NHỮNG DẤU MỐC TRONG LỊCH SỬ 80 NĂM HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NGÀNH THỐNG KÊ VIỆT NAM
Trải qua 80 năm xây dựng và phát triển gắn liền với lịch sử dân tộc, ngành Thống kê Việt Nam đã thiết lập được hệ thống tổ chức chặt chẽ từ Trung ương đến địa phương, cung cấp nguồn thông tin chính thống phục vụ công tác lãnh đạo, quản lý và điều hành kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước.

1. Giai đoạn 1946 - 1960
Ngày 06/5/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 61/SL về việc tổ chức Bộ quốc dân kinh tế do Chủ tịch Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà ban hành, trong đó Nha Thống kê Việt Nam thuộc Bộ Quốc dân Kinh tế. Đây là mốc thời gian đánh dấu sự ra đời của ngành Thống kê. Nhiệm vụ trọng tâm thời kỳ này là thu thập số liệu về dân số, kinh tế, văn hóa và xuất bản các ấn phẩm thống kê.
Về tổ chức, Nha Thống kê ban đầu gồm 03 phòng: Phòng nhất coi về nhân viên, kế toán, vật liệu, lưu trữ công văn, xuất bản các sách báo; Phòng nhì, thống kê dân số, văn hoá, chính trị; Phòng ba, thống kê kinh tế, tài chính; Do yêu cầu nhiệm vụ, Nha Thống kê đã có những lần thay đổi cơ quan chủ quản: Ngày 25 tháng 4 năm 1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 33/SL sát nhập Nha Thống kê Việt Nam vào Phủ Chủ tịch; Ngày 09 tháng 8 năm 1950, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 38/TTg thành lập Phòng Thống kê trong Văn phòng Thủ tướng.
Sau 10 năm thành lập, ngày 20 tháng 02 năm 1956, Thủ tướng Chính phủ ban hành Điều lệ số 695/TTg quy định “...Cục Thống kê Trung ương trong Ủy ban Kế hoạch Nhà nước của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, các Ban Thống kê địa phương, các tổ chức thống kê ở các Bộ, các cơ quan xí nghiệp. Cục Thống kê Trung ương và các cơ quan Thống kê ở địa phương là một hệ thống thống nhất, tập trung...”
Ngày 08 tháng 4 năm 1957, Chính phủ ban hành Nghị định số 142/TTg quy định lại tổ chức, nhiệm vụ của các cơ quan Thống kê các cấp, các ngành.
Hệ thống tổ chức thống kê gồm có: Cục Thống kê Trung ương thuộc Ủy ban Kế hoạch Nhà nước; Chi Cục Thống kê liên khu, khu, thành phố, tỉnh; Phòng Thống kê huyện, châu; Ban Thống kê xã; Tổ chức thống kê các Bộ, ngành trung ương và các cơ quan, xí nghiệp.
Trong giai đoạn này, ngành đã thực hiện cuộc điều tra nông thôn (1951-1952), cung cấp cơ sở khoa học để Chính phủ ban hành các chính sách quan trọng về thuế nông nghiệp, ruộng đất và cải cách ruộng đất.
2. Giai đoạn 1961 - 1988
Ngày 29/9/1961, Hội đồng Chính phủ ban hành Nghị định số 131/CP thành lập Tổng cục Thống kê là cơ quan trực thuộc Hội đồng Chính phủ. Trong thời kỳ này Tổng cục Thống kê chỉ giao kế hoạch và quản lý về nghiệp vụ, còn Ủy ban Hành chính các cấp quản lý về tổ chức - nghiệp vụ - kinh phí. Phương thức quản lý này đã bộc lộ những hạn chế, vì vậy ngày 18/4/1974 Thủ tướng Chính phủ ký quyết định số 84/TTg cho phép Tổng cục Thống kê quản lý tập trung thống nhất hệ thống Thống kê Nhà nước theo hệ thống ngành dọc từ TƯ đến cấp huyện về tổ chức, biên chế, quỹ lương và kinh phí. Đây là thời kỳ quản lý ngành dọc đầu tiên đã tạo điều kiện thuận lợi cho ngành Thống kê phát triển mạnh cả về tổ chức bộ máy, biên chế, cơ sở vật chất và nghiệp vụ. Hệ thống tổ chức thống kê nhà nước bao gồm: Tổng cục Thống kê, Chi cục Thống kê tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các Phòng thống kê huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh. Các đơn vị sự nghiệp trực thuộc: Trường Cán bộ Thống kê Trung ương; Trường Đào tạo Công nhân kỹ thuật máy tính và một số đơn vị sản xuất như các trung tâm tính toán, v.v…
Ngày 02 tháng 6 năm 1979, Hội đồng Chính phủ ban hành Quyết định số 207/CP về việc sửa đổi tổ chức bộ máy của Tổng cục Thống kê. Tổ chức bộ máy của Tổng cục Thống kê gồm: Các Vụ, Viện và đơn vị Trung ương; Các tổ chức trực thuộc khác thuộc phạm vi Tổng cục trưởng quyết định bao gồm: Nhà xuất bản thống kê; Tạp chí Thống kê; Các Trường Trung học Thống kê I, II, III; Trường Kỹ thuật tính toán; Xí nghiệp Tính toán Thống kê.
Trong giai đoạn 1961-1965, ngành Thống kê đẩy mạnh thực hiện chế độ báo cáo thống kê và điều tra thống kê, hệ thống chỉ tiêu thống kê ngày càng được mở rộng, chi tiết hơn. Sau khi thống nhất đất nước năm 1975, ngành Thống kê khẩn trương kiện toàn hệ thống tổ chức tại các tỉnh phía Nam. Các nhiệm vụ lớn đã được thực hiện như: Kiểm kê tài sản quốc doanh (1976), Tổng điều tra đất đai (1977) và Tổng điều tra dân số (1979).
Những năm sau đó (1980 - 1987), bộ máy Thống kê đi vào hoạt động ổn định, công tác thống kê ngày càng bài bản và chuyên nghiệp hơn, đáp ứng tốt các mục tiêu đổi mới và hội nhập của đất nước.
3. Giai đoạn 1988 - 1994
Đây là giai đoạn ngành Thống kê thực hiện cải cách mạnh mẽ để phù hợp với chính sách Đổi mới của Đảng. Một dấu mốc quan trọng là vào năm 1992, Tổng cục Thống kê chuyển đổi phương pháp luận từ Hệ thống các bảng cân đối kinh tế quốc dân (MPS) sang Hệ thống tài khoản quốc gia (SNA) của Liên Hợp Quốc.
Tuy nhiên, về mặt tổ chức, ngày 11 tháng 5 năm 1988, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quyết định số 81/HĐBT quy định lại chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Tổng cục Thống kê. Theo Quyết định trên Tổng cục Thống kê không quản lý theo hệ thống ngành dọc. Cơ quan thống kê địa phương được giao cho Ủy ban nhân dân các cấp quản lý. Sự thay đổi này đã gây ra một số khó khăn về tính thống nhất của thông tin và làm giảm đáng kể đội ngũ nhân sự làm công tác thống kê tại địa phương.
Dù vậy, ngành đã nỗ lực sắp xếp lại bộ máy, duy trì việc cung cấp số liệu phục vụ các kỳ đại hội Đảng và bắt đầu thực hiện công khai hóa dữ liệu thống kê trên các phương tiện thông tin đại chúng.
4. Giai đoạn 1994 - 2007
Để khắc phục những bất cập của giai đoạn trước, ngày 23/3/1994, Chính phủ ban hành Nghị định số 23/CP xác lập lại mô hình quản lý theo ngành dọc từ Trung ương đến cấp huyện. Tổng cục Thống kê là cơ quan thuộc Chính phủ, quản lý về tổ chức, biên chế, quỹ lương, kinh phí. Các tỉnh/thành phố có các Cục Thống kê, Phòng Thống kê cấp huyện là một phòng nghiệp vụ của Cục.
Giai đoạn này ghi nhận sự hình thành chính thức của 3 cuộc Tổng điều tra định kỳ: Tổng điều tra dân số và nhà ở (chu kỳ 10 năm); Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp và thủy sản (chu kỳ 5 năm); Tổng điều tra cơ sở kinh tế, hành chính, sự nghiệp (chu kỳ 5 năm).
Năm 2003, Luật Thống kê đầu tiên được Quốc hội thông qua, tạo hành lang pháp lý cao nhất cho hoạt động thống kê. Tiếp đó, hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia được cập nhật theo Quyết định 305/QĐ-TTg (năm 2005), thay thế cho hệ thống cũ đã tồn tại 35 năm, đảm bảo tính hội nhập và phù hợp với thực tế phát triển.
5. Giai đoạn 2007 đến tháng 02/2025
Ngày 04/01/2007, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 01/NĐ-CP chuyển Tổng cục Thống kê vào Bộ Kế hoạch và Đầu tư, giao Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư thực hiện công tác quản lý đối với Tổng cục Thống kê. Điểm nổi bật trong giai đoạn này là việc hình thành Chi cục Thống kê cấp huyện trực thuộc Cục Thống kê cấp tỉnh trên cơ sở các Phòng Thống kê đã đưa vị thế, vai trò và năng lực của các chi cục thống kê lên một tầm mới. Cũng là thời kỳ ngành Thống kê tập trung hoàn thiện thể chế và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin.
- Hoàn thiện pháp luật: Quốc hội thông qua Luật Thống kê năm 2015 với nhiều nội dung mới như: mở rộng phạm vi điều chỉnh đến hoạt động thống kê ngoài nhà nước, tăng cường vai trò điều phối của Tổng cục Thống kê và bổ sung quy định về dự báo thống kê. Sửa đổi Luật Thống kê: Ngày 12/11/2021, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật số 01/2021/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều và Phụ lục Danh mục chỉ tiêu thống kê quốc gia của Luật Thống kê 2015. Điểm mới cốt lõi là việc cập nhật danh mục chỉ tiêu gồm 230 chỉ tiêu (thay cho 186 chỉ tiêu trước đây), bổ sung các chỉ tiêu phản ánh động thái kinh tế mới như: kinh tế số, phát triển bền vững, kinh tế tuần hoàn và tăng trưởng xanh.
- Chiến lược phát triển: Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1261/QĐ-TTg ngày 11/8/2021 phê duyệt Chiến lược phát triển Thống kê Việt Nam giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045. Chiến lược xác định mục tiêu hiện đại hóa ngành Thống kê theo hướng đổi mới sáng tạo, phát triển nhanh và vững chắc với hệ thống thông tin thống kê quốc gia tập trung, thống nhất, thông minh.
- Đổi mới phương thức hoạt động và chuyển đổi số: Ngành đã chuyển đổi mạnh mẽ từ phiếu điều tra giấy sang phiếu điện tử trên thiết bị di động (CAPI) và phiếu trực tuyến (Webform). Điển hình là cuộc Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019; Tổng cục Thống kê tập trung xây dựng hệ thống kho dữ liệu dùng chung, kết nối trực tiếp với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, đăng ký doanh nghiệp, thuế và hải quan. Việc này giúp giảm tải cho các cuộc điều tra trực tiếp và tăng tính chính xác của số liệu; Bắt đầu đưa vào thử nghiệm việc sử dụng dữ liệu lớn từ các nhà mạng viễn thông, dữ liệu giao dịch thương mại điện tử để dự báo các chỉ số lạm phát và dịch chuyển dân cư; Tiếp tục hoàn thiện quy trình biên soạn số liệu GRDP tập trung tại Trung ương, đảm bảo tính thống nhất giữa số liệu cấp tỉnh và cấp quốc gia, phục vụ hiệu quả cho việc đánh giá thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm (2021-2025).
- Thay đổi về tổ chức bộ máy theo hướng tinh gọn: Để thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về tinh giản biên chế, nâng cao hiệu lực hiệu quả quản lý, bộ máy ngành Thống kê đã có những điều chỉnh quan trọng:
Cấp Trung ương: Cơ cấu tổ chức của Tổng cục Thống kê tiếp tục duy trì theo Quyết định số 10/2020/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, bao gồm các đơn vị giúp Tổng cục trưởng thực hiện chức năng quản lý nhà nước và các đơn vị sự nghiệp. Tuy nhiên, các vụ chuyên môn được chỉ đạo tăng cường phối hợp liên ngành, giảm bớt các khâu trung gian trong xử lý dữ liệu.
Cấp địa phương (Cục Thống kê cấp tỉnh): Theo Quyết định số 15/2021/QĐ-TTg ngày 30/3/2021 của Thủ tướng Chính phủ (sửa đổi Quyết định 10/2020), cơ cấu tổ chức của Cục Thống kê tỉnh, thành phố được sắp xếp lại. Các phòng chuyên môn tại Cục Thống kê cấp tỉnh được giảm đầu mối, thực hiện gộp các phòng có chức năng gần nhau để tập trung nguồn lực, thành lập thêm phòng Thu thập thông tin để tách bạch công tác điều tra và công tác tổng hợp báo cáo.
Cấp huyện (Chi cục Thống kê): Ngành Thống kê đã triển khai mô hình Chi cục Thống kê khu vực (hợp nhất các Chi cục Thống kê cấp huyện thành Chi cục khu vực liên huyện) giúp giảm đầu mối quản lý, tinh giản biên chế.
6. Giai đoạn từ tháng 3/2025 đến nay
Từ tháng 03/2025, ngành Thống kê bước vào giai đoạn tái cấu trúc toàn diện theo định hướng tinh giản bộ máy của Đảng và Nhà nước, gắn liền với việc chuyển đổi cơ quan chủ quản và sắp xếp lại các đơn vị hành chính.
Cấp trung ương: Thực hiện Quyết định số 384/QĐ-BTC ngày 26/02/2025 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Thống kê, hệ thống thống kê tập trung có sự thay đổi lớn về vị thế pháp lý. Theo đó, Tổng cục Thống kê được chuyển giao về trực thuộc Bộ Tài chính và đổi tên thành Cục Thống kê.
Cấp tỉnh: Hệ thống tổ chức thống kê cấp tỉnh trải qua hai đợt điều chỉnh trong năm 2025 để phù hợp với mô hình quản lý mới:
Đợt 1 (Tháng 3/2025): Theo Quyết định số 956/QĐ-BTC ngày 05/3/2025 của Bộ trưởng Bộ Tài chính, Cục Thống kê cấp tỉnh chuyển đổi tên gọi thành Chi cục Thống kê cấp tỉnh. Đồng thời, cơ cấu bên trong được kiện toàn theo hướng chuyên môn hóa: giải thể Phòng Thu thập thông tin; chia tách Phòng Thống kê Kinh tế thành các phòng nghiệp vụ riêng biệt để đảm nhiệm trực tiếp công tác triển khai điều tra và tổng hợp báo cáo.
Đợt 2 (Tháng 7/2025): Song song với lộ trình sáp nhập các đơn vị hành chính cấp tỉnh và thành phố, bộ máy thống kê tiếp tục được sắp xếp lại. Theo Quyết định số 912/QĐ-CTK ngày 11/7/2025, Chi cục Thống kê cấp tỉnh chính thức đổi tên thành Thống kê tỉnh, thành phố trực thuộc Cục Thống kê (Bộ Tài chính).
Cấp cơ sở: Mô hình thống kê tại địa phương được tinh giản mạnh mẽ để tương ứng với lộ trình bỏ cấp huyện và sáp nhập cấp xã: Ngày 12/3/2025, theo Quyết định số 27/QĐ-CTK của Cục trưởng Cục Thống kê, Chi cục Thống kê cấp huyện và khu vực đổi tên thành Đội Thống kê. Đến ngày 11/7/2025, thực hiện Quyết định số 912/QĐ-CTK, trong bối cảnh thực hiện sáp nhập đơn vị hành chính cơ sở, Đội Thống kê được chuyển đổi mô hình và đổi tên thành Thống kê cơ sở.
Trong giai đoạn này, ngành Thống kê đã tổ chức triển khai và thực hiện thành công cuộc Tổng điều tra Nông thôn, nông nghiệp năm 2025, cung cấp nguồn dữ liệu quan trọng phục vụ công tác đánh giá và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong thời kỳ mới.
Trải qua các thời kỳ, dù có những thay đổi về mô hình tổ chức, ngành Thống kê luôn khẳng định vai trò chủ đạo trong việc cung cấp thông tin số liệu. Từ những cuộc điều tra thủ công ban đầu đến việc ứng dụng công nghệ số hiện đại, ngành đã thực hiện tốt chức năng là công cụ quản lý vĩ mô quan trọng, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước./.
Nguyễn Thị Phương – Thống kê viên, phòng Nông nghiệp và Xã hội
Tin khác