207.3 823 523 | ctk_tuyenquang@gso.gov.vn

Tình hình kinh tế - xã hội tháng 9 và 9 tháng đầu năm 2026 tỉnh Tuyên Quang

30/09/2026 14:11

Trong 9 tháng đầu năm 2026, tình hình thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường; xung đột địa chính trị, biến động thương mại, chính sách thuế quan và giá năng lượng gia tăng đã tác động tiêu cực đến tăng trưởng, lạm phát, chuỗi cung ứng và hoạt động kinh tế toàn cầu. Xu hướng chuyển dịch chuỗi cung ứng, phát triển kinh tế số, kinh tế xanh và trí tuệ nhân tạo (AI) đang làm thay đổi sâu sắc kinh tế thế giới, đặt ra yêu cầu cấp thiết phải đổi mới mô hình tăng trưởng. Thiên tai, biến đổi khí hậu, thời tiết cực đoan xảy ra tại nhiều khu vực, gây thiệt hại nghiêm trọng về người và tài sản.

Trong nước và trong tỉnh, năm 2026 là năm đầu tiên thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ I và Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2026-2030. Tỉnh Tuyên Quang đã quyết liệt triển khai nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện mục tiêu tăng trưởng "2 con số"; giải ngân vốn đầu tư công; vận hành chính quyền địa phương 2 cấp; triển khai 10 Nghị quyết đột phá của Bộ Chính trị; bảo đảm quốc phòng, an ninh; xây dựng Đảng, hệ thống chính trị và tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc của tỉnh.

 Qua theo dõi và tổng hợp tình hình kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang tháng 9/2026 và 9 tháng đầu năm 2026, Thống kê tỉnh Tuyên Quang đánh giá tình hình kinh tế - xã hội thực hiện trên một số lĩnh vực chủ yếu như sau:

I. PHÁT TRIỂN KINH TẾ  

1. Tăng trưởng kinh tế 9 tháng đầu năm 2026

1.1. Tốc độ tăng trưởng GRDP trên địa bàn (giá so sánh 2020) 9 tháng đầu năm 2026

Tốc độ tăng trưởng GRDP (giá so sánh năm 2020) trên địa bàn tỉnh tăng 8,04% so với cùng kỳ năm 2025, cụ thể của các lĩnh vực như sau: 

1.1.1. Khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 5,26%; đóng góp 1,37 điểm phần trăm trong mức tăng chung của GRDP. Ngành nông nghiệp mặc dù còn gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng của thời tiết; dịch bệnh; thị trường tiêu thụ nông sản, giá vật tư đầu vào nhưng cũng đã vượt mọi khó khăn đạt mức tăng trưởng tương đối ấn tượng. Ngành nông nghiệp tăng 5%, đóng góp 1,05 điểm phần trăm; ngành lâm nghiệp tăng 6%, đóng góp 0,25 điểm phần trăm; ngành thủy sản tăng 8,28%, đóng góp 0,07 điểm phần trăm.

1.1.2. Khu vực Công nghiệp, xây dựng tăng 10,25%, đóng góp vào tốc độ tăng trưởng chung là 2,6 điểm phần trăm. Trong đó:

- Ngành công nghiệp, tăng 10,25%, với mức đóng góp 2,6 điểm phần trăm (trong đó: Ngành khai khoáng tăng trưởng âm 5,98%, tăng trưởng âm 0,05 điểm phần trăm; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 13,93%, đóng góp 1,24 điểm phần trăm; sản xuất và phân phối điện tăng 6,52%, đóng góp 0,53 điểm phần trăm; cung cấp nước tăng 1,27%, đóng góp tăng trưởng rất nhỏ).

- Ngành xây dựng tăng 12,01%, đóng góp 0,87 điểm phần trăm trong khu vực. Với mục tiêu “lấy đầu tư công dẫn dắt đầu tư tư”, tập trung tháo gỡ khó khăn, vướng mắc về đất đai, tài nguyên môi trường, giải phóng mặt bằng các dự án đầu tư, nhất là các dự án trọng điểm của tỉnh như: Dự án cao tốc Tuyên Quang - Hà Giang (giai đoạn 2), đoạn Tân Quang - cửa khẩu quốc tế Thanh Thủy;  cao tốc Tuyên Quang - Hà Giang (Giai đoạn 1); Bệnh viện đa khoa tỉnh tại địa điểm mới; 17 trường phổ thông nội trú liên cấp tiểu học và trung học cơ sở tại các xã biên giới và các dự án quan trọng khác.

1.1.3. Khu vực dịch vụ tăng 8,49%, đóng góp 3,72 điểm phần trăm. Trong khu vực dịch vụ, đóng góp của một số ngành có tỷ trọng lớn vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm như sau: Bán buôn, bán lẻ và sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy tăng 8,96%, đóng góp 0,51 điểm phần trăm; vận tải kho bãi tăng 10,49%, đóng góp 0,31 điểm phần trăm; lưu trú và ăn uống tăng 8,95%, đóng góp 0,23 điểm phần trăm; hoạt động tài chính ngân hàng và bảo hiểm tăng 9,27%, đóng góp 0,32 điểm phần trăm,…Ngay từ đầu năm tỉnh đã tổ chức các hoạt động xúc tiến, quảng bá du lịch có tiềm năng phát triển như du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, du lịch cộng đồng;…

1.1.4. Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 7,42% (đóng góp 0,35 điểm phần trăm vào tốc độ tăng trưởng chung của nền kinh tế;

1.2. Quy mô và cơ cấu kinh tế

1.2.1. Quy mô tổng sản phẩm

Quy mô tổng sản phẩm trên địa bàn 9 tháng đầu năm 2026 (giá hiện hành) ước đạt 74.113,8 tỷ đồng.

1.2.2. Cơ cấu kinh tế

Cơ cấu kinh tế tỉnh tiếp tục chuyển biến tích cực với chiều hướng tăng dần tỷ trọng khu vực dịch vụ, cụ thể như sau: Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 22,82%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 28,13%, trong cơ cấu nội hàm ngành công nghiệp đã có sự chuyển dịch theo hướng, giảm dần tỷ trọng công nghiệp khai thác, tăng dần tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo; khu vực dịch vụ chiếm 44,37%; thuế sản phầm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 4,68%.

Nhìn chung, trong 9 tháng đầu năm 2026 các ngành kinh tế đều có sự chuyển dịch tích cực và tiếp tục đóng góp chủ yếu vào mức tăng trưởng GRDP của toàn tỉnh, chứng tỏ các giải pháp của tỉnh đã mang lại những hiệu quả giúp cho việc chuyển dịch cơ cấu đúng hướng và mang lại hiệu quả rõ rệt. Đây là sự chuyển dịch cơ cấu tích cực phù hợp với yêu cầu thúc đẩy nhanh sự tăng trưởng kinh tế.

2. Tài chính, ngân hàng

2.1. Tình hình thu, chi ngân sách nhà nước

2.1.1. Thu ngân sách nhà nước: Tổng thu ngân sách nhà nước ước thực hiện là 5.515,6 tỷ đồng, tăng 11,06% so với cùng kỳ. Trong đó thu nội địa ước thực hiện là 5.431,1 tỷ đồng, tăng 22,66%.

Một số khoản thu đạt khá là: Thu từ khu vực kinh tế ngoài quốc doanh là 2.151 tỷ đồng, tăng 36,67%; thuế Thu nhập cá nhân là 316,8 tỷ đồng, tăng 4,99%; thu phí – lệ phí là 493,2 tỷ đồng, tăng 12,18%;…

Một số khoản thu thấp: Thu từ khu vực Doanh nghiệp nhà nước là 376,7 tỷ đồng, giảm 15,33%; các khoản thu thuế bảo vệ môi trường đạt 139 tỷ đồng, giảm 57,09%,...

2.1.2. Chi ngân sách nhà nước: Tổng chi ngân sách nhà nước là 30.258,1 tỷ đồng, tăng 6,84% so với cùng kỳ. Trong đó: Chi đầu tư phát triển 11.811,5 tỷ đồng, tăng 28,15%; chi thường xuyên 18.439,6 tỷ đồng, giảm 3,46%;...

Ủy ban nhân dân tỉnh đã chỉ đạo các cơ quan thuế, tài chính triển khai quyết liệt các giải pháp quản lý thu, tăng cường kiểm tra, rà soát nguồn thu, đẩy mạnh quản lý thu đối với hoạt động thương mại điện tử, kinh doanh trên nền tảng số và các lĩnh vực còn dư địa, góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng năm 2026.

2.2. Hoạt động tín dụng ngân hàng 

Đẩy mạnh triển khai các Chương trình cho vay phát triển nông nghiệp, nông thôn, các doanh nghiệp nhỏ và vừa, giải ngân các dự án đã cam kết, cho vay các đối tượng chính sách - xã hội góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội. Tăng cường sử dụng các phương thức thanh toán điện tử thay cho tiền mặt. Nguồn vốn huy động duy trì mức tăng trưởng khá, ước đến ngày 30/9/2026 đạt 82.616 tỷ đồng, tăng 17,7% so với cùng kỳ, tăng 9,5% so với 31/12/2025; tổng dư nợ ước đạt 80.841 tỷ đồng, tăng 15,08% so với cùng kỳ, tăng 2,0% so với 31/12/2025. Chất lượng tín dụng được đảm bảo, tỷ lệ nợ xấu là 1,0%/tổng dư nợ.

3. Giá cả

- Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 9 năm 2026 tăng 0,21% so với tháng trước, tăng 5,08% so với cùng kỳ năm trước.

Trong số 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính thì có 8 nhóm tăng giá so với tháng trước, 3 nhóm giảm giá so với tháng trước, cụ thể của các nhóm như sau:

+ Có 8/11 nhóm hàng có chỉ số CPI tăng so với tháng trước, trong đó: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,18%, nguyên nhân chủ yếu là do trong tháng diễn ra lễ hội Thành Tuyên năm 2026 làm nhóm ăn uống ngoài gia đình tăng 0,34%; nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,44%, do thời tiết nắng nóng cùng với dịp lễ hội Trung thu nên nhu cầu sử dụng các loại bia, nước ngọt để giải khát của người dân tăng; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,56%; nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,24%; nhóm giao thông tăng 3,30% nguyên nhân chủ yếu là do giá xăng, dầu điều chỉnh tăng; nhóm giáo dục tăng 0,12% là do giá văn phòng phẩm, sách tham khảo đầu năm học mới tăng; nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 2,13%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,86%.

+ Có 04/11 nhóm giảm, trong đó: Nhóm may mặc, mũ nón và giày dép giảm 0,19%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 2,25%; nhóm thông tin truyền thông giảm 0,17%;

+ Chỉ số giá vàng tăng 2,20% so với tháng trước, tăng 19,09% so với cùng kỳ năm trước và giảm 2,55% so với tháng 12 năm trước.

+ Chỉ số giá đô la Mỹ giảm 0,72% so với tháng trước, giảm 1,29% so với cùng kỳ năm trước và giảm 1,06% so với tháng 12 năm trước.

- CPI bình quân 9 tháng đầu năm 2026 tăng 5,36% so với cùng kỳ năm 2025. Một số nguyên nhân cơ bản đã tác động tăng CPI là những nguyên nhân chủ yếu sau: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 6,23%, chủ yếu do nhóm hàng lương thực tăng 3,12% (do giá gạo tăng), thực phẩm tăng 5,77% (do giá thịt gia súc tăng), ăn uống ngoài gia đình tăng 12,28%; đồ uống và thuốc lá tăng 4,36%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 14,11%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 4,93%,…. chỉ số giá vàng tăng 50,89%, giá đô la Mỹ tăng 0,57%.

4. Vốn đầu tư và xây dựng

4.1. Tình hình thực hiện vốn đầu tư

4.1.1. Vốn đầu tư phát triển toàn xã hội

Ước thực hiện quý III/2026 đạt 9.043,3 tỷ đồng, tăng 16,91% so với quý II/2026, tăng 13,30% so với quý cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng đầu năm 2026 ước đạt 22.556,8 tỷ đồng, tăng 6,76% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Nguồn vốn từ khu vực nhà nước ước đạt 7.350,9 tỷ đồng, tăng 4,29% so với cùng kỳ (chiếm 32,59% tổng nguồn vốn đầu tư); nguồn vốn đầu tư của dân cư và tư nhân ước đạt 13.826,3 tỷ đồng, tăng 16,31% (chiếm 61,30% tổng nguồn vốn) khu vực tư nhân chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong đầu tư phát triển toàn xã hội và giữ vai trò quan trọng trong tổng nguồn vốn, trong bối cảnh ngân sách nhà nước còn hạn hẹp rất cần các nguồn lực đầu tư từ khu vực tư nhân; vốn đầu tư của doanh nghiệp Nhà nước đạt 221,1 tỷ đồng, tăng 8,13% (chiếm 0,98%); vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 68,4 tỷ đồng, tăng 77,87%;...

4.1.2. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước

- Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước thực hiện quý III/2026 đạt 3.119,1 tỷ đồng, tăng 15,23% so với cùng quý năm trước, trong đó: Vốn ngân sách cấp tỉnh đạt 2.481,7 tỷ đồng, tăng 18,25%; vốn ngân sách cấp xã đạt 637,4 tỷ đồng, tăng 4,80%.

- Ước thực hiện 9 tháng đầu năm 2026 đạt 7.212,9 tỷ đồng, tăng 5,42% so với cùng kỳ, trong đó: Vốn ngân sách cấp tỉnh đạt 5.739,5 tỷ đồng, tăng 9,62%; vốn ngân sách cấp xã đạt 1.473,4 tỷ đồng, giảm 8,29%.

4.2. Xây dựng

Tỉnh đã tập trung quyết liệt thực hiện các giải pháp đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công, ban hành các văn bản chỉ đạo, kiểm tra thực tế các dự án trọng điểm: Dự án cao tốc Tuyên Quang - Hà Giang (giai đoạn 2), đoạn Tân Quang - cửa khẩu quốc tế Thanh Thủy;  cao tốc Tuyên Quang - Hà Giang (Giai đoạn 1); Bệnh viện đa khoa tỉnh tại địa điểm mới; 17 trường phổ thông nội trú liên cấp tiểu học và trung học cơ sở tại các xã biên giới…) và tổ chức các cuộc họp về tình hình thực hiện các dự án đầu tư công trên địa bàn tỉnh.

Kết quả giải ngân vốn đầu tư công từ đầu năm đến hết ngày 28/9/2026 đạt 6.825,1/17.189,1 tỷ đồng, bằng 39,7% kế hoạch (kế hoạch vốn năm 2026 đạt 3.718,3/9.952,78 tỷ đồng, bằng 37,3% kế hoạch; kế hoạch vốn năm 2025 kéo dài sang năm 2026 đạt 3.106,5/7.236,3 tỷ đồng, bằng 42,9% kế hoạch).  

5. Hoạt động của doanh nghiệp

5.1. Về tình hình hoạt động của doanh nghiệp

Từ ngày 01/01/2026 đến ngày 22/9/2026, cấp Giấy chứng nhận đăng ký thành lập mới cho 754 doanh nghiệp, tăng 35% so với cùng kỳ, với số vốn đăng ký trên 5.079,7 tỷ đồng, tăng 136% so với cùng kỳ; số doanh nghiệp hoạt động trở lại 184 doanh nghiệp, tăng 12%; số doanh nghiệp giải thể tăng với 229 doanh nghiệp, tăng 209%; tạm ngừng 378 doanh nghiệp, tăng 3%.

Lũy kế trên địa bàn tỉnh có 6.817 doanh nghiệp với tổng số vốn đăng ký trên 96.629.107 tỷ đồng (trong đó có 21 doanh nghiệp có 100% vốn đầu tư nước ngoài).

Nhìn chung, số lượng doanh nghiệp thành lập mới tăng cao trong 9 tháng đầu năm cho thấy môi trường kinh doanh được cải thiện, thủ tục hành chính được quan tâm, tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong giải quyết thủ tục đầu tư, rút ngắn thời gian cấp phép kinh doanh, hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận nguồn lực đất đai, tín dụng.

5.2. Tình hình xu hướng kinh doanh của các doanh nghiệp ngành chế biến chế tạo quý III năm 2026

Kết quả điều tra về xu hướng kinh doanh của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong quý III năm 2026 cho thấy: Số doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh quý III/2026 khả quan hơn so với quý cùng kỳ đạt tỷ lệ 38,89%; doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh ổn định đạt tỷ 38,89%; có 22,22% số doanh nghiệp đánh giá gặp khó khăn trong sản xuất kinh doanh. Chỉ số cân bằng của quý III năm 2026 so với quý II là 16,67%. Dự kiến xu hướng kinh doanh quý IV so với quý III năm 2026 cho thấy: Có 42,59% số doanh nghiệp đánh giá xu hướng sẽ tốt lên (gồm các ngành: Sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn); 38,89% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh sẽ ổn định (gồm các ngành: Sản xuất da và các sản phẩm có liên quan; In, sao chép bản ghi các loại; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic; sản xuất xe có động cơ); có 18,52% số doanh nghiệp dự báo tiếp tục khó khăn hơn. Dự tính chỉ số cân bằng của quý tiếp theo so với quý hiện tại là 24,07%.

6. Kết quả tình hình sản xuất Nông, lâm nghiệp và thủy sản 9 tháng đầu năm 2026

6.1. Trồng trọt

6.1.1. Sản xuất vụ đông xuân năm 2026

Thời tiết vụ Đông Xuân 2026 diễn biến tương đối thuận lợi, lượng mưa và nhiệt độ ổn định giúp cây trồng, đặc biệt là cây ngô và lúa, sinh trưởng và phát triển tốt. Nguồn cung ứng giống, phân bón được đảm bảo. Người dân ngày càng chủ động áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, đưa các giống mới có năng suất, chất lượng cao vào sản xuất. Công tác tu sửa, nạo vét kênh mương, các công trình thủy lợi được chú trọng triển khai, đảm bảo nguồn nước tưới tiêu chủ động. Một số mô hình liên kết sản xuất - tiêu thụ tiếp tục chứng minh hiệu quả, điển hình như mô hình trồng gừng với hợp tác xã Sơn Ý, mô hình trồng dưa bao tử, bí, mướp đắng với HTX Nông sản xanh Sáng Nhung tạo sự ổn định và nâng cao thu nhập cho bà con nông dân

- Cây lúa: Diện tích đạt 27.351,7 ha, giảm 1,92% so với cùng kỳ, ước tính năng suất lúa bình quân chung 60,29 tạ/ha, tăng 0,33% (tăng 0,2 tạ/ha). Sản lượng ước tính 164.887,9,1 tấn (giảm 1,56%) so với vụ đông xuân năm 2025.

- Cây ngô: Trồng được 34.214,4 ha, giảm 1,87% so với vụ đông xuân năm 2025; năng suất đạt 41,51 tạ/ha, tăng 2,47% (tăng 1 tạ/ha); sản lượng 142.028,2 tấn (tăng 0,72%).

- Cây khoai lang: năng suất đạt 66,43 tạ/ha, tăng 0,38% (tăng 0,25 tạ/ha), sản lượng đạt 15.091,5 tấn, giảm 0,25%.

- Cây đậu tương: năng suất đạt 15,78 tạ/ha, tăng 1,24% (tăng 0,18 tạ/ha); sản lượng đạt 6.042,7 tấn, giảm 7,371%.

- Cây lạc: năng suất đạt 28,3 tạ/ha, tăng 0,03% (tăng 0,01 tạ/ha); sản lượng đạt 22.977 tấn, giảm 5,27%.

6.1.2. Sản xuất vụ mùa năm 2026

Tính đến thời điểm báo cáo, công tác gieo trồng vụ Mùa trên địa bàn đã cơ bản hoàn tất theo kế hoạch. Hiện nay, các địa phương đang tập trung triển khai các biện pháp chăm sóc, theo dõi sát tình hình sinh trưởng để đảm bảo cây trồng phát triển ổn định.

- Cây lúa: Toàn tỉnh đã cấy được 52.134 ha, giảm 1,49% so với cùng kỳ năm trước.

- Cây ngô: Diện tích đã trồng 40.210 ha, tăng 1,7%.

- Cây lạc: Diện tích đã trồng 5.026 ha, tăng 8,25%.

- Cây đậu tương: Diện tích đã trồng 7.695 ha, tăng 12,88%.

6.1.3 Cây lâu năm

a. Diện tích

Tổng diện tích cây lâu năm 9 tháng đầu năm 2026 hiện có 59.471,52 ha, giảm 4,78% (giảm 2.840,69 ha) so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân diện tích giảm là do một số diện tích cây ăn quả lâu năm đã đến tuổi già cỗi đồng loạt (giảm nhiều nhất ở nhóm cây ăn quả có múi cây cam), kèm theo đó năng suất cho hiệu quả kinh tế không cao nên người dân đã chặt bỏ để chuyển đổi mục đích sử dụng. Bên cạnh đó trong năm 2025 và 9 tháng đầu năm 2026 một phần diện tích cây lâu năm bị thu hồi nhà nước lấy đất để mở rộng đường quốc lộ ở Phường Mỹ Lâm, xã Bắc Quang... dẫn đến diện tích cây lâu năm giảm sâu so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể diện tích các nhóm cây như sau:

Các loại quả có múi thuộc họ cam, quýt diện tích hiện có 13.742,54 ha, giảm 16,31% (giảm 2.675,53 ha). Trong đó: Cây cam 5.887,76 ha, giảm 31,95% (giảm 2.764,43 ha); cây quýt 287,96 ha, giảm 2,60% (giảm 7,77 ha); cây chanh 2.077,06 ha, tăng 14,10% (tăng 256,71 ha); cây bưởi là 5.417,46 ha, giảm 2,87% (giảm 159.90 ha); cây ăn quả có múi khác là 72,29 ha, giảm 2,98%.

Táo, mận và các loại quả có hạt như táo diện tích hiện có 3.556,32 ha, giảm 0,29% (giảm 10,17 ha) so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó: Cây táo là 147,92 ha, tăng 0,76% (tăng 1,11ha); cây mận là 1.432,24 ha, giảm 1,12%; cây lê 1.321,25 ha, tăng 1,13%. Riêng cây lê diện tích tăng do người dân trồng cây biết lắm bắt kịp thời xu hướng nhu cầu khách du lịch đặc biệt khí hậu thời tiết vùng cao phù hợp cho cây phát triển mang lại giá trị du lịch cho tỉnh vào mùa ra hoa, bên cạnh đó lại cho quả có giá trị kinh tế cao.

Nhãn, vải diện tích hiện có 1.416,28 ha, Trong đó: Cây nhãn là 1.013,50  ha, giảm 8,72% (giảm 96,81 ha); cây vải là 402,78 ha, giảm 7,79% (giảm 34,89 ha).

Cây chè: Toàn tỉnh diện tích hiện có 27.138,26 ha, giảm 1,45% (giảm 400,26 ha) so với cùng kỳ năm 2025. Diện tích chè 9 tháng đầu năm 2026 tiếp tục giảm do một phần diện tích trồng chè của xã Bắc Quang, Phường Mỹ Lâm nhà nước thu hồi đất chuyển mục đích sử dụng, mở đường quốc lộ và phát triển một số dự án xây dựng mới sau sát nhập. Diện tích chè chia theo thành phần kinh tế: Tư nhân là 3.361,50 ha; Cá thể là 23.776,76 ha.

b. Sản lượng

Các loại quả có múi thuộc họ cam, quýt diện tích hiện có các loại cây trong nhóm này vẫn giảm nhiều nhưng cùng với đó số diện tích mới đến thời kỳ cho sản phẩm lại vẫn tăng cao hơn so với cùng kỳ năm 2025. Như cây bưởi  ước đạt 10.801,84 tấn, tăng 0,81%;  cây chanh ước đạt 32680,83 tấn, tăng 10,23%.

Cây mận ước đạt 2.886,32 tấn, tăng 0,34%so với cùng kỳ năm 2025; cây đào ước đạt 1.537,59 tấn, tăng 1,84%; cây lê ước đạt 3.910,50 tấn, tăng 1,13%.

Sản lượng cây nhãn ước đạt 6.150,56 tấn, giảm 7,12%; cây vải ước đạt 2.344,68 tấn, tăng 3,66%.

Sản lượng chè ước đạt 133.488,78 tấn, tăng 0,76% so với cùng kỳ năm 2025. Chia ra: tư nhân là 32.240,24 tấn; cá thể là 101.248,54 tấn.

6.2. Tình hình sinh vật gây hại

Trong 9 tháng năm 2026, thời tiết, khí hậu ngày nắng, xen kẽ các đợt mưa dông khá thuận lợi để sâu bệnh phát triển gây hại. Lúa bị rầy nâu, rầy lưng trắng, sâu đục thân 2 chấm, bệnh đạo ôn cổ bông, bệnh bạc lá, bệnh đốm sọc vi khuẩn và đặc biệt bệnh khô vằn. Ngoài ra, sâu cuốn lá nhỏ, bọ xít dài, bệnh đạo ôn lá, đen lép hạt, tiêm lửa và chuột xuất hiện, gây hại rải rác.

Cây lạc và đậu tương Hè Thu: Sâu cuốn lá, rệp muội, rầy xanh lá mạ cùng các bệnh hại phổ biến như héo xanh, đốm lá và gỉ sắt đều xuất hiện rải rác... các ngành chức năng đã hướng dẫn và chỉ đạo bà con nông dân phòng trừ kịp thời, có hiệu quả, không để dịch bệnh hại nặng cây trồng.

6.3. Về chăn nuôi

Nhìn chung, trong tháng 9, chăn nuôi tỉnh Tuyên Quang tiếp tục duy trì đà tăng trưởng nhưng còn tiềm ẩn nhiều yếu tố không ổn định. Để đảm bảo phát triển bền vững, cần tiếp tục kiểm soát tốt dịch bệnh, ổn định thị trường, giảm chi phí đầu vào và đẩy mạnh liên kết sản xuất - tiêu thụ, qua đó nâng cao giá trị và hiệu quả của ngành chăn nuôi trong thời gian tới.

6.3.1. Về số lượng đàn gia súc, gia cầm 

- Đàn trâu: Tổng đàn là 202.105 con, giảm 9,31% (tương đương giảm 20.737 con) so với cùng kỳ năm 2025.

- Đàn bò: Tổng đàn là 175.963 con, tăng 0,91% (tăng 1.587 con). Trong đó: Bò sữa 7.116 con, tăng 7,93% (tăng 523 con).

- Đàn lợn: Tổng đàn là 1.216.593 con, tăng 12,18% (tăng 132.092 con).

- Đàn gia cầm: Tổng đàn là 14.974 nghìn con, tăng 8,85%. Trong đó: Đàn gà là 12.810,00 nghìn con, tăng 5,91% (tăng 714 nghìn con).

6.3.2. Về sản phẩm đàn gia súc, gia cầm

Ước 9 tháng đầu năm 2026, đàn trâu sản lượng thịt hơi đạt 11.600 tấn, tăng 7,12% so với cùng kỳ 2025; đàn bò đạt 6.374 tấn, tăng 6,34% (tăng 380 tấn); đàn lợn đạt 96.756 tấn, tăng 6,25%; gia cầm xuất chuồng 28.853 tấn, tăng 6,89%.

Trong 9 tháng đầu năm, chăn nuôi trên địa bàn tỉnh luôn được các ngành chức năng quan tâm và phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về thịt gia súc, gia cầm; trên địa bàn tỉnh đã xuất hiện nhiều mô hình trang trại chăn nuôi gia cầm tiên tiến, theo hướng liên kết hiệu quả kinh tế cao.

6.4. Công tác phòng chống dịch bệnh gia súc, gia cầm

6.4.1. Công tác phòng chống và điều trị

Trong tháng, bệnh phát sinh tại 144 hộ/44 thôn/09 xã, phường, số lợn tiêu hủy 1.048 con, khối lượng 44.307 kg. Lũy kế từ đầu năm đến ngày 13/9/2026, toàn tỉnh ghi nhận 3.384 con lợn mắc bệnh buộc tiêu hủy tại 420 hộ/166 thôn/53 xã, phường; tổng trọng lượng 140.098 kg; đã có 26 xã, phường công bố hết dịch, 04 xã qua 21 ngày chưa công bố hết dịch, 23 xã, phường chưa qua 21 ngày theo quy định.

6.4.2. Công tác tiêm phòng:

Kết quả tiêm phòng lũy kế đến ngày 10/9/2026:

+  Đàn trâu: 38.447 lượt tiêm, trong đó: Vắc xin LMLM 13.457 con đạt 12,8% KH, Vắc xin THT 21.670 con đạt 20,6% KH; Vắc xin VDNC 3.320 con.

+  Đàn bò: 84.752 lượt tiêm, trong đó: Vắc xin LMLM 22.877 con, đạt 21,8% KH; Vắc xin THT 36.107 con, đạt 34,5% KH; Vắc xin VDNC 25.768 con đạt 24,6% KH, Vắc xin Nhiệt thán 6.647 con đạt 20,1% KH.

+ Đàn lợn: 348.301 lượt tiêm, trong đó: Vắc xin LMLM 11.224 con; Vắc xin THT 170.152 con, đạt 29,2% KH; Vắc xin Dịch tả lợn 165.494 con, đạt 28,4%; Vắc xin Dịch tả lợn Châu phi 1.431 con.

 +  Đàn gia cầm: 1.600.682 lượt tiêm, trong đó: (Vắc xin THT 766.557 con đạt 8.8% KH, Vắc xin Newcastle, Lasota 470.603 con đạt 5,4% KH, Vắc xin Dịch tả Vịt 32.750 con, Vắc xin Cúm gia cầm 330.772 con).

+ Đàn chó: 62.952 lượt con, đạt 43,3% KH.

6.5. Công tác kiểm dịch vận chuyển động vật và công tác kiểm soát giết mổ

Tiếp tục thực hiện chặt chẽ đúng quy định công tác kiểm dịch vận chuyển ngoài tỉnh. Lũy kế từ đầu năm đến nay đã cấp 3.303 giấy, gồm 1.686 chuyến, vận chuyển 202.750 con gia súc, gia cầm; 1.617 chuyến, vận chuyển 28.376.162 kg sữa tươi nguyên liệu, 120.326 kg sản phẩm động vật chế biến thực phẩm. Vận chuyển đi các tỉnh như Bắc Ninh, Hà Nội, Cao Bằng, Phú Thọ, Lai Châu, Nghệ An, Thái Nguyên,... Trong 9 tháng đã kiểm soát, thu phí 7.913 con gia súc (trâu, bò, ngựa 197 con; lợn 7.716 con).

6.6. Về sản xuất lâm nghiệp

6.6.1. Công tác trồng rừng

Tình hình sản xuất lâm nghiệp trong tháng 9 diễn ra tương đối ổn định, 9 tháng đầu năm Ủy ban nhân dân tỉnh và cơ quan chuyên môn đã chú trọng, quan tâm đến công tác phát triển lâm nghiệp, chỉ đạo các doanh nghiệp, hộ dân đẩy nhanh tiến độ trồng rừng đã đạt được những kết quả quan trọng. Tính đến ngày 20/9/2026, trên địa bàn tỉnh thực hiện trồng 86,57 ha rừng trồng tập trung, giảm 50,04% so với tháng cùng kỳ.  Lũy kế 9 tháng toàn tỉnh đã trồng được 15.077,45 ha, tăng 5,64% (tăng 805,53 ha), chủ yếu là rừng sản xuất.

6.6.2. Khai thác gỗ rừng trồng 

Ước thực hiện trong tháng đạt 145.205,3 m3, tăng 69,76% (tăng 59.668,10 m3) so với cùng kỳ. Luỹ kế đến hết tháng báo cáo sản lượng gỗ khai thác đạt 1.146.041,8 m3, tăng 2,4% (tăng 26.892,13 m3).

6.6.3. Công tác quản lý bảo vệ rừng

Trong tháng không xảy ra vụ cháy rừng, phá rừng. Luỹ kế 9 tháng đầu năm, số vụ cháy rừng xảy ra 01 vụ, giảm 37 vụ so với cùng kỳ; thiệt hại 0,12 ha, giảm 80,01 ha. Số vụ phá rừng là 13 vụ, giảm 22 vụ; diện tích rừng bị phá là 2,41 ha, giảm 8,48 ha. Nguyên nhân chính giảm số vụ cháy rừng, phá rừng là do các cơ quan chính quyền địa phương đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến về công tác quản lý, bảo vệ và phòng cháy chữa cháy rừng, chủ động cập nhật diễn biến rừng, theo dõi thời tiết để có những phương án phù hợp.

6.7. Về thuỷ sản

Trong tháng 9 tình hình nuôi trồng thủy sản trên địa bàn tỉnh tiếp tục được quan tâm, đẩy mạnh phát triển. Với lợi thế điều kiện tự nhiên và nguồn lợi mặt nước lớn từ nhiều sông, hồ phù hợp nuôi cá đặc sản bằng lồng trên sông, hồ như: Cá tầm, cá lăng chấm, bỗng, chiên, … khí hậu thuận lợi để ươm nuôi cá tầm tại các bể bồn. Đồng thời việc nuôi trồng một số loài cá trọng điểm của tỉnh vẫn rất được quan tâm, chú trọng như: Cá trắm, chép, rô phi, …

Sản lượng nuôi trồng thủy sản 9 tháng ước đạt 12.508,58 tấn, tăng 8,37% so với cùng kỳ năm 2025 (trong đó: Cá đạt 12.417,87 tấn, tăng 8,37%; thủy sản khác đạt 87,35 tấn, tăng 9,05%). Sản lượng khai thác ước đạt 1.934,2 tấn, tăng 7,74%.

Tình hình sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản 9 tháng đầu năm 2026 vẫn duy trì ở mức ổn định. Trong đó, một số ngành như chăn nuôi phát triển cơ bản ổn định, tiến độ gieo trồng của một số loại cây trồng có tăng so với cùng kỳ năm trước... Đây là cơ sở để bảo đảm nguồn cung lương thực, thực phẩm cho người dân trên địa bàn.

7. Sản xuất công nghiệp

7.1. Về phát triển công nghiệp trong tháng

- Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) trong tháng giảm 0,55% so với tháng trước, tăng 5,23% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Ngành sản xuất và và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí giảm 11,88%, giảm 6,27%; khai khoáng giảm 17,10%, giảm 10,34%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,42%, tăng 15,32%; cung cấp nước và hoạt động thu gom xử lý rác, nước thải tăng 1,68%, giảm 1,13%.

- Trong tháng, một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng so với tháng trước và tăng so với cùng kỳ năm trước như: Cát tự nhiên đạt 19.641 m3, tăng 2,93%, tăng 6,92%; chè (trà) nguyên chất đạt 1.534 tấn, tăng 4,38%, tăng 8,56%; bột giấy hóa học từ gỗ đạt 19.227 tấn, tăng 16,35%, tăng 25,45%;...Tuy nhiên, cũng có một số sản phẩm công nghiệp giảm so với tháng trước và giảm so với cùng kỳ như:Đá xây dựng đạt 26.974 tấn, giảm 20,06%, giảm 45,16%; bột Felspat đạt 9.000 tấn, giảm 2,17%, giảm 3,23%;…

7.2. Về phát triển công nghiệp trong quý III/2026

- Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) quý III/2026 ước tính tăng 9,10% so với quý cùng kỳ, trong đó: Sản xuất và phân phối điện tăng 3,85%; cung cấp nước và xử lý rác, nước thải giảm 1,15%; khai khoáng giảm 2,24%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 14,25%.

- Trong quý III/2026 một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu của tỉnh đạt mức tăng trưởng khá so với quý cùng kỳ như: Cát tự nhiên tăng 18,97%; chè (trà) tăng 40%; xi măng tăng 12,53%; giày dép thể thao có mũ bằng da tăng 19,66%;…Tuy nhiên, cũng có một số sản phẩm công nghiệp giảm so với quý cùng kỳ như: Bột Felspar giảm 1,08%; áo sơ mi người lớn giảm 23,34%; mangan giảm 19,62%;…

7.3. Về phát triển công nghiệp 9 tháng đầu năm 2026

- Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp 9 tháng đầu năm 2026 tăng 9,03% so với cùng kỳ năm trước, Chia theo từng ngành kinh tế cấp I như sau:

+ Ngành khai khoáng giảm 7,73%. Nguyên nhân chủ yếu là do Công ty cổ phần đầu tư khoáng sản An Thông chất lượng quặng khai thác xấu, công ty tập trung hoàn tất thủ tục xin khai thác mỏ mới để có quặng tốt hơn nên sản lượng sản xuất của doanh nghiệp giảm.

+ Ngành sản xuất và phân phối điện tăng 6,06%, nguyên nhân do do 05 nhà máy thủy điện đã hòa lưới phát điện cùng với thời tiết năm nay mưa nhiều hơn và mùa mưa cũng kết thúc muộn hơn so với năm trước. Một số thủy điện có sản lượng điện 6 tháng tăng cao so với cùng kỳ: Thủy điện Sông Miện 5N tăng 32,92%; Xuân Thiện Hà Giang tăng 35,61%; Sông Lô 4N tăng 82,44%; Sông Chảy 6N tăng 39,34%; Sông Lô 2N tăng 130,0%....

+ Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 11,30%, trong đó: Sản xuất chế biến thực phẩm tăng 18,06%; dệt tăng 20,33%; sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 76,13%; giường, tủ, bàn, ghế tăng 30,12%,...

+ Ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 2,16%; do hoạt động thu gom, xử lý rác thải tăng 6,88% so cùng kỳ.

- Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng so với cùng kỳ năm trước như: Điện sản xuất tăng 5,07%; cát tự nhiên tăng 18,42%; cấu kiện làm sẵn tăng 43,80%;… Tuy nhiên, một số sản phẩm công nghiệp có chiều hướng giảm so với cùng kỳ như: Áo sơ mi cho người lớn giảm 13,91%; bột barit giảm 48,89%;…

Với quyết tâm đưa công nghiệp thành trụ cột tăng trưởng, tỉnh Tuyên Quang đang tập trung cải thiện môi trường đầu tư và hoàn thiện hạ tầng để lấp đầy các khu, cụm công nghiệp, hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững sau sáp nhập. Với mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số trong năm 2026, ngành công nghiệp tiếp tục được xác định là động lực quan trọng nhất. Tỉnh đã triển khai nhiều giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp, từ tổ chức đối thoại, tiếp nhận kiến nghị đến rà soát, tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc liên quan đến thủ tục đầu tư, đất đai, tiến độ dự án. Khi điểm nghẽn được khơi thông, nguồn lực được phát huy, doanh nghiệp có thêm niềm tin và động lực tăng tốc, qua đó góp phần tạo việc làm, tăng nguồn thu và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của tỉnh.

8. Thương mại và Dịch vụ

Đẩy nhanh tiến độ triển khai Dự án Siêu thị GO! Tuyên Quang để đẩy nhanh tiến độ, sớm đưa dự án vào hoạt động trong quý IV năm 2026 để kích cầu tiêu dùng, phát triển thương mại dịch vụ trên địa bàn; đồng thời thúc đẩy phát triển hạ tầng thương mại[1]. Tổ chức hiệu quả Hội chợ OCOP tỉnh Tuyên Quang năm 2026; khai trương “Chợ phiên, chợ số” gắn với quảng bá du lịch và tiêu thụ sản phẩm trên nền tảng số tại xã Hồng Thái; khai mạc Ngày hội “Mùa vàng trên Cao Đường” năm 2026. Chú trọng thương mại điện tử, tiếp tục hoàn thiện các nền tảng số, hỗ trợ quảng bá sản phẩm địa phương trên nền tảng số.

8.1. Doanh thu bán lẻ hàng hóa

Doanh thu bán lẻ hàng hóa trong tháng ước đạt 4.232 tỷ đồng, tăng 3,48% so với tháng trước, tăng 35,42% so với tháng cùng kỳ. Trong đó, một số nhóm hàng tăng so với tháng trước, tăng so với cùng kỳ, cụ thể như sau: Hàng lương thực, thực phẩm đạt 1.175 tỷ đồng, tăng 5,81%, tăng 36,81%; may mặc đạt 418 tỷ đồng, tăng 3,39%, tăng 38,84%; đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình đạt 581 tỷ đồng, tăng 2,06%, tăng 12,93%;… Tính chung trong quý III/2026, doanh thu bán lẻ hàng hóa ước đạt 12.249 tỷ đồng, tăng 32,57% so với quý cùng kỳ. Tính trong 9 tháng đầu năm 2026, doanh thu bán lẻ hàng hóa ước đạt 34.022 tỷ đồng, tăng 24,52% so với cùng kỳ.

8.2. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ khác

- Trong tháng, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 771,62 tỷ đồng, tăng 18,40% so với tháng trước, tăng 51,70% so với cùng kỳ. Trong đó: Dịch vụ lưu trú đạt 88,33 tỷ đồng, tăng 39,75%, tăng 28,24%; ăn uống đạt 683,30 tỷ đồng, tăng 16,11%, tăng 32,94%. Tính chung trong quý III/2026 dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 2.046 tỷ đồng, tăng 18,60% so với quý cùng kỳ. Tính trong 9 tháng đầu năm 2026, dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 5.792,09 tỷ đồng, tăng 60,35% so với cùng kỳ.

- Trong tháng, doanh thu du lịch lữ hành ước đạt 4,38 tỷ đồng, tăng 38,90% so với tháng trước, tăng 37,87% so với cùng kỳ. Tính chung trong quý III/2026 du lịch lữ hành ước đạt 10 tỷ đồng, tăng 15,43% so quý cùng kỳ. Tính trong 9 tháng đầu năm 2026 du lịch lữ hành ước đạt 47,93 tỷ đồng, tăng 37,87%.

- Doanh thu dịch vụ khác trong tháng ước đạt 83,75 tỷ đồng, giảm 0,34% so với tháng trước, tăng 6,54% so với cùng kỳ. Tính chung trong quý III/2026 dịch vụ khác ước đạt 254 tỷ đồng, tăng 15,43% so quý cùng kỳ. Tính trong 9 tháng đầu năm 2026, dịch vụ khác ước đạt 819,01 tỷ đồng, tăng 19,27% so với cùng kỳ.

 8.3. Xuất, nhập khẩu hàng hóa

Thường xuyên nắm bắt tình hình, kịp thời hỗ trợ các doanh nghiệp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu trong bối cảnh thị trường thế giới có nhiều biến động. Tổ chức hội nghị chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả (Ban Chỉ đạo 389). Tăng cường kiểm tra, kiểm soát, đấu tranh chống buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả, hàng kém chất lượng. Tiếp tục cải cách, rút ngắn thủ tục hành chính trong lĩnh vực hải quan.

Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa trong 9 tháng đầu năm 2026 ước đạt 869,2 triệu USD, tăng 32,21% so với cùng kỳ. Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa 9 tháng ước đạt 206,5 triệu USD, tăng 22,38% so với cùng kỳ. 

9. Vận tải hàng hóa và hành khách

Từ đầu năm đến nay, nhu cầu đi du lịch, lễ hội và vận chuyển hàng hóa của người dân tăng cao; đặc biệt là trong dịp lễ hội Thành tuyên năm 2026. Các ngành chức năng đã chỉ đạo các đơn vị quản lý giao thông, Bến xe khách, các doanh nghiệp, hợp tác xã và các hộ kinh doanh cá thể vận tải trên địa bàn tỉnh chuẩn bị đầy đủ phương tiện, bảo đảm phục vụ nhu cầu đi lại của nhân dân được thuận lợi, an toàn,... chú trọng, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát về việc kê khai, niêm yết giá; xử lý các hành vi vi phạm quy định pháp luật về bảo đảm trật tự, an toàn giao thông, vi phạm nồng độ cồn, chở quá khổ, quá tải, quá số người quy định, phương tiện không bảo đảm an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường...

9.1. Doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải

- Doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải tháng 9 ước đạt 465,64 tỷ đồng, tăng 6,15% so với tháng trước, tăng 30,29% so với cùng kỳ. Trong đó, vận tải hành khách ước đạt 120,97 tỷ đồng, tăng 10,31%, tăng 35,88%; vận tải hàng hóa ước đạt 342,04 tỷ đồng, tăng 4,77%, tăng 28,46%; kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 1,87 tỷ đồng, tăng 5,52%, tăng 25,46%; bưu chính, chuyển phát đạt 0,76 tỷ đồng, tăng 3,19%, tăng 25,74%.

- Ước thực hiện quý III/2026 doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 1.353,21 tỷ đồng, tăng 19,18% so với quý cùng kỳ. Trong đó, vận tải hành khách ước đạt 346,50 tỷ đồng, tăng 33,28%; vận tải hàng hóa ước đạt 999,02 tỷ đồng, tăng 14,92%; kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 5,46 tỷ đồng, tăng 26,01%; bưu chính, chuyển phát đạt 2,23 tỷ đồng, tăng 22,93%.

- Tính chung, trong 9 tháng đầu năm 2026, doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 4.049,26 tỷ đồng, tăng 20,39% so với cùng kỳ. Trong đó, doanh thu vận tải hành khách ước đạt 1.083,4 tỷ đồng, tăng 25,53%; vận tải hàng hóa ước đạt 2.941,57 tỷ đồng, tăng 18,59%; kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 16,89 tỷ đồng, tăng 19,57%; bưu chính, chuyển phát đạt 7,40 tỷ đồng, tăng 27,83%.

9.2. Vận tải hành khách và hàng hóa

9.2.1. Vận tải hành khách

- Hành khách vận chuyển trong tháng 9 ước đạt 1,88 triệu lượt hành khách, tăng 11,26% so với tháng trước, tăng 29,25% so với cùng kỳ; khối lượng hành khách luân chuyển ước đạt 161,45 triệu lượt hành khách.km, tăng 11,75%, tăng 32,86%.

- Ước thực hiện quý III/2026, hành khách vận chuyển ước đạt 5,4 triệu lượt hành khách, tăng 26,74% so với quý cùng kỳ; hành khách luân chuyển ước đạt 456,1 triệu lượt hành khách.km, tăng 24,91%.

- Tính chung trong 9 tháng, hành khách vận chuyển ước đạt 16,86 triệu lượt hành khách, tăng 20,26% so với cùng kỳ; hành khách luân chuyển ước đạt 1.371,42 triệu lượt hành khách.km, tăng 18,57%.

9.2.2. Vận tải hàng hóa

- Hàng hóa vận chuyển trong tháng 9 ước đạt 2,19 triệu tấn, tăng 8,08% so với tháng trước, tăng 29,35% so với cùng kỳ; hàng hóa luân chuyển ước đạt 132,98 triệu tấn.km, tăng 4,13%, tăng 28,14%.

 - Ước thực hiện quý III/2026, hàng hóa vận chuyển ước đạt 6,32 triệu tấn, tăng 22,10% so với quý cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 393,76 triệu tấn.km, tăng 23,84%.

- Tính chung trong 9 tháng, hàng hóa vận chuyển ước đạt 18,93 triệu tấn, tăng 15,26% so với cùng kỳ; hàng hóa luân chuyển ước đạt 1.210,65 triệu tấn.km, tăng 19,29%.

10. Về du lịch

Tỉnh đã tập trung tổ chức nhiều chương trình, sự kiện thu hút du lịch như: Chương trình ký kết Biên bản ghi nhớ hợp tác về truyền thông, quảng bá văn hóa, du lịch tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 2026-2031; Tổ chức thành công Lễ hội Thành Tuyên năm 2026; “Festival nông sản, OCOP, làng nghề gắn kết du lịch - Tuyên Quang năm 2026, thu hút đông đảo du khách đến tham dự; chuẩn bị các điều kiện để tổ chức Lễ hội hoa Tam giác mạch năm 2026 và các hoạt động hưởng ứng Lễ hội. Tổ chức tái đánh giá Công viên địa chất toàn cầu cao nguyên đá Đồng Văn lần thứ IV năm 2026; Kế hoạch về tăng cường các giải pháp phát triển du lịch 5 tháng cuối năm 2026 của Ban Chỉ đạo Phát triển Du lịch và Công viên địa chất toàn cầu Cao nguyên đá Đồng Văn nhằm thu hút khách du lịch, phát triển dịch vụ kèm theo du lịch góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng.

Tháng 9 năm 2026, ước toàn tỉnh đón 410.034 lượt khách du lịch, tăng 9% so với cùng kỳ (trong đó 43.034 lượt khách quốc tế, 362.000 lượt khách khách nội địa).

Quý III năm 2026 ước đón 1.150.398 lượt khách du lịch, tăng 20,6% (trong đó 155.398 lượt khách quốc tế; 995.000 lượt khách nội địa), tổng chi tiêu từ khách du lịch đạt 3.128,9 tỷ đồng, tăng 22,9%.

Trong 9 tháng năm 2026, toàn tỉnh ước đón 3.243.766  lượt khách du lịch (trong đó: 567.443  lượt khách quốc tế, 2.676.323 lượt khách nội địa), tăng 8,9%; tổng chi tiêu khách du lịch ước đạt 8.984,2  tỷ đồng, tăng 11%.

II. LĨNH VỰC VĂN HÓA - XÃ HỘI

1. Về lao động việc làm

Đẩy mạnh các hoạt động kết nối cung - cầu lao động, hỗ trợ người lao động tìm kiếm, tiếp cận cơ hội việc làm phù hợp với trình độ, kỹ năng và nhu cầu của thị trường lao động, nhất là đợt tuyển dụng lao động của Tập đoàn Vingroup và Siêu thị Go Tuyên Quang; trong 9 tháng năm 2026 đưa 791 lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; các doanh nghiệp, đơn vị được tỉnh cấp phép đã đưa được 5.876 lượt lao động sang Trung Quốc làm việc theo thỏa thuận quản lý lao động qua biên giới.

2. Đời sống dân cư

Từ đầu năm đến nay, tình hình đời sống dân cư trên địa bàn tỉnh tiếp tục ổn định. Giá cả các mặt hàng thiết yếu không có biến động lớn, duy trì sự bình ổn. Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong các khu, cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh cơ bản đạt kế hoạch đề ra, đa số doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả và phát triển, không xảy ra tình trạng cắt giảm giờ làm, nghỉ việc, nghỉ luân phiên và chấm dứt hợp đồng với người lao động, đời sống của người lao động trong các công ty đang dần được cải thiện. Tiếp tục Triển khai Kế hoạch thực hiện công tác giảm nghèo bền vững năm 2026.

3. Công tác người có công, giảm nghèo, bảo trợ xã hội và phòng chống tệ nạn xã hội

Tổ chức phát động Phong trào thi đua thực hiện chính sách đối với người có công với cách mạng và công tác đền ơn đáp nghĩa, nhân kỷ niệm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2026); tổ chức thăm, tặng quà các gia đình thân nhân người có công với cách mạng, gia đình thương binh, liệt sỹ với 35.718 suất quà cho hộ gia đình người có công và các đơn vị với tổng trị giá hơn 15,96 tỷ đồng (Quà Chủ tịch nước: 10.774 người, 3,32 tỷ đồng; Quà từ ngân sách tỉnh: 11.751 người, 6,22 tỷ đồng; 05 đơn vị trung tâm điều dưỡng với số tiền 25 triệu đồng; Quà từ ngân sách xã: 6.103 người, 2,21 tỷ đồng; Quà từ nguồn xã hội hoá, các đơn vị, tổ chức và các cá nhân thăm tặng: 7.085 người, với số tiền 4,19 tỷ đồng. Thực hiện tốt công tác chăm lo đời sống các đối tượng chính sách; duy trì việc chi trả trợ cấp ưu đãi thường xuyên hằng tháng cho trên 9.000 người có công, thân nhân người có công và các đối tượng chính sách khác đang hưởng trợ cấp trên địa bàn tỉnh.

 Duy trì công tác tiếp nhận, quản lý, điều trị, cai nghiện cho người nghiện ma túy tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh, tại thời điểm báo cáo Cơ sở đang quản lý tổng 217 học viên cai nghiện ma túy bắt buộc. Cai nghiện bắt buộc 209 học viên, cai nghiện tự nguyện 8 học viên.

4. Hoạt động giáo dục và đào tạo

Tổ chức Hội nghị tổng kết năm học 2025-2026, triển khai nhiệm vụ năm học 2026-2027; Lễ khai giảng năm học 2026-2027 trên địa bàn tỉnh. Lễ khánh thành công trình Trường phổ thông nội trú Tiểu học và THCS Thanh Thủy, Trường Phổ thông nội trú Tiểu học và THCS Minh Tân. Kiểm tra tiến độ thi công và tổ chức họp Ban Chỉ đạo xây dựng trường học cho các xã biên giới; Hoàn thành sắp xếp tổ chức lại cơ sở giáo dục đại học công lập và cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập; sắp xếp mạng lưới cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông và giáo dục thường xuyên công lập trên địa bàn tỉnh (từ 1.063 cơ sở giảm xuống còn 578 cơ sở, giảm 485 cơ sở, tương ứng 45,6%). Triển khai các nội dung thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo.

5. Hoạt động y tế

Quan tâm, nâng cao chất lượng công tác khám, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe Nhân dân. Đẩy mạnh triển khai bệnh án điện tử, có 21/35 đơn vị khám chữa bệnh ([1công lập và ngoài công lập) đã hoàn thiện hồ sơ bệnh án điện tử. Làm tốt công tác thường trực cấp cứu tai nạn giao thông, ngộ độc thực phẩm[1]. Triển khai Bệnh án điện tử đạt kết quả tích cực[2]. Đẩy mạnh công tác truyền thông, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp, các ngành, gia đình và cộng đồng trong công tác bảo vệ trẻ em, phòng, chống bạo lực, xâm hại trẻ em. Trong 9 tháng năm 2026 thực hiện khám, chữa bệnh cho 2.059.059 lượt người đạt 89,0% kế hoạch[3]; trong đó, đã tổ chức khám sức khỏe miễn phí cho trên 143.000 lượt người dân các xã vùng biên giới.

6. Hoạt động văn hoá, thể dục, thể thao             

Tiếp tục thực hiện các bước lập Quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi Danh lam thắng cảnh quốc gia đặc biệt Khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang - Lâm Bình. Phối hợp tổ chức Cầu truyền hình “Sao sáng dẫn đường” tại điểm cầu của tỉnh nhân Kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947-27/7/2026). Hưởng ứng Chương trình đi bộ “Cùng Việt Nam tiến bước” năm 2026 tổ chức tại Quảng trường Nguyễn Tất Thành (phường Minh Xuân) với hơn 4.500 cán bộ, chiến sĩ, đoàn viên, thanh niên và người dân tham gia; Giải chạy Marathon “Tuyên Quang - Nơi vẻ đẹp hội tụ” năm 2026 với gần 1.000 vận động viên tham gia. Chuẩn bị các điều kiện phục vụ khánh thành Bảo tàng ATK Tân Trào và Phòng chiếu phim. Triển khai các hoạt động truyền thông hưởng ứng Ngày Dân số Thế giới năm 2026; tuyên truyền Cuộc thi sáng tác mẫu biểu trưng APEC 2027 và Cuộc thi sáng tác tranh cổ động tuyên truyền kỷ niệm 80 năm Ngày Toàn quốc kháng chiến; tổng kết và trao giải Cuộc thi Đại sứ Văn hóa đọc năm 2026. Tham gia Giải Vô địch Điền kinh quốc gia U20 và U23 quốc gia tại tỉnh Cà Mau; giải Vô địch Bóng ném trẻ quốc gia tại tỉnh Lâm Đồng; Giải Bóng đá U9 quốc gia (Giải xã hội hoá); giải Vô địch trẻ Vật cổ điển, vật tự do quốc gia, tổ chức tại tỉnh Ninh Bình;…

7. Tình hình an toàn giao thông, thiên tai và phòng chống cháy, nổ

7.1. Về an toàn giao thông

 Trong tháng, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 19 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 7 người và bị thương 12 người. So với tháng trước tăng 46,15% về số vụ tai nạn, số người chết giữ nguyên, số người bị thương tăng 71,43%. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông tăng 11,76, số người chết giảm 46,15%, số người bị thương tăng 9,09%.

Trong quý III/2026, toàn tỉnh đã xảy ra 47 vụ tai nạn giao thông, làm chết 26 người và làm bị thương 22 người. So với cùng quý trước: Số vụ tai nạn giao thông tăng 11,9%; số người chết giảm 21,21%; số người bị thương giảm 8,33%.

Trong 9 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh đã xảy ra; 139 vụ tai nạn giao thông, 79 người chết và 71 người bị thương. So với cùng kỳ năm trước: Số vụ tai nạn giao thông giảm 2,8%; số người chết giảm 8,14%; số người bị thương giảm 19,32%.

7.2. Về cháy nổ

Tháng 9/2026, toàn tỉnh xảy ra 03 vụ cháy, nổ. Tính chung 9 tháng đầu năm, trên địa bàn tỉnh xảy ra 18 vụ cháy, không gây thiệt hại về người, thiệt hại về tài sản ước tính 1.145 triệu đồng.

7.3. Thiệt hại do thiên tai

7.3.1. Thiệt hại do thiên tai 9 tháng đầu năm 2026

Trong 9 tháng đầu năm 2026, tình hình thiên tai trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang có nhiều diễn biến phức tạp, bất thường. Mưa lớn, dông lốc, sét, mưa đá, lũ quét, ngập úng và sạt lở đất, tập trung nhiều tại các địa bàn miền núi, vùng có địa hình dốc và khu vực ven sông, suối đã gây thiệt hại về con người, nhà ở, sản xuất nông nghiệp và hệ thống giao thông, công trình công cộng, đồng thời gây ảnh hưởng đến đời sống, sinh hoạt của người dân tại các khu vực có nguy cơ cao.

- Thiệt hại về người: 06 người chết; 10 người bị thương.

- Thiệt hại về nhà ở: 1.782 ngôi nhà (27 nhà thiệt hại trên 70%; 805 nhà thiệt hại từ 50-70%; 950 nhà thiệt hại từ 30-50%; 64 nhà bị ngập nước);

- Thiệt hại về nông nghiệp:  4.031,26 ha hoa màu bị thiệt hại; Thiệt hại về chăn nuôi, thuỷ sản: 102 con vật nuôi khác, 95 con gia súc, 3.866 con gia cầm;

- Thiệt hại về giao thông: 8.836 m đường, 42 công tình cầu, cống qua đường bị hư hỏng, 1.436 điểm giao thông bị ách tắc.

- Thiệt hại về thuỷ lợi: 22 công trình, 6.205 m kênh bị hư hỏng;

- Thiệt hại khác: Thiệt hại về giáo dục: 68 trường học bị thiệt hại; Thiệt hại về y tế: 07 cơ sở y tế bị ảnh hưởng; Thiệt hại về văn hoá: 13 nhà văn hoá bị hư hỏng;….

8. Một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm 3 tháng cuối năm 2026

Với quyết tâm hoàn thành cao nhất các mục tiêu, chỉ tiêu kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh đã đề ra trong năm 2026. Để phấn đấu hoàn thành các mục tiêu theo kế hoạch cần phải tiếp tục thực hiện tốt một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm sau:

Một là, Thường xuyên theo dõi, nắm chắc tình hình sản xuất của các doanh nghiệp công nghiệp; kịp thời hỗ trợ tháo gỡ khó khăn, vướng mắc về thị trường, vốn, nguyên liệu, tạo điều kiện để doanh nghiệp phát huy công suất, duy trì ổn định sản xuất, phấn đấu hoàn thành mục tiêu tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp theo kế hoạch. Tập trung đôn đốc đẩy nhanh tiến độ các dự án đã được phê duyệt chủ trương đầu tư. Xây dựng Quy định về quản lý an toàn trong sử dụng điện.

Khẩn trương triển khai việc lập quy hoạch chung đô thị và nông thôn thuộc thẩm quyền cấp xã, đảm bảo phù hợp với các cấp độ quy hoạch còn hiệu lực, các quy chuẩn, tiêu chuẩn hiện hành và tuân thủ theo đúng trình tự, thủ tục, quy định của pháp luật. Xây dựng Quyết định quy định về trình tự, thủ tục phê duyệt điều chỉnh cục bộ quy hoạch đô thị và nông thôn đã được UBND tỉnh phê duyệt do UBND cấp xã tổ chức lập. Triển khai các bước lập điều chỉnh Quy hoạch chung xây dựng Khu kinh tế cửa khẩu Thanh Thủy; Quy hoạch chung Khu du lịch quốc gia Cao nguyên đá Đồng Văn; Quy hoạch chung Khu du lịch quốc gia Tân Trào,... Khẩn trương triển khai thực hiện điều chỉnh Chương trình phát triển nhà ở tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 2021 - 2030, định hướng đến năm 2045.

Thực hiện công bố giá vật liệu xây dựng hằng tháng bảo đảm kịp thời, đúng quy định. Tăng cường kiểm tra, hướng dẫn, theo dõi sát diễn biến thị trường, không để xảy ra tình trạng giá công bố thấp hơn giá bán vật liệu xây dựng trên thị trường, gây khó khăn cho chủ đầu tư, nhà thầu và làm phát sinh tiêu cực. Công bố, điều chỉnh đơn giá vật liệu xây dựng, đơn giá nhân công xây dựng, ca máy và thiết bị thi công bảo đảm phù hợp với mặt bằng giá thị trường, làm cơ sở cho việc lập, thẩm định và triển khai các dự án đầu tư trên địa bàn.

Hai là, Tập trung rà soát, xử lý các dự án chậm tiến độ, tồn đọng, kéo dài trên địa bàn tỉnh, phân loại để xác định phương án xử lý phù hợp; đối với các dự án có khả năng tiếp tục triển khai thì tập trung tháo gỡ khó khăn, đẩy nhanh tiến độ; đối với các dự án không còn phù hợp hoặc không đủ điều kiện thực hiện thì xem xét điều chỉnh, chấm dứt hoặc xử lý theo quy định của pháp luật. Nâng cao chất lượng công tác chuẩn bị đầu tư và tổ chức thực hiện dự án; chủ động, linh hoạt trong thực hiện thủ tục đầu tư và công tác giải phóng mặt bằng; tập trung đẩy nhanh tiến độ thi công các dự án, đặc biệt là các dự án trọng điểm trên địa bàn tỉnh như: Dự án Cao tốc Tuyên Quang - Hà Giang (giai đoạn 1); Bệnh viện Đa khoa tỉnh Tuyên Quang; Dự án đường và từ khu du lịch suối khoáng Mỹ Lâm đến QL2D kết nối với đường cao tốc Tuyên Quang - Phú Thọ,…

Ba là, Tổ chức thực hiện nghiêm túc, kịp thời, đầy đủ các cơ chế, chính sách về tiền tệ và hoạt động ngân hàng. Tiếp tục triển khai các giải pháp thúc đẩy tăng trưởng tín dụng gắn với nâng cao chất lượng tín dụng; tăng cường kiểm soát và xử lý nợ xấu, bảo đảm an toàn hoạt động của hệ thống các tổ chức tín dụng trên địa bàn. Tiếp tục thực hiện cải cách, rút ngắn thủ tục hành chính trong lĩnh vực hải quan, thuế; rút ngắn thời gian thông quan hàng hóa, giảm chi phí cho doanh nghiệp, người nộp thuế, tạo thuận lợi thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu. Công tác sắp xếp, xử lý tài sản công là các trụ sở dôi dư: Tiếp tục hướng dẫn các cơ quan, tổ chức, đơn vị thực hiện sắp xếp, bố trí, xử lý các cơ sở nhà, đất, tài sản công khi sắp xếp tổ chức theo đúng các quy định của pháp luật.

Bốn là, Tiếp tục theo dõi chặt chẽ tình hình thời tiết, chủ động xây dựng các phương án phòng chống thiên tai, cảnh báo mưa lũ nhắm hạn chế tối thiểu thiệt hại về người và tài sản do thiên tai gây ra. Thực hiện tốt các chính sách về an sinh xã hội, lao động, việc làm, công tác trợ giúp đột xuất, bảo đảm người dân khi gặp rủi ro, thiên tai được hỗ trợ kịp thời, khắc phục khó khăn ổn định cuộc sống. Tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát bảo đảm an ninh trật tự, an toàn giao thông và phòng chống cháy nổ.


THỐNG KÊ TỈNH TUYÊN QUANG