THỐNG KÊ TỈNH TUYÊN QUANG TỔ CHỨC HỘI NGHỊ SƠ KẾT CÔNG TÁC ĐẢNG, NHIỆM VỤ CHUYÊN MÔN 9 THÁNG ĐẦU NĂM VÀ TRIỂN KHAI NHIỆM VỤ QUÝ IV NĂM 2026
- 30/10/2026 11:03
Ngày 30/10/2026, Thống kê tỉnh Tuyên Quang tổ chức Hội nghị sơ kết công tác xây dựng Đảng, thực hiện nhiệm vụ chuyên môn 9 tháng đầu năm và triển khai nhiệm vụ trọng tâm quý IV năm 2026. Hội nghị nhằm đánh giá những kết quả đạt được, chỉ rõ những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân; đồng thời xác định phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm, phấn đấu hoàn thành toàn diện nhiệm vụ công tác năm 2026.Công tác xây dựng Đảng tiếp tục được tăng cường, tạo nền tảng thực hiện nhiệm vụ chính trịTrong 9 tháng đầu năm 2026, Đảng ủy Thống kê tỉnh Tuyên Quang đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo triển khai đồng bộ các nhiệm vụ công tác xây dựng Đảng, gắn với thực hiện nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị.Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng tiếp tục được quan tâm; việc quán triệt, triển khai thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước được thực hiện nghiêm túc, góp phần nâng cao nhận thức chính trị, ý thức trách nhiệm và tinh thần chấp hành kỷ luật, kỷ cương của cán bộ, đảng viên, công chức và người lao động.Công tác xây dựng tổ chức đảng, quản lý, giáo dục và rèn luyện đảng viên được chú trọng; việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, chế độ sinh hoạt cấp ủy, sinh hoạt chi bộ từng bước được nâng cao về chất lượng. Công tác kiểm tra, giám sát được triển khai gắn với yêu cầu tăng cường kỷ luật, kỷ cương, giữ vững đoàn kết, thống nhất trong toàn Đảng bộ.Đảng ủy tiếp tục phát huy vai trò lãnh đạo toàn diện đối với việc thực hiện nhiệm vụ chính trị; đề cao trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu; quan tâm lãnh đạo hoạt động của các tổ chức đoàn thể, tạo sự đồng thuận, thống nhất trong triển khai thực hiện nhiệm vụ.Thông qua việc gắn công tác xây dựng Đảng với nhiệm vụ chuyên môn, tinh thần trách nhiệm, ý thức tổ chức kỷ luật và sự chủ động, sáng tạo của đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức tiếp tục được phát huy, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của cơ quan.Chủ động triển khai nhiệm vụ chuyên môn, nâng cao chất lượng thông tin thống kê phục vụ điều hànhCùng với công tác xây dựng Đảng, Thống kê tỉnh Tuyên Quang đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn theo chương trình, kế hoạch công tác của ngành, bảo đảm tiến độ và chất lượng.Công tác thu thập, xử lý, tổng hợp và biên soạn thông tin thống kê được triển khai theo đúng quy trình, phương án và yêu cầu nghiệp vụ. Các cuộc điều tra thống kê được tổ chức thực hiện theo kế hoạch, chú trọng kiểm tra, giám sát, rà soát và nâng cao chất lượng thông tin đầu vào.Công tác phân tích, dự báo và biên soạn báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tiếp tục được quan tâm đổi mới theo hướng nâng cao chất lượng, tính kịp thời và khả năng phục vụ công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của cấp ủy, chính quyền địa phương.Trước yêu cầu ngày càng cao về chất lượng thông tin thống kê, Thống kê tỉnh đã chú trọng đổi mới phương pháp làm việc, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong hoạt động chuyên môn; tăng cường trách nhiệm của công chức ở từng khâu thu thập, kiểm tra, xử lý, tổng hợp, phân tích và phổ biến thông tin.Công tác tổ chức cán bộ, quản lý công chức, đào tạo, bồi dưỡng, thi đua, khen thưởng và cải cách hành chính được triển khai gắn với yêu cầu nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của cơ quan, đơn vị.Tinh thần đoàn kết, phối hợp giữa các phòng chuyên môn và đội ngũ công chức tiếp tục được phát huy, góp phần thực hiện các nhiệm vụ được giao.Bên cạnh những kết quả đạt được, Hội nghị cũng tập trung thảo luận, đánh giá những khó khăn, tồn tại, hạn chế trong công tác xây dựng Đảng và thực hiện nhiệm vụ chuyên môn; phân tích nguyên nhân, xác định trách nhiệm và đề xuất giải pháp khắc phục trong thời gian tới.Tập trung thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm quý IV, phấn đấu hoàn thành toàn diện kế hoạch năm 2026Xác định quý IV/2026 là giai đoạn có ý nghĩa quan trọng, quyết định đến kết quả thực hiện nhiệm vụ cả năm, Hội nghị thống nhất tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt một số nhiệm vụ trọng tâm sau:Thứ nhất, tiếp tục tăng cường công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng và chất lượng đội ngũ đảng viên; thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, phát huy trách nhiệm nêu gương, giữ vững đoàn kết, thống nhất trong toàn Đảng bộ.Thứ hai, tập trung thực hiện tốt các nhiệm vụ chuyên môn theo chương trình, kế hoạch công tác năm 2026; bảo đảm tiến độ, chất lượng các cuộc điều tra thống kê; tăng cường kiểm tra, giám sát, nâng cao chất lượng thu thập, xử lý, tổng hợp và biên soạn thông tin thống kê.Thứ ba, nâng cao chất lượng công tác phân tích, dự báo và biên soạn báo cáo tình hình kinh tế - xã hội; bảo đảm thông tin thống kê trung thực, khách quan, chính xác, đầy đủ, kịp thời, đáp ứng yêu cầu lãnh đạo, chỉ đạo và điều hành phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.Thứ tư, tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong hoạt động thống kê; tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính, nâng cao tinh thần trách nhiệm, đạo đức công vụ và chất lượng thực thi nhiệm vụ của đội ngũ công chức.Thứ năm, đổi mới công tác quản lý, đánh giá công chức gắn với vị trí việc làm, chức trách, nhiệm vụ và kết quả thực hiện công việc; phát huy vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu, lấy chất lượng, tiến độ và hiệu quả công việc làm căn cứ đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ.Phát huy tinh thần đoàn kết, trách nhiệm, quyết tâm hoàn thành tốt nhiệm vụ năm 2026Phát biểu kết luận Hội nghị, đồng chí Phạm Hùng Sơn, Trưởng Thống kê tỉnh Tuyên Quang, ghi nhận những nỗ lực, cố gắng của các cấp ủy, tổ chức đảng, các phòng chuyên môn và toàn thể cán bộ, đảng viên, công chức, người lao động trong thực hiện nhiệm vụ 9 tháng đầu năm 2026.Đồng chí đề nghị các cấp ủy, chi bộ, các phòng chuyên môn và toàn thể đảng viên, công chức tiếp tục phát huy tinh thần đoàn kết, trách nhiệm, chủ động khắc phục khó khăn, tập trung thực hiện quyết liệt, đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp đã đề ra.Trong đó, đặc biệt chú trọng nâng cao chất lượng công tác xây dựng Đảng, giữ vững kỷ luật, kỷ cương; tăng cường trách nhiệm của người đứng đầu; đổi mới phương pháp lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành và tổ chức thực hiện nhiệm vụ chuyên môn.Mỗi phòng, mỗi đơn vị và từng công chức cần chủ động rà soát các nhiệm vụ còn lại của năm, cụ thể hóa thành kế hoạch công tác với trách nhiệm, tiến độ và yêu cầu chất lượng rõ ràng; tăng cường phối hợp, chủ động tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ đúng thời hạn.Đồng chí nhấn mạnh yêu cầu tiếp tục nâng cao chất lượng thông tin thống kê, nhất là công tác phân tích, dự báo và cung cấp thông tin phục vụ lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh; đồng thời đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, nâng cao hiệu quả hoạt động của toàn ngành.Hội nghị sơ kết công tác Đảng và nhiệm vụ chuyên môn 9 tháng đầu năm, triển khai nhiệm vụ quý IV năm 2026 là dịp quan trọng để Thống kê tỉnh Tuyên Quang đánh giá toàn diện kết quả công tác, thống nhất nhận thức và hành động, tạo động lực thực hiện thắng lợi nhiệm vụ những tháng cuối năm.Với tinh thần đoàn kết, trách nhiệm, chủ động và quyết tâm cao, tập thể cán bộ, đảng viên, công chức, người lao động Thống kê tỉnh Tuyên Quang tiếp tục nỗ lực phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ năm 2026, góp phần khẳng định vai trò của ngành Thống kê trong cung cấp thông tin, dữ liệu tin cậy, phục vụ hiệu quả công tác lãnh đạo, chỉ đạo và điều hành phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.Hoàng Lê Tuyên – Phòng Tổ chức - Hành chính
THỐNG KÊ TUYÊN QUANG TẬP HUẤN BIÊN SOẠN CÁC CHỈ TIÊU KINH TẾ – XÃ HỘI CẤP XÃ GIAI ĐOẠN 2026–2030
- 20/10/2026 16:19
Thực hiện Văn bản số 8060/UBND-KTTH ngày 8/10/2026 của UBND tỉnh Tuyên Quang và Kế hoạch số 62/KH-TKT ngày 9/10/2026 của Thống kê tỉnh Tuyên Quang, ngày 15/10/2026, Thống kê tỉnh Tuyên Quang đã tổ chức hội nghị tập huấn, hướng dẫn biên soạn các chỉ tiêu kinh tế – xã hội cấp xã giai đoạn 2026–2030. Hội nghị nhằm thống nhất phương pháp tính toán các chỉ tiêu, nâng cao năng lực chuyên môn cho đội ngũ cán bộ làm công tác thống kê và cán bộ cấp xã, qua đó nâng cao chất lượng số liệu phục vụ xây dựng kế hoạch, xác định mục tiêu và điều hành tăng trưởng kinh tế – xã hội tại địa phương. Dự và chỉ đạo hội nghị có Đồng chí Nguyễn Công Thọ, đại diện lãnh đạo Thống kê tỉnh. Tham dự có đại diện các phòng nghiệp vụ thuộc Thống kê tỉnh cùng 78 đại biểu là đại diện Thống kê cơ sở và đại diện cấp xã thuộc các đơn vị Thống kê cơ sở An Tường, Yên Sơn và Sơn Dương. Trong đó, địa bàn do Thống kê cơ sở Sơn Dương phụ trách có 36 đại biểu, gồm lãnh đạo các xã, trưởng phòng kinh tế xã và chuyên viên phòng kinh tế xã. Tại hội nghị, các phòng nghiệp vụ tập trung hướng dẫn phương pháp, quy trình thu thập, tổng hợp, tính toán và biên soạn các chỉ tiêu kinh tế – xã hội cấp xã; trong đó, chú trọng hai chỉ tiêu quan trọng là tổng giá trị sản phẩm trên địa bàn cấp xã và thu nhập bình quân đầu người. Nội dung tập huấn đồng thời làm rõ việc sử dụng thông tin thống kê trong phân tích tình hình phát triển, xây dựng kế hoạch kinh tế – xã hội và xây dựng kịch bản điều hành tăng trưởng hằng năm. Mục tiêu trọng tâm của hội nghị là giúp đội ngũ cán bộ trực tiếp thực hiện nhiệm vụ nắm vững phương pháp tính toán, xác định đúng nguồn thông tin, nâng cao kỹ năng tổng hợp, kiểm tra và đối chiếu số liệu. Qua đó, hạn chế sự khác biệt trong cách hiểu và cách tính các chỉ tiêu giữa các địa phương, bảo đảm số liệu được biên soạn thống nhất, có cơ sở và phù hợp với yêu cầu quản lý. Trong quá trình tập huấn, các đại biểu đã tích cực trao đổi, thảo luận những khó khăn, vướng mắc trong xác định mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội, dự báo tăng trưởng và tính toán các chỉ tiêu tại cấp xã. Việc trao đổi trực tiếp giữa cơ quan thống kê và đại diện chính quyền cơ sở giúp làm rõ những vấn đề nghiệp vụ cần thống nhất, đồng thời tăng cường phối hợp trong quá trình thu thập, tổng hợp và đối chiếu thông tin. Thông qua hội nghị, đội ngũ cán bộ tham dự được hướng dẫn, củng cố kiến thức nghiệp vụ về biên soạn các chỉ tiêu kinh tế – xã hội cấp xã, đặc biệt là tổng giá trị sản phẩm trên địa bàn và thu nhập bình quân đầu người. Đây là cơ sở để các địa phương vận dụng thống nhất phương pháp tính toán, chủ động rà soát nguồn số liệu, nâng cao chất lượng thông tin đầu vào phục vụ công tác xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn 2026–2030. Kết quả hướng tới không chỉ là nâng cao chất lượng công tác thống kê mà còn tăng cường khả năng sử dụng số liệu trong phân tích, đánh giá thực trạng, xác định mục tiêu và xây dựng kịch bản tăng trưởng hằng năm. Thông tin thống kê được tổng hợp đầy đủ, chính xác sẽ góp phần giúp chính quyền cấp xã có thêm căn cứ thực tiễn trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành và lựa chọn giải pháp phát triển phù hợp với điều kiện của từng địa phương. Hội nghị cũng góp phần tăng cường mối liên hệ, phối hợp nghiệp vụ giữa Thống kê tỉnh, Thống kê cơ sở và chính quyền cấp xã, tạo nền tảng để tiếp tục hướng dẫn, kiểm tra và nâng cao chất lượng số liệu trong quá trình triển khai thực hiện. Qua đó, từng bước nâng cao hiệu quả công tác thống kê từ cơ sở, đáp ứng yêu cầu cung cấp thông tin phục vụ quản lý, điều hành và phát triển kinh tế – xã hội tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 2026–2030.Thu Thủy - Thống kê cơ sở Sơn Dương
THỐNG KÊ TỈNH TUYÊN QUANG TỔ CHỨC TẬP HUẤN HƯỚNG DẪN XÂY DỰNG KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI, KỊCH BẢN TĂNG TRƯỞNG HẰNG NĂM CHO CÁC XÃ, PHƯỜNG
- 20/10/2026 15:02
Trong các ngày từ 13 đến 15/10/2026, Thống kê tỉnh Tuyên Quang tổ chức 02 đoàn công tác đi triển khai hội nghị tập huấn hướng dẫn UBND các xã, phường xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, kịch bản tăng trưởng hằng năm và phương pháp thu thập, tổng hợp, biên soạn hai chỉ tiêu thống kê quan trọng ở cấp xã, gồm: Tổng giá trị sản phẩm trên địa bàn và thu nhập bình quân đầu người. Đợt tập huấn nhằm nâng cao năng lực tham mưu, xây dựng kế hoạch và điều hành phát triển kinh tế - xã hội của chính quyền cấp xã trong điều kiện thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Đoàn công tác thứ nhất của Thống kê tỉnh Tuyên Quang do ông Nguyễn Công Thọ, Phó Trưởng Thống kê tỉnh, làm Trưởng đoàn, tổ chức các hội nghị tập huấn cho đại diện UBND các xã, phường thuộc địa bàn phụ trách của 8 đơn vị Thống kê cơ sở, gồm: Yên Minh, Đồng Văn, Hà Giang, Vị Xuyên, Bắc Mê, An Tường, Yên Sơn và Sơn Dương. Tham dự các hội nghị có đại diện lãnh đạo Thống kê tỉnh; lãnh đạo, công chức các phòng nghiệp vụ thuộc Thống kê tỉnh; lãnh đạo, công chức các đơn vị Thống kê cơ sở; đại diện lãnh đạo UBND các xã, phường, lãnh đạo các phòng chuyên môn và công chức được giao nhiệm vụ tham mưu xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện công tác thống kê tại địa phương. Hội nghị thứ nhất tổ chức ngày 13/10/2026 tại Trung tâm hội nghị xã Yên Minh có sự tham gia của đại diện 23 xã thuộc địa bàn phụ trách của các đơn vị Thống kê cơ sở Yên Minh và Đồng Văn. Hội nghị thứ hai tổ chức ngày 14/10/2026 tại Hội trường UBND phường Hà Giang 2 có sự tham gia của đại diện 21 xã/phường thuộc địa bàn phụ trách của các đơn vị Thống kê cơ sở Hà Giang, Bắc Mê và Vị Xuyên. Hội nghị thứ ba tổ chức ngày 15/10/2026 tại Nhà văn hóa phường Minh Xuân có sự tham gia của đại diện 24 xã, phường thuộc địa bàn phụ trách của các đơn vị Thống kê cơ sở An Tường, Yên Sơn và Sơn Dương. Đổi mới tư duy xây dựng kế hoạch và điều hành tăng trưởng kinh tế cấp xã Phát biểu khai mạc các hội nghị, ông Nguyễn Công Thọ, Phó Trưởng Thống kê tỉnh, nhấn mạnh: Trong bối cảnh thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, vai trò và trách nhiệm của UBND các xã, phường đối với công tác quản lý, tổ chức thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội ngày càng trực tiếp và toàn diện hơn. Chính quyền cấp xã không chỉ thực hiện các chủ trương, chính sách mà phải chủ động nắm bắt tình hình sản xuất, kinh doanh, đời sống dân cư; nhận diện tiềm năng, lợi thế, các động lực tăng trưởng và những khó khăn, điểm nghẽn trong phát triển kinh tế trên địa bàn. Vì vậy, công tác xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội cần được đổi mới theo hướng dựa trên số liệu thống kê và điều kiện thực tiễn của từng địa phương; xác định rõ nguồn lực, động lực tăng trưởng, nhiệm vụ, giải pháp và khả năng tổ chức thực hiện. Đặc biệt, việc xây dựng kế hoạch không thể chỉ dừng ở xác định mục tiêu tăng trưởng, mà phải làm rõ tăng trưởng đến từ ngành, lĩnh vực, sản phẩm, doanh nghiệp, hợp tác xã, cơ sở sản xuất kinh doanh và dự án đầu tư nào; khả năng đóng góp của từng động lực, thời điểm tạo ra kết quả và phương án xử lý khi một động lực tăng trưởng không đạt kế hoạch. Theo lãnh đạo Thống kê tỉnh, một kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội có chất lượng phải trả lời được những câu hỏi cơ bản: Kinh tế địa phương đang ở đâu? Tăng trưởng sẽ đến từ đâu? Mức tăng thêm có thể đạt được là bao nhiêu? Ai chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện? Và nếu không đạt mục tiêu thì cần điều chỉnh, bù đắp như thế nào? Đây là yêu cầu quan trọng nhằm chuyển từ phương thức xây dựng kế hoạch mang tính định hướng sang quản lý, chỉ đạo và điều hành tăng trưởng kinh tế dựa trên dữ liệu, có dự báo, cảnh báo và giải pháp cụ thể. Tập trung hướng dẫn ba nhóm nội dung chuyên môn trọng tâm Trong chương trình tập huấn, các báo cáo viên của Thống kê tỉnh tập trung hướng dẫn ba nhóm nội dung chính. Thứ nhất, hướng dẫn phương pháp thu thập, tổng hợp và biên soạn hai chỉ tiêu Tổng giá trị sản phẩm trên địa bàn cấp xã và thu nhập bình quân đầu người. Đây là hai chỉ tiêu có ý nghĩa quan trọng trong đánh giá quy mô hoạt động kinh tế, kết quả phát triển và đời sống dân cư trên địa bàn; đồng thời là căn cứ phục vụ xây dựng kế hoạch, xác định mục tiêu và đánh giá kết quả phát triển kinh tế - xã hội hằng năm. Đối với chỉ tiêu Tổng giá trị sản phẩm trên địa bàn cấp xã, các đại biểu được hướng dẫn xác định phạm vi hoạt động sản xuất, kinh doanh; phân loại theo ngành kinh tế; thu thập thông tin về quy mô, kết quả và biến động của từng hoạt động, từng cơ sở; tổng hợp, biên soạn theo phương pháp thống kê thống nhất. Đối với chỉ tiêu thu nhập bình quân đầu người, nội dung hướng dẫn tập trung vào việc xác định đúng đối tượng, nguồn thu nhập, thời kỳ tham chiếu, phương pháp thu thập và tổng hợp thông tin, bảo đảm tính đầy đủ, khách quan và tránh bỏ sót hoặc tính trùng. Đặc biệt, lãnh đạo Thống kê tỉnh lưu ý việc phân biệt thời kỳ tham chiếu giữa cuộc điều tra thực hiện tại thời điểm ngày 01/3/2026 phục vụ biên soạn số liệu năm gốc 2025 và cuộc điều tra tại thời điểm ngày 01/10/2026 phục vụ cập nhật, biên soạn số liệu năm 2026 theo phương án điều tra. Thông tin năm 2025 là cơ sở để so sánh, đánh giá biến động; trong khi thông tin năm 2026 phải phản ánh đúng những thay đổi thực tế về sản xuất, kinh doanh, việc làm và thu nhập dân cư trong năm. Không sử dụng nguyên kết quả thu thập của năm trước để thay thế cho thông tin của năm sau. Thứ hai, hướng dẫn phương pháp đánh giá thực trạng và xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hằng năm ở cấp xã, phường. Các đại biểu được hướng dẫn khai thác, sử dụng thông tin thống kê để đánh giá quy mô, cơ cấu và xu hướng phát triển kinh tế; nhận diện các ngành, lĩnh vực, sản phẩm, cơ sở sản xuất kinh doanh có khả năng đóng góp vào tăng trưởng; xác định tiềm năng, lợi thế, nguồn lực và các yếu tố có thể ảnh hưởng đến kết quả thực hiện kế hoạch. Trên cơ sở đó, UBND các xã, phường có thể xác định mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội phù hợp với điều kiện thực tế, bảo đảm tính khả thi và gắn với những nhiệm vụ, giải pháp cụ thể. Thứ ba, hướng dẫn phương pháp xây dựng kịch bản tăng trưởng kinh tế và tổ chức điều hành theo tháng, quý. Nội dung tập huấn tập trung làm rõ phương pháp xác định các động lực tăng trưởng, lượng hóa khả năng đóng góp của từng ngành, lĩnh vực, sản phẩm và hoạt động kinh tế; xây dựng các phương án tăng trưởng phù hợp với diễn biến sản xuất, kinh doanh, thị trường, mùa vụ, tiến độ đầu tư và khả năng huy động các nguồn lực. Các đại biểu được hướng dẫn xây dựng kịch bản rủi ro, kịch bản cơ sở và kịch bản phấn đấu; phân bổ nhiệm vụ tăng trưởng theo tháng, quý; theo dõi, đánh giá kết quả thực hiện so với kịch bản và nhận diện sớm những chỉ tiêu có nguy cơ không hoàn thành. Một nội dung được đặc biệt nhấn mạnh là phương pháp xác định khoảng thiếu hụt so với mục tiêu, phân tích nguyên nhân, tính toán phần nhiệm vụ cần bổ sung và đề xuất giải pháp điều hành trong các tháng tiếp theo. Qua đó, từng bước hình thành phương thức điều hành tăng trưởng theo hướng “Có mục tiêu – có số liệu – có kịch bản – có cảnh báo – có nhiệm vụ và giải pháp xử lý”. Tăng cường trao đổi, tháo gỡ khó khăn trong công tác thống kê và xây dựng kế hoạch tại cơ sở Bên cạnh nội dung hướng dẫn chuyên môn, các hội nghị dành thời gian để đại biểu trao đổi, thảo luận những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thu thập thông tin, tổng hợp số liệu, xác định các động lực tăng trưởng và xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương. Các nội dung trao đổi tập trung vào phương pháp xác định nguồn tăng trưởng, cập nhật kết quả sản xuất kinh doanh, tổng hợp thông tin về doanh nghiệp, hợp tác xã, cơ sở sản xuất, hộ kinh doanh và thu nhập dân cư; cách sử dụng số liệu thống kê trong xây dựng mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp phát triển kinh tế - xã hội. Thông qua hoạt động trao đổi, hướng dẫn, các đại biểu có điều kiện làm rõ hơn phương pháp chuyên môn, trách nhiệm phối hợp giữa UBND cấp xã và cơ quan Thống kê, cũng như yêu cầu bảo đảm chất lượng thông tin đầu vào phục vụ biên soạn các chỉ tiêu thống kê. Đây cũng là dịp để Thống kê tỉnh nắm bắt những khó khăn, vướng mắc phát sinh từ thực tiễn, tiếp tục hoàn thiện nội dung hướng dẫn và tăng cường hỗ trợ chuyên môn, nghiệp vụ cho các địa phương. Đưa kiến thức tập huấn vào thực tiễn quản lý, điều hành tại các xã, phường Phát biểu bế mạc hội nghị, ông Nguyễn Công Thọ ghi nhận tinh thần nghiêm túc, trách nhiệm của các đại biểu và nhấn mạnh: Kết quả của đợt tập huấn không chỉ được đánh giá qua việc hoàn thành chương trình, mà quan trọng hơn là khả năng vận dụng kiến thức, phương pháp đã được hướng dẫn vào thực tiễn công tác tại từng xã, phường. Lãnh đạo Thống kê tỉnh đề nghị UBND các xã, phường chủ động rà soát, đánh giá thực trạng phát triển kinh tế - xã hội; xác định rõ những ngành, lĩnh vực, cơ sở sản xuất và những dự án có khả năng đóng góp vào tăng trưởng; xây dựng kế hoạch và kịch bản tăng trưởng hằng năm có căn cứ, phù hợp với tiềm năng, lợi thế và điều kiện thực tế của địa phương. Đồng thời, cần phân công rõ trách nhiệm theo dõi từng lĩnh vực, từng động lực tăng trưởng; tổ chức đánh giá kết quả thực hiện theo tháng, quý; kịp thời phát hiện nguy cơ không đạt mục tiêu và chủ động đề xuất giải pháp điều chỉnh, bù đắp phù hợp. Đối với các phòng chuyên môn và công chức được giao nhiệm vụ tham mưu, cần chủ động nghiên cứu, vận dụng các phương pháp đã được hướng dẫn; tăng cường phối hợp với các cơ quan, đơn vị, thôn, tổ dân phố và các tổ chức, cá nhân có liên quan để cập nhật thông tin về hoạt động sản xuất, kinh doanh trên địa bàn. Trong công tác phối hợp biên soạn hai chỉ tiêu thống kê cấp xã, UBND các xã, phường cần tạo điều kiện triển khai các cuộc điều tra theo phương án được phê duyệt; phối hợp rà soát địa bàn, xác định đối tượng, cung cấp và xác minh thông tin, bảo đảm số liệu trung thực, khách quan, đầy đủ và kịp thời. Đối với các phòng nghiệp vụ thuộc Thống kê tỉnh và các đơn vị Thống kê cơ sở, tiếp tục tăng cường hướng dẫn nghiệp vụ, hỗ trợ địa phương trong quá trình thu thập, kiểm tra, xử lý và sử dụng thông tin thống kê; kịp thời tổng hợp, giải đáp khó khăn, vướng mắc phát sinh trong quá trình triển khai. Lãnh đạo Thống kê tỉnh cũng khẳng định, UBND các xã, phường chịu trách nhiệm xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn; cơ quan Thống kê có trách nhiệm cung cấp thông tin, hướng dẫn phương pháp và hỗ trợ phân tích, đánh giá theo chức năng, nhiệm vụ được giao. Đợt tập huấn diễn ra từ ngày 13 đến ngày 15/10/2026 là hoạt động chuyên môn có ý nghĩa thiết thực, góp phần nâng cao nhận thức, năng lực và kỹ năng của đội ngũ lãnh đạo, công chức cấp xã trong công tác xây dựng kế hoạch, kịch bản tăng trưởng và sử dụng thông tin thống kê phục vụ quản lý, điều hành. Thông qua đợt tập huấn, Thống kê tỉnh Tuyên Quang tiếp tục khẳng định vai trò đồng hành cùng chính quyền cơ sở, hướng tới mục tiêu nâng cao chất lượng thông tin thống kê, đổi mới phương thức xây dựng kế hoạch và điều hành phát triển kinh tế - xã hội dựa trên dữ liệu, có dự báo, cảnh báo và giải pháp cụ thể, góp phần thực hiện hiệu quả các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trong giai đoạn 2026–2030. Trương Thị Mỹ Linh Phó phòng Thống kê Công nghiệp và Xây dựng
THỐNG KÊ CƠ SỞ THANH BA, PHÚ THỌ VÀ THỐNG KÊ CƠ SỞ VỊ XUYÊN, TUYÊN QUANG TRAO ĐỔI NGHIỆP VỤ VÀ GIAO LƯU HỌC HỎI KINH NGHIỆM
- 16/10/2026 08:31
Ngày 16/10/2026, Đoàn công tác Thống kê cơ sở Thanh Ba do đồng chí Lê Thị Quỳnh Hợp – Quyền Trưởng Thống kê cơ sở Thanh Ba làm trưởng đoàn đã đến thăm, giao lưu và trao đổi nghiệp vụ tại Thống kê cơ sở Vị Xuyên. Dự tiếp và làm việc với đoàn có đồng chí An Văn Quân – Trưởng Thống kê cơ sở Vị Xuyên cùng toàn thể công chức đơn vị. Tại buổi làm việc, trong không khí cởi mở, đại diện lãnh đạo và công chức hai đơn vị đã tập trung thảo luận, chia sẻ sâu rộng về công tác chuyên môn nghiệp vụ. Hai bên đã trao đổi, đánh giá thực trạng công tác thu thập, tổng hợp, xử lý thông tin thống kê tại địa bàn cơ sở; trao đổi kỹ lưỡng về những thuận lợi, khó khăn trong quá trình triển khai các cuộc điều tra thống kê định kỳ và đột xuất, với 3 nội dung chính: (1) Nâng cao chất lượng số liệu: Đổi mới phương pháp tiếp cận và kỹ năng phỏng vấn, thu thập thông tin, bảo đảm tính kịp thời, chính xác và khách quan; (2) Đẩy mạnh chuyển đổi số: Chia sẻ kinh nghiệm sử dụng hiệu quả các phần mềm chuyên ngành và thiết bị di động (CAPI) trong công tác điều tra; (3) Tăng cường công tác phối hợp: Công tác phối hợp với cấp ủy, chính quyền các phòng ban các địa phương, trong việc trao đổi, thống nhất và sử dụng thông tin thống kê phục vụ công tác quản lý, điều hành phát triển kinh tế - xã hội. Trong chương trình, Đoàn công tác đã đi khảo sát thực tế một số mô hình phát triển kinh tế tiêu biểu trên địa bàn để tìm hiểu công tác thu thập số liệu. Dịp này, hai đơn vị cũng đã tới dâng hương, dâng hoa tri ân các anh hùng liệt sỹ tại Nghĩa trang Liệt sỹ Vị Xuyên và Đền thờ các anh hùng liệt sĩ Mặt trận Vị Xuyên (điểm cao 468) nơi lưu giữ những trang sử hào hùng và tinh thần quả cảm của các thế hệ cha anh bảo vệ vững chắc biên cương Tổ quốc, qua đó thể hiện đạo lý "Uống nước nhớ nguồn" sâu sắc. Chuyến công tác là hoạt động ý nghĩa, không chỉ giúp hai đơn vị trau dồi, nâng cao năng lực chuyên môn mà còn thắt chặt tình đoàn kết, tạo động lực hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao. Thống kê cơ ở Vị Xuyên
THỐNG KÊ CƠ SỞ AN TƯỜNG TÍCH CỰC PHỐI HỢP TỔ CHỨC HỘI NGHỊ HƯỚNG DẪN XÂY DỰNG KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ KỊCH BẢN TĂNG TRƯỞNG HẰNG NĂM CẤP XÃ
- 15/10/2026 15:26
Ngày 15/10/2026, tại Nhà văn hóa phường Minh Xuân, Thống kê tỉnh Tuyên Quang tổ chức Hội nghị hướng dẫn UBND các xã, phường xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, kịch bản tăng trưởng hằng năm và phương pháp biên soạn các chỉ tiêu thống kê cấp xã. Thống kê cơ sở An Tường đã tích cực phối hợp với các phòng nghiệp vụ thuộc Thống kê tỉnh và các đơn vị Thống kê cơ sở Yên Sơn, Sơn Dương trong công tác tổ chức Hội nghị, góp phần nâng cao chất lượng công tác thống kê và năng lực tham mưu, điều hành phát triển kinh tế - xã hội tại cơ sở. Hội nghị có sự tham gia của đại diện 24 xã, phường thuộc địa bàn do Thống kê cơ sở An Tường, Thống kê cơ sở Yên Sơn và Thống kê cơ sở Sơn Dương phụ trách. Tham dự Hội nghị có ông Nguyễn Công Thọ, Phó Trưởng Thống kê tỉnh Tuyên Quang; đại diện lãnh đạo, công chức các phòng nghiệp vụ thuộc Thống kê tỉnh; lãnh đạo, công chức các đơn vị Thống kê cơ sở; đại diện lãnh đạo UBND các xã, phường, lãnh đạo các phòng chuyên môn và công chức được giao nhiệm vụ tham mưu phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện công tác thống kê tại địa phương. Chủ động phối hợp, góp phần tổ chức Hội nghị thiết thực, hiệu quả Xác định công tác hướng dẫn nghiệp vụ thống kê và hỗ trợ chính quyền cấp xã xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội là nhiệm vụ quan trọng, Thống kê cơ sở An Tường đã tích cực phối hợp với các đơn vị liên quan trong quá trình tổ chức Hội nghị. Thông qua hoạt động phối hợp, Hội nghị được triển khai với nội dung chuyên môn gắn với yêu cầu thực tiễn của chính quyền cấp xã, nhất là trong bối cảnh thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Phát biểu tại Hội nghị, ông Nguyễn Công Thọ, Phó Trưởng Thống kê tỉnh, nhấn mạnh yêu cầu đổi mới tư duy xây dựng kế hoạch và điều hành phát triển kinh tế - xã hội theo hướng dựa trên số liệu thống kê, nhận diện đúng tiềm năng, lợi thế, các động lực tăng trưởng và những khó khăn, điểm nghẽn của từng địa phương. Theo đó, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội không chỉ dừng lại ở việc xác định các mục tiêu, chỉ tiêu tăng trưởng mà cần làm rõ nguồn tạo tăng trưởng, khả năng đóng góp của từng ngành, lĩnh vực, sản phẩm, cơ sở sản xuất kinh doanh và dự án đầu tư; đồng thời xác định cụ thể nhiệm vụ, giải pháp và trách nhiệm tổ chức thực hiện. Đặc biệt, việc xây dựng kịch bản tăng trưởng phải gắn với công tác theo dõi, đánh giá kết quả thực hiện theo tháng, quý; kịp thời phát hiện những chỉ tiêu có nguy cơ không hoàn thành để chủ động điều chỉnh, bổ sung giải pháp phù hợp. Hướng dẫn phương pháp xây dựng kế hoạch, kịch bản tăng trưởng và biên soạn các chỉ tiêu thống kê cấp xã Tại Hội nghị, các đại biểu được hướng dẫn ba nhóm nội dung chuyên môn trọng tâm. Một là, phương pháp thu thập, tổng hợp và biên soạn hai chỉ tiêu thống kê quan trọng ở cấp xã, gồm: Tổng giá trị sản phẩm trên địa bàn cấp xã và thu nhập bình quân đầu người. Hai là, phương pháp đánh giá thực trạng và xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hằng năm cấp xã. Nội dung hướng dẫn tập trung vào việc sử dụng số liệu thống kê để đánh giá quy mô, cơ cấu và xu hướng phát triển kinh tế; xác định các ngành, lĩnh vực, sản phẩm và hoạt động kinh tế có khả năng tạo tăng trưởng; phân tích tiềm năng, lợi thế, nguồn lực và những yếu tố tác động đến kết quả thực hiện kế hoạch. Ba là, phương pháp xây dựng kịch bản tăng trưởng kinh tế và tổ chức điều hành theo tháng, quý. Các đại biểu được hướng dẫn cách xác định các động lực tăng trưởng, lượng hóa khả năng đóng góp của từng ngành, lĩnh vực và hoạt động kinh tế; xây dựng các phương án tăng trưởng phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương. Đồng thời, Hội nghị hướng dẫn phương pháp theo dõi, đánh giá kết quả thực hiện so với kịch bản; nhận diện sớm nguy cơ không đạt mục tiêu, xác định phần thiếu hụt và đề xuất nhiệm vụ, giải pháp điều hành trong những tháng tiếp theo. Nội dung tập huấn tập trung làm rõ phạm vi, đối tượng, nguồn thông tin, thời kỳ tham chiếu, quy trình thu thập, phương pháp tổng hợp và trách nhiệm phối hợp giữa UBND các xã, phường với cơ quan Thống kê. Đặc biệt, các đại biểu được lưu ý việc bảo đảm tính thống nhất, khách quan, đầy đủ của thông tin đầu vào; phân biệt đúng thời kỳ tham chiếu của số liệu năm 2025 và năm 2026, không sử dụng thông tin của năm trước để thay thế cho số liệu phản ánh tình hình thực tế của năm sau. Bên cạnh các nội dung hướng dẫn, Hội nghị dành thời gian để đại biểu trao đổi, thảo luận, làm rõ những khó khăn, vướng mắc trong công tác thu thập, tổng hợp số liệu, xác định nguồn tăng trưởng và xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương. Tăng cường phối hợp, nâng cao chất lượng thông tin thống kê phục vụ điều hành phát triển kinh tế - xã hội Phát biểu bế mạc Hội nghị, lãnh đạo Thống kê tỉnh đề nghị UBND các xã, phường chủ động vận dụng những kiến thức, phương pháp đã được hướng dẫn vào thực tiễn; rà soát, đánh giá thực trạng phát triển kinh tế - xã hội; xác định các động lực tăng trưởng chủ yếu và xây dựng kế hoạch, kịch bản tăng trưởng hằng năm phù hợp với tiềm năng, điều kiện của từng địa phương. Các phòng chuyên môn và công chức được giao nhiệm vụ tham mưu cần tăng cường cập nhật thông tin về hoạt động sản xuất, kinh doanh trên địa bàn; từng bước hình thành hệ thống thông tin phục vụ xây dựng kế hoạch, theo dõi và đánh giá kết quả thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội theo tháng, quý. Đối với các đơn vị Thống kê cơ sở, tiếp tục phát huy vai trò cầu nối giữa Thống kê tỉnh với chính quyền cấp xã; chủ động phối hợp, hướng dẫn nghiệp vụ, hỗ trợ địa phương trong quá trình thu thập, kiểm tra, xử lý và sử dụng thông tin thống kê; kịp thời tổng hợp, phản ánh những khó khăn, vướng mắc phát sinh trong quá trình triển khai. Thông qua Hội nghị, đội ngũ lãnh đạo, công chức các xã, phường được bổ sung kiến thức, phương pháp và kỹ năng cần thiết để nâng cao chất lượng công tác tham mưu xây dựng kế hoạch, kịch bản tăng trưởng và sử dụng số liệu thống kê trong quản lý, điều hành. Việc tích cực phối hợp tổ chức Hội nghị của Thống kê cơ sở An Tường góp phần tăng cường mối quan hệ phối hợp giữa cơ quan Thống kê với UBND các xã, phường; phát huy vai trò của Thống kê cơ sở trong việc hướng dẫn, hỗ trợ chính quyền địa phương nâng cao chất lượng thông tin thống kê. Đây cũng là hoạt động thiết thực nhằm từng bước chuyển đổi phương thức xây dựng kế hoạch và điều hành phát triển kinh tế - xã hội cấp xã theo hướng dựa trên dữ liệu, có mục tiêu rõ ràng, có kịch bản cụ thể, có theo dõi, cảnh báo và giải pháp điều hành phù hợp, góp phần thực hiện hiệu quả các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương giai đoạn 2026–2030. Lê Anh Tuấn – Thống kê cơ sở An Tường
THỐNG KÊ TỈNH TUYÊN QUANG TĂNG CƯỜNG KIỂM TRA VIỆC SỬ DỤNG SỐ LIỆU, THÔNG TIN THỐNG KÊ NHÀ NƯỚC TẠI CẤP XÃ
- 05/10/2026 16:44
Trong tháng 9/2026, Thống kê tỉnh Tuyên Quang tổ chức kiểm tra việc sử dụng số liệu, thông tin thống kê nhà nước tại UBND xã Minh Tân và UBND xã Xuân Vân. Hoạt động nhằm đánh giá thực trạng sử dụng số liệu thống kê tại cơ sở, kịp thời hướng dẫn, chấn chỉnh những tồn tại và nâng cao chất lượng thông tin phục vụ công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của chính quyền địa phương. Ngày 17/9/2026, Đoàn kiểm tra do ông Nguyễn Công Thọ, Phó Trưởng Thống kê tỉnh Tuyên Quang, làm Trưởng đoàn đã công bố Quyết định số 83/QĐ-TKT ngày 04/9/2026 về kiểm tra việc sử dụng số liệu, thông tin thống kê nhà nước tại UBND xã Minh Tân. Tham dự buổi làm việc có ông Thượng Duy Du, Phó Chủ tịch UBND xã cùng đại diện lãnh đạo các phòng chuyên môn và công chức phụ trách công tác thống kê của địa phương. Tiếp đó, ngày 24/9/2026, Đoàn kiểm tra công bố Quyết định số 87/QĐ-TKT ngày 14/9/2026 tại UBND xã Xuân Vân. Tham dự buổi làm việc có ông Lê Quốc Thu, Phó Chủ tịch UBND xã, cùng đại diện lãnh đạo các phòng, đơn vị liên quan và công chức phụ trách công tác thống kê. Nội dung kiểm tra tập trung vào việc sử dụng số liệu, thông tin thống kê nhà nước trong các báo cáo của UBND hai xã năm 2024 và năm 2025; việc thu thập, tổng hợp và đối chiếu số liệu đầu vào; tính thống nhất của các chỉ tiêu thống kê và việc trích dẫn nguồn khi sử dụng thông tin thống kê nhà nước đã được cấp có thẩm quyền công bố. Tại các buổi làm việc, đại diện lãnh đạo UBND hai xã đã báo cáo tình hình sử dụng số liệu, thông tin thống kê nhà nước; đồng thời trao đổi những thuận lợi, khó khăn, vướng mắc trong quá trình tổng hợp và sử dụng số liệu phục vụ xây dựng báo cáo kinh tế - xã hội của địa phương. Nhấn mạnh yêu cầu sử dụng số liệu thống kê chính xác, thống nhất và có nguồn gốc rõ ràng, ông Nguyễn Công Thọ, Trưởng đoàn kiểm tra, đề nghị các địa phương tăng cường phối hợp với cơ quan thống kê trong việc rà soát, đối chiếu các chỉ tiêu kinh tế - xã hội, nhất là những chỉ tiêu có sự chênh lệch giữa các báo cáo hoặc giữa các nguồn thông tin. Đối với từng chỉ tiêu có chênh lệch, cần làm rõ tên chỉ tiêu, khái niệm, đơn vị tính, thời kỳ, phạm vi, nguồn số liệu và nguyên nhân khác biệt để thống nhất số liệu sử dụng. Các báo cáo của UBND xã, đặc biệt là báo cáo đánh giá tình hình kinh tế - xã hội và xây dựng kế hoạch phát triển, cần ghi rõ nguồn thông tin, bảo đảm khả năng kiểm tra, đối chiếu khi cần thiết. Trưởng đoàn cũng nhấn mạnh sự cần thiết của việc xây dựng bộ dữ liệu kinh tế - xã hội dùng chung tại cấp xã, có đầu mối chịu trách nhiệm quản lý, cập nhật định kỳ và lưu trữ đầy đủ nguồn thông tin. Việc quản lý dữ liệu cần hướng tới nguyên tắc: “Một chỉ tiêu – một khái niệm thống nhất – một nguồn chính – một đầu mối quản lý – có khả năng kiểm tra, đối chiếu”. Đối với công tác khắc phục sau kiểm tra, Trưởng đoàn đề nghị xác định cụ thể từng nội dung cần thực hiện theo phương châm “rõ việc, rõ người, rõ thời hạn, rõ sản phẩm”; đồng thời yêu cầu các thành viên Đoàn kiểm tra và Thống kê cơ sở tiếp tục phối hợp, hướng dẫn địa phương đối với những chỉ tiêu còn vướng mắc, theo dõi kết quả khắc phục và tổng hợp các vấn đề phát sinh để tham mưu hướng dẫn chung. Hoạt động kiểm tra không chỉ nhằm phát hiện, chấn chỉnh những hạn chế trong việc sử dụng số liệu, thông tin thống kê nhà nước mà còn góp phần nâng cao năng lực quản lý dữ liệu và chất lượng công tác thống kê tại cơ sở. Qua đó, từng bước hình thành hệ thống thông tin kinh tế - xã hội thống nhất, đáng tin cậy, đáp ứng yêu cầu quản lý, điều hành của chính quyền địa phương trong tình hình mới.Hoàng Đình Khánh - Phòng Thống kê Tổng hợp
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 9 và 9 tháng đầu năm 2026 tỉnh Tuyên Quang
- 30/09/2026 14:11
Trong 9 tháng đầu năm 2026, tình hình thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường; xung đột địa chính trị, biến động thương mại, chính sách thuế quan và giá năng lượng gia tăng đã tác động tiêu cực đến tăng trưởng, lạm phát, chuỗi cung ứng và hoạt động kinh tế toàn cầu. Xu hướng chuyển dịch chuỗi cung ứng, phát triển kinh tế số, kinh tế xanh và trí tuệ nhân tạo (AI) đang làm thay đổi sâu sắc kinh tế thế giới, đặt ra yêu cầu cấp thiết phải đổi mới mô hình tăng trưởng. Thiên tai, biến đổi khí hậu, thời tiết cực đoan xảy ra tại nhiều khu vực, gây thiệt hại nghiêm trọng về người và tài sản. Trong nước và trong tỉnh, năm 2026 là năm đầu tiên thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ I và Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2026-2030. Tỉnh Tuyên Quang đã quyết liệt triển khai nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện mục tiêu tăng trưởng "2 con số"; giải ngân vốn đầu tư công; vận hành chính quyền địa phương 2 cấp; triển khai 10 Nghị quyết đột phá của Bộ Chính trị; bảo đảm quốc phòng, an ninh; xây dựng Đảng, hệ thống chính trị và tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc của tỉnh. Qua theo dõi và tổng hợp tình hình kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang tháng 9/2026 và 9 tháng đầu năm 2026, Thống kê tỉnh Tuyên Quang đánh giá tình hình kinh tế - xã hội thực hiện trên một số lĩnh vực chủ yếu như sau: I. PHÁT TRIỂN KINH TẾ 1. Tăng trưởng kinh tế 9 tháng đầu năm 2026 1.1. Tốc độ tăng trưởng GRDP trên địa bàn (giá so sánh 2020) 9 tháng đầu năm 2026 Tốc độ tăng trưởng GRDP (giá so sánh năm 2020) trên địa bàn tỉnh tăng 8,04% so với cùng kỳ năm 2025, cụ thể của các lĩnh vực như sau: 1.1.1. Khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 5,26%; đóng góp 1,37 điểm phần trăm trong mức tăng chung của GRDP. Ngành nông nghiệp mặc dù còn gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng của thời tiết; dịch bệnh; thị trường tiêu thụ nông sản, giá vật tư đầu vào nhưng cũng đã vượt mọi khó khăn đạt mức tăng trưởng tương đối ấn tượng. Ngành nông nghiệp tăng 5%, đóng góp 1,05 điểm phần trăm; ngành lâm nghiệp tăng 6%, đóng góp 0,25 điểm phần trăm; ngành thủy sản tăng 8,28%, đóng góp 0,07 điểm phần trăm. 1.1.2. Khu vực Công nghiệp, xây dựng tăng 10,25%, đóng góp vào tốc độ tăng trưởng chung là 2,6 điểm phần trăm. Trong đó: - Ngành công nghiệp, tăng 10,25%, với mức đóng góp 2,6 điểm phần trăm (trong đó: Ngành khai khoáng tăng trưởng âm 5,98%, tăng trưởng âm 0,05 điểm phần trăm; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 13,93%, đóng góp 1,24 điểm phần trăm; sản xuất và phân phối điện tăng 6,52%, đóng góp 0,53 điểm phần trăm; cung cấp nước tăng 1,27%, đóng góp tăng trưởng rất nhỏ). - Ngành xây dựng tăng 12,01%, đóng góp 0,87 điểm phần trăm trong khu vực. Với mục tiêu “lấy đầu tư công dẫn dắt đầu tư tư”, tập trung tháo gỡ khó khăn, vướng mắc về đất đai, tài nguyên môi trường, giải phóng mặt bằng các dự án đầu tư, nhất là các dự án trọng điểm của tỉnh như: Dự án cao tốc Tuyên Quang - Hà Giang (giai đoạn 2), đoạn Tân Quang - cửa khẩu quốc tế Thanh Thủy; cao tốc Tuyên Quang - Hà Giang (Giai đoạn 1); Bệnh viện đa khoa tỉnh tại địa điểm mới; 17 trường phổ thông nội trú liên cấp tiểu học và trung học cơ sở tại các xã biên giới và các dự án quan trọng khác. 1.1.3. Khu vực dịch vụ tăng 8,49%, đóng góp 3,72 điểm phần trăm. Trong khu vực dịch vụ, đóng góp của một số ngành có tỷ trọng lớn vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm như sau: Bán buôn, bán lẻ và sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy tăng 8,96%, đóng góp 0,51 điểm phần trăm; vận tải kho bãi tăng 10,49%, đóng góp 0,31 điểm phần trăm; lưu trú và ăn uống tăng 8,95%, đóng góp 0,23 điểm phần trăm; hoạt động tài chính ngân hàng và bảo hiểm tăng 9,27%, đóng góp 0,32 điểm phần trăm,…Ngay từ đầu năm tỉnh đã tổ chức các hoạt động xúc tiến, quảng bá du lịch có tiềm năng phát triển như du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, du lịch cộng đồng;… 1.1.4. Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 7,42% (đóng góp 0,35 điểm phần trăm vào tốc độ tăng trưởng chung của nền kinh tế; 1.2. Quy mô và cơ cấu kinh tế 1.2.1. Quy mô tổng sản phẩm Quy mô tổng sản phẩm trên địa bàn 9 tháng đầu năm 2026 (giá hiện hành) ước đạt 74.113,8 tỷ đồng. 1.2.2. Cơ cấu kinh tế Cơ cấu kinh tế tỉnh tiếp tục chuyển biến tích cực với chiều hướng tăng dần tỷ trọng khu vực dịch vụ, cụ thể như sau: Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 22,82%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 28,13%, trong cơ cấu nội hàm ngành công nghiệp đã có sự chuyển dịch theo hướng, giảm dần tỷ trọng công nghiệp khai thác, tăng dần tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo; khu vực dịch vụ chiếm 44,37%; thuế sản phầm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 4,68%. Nhìn chung, trong 9 tháng đầu năm 2026 các ngành kinh tế đều có sự chuyển dịch tích cực và tiếp tục đóng góp chủ yếu vào mức tăng trưởng GRDP của toàn tỉnh, chứng tỏ các giải pháp của tỉnh đã mang lại những hiệu quả giúp cho việc chuyển dịch cơ cấu đúng hướng và mang lại hiệu quả rõ rệt. Đây là sự chuyển dịch cơ cấu tích cực phù hợp với yêu cầu thúc đẩy nhanh sự tăng trưởng kinh tế. 2. Tài chính, ngân hàng 2.1. Tình hình thu, chi ngân sách nhà nước 2.1.1. Thu ngân sách nhà nước: Tổng thu ngân sách nhà nước ước thực hiện là 5.515,6 tỷ đồng, tăng 11,06% so với cùng kỳ. Trong đó thu nội địa ước thực hiện là 5.431,1 tỷ đồng, tăng 22,66%. Một số khoản thu đạt khá là: Thu từ khu vực kinh tế ngoài quốc doanh là 2.151 tỷ đồng, tăng 36,67%; thuế Thu nhập cá nhân là 316,8 tỷ đồng, tăng 4,99%; thu phí – lệ phí là 493,2 tỷ đồng, tăng 12,18%;… Một số khoản thu thấp: Thu từ khu vực Doanh nghiệp nhà nước là 376,7 tỷ đồng, giảm 15,33%; các khoản thu thuế bảo vệ môi trường đạt 139 tỷ đồng, giảm 57,09%,... 2.1.2. Chi ngân sách nhà nước: Tổng chi ngân sách nhà nước là 30.258,1 tỷ đồng, tăng 6,84% so với cùng kỳ. Trong đó: Chi đầu tư phát triển 11.811,5 tỷ đồng, tăng 28,15%; chi thường xuyên 18.439,6 tỷ đồng, giảm 3,46%;... Ủy ban nhân dân tỉnh đã chỉ đạo các cơ quan thuế, tài chính triển khai quyết liệt các giải pháp quản lý thu, tăng cường kiểm tra, rà soát nguồn thu, đẩy mạnh quản lý thu đối với hoạt động thương mại điện tử, kinh doanh trên nền tảng số và các lĩnh vực còn dư địa, góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng năm 2026. 2.2. Hoạt động tín dụng ngân hàng Đẩy mạnh triển khai các Chương trình cho vay phát triển nông nghiệp, nông thôn, các doanh nghiệp nhỏ và vừa, giải ngân các dự án đã cam kết, cho vay các đối tượng chính sách - xã hội góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội. Tăng cường sử dụng các phương thức thanh toán điện tử thay cho tiền mặt. Nguồn vốn huy động duy trì mức tăng trưởng khá, ước đến ngày 30/9/2026 đạt 82.616 tỷ đồng, tăng 17,7% so với cùng kỳ, tăng 9,5% so với 31/12/2025; tổng dư nợ ước đạt 80.841 tỷ đồng, tăng 15,08% so với cùng kỳ, tăng 2,0% so với 31/12/2025. Chất lượng tín dụng được đảm bảo, tỷ lệ nợ xấu là 1,0%/tổng dư nợ. 3. Giá cả - Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 9 năm 2026 tăng 0,21% so với tháng trước, tăng 5,08% so với cùng kỳ năm trước. Trong số 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính thì có 8 nhóm tăng giá so với tháng trước, 3 nhóm giảm giá so với tháng trước, cụ thể của các nhóm như sau: + Có 8/11 nhóm hàng có chỉ số CPI tăng so với tháng trước, trong đó: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,18%, nguyên nhân chủ yếu là do trong tháng diễn ra lễ hội Thành Tuyên năm 2026 làm nhóm ăn uống ngoài gia đình tăng 0,34%; nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,44%, do thời tiết nắng nóng cùng với dịp lễ hội Trung thu nên nhu cầu sử dụng các loại bia, nước ngọt để giải khát của người dân tăng; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,56%; nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,24%; nhóm giao thông tăng 3,30% nguyên nhân chủ yếu là do giá xăng, dầu điều chỉnh tăng; nhóm giáo dục tăng 0,12% là do giá văn phòng phẩm, sách tham khảo đầu năm học mới tăng; nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 2,13%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,86%. + Có 04/11 nhóm giảm, trong đó: Nhóm may mặc, mũ nón và giày dép giảm 0,19%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 2,25%; nhóm thông tin truyền thông giảm 0,17%; + Chỉ số giá vàng tăng 2,20% so với tháng trước, tăng 19,09% so với cùng kỳ năm trước và giảm 2,55% so với tháng 12 năm trước. + Chỉ số giá đô la Mỹ giảm 0,72% so với tháng trước, giảm 1,29% so với cùng kỳ năm trước và giảm 1,06% so với tháng 12 năm trước. - CPI bình quân 9 tháng đầu năm 2026 tăng 5,36% so với cùng kỳ năm 2025. Một số nguyên nhân cơ bản đã tác động tăng CPI là những nguyên nhân chủ yếu sau: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 6,23%, chủ yếu do nhóm hàng lương thực tăng 3,12% (do giá gạo tăng), thực phẩm tăng 5,77% (do giá thịt gia súc tăng), ăn uống ngoài gia đình tăng 12,28%; đồ uống và thuốc lá tăng 4,36%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 14,11%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 4,93%,…. chỉ số giá vàng tăng 50,89%, giá đô la Mỹ tăng 0,57%.4. Vốn đầu tư và xây dựng 4.1. Tình hình thực hiện vốn đầu tư 4.1.1. Vốn đầu tư phát triển toàn xã hội Ước thực hiện quý III/2026 đạt 9.043,3 tỷ đồng, tăng 16,91% so với quý II/2026, tăng 13,30% so với quý cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng đầu năm 2026 ước đạt 22.556,8 tỷ đồng, tăng 6,76% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Nguồn vốn từ khu vực nhà nước ước đạt 7.350,9 tỷ đồng, tăng 4,29% so với cùng kỳ (chiếm 32,59% tổng nguồn vốn đầu tư); nguồn vốn đầu tư của dân cư và tư nhân ước đạt 13.826,3 tỷ đồng, tăng 16,31% (chiếm 61,30% tổng nguồn vốn) khu vực tư nhân chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong đầu tư phát triển toàn xã hội và giữ vai trò quan trọng trong tổng nguồn vốn, trong bối cảnh ngân sách nhà nước còn hạn hẹp rất cần các nguồn lực đầu tư từ khu vực tư nhân; vốn đầu tư của doanh nghiệp Nhà nước đạt 221,1 tỷ đồng, tăng 8,13% (chiếm 0,98%); vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 68,4 tỷ đồng, tăng 77,87%;... 4.1.2. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước - Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước thực hiện quý III/2026 đạt 3.119,1 tỷ đồng, tăng 15,23% so với cùng quý năm trước, trong đó: Vốn ngân sách cấp tỉnh đạt 2.481,7 tỷ đồng, tăng 18,25%; vốn ngân sách cấp xã đạt 637,4 tỷ đồng, tăng 4,80%. - Ước thực hiện 9 tháng đầu năm 2026 đạt 7.212,9 tỷ đồng, tăng 5,42% so với cùng kỳ, trong đó: Vốn ngân sách cấp tỉnh đạt 5.739,5 tỷ đồng, tăng 9,62%; vốn ngân sách cấp xã đạt 1.473,4 tỷ đồng, giảm 8,29%. 4.2. Xây dựng Tỉnh đã tập trung quyết liệt thực hiện các giải pháp đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công, ban hành các văn bản chỉ đạo, kiểm tra thực tế các dự án trọng điểm: Dự án cao tốc Tuyên Quang - Hà Giang (giai đoạn 2), đoạn Tân Quang - cửa khẩu quốc tế Thanh Thủy; cao tốc Tuyên Quang - Hà Giang (Giai đoạn 1); Bệnh viện đa khoa tỉnh tại địa điểm mới; 17 trường phổ thông nội trú liên cấp tiểu học và trung học cơ sở tại các xã biên giới…) và tổ chức các cuộc họp về tình hình thực hiện các dự án đầu tư công trên địa bàn tỉnh. Kết quả giải ngân vốn đầu tư công từ đầu năm đến hết ngày 28/9/2026 đạt 6.825,1/17.189,1 tỷ đồng, bằng 39,7% kế hoạch (kế hoạch vốn năm 2026 đạt 3.718,3/9.952,78 tỷ đồng, bằng 37,3% kế hoạch; kế hoạch vốn năm 2025 kéo dài sang năm 2026 đạt 3.106,5/7.236,3 tỷ đồng, bằng 42,9% kế hoạch). 5. Hoạt động của doanh nghiệp 5.1. Về tình hình hoạt động của doanh nghiệp Từ ngày 01/01/2026 đến ngày 22/9/2026, cấp Giấy chứng nhận đăng ký thành lập mới cho 754 doanh nghiệp, tăng 35% so với cùng kỳ, với số vốn đăng ký trên 5.079,7 tỷ đồng, tăng 136% so với cùng kỳ; số doanh nghiệp hoạt động trở lại 184 doanh nghiệp, tăng 12%; số doanh nghiệp giải thể tăng với 229 doanh nghiệp, tăng 209%; tạm ngừng 378 doanh nghiệp, tăng 3%.Lũy kế trên địa bàn tỉnh có 6.817 doanh nghiệp với tổng số vốn đăng ký trên 96.629.107 tỷ đồng (trong đó có 21 doanh nghiệp có 100% vốn đầu tư nước ngoài). Nhìn chung, số lượng doanh nghiệp thành lập mới tăng cao trong 9 tháng đầu năm cho thấy môi trường kinh doanh được cải thiện, thủ tục hành chính được quan tâm, tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong giải quyết thủ tục đầu tư, rút ngắn thời gian cấp phép kinh doanh, hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận nguồn lực đất đai, tín dụng. 5.2. Tình hình xu hướng kinh doanh của các doanh nghiệp ngành chế biến chế tạo quý III năm 2026 Kết quả điều tra về xu hướng kinh doanh của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong quý III năm 2026 cho thấy: Số doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh quý III/2026 khả quan hơn so với quý cùng kỳ đạt tỷ lệ 38,89%; doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh ổn định đạt tỷ 38,89%; có 22,22% số doanh nghiệp đánh giá gặp khó khăn trong sản xuất kinh doanh. Chỉ số cân bằng của quý III năm 2026 so với quý II là 16,67%. Dự kiến xu hướng kinh doanh quý IV so với quý III năm 2026 cho thấy: Có 42,59% số doanh nghiệp đánh giá xu hướng sẽ tốt lên (gồm các ngành: Sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn); 38,89% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh sẽ ổn định (gồm các ngành: Sản xuất da và các sản phẩm có liên quan; In, sao chép bản ghi các loại; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic; sản xuất xe có động cơ); có 18,52% số doanh nghiệp dự báo tiếp tục khó khăn hơn. Dự tính chỉ số cân bằng của quý tiếp theo so với quý hiện tại là 24,07%. 6. Kết quả tình hình sản xuất Nông, lâm nghiệp và thủy sản 9 tháng đầu năm 2026 6.1. Trồng trọt 6.1.1. Sản xuất vụ đông xuân năm 2026 Thời tiết vụ Đông Xuân 2026 diễn biến tương đối thuận lợi, lượng mưa và nhiệt độ ổn định giúp cây trồng, đặc biệt là cây ngô và lúa, sinh trưởng và phát triển tốt. Nguồn cung ứng giống, phân bón được đảm bảo. Người dân ngày càng chủ động áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, đưa các giống mới có năng suất, chất lượng cao vào sản xuất. Công tác tu sửa, nạo vét kênh mương, các công trình thủy lợi được chú trọng triển khai, đảm bảo nguồn nước tưới tiêu chủ động. Một số mô hình liên kết sản xuất - tiêu thụ tiếp tục chứng minh hiệu quả, điển hình như mô hình trồng gừng với hợp tác xã Sơn Ý, mô hình trồng dưa bao tử, bí, mướp đắng với HTX Nông sản xanh Sáng Nhung tạo sự ổn định và nâng cao thu nhập cho bà con nông dân - Cây lúa: Diện tích đạt 27.351,7 ha, giảm 1,92% so với cùng kỳ, ước tính năng suất lúa bình quân chung 60,29 tạ/ha, tăng 0,33% (tăng 0,2 tạ/ha). Sản lượng ước tính 164.887,9,1 tấn (giảm 1,56%) so với vụ đông xuân năm 2025. - Cây ngô: Trồng được 34.214,4 ha, giảm 1,87% so với vụ đông xuân năm 2025; năng suất đạt 41,51 tạ/ha, tăng 2,47% (tăng 1 tạ/ha); sản lượng 142.028,2 tấn (tăng 0,72%). - Cây khoai lang: năng suất đạt 66,43 tạ/ha, tăng 0,38% (tăng 0,25 tạ/ha), sản lượng đạt 15.091,5 tấn, giảm 0,25%. - Cây đậu tương: năng suất đạt 15,78 tạ/ha, tăng 1,24% (tăng 0,18 tạ/ha); sản lượng đạt 6.042,7 tấn, giảm 7,371%. - Cây lạc: năng suất đạt 28,3 tạ/ha, tăng 0,03% (tăng 0,01 tạ/ha); sản lượng đạt 22.977 tấn, giảm 5,27%. 6.1.2. Sản xuất vụ mùa năm 2026 Tính đến thời điểm báo cáo, công tác gieo trồng vụ Mùa trên địa bàn đã cơ bản hoàn tất theo kế hoạch. Hiện nay, các địa phương đang tập trung triển khai các biện pháp chăm sóc, theo dõi sát tình hình sinh trưởng để đảm bảo cây trồng phát triển ổn định. - Cây lúa: Toàn tỉnh đã cấy được 52.134 ha, giảm 1,49% so với cùng kỳ năm trước. - Cây ngô: Diện tích đã trồng 40.210 ha, tăng 1,7%. - Cây lạc: Diện tích đã trồng 5.026 ha, tăng 8,25%.- Cây đậu tương: Diện tích đã trồng 7.695 ha, tăng 12,88%. 6.1.3 Cây lâu năm a. Diện tích Tổng diện tích cây lâu năm 9 tháng đầu năm 2026 hiện có 59.471,52 ha, giảm 4,78% (giảm 2.840,69 ha) so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân diện tích giảm là do một số diện tích cây ăn quả lâu năm đã đến tuổi già cỗi đồng loạt (giảm nhiều nhất ở nhóm cây ăn quả có múi cây cam), kèm theo đó năng suất cho hiệu quả kinh tế không cao nên người dân đã chặt bỏ để chuyển đổi mục đích sử dụng. Bên cạnh đó trong năm 2025 và 9 tháng đầu năm 2026 một phần diện tích cây lâu năm bị thu hồi nhà nước lấy đất để mở rộng đường quốc lộ ở Phường Mỹ Lâm, xã Bắc Quang... dẫn đến diện tích cây lâu năm giảm sâu so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể diện tích các nhóm cây như sau: Các loại quả có múi thuộc họ cam, quýt diện tích hiện có 13.742,54 ha, giảm 16,31% (giảm 2.675,53 ha). Trong đó: Cây cam 5.887,76 ha, giảm 31,95% (giảm 2.764,43 ha); cây quýt 287,96 ha, giảm 2,60% (giảm 7,77 ha); cây chanh 2.077,06 ha, tăng 14,10% (tăng 256,71 ha); cây bưởi là 5.417,46 ha, giảm 2,87% (giảm 159.90 ha); cây ăn quả có múi khác là 72,29 ha, giảm 2,98%. Táo, mận và các loại quả có hạt như táo diện tích hiện có 3.556,32 ha, giảm 0,29% (giảm 10,17 ha) so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó: Cây táo là 147,92 ha, tăng 0,76% (tăng 1,11ha); cây mận là 1.432,24 ha, giảm 1,12%; cây lê 1.321,25 ha, tăng 1,13%. Riêng cây lê diện tích tăng do người dân trồng cây biết lắm bắt kịp thời xu hướng nhu cầu khách du lịch đặc biệt khí hậu thời tiết vùng cao phù hợp cho cây phát triển mang lại giá trị du lịch cho tỉnh vào mùa ra hoa, bên cạnh đó lại cho quả có giá trị kinh tế cao. Nhãn, vải diện tích hiện có 1.416,28 ha, Trong đó: Cây nhãn là 1.013,50 ha, giảm 8,72% (giảm 96,81 ha); cây vải là 402,78 ha, giảm 7,79% (giảm 34,89 ha). Cây chè: Toàn tỉnh diện tích hiện có 27.138,26 ha, giảm 1,45% (giảm 400,26 ha) so với cùng kỳ năm 2025. Diện tích chè 9 tháng đầu năm 2026 tiếp tục giảm do một phần diện tích trồng chè của xã Bắc Quang, Phường Mỹ Lâm nhà nước thu hồi đất chuyển mục đích sử dụng, mở đường quốc lộ và phát triển một số dự án xây dựng mới sau sát nhập. Diện tích chè chia theo thành phần kinh tế: Tư nhân là 3.361,50 ha; Cá thể là 23.776,76 ha. b. Sản lượng Các loại quả có múi thuộc họ cam, quýt diện tích hiện có các loại cây trong nhóm này vẫn giảm nhiều nhưng cùng với đó số diện tích mới đến thời kỳ cho sản phẩm lại vẫn tăng cao hơn so với cùng kỳ năm 2025. Như cây bưởi ước đạt 10.801,84 tấn, tăng 0,81%; cây chanh ước đạt 32680,83 tấn, tăng 10,23%. Cây mận ước đạt 2.886,32 tấn, tăng 0,34%so với cùng kỳ năm 2025; cây đào ước đạt 1.537,59 tấn, tăng 1,84%; cây lê ước đạt 3.910,50 tấn, tăng 1,13%. Sản lượng cây nhãn ước đạt 6.150,56 tấn, giảm 7,12%; cây vải ước đạt 2.344,68 tấn, tăng 3,66%. Sản lượng chè ước đạt 133.488,78 tấn, tăng 0,76% so với cùng kỳ năm 2025. Chia ra: tư nhân là 32.240,24 tấn; cá thể là 101.248,54 tấn. 6.2. Tình hình sinh vật gây hại Trong 9 tháng năm 2026, thời tiết, khí hậu ngày nắng, xen kẽ các đợt mưa dông khá thuận lợi để sâu bệnh phát triển gây hại. Lúa bị rầy nâu, rầy lưng trắng, sâu đục thân 2 chấm, bệnh đạo ôn cổ bông, bệnh bạc lá, bệnh đốm sọc vi khuẩn và đặc biệt bệnh khô vằn. Ngoài ra, sâu cuốn lá nhỏ, bọ xít dài, bệnh đạo ôn lá, đen lép hạt, tiêm lửa và chuột xuất hiện, gây hại rải rác. Cây lạc và đậu tương Hè Thu: Sâu cuốn lá, rệp muội, rầy xanh lá mạ cùng các bệnh hại phổ biến như héo xanh, đốm lá và gỉ sắt đều xuất hiện rải rác... các ngành chức năng đã hướng dẫn và chỉ đạo bà con nông dân phòng trừ kịp thời, có hiệu quả, không để dịch bệnh hại nặng cây trồng.6.3. Về chăn nuôi Nhìn chung, trong tháng 9, chăn nuôi tỉnh Tuyên Quang tiếp tục duy trì đà tăng trưởng nhưng còn tiềm ẩn nhiều yếu tố không ổn định. Để đảm bảo phát triển bền vững, cần tiếp tục kiểm soát tốt dịch bệnh, ổn định thị trường, giảm chi phí đầu vào và đẩy mạnh liên kết sản xuất - tiêu thụ, qua đó nâng cao giá trị và hiệu quả của ngành chăn nuôi trong thời gian tới.6.3.1. Về số lượng đàn gia súc, gia cầm - Đàn trâu: Tổng đàn là 202.105 con, giảm 9,31% (tương đương giảm 20.737 con) so với cùng kỳ năm 2025. - Đàn bò: Tổng đàn là 175.963 con, tăng 0,91% (tăng 1.587 con). Trong đó: Bò sữa 7.116 con, tăng 7,93% (tăng 523 con). - Đàn lợn: Tổng đàn là 1.216.593 con, tăng 12,18% (tăng 132.092 con). - Đàn gia cầm: Tổng đàn là 14.974 nghìn con, tăng 8,85%. Trong đó: Đàn gà là 12.810,00 nghìn con, tăng 5,91% (tăng 714 nghìn con). 6.3.2. Về sản phẩm đàn gia súc, gia cầm Ước 9 tháng đầu năm 2026, đàn trâu sản lượng thịt hơi đạt 11.600 tấn, tăng 7,12% so với cùng kỳ 2025; đàn bò đạt 6.374 tấn, tăng 6,34% (tăng 380 tấn); đàn lợn đạt 96.756 tấn, tăng 6,25%; gia cầm xuất chuồng 28.853 tấn, tăng 6,89%. Trong 9 tháng đầu năm, chăn nuôi trên địa bàn tỉnh luôn được các ngành chức năng quan tâm và phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về thịt gia súc, gia cầm; trên địa bàn tỉnh đã xuất hiện nhiều mô hình trang trại chăn nuôi gia cầm tiên tiến, theo hướng liên kết hiệu quả kinh tế cao. 6.4. Công tác phòng chống dịch bệnh gia súc, gia cầm6.4.1. Công tác phòng chống và điều trị Trong tháng, bệnh phát sinh tại 144 hộ/44 thôn/09 xã, phường, số lợn tiêu hủy 1.048 con, khối lượng 44.307 kg. Lũy kế từ đầu năm đến ngày 13/9/2026, toàn tỉnh ghi nhận 3.384 con lợn mắc bệnh buộc tiêu hủy tại 420 hộ/166 thôn/53 xã, phường; tổng trọng lượng 140.098 kg; đã có 26 xã, phường công bố hết dịch, 04 xã qua 21 ngày chưa công bố hết dịch, 23 xã, phường chưa qua 21 ngày theo quy định. 6.4.2. Công tác tiêm phòng: Kết quả tiêm phòng lũy kế đến ngày 10/9/2026: + Đàn trâu: 38.447 lượt tiêm, trong đó: Vắc xin LMLM 13.457 con đạt 12,8% KH, Vắc xin THT 21.670 con đạt 20,6% KH; Vắc xin VDNC 3.320 con. + Đàn bò: 84.752 lượt tiêm, trong đó: Vắc xin LMLM 22.877 con, đạt 21,8% KH; Vắc xin THT 36.107 con, đạt 34,5% KH; Vắc xin VDNC 25.768 con đạt 24,6% KH, Vắc xin Nhiệt thán 6.647 con đạt 20,1% KH. + Đàn lợn: 348.301 lượt tiêm, trong đó: Vắc xin LMLM 11.224 con; Vắc xin THT 170.152 con, đạt 29,2% KH; Vắc xin Dịch tả lợn 165.494 con, đạt 28,4%; Vắc xin Dịch tả lợn Châu phi 1.431 con. + Đàn gia cầm: 1.600.682 lượt tiêm, trong đó: (Vắc xin THT 766.557 con đạt 8.8% KH, Vắc xin Newcastle, Lasota 470.603 con đạt 5,4% KH, Vắc xin Dịch tả Vịt 32.750 con, Vắc xin Cúm gia cầm 330.772 con). + Đàn chó: 62.952 lượt con, đạt 43,3% KH. 6.5. Công tác kiểm dịch vận chuyển động vật và công tác kiểm soát giết mổ Tiếp tục thực hiện chặt chẽ đúng quy định công tác kiểm dịch vận chuyển ngoài tỉnh. Lũy kế từ đầu năm đến nay đã cấp 3.303 giấy, gồm 1.686 chuyến, vận chuyển 202.750 con gia súc, gia cầm; 1.617 chuyến, vận chuyển 28.376.162 kg sữa tươi nguyên liệu, 120.326 kg sản phẩm động vật chế biến thực phẩm. Vận chuyển đi các tỉnh như Bắc Ninh, Hà Nội, Cao Bằng, Phú Thọ, Lai Châu, Nghệ An, Thái Nguyên,... Trong 9 tháng đã kiểm soát, thu phí 7.913 con gia súc (trâu, bò, ngựa 197 con; lợn 7.716 con). 6.6. Về sản xuất lâm nghiệp 6.6.1. Công tác trồng rừng Tình hình sản xuất lâm nghiệp trong tháng 9 diễn ra tương đối ổn định, 9 tháng đầu năm Ủy ban nhân dân tỉnh và cơ quan chuyên môn đã chú trọng, quan tâm đến công tác phát triển lâm nghiệp, chỉ đạo các doanh nghiệp, hộ dân đẩy nhanh tiến độ trồng rừng đã đạt được những kết quả quan trọng. Tính đến ngày 20/9/2026, trên địa bàn tỉnh thực hiện trồng 86,57 ha rừng trồng tập trung, giảm 50,04% so với tháng cùng kỳ. Lũy kế 9 tháng toàn tỉnh đã trồng được 15.077,45 ha, tăng 5,64% (tăng 805,53 ha), chủ yếu là rừng sản xuất. 6.6.2. Khai thác gỗ rừng trồng Ước thực hiện trong tháng đạt 145.205,3 m3, tăng 69,76% (tăng 59.668,10 m3) so với cùng kỳ. Luỹ kế đến hết tháng báo cáo sản lượng gỗ khai thác đạt 1.146.041,8 m3, tăng 2,4% (tăng 26.892,13 m3). 6.6.3. Công tác quản lý bảo vệ rừngTrong tháng không xảy ra vụ cháy rừng, phá rừng. Luỹ kế 9 tháng đầu năm, số vụ cháy rừng xảy ra 01 vụ, giảm 37 vụ so với cùng kỳ; thiệt hại 0,12 ha, giảm 80,01 ha. Số vụ phá rừng là 13 vụ, giảm 22 vụ; diện tích rừng bị phá là 2,41 ha, giảm 8,48 ha. Nguyên nhân chính giảm số vụ cháy rừng, phá rừng là do các cơ quan chính quyền địa phương đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến về công tác quản lý, bảo vệ và phòng cháy chữa cháy rừng, chủ động cập nhật diễn biến rừng, theo dõi thời tiết để có những phương án phù hợp.6.7. Về thuỷ sản Trong tháng 9 tình hình nuôi trồng thủy sản trên địa bàn tỉnh tiếp tục được quan tâm, đẩy mạnh phát triển. Với lợi thế điều kiện tự nhiên và nguồn lợi mặt nước lớn từ nhiều sông, hồ phù hợp nuôi cá đặc sản bằng lồng trên sông, hồ như: Cá tầm, cá lăng chấm, bỗng, chiên, … khí hậu thuận lợi để ươm nuôi cá tầm tại các bể bồn. Đồng thời việc nuôi trồng một số loài cá trọng điểm của tỉnh vẫn rất được quan tâm, chú trọng như: Cá trắm, chép, rô phi, … Sản lượng nuôi trồng thủy sản 9 tháng ước đạt 12.508,58 tấn, tăng 8,37% so với cùng kỳ năm 2025 (trong đó: Cá đạt 12.417,87 tấn, tăng 8,37%; thủy sản khác đạt 87,35 tấn, tăng 9,05%). Sản lượng khai thác ước đạt 1.934,2 tấn, tăng 7,74%. Tình hình sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản 9 tháng đầu năm 2026 vẫn duy trì ở mức ổn định. Trong đó, một số ngành như chăn nuôi phát triển cơ bản ổn định, tiến độ gieo trồng của một số loại cây trồng có tăng so với cùng kỳ năm trước... Đây là cơ sở để bảo đảm nguồn cung lương thực, thực phẩm cho người dân trên địa bàn.7. Sản xuất công nghiệp 7.1. Về phát triển công nghiệp trong tháng - Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) trong tháng giảm 0,55% so với tháng trước, tăng 5,23% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Ngành sản xuất và và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí giảm 11,88%, giảm 6,27%; khai khoáng giảm 17,10%, giảm 10,34%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,42%, tăng 15,32%; cung cấp nước và hoạt động thu gom xử lý rác, nước thải tăng 1,68%, giảm 1,13%. - Trong tháng, một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng so với tháng trước và tăng so với cùng kỳ năm trước như: Cát tự nhiên đạt 19.641 m3, tăng 2,93%, tăng 6,92%; chè (trà) nguyên chất đạt 1.534 tấn, tăng 4,38%, tăng 8,56%; bột giấy hóa học từ gỗ đạt 19.227 tấn, tăng 16,35%, tăng 25,45%;...Tuy nhiên, cũng có một số sản phẩm công nghiệp giảm so với tháng trước và giảm so với cùng kỳ như:Đá xây dựng đạt 26.974 tấn, giảm 20,06%, giảm 45,16%; bột Felspat đạt 9.000 tấn, giảm 2,17%, giảm 3,23%;… 7.2. Về phát triển công nghiệp trong quý III/2026 - Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) quý III/2026 ước tính tăng 9,10% so với quý cùng kỳ, trong đó: Sản xuất và phân phối điện tăng 3,85%; cung cấp nước và xử lý rác, nước thải giảm 1,15%; khai khoáng giảm 2,24%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 14,25%. - Trong quý III/2026 một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu của tỉnh đạt mức tăng trưởng khá so với quý cùng kỳ như: Cát tự nhiên tăng 18,97%; chè (trà) tăng 40%; xi măng tăng 12,53%; giày dép thể thao có mũ bằng da tăng 19,66%;…Tuy nhiên, cũng có một số sản phẩm công nghiệp giảm so với quý cùng kỳ như: Bột Felspar giảm 1,08%; áo sơ mi người lớn giảm 23,34%; mangan giảm 19,62%;… 7.3. Về phát triển công nghiệp 9 tháng đầu năm 2026 - Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp 9 tháng đầu năm 2026 tăng 9,03% so với cùng kỳ năm trước, Chia theo từng ngành kinh tế cấp I như sau: + Ngành khai khoáng giảm 7,73%. Nguyên nhân chủ yếu là do Công ty cổ phần đầu tư khoáng sản An Thông chất lượng quặng khai thác xấu, công ty tập trung hoàn tất thủ tục xin khai thác mỏ mới để có quặng tốt hơn nên sản lượng sản xuất của doanh nghiệp giảm. + Ngành sản xuất và phân phối điện tăng 6,06%, nguyên nhân do do 05 nhà máy thủy điện đã hòa lưới phát điện cùng với thời tiết năm nay mưa nhiều hơn và mùa mưa cũng kết thúc muộn hơn so với năm trước. Một số thủy điện có sản lượng điện 6 tháng tăng cao so với cùng kỳ: Thủy điện Sông Miện 5N tăng 32,92%; Xuân Thiện Hà Giang tăng 35,61%; Sông Lô 4N tăng 82,44%; Sông Chảy 6N tăng 39,34%; Sông Lô 2N tăng 130,0%.... + Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 11,30%, trong đó: Sản xuất chế biến thực phẩm tăng 18,06%; dệt tăng 20,33%; sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 76,13%; giường, tủ, bàn, ghế tăng 30,12%,...+ Ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 2,16%; do hoạt động thu gom, xử lý rác thải tăng 6,88% so cùng kỳ. - Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng so với cùng kỳ năm trước như: Điện sản xuất tăng 5,07%; cát tự nhiên tăng 18,42%; cấu kiện làm sẵn tăng 43,80%;… Tuy nhiên, một số sản phẩm công nghiệp có chiều hướng giảm so với cùng kỳ như: Áo sơ mi cho người lớn giảm 13,91%; bột barit giảm 48,89%;… Với quyết tâm đưa công nghiệp thành trụ cột tăng trưởng, tỉnh Tuyên Quang đang tập trung cải thiện môi trường đầu tư và hoàn thiện hạ tầng để lấp đầy các khu, cụm công nghiệp, hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững sau sáp nhập. Với mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số trong năm 2026, ngành công nghiệp tiếp tục được xác định là động lực quan trọng nhất. Tỉnh đã triển khai nhiều giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp, từ tổ chức đối thoại, tiếp nhận kiến nghị đến rà soát, tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc liên quan đến thủ tục đầu tư, đất đai, tiến độ dự án. Khi điểm nghẽn được khơi thông, nguồn lực được phát huy, doanh nghiệp có thêm niềm tin và động lực tăng tốc, qua đó góp phần tạo việc làm, tăng nguồn thu và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của tỉnh. 8. Thương mại và Dịch vụ Đẩy nhanh tiến độ triển khai Dự án Siêu thị GO! Tuyên Quang để đẩy nhanh tiến độ, sớm đưa dự án vào hoạt động trong quý IV năm 2026 để kích cầu tiêu dùng, phát triển thương mại dịch vụ trên địa bàn; đồng thời thúc đẩy phát triển hạ tầng thương mại[1]. Tổ chức hiệu quả Hội chợ OCOP tỉnh Tuyên Quang năm 2026; khai trương “Chợ phiên, chợ số” gắn với quảng bá du lịch và tiêu thụ sản phẩm trên nền tảng số tại xã Hồng Thái; khai mạc Ngày hội “Mùa vàng trên Cao Đường” năm 2026. Chú trọng thương mại điện tử, tiếp tục hoàn thiện các nền tảng số, hỗ trợ quảng bá sản phẩm địa phương trên nền tảng số. 8.1. Doanh thu bán lẻ hàng hóa Doanh thu bán lẻ hàng hóa trong tháng ước đạt 4.232 tỷ đồng, tăng 3,48% so với tháng trước, tăng 35,42% so với tháng cùng kỳ. Trong đó, một số nhóm hàng tăng so với tháng trước, tăng so với cùng kỳ, cụ thể như sau: Hàng lương thực, thực phẩm đạt 1.175 tỷ đồng, tăng 5,81%, tăng 36,81%; may mặc đạt 418 tỷ đồng, tăng 3,39%, tăng 38,84%; đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình đạt 581 tỷ đồng, tăng 2,06%, tăng 12,93%;… Tính chung trong quý III/2026, doanh thu bán lẻ hàng hóa ước đạt 12.249 tỷ đồng, tăng 32,57% so với quý cùng kỳ. Tính trong 9 tháng đầu năm 2026, doanh thu bán lẻ hàng hóa ước đạt 34.022 tỷ đồng, tăng 24,52% so với cùng kỳ. 8.2. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ khác - Trong tháng, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 771,62 tỷ đồng, tăng 18,40% so với tháng trước, tăng 51,70% so với cùng kỳ. Trong đó: Dịch vụ lưu trú đạt 88,33 tỷ đồng, tăng 39,75%, tăng 28,24%; ăn uống đạt 683,30 tỷ đồng, tăng 16,11%, tăng 32,94%. Tính chung trong quý III/2026 dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 2.046 tỷ đồng, tăng 18,60% so với quý cùng kỳ. Tính trong 9 tháng đầu năm 2026, dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 5.792,09 tỷ đồng, tăng 60,35% so với cùng kỳ. - Trong tháng, doanh thu du lịch lữ hành ước đạt 4,38 tỷ đồng, tăng 38,90% so với tháng trước, tăng 37,87% so với cùng kỳ. Tính chung trong quý III/2026 du lịch lữ hành ước đạt 10 tỷ đồng, tăng 15,43% so quý cùng kỳ. Tính trong 9 tháng đầu năm 2026 du lịch lữ hành ước đạt 47,93 tỷ đồng, tăng 37,87%. - Doanh thu dịch vụ khác trong tháng ước đạt 83,75 tỷ đồng, giảm 0,34% so với tháng trước, tăng 6,54% so với cùng kỳ. Tính chung trong quý III/2026 dịch vụ khác ước đạt 254 tỷ đồng, tăng 15,43% so quý cùng kỳ. Tính trong 9 tháng đầu năm 2026, dịch vụ khác ước đạt 819,01 tỷ đồng, tăng 19,27% so với cùng kỳ. 8.3. Xuất, nhập khẩu hàng hóa Thường xuyên nắm bắt tình hình, kịp thời hỗ trợ các doanh nghiệp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu trong bối cảnh thị trường thế giới có nhiều biến động. Tổ chức hội nghị chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả (Ban Chỉ đạo 389). Tăng cường kiểm tra, kiểm soát, đấu tranh chống buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả, hàng kém chất lượng. Tiếp tục cải cách, rút ngắn thủ tục hành chính trong lĩnh vực hải quan. Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa trong 9 tháng đầu năm 2026 ước đạt 869,2 triệu USD, tăng 32,21% so với cùng kỳ. Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa 9 tháng ước đạt 206,5 triệu USD, tăng 22,38% so với cùng kỳ. 9. Vận tải hàng hóa và hành khách Từ đầu năm đến nay, nhu cầu đi du lịch, lễ hội và vận chuyển hàng hóa của người dân tăng cao; đặc biệt là trong dịp lễ hội Thành tuyên năm 2026. Các ngành chức năng đã chỉ đạo các đơn vị quản lý giao thông, Bến xe khách, các doanh nghiệp, hợp tác xã và các hộ kinh doanh cá thể vận tải trên địa bàn tỉnh chuẩn bị đầy đủ phương tiện, bảo đảm phục vụ nhu cầu đi lại của nhân dân được thuận lợi, an toàn,... chú trọng, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát về việc kê khai, niêm yết giá; xử lý các hành vi vi phạm quy định pháp luật về bảo đảm trật tự, an toàn giao thông, vi phạm nồng độ cồn, chở quá khổ, quá tải, quá số người quy định, phương tiện không bảo đảm an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường... 9.1. Doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải - Doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải tháng 9 ước đạt 465,64 tỷ đồng, tăng 6,15% so với tháng trước, tăng 30,29% so với cùng kỳ. Trong đó, vận tải hành khách ước đạt 120,97 tỷ đồng, tăng 10,31%, tăng 35,88%; vận tải hàng hóa ước đạt 342,04 tỷ đồng, tăng 4,77%, tăng 28,46%; kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 1,87 tỷ đồng, tăng 5,52%, tăng 25,46%; bưu chính, chuyển phát đạt 0,76 tỷ đồng, tăng 3,19%, tăng 25,74%. - Ước thực hiện quý III/2026 doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 1.353,21 tỷ đồng, tăng 19,18% so với quý cùng kỳ. Trong đó, vận tải hành khách ước đạt 346,50 tỷ đồng, tăng 33,28%; vận tải hàng hóa ước đạt 999,02 tỷ đồng, tăng 14,92%; kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 5,46 tỷ đồng, tăng 26,01%; bưu chính, chuyển phát đạt 2,23 tỷ đồng, tăng 22,93%. - Tính chung, trong 9 tháng đầu năm 2026, doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 4.049,26 tỷ đồng, tăng 20,39% so với cùng kỳ. Trong đó, doanh thu vận tải hành khách ước đạt 1.083,4 tỷ đồng, tăng 25,53%; vận tải hàng hóa ước đạt 2.941,57 tỷ đồng, tăng 18,59%; kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 16,89 tỷ đồng, tăng 19,57%; bưu chính, chuyển phát đạt 7,40 tỷ đồng, tăng 27,83%. 9.2. Vận tải hành khách và hàng hóa9.2.1. Vận tải hành khách - Hành khách vận chuyển trong tháng 9 ước đạt 1,88 triệu lượt hành khách, tăng 11,26% so với tháng trước, tăng 29,25% so với cùng kỳ; khối lượng hành khách luân chuyển ước đạt 161,45 triệu lượt hành khách.km, tăng 11,75%, tăng 32,86%. - Ước thực hiện quý III/2026, hành khách vận chuyển ước đạt 5,4 triệu lượt hành khách, tăng 26,74% so với quý cùng kỳ; hành khách luân chuyển ước đạt 456,1 triệu lượt hành khách.km, tăng 24,91%. - Tính chung trong 9 tháng, hành khách vận chuyển ước đạt 16,86 triệu lượt hành khách, tăng 20,26% so với cùng kỳ; hành khách luân chuyển ước đạt 1.371,42 triệu lượt hành khách.km, tăng 18,57%. 9.2.2. Vận tải hàng hóa - Hàng hóa vận chuyển trong tháng 9 ước đạt 2,19 triệu tấn, tăng 8,08% so với tháng trước, tăng 29,35% so với cùng kỳ; hàng hóa luân chuyển ước đạt 132,98 triệu tấn.km, tăng 4,13%, tăng 28,14%. - Ước thực hiện quý III/2026, hàng hóa vận chuyển ước đạt 6,32 triệu tấn, tăng 22,10% so với quý cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 393,76 triệu tấn.km, tăng 23,84%. - Tính chung trong 9 tháng, hàng hóa vận chuyển ước đạt 18,93 triệu tấn, tăng 15,26% so với cùng kỳ; hàng hóa luân chuyển ước đạt 1.210,65 triệu tấn.km, tăng 19,29%. 10. Về du lịch Tỉnh đã tập trung tổ chức nhiều chương trình, sự kiện thu hút du lịch như: Chương trình ký kết Biên bản ghi nhớ hợp tác về truyền thông, quảng bá văn hóa, du lịch tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 2026-2031; Tổ chức thành công Lễ hội Thành Tuyên năm 2026; “Festival nông sản, OCOP, làng nghề gắn kết du lịch - Tuyên Quang năm 2026, thu hút đông đảo du khách đến tham dự; chuẩn bị các điều kiện để tổ chức Lễ hội hoa Tam giác mạch năm 2026 và các hoạt động hưởng ứng Lễ hội. Tổ chức tái đánh giá Công viên địa chất toàn cầu cao nguyên đá Đồng Văn lần thứ IV năm 2026; Kế hoạch về tăng cường các giải pháp phát triển du lịch 5 tháng cuối năm 2026 của Ban Chỉ đạo Phát triển Du lịch và Công viên địa chất toàn cầu Cao nguyên đá Đồng Văn nhằm thu hút khách du lịch, phát triển dịch vụ kèm theo du lịch góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng. Tháng 9 năm 2026, ước toàn tỉnh đón 410.034 lượt khách du lịch, tăng 9% so với cùng kỳ (trong đó 43.034 lượt khách quốc tế, 362.000 lượt khách khách nội địa). Quý III năm 2026 ước đón 1.150.398 lượt khách du lịch, tăng 20,6% (trong đó 155.398 lượt khách quốc tế; 995.000 lượt khách nội địa), tổng chi tiêu từ khách du lịch đạt 3.128,9 tỷ đồng, tăng 22,9%. Trong 9 tháng năm 2026, toàn tỉnh ước đón 3.243.766 lượt khách du lịch (trong đó: 567.443 lượt khách quốc tế, 2.676.323 lượt khách nội địa), tăng 8,9%; tổng chi tiêu khách du lịch ước đạt 8.984,2 tỷ đồng, tăng 11%. II. LĨNH VỰC VĂN HÓA - XÃ HỘI 1. Về lao động việc làm Đẩy mạnh các hoạt động kết nối cung - cầu lao động, hỗ trợ người lao động tìm kiếm, tiếp cận cơ hội việc làm phù hợp với trình độ, kỹ năng và nhu cầu của thị trường lao động, nhất là đợt tuyển dụng lao động của Tập đoàn Vingroup và Siêu thị Go Tuyên Quang; trong 9 tháng năm 2026 đưa 791 lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; các doanh nghiệp, đơn vị được tỉnh cấp phép đã đưa được 5.876 lượt lao động sang Trung Quốc làm việc theo thỏa thuận quản lý lao động qua biên giới. 2. Đời sống dân cư Từ đầu năm đến nay, tình hình đời sống dân cư trên địa bàn tỉnh tiếp tục ổn định. Giá cả các mặt hàng thiết yếu không có biến động lớn, duy trì sự bình ổn. Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong các khu, cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh cơ bản đạt kế hoạch đề ra, đa số doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả và phát triển, không xảy ra tình trạng cắt giảm giờ làm, nghỉ việc, nghỉ luân phiên và chấm dứt hợp đồng với người lao động, đời sống của người lao động trong các công ty đang dần được cải thiện. Tiếp tục Triển khai Kế hoạch thực hiện công tác giảm nghèo bền vững năm 2026. 3. Công tác người có công, giảm nghèo, bảo trợ xã hội và phòng chống tệ nạn xã hội Tổ chức phát động Phong trào thi đua thực hiện chính sách đối với người có công với cách mạng và công tác đền ơn đáp nghĩa, nhân kỷ niệm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2026); tổ chức thăm, tặng quà các gia đình thân nhân người có công với cách mạng, gia đình thương binh, liệt sỹ với 35.718 suất quà cho hộ gia đình người có công và các đơn vị với tổng trị giá hơn 15,96 tỷ đồng (Quà Chủ tịch nước: 10.774 người, 3,32 tỷ đồng; Quà từ ngân sách tỉnh: 11.751 người, 6,22 tỷ đồng; 05 đơn vị trung tâm điều dưỡng với số tiền 25 triệu đồng; Quà từ ngân sách xã: 6.103 người, 2,21 tỷ đồng; Quà từ nguồn xã hội hoá, các đơn vị, tổ chức và các cá nhân thăm tặng: 7.085 người, với số tiền 4,19 tỷ đồng. Thực hiện tốt công tác chăm lo đời sống các đối tượng chính sách; duy trì việc chi trả trợ cấp ưu đãi thường xuyên hằng tháng cho trên 9.000 người có công, thân nhân người có công và các đối tượng chính sách khác đang hưởng trợ cấp trên địa bàn tỉnh. Duy trì công tác tiếp nhận, quản lý, điều trị, cai nghiện cho người nghiện ma túy tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh, tại thời điểm báo cáo Cơ sở đang quản lý tổng 217 học viên cai nghiện ma túy bắt buộc. Cai nghiện bắt buộc 209 học viên, cai nghiện tự nguyện 8 học viên. 4. Hoạt động giáo dục và đào tạo Tổ chức Hội nghị tổng kết năm học 2025-2026, triển khai nhiệm vụ năm học 2026-2027; Lễ khai giảng năm học 2026-2027 trên địa bàn tỉnh. Lễ khánh thành công trình Trường phổ thông nội trú Tiểu học và THCS Thanh Thủy, Trường Phổ thông nội trú Tiểu học và THCS Minh Tân. Kiểm tra tiến độ thi công và tổ chức họp Ban Chỉ đạo xây dựng trường học cho các xã biên giới; Hoàn thành sắp xếp tổ chức lại cơ sở giáo dục đại học công lập và cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập; sắp xếp mạng lưới cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông và giáo dục thường xuyên công lập trên địa bàn tỉnh (từ 1.063 cơ sở giảm xuống còn 578 cơ sở, giảm 485 cơ sở, tương ứng 45,6%). Triển khai các nội dung thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo. 5. Hoạt động y tế Quan tâm, nâng cao chất lượng công tác khám, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe Nhân dân. Đẩy mạnh triển khai bệnh án điện tử, có 21/35 đơn vị khám chữa bệnh ([1công lập và ngoài công lập) đã hoàn thiện hồ sơ bệnh án điện tử. Làm tốt công tác thường trực cấp cứu tai nạn giao thông, ngộ độc thực phẩm[1]. Triển khai Bệnh án điện tử đạt kết quả tích cực[2]. Đẩy mạnh công tác truyền thông, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp, các ngành, gia đình và cộng đồng trong công tác bảo vệ trẻ em, phòng, chống bạo lực, xâm hại trẻ em. Trong 9 tháng năm 2026 thực hiện khám, chữa bệnh cho 2.059.059 lượt người đạt 89,0% kế hoạch[3]; trong đó, đã tổ chức khám sức khỏe miễn phí cho trên 143.000 lượt người dân các xã vùng biên giới. 6. Hoạt động văn hoá, thể dục, thể thao Tiếp tục thực hiện các bước lập Quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi Danh lam thắng cảnh quốc gia đặc biệt Khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang - Lâm Bình. Phối hợp tổ chức Cầu truyền hình “Sao sáng dẫn đường” tại điểm cầu của tỉnh nhân Kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947-27/7/2026). Hưởng ứng Chương trình đi bộ “Cùng Việt Nam tiến bước” năm 2026 tổ chức tại Quảng trường Nguyễn Tất Thành (phường Minh Xuân) với hơn 4.500 cán bộ, chiến sĩ, đoàn viên, thanh niên và người dân tham gia; Giải chạy Marathon “Tuyên Quang - Nơi vẻ đẹp hội tụ” năm 2026 với gần 1.000 vận động viên tham gia. Chuẩn bị các điều kiện phục vụ khánh thành Bảo tàng ATK Tân Trào và Phòng chiếu phim. Triển khai các hoạt động truyền thông hưởng ứng Ngày Dân số Thế giới năm 2026; tuyên truyền Cuộc thi sáng tác mẫu biểu trưng APEC 2027 và Cuộc thi sáng tác tranh cổ động tuyên truyền kỷ niệm 80 năm Ngày Toàn quốc kháng chiến; tổng kết và trao giải Cuộc thi Đại sứ Văn hóa đọc năm 2026. Tham gia Giải Vô địch Điền kinh quốc gia U20 và U23 quốc gia tại tỉnh Cà Mau; giải Vô địch Bóng ném trẻ quốc gia tại tỉnh Lâm Đồng; Giải Bóng đá U9 quốc gia (Giải xã hội hoá); giải Vô địch trẻ Vật cổ điển, vật tự do quốc gia, tổ chức tại tỉnh Ninh Bình;… 7. Tình hình an toàn giao thông, thiên tai và phòng chống cháy, nổ 7.1. Về an toàn giao thông Trong tháng, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 19 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 7 người và bị thương 12 người. So với tháng trước tăng 46,15% về số vụ tai nạn, số người chết giữ nguyên, số người bị thương tăng 71,43%. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông tăng 11,76, số người chết giảm 46,15%, số người bị thương tăng 9,09%. Trong quý III/2026, toàn tỉnh đã xảy ra 47 vụ tai nạn giao thông, làm chết 26 người và làm bị thương 22 người. So với cùng quý trước: Số vụ tai nạn giao thông tăng 11,9%; số người chết giảm 21,21%; số người bị thương giảm 8,33%. Trong 9 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh đã xảy ra; 139 vụ tai nạn giao thông, 79 người chết và 71 người bị thương. So với cùng kỳ năm trước: Số vụ tai nạn giao thông giảm 2,8%; số người chết giảm 8,14%; số người bị thương giảm 19,32%. 7.2. Về cháy nổ Tháng 9/2026, toàn tỉnh xảy ra 03 vụ cháy, nổ. Tính chung 9 tháng đầu năm, trên địa bàn tỉnh xảy ra 18 vụ cháy, không gây thiệt hại về người, thiệt hại về tài sản ước tính 1.145 triệu đồng. 7.3. Thiệt hại do thiên tai 7.3.1. Thiệt hại do thiên tai 9 tháng đầu năm 2026 Trong 9 tháng đầu năm 2026, tình hình thiên tai trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang có nhiều diễn biến phức tạp, bất thường. Mưa lớn, dông lốc, sét, mưa đá, lũ quét, ngập úng và sạt lở đất, tập trung nhiều tại các địa bàn miền núi, vùng có địa hình dốc và khu vực ven sông, suối đã gây thiệt hại về con người, nhà ở, sản xuất nông nghiệp và hệ thống giao thông, công trình công cộng, đồng thời gây ảnh hưởng đến đời sống, sinh hoạt của người dân tại các khu vực có nguy cơ cao. - Thiệt hại về người: 06 người chết; 10 người bị thương. - Thiệt hại về nhà ở: 1.782 ngôi nhà (27 nhà thiệt hại trên 70%; 805 nhà thiệt hại từ 50-70%; 950 nhà thiệt hại từ 30-50%; 64 nhà bị ngập nước); - Thiệt hại về nông nghiệp: 4.031,26 ha hoa màu bị thiệt hại; Thiệt hại về chăn nuôi, thuỷ sản: 102 con vật nuôi khác, 95 con gia súc, 3.866 con gia cầm; - Thiệt hại về giao thông: 8.836 m đường, 42 công tình cầu, cống qua đường bị hư hỏng, 1.436 điểm giao thông bị ách tắc. - Thiệt hại về thuỷ lợi: 22 công trình, 6.205 m kênh bị hư hỏng; - Thiệt hại khác: Thiệt hại về giáo dục: 68 trường học bị thiệt hại; Thiệt hại về y tế: 07 cơ sở y tế bị ảnh hưởng; Thiệt hại về văn hoá: 13 nhà văn hoá bị hư hỏng;…. 8. Một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm 3 tháng cuối năm 2026 Với quyết tâm hoàn thành cao nhất các mục tiêu, chỉ tiêu kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh đã đề ra trong năm 2026. Để phấn đấu hoàn thành các mục tiêu theo kế hoạch cần phải tiếp tục thực hiện tốt một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm sau: Một là, Thường xuyên theo dõi, nắm chắc tình hình sản xuất của các doanh nghiệp công nghiệp; kịp thời hỗ trợ tháo gỡ khó khăn, vướng mắc về thị trường, vốn, nguyên liệu, tạo điều kiện để doanh nghiệp phát huy công suất, duy trì ổn định sản xuất, phấn đấu hoàn thành mục tiêu tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp theo kế hoạch. Tập trung đôn đốc đẩy nhanh tiến độ các dự án đã được phê duyệt chủ trương đầu tư. Xây dựng Quy định về quản lý an toàn trong sử dụng điện. Khẩn trương triển khai việc lập quy hoạch chung đô thị và nông thôn thuộc thẩm quyền cấp xã, đảm bảo phù hợp với các cấp độ quy hoạch còn hiệu lực, các quy chuẩn, tiêu chuẩn hiện hành và tuân thủ theo đúng trình tự, thủ tục, quy định của pháp luật. Xây dựng Quyết định quy định về trình tự, thủ tục phê duyệt điều chỉnh cục bộ quy hoạch đô thị và nông thôn đã được UBND tỉnh phê duyệt do UBND cấp xã tổ chức lập. Triển khai các bước lập điều chỉnh Quy hoạch chung xây dựng Khu kinh tế cửa khẩu Thanh Thủy; Quy hoạch chung Khu du lịch quốc gia Cao nguyên đá Đồng Văn; Quy hoạch chung Khu du lịch quốc gia Tân Trào,... Khẩn trương triển khai thực hiện điều chỉnh Chương trình phát triển nhà ở tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 2021 - 2030, định hướng đến năm 2045. Thực hiện công bố giá vật liệu xây dựng hằng tháng bảo đảm kịp thời, đúng quy định. Tăng cường kiểm tra, hướng dẫn, theo dõi sát diễn biến thị trường, không để xảy ra tình trạng giá công bố thấp hơn giá bán vật liệu xây dựng trên thị trường, gây khó khăn cho chủ đầu tư, nhà thầu và làm phát sinh tiêu cực. Công bố, điều chỉnh đơn giá vật liệu xây dựng, đơn giá nhân công xây dựng, ca máy và thiết bị thi công bảo đảm phù hợp với mặt bằng giá thị trường, làm cơ sở cho việc lập, thẩm định và triển khai các dự án đầu tư trên địa bàn.Hai là, Tập trung rà soát, xử lý các dự án chậm tiến độ, tồn đọng, kéo dài trên địa bàn tỉnh, phân loại để xác định phương án xử lý phù hợp; đối với các dự án có khả năng tiếp tục triển khai thì tập trung tháo gỡ khó khăn, đẩy nhanh tiến độ; đối với các dự án không còn phù hợp hoặc không đủ điều kiện thực hiện thì xem xét điều chỉnh, chấm dứt hoặc xử lý theo quy định của pháp luật. Nâng cao chất lượng công tác chuẩn bị đầu tư và tổ chức thực hiện dự án; chủ động, linh hoạt trong thực hiện thủ tục đầu tư và công tác giải phóng mặt bằng; tập trung đẩy nhanh tiến độ thi công các dự án, đặc biệt là các dự án trọng điểm trên địa bàn tỉnh như: Dự án Cao tốc Tuyên Quang - Hà Giang (giai đoạn 1); Bệnh viện Đa khoa tỉnh Tuyên Quang; Dự án đường và từ khu du lịch suối khoáng Mỹ Lâm đến QL2D kết nối với đường cao tốc Tuyên Quang - Phú Thọ,… Ba là, Tổ chức thực hiện nghiêm túc, kịp thời, đầy đủ các cơ chế, chính sách về tiền tệ và hoạt động ngân hàng. Tiếp tục triển khai các giải pháp thúc đẩy tăng trưởng tín dụng gắn với nâng cao chất lượng tín dụng; tăng cường kiểm soát và xử lý nợ xấu, bảo đảm an toàn hoạt động của hệ thống các tổ chức tín dụng trên địa bàn. Tiếp tục thực hiện cải cách, rút ngắn thủ tục hành chính trong lĩnh vực hải quan, thuế; rút ngắn thời gian thông quan hàng hóa, giảm chi phí cho doanh nghiệp, người nộp thuế, tạo thuận lợi thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu. Công tác sắp xếp, xử lý tài sản công là các trụ sở dôi dư: Tiếp tục hướng dẫn các cơ quan, tổ chức, đơn vị thực hiện sắp xếp, bố trí, xử lý các cơ sở nhà, đất, tài sản công khi sắp xếp tổ chức theo đúng các quy định của pháp luật. Bốn là, Tiếp tục theo dõi chặt chẽ tình hình thời tiết, chủ động xây dựng các phương án phòng chống thiên tai, cảnh báo mưa lũ nhắm hạn chế tối thiểu thiệt hại về người và tài sản do thiên tai gây ra. Thực hiện tốt các chính sách về an sinh xã hội, lao động, việc làm, công tác trợ giúp đột xuất, bảo đảm người dân khi gặp rủi ro, thiên tai được hỗ trợ kịp thời, khắc phục khó khăn ổn định cuộc sống. Tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát bảo đảm an ninh trật tự, an toàn giao thông và phòng chống cháy nổ.THỐNG KÊ TỈNH TUYÊN QUANG
THỐNG KÊ TỈNH TUYÊN QUANG DỰ HỘI NGHỊ BAN CHẤP HÀNH ĐẢNG BỘ XÃ YÊN THÀNH VÀ TRAO TẶNG QUÀ CHO TRƯỜNG MẦM NON
- 30/09/2026 07:29
Sáng ngày 30/9/2026, Đoàn công tác của Thống kê tỉnh Tuyên Quang do đồng chí Nguyễn Công Thọ, Phó Trưởng Thống kê tỉnh làm Trưởng đoàn đã tham dự Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ xã Yên Thành lần thứ 5 (mở rộng). Cùng tham gia đoàn có đồng chí Lê Thùy Chang, Bí thư Chi đoàn Thống kê tỉnh và các thành viên trong đoàn công tác. Hội nghị là dịp để địa phương đánh giá tình hình thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời trao đổi, thống nhất những nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm trong thời gian tới.Phát biểu tại Hội nghị, đồng chí Nguyễn Công Thọ, Phó Trưởng Thống kê tỉnh, ghi nhận những kết quả xã Yên Thành đã đạt được trong 9 tháng đầu năm 2026, đồng thời đề nghị địa phương tập trung cao cho các nhiệm vụ 3 tháng cuối năm. Đồng chí nhấn mạnh việc rà soát, quản lý chặt chẽ các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội theo hướng rõ mục tiêu, rõ số liệu, rõ việc, rõ người, rõ thời gian, rõ kết quả; đặc biệt quan tâm đến phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập cho người dân và sử dụng số liệu thống kê làm công cụ phục vụ công tác lãnh đạo, điều hành. Đồng chí cũng đề nghị tăng cường phối hợp giữa xã Yên Thành và Thống kê tỉnh trong chuẩn hóa hệ thống chỉ tiêu, thu thập, tổng hợp, phân tích số liệu, qua đó phản ánh sát tình hình thực tế và phục vụ hiệu quả công tác quản lý, điều hành tại địa phương. Đồng chí Nguyễn Công Thọ, Phó Trưởng Thống kê tỉnh phát biểu tại Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ xã Yên Thành lần thứ 5 (mở rộng) Thông qua Hội nghị, mối quan hệ phối hợp giữa Thống kê tỉnh và xã Yên Thành tiếp tục được tăng cường, hướng tới thực hiện tốt công tác thu thập, tổng hợp, chia sẻ thông tin thống kê, phục vụ hiệu quả công tác quản lý, điều hành và đánh giá tình hình phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn. Sau chương trình làm việc tại Hội nghị, Đoàn công tác Thống kê tỉnh đã đến thăm và trao tặng 30 thùng sữa cho Trường Mầm non trên địa bàn xã Yên Thành. Đoàn công tác Thống kê tỉnh trao tặng 30 thùng sữa cho Trường Mầm non, góp phần chăm lo sức khỏe và động viên các cháu thiếu nhi. Những phần quà tuy giản dị nhưng mang ý nghĩa thiết thực, thể hiện sự quan tâm, sẻ chia của cán bộ, công chức, đoàn viên Thống kê tỉnh đối với các cháu thiếu nhi. Qua đó góp phần bổ sung dinh dưỡng, chăm sóc sức khỏe cho trẻ, đồng thời động viên các cháu có thêm niềm vui trong quá trình học tập, vui chơi và rèn luyện tại trường. Hoạt động trao tặng quà cũng thể hiện tinh thần trách nhiệm với cộng đồng, sẻ chia và hướng về cơ sở của tập thể Thống kê tỉnh Tuyên Quang. Đây không chỉ là sự hỗ trợ về vật chất mà còn góp phần lan tỏa thông điệp về sự chung tay của các cơ quan, đơn vị trong chăm lo cho thế hệ tương lai, đặc biệt là trẻ em ở các địa bàn cơ sở. Chuyến công tác ngày 30/9/2026 vì vậy không chỉ góp phần tăng cường sự phối hợp giữa cơ quan thống kê và chính quyền địa phương trong thực hiện nhiệm vụ chuyên môn, mà còn để lại những dấu ấn tốt đẹp thông qua hoạt động an sinh xã hội thiết thực, góp phần xây dựng mối quan hệ gắn bó giữa cơ quan nhà nước với địa phương và Nhân dân. Lê Thùy Chang _Phòng TK DVG
THỐNG KÊ CƠ SỞ BẮC QUANG NẮM TÌNH HÌNH SẢN XUẤT QUA CÁC MÔ HÌNH LÚA HG507 VÀ CÁNH ĐỒNG "5 CÙNG"
- 25/09/2026 15:42
Trong những ngày từ 15 đến 18 tháng 9/2026, Thống kê cơ sở Bắc Quang đã phối hợp với các ngành chuyên môn và UBND các xã Bắc Quang, Bằng Hành trực tiếp thăm đồng, đánh giá năng suất một số mô hình sản xuất lúa vụ mùa năm 2026. Hoạt động không chỉ góp phần đánh giá hiệu quả các mô hình sản xuất nông nghiệp tại địa phương mà còn cung cấp nguồn thông tin thực tế, có kiểm chứng, phục vụ công tác thống kê nông nghiệp trên địa bàn 15 xã phụ trách. Ngày 15/9/2026, tại xã Bắc Quang, Thống kê cơ sở Bắc Quang cùng các ngành chuyên môn và UBND xã tiến hành thăm đồng, gặt điểm, đánh giá năng suất mô hình trồng các giống lúa mới. Trong năm 2026, xã Bắc Quang triển khai các giống lúa HG507, AĐT707 và ĐN20 với tổng diện tích 17,15 ha, có 139 hộ tham gia. Kết quả đánh giá thực tế tại đồng ruộng cho thấy năng suất thực thu giống HG507 đạt 75 tạ/ha, giống AĐT707 đạt 70,5 tạ/ha. Việc trực tiếp đánh giá tại đồng ruộng giúp lãnh đạo chính quyền xã có cơ sở xác định cụ thể năng suất thực tế của từng mô hình, đồng thời tạo điều kiện để Thống kê cơ sở đối chiếu, kiểm chứng và bổ sung thông tin phục vụ tổng hợp số liệu về diện tích, năng suất, sản lượng cây trồng vụ mùa năm 2026.Đoàn công tác tham quan, đánh giá năng suất mô hình lúa HG507, AĐT707 tại xã Bắc Quang, chiều 15/9/2026 Ngày 17/9/2026, Thống kê cơ sở Bắc Quang tiếp tục phối hợp với các ngành chuyên môn và UBND xã Bằng Hành đánh giá năng suất mô hình cánh đồng sản xuất lúa theo hướng “5 cùng” tại thôn Thác Vệ. Mô hình được tổ chức theo phương thức cùng giống, cùng thời vụ, cùng gieo cấy, cùng chăm sóc và cùng thu hoạch. Việc tổ chức sản xuất đồng bộ trên cùng một cánh đồng không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, theo dõi sản xuất mà còn tạo thuận lợi cho việc thu thập, đánh giá các chỉ tiêu về diện tích, năng suất và sản lượng.Đoàn công tác khảo sát mô hình cánh đồng "5 cùng" sản xuất lúa giống Sao Vàng tại thôn Thác Vệ, xã Bằng Hành, chiều 17/9/2026 Dưới góc độ thống kê, đây là phương thức sản xuất có tính đồng nhất cao, giúp việc kiểm tra, đối chiếu và thu thập thông tin thực tế thuận lợi hơn so với phương thức sản xuất phân tán, nhỏ lẻ. Đoàn công tác trực tiếp gặt, cân đối chiếu năng suất lúa thực tế tại mô hình sản xuấtThực tiễn cho thấy, việc trực tiếp tham gia thăm đồng, đánh giá năng suất, dự các hội nghị tổng kết mô hình sản xuất và trao đổi với cán bộ chuyên môn, người dân tại cơ sở giúp Thống kê cơ sở Bắc Quang nắm bắt kịp thời, đầy đủ hơn tình hình sản xuất nông nghiệp. Các thông tin về diện tích, năng suất, sản lượng, số hộ tham gia mô hình được kiểm chứng trực tiếp tại đồng ruộng là nguồn dữ liệu thực tế quan trọng, góp phần đối chiếu và nâng cao chất lượng, độ tin cậy của số liệu thống kê nông nghiệp định kỳ trên địa bàn 15 xã phụ trách. Đặc biệt, thông qua thực tế tại xã Bắc Quang và xã Bằng Hành có thể nhận thấy xu hướng chuyển đổi từ phương thức sản xuất nhỏ lẻ sang tổ chức sản xuất tập trung, đồng bộ, từng bước gắn với doanh nghiệp và hợp tác xã. Đây là những thông tin thực tiễn có ý nghĩa đối với công tác theo dõi, tổng hợp và phân tích tình hình sản xuất nông nghiệp tại địa phương. Đối với công tác thống kê nông nghiệp, việc thu thập và tổng hợp số liệu không chỉ dừng ở khâu tiếp nhận thông tin mà đòi hỏi sự chủ động nắm bắt, kiểm tra, đối chiếu với thực tế sản xuất. Việc Thống kê cơ sở Bắc Quang phối hợp với UBND các xã trực tiếp đánh giá năng suất các mô hình sản xuất lúa là một trong những hoạt động cụ thể nhằm tăng cường sự phối hợp giữa cơ quan thống kê với chính quyền cơ sở; đồng thời góp phần bảo đảm thông tin thống kê phản ánh sát hơn tình hình sản xuất thực tế. Thời gian tới, Thống kê cơ sở Bắc Quang tiếp tục phối hợp chặt chẽ với UBND các xã và các ngành chuyên môn, tăng cường nắm bắt tình hình sản xuất ngay từ cơ sở, kịp thời thu thập, kiểm tra và đối chiếu các thông tin liên quan đến diện tích, năng suất, sản lượng cây trồng. Qua đó, từng bước nâng cao chất lượng thông tin thống kê, phục vụ hiệu quả công tác tổng hợp, phân tích và đánh giá tình hình phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn 15 xã phụ trách.Hoàng Hoài Hưng - Thống kê cơ sở Bắc Quang
Khi mỗi con số là một thước đo niềm tin, nâng cao sức chiến đấu tại Chi bộ 6, Đảng bộ Thống kê tỉnh Tuyên Quang
- 14/09/2026 16:06
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: “Đảng mạnh là do các chi bộ tốt, chi bộ tốt là do các đảng viên đều tốt”. Đối với Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang, năm 2026 mang một ý nghĩa lịch sử đặc biệt khi là năm đầu tiên toàn tỉnh dồn lực đưa Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng và Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ I vào thực tiễn cuộc sống. Giữa bối cảnh đất nước bước vào “kỷ nguyên vươn mình của dân tộc” với những đòi hỏi khắt khe về chuyển đổi số và tinh gọn bộ máy, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng tại các chi bộ cơ quan ngành dọc đang đặt ra những yêu cầu mới. Tại Chi bộ 6 thuộc Đảng uỷ Thống kê tỉnh Tuyên Quang, cuộc chiến chống bệnh hình thức, nâng cao năng lực lãnh đạo không phải là những khẩu hiệu khô khan, mà được cụ thể hóa bằng kỷ cương, bằng đạo đức công vụ và bằng sự tâm huyết bảo vệ dòng chảy huyết mạch của thông tin kinh tế - xã hội. Đổi mới sinh hoạt chi bộ: Con đường quét sạch bệnh "nghị trường hình thức" Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của một tổ chức Đảng không tự nhiên mà có; nó được tôi luyện qua chất lượng của từng kỳ sinh hoạt cấp ủy. Đối với Chi bộ 6 – một tập thể mang tính đặc thù chuyên môn sâu của Thống kê tỉnh Tuyên Quang – nếu sinh hoạt đảng chỉ dừng lại ở việc đọc văn bản rập khuôn, báo cáo tiến độ cơ học thì chi bộ sẽ tự đánh mất đi vai trò hạt nhân chính trị. Nhận thức sâu sắc tinh thần Chỉ thị số 50-CT/TW của Ban Bí thư và Kế hoạch số 36-KH/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Tuyên Quang về đổi mới, nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ trong giai đoạn mới, Chi bộ 6 đã mạnh dạn thực hiện một cuộc cách mạng trong phương thức hội họp. Các buổi sinh hoạt định kỳ giờ đây không còn là những "lối mòn" nhàm chán. Thay vào đó, Chi bộ tập trung thảo luận sâu các sinh hoạt chuyên đề mang tính đột phá và bám sát hơi thở thời đại như: “Đảng viên Chi bộ 6 tiên phong trong ứng dụng trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn vào công tác thống kê”, “Xây dựng chuẩn mực đạo đức người đảng viên ngành Thống kê theo Quy định 144-QĐ/TW” hay “Giải pháp bảo mật thông tin dữ liệu chiến lược của địa phương”. Trong không gian sinh hoạt đổi mới ấy, tinh thần tự phê bình và phê bình theo Kết luận số 21-KL/TW được đẩy lên nấc thang cao nhất. Đảng viên Chi bộ 6 không còn tâm lý e dè, nể nang hay "dĩ hòa vi quý". Họ thẳng thắn nhìn diện, mổ xẻ những "điểm nghẽn" trong quá trình thu thập thông tin cơ sở, những biểu hiện làm việc đại khái, thiếu sâu sát ở một số cuộc điều tra lớn. Chính sự tranh luận thấu lý, đạt tình đã giúp chi bộ tìm ra lời giải cho các bài toán chuyên môn hóc búa, biến mỗi buổi sinh hoạt Đảng thành một bệ phóng tư tưởng và giải pháp cho đơn vị.Theo dõi “Hội nghị nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết 10-NQ/TW của Bộ chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài”. Tinh gọn bộ máy theo tinh thần cách mạng và chuẩn mực Quy định 144 Bước sang năm 2026, toàn hệ thống chính trị thực hiện cuộc cách mạng tinh gọn tổ chức bộ máy, vận hành mô hình quản lý mới hiệu năng và thực chất. Chi bộ 6, Thống kê tỉnh Tuyên Quang đứng trước bài toán: Khối lượng công việc ngày càng lớn, yêu cầu dữ liệu ngày càng phải nhanh và chuẩn xác, trong khi nhân sự được cơ cấu theo hướng tinh gọn tối đa. Làm thế nào để bộ máy chạy tốt mà không bị quá tải hay trì trệ? Câu trả lời nằm ở "chất lượng đảng viên". Cấp ủy Chi bộ 6 đã chủ động rà soát, sắp xếp lại vị trí việc làm, giao quyền đi đôi với quy rõ trách nhiệm cá nhân. Gắn liền với cuộc cách mạng tinh gọn này là việc siết chặt kỷ luật, kỷ cương và rèn luyện đạo đức cách mạng theo Quy định số 144-QĐ/TW. Đối với người cán bộ thống kê của Chi bộ 6, tinh thần "Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư" được đo bằng lòng tự trọng nghề nghiệp và sự trung thực tuyệt đối. Mỗi con số thu thập được từ doanh nghiệp, từ các hợp tác xã hay hộ sản xuất kinh doanh trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang đều là "xương sống" để tỉnh nhà hoạch định chiến lược kinh tế. Nếu đảng viên sa sút đạo đức, lười biếng xuống cơ sở, ngồi phòng lạnh để "tính toán vo" số liệu, thì hậu quả sẽ là những báo cáo sai lệch, làm chệch hướng các chính sách vĩ mô của tỉnh. Do đó, Chi bộ 6 luôn coi việc kiểm tra, giám sát thực địa là giải pháp tối ưu để ngăn chặn tận gốc những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" hay suy thoái đạo đức lối sống trong nội bộ. Trách nhiệm nêu gương của người đảng viên chính là ngọn hải đăng giữ cho dòng chảy dữ liệu luôn sạch, khách quan và minh bạch.Thu thập thông tin tại hộ Phong cách "dân vận khéo" – Thước đo lòng tin giữa lòng quần chúng Một khía cạnh then chốt trong công tác xây dựng Đảng của Chi bộ 6 chính là củng cố mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân. Ngành Thống kê không thể hoạt động hiệu quả nếu biệt lập trong phòng làm việc. Bản chất của nghề là phải đi vào nhân dân, lắng nghe nhân dân và thu thập thông tin từ nhân dân. Thấm nhuần Nghị quyết số 55-NQ/TU của Tỉnh ủy Tuyên Quang về đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác dân vận, Chi bộ 6 đã triển khai mạnh mẽ phong trào “Dân vận khéo” gắn liền với công tác chuyên môn. Khi thực hiện các cuộc tổng điều tra hay các kỳ thu thập chỉ số giá, chỉ số sản xuất, đảng viên của chi bộ luôn đi đầu, không ngại đường xá xa xôi, bám sát các thôn bản, địa bàn khó khăn. Với phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”, cán bộ đảng viên Chi bộ 6 không đến với dân bằng thái độ áp đặt hành chính. Họ dùng sự chân thành, ngôn ngữ giản dị để giải thích cho người dân, chủ doanh nghiệp hiểu rằng: Cung cấp thông tin đúng cho ngành Thống kê chính là giúp Nhà nước xây dựng đường trường, trạm điện, hỗ trợ vốn vay đúng mục tiêu, mang lại lợi ích cho chính cuộc sống của bà con. Sự thấu hiểu và tin tưởng từ nhân dân chính là câu trả lời đanh thép nhất cho năng lực dân vận của một chi bộ Đảng. Khát vọng bứt phá trong kỷ nguyên mới Nhìn lại chặng đường đã qua, những kết quả đạt được của Chi bộ 6, Thống kê tỉnh Tuyên Quang là minh chứng khẳng định: Khi ý Đảng hòa quyện với trách nhiệm nghề nghiệp và lòng tin của nhân dân, không có khó khăn nào không thể vượt qua. Xây dựng, chỉnh đốn Đảng là hành trình không có điểm dừng. Đứng trước những vận hội lớn của tỉnh nhà trong nhiệm kỳ mới, Chi bộ 6 quyết tâm giữ vững tinh thần đoàn kết, không ngừng đổi mới tư duy, kiên quyết dẹp bỏ tư duy lối mòn, đại khái. Mỗi đảng viên của Chi bộ 6 sẽ tiếp tục là một chiến sĩ tiên phong trên mặt trận thông tin kinh tế, rèn đức, luyện tài, quyết tâm xây dựng Chi bộ ngày càng trong sạch, vững mạnh toàn diện, xứng đáng là niềm tin, là điểm tựa vững chắc góp phần đưa quê hương cách mạng Tuyên Quang cất cánh.Trương Hoài Anh - Thống kê cơ sở Vị Xuyên