Tình hình kinh tế - xã hội tháng 11 năm 2025 tỉnh Tuyên Quang
I. PHÁT TRIỂN KINH TẾ
Tháng 11 năm 2025, tình hình trong nước và thế giới tiếp tục biến động phức tạp, nhiều khó khăn, thách thức lớn. Trong tỉnh, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo tập trung, thống nhất của Tỉnh ủy; sự giám sát chặt chẽ của Hội đồng nhân dân tỉnh, Ủy ban nhân dân tỉnh đã chủ động chỉ đạo quyết liệt, có trọng tâm, trọng điểm, khẩn trương triển khai thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp trên tất cả các lĩnh vực kinh tế - xã hội. Đẩy mạnh sản xuất, kinh doanh trên các lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp, xây dựng, thương mại, dịch vụ để thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế năm 2025; tiếp tục tăng cường các biện pháp phòng, chống dịch Tả lợn Châu Phi; khắc phục hậu quả do thiên tai gây ra, đặc biệt là hậu quả của hoàn lưu cơn bão số 10 và 11, khôi phục sản xuất, ổn định đời sống nhân dân. Kết quả đạt được cụ thể ở các ngành, lĩnh vực như sau:
1. Về sản xuất nông nghiệp (tính đến ngày 20/11/2025)
1.1. Trồng trọt
1.1.1. Sản xuất vụ mùa năm 2025
Trong tháng 11, các hoạt động sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh diễn ra trong điều kiện thời tiết tương đối thuận lợi. Bà con nhân dân tập trung hoàn thành thu hoạch lúa, ngô và các loại cây trồng vụ Mùa, đồng thời đẩy nhanh tiến độ gieo trồng cây vụ Đông năm 2025 – 2026 đảm bảo khung thời vụ, chủ động các phương án phòng, chống dịch bệnh trên cây trồng; cơ cấu cây trồng được chuyển hướng tích cực.
- Cây lúa: Toàn tỉnh đã thu hoạch 52.253,22 ha, đạt 98,73% so với diện tích lúa đã cấy. Diện tích còn lại chưa thu hoạch là 671,34 ha.
- Cây ngô, lạc, đậu tương, rau đã thu hoạch 100% diện tích gieo trồng.
1.1.2. Về sản xuất vụ đông
Nhìn chung tiến độ gieo trồng cây hàng năm vụ Đông 2025-2026 tăng nhẹ so với cùng kỳ do trong tháng thời tiết thuận lợi, không có mưa lớn xảy ra. Tiến độ gieo trồng tính đến ngày 20/11/2025 của các địa phương trên địa bàn tỉnh (đất ruộng 2 vụ) như sau:

- Ngô lấy hạt: Diện tích gieo trồng đạt 5.465 ha, tăng 1,37%.
- Khoai lang: Diện tích gieo trồng đạt 1.024 ha, tăng 0,89%.
- Đậu tương: Diện tích gieo trồng đạt 36 ha, bằng 100%.
- Lạc: Diện tích gieo trồng đạt 28 ha, bằng 100%.
- Rau các loại: Diện tích gieo trồng đạt 7.309 ha, tăng 3,21%.
1.2. Tình hình sinh vật gây hại
a. Cây hàng năm vụ Đông: Cây ngô: Sâu keo mùa thu gây hại rải rác, mật độ nơi cao 1-2 con/m2, cục bộ 3-4 con/m2. Diện tích nhiễm 10 ha tại các xã: Bằng Hành, Bắc Quang, Xuân Giang, Tân Quang, Tiên Yên, Hùng An, Tân Trịnh. Bệnh đốm lá gây hại rải rác. Cây rau vụ Đông: bọ nhảy, sâu xanh bướm trắng, sâu khoang, bệnh thối nhũn, bệnh lở cổ rễ gây hại rải rác.
b. Cây lâu năm: Cây chè (ra búp): Bọ xít muỗi gây hại rải rác, nơi cao 3-5% số búp, cục bộ 8-10% số búp. Diện tích nhiễm 23 ha tại các xã: Hùng An, Quang Bình, Tân Trịnh, Bắc Quang, Tiên Yên, Bằng Lang, Vĩnh Tuy. Cây có múi; Bệnh vàng lá, thối rễ (do bệnh greening, nấm...) gây hại phổ biến 1-3%, nơi cao 4-6%, cục bộ 10-12% số cây. Diện tích nhiễm 56 ha tại các xã: Phù Lưu, Hàm Yên, Yên Phú, Bạch Xa, Hùng An, Vĩnh Tuy, Đồng Yên, Tiên Yên, Bằng Lang.
c. Cây lâm nghiệp: Sâu ăn lá, bệnh chết héo trên cây keo, bệnh đốm lá, khô cành trên cây bạch đàn, sâu xanh ăn lá trên cây bồ đề gây hại rải rác.
1.3. Về chăn nuôi

- Đàn trâu: Tổng đàn là 218.889 con, giảm 2,62% (giảm 5.878 con) so với cùng kỳ năm 2024. Xu hướng giảm đàn trâu vẫn tiếp diễn do hiệu quả kinh tế không cao và diện tích chăn thả bị thu hẹp.
- Đàn bò: Tổng đàn là 175.698 con, tăng 0,57% (tăng 992 con). Đàn bò sữa 6.781 con, tăng 0,27% (tăng 18 con). Đàn bò tiếp tục tăng nhẹ nhờ các chính sách hỗ trợ phát triển chăn nuôi của tỉnh.
- Đàn lợn: Tổng đàn là 1.187.412 con, giảm 2,95% (giảm 36.083 con). Đàn lợn vẫn chịu ảnh hưởng từ dịch tả lợn Châu Phi tái phát ở một số nơi, khiến việc tái đàn còn gặp khó khăn.
- Đàn gia cầm: Tổng đàn là 13.742,21 nghìn con, tăng 3,53% (tăng 467,96 nghìn con). Trong đó: Đàn gà là 12.421,18 nghìn con, tăng 3,19% (tăng 384,02 nghìn con). Chăn nuôi gia cầm phát triển tốt do nhu cầu thị trường ổn định và có nhiều mô hình liên kết hiệu quả.
1.4. Về công tác phòng chống dịch bệnh gia súc, gia cầm trong tháng
1.4.1. Công tác phòng chống và điều trị
Chi cục Thú y trên địa bàn tỉnh luôn chủ động phối hợp với các xã theo dõi chặt chẽ tình hình dịch bệnh gia súc, gia cầm, thuỷ sản, đặc biệt các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm như bệnh Dịch tả lợn Châu phi. Triển khai thực hiện đồng bộ các giải pháp phòng, chống dịch bệnh động vật.
Trong tháng Dịch tả lợn Châu Phi phát sinh tại 1.441 hộ, 39 thôn, số lợn tiêu hủy là 12.552 con/575.184 kg. Luỹ kế từ ngày 05/7/2025 đến ngày 10/11/2025, toàn tỉnh ghi nhận 194.340 con lợn mắc bệnh buộc tiêu hủy tại 21.135 hộ/1.975 thôn/117 xã; Tổng khối lượng 9.590.433 kg. Đến ngày 10/11/2025 đã có 45 xã qua 21 ngày không phát sinh ca mắc bệnh mới, 24 xã đã công bố hết dịch.
1.4.2. Công tác kiểm dịch vận chuyển động vật, sản phẩm động vật
Tiếp tục thực hiện chặt chẽ đúng quy định công tác kiểm dịch vận chuyển ngoài tỉnh, kết quả: Trong tháng 11 đã kiểm tra cấp 358 giấy chứng nhận kiểm dịch vận chuyển (trong đó: 211 chuyến, vận chuyển 19.498 con gia súc, gia cầm, 147 chuyến, vận chuyển 2.767.647 kg sữa tươi nguyên liệu). Lũy kế từ đầu năm đến nay đã cấp 3.769 giấy chứng nhận kiểm dịch vận chuyển, trong đó: 1.963 chuyến vận chuyển 269.078 con gia súc, gia cầm và 5.760 con cá giống; 1.799 chuyến vận chuyển 34.014.647 kg sữa tươi nguyên liệu và 16.040 kg sản phẩm động vật chế biến làm thức ăn chăn nuôi, các lô hàng được vận chuyển đi các tỉnh: Bắc Ninh, Hà Nội, Ninh Bình….
1.5. Về sản xuất lâm nghiệp
1.5.1. Công tác trồng rừng
Ước tháng 11 tổng diện tích rừng trồng tập trung toàn tỉnh đã trồng được 301 ha, giảm 53,54% so với cùng kỳ năm 2024; lũy kế 11 tháng đã trồng được 14.546,10 ha.

1.5.2. Khai thác gỗ rừng trồng
Ước tháng 11 toàn tỉnh khai thác được 220.968 m3 gỗ, tăng 74,83% so với cùng kỳ năm 2024. Cộng dồn 11 tháng toàn tỉnh đã khai thác được trên 1.384.020,7 m3. Sản lượng khai thác là gỗ rừng trồng nguyên liệu.
1.5.3. Công tác quản lý bảo vệ rừng
Công tác quản lý, bảo vệ rừng được các cấp, các ngành quan tâm, đồng thời tuyên truyền, vận động nhân dân tích cực tham gia thực hiện kế hoạch trồng rừng năm 2025; tuyên truyền, phổ biến giáo dục cho người dân nâng cao nhận thức về các chính sách quản lý bảo vệ và phát triển rừng; tăng cường kiểm tra, ngăn chặn việc phá rừng, đốt rừng, triệt phá các đường dây buôn bán, vận chuyển lâm sản trái phép. Thường xuyên cảnh báo nguy cơ cháy rừng, đẩy mạnh tuyên truyền về công tác phòng cháy chữa cháy rừng; phối hợp chặt chẽ với cơ quan chức năng và chính quyền cơ sở, các chủ rừng tăng cường kiểm tra, kiểm soát, phát hiện kịp thời, xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật các hành vi xâm hại rừng.
Theo báo cáo của Chi cục Kiểm lâm tỉnh, trong tháng mưa nhiều nên không phát sinh vụ cháy rừng. Lũy kế 11 tháng xảy ra 27 vụ, tăng 125% về số vụ, diện tích thiệt hại là 64,72 ha, tăng 115,24%. Trong tháng không xảy ra vụ chặt phá rừng. Lũy kế 11 tháng xảy ra 36 vụ phá rừng giảm 27 vụ so với cùng kỳ năm trước, diện tích rừng bị phá 10,09 ha giảm 12,96 ha. Số vụ phá rừng và diện tích rừng bị phá giảm mạnh do cơ quan chức năng tăng cường kiểm tra, giám sát, phát hiện và ngăn chặn kịp thời.
3. Sản xuất công nghiệp
3.1. Chỉ số phát triển công nghiệp

- Chỉ số sản xuất công nghiệp IIP trong tháng ước tính giảm 15,81% so với tháng trước, tăng 2,03% so với cùng kỳ, cụ thể của các ngành như sau: Ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí giảm 39,18%, tăng 43,95%; cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 2,25%, tăng 10,04%; khai khoáng tăng 0,2%, giảm 32,72%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 0,15%, giảm 7,99%.
Một số ngành công nghiệp cấp II trong tháng có chỉ số sản xuất tăng so với cùng kỳ năm trước như: Dệt tăng 28,57%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 118,04%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 24,91%;...
Tính chung trong 11 tháng, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 7,06% so với cùng kỳ năm trước, Chia theo từng ngành kinh tế cấp I như sau:
+ Ngành khai khoáng giảm 4,81%, nguyên nhân do một số công ty khai thác quặng kim loại gặp khó khăn nên tạm ngừng hoạt động sản xuất làm cho sản lượng khai thác giảm so với cùng kỳ.
+ Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 6,81%, do một số ngành chế biến tăng như: Dệt tăng 58,38%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 65,11%; sản xuất giường, tủ, bàn ghế tăng 23,67%;...
+ Ngành sản xuất và phân phối điện tăng 8,93% nguyên nhân là do lượng mưa từ đầu năm đến nay nhiều hơn và kết thúc muộn hơn so với cùng kỳ, các nhà máy thủy điện trên địa bàn tỉnh đã tích nước tận dụng được tối đa nguồn tài nguyên nước để sản xuất điện.
+ Ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,22%, do hoạt động khai thác, xử lý và cung cấp nước tăng.
3.2. Sản phẩm công nghiệp chủ yếu
Tháng 11 năm 2025, một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng khá so với cùng kỳ năm trước: Sắt, thép không hợp kim dạng thỏi đúc hoặc dạng thô khác ước đạt 27.000 tấn, tăng 7,87%; Mangan và sản phẩm của Mangan ước đạt 1.010 tấn, tăng 48,84%; điện sản xuất ước đạt 399 triệu Kwh, tăng 47,5%;... Tuy nhiên, cũng có một số sản phẩm giảm như bột barit ước đạt 728 tấn, giảm 81,82%; giày, dép thể thao có mũ bằng da ước đạt 800 nghìn đôi, giảm 50,57%; áo sơ mi cho người lớn dệt kim hoặc đan móc đạt 190 nghìn cái, giảm 24%;…

- Tính chung trong 11 tháng đầu năm 2025, một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng khá so với cùng kỳ năm trước: Bột Felspat tăng 13,51%; ván ép từ gỗ tăng 31,80%;...Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu giảm so với cùng kỳ năm trước như: Đá xây dựng giảm 16,57%; bột Barit giảm 60,59%; chè (trà) nguyên chất giảm 8,62%;…
Đánh giá chung: Các doanh nghiệp tiếp tục ổn định và phát triển sản xuất, tỉnh tiếp tục tư vấn, hỗ trợ các công ty, tập đoàn tìm hiểu, khảo sát môi trường đầu tư, kinh doanh để triển khai thực hiện dự án. Tổ chức các hội nghị gặp gỡ, tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh. Chỉ đạo triển khai phương án sắp xếp, tổ chức lại doanh nghiệp nhà nước và cơ cấu tổ chức bên trong các doanh nghiệp thuộc thẩm quyền quản lý, bảo đảm phù hợp với tình hình mới và yêu cầu nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
4. Vốn đầu tư, xây dựng
4.1. Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý
Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước thực hiện tháng 11 ước đạt 1.050,9 tỷ đồng, tăng 8,10% so với tháng trước. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 798,5 tỷ đồng, tăng 8,4%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã đạt 252,4 tỷ đồng, tăng 7,16%.

Tính chung trong 11 tháng, nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 8.865,3 tỷ đồng, giảm 3,97% so với cùng kỳ. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 6.770,9 tỷ đồng, tăng 0,72%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã đạt 2.094,5 tỷ đồng, giảm 11,15%.
4.2. Hoạt động xây dựng
Tập trung chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng và triển khai thực hiện các dự án trọng điểm như: Khu đô thị nghỉ dưỡng Mỹ Lâm - Tuyên Quang; dự án đầu tư hạ tầng kỹ thuật Cụm Công nghiệp Xuân Vân; nhà máy điện sinh khối Tuyên Quang… Tiếp tục tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong thực hiện các dự án đầu tư, nhất là các dự án trọng điểm của tỉnh.
Giải ngân vốn đầu tư công từ đầu năm đến ngày 15/11/2025 đạt 5.702,151/17.311,647 tỷ đồng, đạt 32,9% kế hoạch vốn được giao, trong đó: Giải ngân vốn kế hoạch năm trước được phép kéo dài là 945,42/2.377,60 tỷ đồng, đạt 39,8% kế hoạch; Giải ngân vốn kế hoạch năm 2025 là 4.756,73/14.934,04 tỷ đồng, đạt 31,8% kế hoạch.
5. Thương mại và Dịch vụ

5.1. Doanh thu bán lẻ hàng hóa
Doanh thu bán lẻ hàng hóa tháng 11 ước đạt 4.732 tỷ đồng, tăng 4,78% so với tháng trước, tăng 10,38% so với cùng kỳ. Trong đó, một số nhóm hàng tăng so tháng trước, tăng so cùng kỳ cụ thể như sau: Nhóm hàng lương thực, thực phẩm đạt 1.489 tỷ đồng, tăng 7,32%, tăng 2,55%; nhóm hàng may mặc đạt 367 tỷ đồng, tăng 3,55%, tăng 25,94%; nhóm vật phẩm văn hóa, giáo dục đạt 83 tỷ đồng, tăng 6,05%, tăng 22,90%…Ở chiều ngược lại, nhóm xăng, dầu các loại đạt 480 tỷ đồng, giảm 3,16% so với cùng kỳ;…Tính chung trong 11 tháng, tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 46.387 tỷ đồng, tăng 11,92% so với năm 2024.
5.2. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ khác
Trong tháng, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, lữ hành ước đạt 625 tỷ đồng, tăng 15,43% so với tháng trước, tăng 31,27% so với cùng kỳ. Trong đó: Dịch vụ lưu trú đạt 61 tỷ đồng, tăng 18,25%, tăng 24,68%; ăn uống đạt 556 tỷ đồng, tăng 14,45%, tăng 31,27%; du lịch lữ hành đạt 8 tỷ đồng, tăng 103,52%, tăng 125,34%. Tính chung trong 11 tháng, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, lữ hành ước đạt 5.927 tỷ đồng, tăng 17,74% so với cùng kỳ.
Doanh thu dịch vụ tiêu dùng khác trong tháng ước đạt 237 tỷ đồng, tăng 6,99% so với tháng trước, tăng 17,43% so với cùng kỳ.
5.3. Giá cả
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 11/2025 tăng 0,41% so với tháng trước, tăng 3,11% so với tháng 12 năm trước, tăng 3,34% so với cùng kỳ, tăng 2,38% so với kỳ gốc 2024. Chỉ số giá bình quân 11 tháng đầu năm 2025 tăng 2,6% so với cùng kỳ.

Chỉ số giá tiêu dùng tháng 11/2025 tăng nhẹ so với tháng trước, trong 11 nhóm hàng hóa có 07 nhóm hàng hóa có chỉ số tăng, 04 nhóm có chỉ số giảm, cụ thể như sau: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,52% nguyên nhân chủ yếu là do giá thịt lợn tăng nhẹ sau dịch; nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0,64%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,04%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,14%; nhóm giao thông tăng 0,55%; nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,36%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,44% nguyên nhân chủ yếu là do giá trang sức tăng theo giá vàng.
04 nhóm hàng giảm giá gồm: Nhóm đồ uống và thuốc lá giảm 0,06%; nhóm may mặc, mũ nón và giày dép giảm 0,18%; nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,03%; nhóm giáo dục giảm 0,01%.
Chỉ số giá bình quân 11 tháng năm 2025 tăng 2,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó 7/11 nhóm hàng có chỉ số tăng: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 3,66%; đồ uống, thuốc lá tăng 1,85%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 1,02%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 9,97%; thiết bị, đồ dùng gia đình tăng 0,19%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 9,94%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 3,23%. Có 4/11 nhóm hàng chỉ số giá giảm so với cùng kỳ như giao thông giảm 3,35%; bưu chính viễn thông giảm 0,4%; giáo dục giảm 12,05%; văn hóa, giải trí và du lịch giảm 1,03%.
Chỉ số giá vàng so với tháng trước tăng 0,35%; so với tháng 12 năm trước tăng 71,58%; so với cùng kỳ tăng 70,35%; so với kỳ gốc 2024 tăng 81,58%; bình quân 11 tháng đầu năm 2025 chỉ số giá vàng tăng 46,71%.
Chỉ số giá đô la Mỹ giảm 0,07% so với tháng trước, tăng 2,97% so với tháng 12 năm trước; tăng 2,96% so với cùng kỳ; tăng 4,30% so với kỳ gốc năm 2024; bình quân 11 tháng đầu năm 2025 chỉ số giá đô la Mỹ tăng 3,69%.
5.4. Tình hình xuất, nhập khẩu hàng hóa
Thường xuyên nắm bắt tình hình, kịp thời hỗ trợ doanh nghiệp tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy sản xuất và xuất khẩu trong bối cảnh thị trường thế giới biến động. Hoạt động xuất - nhập khẩu diễn ra thuận lợi, bảo đảm an ninh trật tự và tạo điều kiện giao thương tại cửa khẩu quốc tế Thanh Thủy - đầu mối quan trọng với tỉnh Vân Nam (Trung Quốc); lượng phương tiện và hàng hóa thông quan tăng mạnh.

Tổng kim ngạch xuất hàng hóa trong tháng 11 ước đạt 40 triệu USD, đạt 7,41% kế hoạch, tăng 64,41% so với cùng kỳ. Tổng kim ngạch nhập khẩu ước đạt 24,84 triệu USD, đạt 10,8% kế hoạch, tăng 78,96% so cùng kỳ, trong đó chủ yếu là nhập máy móc, thiết bị, phụ tùng và nguyên liệu may mặc.
Tính chung trong 11 tháng đầu năm 2025, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 759,84 triệu USD, đạt 140,71% kế hoạch, tăng 123,7% so với cùng kỳ. Kim ngạch nhập khẩu ước đạt 201,2 triệu USD, đạt 87,48% kế hoạch, tăng 24,20%.
6. Vận tải hàng hóa và hành khách
Chỉ đạo các đơn vị vận tải, bến xe, doanh nghiệp, hợp tác xã bảo đảm an toàn, lưu thông hàng hóa, phục vụ nhu cầu đi lại của nhân dân trong dịp cuối năm, bảo đảm an toàn trong cung ứng dịch vụ bưu chính, thông tin liên lạc; đồng thời phát triển các loại hình dịch vụ, góp phần vào tăng trưởng kinh tế của tỉnh.
6.1. Doanh thu vận tải tải kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải
Doanh thu vận tải trong tháng ước đạt 535,01 tỷ đồng, tăng 9,05% so với tháng trước, tăng 1,58% so với cùng kỳ. Trong đó, vận tải hành khách đạt 105,79 tỷ đồng, tăng 9,57%, tăng 2,99%; vận tải hàng hóa đạt 427,22 tỷ đồng, tăng 8,92%, tăng 1,23%; doanh thu dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 1,3 tỷ đồng, tăng 7,69%, tăng 5,21%; hoạt động bưu chính, chuyển phát đạt 0,70 tỷ đồng, tăng 12,60%, tăng 0,02%.

Tính chung trong 11 tháng đầu năm 2025, doanh thu vận tải kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 5.696,93 tỷ đồng, tăng 15,07% so với cùng kỳ. Trong đó: vận tải hành khách đạt 1.167,18 tỷ đồng, tăng 16,42%; vận tải hàng hóa đạt 4.505,11 tỷ đồng, tăng 14,74%; dịch vụ hỗ trợ vận tải kho bãi đạt 17,53 tỷ đồng, tăng 15,42%; bưu chính, chuyển phát đạt 7,11 tỷ đồng, tăng 9,83%.
6.2. Vận tải hành khách và hàng hóa
Trong tháng khối lượng hành khách vận chuyển ước đạt 1,64 triệu lượt hành khách, tăng 7,26% so với tháng trước, tăng 1,82% so với cùng kỳ; khối lượng hành khách luân chuyển ước đạt 154,09 triệu lượt hành khách.km, tăng 4,77%, tăng 4,19%. Tính chung 11 tháng đầu năm 2025, khối lượng hành khách vận chuyển ước đạt 18,77 triệu lượt hành khách, tăng 15,31% so với cùng kỳ; khối lượng hành khách luân chuyển ước đạt 1.600,04 triệu lượt hành khách.km, tăng 14,33%.
Khối lượng hàng hóa vận chuyển trong tháng ước đạt 2,73 triệu tấn, tăng 8,36% so với tháng trước, tăng 2,26% so với cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 175,03 triệu tấn.km, tăng 8,86%, tăng 3,20%. Tính chung 11 tháng đầu năm 2025, khối lượng hàng hóa vận chuyển ước đạt 29,72 triệu tấn, tăng 15,25% so với cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 1.849,32 triệu tấn.km, tăng 14,43%.
7. Về du lịch
Tổ chức thành công Lễ hội hoa Tam giác mạch lần thứ XI và đón nhận các danh hiệu du lịch năm 2025, trong đó làng Lô Lô Chải được vinh danh là một trong những "Làng du lịch tốt nhất thế giới 2025" bởi Tổ chức Du lịch Liên Hợp Quốc (UN Tourism). Phối hợp với Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam tổ chức Hội thảo “Phát triển du lịch cộng đồng bền vững tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi”; tham dự Lễ khai mạc Hội chợ kinh tế, thương mại và du lịch biên giới Việt Nam - Trung Quốc (Văn Sơn) năm 2025 và tổ chức trao đổi làm việc về hợp tác phát triển du lịch biên giới Tuyên Quang (Việt Nam) - Văn Sơn (Trung Quốc).
Trong tháng 11, toàn tỉnh đón 325.673 lượt khách du lịch, tổng chi tiêu khách du lịch đạt 902,2 tỷ đồng; lũy kế 11 tháng đón 3.566.294 lượt khách, đạt 99,1% kế hoạch, tổng chi tiêu khách du lịch đạt 9.639,1 tỷ đồng, bằng 102% kế hoạch.
II. LĨNH VỰC VĂN HÓA - XÃ HỘI
1. Công tác lao động, việc làm, giáo dục nghề nghiệp
Tiếp tục thực hiện các giải pháp hỗ trợ, tạo việc làm cho người lao động; hướng dẫn, thực hiện cấp giấy phép lao động cho người nước ngoài. Trong tháng 11 tạo việc làm cho 4.085 lao động, lũy kế 11 tháng tạo việc làm cho 44.432 lao động, đạt 105,8% kế hoạch.
2. Công tác đảm bảo chế độ người có công với cách mạng, bảo trợ, an sinh xã hội và phòng chống các tệ nạn
2.1. Công tác đối với người có công với cách mạng
Thực hiện tốt công tác chăm lo đời sống cho các đối tượng chính sách; duy trì trả trợ cấp thường xuyên cho 9.000 đối tượng người có công, thân nhân người có công và đối tượng chính sách khác đang hưởng trợ cấp hàng tháng trên địa bàn tỉnh.
2.2. Công tác bảo trợ, an sinh xã hội và phòng chống các tệ nạn
Thực hiện các giải pháp phát triển đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội, đến tháng 11 năm 2025 tỷ lệ lao động tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện đạt 4,06% (kế hoạch năm là 4,47%); tỷ lệ lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp đạt 25,47% (kế hoạch năm là 27,43%). Thực hiện các chính sách, chương trình thúc đẩy bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ; công tác tiếp nhận, quản lý, điều trị, cai nghiện cho người nghiện ma túy tại cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh. Trong tháng, Cơ sở cai nghiện của 02 tỉnh ( Tuyên Quang cũ và Hà Giang cũ) đã tiếp nhận 14 học viên, cấp giấy chứng nhận hoàn thành cai nghiện cho 13 học viên; tại thời điểm báo cáo, 2 cơ sở cai nghiện đang quản lý 235 học viên (cai nghiện bắt buộc 227 học viên, cai nghiện tự nguyện 8 học viên).
3. Hoạt động giáo dục và đào tạo
Tổ chức Lễ khởi công xây dựng 05 trường phổ thông nội trú liên cấp tiểu học và trung học cơ sở cho các xã biên giới. Công tác xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia tiếp tục được quan tâm; tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia toàn tỉnh: Mầm non đạt 64,7%; tiểu học đạt 73,9%; THCS đạt 61,7%; THPT đạt 45,3%. Tổ chức kỷ niệm Ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11/2025 đảm bảo trang trọng, tiết kiệm, ý nghĩa. Tiếp tục củng cố, ổn định mạng lưới giáo dục nghề nghiệp.
4. Hoạt động y tế
Trong tháng 11 tổ chức khám, chữa bệnh cho 235.579 lượt người; lũy kế 11 tháng khám, chữa bệnh 1.601.973 lượt người. Tổ chức khám, tư vấn và cấp thuốc miễn phí tại 34 xã vùng biên giới với 150.579 người, đạt 73,3% kế hoạch; tư vấn và cấp thuốc miễn phí trị giá trên 2.762,5 triệu đồng. Tỷ lệ trẻ em dưới 01 tuổi được tiêm đủ các loại vắc xin đạt 84,9% kế hoạch. Tỷ lệ người dân có thẻ bảo hiểm y tế đạt 95,9%.
5. Hoạt động văn hoá - thể dục, thể thao
Tiếp tục thực hiện dự án Bảo tồn, tôn tạo Khu di tích lịch sử quốc gia đặc biệt Tân Trào; dự án Bảo tồn, tôn tạo Khu di tích Ban Thường trực Quốc hội, xã Trung Yên, huyện Sơn Dương; dự án Bảo tồn Làng văn hóa truyền thống dân tộc Tày, thôn Bản Bung, xã Thanh Tương, huyện Na Hang... Tổ chức thành công giải Vật dân tộc tỉnh năm 2025; tham gia Giải Đua thuyền Canoeing Cup vô địch các đội mạnh quốc gia năm 2025...
6. Tình hình an toàn giao thông, thiên tai và phòng chống cháy, nổ
6.1. Về an toàn giao thông trong tháng
Toàn tỉnh đã xảy ra 18 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 11 người và làm bị thương 6 người. So với tháng trước số vụ tai nạn giao thông tăng 5,88%; số người chết giảm 15,38%; số người bị thương giảm 45,45%.

Tính chung 11 tháng đầu năm 2025, toàn tỉnh đã xảy ra 225 vụ tai nạn giao thông; làm chết 122 người và làm bị thương 155 người. So với cùng kỳ năm trước: Số vụ tai nạn giao thông giảm 3,02%; số người chết giảm 2,4%; số người bị thương giảm 8,28%.
6.2. Về thiên tai, cháy, nổ
Trong tháng, trên địa bàn tỉnh không ghi nhận tình hình thiên tai, cháy, nổ.
Tin khác