 2. Đời sống dân cư Từ đầu năm đến nay, tình hình đời sống dân cư trên địa bàn tỉnh tiếp tục ổn định. Giá cả các mặt hàng thiết yếu không có biến động lớn, duy trì sự bình ổn. Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong các khu, cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh cơ bản đạt kế hoạch đề ra, đa số doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả và phát triển, không xảy ra tình trạng cắt giảm giờ làm, nghỉ việc, nghỉ luân phiên và chấm dứt hợp đồng với người lao động, đời sống của người lao động trong các công ty đang dần được cải thiện. Tiếp tục triển khai, thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững năm 2025; Thành lập BCĐ triển khai kế hoạch rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ làm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp có mức sống trung bình cuối năm 2025. Hoàn thành Kế hoạch xóa nhà tạm, nhà dột nát cho hộ gia đình có người có công với cách mạng, hộ nghèo, hộ cận nghèo và hộ gia đình khó khăn về nhà ở; số nhà đã hoàn thành đưa vào sử dụng 15.064 nhà, đạt 100% kế hoạch. Phân bổ, hỗ trợ và vận động nguồn kinh phí để hỗ trợ khắc phục hậu quả thiên tai (hoàn lưu bão số 10, 11) với tổng số tiền là 529,6 tỷ đồng (trong đó: 200 tỷ từ nguồn ngân sách trung ương; 133,6 tỷ từ nguồn dự phòng ngân sách tỉnh năm 2025; 170,8 tỳ từ nguồn huy động ủng hộ, đóng góp thông qua ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh), cấp phát 703.905 kg gạo cứu đói từ nguồn dự trữ quốc gia cho các hộ gia đình thiếu đói do ảnh hưởng của cơn bão số 10 tại 46 xã, phường đảm bảo đúng quy định, đúng đối tượng. 3. Công tác người có công, giảm nghèo, bảo trợ xã hội và phòng chống tệ nạn xã hội Duy trì chi trả trợ cấp thường xuyên cho trên 9.000 người có công và thân nhân người có công; giải quyết chính sách, chế độ người có công và đối tượng chính sách khác cho 1.670 đối tượng, với tổng kinh phí 38.427,035 triệu đồng. Công tác thăm, tặng quà và tổ chức các hoạt động tri ân người có công và thân nhân liệt sỹ nhân dịp Tết Nguyên đán, kỷ niệm các ngày Lễ trong năm 2025 được thực hiện trang trọng, kịp thời, ý nghĩa. Chú trọng thực hiện công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em; công tác bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ; tăng cường phòng, chống tệ nạn xã hội. Duy trì công tác tiếp nhận, quản lý, điều trị, cai nghiện cho người nghiện ma túy tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh, tại thời điểm báo cáo Cơ sở đang quản lý tổng 228 học viên cai nghiện ma túy bắt buộc. Cai nghiện bắt buộc 217 học viên, cai nghiện tự nguyện 11 học viên. 4. Hoạt động giáo dục và đào tạo Ban hành Chương trình nâng cao chất lượng giáo dục mầm non tại địa bàn đô thị và khu công nghiệp giai đoạn 2025-2035, định hướng đến năm 2045; Kế hoạch bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống các dân tộc trong các cơ sở giáo dục giai đoạn 2025-2030. Xây dựng Đề án phát triển Giáo dục và Đào tạo đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Tăng cường quản lý, giáo dục nâng cao nhận thức và chấp hành pháp luật đối với học sinh, sinh viên. Hoàn thành việc tổ chức thi học kỳ 1 năm học 2025-2026. Tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia toàn tỉnh: Mầm non đạt 64,4%; tiểu học đạt 74,6%; THCS đạt 61,5%; THPT đạt 46,7%. 5. Hoạt động y tế Triển khai Chương trình hành động số 12-CTr/TU ngày 18/11/2025 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh thực hiện Nghị quyết số 72-NQ/TW ngày 09/9/2025 của Bộ Chính trị về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân. Trong tháng 12 tổ chức khám, chữa bệnh cho 249.024 lượt người; ước cả năm khám, chữa bệnh 2.590.460 lượt người. Tỷ lệ trẻ em dưới 01 tuổi được tiêm đủ các loại vắc xin đạt 91,9,% kế hoạch. Tỷ lệ người dân có thẻ bảo hiểm y tế đạt 97%. 6. Hoạt động văn hoá, thể dục, thể thao Hoàn thành dự án Bảo tồn, tôn tạo Khu di tích lịch sử quốc gia đặc biệt Tân Trào; dự án Bảo tồn, tôn tạo Khu di tích Ban Thường trực Quốc hội, xã Trung Yên; dự án Bảo tồn Làng văn hóa truyền thống dân tộc Tày, thôn Bản Bung, xã Thanh Tương... Tổ chức thành công giải Võ cổ truyền tỉnh; tham gia Hội thi thể thao các dân tộc thiểu số toàn quốc lần thứ XIV khu vực I năm 2025 và Giải Đua thuyền Canoeing Cup vô địch các đội mạnh quốc gia năm 2025. 7. Tình hình an toàn giao thông, thiên tai và phòng chống cháy, nổ 7.1. Về an toàn giao thông Trong tháng, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 19 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 10 người và bị thương 12 người. So với tháng trước tăng 5,56% về số vụ tai nạn, số người chết giảm 9,09%, số người bị thương tăng 100%. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông tăng 5,56%, số người chết tăng 66,67%, số người bị thương giảm 33,33%. Trong quý IV/2025, toàn tỉnh đã xảy ra 54 vụ tai nạn giao thông, làm chết 34 người và làm bị thương 29 người. So với cùng quý trước: Số vụ tai nạn giao thông tăng 28,57%; số người chết tăng 3,03%; số người bị thương tăng 20,83%. Trong năm 2025, toàn tỉnh đã xảy ra 244 vụ tai nạn giao thông, 132 người chết và 167 người bị thương. So với cùng kỳ năm trước: Số vụ tai nạn giao thông giảm 2,4%; số người chết giảm 0,75%; số người bị thương giảm 9,73%. 7.2. Về cháy nổ Tháng 12/2025, toàn tỉnh xảy ra 02 vụ cháy, nổ. Tính chung cả năm 2025, trên địa bàn tỉnh xảy ra 20 vụ cháy, làm 03 người chết, 01 người bị thương, thiệt hại về tài sản ước tính 10.821 triệu đồng. 7.3. Thiệt hại do thiên tai 7.3.1. Thiệt hại do thiên tai năm 2025 Trong năm 2025 trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang đã xảy ra 23 đợt thiên tai mưa lớn, lũ, sạt lở gây thiệt hại về tài sản của người dân trên địa bàn: Ước tính thiệt hại khoảng 5.246 tỷ đồng. - Thiệt hại về người: 17 người chết; 16 người bị thương. - Thiệt hại về nhà ở: 30.694 nhà (Trong đó: 186 nhà thiệt hại trên 70%; 300 nhà thiệt hại từ 50-70%; 490 nhà thiệt hại từ 30-50%; 2.395 nhà thiệt hại dưới 30%; 26.590 nhà bị ngập nước, phải di dời khẩn cấp; 737 nhà có nguy cơ bị ảnh hưởng do sạt lở); - Thiệt hại về nông nghiệp: Diện tích lúa bị ảnh hưởng, thiệt hại: 6.207 ha lúa bị ngập, thiệt hại (Trong đó: 3.995 ha bị ngập, thiệt hại trên 70%; 1.928 ha bị ngập, thiệt hại từ 30-70%; 284 ha bị ngập, thiệt hại dưới 30%); Diện tích ngô, hoa màu bị ảnh hưởng, thiệt hại: 4.948 ha. Diện tích cây trồng lâu năm bị ảnh hưởng, thiệt hại: 1.000 ha; Diện tích cây trồng hàng năm, cây ăn quả bị ảnh hưởng, thiệt hại: 390 ha. Thiệt hại về chăn nuôi: Gia súc: 3.083 con; Gia cầm: 116.997 con; Ong mật: 338 đàn; Các loại vật nuôi khác: 102 con. - Thiệt hại về giao thông: Đường Quốc lộ: Nhiều vị trí sạt lở, ách tắc giao thông; Chiều dài sạt lở, hư hỏng: 9.841 m; Chiều dài bị ngập: 2.380m; Khối lượng sạt lở đất, đá: 129.838 m3; Đường giao thông địa phương: Nhiều vị trí sạt lở, ách tắc giao thông; chiều dài sạt lở, hư hỏng: 132.894m; 582.993 m3 đất, đá sạt lở; 69 cây cầu, 101 cống qua đường bị hư hỏng; - Thiệt hại về thuỷ lợi: 06 công trình, 1.084 m kênh bị hư hỏng; - Thiệt hại khác: thiệt hại về công nghiệp 333 cột điện bị đổ, gãy; 06 trạm biến thế bị hư hỏng; 1.433m đường dây điện bị đứt; 67 nhà xưởng bị thiệt hại; 840m bị sạt và 29.900 m2 bị bong xô kè bờ thuỷ điện; thông tin liên lạc: 160 cột treo cáp bị gãy, đổ; 262 nhà trạm, 14 tuyến cáp bị hư hỏng; Nước sạch: 51 công trình cấp nước sinh hoạt nông thôn bị hư hỏng; 38 trụ sở cơ quan, 25 chợ, trung tâm thương mại, 06 nhà kho bị hư hỏng,… cùng nhiều trang thiết bị, vật tư, đồ dùng trang thiết bị khác. 8. Một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm năm 2026 Năm 2026 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là năm tố chức Đại hội toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI, bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp và năm đầu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2026-2030, bước vào Kỷ nguyên vươn mình phát triển giàu mạnh, thịnh vượng của dân tộc với mục tiêu tăng trưởng hai con số ngay từ năm đầu nhiệm kỳ. Với quyết tâm hoàn thành cao nhất các mục tiêu, chỉ tiêu kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh đã đề ra trong năm 2026. Để phấn đấu hoàn thành các mục tiêu theo kế hoạch cần phải tiếp tục thực hiện tốt một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm sau: 1. Về phát triển kinh tế: Thúc đẩy phát triển kinh tế nông nghiệp nhanh, hiệu quả, bền vững, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp gắn với hình thành các chuỗi liên kết trong sản xuất, chế biến tiêu thụ sản phẩm. Xây dựng Đề án phát triển nông nghiệp bền vững gắn với kinh tế nông nghiệp xanh, nông nghiệp số và mục tiêu xây dựng nông thôn, nông dân giàu có. Tập trung phát triển vùng nguyên liệu, ứng dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật nhằm nâng cao giá trị sản xuất trồng trọt tính trên đơn vị diện tích; nhân rộng các mô hình sản xuất hiệu quả. Thực hiện có hiệu quả Chương trình Mỗi xã một sản phẩm (OCOP) năm 2026, chú trọng xây dựng và phát triển giá trị thương hiệu các sản phẩm nông nghiệp; quan tâm tái công nhận các sản phẩm OCOP, Viet GAP; Đề án “Xây dụng Tuyên Quang trở thành Khu Lâm nghiệp úng dụng công nghệ cao và Trung tâm sản xuất, chế biển gẫ”, từng bước tiếp cận thị trường tín chỉ carbon trong ngành lâm nghiệp và thúc đẩy phát triển kinh tế rừng. Quản lý chặt chẽ việc khai thác gỗ rừng trồng, việc kinh doanh, chế biến lâm sản. Đẩy mạnh hoạt động xúc tiến đầu tư, tranh thủ tối đa các nguồn lực của Trung ương và địa phương để đầu tư hoàn thiện kết cấu hạ tầng cụm công nghiệp. Tiếp tục kêu gọi các doanh nghiệp có năng lực đầu tư và kinh doanh hạ tầng kỹ thuật các khu, cụm công nghiệp. Hoàn thành đầu tư xây dựng hạ tầng các cụm công nghiệp đã thành lập trên địa bàn tỉnh, như: Ninh Lai - Thiện Kế, An Hòa - Long Bình An, Xuân Vân, Phúc Ứng 2, Nam Quang, Tân Bắc,...Thu hút đầu tư các dự án sản xuất, chế biến gỗ, cơ khí, điện tử, năng lượng tái tạo, đặc biệt là những dự án quy mô lớn, trong đó ưu tiên đầu tư các dự án chế tạo, gia công máy móc thiết bị. Phát triến công nghiệp hỗ trợ với mục tiêu tạo nền tảng cho phát triển các ngành công nghiệp chủ lực của tỉnh bền vững và thân thiện với môi trường. Tăng cường công tác thông tin tuyên truyền, tư vấn về chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và phát triển bền vũng trong hoạt động thương mại, phân phối tiêu dùng. Tích cực triển khai đổi mới, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động xúc tiến thương mại, xây dựng, quảng bá thương hiệu, kết nối cung cầu cho một số sản phẩm chủ yếu của tỉnh. Tiếp tục triển khai đầu tư xây dựng, quản lý, khai thác chợ trên địa bàn tỉnh. Tăng cường thực hiện công tác đấu tranh chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả trong tình hình mới. Tập trung triển khai các kế hoạch, chương trình, nhiệm vụ trọng tâm về phát triến kinh tế biên mậu, thúc đẩy xuất nhập khẩu. Triển khai đồng bộ các giải pháp phát triển hệ thống hạ tầng và các dịch vụ hỗ trợ xuất nhập khẩu. Đẩy mạnh các hoạt động hội đàm, trao đổi thông tin, xúc tiến thương mại với các cơ quan đồng cấp phía Trung Quốc để duy trì, phát triển hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa qua các cửa khấu của tỉnh. Tích cực triến khai đồng bộ các Hiệp định thương mại song phương và đa phương mà hai bên cùng tham gia ký kết. Hỗ trợ nâng cao năng lực cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu trên địa bàn. Nâng cao chất lượng, hiệu quả các ngành dịch vụ: vận tải, bưu chính, viễn thông, thương mại, xuất khẩu... phát triển các loại hình dịch vụ mới có giá trị gia tăng cao phù họp với định hướng phát triến của tỉnh, như: giáo dục, đào tạo, văn hoá, y tế, tài chính, ngân hàng, khoa học công nghệ,...; đẩy mạnh xã hội hoá các dịch vụ công. Phát huy tiềm năng, lợi thế, bản sắc văn hoá, không gian, cảnh quan, di sản để thúc đẩy du lịch theo hướng chuyên nghiệp, xanh, đặc trưng, bền vững, sớm đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh. Tiếp tục triển khai chiến lược truyền thông và tham gia bình chọn Giải thưởng Du lịch Thế giới, giữ vững danh hiệu “Điểm đến văn hóa khu vực hàng đầu Châu Á Tập trung các nguồn lực đầu tư, phát triển hạ tầng phục vụ phát triển du lịch; chú trọng thu hút đầu tư các dịch vụ nghỉ dưỡng, khu vui chơi, giải trí cao cấp; dịch vụ mua sắm, ẩm thực; phát triển các làng nghề truyền thống... 2. Cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh; phát triển các thành phần kinh tế và thu hút đầu tư: Tập trung triển khai các nhiệm vụ, giải pháp thực hiện Chương trình của Tỉnh ủy và Kế hoạch của ƯBND tỉnh về thực hiện Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân. Đẩy mạnh triển khai các nhiệm vụ, giải pháp về cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh, tạo môi trường đầu tư thông thoáng, thuận lợi, thu hút các nhà đầu tư, tập đoàn lớn, tiềm năng đến đầu tư tại tỉnh, cắt giảm, đơn giản hóa 30% thủ tục hành chính, thời gian thực hiện thủ tục hành chính thuộc phạm vi chức năng quản lý của tỉnh có liên quan đến hoạt động đầu tư, sản xuất kinh doanh; công khai, minh bạch các thủ tục về đầu tư, kinh doanh; đẩy mạnh việc hỗ trợ người dân, doanh nghiệp sử dụng dịch vụ công trực tuyến không phụ thuộc vào địa giới hành chính. Triển khai thực hiện các cơ chế, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp, kinh tế tư nhân, kinh tế tập thể, hợp tác xã về vốn, đất đai, thị trường, thuế,... Chú trọng phát triên kinh tế tập thế; quan tâm xây dựng một số hợp tác xã gắn với tổ chức sản xuất theo chuỗi giá trị, đáp ứng nhu cầu thị trường. Tiếp tục thực hiện cơ câu lại, đôi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp có vốn nhà nước; hoàn thành việc sắp xếp, thoái vốn nhà nước đối với doanh nghiệp do tỉnh quản lý theo lộ trình, kế hoạch đã được phê duyệt. Triển khai Chương trình Xúc tiến đầu tư năm 2026; nâng cao hiệu quả, chất lượng công tác tư vấn, xúc tiến đầu tư và hỗ trợ nhà đầu tư tìm hiểu, lập và triển khai dự án. Tập trung tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ thi công, hoàn thành các dự án đầu tư ngoài ngân sách nhất là một số dự án trọng điếm. Rà soát, phân loại tiến độ thực hiện các dự án để có biện pháp xử lý phù hợp; kiên quyết thu hồi các dự án, nhà đầu tư không đủ năng lực theo quy định. 3. Văn hóa - xã hội: Tiếp tục triển khai đồng bộ các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông; tố chức triển khai thực hiện hiệu quả Kế hoạch năm học 2025 - 2026. Chú trọng bố trí, sử dụng giáo viên đảm bảo hợp lý, quan tâm bố trí giáo viên tại các trường học vùng sâu, vùng xa; đổi mới phương pháp dạy học, kiếm tra đánh giá chất lượng giáo dục, đảm bảo thực chất, chống bệnh thành tích. Tiếp tục thực hiện các giải pháp để nâng cao chất lượng giáo dục đại trà; huy động trẻ đi nhà trẻ. Rà soát, sắp xếp lại quy mô trường lớp theo hướng tinh gọn, hiệu quả; mở rộng mạng lưới trường ngoài công lập; tiếp tục xây dựng và thực hiện Đề án đầu tư xây dựng, nâng cấp các trường tiểu học, trung học cơ sở thành trường nội trú liên cấp tại các xã biên giới; củng cố hệ thống trường mầm non đạt chuẩn. Thực hiện đồng bộ các giải pháp nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh, hướng tới sự hài lòng của người bệnh tại các tuyến y tế. Tiếp tục kiện toàn, hoàn thiện hệ thống tổ chức y tế và tăng cường quản lý nhân lực y tế sau sáp nhập, đảm bảo tinh gọn, phù hợp và đạt hiệu quả cao. Thực hiện sắp xếp lại các trạm y tế đảm bảo đạt tiêu chí mỗi trạm y tế xã có 02 bác sĩ trở lên. Tăng cường thực hiện hiệu quả các thỏa thuận đã ký kết hợp tác với các bệnh viện tuyến Trung ương trong việc tiếp nhận hỗ trợ chuyên môn, chuyển giao kỹ thuật, đào tạo nâng cao chất lượng khám chữa bệnh tại các tuyến. Tiếp tục xây dựng Bệnh viện Đa khoa tỉnh trở thành Trung tâm khoa học, kỹ thuật y tế, chuyển giao công nghệ, đảm bảo chăm sóc sức khỏe nhân dân tuyến Đông Bắc; chuẩn bị đầy đủ phương án và các điều kiện bảo đảm Bệnh viện Đa khoa tỉnh tại địa điểm mới đi vào hoạt động ngay sau khi hoàn thành đầu tư xây dựng. Đẩy mạnh hoạt động thông tin thị trường lao động, tư vấn, giới thiệu việc làm; tăng cường giải pháp kết nối cung - cầu lao động thông qua hoạt động phiên giao dịch việc làm Online nhằm hỗ trợ người lao động tìm kiếm việc làm; quan tâm triến khai công tác đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng và thời vụ tại Hàn Quốc, Trung Quốc theo các thỏa thuận hợp tác; tăng cường công tác quản lý nhà nước về lao động, tiền lương và cấp giấy phép lao động cho người nước ngoài làm việc tại tỉnh; xây dụng quan hệ lao động hài hòa, ổn định; phát triển đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội. Thực hiện kịp thời, đầy đủ chính sách người có công với cách mạng và thân nhân; làm tốt công tác "Đền ơn đáp nghĩa"; tích cực phối hợp thực hiện công tác tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ, phối hợp lấy mẫu hài cốt giám định ADN xác định danh tính liệt sĩ. Quan tâm rà soát nhà tạm, nhà dột nát để tiếp tục hỗ trợ. Thực hiện tốt công tác trợ giúp xã hội, thúc đẩy bình đẳng giới, bảo đảm quyền trẻ em. 4. Quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường; thích ứng với biến đổi khí hậu: Tiếp tục hoàn thiện hệ thống văn bản pháp lý liên quan đến quản lý đất đai, môi trường và tài nguyên, đảm bảo tính đồng bộ và hiệu quả trong triển khai thực hiện. Đẩy nhanh tiến độ triển khai Dự án xây dựng hệ thống hồ sơ địa chính và cơ sở dữ liệu quản lý đất đai tỉnh Tuyên Quang; đề án tăng cường quản lý đối với đất đai có nguồn gốc từ các nông, lâm trường; tổ chức thực hiện kiểm kê đất đai cấp xã và lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất. Kịp thời giải quyết tháo gỡ khó khăn về thủ tục đất đai cho các dự án phát triển kinh tế - xã hội; các khó khăn, vướng mắc trong công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng. 5. Phát triển khoa học, công nghệ; đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số Quản lý, tổ chức thực hiện các đề tài, dự án khoa học và công nghệ cấp tỉnh năm 2026 đảm bảo tiến độ, đạt chất lượng, mang lại hiệu quả; đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao khoa học, công nghệ trên các lĩnh vực, chú trọng ứng dụng công nghệ cao trong tạo giống, thâm canh, thu hoạch, bảo quản, chế biến các sản phẩm nông, lâm nghiệp, thủy sản chủ lực, đặc sản, có lợi thế của tỉnh gắn với việc xây dựng nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, dần hình thành được vùng sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao quy mô lớn và đẩy mạnh ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn sản xuất, đời sống. Đẩy mạnh thực hiện Kế hoạch phát triển hạ tầng số tỉnh Tuyên Quang, kế hoạch chuyển đối số tỉnh Tuyên Quang năm 2026. Tiếp tục triển khai các giải pháp kỹ thuật hợp nhất hạ tầng thông tin, hạ tầng số của tỉnh; ưu tiên đầu tư phủ sóng di động tại các vùng sâu, vùng xa, vùng trắng, lõm sóng; tăng cường vùng phủ sóng 4G/5G. Vận hành ổn định hệ thống điều hành thông minh, nền tảng tích hợp chia sẻ dữ liệu, trung tâm tích hợp dữ liệu; phát triển chính quyền số, kinh tế số, xã hội số đồng bộ từ cấp tỉnh đến cơ sở. Thực hiện có hiệu quả phong trào “Bình dân học vụ số”; “Phổ cập kỹ năng số cho người dân” thông qua các Tố công nghệ số cộng đồng. 6. Quốc phòng, an ninh và đối ngoại: Triển khai thực hiện đồng bộ, toàn diện các nhiệm vụ, giải pháp chiến lược về bảo vệ tổ quốc, bảo vệ an ninh quốc gia, tăng cường lực lượng, phương tiện cho công tác tuần tra, kiểm soát, ngăn chặn các trường hợp xâm phạm, buôn lậu, xuất nhập cảnh trái phép, đấu tranh phòng chống tội phạm, giữ gìn an ninh trật tự khu vực biên giới. Thực hiện tốt nhiệm vụ bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm và nhiệm vụ quốc phòng. Xây dựng cơ sở chính trị vững mạnh, giúp nhân dân phát triển kinh tế, xoá đói, giảm nghèo. Triển khai các giải pháp ứng phó, bảo đảm trật tự an toàn giao thông, phòng, chống cháy, nổ và cứu nạn, cứu hộ. Giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, tôn giáo, không đế phát sinh “điểm nóng”. Hoàn thành 100% chỉ tiêu tuyển quân và hoàn thành nhiệm vụ quân sự, quốc phòng theo kế hoạch. Tiếp tục đẩy mạnh rà phá bom, mìn, vật nổ và tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sỹ. Nâng cao chất lượng điều tra, giải quyết các loại án đảm bảo đúng pháp luật.THỐNG KÊ TỈNH TUYÊN QUANG
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 11 năm 2025 tỉnh Tuyên Quang
- 09/12/2025 13:36
I. PHÁT TRIỂN KINH TẾ Tháng 11 năm 2025, tình hình trong nước và thế giới tiếp tục biến động phức tạp, nhiều khó khăn, thách thức lớn. Trong tỉnh, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo tập trung, thống nhất của Tỉnh ủy; sự giám sát chặt chẽ của Hội đồng nhân dân tỉnh, Ủy ban nhân dân tỉnh đã chủ động chỉ đạo quyết liệt, có trọng tâm, trọng điểm, khẩn trương triển khai thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp trên tất cả các lĩnh vực kinh tế - xã hội. Đẩy mạnh sản xuất, kinh doanh trên các lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp, xây dựng, thương mại, dịch vụ để thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế năm 2025; tiếp tục tăng cường các biện pháp phòng, chống dịch Tả lợn Châu Phi; khắc phục hậu quả do thiên tai gây ra, đặc biệt là hậu quả của hoàn lưu cơn bão số 10 và 11, khôi phục sản xuất, ổn định đời sống nhân dân. Kết quả đạt được cụ thể ở các ngành, lĩnh vực như sau: 1. Về sản xuất nông nghiệp (tính đến ngày 20/11/2025) 1.1. Trồng trọt 1.1.1. Sản xuất vụ mùa năm 2025 Trong tháng 11, các hoạt động sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh diễn ra trong điều kiện thời tiết tương đối thuận lợi. Bà con nhân dân tập trung hoàn thành thu hoạch lúa, ngô và các loại cây trồng vụ Mùa, đồng thời đẩy nhanh tiến độ gieo trồng cây vụ Đông năm 2025 – 2026 đảm bảo khung thời vụ, chủ động các phương án phòng, chống dịch bệnh trên cây trồng; cơ cấu cây trồng được chuyển hướng tích cực. - Cây lúa: Toàn tỉnh đã thu hoạch 52.253,22 ha, đạt 98,73% so với diện tích lúa đã cấy. Diện tích còn lại chưa thu hoạch là 671,34 ha. - Cây ngô, lạc, đậu tương, rau đã thu hoạch 100% diện tích gieo trồng. 1.1.2. Về sản xuất vụ đông Nhìn chung tiến độ gieo trồng cây hàng năm vụ Đông 2025-2026 tăng nhẹ so với cùng kỳ do trong tháng thời tiết thuận lợi, không có mưa lớn xảy ra. Tiến độ gieo trồng tính đến ngày 20/11/2025 của các địa phương trên địa bàn tỉnh (đất ruộng 2 vụ) như sau: - Ngô lấy hạt: Diện tích gieo trồng đạt 5.465 ha, tăng 1,37%. - Khoai lang: Diện tích gieo trồng đạt 1.024 ha, tăng 0,89%. - Đậu tương: Diện tích gieo trồng đạt 36 ha, bằng 100%. - Lạc: Diện tích gieo trồng đạt 28 ha, bằng 100%. - Rau các loại: Diện tích gieo trồng đạt 7.309 ha, tăng 3,21%. 1.2. Tình hình sinh vật gây hại a. Cây hàng năm vụ Đông: Cây ngô: Sâu keo mùa thu gây hại rải rác, mật độ nơi cao 1-2 con/m2, cục bộ 3-4 con/m2. Diện tích nhiễm 10 ha tại các xã: Bằng Hành, Bắc Quang, Xuân Giang, Tân Quang, Tiên Yên, Hùng An, Tân Trịnh. Bệnh đốm lá gây hại rải rác. Cây rau vụ Đông: bọ nhảy, sâu xanh bướm trắng, sâu khoang, bệnh thối nhũn, bệnh lở cổ rễ gây hại rải rác. b. Cây lâu năm: Cây chè (ra búp): Bọ xít muỗi gây hại rải rác, nơi cao 3-5% số búp, cục bộ 8-10% số búp. Diện tích nhiễm 23 ha tại các xã: Hùng An, Quang Bình, Tân Trịnh, Bắc Quang, Tiên Yên, Bằng Lang, Vĩnh Tuy. Cây có múi; Bệnh vàng lá, thối rễ (do bệnh greening, nấm...) gây hại phổ biến 1-3%, nơi cao 4-6%, cục bộ 10-12% số cây. Diện tích nhiễm 56 ha tại các xã: Phù Lưu, Hàm Yên, Yên Phú, Bạch Xa, Hùng An, Vĩnh Tuy, Đồng Yên, Tiên Yên, Bằng Lang. c. Cây lâm nghiệp: Sâu ăn lá, bệnh chết héo trên cây keo, bệnh đốm lá, khô cành trên cây bạch đàn, sâu xanh ăn lá trên cây bồ đề gây hại rải rác. 1.3. Về chăn nuôi - Đàn trâu: Tổng đàn là 218.889 con, giảm 2,62% (giảm 5.878 con) so với cùng kỳ năm 2024. Xu hướng giảm đàn trâu vẫn tiếp diễn do hiệu quả kinh tế không cao và diện tích chăn thả bị thu hẹp. - Đàn bò: Tổng đàn là 175.698 con, tăng 0,57% (tăng 992 con). Đàn bò sữa 6.781 con, tăng 0,27% (tăng 18 con). Đàn bò tiếp tục tăng nhẹ nhờ các chính sách hỗ trợ phát triển chăn nuôi của tỉnh. - Đàn lợn: Tổng đàn là 1.187.412 con, giảm 2,95% (giảm 36.083 con). Đàn lợn vẫn chịu ảnh hưởng từ dịch tả lợn Châu Phi tái phát ở một số nơi, khiến việc tái đàn còn gặp khó khăn. - Đàn gia cầm: Tổng đàn là 13.742,21 nghìn con, tăng 3,53% (tăng 467,96 nghìn con). Trong đó: Đàn gà là 12.421,18 nghìn con, tăng 3,19% (tăng 384,02 nghìn con). Chăn nuôi gia cầm phát triển tốt do nhu cầu thị trường ổn định và có nhiều mô hình liên kết hiệu quả. 1.4. Về công tác phòng chống dịch bệnh gia súc, gia cầm trong tháng 1.4.1. Công tác phòng chống và điều trị Chi cục Thú y trên địa bàn tỉnh luôn chủ động phối hợp với các xã theo dõi chặt chẽ tình hình dịch bệnh gia súc, gia cầm, thuỷ sản, đặc biệt các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm như bệnh Dịch tả lợn Châu phi. Triển khai thực hiện đồng bộ các giải pháp phòng, chống dịch bệnh động vật. Trong tháng Dịch tả lợn Châu Phi phát sinh tại 1.441 hộ, 39 thôn, số lợn tiêu hủy là 12.552 con/575.184 kg. Luỹ kế từ ngày 05/7/2025 đến ngày 10/11/2025, toàn tỉnh ghi nhận 194.340 con lợn mắc bệnh buộc tiêu hủy tại 21.135 hộ/1.975 thôn/117 xã; Tổng khối lượng 9.590.433 kg. Đến ngày 10/11/2025 đã có 45 xã qua 21 ngày không phát sinh ca mắc bệnh mới, 24 xã đã công bố hết dịch. 1.4.2. Công tác kiểm dịch vận chuyển động vật, sản phẩm động vật Tiếp tục thực hiện chặt chẽ đúng quy định công tác kiểm dịch vận chuyển ngoài tỉnh, kết quả: Trong tháng 11 đã kiểm tra cấp 358 giấy chứng nhận kiểm dịch vận chuyển (trong đó: 211 chuyến, vận chuyển 19.498 con gia súc, gia cầm, 147 chuyến, vận chuyển 2.767.647 kg sữa tươi nguyên liệu). Lũy kế từ đầu năm đến nay đã cấp 3.769 giấy chứng nhận kiểm dịch vận chuyển, trong đó: 1.963 chuyến vận chuyển 269.078 con gia súc, gia cầm và 5.760 con cá giống; 1.799 chuyến vận chuyển 34.014.647 kg sữa tươi nguyên liệu và 16.040 kg sản phẩm động vật chế biến làm thức ăn chăn nuôi, các lô hàng được vận chuyển đi các tỉnh: Bắc Ninh, Hà Nội, Ninh Bình…. 1.5. Về sản xuất lâm nghiệp 1.5.1. Công tác trồng rừng Ước tháng 11 tổng diện tích rừng trồng tập trung toàn tỉnh đã trồng được 301 ha, giảm 53,54% so với cùng kỳ năm 2024; lũy kế 11 tháng đã trồng được 14.546,10 ha. 1.5.2. Khai thác gỗ rừng trồng Ước tháng 11 toàn tỉnh khai thác được 220.968 m3 gỗ, tăng 74,83% so với cùng kỳ năm 2024. Cộng dồn 11 tháng toàn tỉnh đã khai thác được trên 1.384.020,7 m3. Sản lượng khai thác là gỗ rừng trồng nguyên liệu. 1.5.3. Công tác quản lý bảo vệ rừng Công tác quản lý, bảo vệ rừng được các cấp, các ngành quan tâm, đồng thời tuyên truyền, vận động nhân dân tích cực tham gia thực hiện kế hoạch trồng rừng năm 2025; tuyên truyền, phổ biến giáo dục cho người dân nâng cao nhận thức về các chính sách quản lý bảo vệ và phát triển rừng; tăng cường kiểm tra, ngăn chặn việc phá rừng, đốt rừng, triệt phá các đường dây buôn bán, vận chuyển lâm sản trái phép. Thường xuyên cảnh báo nguy cơ cháy rừng, đẩy mạnh tuyên truyền về công tác phòng cháy chữa cháy rừng; phối hợp chặt chẽ với cơ quan chức năng và chính quyền cơ sở, các chủ rừng tăng cường kiểm tra, kiểm soát, phát hiện kịp thời, xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật các hành vi xâm hại rừng. Theo báo cáo của Chi cục Kiểm lâm tỉnh, trong tháng mưa nhiều nên không phát sinh vụ cháy rừng. Lũy kế 11 tháng xảy ra 27 vụ, tăng 125% về số vụ, diện tích thiệt hại là 64,72 ha, tăng 115,24%. Trong tháng không xảy ra vụ chặt phá rừng. Lũy kế 11 tháng xảy ra 36 vụ phá rừng giảm 27 vụ so với cùng kỳ năm trước, diện tích rừng bị phá 10,09 ha giảm 12,96 ha. Số vụ phá rừng và diện tích rừng bị phá giảm mạnh do cơ quan chức năng tăng cường kiểm tra, giám sát, phát hiện và ngăn chặn kịp thời. 3. Sản xuất công nghiệp 3.1. Chỉ số phát triển công nghiệp - Chỉ số sản xuất công nghiệp IIP trong tháng ước tính giảm 15,81% so với tháng trước, tăng 2,03% so với cùng kỳ, cụ thể của các ngành như sau: Ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí giảm 39,18%, tăng 43,95%; cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 2,25%, tăng 10,04%; khai khoáng tăng 0,2%, giảm 32,72%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 0,15%, giảm 7,99%. Một số ngành công nghiệp cấp II trong tháng có chỉ số sản xuất tăng so với cùng kỳ năm trước như: Dệt tăng 28,57%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 118,04%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 24,91%;... Tính chung trong 11 tháng, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 7,06% so với cùng kỳ năm trước, Chia theo từng ngành kinh tế cấp I như sau: + Ngành khai khoáng giảm 4,81%, nguyên nhân do một số công ty khai thác quặng kim loại gặp khó khăn nên tạm ngừng hoạt động sản xuất làm cho sản lượng khai thác giảm so với cùng kỳ. + Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 6,81%, do một số ngành chế biến tăng như: Dệt tăng 58,38%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 65,11%; sản xuất giường, tủ, bàn ghế tăng 23,67%;... + Ngành sản xuất và phân phối điện tăng 8,93% nguyên nhân là do lượng mưa từ đầu năm đến nay nhiều hơn và kết thúc muộn hơn so với cùng kỳ, các nhà máy thủy điện trên địa bàn tỉnh đã tích nước tận dụng được tối đa nguồn tài nguyên nước để sản xuất điện. + Ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,22%, do hoạt động khai thác, xử lý và cung cấp nước tăng. 3.2. Sản phẩm công nghiệp chủ yếu Tháng 11 năm 2025, một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng khá so với cùng kỳ năm trước: Sắt, thép không hợp kim dạng thỏi đúc hoặc dạng thô khác ước đạt 27.000 tấn, tăng 7,87%; Mangan và sản phẩm của Mangan ước đạt 1.010 tấn, tăng 48,84%; điện sản xuất ước đạt 399 triệu Kwh, tăng 47,5%;... Tuy nhiên, cũng có một số sản phẩm giảm như bột barit ước đạt 728 tấn, giảm 81,82%; giày, dép thể thao có mũ bằng da ước đạt 800 nghìn đôi, giảm 50,57%; áo sơ mi cho người lớn dệt kim hoặc đan móc đạt 190 nghìn cái, giảm 24%;… - Tính chung trong 11 tháng đầu năm 2025, một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng khá so với cùng kỳ năm trước: Bột Felspat tăng 13,51%; ván ép từ gỗ tăng 31,80%;...Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu giảm so với cùng kỳ năm trước như: Đá xây dựng giảm 16,57%; bột Barit giảm 60,59%; chè (trà) nguyên chất giảm 8,62%;… Đánh giá chung: Các doanh nghiệp tiếp tục ổn định và phát triển sản xuất, tỉnh tiếp tục tư vấn, hỗ trợ các công ty, tập đoàn tìm hiểu, khảo sát môi trường đầu tư, kinh doanh để triển khai thực hiện dự án. Tổ chức các hội nghị gặp gỡ, tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh. Chỉ đạo triển khai phương án sắp xếp, tổ chức lại doanh nghiệp nhà nước và cơ cấu tổ chức bên trong các doanh nghiệp thuộc thẩm quyền quản lý, bảo đảm phù hợp với tình hình mới và yêu cầu nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. 4. Vốn đầu tư, xây dựng 4.1. Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước thực hiện tháng 11 ước đạt 1.050,9 tỷ đồng, tăng 8,10% so với tháng trước. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 798,5 tỷ đồng, tăng 8,4%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã đạt 252,4 tỷ đồng, tăng 7,16%. Tính chung trong 11 tháng, nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 8.865,3 tỷ đồng, giảm 3,97% so với cùng kỳ. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 6.770,9 tỷ đồng, tăng 0,72%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã đạt 2.094,5 tỷ đồng, giảm 11,15%. 4.2. Hoạt động xây dựng Tập trung chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng và triển khai thực hiện các dự án trọng điểm như: Khu đô thị nghỉ dưỡng Mỹ Lâm - Tuyên Quang; dự án đầu tư hạ tầng kỹ thuật Cụm Công nghiệp Xuân Vân; nhà máy điện sinh khối Tuyên Quang… Tiếp tục tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong thực hiện các dự án đầu tư, nhất là các dự án trọng điểm của tỉnh. Giải ngân vốn đầu tư công từ đầu năm đến ngày 15/11/2025 đạt 5.702,151/17.311,647 tỷ đồng, đạt 32,9% kế hoạch vốn được giao, trong đó: Giải ngân vốn kế hoạch năm trước được phép kéo dài là 945,42/2.377,60 tỷ đồng, đạt 39,8% kế hoạch; Giải ngân vốn kế hoạch năm 2025 là 4.756,73/14.934,04 tỷ đồng, đạt 31,8% kế hoạch. 5. Thương mại và Dịch vụ 5.1. Doanh thu bán lẻ hàng hóa Doanh thu bán lẻ hàng hóa tháng 11 ước đạt 4.732 tỷ đồng, tăng 4,78% so với tháng trước, tăng 10,38% so với cùng kỳ. Trong đó, một số nhóm hàng tăng so tháng trước, tăng so cùng kỳ cụ thể như sau: Nhóm hàng lương thực, thực phẩm đạt 1.489 tỷ đồng, tăng 7,32%, tăng 2,55%; nhóm hàng may mặc đạt 367 tỷ đồng, tăng 3,55%, tăng 25,94%; nhóm vật phẩm văn hóa, giáo dục đạt 83 tỷ đồng, tăng 6,05%, tăng 22,90%…Ở chiều ngược lại, nhóm xăng, dầu các loại đạt 480 tỷ đồng, giảm 3,16% so với cùng kỳ;…Tính chung trong 11 tháng, tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 46.387 tỷ đồng, tăng 11,92% so với năm 2024. 5.2. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ khác Trong tháng, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, lữ hành ước đạt 625 tỷ đồng, tăng 15,43% so với tháng trước, tăng 31,27% so với cùng kỳ. Trong đó: Dịch vụ lưu trú đạt 61 tỷ đồng, tăng 18,25%, tăng 24,68%; ăn uống đạt 556 tỷ đồng, tăng 14,45%, tăng 31,27%; du lịch lữ hành đạt 8 tỷ đồng, tăng 103,52%, tăng 125,34%. Tính chung trong 11 tháng, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, lữ hành ước đạt 5.927 tỷ đồng, tăng 17,74% so với cùng kỳ. Doanh thu dịch vụ tiêu dùng khác trong tháng ước đạt 237 tỷ đồng, tăng 6,99% so với tháng trước, tăng 17,43% so với cùng kỳ. 5.3. Giá cả Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 11/2025 tăng 0,41% so với tháng trước, tăng 3,11% so với tháng 12 năm trước, tăng 3,34% so với cùng kỳ, tăng 2,38% so với kỳ gốc 2024. Chỉ số giá bình quân 11 tháng đầu năm 2025 tăng 2,6% so với cùng kỳ. Chỉ số giá tiêu dùng tháng 11/2025 tăng nhẹ so với tháng trước, trong 11 nhóm hàng hóa có 07 nhóm hàng hóa có chỉ số tăng, 04 nhóm có chỉ số giảm, cụ thể như sau: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,52% nguyên nhân chủ yếu là do giá thịt lợn tăng nhẹ sau dịch; nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0,64%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,04%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,14%; nhóm giao thông tăng 0,55%; nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,36%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,44% nguyên nhân chủ yếu là do giá trang sức tăng theo giá vàng. 04 nhóm hàng giảm giá gồm: Nhóm đồ uống và thuốc lá giảm 0,06%; nhóm may mặc, mũ nón và giày dép giảm 0,18%; nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,03%; nhóm giáo dục giảm 0,01%. Chỉ số giá bình quân 11 tháng năm 2025 tăng 2,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó 7/11 nhóm hàng có chỉ số tăng: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 3,66%; đồ uống, thuốc lá tăng 1,85%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 1,02%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 9,97%; thiết bị, đồ dùng gia đình tăng 0,19%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 9,94%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 3,23%. Có 4/11 nhóm hàng chỉ số giá giảm so với cùng kỳ như giao thông giảm 3,35%; bưu chính viễn thông giảm 0,4%; giáo dục giảm 12,05%; văn hóa, giải trí và du lịch giảm 1,03%. Chỉ số giá vàng so với tháng trước tăng 0,35%; so với tháng 12 năm trước tăng 71,58%; so với cùng kỳ tăng 70,35%; so với kỳ gốc 2024 tăng 81,58%; bình quân 11 tháng đầu năm 2025 chỉ số giá vàng tăng 46,71%. Chỉ số giá đô la Mỹ giảm 0,07% so với tháng trước, tăng 2,97% so với tháng 12 năm trước; tăng 2,96% so với cùng kỳ; tăng 4,30% so với kỳ gốc năm 2024; bình quân 11 tháng đầu năm 2025 chỉ số giá đô la Mỹ tăng 3,69%. 5.4. Tình hình xuất, nhập khẩu hàng hóa Thường xuyên nắm bắt tình hình, kịp thời hỗ trợ doanh nghiệp tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy sản xuất và xuất khẩu trong bối cảnh thị trường thế giới biến động. Hoạt động xuất - nhập khẩu diễn ra thuận lợi, bảo đảm an ninh trật tự và tạo điều kiện giao thương tại cửa khẩu quốc tế Thanh Thủy - đầu mối quan trọng với tỉnh Vân Nam (Trung Quốc); lượng phương tiện và hàng hóa thông quan tăng mạnh. Tổng kim ngạch xuất hàng hóa trong tháng 11 ước đạt 40 triệu USD, đạt 7,41% kế hoạch, tăng 64,41% so với cùng kỳ. Tổng kim ngạch nhập khẩu ước đạt 24,84 triệu USD, đạt 10,8% kế hoạch, tăng 78,96% so cùng kỳ, trong đó chủ yếu là nhập máy móc, thiết bị, phụ tùng và nguyên liệu may mặc. Tính chung trong 11 tháng đầu năm 2025, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 759,84 triệu USD, đạt 140,71% kế hoạch, tăng 123,7% so với cùng kỳ. Kim ngạch nhập khẩu ước đạt 201,2 triệu USD, đạt 87,48% kế hoạch, tăng 24,20%. 6. Vận tải hàng hóa và hành khách Chỉ đạo các đơn vị vận tải, bến xe, doanh nghiệp, hợp tác xã bảo đảm an toàn, lưu thông hàng hóa, phục vụ nhu cầu đi lại của nhân dân trong dịp cuối năm, bảo đảm an toàn trong cung ứng dịch vụ bưu chính, thông tin liên lạc; đồng thời phát triển các loại hình dịch vụ, góp phần vào tăng trưởng kinh tế của tỉnh. 6.1. Doanh thu vận tải tải kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải Doanh thu vận tải trong tháng ước đạt 535,01 tỷ đồng, tăng 9,05% so với tháng trước, tăng 1,58% so với cùng kỳ. Trong đó, vận tải hành khách đạt 105,79 tỷ đồng, tăng 9,57%, tăng 2,99%; vận tải hàng hóa đạt 427,22 tỷ đồng, tăng 8,92%, tăng 1,23%; doanh thu dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 1,3 tỷ đồng, tăng 7,69%, tăng 5,21%; hoạt động bưu chính, chuyển phát đạt 0,70 tỷ đồng, tăng 12,60%, tăng 0,02%. Tính chung trong 11 tháng đầu năm 2025, doanh thu vận tải kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 5.696,93 tỷ đồng, tăng 15,07% so với cùng kỳ. Trong đó: vận tải hành khách đạt 1.167,18 tỷ đồng, tăng 16,42%; vận tải hàng hóa đạt 4.505,11 tỷ đồng, tăng 14,74%; dịch vụ hỗ trợ vận tải kho bãi đạt 17,53 tỷ đồng, tăng 15,42%; bưu chính, chuyển phát đạt 7,11 tỷ đồng, tăng 9,83%.6.2. Vận tải hành khách và hàng hóaTrong tháng khối lượng hành khách vận chuyển ước đạt 1,64 triệu lượt hành khách, tăng 7,26% so với tháng trước, tăng 1,82% so với cùng kỳ; khối lượng hành khách luân chuyển ước đạt 154,09 triệu lượt hành khách.km, tăng 4,77%, tăng 4,19%. Tính chung 11 tháng đầu năm 2025, khối lượng hành khách vận chuyển ước đạt 18,77 triệu lượt hành khách, tăng 15,31% so với cùng kỳ; khối lượng hành khách luân chuyển ước đạt 1.600,04 triệu lượt hành khách.km, tăng 14,33%. Khối lượng hàng hóa vận chuyển trong tháng ước đạt 2,73 triệu tấn, tăng 8,36% so với tháng trước, tăng 2,26% so với cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 175,03 triệu tấn.km, tăng 8,86%, tăng 3,20%. Tính chung 11 tháng đầu năm 2025, khối lượng hàng hóa vận chuyển ước đạt 29,72 triệu tấn, tăng 15,25% so với cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 1.849,32 triệu tấn.km, tăng 14,43%. 7. Về du lịch Tổ chức thành công Lễ hội hoa Tam giác mạch lần thứ XI và đón nhận các danh hiệu du lịch năm 2025, trong đó làng Lô Lô Chải được vinh danh là một trong những "Làng du lịch tốt nhất thế giới 2025" bởi Tổ chức Du lịch Liên Hợp Quốc (UN Tourism). Phối hợp với Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam tổ chức Hội thảo “Phát triển du lịch cộng đồng bền vững tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi”; tham dự Lễ khai mạc Hội chợ kinh tế, thương mại và du lịch biên giới Việt Nam - Trung Quốc (Văn Sơn) năm 2025 và tổ chức trao đổi làm việc về hợp tác phát triển du lịch biên giới Tuyên Quang (Việt Nam) - Văn Sơn (Trung Quốc). Trong tháng 11, toàn tỉnh đón 325.673 lượt khách du lịch, tổng chi tiêu khách du lịch đạt 902,2 tỷ đồng; lũy kế 11 tháng đón 3.566.294 lượt khách, đạt 99,1% kế hoạch, tổng chi tiêu khách du lịch đạt 9.639,1 tỷ đồng, bằng 102% kế hoạch. II. LĨNH VỰC VĂN HÓA - XÃ HỘI 1. Công tác lao động, việc làm, giáo dục nghề nghiệp Tiếp tục thực hiện các giải pháp hỗ trợ, tạo việc làm cho người lao động; hướng dẫn, thực hiện cấp giấy phép lao động cho người nước ngoài. Trong tháng 11 tạo việc làm cho 4.085 lao động, lũy kế 11 tháng tạo việc làm cho 44.432 lao động, đạt 105,8% kế hoạch. 2. Công tác đảm bảo chế độ người có công với cách mạng, bảo trợ, an sinh xã hội và phòng chống các tệ nạn2.1. Công tác đối với người có công với cách mạng Thực hiện tốt công tác chăm lo đời sống cho các đối tượng chính sách; duy trì trả trợ cấp thường xuyên cho 9.000 đối tượng người có công, thân nhân người có công và đối tượng chính sách khác đang hưởng trợ cấp hàng tháng trên địa bàn tỉnh. 2.2. Công tác bảo trợ, an sinh xã hội và phòng chống các tệ nạn Thực hiện các giải pháp phát triển đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội, đến tháng 11 năm 2025 tỷ lệ lao động tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện đạt 4,06% (kế hoạch năm là 4,47%); tỷ lệ lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp đạt 25,47% (kế hoạch năm là 27,43%). Thực hiện các chính sách, chương trình thúc đẩy bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ; công tác tiếp nhận, quản lý, điều trị, cai nghiện cho người nghiện ma túy tại cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh. Trong tháng, Cơ sở cai nghiện của 02 tỉnh ( Tuyên Quang cũ và Hà Giang cũ) đã tiếp nhận 14 học viên, cấp giấy chứng nhận hoàn thành cai nghiện cho 13 học viên; tại thời điểm báo cáo, 2 cơ sở cai nghiện đang quản lý 235 học viên (cai nghiện bắt buộc 227 học viên, cai nghiện tự nguyện 8 học viên).3. Hoạt động giáo dục và đào tạo Tổ chức Lễ khởi công xây dựng 05 trường phổ thông nội trú liên cấp tiểu học và trung học cơ sở cho các xã biên giới. Công tác xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia tiếp tục được quan tâm; tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia toàn tỉnh: Mầm non đạt 64,7%; tiểu học đạt 73,9%; THCS đạt 61,7%; THPT đạt 45,3%. Tổ chức kỷ niệm Ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11/2025 đảm bảo trang trọng, tiết kiệm, ý nghĩa. Tiếp tục củng cố, ổn định mạng lưới giáo dục nghề nghiệp. 4. Hoạt động y tế Trong tháng 11 tổ chức khám, chữa bệnh cho 235.579 lượt người; lũy kế 11 tháng khám, chữa bệnh 1.601.973 lượt người. Tổ chức khám, tư vấn và cấp thuốc miễn phí tại 34 xã vùng biên giới với 150.579 người, đạt 73,3% kế hoạch; tư vấn và cấp thuốc miễn phí trị giá trên 2.762,5 triệu đồng. Tỷ lệ trẻ em dưới 01 tuổi được tiêm đủ các loại vắc xin đạt 84,9% kế hoạch. Tỷ lệ người dân có thẻ bảo hiểm y tế đạt 95,9%.5. Hoạt động văn hoá - thể dục, thể thaoTiếp tục thực hiện dự án Bảo tồn, tôn tạo Khu di tích lịch sử quốc gia đặc biệt Tân Trào; dự án Bảo tồn, tôn tạo Khu di tích Ban Thường trực Quốc hội, xã Trung Yên, huyện Sơn Dương; dự án Bảo tồn Làng văn hóa truyền thống dân tộc Tày, thôn Bản Bung, xã Thanh Tương, huyện Na Hang... Tổ chức thành công giải Vật dân tộc tỉnh năm 2025; tham gia Giải Đua thuyền Canoeing Cup vô địch các đội mạnh quốc gia năm 2025... 6. Tình hình an toàn giao thông, thiên tai và phòng chống cháy, nổ 6.1. Về an toàn giao thông trong tháng Toàn tỉnh đã xảy ra 18 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 11 người và làm bị thương 6 người. So với tháng trước số vụ tai nạn giao thông tăng 5,88%; số người chết giảm 15,38%; số người bị thương giảm 45,45%. Tính chung 11 tháng đầu năm 2025, toàn tỉnh đã xảy ra 225 vụ tai nạn giao thông; làm chết 122 người và làm bị thương 155 người. So với cùng kỳ năm trước: Số vụ tai nạn giao thông giảm 3,02%; số người chết giảm 2,4%; số người bị thương giảm 8,28%. 6.2. Về thiên tai, cháy, nổ Trong tháng, trên địa bàn tỉnh không ghi nhận tình hình thiên tai, cháy, nổ.
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 10 năm 2025 tỉnh Tuyên Quang
- 10/11/2025 22:22
I. PHÁT TRIỂN KINH TẾ Tháng 10 năm 2025, tình hình trong nước và thế giới tiếp tục biến động phức tạp, nhiều khó khăn, thách thức lớn. Cạnh tranh chiến lược, chính sách thương mại, thuế đối ứng của Hoa Kỳ thay đổi rất khó lường, tình trạng xung đột, bất ổn kéo dài đã ảnh hưởng nhiều đến môi trường đầu tư, kinh doanh và tốc độ tăng trưởng. Thị trường tài chính, tiền tệ biến động, tiềm ẩn nhiều rủi ro;... Trong bối cảnh thuận lợi, khó khăn và thách thức đan xen, song khó khăn, thách thức vẫn là chủ yếu, đặc biệt trước những yếu tố bất lợi gia tăng từ bên ngoài. Trên địa bàn tỉnh, liên tiếp chịu ảnh hưởng của hai cơn bão lớn, nhất là hoàn lưu bão số 10 với phạm vi ảnh hưởng rộng, thời gian lưu bão dài, kèm theo mưa lớn đã gây thiệt hại nặng nề về người và tài sản. Tuy nhiên, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo sát sao của Tỉnh ủy và Ủy ban nhân dân tỉnh, các sở, ban, ngành và địa phương đã chủ động theo dõi, nắm chắc tình hình, kịp thời triển khai đồng bộ, hiệu quả các biện pháp ứng phó, từng bước khắc phục hậu quả, sớm ổn định đời sống và sinh hoạt của nhân dân, tập trung nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội. Kết quả đạt được cụ thể ở các ngành, lĩnh vực như sau: 1. Về sản xuất nông nghiệp (tính đến ngày 20/10/2025) 1.1. Trồng trọt 1.1.1. Sản xuất vụ mùa năm 2025Vụ mùa là vụ sản xuất lúa quan trọng trong năm. Vì vậy, ngay từ đầu vụ, ngành chức năng và chính quyền các cấp đã tập trung chỉ đạo sản xuất, đảm bảo theo kế hoạch đã đề ra. Tuy nhiên, sản xuất vụ mùa thường gặp điều kiện thời tiết, khí hậu diễn biến khó lường, tình hình sâu bệnh phức tạp; bà con nông dân đã tích cực vượt mọi khó khăn, sản xuất đúng tiến độ, quyết tâm vụ mùa đạt nhiều kết quả tốt.- Cây lúa: Toàn tỉnh đã thu hoạch 44.506 ha, đạt 85,10% so với diện tích lúa đã cấy, tăng 7,72% so với cùng kỳ.- Cây Ngô: Diện tích thu hoạch 13.340 ha, đạt 34,40% so với diện tích đã trồng.- Cây đậu tương: Diện tích thu hoạch 142 ha, đạt 1,8% so với diện tích đã trồng. - Cây lạc: Diện tích thu hoạch 1.003 ha, đạt 20,6% so với diện tích đã trồng. 1.1.2. Về sản xuất vụ đông Cùng với việc đẩy nhanh tiến độ thu hoạch lúa mùa, tỉnh đã chỉ đạo ngành chức năng và các địa phương tập trung tổ chức thực hiện phương án sản xuất vụ đông năm 2025-2026. Các địa phương căn cứ vào các điều kiện cụ thể, chủ động xây dựng khung lịch thời vụ và phương án sản xuất vụ đông phù hợp với tình hình thực tế; khuyến khích nông dân duy trì, mở rộng diện tích gieo trồng hàng năm, đưa các loại cây trồng có giá trị kinh tế cao, được thị trường ưa chuộng vào sản xuất, như: Khoai tây, ngô ngọt, ớt, cà chua, rau đậu các loại,…góp phần nâng cao năng suất và sản lượng lương thực của địa phương, phấn đấu đạt sản xuất vụ đông đạt thắng lợi. Tiến độ đến ngày 20/10/2025 các địa phương trong tỉnh bà con nông dân đã gieo trồng được một số cây trồng vụ đông trên đất ruộng 2 vụ, kết quả như sau: - Cây ngô đã trồng được 4.524 ha, đạt 65,20% kế hoạch, giảm 40,97% so với cùng kỳ năm 2024. - Cây khoai lang trồng được 399 ha, đạt 51,50% kế hoạch; giảm 44,14%. - Diện tích gieo trồng cây rau các loại đạt 1.823 ha, đạt 16,5% kế hoạch, giảm 57,04%. 1.2. Tình hình sinh vật gây hại a. Cây hàng năm: Cây lúa (ngậm sữa - vào chắc): Rầy nâu, rầy lưng trắng, bọ xít gây hại rải rác; Cây ngô, cây lạc, đậu tương: Sâu đục thân, sâu cuốn lá, sâu khoang gây hại rải rác; Cây mía (đẻ nhánh) Bọ trĩ gây hại rải rác, tỷ lệ hại 2-4 %; Bọ hung gây hại rải rác tại một số ruộng đất soi bãi, mật độ nơi cao 1-2 con/hố; b. Cây lâu năm: Cây chè (ra búp): Rầy xanh, bọ trĩ, bọ xít gây hại, tỷ lệ hại trung bình 2-3%, nơi cao 3-5% số búp; Cây có múi; Nhện trắng, rám vàng gây hại rải rác, tỷ lệ hại nơi cao 3-5% số lá; Cây nhãn, vải (hoa – quả non); Bọ xít nâu gây hại, mật độ trung bình 1-2 con/cành, nơi cao 3-5 con/cành, non-trưởng thành; Bệnh chổi rồng, bệnh sương mai, nhện lông nhung gây hại rải rác, tỷ lệ hại nơi cao 3-5 % số cành. c. Cây lâm nghiệp (vườn ươm-1-5 tuổi): Sâu ăn lá gây hại rải rác, tỷ lệ hại nơi cao 1-2% số lá (sâu non); Bệnh chết héo gây hại rải rác trên cây keo 1-3 tuổi, nơi cao 3-5% số cây; Bệnh thán thư, bệnh vàng lá, khô cành, khô ngọn gây hại rải rác trên cây bạch đàn tuổi 1-2, tỷ lệ hại nơi cao 2-4 % số cây. Trước tình hình sinh vật gây hại cây trồng nêu trên. Chi cục bảo vệ thực vật đã chỉ đạo các trạm bảo vệ thực vật các xã, phường phối hợp với Phòng Nông nghiệp, Trạm Khuyến nông, chính quyền địa phương chỉ đạo, hướng dẫn bà con nông dân thực hiện việc gieo cấy đúng thời vụ, chăm sóc cây trồng; thường xuyên kiểm tra đồng ruộng, phát hiện sâu bệnh hại cây trồng, kịp thời hướng dẫn cách phòng trừ, giảm thiệt hại do sâu bệnh gây ra. 1.3. Về chăn nuôi Đàn trâu 222.348 con, giảm 2,04 % (giảm 4.636 con) so với cùng kỳ năm 2024; đàn bò 174.720 con, tăng 3,52% (tăng 5.947 con); đàn lợn 1.129.534 con, giảm 2,92% (giảm 33.961 con); đàn gia cầm 13.519,05 nghìn con, tăng 3,30% (tăng 432,19 nghìn con). Đánh giá chung tình hình chăn nuôi + Đàn trâu giảm do chăn nuôi trâu hiện nay hiệu quả kinh tế thấp; diện tích chăn thả bị thu hẹp; diệt tích đất trồng cỏ rất ít, phần lớn đều tận dụng những rẻo đất nhỏ nên năng suất, chất lượng cỏ kém, hơn nữa thiếu lao động chăn dắt dẫn đến bà con giảm tổng đàn. + Đàn bò tăng so với cùng kỳ năm 2024 là do: Từ cuối năm 2024, các huyện đã đẩy mạnh công tác giải ngân đối với các chương trình mục tiêu quốc gia hỗ trợ phát triển đàn bò. + Đàn lợn giảm nhẹ so với cùng kỳ năm 2024 là do trên địa bàn tỉnh đã xảy ra bệnh dịch tả lợn Châu Phi nên đã làm ảnh hưởng chung đến tổng đàn lợn. + Chăn nuôi gia cầm luôn được quan tâm và phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về tiêu dùng thực phẩm trong nước; trên địa bàn tỉnh đã xuất hiện nhiều mô hình chăn nuôi tiên tiến, theo hướng liên kết hiệu quả kinh tế cao. 1.4. Về công tác phòng chống dịch bệnh gia súc, gia cầm trong tháng 1.4.1. Công tác phòng chống và điều trị Trong tháng Chi cục thú y luôn chủ động phối hợp với các xã theo dõi chặt chẽ tình hình dịch bệnh gia súc, gia cầm, thuỷ sản trên địa bàn tỉnh, đặc biệt các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm như bệnh Dịch tả lợn Châu phi. Triển khai thực hiện đồng bộ các giải pháp phòng, chống dịch bệnh động vật. Trong tháng 10 số mẫu đã lấy: 06 mẫu. Luỹ kế đến ngày 13/10/2025 tổng số mẫu đã lấy 313 mẫu; kết quả 31 mẫu (-) âm tính và 282 mẫu (+) dương tính với Dịch tả lợn Châu Phi, DTLCP phát sinh tại 4.928 hộ, 139 thôn, 01 xã mới, số lợn tiêu hủy là 40.322 con/1.828.419 kg. Luỹ kế từ ngày 05/7/2025 đến ngày 13/10/2025, toàn tỉnh ghi nhận 181.788 con lợn mắc bệnh buộc tiêu hủy tại 19.694 hộ/1.936 thôn/117 xã; Tổng khối lượng 9.015.249 kg. Đến ngày 13/10/2025 đã có 22 xã qua 21 ngày không phát sinh ca mắc bệnh mới, 11 xã đã công bố hết dịch. 1.4.2. Công tác kiểm dịch vận chuyển động vật, sản phẩm động vật Tiếp tục thực hiện chặt chẽ đúng quy định công tác kiểm dịch vận chuyển ngoài tỉnh, kết quả: Đã kiểm tra cấp 400 giấy chứng nhận kiểm dịch vận chuyển, trong đó: 239 chuyến vận chuyển 46.044 con gia súc, gia cầm, 161 chuyến vận chuyển 3.042.500 kg sữa tươi nguyên liệu. Lũy kế từ đầu năm đến nay đã cấp 3.411 giấy chứng nhận kiểm dịch vận chuyển, trong đó: 1.752 chuyến vận chuyển 249.580 con gia súc, gia cầm và 5.760 con cá giống; 1.652 chuyến vận chuyển 31.247.000 kg sữa tươi nguyên liệu và 16.040 kg sản phẩm động vật chế biến làm thức ăn chăn nuôi, các lô hàng được vận chuyển đi các tỉnh: Bắc Ninh, Hà Nội, Hà Nam, Hà Giang, Nam Định... 1.5. Về sản xuất lâm nghiệp 1.5.1. Công tác trồng rừng Ước tháng 10 tổng diện tích rừng trồng tập trung toàn tỉnh đã trồng được 243 ha, giảm 31,69% so với cùng kỳ năm 2024; lũy kế 10 tháng đã trồng được 14.425,10 ha. 1.5.2. Khai thác gỗ rừng trồng Ước tháng 10 toàn tỉnh khai thác được 74.908 m3 gỗ, giảm 22,33% so với cùng kỳ năm 2024. Cộng dồn 10 tháng toàn tỉnh đã khai thác được trên 1.167.204,50 m3. Sản lượng khai thác là gỗ rừng trồng nguyên liệu. 1.5.3. Công tác quản lý bảo vệ rừng Công tác quản lý, bảo vệ rừng được các cấp, các ngành quan tâm, đồng thời tuyên truyền, vận động nhân dân tích cực tham gia thực hiện kế hoạch trồng rừng năm 2025; tuyên truyền, phổ biến giáo dục cho người dân nâng cao nhận thức về các chính sách quản lý bảo vệ và phát triển rừng; tăng cường kiểm tra, ngăn chặn việc phá rừng, đốt rừng, triệt phá các đường dây buôn bán, vận chuyển lâm sản trái phép. Thường xuyên cảnh báo nguy cơ cháy rừng, đẩy mạnh tuyên truyền về công tác phòng cháy chữa cháy rừng; phối hợp chặt chẽ với cơ quan chức năng và chính quyền cơ sở, các chủ rừng tăng cường kiểm tra, kiểm soát, phát hiện kịp thời, xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật các hành vi xâm hại rừng. Theo báo cáo của Chi cục Kiểm lâm tỉnh, trong tháng mưa nhiều nên không phát sinh vụ cháy rừng. Lũy kế 10 tháng xảy ra 27 vụ (tăng 125% về số vụ), diện tích thiệt hại là 64,72 ha (tăng 115,24% về diện tích); Trong tháng đã xảy ra 01 vụ chặt phá rừng, diện tích rừng bị phá 0,1 ha. Đã xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng, đã kiểm tra, phát hiện và xử lý 16 vụ, tịch thu 11,69 m3 gỗ các loại; phạt hành chính và bán thanh lý tài sản 78,7 triệu đồng, đã thu nộp ngân sách 78,7 triệu. 3. Sản xuất công nghiệp 3.1. Chỉ số phát triển công nghiệp - Chỉ số sản xuất công nghiệp IIP trong tháng ước tính giảm 6,41% so với tháng trước, tăng 7% so với cùng kỳ, cụ thể của các ngành như sau: Ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí giảm 15,41%, tăng 15,82%; cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,15%, tăng 4,6%; khai khoáng giảm 12,79%, giảm 21,38%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 1,40%, tăng 2,90%. Một số ngành công nghiệp cấp II trong tháng có chỉ số sản xuất tăng so với cùng kỳ năm trước như: Dệt tăng 45%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 23,32%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 23,97%;... Tính chung trong 10 tháng, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 6,92% so với cùng kỳ năm trước, Chia theo từng ngành kinh tế cấp I như sau: + Ngành khai khoáng giảm 1,45%, nguyên nhân do một số công ty khai thác quặng kim loại gặp khó khăn do quặng đầu vào xấu, giá thành sản xuất cao trong khi giá bán không đổi, làm cho sản lượng khai thác giảm so với cùng kỳ. + Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 8,18%, do một số ngành chế biến tăng như: Dệt tăng 62,72%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 17,87%; in, sao chép bản ghi tăng 9,12%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 69,82%;... + Ngành sản xuất và phân phối điện tăng 5,56% nguyên nhân là do lượng mưa từ đầu năm đến nay nhiều hơn so với cùng kỳ, các nhà máy thủy điện trên địa bàn tỉnh đã tích nước tận dụng được tối đa nguồn tài nguyên nước để sản xuất điện. + Ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải giảm 1,04%, do hoạt động thu gom, xử lý và tiêu hủy rác thải giảm. 3.2. Sản phẩm công nghiệp chủ yếu Tháng 10 năm 2025, một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng khá so với cùng kỳ năm trước: Cát tự nhiên đạt 17.428 m3, tăng 1,85%; ván ép từ gỗ và các vật liệu tương tự đạt 8.740 m3, tăng 68,75%; điện sản xuất đạt 654 triệu KWh, tăng 15,72%;... Tuy nhiên, cũng có một số sản phẩm giảm như bột barit ước đạt 728 tấn, giảm 58,62%; giày, dép thể thao có mũ bằng da ước đạt 500 nghìn đôi, giảm 20,70%; áo sơ mi cho người lớn dệt kim hoặc đan móc đạt 140 nghìn cái, giảm 36,36%;… - Tính chung trong 10 tháng đầu năm 2025, một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng khá so với cùng kỳ năm trước: Bột Felspat tăng 15,40%; ván ép từ gỗ tăng 39,84%;...Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu giảm so với cùng kỳ năm trước như: Đá xây dựng giảm 14,44%; bột Barit giảm 53,25%; chè (trà) nguyên chất giảm 6,53%;… Đánh giá chung, Các doanh nghiệp tiếp tục ổn định và phát triển sản xuất, tỉnh tiếp tục tư vấn, hỗ trợ các công ty, tập đoàn tìm hiểu, khảo sát môi trường đầu tư, kinh doanh để triển khai thực hiện dự án. Tổ chức các hội nghị gặp gỡ, tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh. Chỉ đạo triển khai phương án sắp xếp, tổ chức lại doanh nghiệp nhà nước và cơ cấu tổ chức bên trong các doanh nghiệp thuộc thẩm quyền quản lý, bảo đảm phù hợp với tình hình mới và yêu cầu nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. 4. Vốn đầu tư, xây dựng 4.1. Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước thực hiện tháng 10 ước đạt 1.052,4 tỷ đồng, tăng 17,13% so với tháng trước. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 753 tỷ đồng, tăng 8,52%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã đạt 299,4 tỷ đồng, tăng 46,34%. Tính chung trong 10 tháng, nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 7.894,7 tỷ đồng, giảm 1,86% so với cùng kỳ. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 5.988,8 tỷ đồng, tăng 1,56%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã đạt 1.905,6 tỷ đồng, giảm 11,24%. 4.2. Hoạt động xây dựng Tập trung, quyết liệt các biện pháp đẩy nhanh tiến độ thi công, giải ngân theo Công điện số 169/CĐ-TTg ngày 21/9/2025 của Thủ tướng Chính phủ; Công điện số 162/CĐ-TTg ngày 11/9/2025 của Thủ tướng Chính phủ; tiếp tục tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong thực hiện các dự án đầu tư, nhất là các dự án trọng điểm của tỉnh như: Cao tốc Tuyên Quang - Hà Giang (giai đoạn 1); đường từ Khu du lịch suối khoáng Mỹ Lâm đến Quốc lộ 2D kết nối với đường cao tốc Tuyên Quang - Phú Thọ; Dự án đầu tư xây dựng đường từ thị trấn Sơn Dương đi Tân Trào; đường Minh Ngọc - Mậu Duệ (ĐT.176B); đường Yên Bình - Cốc Pài (ĐT 178); Bệnh viện Đa khoa tỉnh tại địa điểm mới và các dự án quan trọng khác. Giải ngân vốn đầu tư công từ đầu năm đến ngày 15/10/2025 đạt 5.028,34 tỷ đồng/17.334,22 tỷ đồng, đạt 29% kế hoạch; trong đó: vốn kế hoạch năm 2024 kéo dài sang năm 2025: 777,16 đạt 44,7% kế hoạch; vốn kế hoạch năm 2025: 4.251,17 tỷ đồng đạt 28,1% kế hoạch. Tổ chức thẩm tra quyết toán 222/335 công trình/dự án hoàn thành theo tiến độ nộp hồ sơ quyết toán của chủ đầu tư. 5. Thương mại và Dịch vụ Tổ chức thành công Hội nghị Xúc tiến Thương mại, kết nối giao thương, hỗ trợ tiêu thụ các sản phẩm hàng hóa của tỉnh Tuyên Quang năm 2025; Hội nghị Khuyến công các tỉnh, thành phố khu vực phí Bắc lần thứ XIX năm 2025. 5.1. Doanh thu bán lẻ hàng hóa Doanh thu bán lẻ hàng hóa tháng 10 ước đạt 4.429 tỷ đồng, tăng 0,92% so với tháng trước, tăng 6% so với cùng kỳ. Trong đó, một số nhóm hàng tăng so tháng trước, tăng so cùng kỳ cụ thể như sau: Nhóm hàng may mặc đạt 344 tỷ đồng, tăng 3,38%, tăng 21,15%; phương tiện đi lại đạt 194 tỷ đồng, tăng 4,38%, tăng 17,27%…Ở chiều ngược lại, nhóm lương thực, thực phẩm đạt 1.384 tỷ đồng, giảm 0,59%, giảm 2,89%;…Tính chung trong 10 tháng, tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 41.569 tỷ đồng, tăng 11,86% so với cùng kỳ. 5.2. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ khác Trong tháng, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, lữ hành ước đạt 518 tỷ đồng, giảm 11,22% so với tháng trước, tăng 12,26% so với cùng kỳ. Trong đó: Dịch vụ lưu trú đạt 49 tỷ đồng, giảm 15,02%, tăng 13,20%; ăn uống đạt 465 tỷ đồng, giảm 10,84%, tăng 11,96%; du lịch lữ hành đạt 4 tỷ đồng, giảm 5,84%, tăng 46,70%. Tính chung trong 10 tháng, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, lữ hành ước đạt 5.279 tỷ đồng, tăng 15,83% so với cùng kỳ. Doanh thu dịch vụ tiêu dùng khác trong tháng ước đạt 214 tỷ đồng, giảm 2,23% so với tháng trước, tăng 13,29% so với cùng kỳ. 5.3. Giá cả Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 10/2025 tăng 0,36% so với tháng trước, tăng 2,69% so với tháng 12 năm trước, tăng 2,81% so với cùng kỳ, tăng 15,65% so với kỳ gốc 2019. Chỉ số giá bình quân 10 tháng đầu năm 2025 tăng 2,52% so với cùng kỳ. Chỉ số giá tiêu dùng tháng 10/2025 tăng nhẹ so với tháng trước, trong 11 nhóm hàng hóa có 07 nhóm hàng hóa có chỉ số tăng, 03 nhóm có chỉ số giảm, nhóm bưu chính viễn thông giữ nguyên, cụ thể như sau: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,63% nguyên nhân chủ yếu là do giá thịt lợn tăng nhẹ sau dịch; nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 1,73%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,02%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,04%; nhóm giáo dục tăng 0,01%; nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,03%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,5% nguyên nhân chủ yếu là do giá trang sức tăng theo giá vàng. 03 nhóm hàng giảm giá gồm: Nhóm đồ uống và thuốc lá giảm 0,01%; nhóm may mặc, mũ nón và giày dép giảm 0,07%; nhóm giao thông giảm 0,99%. Chỉ số giá bình quân 10 tháng năm 2025 tăng 2,52% so với cùng kỳ năm trước, trong đó 7/11 nhóm hàng có chỉ số tăng: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 3,84%; đồ uống, thuốc lá tăng 1,86%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 1,14%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 9,38%; thiết bị, đồ dùng gia đình tăng 0,21%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 10,40%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 3,39%. Có 4/11 nhóm hàng chỉ số giá giảm so với cùng kỳ như giao thông giảm 3,72%; bưu chính viễn thông giảm 0,39%; giáo dục giảm 13,29%; văn hóa, giải trí và du lịch giảm 1,11%. Chỉ số giá vàng so với tháng trước tăng 21,51%; so với tháng 12 năm trước tăng 70,98%; so với cùng kỳ tăng 71,25%; so với kỳ gốc 2019 tăng 268,54%; bình quân 10 tháng đầu năm 2025 chỉ số giá vàng tăng 44,70%. Chỉ số giá đô la Mỹ giảm 0,25% so với tháng trước, tăng 3,04% so với tháng 12 năm trước; tăng 4,65% so với cùng kỳ; tăng 12,74% so với kỳ gốc năm 2019; bình quân 10 tháng đầu năm 2025 chỉ số giá đô la Mỹ tăng 3,77%. 5.4. Tình hình xuất, nhập khẩu hàng hóa Thường xuyên nắm bắt tình hình, kịp thời hỗ trợ doanh nghiệp tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy sản xuất và xuất khẩu trong bối cảnh thị trường thế giới biến động. Hoạt động xuất - nhập khẩu diễn ra thuận lợi, bảo đảm an ninh trật tự và tạo điều kiện giao thương tại cửa khẩu quốc tế Thanh Thủy - đầu mối quan trọng với tỉnh Vân Nam (Trung Quốc); lượng phương tiện và hàng hóa thông quan tăng mạnh. Tổng kim ngạch xuất hàng hóa trong tháng 10 ước đạt 36 triệu USD, đạt 6,7% kế hoạch, tăng 20% so với cùng kỳ. Tổng kim ngạch nhập khẩu ước đạt 16 triệu USD, đạt 7% kế hoạch, tăng 6,67% so cùng kỳ, trong đó chủ yếu là nhập máy móc, thiết bị, phụ tùng và nguyên liệu may mặc. Tính chung trong 10 tháng đầu năm 2025, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 605 triệu USD, đạt 112% kế hoạch, tăng 90,1% so với cùng kỳ. Kim ngạch nhập khẩu ước đạt 169 triệu USD, đạt 73,7% kế hoạch, tăng 51,80%. 6. Vận tải hàng hóa và hành khách Chỉ đạo các đơn vị vận tải, bến xe, doanh nghiệp, hợp tác xã bảo đảm an toàn, lưu thông hàng hóa, phục vụ nhu cầu đi lại của nhân dân, bảo đảm an toàn trong cung ứng dịch vụ bưu chính, thông tin liên lạc; đồng thời phát triển các loại hình dịch vụ, góp phần vào tăng trưởng kinh tế của tỉnh. 6.1. Doanh thu vận tải tải kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải Doanh thu vận tải trong tháng ước đạt 456,75 tỷ đồng, giảm 8,18% so với tháng trước, giảm 5,95% so với cùng kỳ. Trong đó, vận tải hành khách đạt 89,96 tỷ đồng, giảm 9,70%, giảm 7,13%; vận tải hàng hóa đạt 365,02 tỷ đồng, giảm 7,76%, giảm 5,65%; doanh thu dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 1,2 tỷ đồng, giảm 19,01%, giảm 1,40%; hoạt động bưu chính, chuyển phát đạt 0,58 tỷ đồng, giảm 4,75%, giảm 15,22%. Tính chung trong 10 tháng đầu năm 2025, doanh thu vận tải kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 5.129,7 tỷ đồng, tăng 15,90% so với cùng kỳ. Trong đó: vận tải hành khách đạt 1.055,74 tỷ đồng, tăng 17,20%; vận tải hàng hóa đạt 4.051,20 tỷ đồng, tăng 15,57%; dịch vụ hỗ trợ vận tải kho bãi đạt 16,40 tỷ đồng, tăng 16,30%; bưu chính, chuyển phát đạt 6,37 tỷ đồng, tăng 10,35%.6.2. Vận tải hành khách và hàng hóaTrong tháng khối lượng hành khách vận chuyển ước đạt 1,37 triệu lượt hành khách, giảm 9,32% so với tháng trước, giảm 4,25% so với cùng kỳ; khối lượng hành khách luân chuyển ước đạt 143,08 triệu lượt hành khách.km, giảm 7,69%, giảm 6,34%. Tính chung 10 tháng đầu năm 2025, khối lượng hành khách vận chuyển ước đạt 15,75 triệu lượt hành khách, tăng 16,34% so với cùng kỳ; khối lượng hành khách luân chuyển ước đạt 1.659,60 triệu lượt hành khách.km, tăng 14,36%. Khối lượng hàng hóa vận chuyển trong tháng ước đạt 2,34 triệu tấn, giảm 7% so với tháng trước, giảm 5,35% so với cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 142,92 triệu tấn.km, giảm 7,66%, giảm 7,37%. Tính chung 10 tháng đầu năm 2025, khối lượng hàng hóa vận chuyển ước đạt 26,79 triệu tấn, tăng 15,98% so với cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 1.656,17 triệu tấn.km, tăng 14,51%. 7. Về du lịch Thành lập Ban chỉ đạo phát triển du lịch và Công viên địa chất toàn cầu Cao nguyên đá Đồng Văn; ban hành Kế hoạch Truyền thông quảng bá thương hiệu du lịch quý IV năm 2025 và năm 2026; triển khai Kế hoạch thực hiện Quyết định số 1687/QĐ-TTg ngày 30/12/2024 của Thủ tướng Chính phủ về Phê duyệt Chương trình “Xây dựng mô hình thư viện cơ sở phục vụ Nhân dân miền núi, biên giới vùng trung du và miền núi phía Bắc giai đoạn 2025 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045” trên địa bàn tỉnh; tham dự Lễ vinh danh của Tổ chức du lịch thế giới (World Travel Awards) tại Hồng Kông nhận cúp chiến thắng tại hạng mục: Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Cao nguyên đá Đồng Văn, Tuyên Quang, Việt Nam - Điểm đến văn hóa khu vực hàng đầu châu Á năm 2025”; tham dự nhận giải thưởng Làng Du lịch Tốt nhất của UN Tourism tại Hồ Châu, tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc. Trong tháng 10 năm 2025, toàn tỉnh đón 260.873 lượt khách du lịch, tổng chi tiêu khách du lịch đạt 710,6 tỷ đồng; lũy kế 10 tháng đón 3.240.621 lượt khách du lịch đạt 90,1% kế hoạch, tổng chi tiêu khách du lịch đạt 8.736,9 tỷ đồng, bằng 93% kế hoạch. II. LĨNH VỰC VĂN HÓA - XÃ HỘI 1. Công tác lao động, việc làm, giáo dục nghề nghiệp Tiếp tục thực hiện các giải pháp hỗ trợ, tạo việc làm cho người lao động; hướng dẫn, thực hiện cấp giấy phép lao động cho người nước ngoài; tháng 10 năm 2025 tạo việc làm cho 5.799 lao động, lũy kế 10 tháng tạo việc làm cho 39.627 lao động, đạt 80,8% kế hoạch. 2. Công tác đảm bảo chế độ người có công với cách mạng, bảo trợ, an sinh xã hội và phòng chống các tệ nạn 2.1. Công tác đối với người có công với cách mạng Tiếp tục triển khai, thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững năm 2025; triển khai Kế hoạch rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ làm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp có mức sống trung bình cuối năm 2025. Thực hiện tốt công tác chăm lo đời sống cho các đối tượng chính sách; duy trì trả trợ cấp thường xuyên cho 9.000 đối tượng người có công, thân nhân người có công và đối tượng chính sách khác đang hưởng trợ cấp hàng tháng trên địa bàn tỉnh. 2.2. Công tác bảo trợ, an sinh xã hội và phòng chống các tệ nạn Thực hiện các giải pháp phát triển đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội, đến tháng 10 năm 2025 tỷ lệ lao động tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện đạt 4,20% (kế hoạch năm là 4,47%); tỷ lệ lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp đạt 27,33% (kế hoạch năm là 27,43%). Thực hiện các chính sách, chương trình thúc đẩy bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ; công tác tiếp nhận, quản lý, điều trị, cai nghiện cho người nghiện ma túy tại cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh. Trong tháng 2 Cơ sở cai nghiện tỉnh ( Tuyên Quang cũ và Hà Giang cũ) đã tiếp nhận 19 học viên, cấp giấy chứng nhận hoàn thành cai nghiện cho 27 học viên; tại thời điểm báo cáo, 2 cơ sở cai nghiện đang quản lý 243 học viên (cai nghiện bắt buộc 238 học viên, cai nghiện tự nguyện 05 học viên). 3. Hoạt động giáo dục và đào tạo Triển khai công tác đầu tư xây dựng 05 trường phổ thông nội trú liên cấp tiểu học và trung học cơ sở cho các xã biên giới trên địa bàn tỉnh. Công tác xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia tiếp tục được quan tâm, tỉ lệ trường đạt chuẩn quốc gia toàn tỉnh đạt 64,7% (mầm non đạt 64,4%; tiểu học đạt 74,2%; THCS đạt 61,5%; THPT đạt 45,3%). Tiếp tục củng cố, ổn định mạng lưới giáo dục nghề nghiệp; toàn tỉnh có 08 cơ sở giáo dục nghề nghiệp, trong đó có 03 cơ sở giáo dục nghề nghiệp được đầu tư đào tạo 15 ngành, nghề trọng điểm. 4. Hoạt động y tế Trong tháng 10 tổ chức khám, chữa bệnh cho 247.352 lượt người; lũy kế 10 tháng khám, chữa bệnh 2.105.857 lượt người. Thực hiện tốt việc cung cấp vắc xin, dụng cụ và đảm bảo chất lượng, an toàn tiêm chủng; tỷ lệ trẻ em dưới 01 tuổi được tiêm đủ các loại vắc xin đạt 74,8% kế hoạch. Tỷ lệ người dân có thẻ bảo hiểm y tế đạt 95,9%. Duy trì công tác tuyên truyền vận động kế hoạch hóa gia đình, lồng ghép với thực hiện dịch vụ sức khỏe sinh sản tại cộng đồng. 5. Hoạt động văn hoá - thể dục, thể thao Tổ chức thành công các hoạt động, sự kiện văn hóa, chiếu phim, nghệ thuật chào mừng sự kiện chính trị quan trọng của tỉnh; tổ chức tuyên truyền Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030 và tiến tới Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng;... xây dựng Đề án phát triển du lịch tỉnh Tuyên Quang đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2045; kế hoạch tổ chức Lễ hội hoa Tam giác mạch tỉnh Tuyên Quang lần thứ XI và đón nhận các giải thưởng du lịch năm 2025.Tổ chức chiếu phim, biểu diễn nghệ thuật chuyên nghiệp phục vụ nhiệm vụ chính trị. Tiếp tục thực hiện dự án Bảo tồn, tôn tạo Khu di tích lịch sử quốc gia đặc biệt Tân Trào, dự án Bảo tồn, tôn tạo Khu di tích Ban Thường trực Quốc hội, xã Trung Yên, huyện Sơn Dương; dự án Bảo tồn Làng văn hóa truyền thống dân tộc Tày, thôn Bản Bung, xã Thanh Tương, huyện Na Hang... Tham gia giải Cầu lông Trung, cao tuổi toàn quốc năm 2025; Giải Vô địch trẻ Vật dân tộc quốc gia năm 2025; Giải Vô địch Bắn nỏ quốc gia lần thứ VIII, năm 2025. 6. Tình hình an toàn giao thông, thiên tai và phòng chống cháy, nổ 6.1. Về an toàn giao thông trong tháng Toàn tỉnh đã xảy ra 17 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 13 người và làm bị thương 11 người. So với tháng trước 03 tiêu chí đều giữ nguyên. Tính chung 10 tháng đầu năm 2025, toàn tỉnh đã xảy ra 160 vụ tai nạn giao thông; làm chết 99 người và làm bị thương 99 người. So với cùng kỳ năm trước: Số vụ tai nạn giao thông giảm 22,71%; số người chết giảm 10,81%; số người bị thương giảm 33,56%. 6.2. Về thiên tai, cháy, nổ Trong tháng 10 năm 2025, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 03 đợt thiên tai bao gồm mưa lớn kéo dài, sạt lở đất, lũ quét và ngập úng trên diện rộng làm ảnh hưởng đến tình hình sản xuất và đời sống của nhân dân, cụ thể như sau: Thiệt hại về nhà ở: 28.376 nhà bị ngập nước và ảnh hưởng do sạt lở. Thiệt hại về nông nghiệp và công trình giao thông: Diện tích lúa bị thiệt hại 6.550,6 ha; diện tích hoa mầu bị thiệt hại 2.807,4 ha; gia súc bị chết, cuốn trôi 1.224 con; gia cầm bị chết, cuốn trôi 56.083 con. Chiều dài đường bị sạt lở, hư hỏng 138.951 m. Thiệt hại về thuỷ lợi: Kênh mương bị sạt, trôi, hư hỏng 22.083m; Cống, bọng bị hư hỏng 97 cái… Ước tính giá trị thiệt hại 5.000.000 triệu đồng. Trong tháng, trên địa bàn tỉnh không ghi nhận tình hình cháy, nổ.THỐNG KÊ TỈNH TUYÊN QUANG