Tình hình kinh tế - xã hội tháng 10 năm 2025 tỉnh Tuyên Quang
I. PHÁT TRIỂN KINH TẾ
Tháng 10 năm 2025, tình hình trong nước và thế giới tiếp tục biến động phức tạp, nhiều khó khăn, thách thức lớn. Cạnh tranh chiến lược, chính sách thương mại, thuế đối ứng của Hoa Kỳ thay đổi rất khó lường, tình trạng xung đột, bất ổn kéo dài đã ảnh hưởng nhiều đến môi trường đầu tư, kinh doanh và tốc độ tăng trưởng. Thị trường tài chính, tiền tệ biến động, tiềm ẩn nhiều rủi ro;... Trong bối cảnh thuận lợi, khó khăn và thách thức đan xen, song khó khăn, thách thức vẫn là chủ yếu, đặc biệt trước những yếu tố bất lợi gia tăng từ bên ngoài. Trên địa bàn tỉnh, liên tiếp chịu ảnh hưởng của hai cơn bão lớn, nhất là hoàn lưu bão số 10 với phạm vi ảnh hưởng rộng, thời gian lưu bão dài, kèm theo mưa lớn đã gây thiệt hại nặng nề về người và tài sản. Tuy nhiên, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo sát sao của Tỉnh ủy và Ủy ban nhân dân tỉnh, các sở, ban, ngành và địa phương đã chủ động theo dõi, nắm chắc tình hình, kịp thời triển khai đồng bộ, hiệu quả các biện pháp ứng phó, từng bước khắc phục hậu quả, sớm ổn định đời sống và sinh hoạt của nhân dân, tập trung nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội. Kết quả đạt được cụ thể ở các ngành, lĩnh vực như sau:
1. Về sản xuất nông nghiệp (tính đến ngày 20/10/2025)
1.1. Trồng trọt
1.1.1. Sản xuất vụ mùa năm 2025
Vụ mùa là vụ sản xuất lúa quan trọng trong năm. Vì vậy, ngay từ đầu vụ, ngành chức năng và chính quyền các cấp đã tập trung chỉ đạo sản xuất, đảm bảo theo kế hoạch đã đề ra. Tuy nhiên, sản xuất vụ mùa thường gặp điều kiện thời tiết, khí hậu diễn biến khó lường, tình hình sâu bệnh phức tạp; bà con nông dân đã tích cực vượt mọi khó khăn, sản xuất đúng tiến độ, quyết tâm vụ mùa đạt nhiều kết quả tốt.
- Cây lúa: Toàn tỉnh đã thu hoạch 44.506 ha, đạt 85,10% so với diện tích lúa đã cấy, tăng 7,72% so với cùng kỳ.
- Cây Ngô: Diện tích thu hoạch 13.340 ha, đạt 34,40% so với diện tích đã trồng.
- Cây đậu tương: Diện tích thu hoạch 142 ha, đạt 1,8% so với diện tích đã trồng.
- Cây lạc: Diện tích thu hoạch 1.003 ha, đạt 20,6% so với diện tích đã trồng.
1.1.2. Về sản xuất vụ đông
Cùng với việc đẩy nhanh tiến độ thu hoạch lúa mùa, tỉnh đã chỉ đạo ngành chức năng và các địa phương tập trung tổ chức thực hiện phương án sản xuất vụ đông năm 2025-2026. Các địa phương căn cứ vào các điều kiện cụ thể, chủ động xây dựng khung lịch thời vụ và phương án sản xuất vụ đông phù hợp với tình hình thực tế; khuyến khích nông dân duy trì, mở rộng diện tích gieo trồng hàng năm, đưa các loại cây trồng có giá trị kinh tế cao, được thị trường ưa chuộng vào sản xuất, như: Khoai tây, ngô ngọt, ớt, cà chua, rau đậu các loại,…góp phần nâng cao năng suất và sản lượng lương thực của địa phương, phấn đấu đạt sản xuất vụ đông đạt thắng lợi.

Tiến độ đến ngày 20/10/2025 các địa phương trong tỉnh bà con nông dân đã gieo trồng được một số cây trồng vụ đông trên đất ruộng 2 vụ, kết quả như sau:
- Cây ngô đã trồng được 4.524 ha, đạt 65,20% kế hoạch, giảm 40,97% so với cùng kỳ năm 2024.
- Cây khoai lang trồng được 399 ha, đạt 51,50% kế hoạch; giảm 44,14%.
- Diện tích gieo trồng cây rau các loại đạt 1.823 ha, đạt 16,5% kế hoạch, giảm 57,04%.
1.2. Tình hình sinh vật gây hại
a. Cây hàng năm: Cây lúa (ngậm sữa - vào chắc): Rầy nâu, rầy lưng trắng, bọ xít gây hại rải rác; Cây ngô, cây lạc, đậu tương: Sâu đục thân, sâu cuốn lá, sâu khoang gây hại rải rác; Cây mía (đẻ nhánh) Bọ trĩ gây hại rải rác, tỷ lệ hại 2-4 %; Bọ hung gây hại rải rác tại một số ruộng đất soi bãi, mật độ nơi cao 1-2 con/hố;
b. Cây lâu năm: Cây chè (ra búp): Rầy xanh, bọ trĩ, bọ xít gây hại, tỷ lệ hại trung bình 2-3%, nơi cao 3-5% số búp; Cây có múi; Nhện trắng, rám vàng gây hại rải rác, tỷ lệ hại nơi cao 3-5% số lá; Cây nhãn, vải (hoa – quả non); Bọ xít nâu gây hại, mật độ trung bình 1-2 con/cành, nơi cao 3-5 con/cành, non-trưởng thành; Bệnh chổi rồng, bệnh sương mai, nhện lông nhung gây hại rải rác, tỷ lệ hại nơi cao 3-5 % số cành.
c. Cây lâm nghiệp (vườn ươm-1-5 tuổi): Sâu ăn lá gây hại rải rác, tỷ lệ hại nơi cao 1-2% số lá (sâu non); Bệnh chết héo gây hại rải rác trên cây keo 1-3 tuổi, nơi cao 3-5% số cây; Bệnh thán thư, bệnh vàng lá, khô cành, khô ngọn gây hại rải rác trên cây bạch đàn tuổi 1-2, tỷ lệ hại nơi cao 2-4 % số cây.
Trước tình hình sinh vật gây hại cây trồng nêu trên. Chi cục bảo vệ thực vật đã chỉ đạo các trạm bảo vệ thực vật các xã, phường phối hợp với Phòng Nông nghiệp, Trạm Khuyến nông, chính quyền địa phương chỉ đạo, hướng dẫn bà con nông dân thực hiện việc gieo cấy đúng thời vụ, chăm sóc cây trồng; thường xuyên kiểm tra đồng ruộng, phát hiện sâu bệnh hại cây trồng, kịp thời hướng dẫn cách phòng trừ, giảm thiệt hại do sâu bệnh gây ra.
1.3. Về chăn nuôi
Đàn trâu 222.348 con, giảm 2,04 % (giảm 4.636 con) so với cùng kỳ năm 2024; đàn bò 174.720 con, tăng 3,52% (tăng 5.947 con); đàn lợn 1.129.534 con, giảm 2,92% (giảm 33.961 con); đàn gia cầm 13.519,05 nghìn con, tăng 3,30% (tăng 432,19 nghìn con).

Đánh giá chung tình hình chăn nuôi
+ Đàn trâu giảm do chăn nuôi trâu hiện nay hiệu quả kinh tế thấp; diện tích chăn thả bị thu hẹp; diệt tích đất trồng cỏ rất ít, phần lớn đều tận dụng những rẻo đất nhỏ nên năng suất, chất lượng cỏ kém, hơn nữa thiếu lao động chăn dắt dẫn đến bà con giảm tổng đàn.
+ Đàn bò tăng so với cùng kỳ năm 2024 là do: Từ cuối năm 2024, các huyện đã đẩy mạnh công tác giải ngân đối với các chương trình mục tiêu quốc gia hỗ trợ phát triển đàn bò.
+ Đàn lợn giảm nhẹ so với cùng kỳ năm 2024 là do trên địa bàn tỉnh đã xảy ra bệnh dịch tả lợn Châu Phi nên đã làm ảnh hưởng chung đến tổng đàn lợn.
+ Chăn nuôi gia cầm luôn được quan tâm và phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về tiêu dùng thực phẩm trong nước; trên địa bàn tỉnh đã xuất hiện nhiều mô hình chăn nuôi tiên tiến, theo hướng liên kết hiệu quả kinh tế cao.
1.4. Về công tác phòng chống dịch bệnh gia súc, gia cầm trong tháng
1.4.1. Công tác phòng chống và điều trị
Trong tháng Chi cục thú y luôn chủ động phối hợp với các xã theo dõi chặt chẽ tình hình dịch bệnh gia súc, gia cầm, thuỷ sản trên địa bàn tỉnh, đặc biệt các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm như bệnh Dịch tả lợn Châu phi. Triển khai thực hiện đồng bộ các giải pháp phòng, chống dịch bệnh động vật.
Trong tháng 10 số mẫu đã lấy: 06 mẫu. Luỹ kế đến ngày 13/10/2025 tổng số mẫu đã lấy 313 mẫu; kết quả 31 mẫu (-) âm tính và 282 mẫu (+) dương tính với Dịch tả lợn Châu Phi, DTLCP phát sinh tại 4.928 hộ, 139 thôn, 01 xã mới, số lợn tiêu hủy là 40.322 con/1.828.419 kg. Luỹ kế từ ngày 05/7/2025 đến ngày 13/10/2025, toàn tỉnh ghi nhận 181.788 con lợn mắc bệnh buộc tiêu hủy tại 19.694 hộ/1.936 thôn/117 xã; Tổng khối lượng 9.015.249 kg. Đến ngày 13/10/2025 đã có 22 xã qua 21 ngày không phát sinh ca mắc bệnh mới, 11 xã đã công bố hết dịch.
1.4.2. Công tác kiểm dịch vận chuyển động vật, sản phẩm động vật
Tiếp tục thực hiện chặt chẽ đúng quy định công tác kiểm dịch vận chuyển ngoài tỉnh, kết quả: Đã kiểm tra cấp 400 giấy chứng nhận kiểm dịch vận chuyển, trong đó: 239 chuyến vận chuyển 46.044 con gia súc, gia cầm, 161 chuyến vận chuyển 3.042.500 kg sữa tươi nguyên liệu. Lũy kế từ đầu năm đến nay đã cấp 3.411 giấy chứng nhận kiểm dịch vận chuyển, trong đó: 1.752 chuyến vận chuyển 249.580 con gia súc, gia cầm và 5.760 con cá giống; 1.652 chuyến vận chuyển 31.247.000 kg sữa tươi nguyên liệu và 16.040 kg sản phẩm động vật chế biến làm thức ăn chăn nuôi, các lô hàng được vận chuyển đi các tỉnh: Bắc Ninh, Hà Nội, Hà Nam, Hà Giang, Nam Định...
1.5. Về sản xuất lâm nghiệp
1.5.1. Công tác trồng rừng
Ước tháng 10 tổng diện tích rừng trồng tập trung toàn tỉnh đã trồng được 243 ha, giảm 31,69% so với cùng kỳ năm 2024; lũy kế 10 tháng đã trồng được 14.425,10 ha.

1.5.2. Khai thác gỗ rừng trồng
Ước tháng 10 toàn tỉnh khai thác được 74.908 m3 gỗ, giảm 22,33% so với cùng kỳ năm 2024. Cộng dồn 10 tháng toàn tỉnh đã khai thác được trên 1.167.204,50 m3. Sản lượng khai thác là gỗ rừng trồng nguyên liệu.
1.5.3. Công tác quản lý bảo vệ rừng
Công tác quản lý, bảo vệ rừng được các cấp, các ngành quan tâm, đồng thời tuyên truyền, vận động nhân dân tích cực tham gia thực hiện kế hoạch trồng rừng năm 2025; tuyên truyền, phổ biến giáo dục cho người dân nâng cao nhận thức về các chính sách quản lý bảo vệ và phát triển rừng; tăng cường kiểm tra, ngăn chặn việc phá rừng, đốt rừng, triệt phá các đường dây buôn bán, vận chuyển lâm sản trái phép. Thường xuyên cảnh báo nguy cơ cháy rừng, đẩy mạnh tuyên truyền về công tác phòng cháy chữa cháy rừng; phối hợp chặt chẽ với cơ quan chức năng và chính quyền cơ sở, các chủ rừng tăng cường kiểm tra, kiểm soát, phát hiện kịp thời, xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật các hành vi xâm hại rừng.
Theo báo cáo của Chi cục Kiểm lâm tỉnh, trong tháng mưa nhiều nên không phát sinh vụ cháy rừng. Lũy kế 10 tháng xảy ra 27 vụ (tăng 125% về số vụ), diện tích thiệt hại là 64,72 ha (tăng 115,24% về diện tích); Trong tháng đã xảy ra 01 vụ chặt phá rừng, diện tích rừng bị phá 0,1 ha. Đã xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng, đã kiểm tra, phát hiện và xử lý 16 vụ, tịch thu 11,69 m3 gỗ các loại; phạt hành chính và bán thanh lý tài sản 78,7 triệu đồng, đã thu nộp ngân sách 78,7 triệu.
3. Sản xuất công nghiệp
3.1. Chỉ số phát triển công nghiệp

- Chỉ số sản xuất công nghiệp IIP trong tháng ước tính giảm 6,41% so với tháng trước, tăng 7% so với cùng kỳ, cụ thể của các ngành như sau: Ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí giảm 15,41%, tăng 15,82%; cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,15%, tăng 4,6%; khai khoáng giảm 12,79%, giảm 21,38%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 1,40%, tăng 2,90%.
Một số ngành công nghiệp cấp II trong tháng có chỉ số sản xuất tăng so với cùng kỳ năm trước như: Dệt tăng 45%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 23,32%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 23,97%;...
Tính chung trong 10 tháng, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 6,92% so với cùng kỳ năm trước, Chia theo từng ngành kinh tế cấp I như sau:
+ Ngành khai khoáng giảm 1,45%, nguyên nhân do một số công ty khai thác quặng kim loại gặp khó khăn do quặng đầu vào xấu, giá thành sản xuất cao trong khi giá bán không đổi, làm cho sản lượng khai thác giảm so với cùng kỳ.
+ Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 8,18%, do một số ngành chế biến tăng như: Dệt tăng 62,72%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 17,87%; in, sao chép bản ghi tăng 9,12%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 69,82%;...
+ Ngành sản xuất và phân phối điện tăng 5,56% nguyên nhân là do lượng mưa từ đầu năm đến nay nhiều hơn so với cùng kỳ, các nhà máy thủy điện trên địa bàn tỉnh đã tích nước tận dụng được tối đa nguồn tài nguyên nước để sản xuất điện.
+ Ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải giảm 1,04%, do hoạt động thu gom, xử lý và tiêu hủy rác thải giảm.
3.2. Sản phẩm công nghiệp chủ yếu
Tháng 10 năm 2025, một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng khá so với cùng kỳ năm trước: Cát tự nhiên đạt 17.428 m3, tăng 1,85%; ván ép từ gỗ và các vật liệu tương tự đạt 8.740 m3, tăng 68,75%; điện sản xuất đạt 654 triệu KWh, tăng 15,72%;... Tuy nhiên, cũng có một số sản phẩm giảm như bột barit ước đạt 728 tấn, giảm 58,62%; giày, dép thể thao có mũ bằng da ước đạt 500 nghìn đôi, giảm 20,70%; áo sơ mi cho người lớn dệt kim hoặc đan móc đạt 140 nghìn cái, giảm 36,36%;…

- Tính chung trong 10 tháng đầu năm 2025, một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng khá so với cùng kỳ năm trước: Bột Felspat tăng 15,40%; ván ép từ gỗ tăng 39,84%;...Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu giảm so với cùng kỳ năm trước như: Đá xây dựng giảm 14,44%; bột Barit giảm 53,25%; chè (trà) nguyên chất giảm 6,53%;…
Đánh giá chung, Các doanh nghiệp tiếp tục ổn định và phát triển sản xuất, tỉnh tiếp tục tư vấn, hỗ trợ các công ty, tập đoàn tìm hiểu, khảo sát môi trường đầu tư, kinh doanh để triển khai thực hiện dự án. Tổ chức các hội nghị gặp gỡ, tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh. Chỉ đạo triển khai phương án sắp xếp, tổ chức lại doanh nghiệp nhà nước và cơ cấu tổ chức bên trong các doanh nghiệp thuộc thẩm quyền quản lý, bảo đảm phù hợp với tình hình mới và yêu cầu nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
4. Vốn đầu tư, xây dựng
4.1. Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý
Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước thực hiện tháng 10 ước đạt 1.052,4 tỷ đồng, tăng 17,13% so với tháng trước. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 753 tỷ đồng, tăng 8,52%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã đạt 299,4 tỷ đồng, tăng 46,34%.

Tính chung trong 10 tháng, nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 7.894,7 tỷ đồng, giảm 1,86% so với cùng kỳ. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 5.988,8 tỷ đồng, tăng 1,56%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã đạt 1.905,6 tỷ đồng, giảm 11,24%.
4.2. Hoạt động xây dựng
Tập trung, quyết liệt các biện pháp đẩy nhanh tiến độ thi công, giải ngân theo Công điện số 169/CĐ-TTg ngày 21/9/2025 của Thủ tướng Chính phủ; Công điện số 162/CĐ-TTg ngày 11/9/2025 của Thủ tướng Chính phủ; tiếp tục tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong thực hiện các dự án đầu tư, nhất là các dự án trọng điểm của tỉnh như: Cao tốc Tuyên Quang - Hà Giang (giai đoạn 1); đường từ Khu du lịch suối khoáng Mỹ Lâm đến Quốc lộ 2D kết nối với đường cao tốc Tuyên Quang - Phú Thọ; Dự án đầu tư xây dựng đường từ thị trấn Sơn Dương đi Tân Trào; đường Minh Ngọc - Mậu Duệ (ĐT.176B); đường Yên Bình - Cốc Pài (ĐT 178); Bệnh viện Đa khoa tỉnh tại địa điểm mới và các dự án quan trọng khác.
Giải ngân vốn đầu tư công từ đầu năm đến ngày 15/10/2025 đạt 5.028,34 tỷ đồng/17.334,22 tỷ đồng, đạt 29% kế hoạch; trong đó: vốn kế hoạch năm 2024 kéo dài sang năm 2025: 777,16 đạt 44,7% kế hoạch; vốn kế hoạch năm 2025: 4.251,17 tỷ đồng đạt 28,1% kế hoạch. Tổ chức thẩm tra quyết toán 222/335 công trình/dự án hoàn thành theo tiến độ nộp hồ sơ quyết toán của chủ đầu tư.
5. Thương mại và Dịch vụ
Tổ chức thành công Hội nghị Xúc tiến Thương mại, kết nối giao thương, hỗ trợ tiêu thụ các sản phẩm hàng hóa của tỉnh Tuyên Quang năm 2025; Hội nghị Khuyến công các tỉnh, thành phố khu vực phí Bắc lần thứ XIX năm 2025.

5.1. Doanh thu bán lẻ hàng hóa
Doanh thu bán lẻ hàng hóa tháng 10 ước đạt 4.429 tỷ đồng, tăng 0,92% so với tháng trước, tăng 6% so với cùng kỳ. Trong đó, một số nhóm hàng tăng so tháng trước, tăng so cùng kỳ cụ thể như sau: Nhóm hàng may mặc đạt 344 tỷ đồng, tăng 3,38%, tăng 21,15%; phương tiện đi lại đạt 194 tỷ đồng, tăng 4,38%, tăng 17,27%…Ở chiều ngược lại, nhóm lương thực, thực phẩm đạt 1.384 tỷ đồng, giảm 0,59%, giảm 2,89%;…Tính chung trong 10 tháng, tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 41.569 tỷ đồng, tăng 11,86% so với cùng kỳ.
5.2. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ khác
Trong tháng, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, lữ hành ước đạt 518 tỷ đồng, giảm 11,22% so với tháng trước, tăng 12,26% so với cùng kỳ. Trong đó: Dịch vụ lưu trú đạt 49 tỷ đồng, giảm 15,02%, tăng 13,20%; ăn uống đạt 465 tỷ đồng, giảm 10,84%, tăng 11,96%; du lịch lữ hành đạt 4 tỷ đồng, giảm 5,84%, tăng 46,70%. Tính chung trong 10 tháng, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, lữ hành ước đạt 5.279 tỷ đồng, tăng 15,83% so với cùng kỳ.
Doanh thu dịch vụ tiêu dùng khác trong tháng ước đạt 214 tỷ đồng, giảm 2,23% so với tháng trước, tăng 13,29% so với cùng kỳ.
5.3. Giá cả
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 10/2025 tăng 0,36% so với tháng trước, tăng 2,69% so với tháng 12 năm trước, tăng 2,81% so với cùng kỳ, tăng 15,65% so với kỳ gốc 2019. Chỉ số giá bình quân 10 tháng đầu năm 2025 tăng 2,52% so với cùng kỳ.

Chỉ số giá tiêu dùng tháng 10/2025 tăng nhẹ so với tháng trước, trong 11 nhóm hàng hóa có 07 nhóm hàng hóa có chỉ số tăng, 03 nhóm có chỉ số giảm, nhóm bưu chính viễn thông giữ nguyên, cụ thể như sau: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,63% nguyên nhân chủ yếu là do giá thịt lợn tăng nhẹ sau dịch; nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 1,73%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,02%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,04%; nhóm giáo dục tăng 0,01%; nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,03%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,5% nguyên nhân chủ yếu là do giá trang sức tăng theo giá vàng.
03 nhóm hàng giảm giá gồm: Nhóm đồ uống và thuốc lá giảm 0,01%; nhóm may mặc, mũ nón và giày dép giảm 0,07%; nhóm giao thông giảm 0,99%.
Chỉ số giá bình quân 10 tháng năm 2025 tăng 2,52% so với cùng kỳ năm trước, trong đó 7/11 nhóm hàng có chỉ số tăng: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 3,84%; đồ uống, thuốc lá tăng 1,86%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 1,14%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 9,38%; thiết bị, đồ dùng gia đình tăng 0,21%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 10,40%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 3,39%. Có 4/11 nhóm hàng chỉ số giá giảm so với cùng kỳ như giao thông giảm 3,72%; bưu chính viễn thông giảm 0,39%; giáo dục giảm 13,29%; văn hóa, giải trí và du lịch giảm 1,11%.
Chỉ số giá vàng so với tháng trước tăng 21,51%; so với tháng 12 năm trước tăng 70,98%; so với cùng kỳ tăng 71,25%; so với kỳ gốc 2019 tăng 268,54%; bình quân 10 tháng đầu năm 2025 chỉ số giá vàng tăng 44,70%.
Chỉ số giá đô la Mỹ giảm 0,25% so với tháng trước, tăng 3,04% so với tháng 12 năm trước; tăng 4,65% so với cùng kỳ; tăng 12,74% so với kỳ gốc năm 2019; bình quân 10 tháng đầu năm 2025 chỉ số giá đô la Mỹ tăng 3,77%.
5.4. Tình hình xuất, nhập khẩu hàng hóa
Thường xuyên nắm bắt tình hình, kịp thời hỗ trợ doanh nghiệp tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy sản xuất và xuất khẩu trong bối cảnh thị trường thế giới biến động. Hoạt động xuất - nhập khẩu diễn ra thuận lợi, bảo đảm an ninh trật tự và tạo điều kiện giao thương tại cửa khẩu quốc tế Thanh Thủy - đầu mối quan trọng với tỉnh Vân Nam (Trung Quốc); lượng phương tiện và hàng hóa thông quan tăng mạnh.

Tổng kim ngạch xuất hàng hóa trong tháng 10 ước đạt 36 triệu USD, đạt 6,7% kế hoạch, tăng 20% so với cùng kỳ. Tổng kim ngạch nhập khẩu ước đạt 16 triệu USD, đạt 7% kế hoạch, tăng 6,67% so cùng kỳ, trong đó chủ yếu là nhập máy móc, thiết bị, phụ tùng và nguyên liệu may mặc.
Tính chung trong 10 tháng đầu năm 2025, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 605 triệu USD, đạt 112% kế hoạch, tăng 90,1% so với cùng kỳ. Kim ngạch nhập khẩu ước đạt 169 triệu USD, đạt 73,7% kế hoạch, tăng 51,80%.
6. Vận tải hàng hóa và hành khách
Chỉ đạo các đơn vị vận tải, bến xe, doanh nghiệp, hợp tác xã bảo đảm an toàn, lưu thông hàng hóa, phục vụ nhu cầu đi lại của nhân dân, bảo đảm an toàn trong cung ứng dịch vụ bưu chính, thông tin liên lạc; đồng thời phát triển các loại hình dịch vụ, góp phần vào tăng trưởng kinh tế của tỉnh.
6.1. Doanh thu vận tải tải kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải
Doanh thu vận tải trong tháng ước đạt 456,75 tỷ đồng, giảm 8,18% so với tháng trước, giảm 5,95% so với cùng kỳ. Trong đó, vận tải hành khách đạt 89,96 tỷ đồng, giảm 9,70%, giảm 7,13%; vận tải hàng hóa đạt 365,02 tỷ đồng, giảm 7,76%, giảm 5,65%; doanh thu dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 1,2 tỷ đồng, giảm 19,01%, giảm 1,40%; hoạt động bưu chính, chuyển phát đạt 0,58 tỷ đồng, giảm 4,75%, giảm 15,22%.

Tính chung trong 10 tháng đầu năm 2025, doanh thu vận tải kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 5.129,7 tỷ đồng, tăng 15,90% so với cùng kỳ. Trong đó: vận tải hành khách đạt 1.055,74 tỷ đồng, tăng 17,20%; vận tải hàng hóa đạt 4.051,20 tỷ đồng, tăng 15,57%; dịch vụ hỗ trợ vận tải kho bãi đạt 16,40 tỷ đồng, tăng 16,30%; bưu chính, chuyển phát đạt 6,37 tỷ đồng, tăng 10,35%.
6.2. Vận tải hành khách và hàng hóa
Trong tháng khối lượng hành khách vận chuyển ước đạt 1,37 triệu lượt hành khách, giảm 9,32% so với tháng trước, giảm 4,25% so với cùng kỳ; khối lượng hành khách luân chuyển ước đạt 143,08 triệu lượt hành khách.km, giảm 7,69%, giảm 6,34%. Tính chung 10 tháng đầu năm 2025, khối lượng hành khách vận chuyển ước đạt 15,75 triệu lượt hành khách, tăng 16,34% so với cùng kỳ; khối lượng hành khách luân chuyển ước đạt 1.659,60 triệu lượt hành khách.km, tăng 14,36%.
Khối lượng hàng hóa vận chuyển trong tháng ước đạt 2,34 triệu tấn, giảm 7% so với tháng trước, giảm 5,35% so với cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 142,92 triệu tấn.km, giảm 7,66%, giảm 7,37%. Tính chung 10 tháng đầu năm 2025, khối lượng hàng hóa vận chuyển ước đạt 26,79 triệu tấn, tăng 15,98% so với cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 1.656,17 triệu tấn.km, tăng 14,51%.
7. Về du lịch
Thành lập Ban chỉ đạo phát triển du lịch và Công viên địa chất toàn cầu Cao nguyên đá Đồng Văn; ban hành Kế hoạch Truyền thông quảng bá thương hiệu du lịch quý IV năm 2025 và năm 2026; triển khai Kế hoạch thực hiện Quyết định số 1687/QĐ-TTg ngày 30/12/2024 của Thủ tướng Chính phủ về Phê duyệt Chương trình “Xây dựng mô hình thư viện cơ sở phục vụ Nhân dân miền núi, biên giới vùng trung du và miền núi phía Bắc giai đoạn 2025 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045” trên địa bàn tỉnh; tham dự Lễ vinh danh của Tổ chức du lịch thế giới (World Travel Awards) tại Hồng Kông nhận cúp chiến thắng tại hạng mục: Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Cao nguyên đá Đồng Văn, Tuyên Quang, Việt Nam - Điểm đến văn hóa khu vực hàng đầu châu Á năm 2025”; tham dự nhận giải thưởng Làng Du lịch Tốt nhất của UN Tourism tại Hồ Châu, tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc.
Trong tháng 10 năm 2025, toàn tỉnh đón 260.873 lượt khách du lịch, tổng chi tiêu khách du lịch đạt 710,6 tỷ đồng; lũy kế 10 tháng đón 3.240.621 lượt khách du lịch đạt 90,1% kế hoạch, tổng chi tiêu khách du lịch đạt 8.736,9 tỷ đồng, bằng 93% kế hoạch.
II. LĨNH VỰC VĂN HÓA - XÃ HỘI
1. Công tác lao động, việc làm, giáo dục nghề nghiệp
Tiếp tục thực hiện các giải pháp hỗ trợ, tạo việc làm cho người lao động; hướng dẫn, thực hiện cấp giấy phép lao động cho người nước ngoài; tháng 10 năm 2025 tạo việc làm cho 5.799 lao động, lũy kế 10 tháng tạo việc làm cho 39.627 lao động, đạt 80,8% kế hoạch.
2. Công tác đảm bảo chế độ người có công với cách mạng, bảo trợ, an sinh xã hội và phòng chống các tệ nạn
2.1. Công tác đối với người có công với cách mạng
Tiếp tục triển khai, thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững năm 2025; triển khai Kế hoạch rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ làm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp có mức sống trung bình cuối năm 2025. Thực hiện tốt công tác chăm lo đời sống cho các đối tượng chính sách; duy trì trả trợ cấp thường xuyên cho 9.000 đối tượng người có công, thân nhân người có công và đối tượng chính sách khác đang hưởng trợ cấp hàng tháng trên địa bàn tỉnh.
2.2. Công tác bảo trợ, an sinh xã hội và phòng chống các tệ nạn
Thực hiện các giải pháp phát triển đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội, đến tháng 10 năm 2025 tỷ lệ lao động tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện đạt 4,20% (kế hoạch năm là 4,47%); tỷ lệ lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp đạt 27,33% (kế hoạch năm là 27,43%). Thực hiện các chính sách, chương trình thúc đẩy bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ; công tác tiếp nhận, quản lý, điều trị, cai nghiện cho người nghiện ma túy tại cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh.
Trong tháng 2 Cơ sở cai nghiện tỉnh ( Tuyên Quang cũ và Hà Giang cũ) đã tiếp nhận 19 học viên, cấp giấy chứng nhận hoàn thành cai nghiện cho 27 học viên; tại thời điểm báo cáo, 2 cơ sở cai nghiện đang quản lý 243 học viên (cai nghiện bắt buộc 238 học viên, cai nghiện tự nguyện 05 học viên).
3. Hoạt động giáo dục và đào tạo
Triển khai công tác đầu tư xây dựng 05 trường phổ thông nội trú liên cấp tiểu học và trung học cơ sở cho các xã biên giới trên địa bàn tỉnh. Công tác xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia tiếp tục được quan tâm, tỉ lệ trường đạt chuẩn quốc gia toàn tỉnh đạt 64,7% (mầm non đạt 64,4%; tiểu học đạt 74,2%; THCS đạt 61,5%; THPT đạt 45,3%). Tiếp tục củng cố, ổn định mạng lưới giáo dục nghề nghiệp; toàn tỉnh có 08 cơ sở giáo dục nghề nghiệp, trong đó có 03 cơ sở giáo dục nghề nghiệp được đầu tư đào tạo 15 ngành, nghề trọng điểm.
4. Hoạt động y tế
Trong tháng 10 tổ chức khám, chữa bệnh cho 247.352 lượt người; lũy kế 10 tháng khám, chữa bệnh 2.105.857 lượt người. Thực hiện tốt việc cung cấp vắc xin, dụng cụ và đảm bảo chất lượng, an toàn tiêm chủng; tỷ lệ trẻ em dưới 01 tuổi được tiêm đủ các loại vắc xin đạt 74,8% kế hoạch. Tỷ lệ người dân có thẻ bảo hiểm y tế đạt 95,9%. Duy trì công tác tuyên truyền vận động kế hoạch hóa gia đình, lồng ghép với thực hiện dịch vụ sức khỏe sinh sản tại cộng đồng.
5. Hoạt động văn hoá - thể dục, thể thao
Tổ chức thành công các hoạt động, sự kiện văn hóa, chiếu phim, nghệ thuật chào mừng sự kiện chính trị quan trọng của tỉnh; tổ chức tuyên truyền Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030 và tiến tới Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng;... xây dựng Đề án phát triển du lịch tỉnh Tuyên Quang đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2045; kế hoạch tổ chức Lễ hội hoa Tam giác mạch tỉnh Tuyên Quang lần thứ XI và đón nhận các giải thưởng du lịch năm 2025.Tổ chức chiếu phim, biểu diễn nghệ thuật chuyên nghiệp phục vụ nhiệm vụ chính trị. Tiếp tục thực hiện dự án Bảo tồn, tôn tạo Khu di tích lịch sử quốc gia đặc biệt Tân Trào, dự án Bảo tồn, tôn tạo Khu di tích Ban Thường trực Quốc hội, xã Trung Yên, huyện Sơn Dương; dự án Bảo tồn Làng văn hóa truyền thống dân tộc Tày, thôn Bản Bung, xã Thanh Tương, huyện Na Hang... Tham gia giải Cầu lông Trung, cao tuổi toàn quốc năm 2025; Giải Vô địch trẻ Vật dân tộc quốc gia năm 2025; Giải Vô địch Bắn nỏ quốc gia lần thứ VIII, năm 2025.
6. Tình hình an toàn giao thông, thiên tai và phòng chống cháy, nổ
6.1. Về an toàn giao thông trong tháng
Toàn tỉnh đã xảy ra 17 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 13 người và làm bị thương 11 người. So với tháng trước 03 tiêu chí đều giữ nguyên.

Tính chung 10 tháng đầu năm 2025, toàn tỉnh đã xảy ra 160 vụ tai nạn giao thông; làm chết 99 người và làm bị thương 99 người. So với cùng kỳ năm trước: Số vụ tai nạn giao thông giảm 22,71%; số người chết giảm 10,81%; số người bị thương giảm 33,56%.
6.2. Về thiên tai, cháy, nổ

Trong tháng 10 năm 2025, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 03 đợt thiên tai bao gồm mưa lớn kéo dài, sạt lở đất, lũ quét và ngập úng trên diện rộng làm ảnh hưởng đến tình hình sản xuất và đời sống của nhân dân, cụ thể như sau:
Thiệt hại về nhà ở: 28.376 nhà bị ngập nước và ảnh hưởng do sạt lở.
Thiệt hại về nông nghiệp và công trình giao thông: Diện tích lúa bị thiệt hại 6.550,6 ha; diện tích hoa mầu bị thiệt hại 2.807,4 ha; gia súc bị chết, cuốn trôi 1.224 con; gia cầm bị chết, cuốn trôi 56.083 con. Chiều dài đường bị sạt lở, hư hỏng 138.951 m.
Thiệt hại về thuỷ lợi: Kênh mương bị sạt, trôi, hư hỏng 22.083m; Cống, bọng bị hư hỏng 97 cái…
Ước tính giá trị thiệt hại 5.000.000 triệu đồng.
Trong tháng, trên địa bàn tỉnh không ghi nhận tình hình cháy, nổ.
THỐNG KÊ TỈNH TUYÊN QUANG
Tin khác