Tình hình kinh tế - xã hội tháng 02 năm 2026 tỉnh Tuyên Quang
I. PHÁT TRIỂN KINH TẾ
1. Về sản xuất nông nghiệp (tính đến ngày 20/02/2026)
1.1. Trồng trọt
1.1.1. Sản xuất vụ đông
Đến thời điểm báo cáo bà con nông dân trong tỉnh đang khẩn trương tiếp tục thu hoạch diện tích cây màu vụ đông, giải phóng đất phục vụ cho công tác gieo trồng các loại cây trồng vụ xuân năm 2026. Kết quả thu hoạch cụ thể như sau:
- Ngô lấy hạt: Diện tích đạt 6.912,0 ha, bằng 97,14% (giảm 203,86 ha) so với cùng kỳ. Diện tích ngô giảm chủ yếu tại các xã Vị Xuyên, Linh Hồ do một số diện tích bãi bồi ven sông bị ngập lụt, không gieo trồng được. Mặt khác diện tích bãi chăn thả của trâu, bò hạn hẹp, thức ăn cho gia súc ngày càng khan hiếm một số xã Hùng An, Đồng Yên, Quang Bình, Bằng Lang, Tiên Yên bà con chuyển đổi cây trồng từ cây ngô lấy hạt sang trồng cây ngô thức ăn chăn nuôi, chính vì vậy diện tích ngô giảm so với vụ cùng kỳ năm trước.
- Khoai lang: Diện tích đạt 1.337,88 ha, tăng 5,18% (tăng 65,86 ha) so với cùng kỳ. Diện tích khoai lang tăng tại các xã Khâu Vai, Kiến Đài, Mèo Vạc, Phú Lương.
- Đậu tương: Diện tích đạt 63,7 ha, bằng 91,01% (giảm 6,29 ha) so với cùng kỳ. Diện tích đậu tương giảm tại xã Tri Phú, Linh Phú.
- Lạc: Diện tích đạt 43,59 ha, bằng 83,14% (giảm 8,84 ha) so với cùng kỳ. Diện tích lạc giảm tại xã Tân Mỹ.
- Rau các loại: Diện tích đạt 12.207,34 ha, bằng 99,65% (giảm 43,01 ha)so với cùng kỳ. Diện tích giảm do ảnh hưởng của cơn bão BUALOI làm một số diện tích bị ngập, thời gian thu hoạch vụ Mùa bị kéo dài gây ảnh hưởng tiến độ gieo trồng vụ Đông
- Diện tích cây đậu các loại đạt 1.197,50 ha, tăng 74,59% (tăng 511,6 ha) so với cùng kỳ. Diện tích tăng tại các xã Bản Máy, Đồng Văn, Lũng Cú, Phố Bảng.
1.1.2. Sản xuất vụ xuân
Trong tháng 02, các hoạt động sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh diễn ra trong điều kiện thời tiết tương đối thuận lợi. Bà con nhân dân bắt đầu gieo trồng một số cây vụ Xuân năm 2026 đảm bảo khung thời vụ, chủ động các phương án phòng, chống dịch bệnh trên cây trồng.
Kết quả: Cây lúa đã cấy 17.518 ha, tăng 1,79% so với cùng kỳ; cây ngô 8.186 ha, tăng 0,53%; cây lạc 3.821 ha, tăng 3,53%; cây rau củ các loại 2.431 ha, tăng 4,73%;….

Theo kế hoạch lấy nước đợt 2 diễn ra trong 7 ngày, nhằm bảo đảm cho các địa phương lấy nước được thuận lợi Tập đoàn Điện lực Việt Nam đã thực hiện xả gia tăng các hồ thủy điện (hồ Hòa Bình, Thác Bà, Tuyên Quang) từ 0 giờ ngày 29/01/2026 đến 24h ngày 04/02/2026. Tỉnh đã chỉ đạo ngành chức năng và các địa phương quản lý chặt chẽ và khai thác hợp lý các nguồn nước; tăng cường nạo vét hệ thống kênh mương, đào ao trữ nước, lắp đặt và vận hành các trạm bơm dã chiến để tận dụng tối đa nguồn nước, giảm thất thoát, lãng phí nguồn nước; thực hiện các giải pháp tiết kiệm nước cho lúa và cây trồng cạn, đặc biệt với cây ăn quả, cây trồng có giá trị kinh tế cao, chuẩn bị các điều kiện để sẵn sàng bơm nước chống hạn khi cần thiết, trong đó chú trọng giải pháp cấp nước sản xuất, nước sinh hoạt cho các khu vực, các hộ dân có nguy cơ thiếu nước trong trường hợp nguồn nước bị thiếu hụt.
1.2. Tình hình sinh vật gây hại
Trên cây lúa vụ xuân bệnh nấm mốc, tập đoàn rầy, bệnh thối nhũn, chuột, rầy xanh, rầy nâu, ốc bươu vàng phát sinh rải rác. Cây ngô vụ Đông xuất hiện sâu xám, sâu keo mùa thu, bệnh huyết dụ gây hại rải rác. Trên cây rau đậu xuất hiện sâu xám, sâu khoang, bọ nhảy, sâu tơ, sâu xanh bướm trắng, sâu khoang, bệnh thối nhũn, mốc sương, đốm vòng gây hại rải rác. Nguyên nhân: Thời tiết sương mù dày ban sáng và nắng hanh ban ngày tạo điều kiện cho nấm bệnh và sâu tơ phát triển.
1.3. Về chăn nuôi
1.3.1. Về số lượng đàn gia súc, gia cầm
Tình hình chăn nuôi trong tháng duy trì ổn định, không có biến động lớn. Công tác phòng chống dịch bệnh được chú trọng, đặc biệt là các bệnh nguy hiểm như Dịch tả lợn Châu Phi. Dự ước đàn gia súc, gia cầm tháng 02/2026:

Đàn trâu 217.024 con, giảm 3,27% so với cùng kỳ năm 2025. Nguyên nhân: Hiệu quả kinh tế từ việc nuôi trâu lấy sức kéo và lấy thịt không cao bằng các loại vật nuôi khác, đồng thời diện tích chăn thả tự nhiên ngày càng bị thu hẹp do quá trình đô thị hóa và chuyển đổi mục đích sử dụng đất.
Đàn bò 175.715 con, tăng 0,41%, đàn bò tiếp tục tăng nhẹ nhờ các chính sách hỗ trợ phát triển chăn nuôi của tỉnh.
Đàn lợn 1.211.451 con, giảm 2,09%. Mặc dù hầu hết các ổ dịch tả lợn Châu Phi trên địa bàn tỉnh đã công bố hết dịch nhưng tâm lý người dân còn e ngại, chưa mạnh dạn tái đàn với số lượng lớn.
Đàn gia cầm 14.162,02 nghìn con, tăng 3,44%. Nguyên nhân: Nhu cầu thị trường ổn định, các mô hình liên kết chăn nuôi gia cầm theo chuỗi giá trị phát huy hiệu quả tốt.
1.4. Về công tác phòng chống dịch bệnh gia súc, gia cầm trong tháng
1.4.1. Công tác phòng chống và điều trị
Cơ quan chức năng phối hợp với các xã, phường theo dõi chặt chẽ tình hình dịch bệnh gia súc, gia cầm, thuỷ sản trên địa bàn, đặc biệt các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm. Trong tháng 02, tình hình dịch bệnh trong chăn nuôi được kiểm soát, hoạt động chăn nuôi phát triển ổn định.
1.4.2. Công tác kiểm dịch vận chuyển động vật, sản phẩm động vật
Tiếp tục thực hiện chặt chẽ đúng quy định công tác kiểm dịch vận chuyển ngoài tỉnh, kết quả: Trong tháng đã kiểm tra cấp 304 giấy chứng nhận kiểm dịch vận chuyển, trong đó: 112 chuyến, vận chuyển 12.718 con gia súc, gia cầm; 192 chuyến, vận chuyển 3.570.500 kg sữa tươi nguyên liệu. Lũy kế từ đầu năm đến nay đã kiểm tra cấp 609 giấy chứng nhận kiểm dịch vận chuyển, trong đó: 230 chuyến, vận chuyển 29.295 con gia súc, gia cầm; 379 chuyến, vận chuyển 7.047.000 kg sữa tươi nguyên liệu (vận chuyển đi các tỉnh: Bắc Ninh, Hà Nội, Cao Bằng, Phú Thọ, Lai Châu)...
1.5. Về sản xuất lâm nghiệp
1.5.1. Công tác trồng rừng
Ước tính trong tháng 02 tổng diện tích rừng trồng mới tập trung toàn tỉnh đã trồng được 560,3 ha, tăng 21,26% (tăng 98,25 ha), lũy kế 2 tháng đầu năm diện tích trồng rừng đạt 696,84 ha, tăng 47,14% (tăng 223,26 ha) so với cùng kỳ năm trước. Diện tích rừng trồng mới tập trung tăng mạnh do thời tiết thuận lợi các xã triển khai sớm kế hoạch trồng rừng năm 2026.

1.5.2. Khai thác gỗ rừng trồng
Trong tháng sản lượng gỗ khai thác ước đạt 98.935,2 m3 gỗ, giảm 37,49% so với cùng kỳ năm 2025. Lũy kế 2 tháng đầu năm, sản lượng gỗ khai thác đạt 177.835,8 m3, giảm 29,7% (giảm 75.135,2 m3). Sản lượng gỗ khai thác giảm do diện tích rừng sản xuất đến tuổi khai thác giảm.
1.5.3. Công tác quản lý bảo vệ rừng
Công tác quản lý, bảo vệ rừng được các cấp, các ngành quan tâm, đồng thời tuyên truyền, vận động nhân dân tích cực tham gia thực hiện kế hoạch trồng rừng năm 2026; tuyên truyền, phổ biến giáo dục cho người dân nâng cao nhận thức về các chính sách quản lý bảo vệ và phát triển rừng; tăng cường kiểm tra, ngăn chặn việc phá rừng, đốt rừng, triệt phá các đường dây buôn bán, vận chuyển lâm sản trái phép. Thường xuyên cảnh báo nguy cơ cháy rừng, đẩy mạnh tuyên truyền về công tác phòng cháy chữa cháy rừng; phối hợp chặt chẽ với cơ quan chức năng và chính quyền cơ sở, các chủ rừng tăng cường kiểm tra, kiểm soát, phát hiện kịp thời, xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật các hành vi xâm hại rừng.
Theo báo cáo của Chi cục Kiểm lâm tỉnh, trong tháng không phát sinh vụ cháy rừng, phát sinh 03 vụ phá rừng, giảm 01 vụ so với cùng kỳ, diện tích rừng bị phá 0,27 ha. Lũy kế 2 tháng đầu năm không có vụ cháy rừng, số vụ phá rừng là 07 vụ, diện tích rừng bị phá 0,53 ha số vụ phá rừng. Diện tích rừng bị phá giảm mạnh do cơ quan chức năng tăng cường kiểm tra, giám sát, phát hiện và ngăn chặn kịp thời.
1.6. Phát động Tết trồng cây “Đời đời nhớ ơn Bác Hồ” Xuân Bính Ngọ và thực hiện kế hoạch trồng rừng năm 2026
Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành Kế hoạch số 30/KH-UBND ngày 03/02/2026 về tổ chức Lễ phát động “Tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác Hồ” Xuân Bính Ngọ và phát động phong trào thi đua thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2026 (tổ chức vào ngày 23/02/2026, tức ngày mùng 7, tháng Giêng, năm Bính Ngọ) và chỉ đạo các cấp, các ngành chuẩn bị đầy đủ các điều kiện để tổ chức Tết trồng cây bảo đảm thiết thực, hiệu quả, gắn với trồng rừng, bảo vệ môi trường và phòng, chống thiên tai. Tại buổi Lễ đã trồng được 1.500 cây lát, trên diện tích 02 ha.
2. Sản xuất công nghiệp
2.1. Chỉ số phát triển công nghiệp
Chỉ số sản xuất công nghiệp IIP trong tháng giảm 16,36% so với tháng trước, giảm 0,07% so với cùng kỳ, cụ thể của các ngành như sau: Ngành khai khoáng giảm 24,70%, giảm 23,47%; công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 14,05%, giảm 2,59%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí giảm 23,66%, tăng 15,18%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải giảm 0,76%, tăng 4,42%.

Một số ngành công nghiệp cấp II có chỉ số sản xuất tăng so với cùng kỳ năm trước như: Sản xuất chế biến thực phẩm tăng 24,26%; sản xuất đồ uống tăng 376,37%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ tăng 10,36%; sản xuất giường, tủ, bàn ghế tăng 114,96%;...
Nguyên nhân chủ yếu chỉ số IIP giảm so với tháng trước là do tháng 02/2026 diễn ra kỳ nghỉ Tết Nguyên đán, số ngày thực tế hoạt động của các doanh nghiệp không đủ, cùng với các hợp đồng mới chưa được triển khai do mới bước vào đầu năm 2026. Do đó có nhiều sản phẩm công nghiệp sản lượng sản xuất giảm.
- Tính chung trong 02 tháng đầu năm 2026, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 9,28% so với cùng kỳ năm trước, Chia theo từng ngành kinh tế cấp I như sau:
+ Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 5,77%, do một số ngành chế biến tăng như: Sản xuất chế biến thực phẩm tăng 21,99%; sản xuất đồ uống tăng 66,49%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế) tăng 14,18%; sản xuất giường, tủ, bàn ghế tăng 149,17%; sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 27,52%;...
+ Ngành sản xuất và phân phối điện tăng 28%, nguyên nhân là do lượng nước tại các lòng hồ đảm bảo việc tích nước và thực hiện các đợt xả nước của Trung tâm Điều độ Hệ thống điện Quốc gia phục vụ cho gieo cấy vụ Xuân dẫn đến sản lượng điện sản xuất trong 02 tháng đầu năm tăng.
+ Ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 1,97%, do nhu cầu sử dụng nước sinh hoạt và khối lượng rác thải sau Tết tăng cao. Công ty Cổ phần Cấp thoát nước và công ty Đô thị đã tăng cường kiểm tra, bảo dưỡng máy móc, thiết bị, nhằm bảo đảm các hoạt động cấp nước và thu gom rác thải ổn định.
2.2. Sản phẩm công nghiệp chủ yếu
Trong tháng, nhóm sản phẩm chủ yếu tăng so với cùng kỳ cụ thể như sau: Điện thương phẩm đạt 143 triệu Kwh, tăng 4,76%; điện sản xuất đạt 214 triệu Kwh, tăng 17,98%; cát tự nhiên ước đạt 14.994 m3, tăng 4,79%; bê tông trộn sẵn đạt 2.000 m3, tăng 71,14%;... Một số nhóm giảm so với cùng kỳ là: Bột ba rít đạt 485 tấn, giảm 20%; áo sơ mi cho người lớn đạt 92 nghìn sản phẩm, giảm 26,40%; xi măng đạt 87.441 tấn, giảm 12,95%;...

Tính chung trong 02 tháng, một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng khá so với cùng kỳ năm trước: Điện thương phẩm đạt 309 triệu Kwh, tăng 11,37%; điện sản xuất đạt 499 triệu Kwh, tăng 32,21%; mangan và sản phẩm của mangan đạt 1.490 tấn, tăng 29,25%;...
Đánh giá chung, ngay sau kỳ nghỉ Tết Nguyên đán, các doanh nghiệp đã hoạt động trở lại với không khí khẩn trương, nghiêm túc, tư tưởng người lao động ổn định, phấn khởi, thể hiện quyết tâm cùng doanh nghiệp hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu kế hoạch đã đề ra, đảm bảo hoàn thành các đơn hàng đã được ký kết. Các doanh nghiệp đã chủ động tìm kiếm đơn hàng, mở rộng thị trường, cùng với đó là tập trung sản xuất đa dạng hóa các mặt hàng, giữ vững chất lượng và thương hiệu, nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường, tạo việc làm ổn định và thu nhập cho người lao động.
3. Vốn đầu tư, xây dựng
3.1. Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý
Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước thực hiện tháng 02 ước đạt 459,7 tỷ đồng, giảm 42,26% so với tháng trước. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 371,8 tỷ đồng, giảm 45,61%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã đạt 87,9 tỷ đồng, giảm 21,91%.

Tính chung trong 02 tháng, nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 1.256 tỷ đồng, tăng 3,97% so với cùng kỳ. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 1.055,4 tỷ đồng, tăng 10,63%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã đạt 200,5 tỷ đồng, giảm 21,04%.
3.2. Hoạt động xây dựng
Từ đầu năm đến ngày 13/02/2026, có 07 dự án được Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt điều chỉnh chủ trương đầu tư; Quyết định chấp thuận chủ trương đầu tư đồng thời chấp thuận nhà đầu tư 01 dự án, với tổng vốn đăng ký trên 20,67 tỷ đồng. Lũy kế, trên địa bàn tỉnh có 817 dự án được phê duyệt chủ trương đầu tư, cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, vốn đăng ký trên 139.566,03 tỷ đồng, có 532 dự án đã hoàn thành đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh, với tổng mức đầu tư trên 57.171 tỷ đồng.
Thực hiện cấp giấy chứng nhận đăng ký thành lập mới cho 206 doanh nghiệp, với số vốn đăng ký trên 777,03 tỷ đồng (tăng 342% so với cùng kỳ); số doanh nghiệp hoạt động trở lại 100 doanh nghiệp; giải thể 26 doanh nghiệp, tạm ngừng 201 doanh nghiệp. Lũy kế đến ngày 13/02/2026, trên địa bàn tỉnh có 6.487 doanh nghiệp, vốn đăng ký trên 94.453,3 tỷ đồng; có 09 hợp tác xã thành lập mới, với số vốn đăng ký 13,8 tỷ đồng, giải thể 02 hợp tác xã. Lũy kế toàn tỉnh có 1.649 hợp tác xã, với số vốn đăng ký 4.641,3 tỷ đồng.
4. Thương mại và Dịch vụ
Tỉnh đã tập trung chỉ đạo triển khai thực hiện quyết liệt các giải pháp đảm bảo cân đối cung cầu, bình ổn thị trường cuối năm 2025 và dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026. Tình hình thị trường hàng hóa trên địa bàn tỉnh cơ bản ổn định; giá cả hàng hóa nhìn chung không có nhiều biến động, nguồn cung hàng hóa dồi dào, đa dạng về chủng loại, phong phú về mẫu mã, kiểu dáng, chất lượng, đáp ứng nhu cầu mua sắm của người dân. Các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu, khí dầu mỏ hóa lỏng chấp hành nghiêm quy định của pháp luật đảm bảo cung ứng đầy đủ số lượng, chất lượng phục vụ nhu cầu sản xuất, tiêu dùng của người dân, doanh nghiệp tại địa phương.

4.1. Doanh thu bán lẻ hàng hóa
Doanh thu bán lẻ hàng hóa tháng 02 ước đạt 3.603 tỷ đồng, giảm 52,12% so với tháng trước, tăng 18,18% so với cùng kỳ. Trong đó, một số nhóm hàng tăng so tháng trước, tăng so cùng kỳ cụ thể như sau: Nhóm hàng lương thực, thực phẩm đạt 1.037 tỷ đồng, tăng 10,13%, tăng 14,15%; nhóm hàng may mặc đạt 365 tỷ đồng, tăng 12,13%, tăng 36,30%; nhóm vật phẩm văn hóa, giáo dục đạt 83 tỷ đồng, tăng 5,03%, tăng 37,59%…Ở chiều ngược lại, nhóm gỗ và vật liệu xây dưng đạt 513 tỷ đồng, giảm 3,69% so với cùng kỳ;…Tính chung trong 02 tháng, tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 7.009 tỷ đồng, tăng 14,48% so với năm 2025.
4.2. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ khác
Trong tháng, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, lữ hành ước đạt 588,27 tỷ đồng, tăng 0,59% so với tháng trước, tăng 17,87% so với cùng kỳ. Trong đó: Dịch vụ lưu trú đạt 53,28 tỷ đồng, tăng 2,76%, tăng 17,93%; ăn uống đạt 534,99 tỷ đồng, tăng 0,38%, tăng 15,50%; du lịch lữ hành đạt 7,3 tỷ đồng, tăng 8,28%, tăng 1,88%. Tính chung trong 02 tháng, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, lữ hành ước đạt 1.173,08 tỷ đồng, tăng 18,92% so với cùng kỳ.
Doanh thu dịch vụ khác trong tháng ước đạt 73,17 tỷ đồng, giảm 0,58% so với tháng trước, tăng 22,49% so với cùng kỳ. Tính chung trong 02 tháng, doanh thu dịch vụ khác ước đạt 146,77 tỷ đồng, tăng 16,41%.
4.3. Giá cả
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trong tháng tăng 4,15% so với cùng kỳ năm trước, tăng 2,01% so với tháng 12 năm trước, tăng 1,37% so với tháng trước. Tính chung trong 02 tháng, CPI bình quân tăng 3,63% so với cùng kỳ.

Tỉnh đã chỉ đạo tăng cường theo dõi, nắm bắt diễn biến thị trường và tình hình lưu thông hàng hóa; triển khai các phương án bảo đảm cân đối cung - cầu, bình ổn giá cả thị trường; đáp ứng nhu cầu hàng hóa thiết yếu, lương thực, thực phẩm trước, trong và sau Tết. Trong số 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính thì có 9 nhóm tăng giá so với tháng trước, 02 nhóm giảm giá.
Trong 9 nhóm hàng tăng so với tháng trước, bao gồm những nhóm hàng sau: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 4,11%, trong đó: Nhóm lương thực tăng 1,81%, nhóm thực phẩm tăng 4,8%, nhóm ăn uống ngoài gia đình tăng 2,5%, nguyên nhân là do giá các loại gạo tẻ ngon, gạo nếp, thịt lợn, bò và thịt gia cầm tăng trước và sau dịp Tết Nguyên đán; nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 3,24%, do nhu cầu tiêu dùng và sử dụng làm quà biếu tặng trong dịp Tết khiến giá rượu bia tăng; nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,43% do nhu cầu mua sắm quần áo may sẵn và giầy dép của người dân tăng; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,49%, do nhu cầu mua sắm các đồ dùng trong gia đình tăng vào dịp Tết; nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,01%; nhóm giao thông tăng 0,96% là do giá xăng, dầu điều chỉnh tăng theo giá nhiên liệu thế giới tại các kỳ điều hành giá của Tập đoàn xăng dầu Việt Nam; nhóm giáo dục tăng nhẹ 0,01%; nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 1,01%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 1,45% tập trung ở giá nhóm đồ trang sức tăng do giá vàng tăng; bên cạnh đó, nhu cầu đồ thờ cúng vào đầu năm tăng nên giá các mặt hàng này tăng.
Trong 02 nhóm có giá giảm gồm: Nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng giảm 2,33%; nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,32% một số mặt hàng điện thoại giảm giá kích cầu cuối năm.
- Chỉ số giá vàng tăng 93,35% so với cùng kỳ năm trước, tăng 19,85% so với tháng 12 năm trước, tăng 11,33% so với tháng trước, do nhu cầu mua sắm vàng trước Tết Nguyên đán và ngày Vía Thần Tài (mùng 10 tháng Giêng hàng năm) của người dân tăng cao. Tính chung trong 02 tháng đầu năm 2025, giá vàng tăng 87,99% so với cùng kỳ.
- Chỉ số giá đô la Mỹ tăng 1,90% so với cùng kỳ năm trước, giảm 1,19% so với tháng 12 năm trước, giảm 1,02% so với tháng trước. Tính chung trong 02 tháng đầu năm 2026, tăng 2,31% so với cùng kỳ.
4.4. Tình hình xuất, nhập khẩu hàng hóa
Tỉnh đã chỉ đạo Công an, Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh (Biên phòng), Hải quan, Chi Cục Quản lý thị trường tăng cường kiểm tra, kiểm soát, đấu tranh chống buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả, hàng kém chất lượng trong dịp trước, trong và sau Tết.

Tổng kim ngạch xuất hàng hóa trong tháng 02 ước đạt 105,95 triệu USD, tăng 383,90% so với cùng kỳ. Tổng kim ngạch nhập khẩu ước đạt 24,88 triệu USD, tăng 75,49% so cùng kỳ, trong đó chủ yếu là nhập máy móc, thiết bị, phụ tùng và nguyên liệu may mặc.
Lũy kế 02 tháng đầu năm đạt 252,7 triệu USD, đạt 30,8% kế hoạch, tăng 4,5% so với cùng kỳ.
5. Vận tải hàng hóa và hành khách
Các cơ quan, đơn vị liên quan triển khai các phương án phục vụ vận tải hành khách trước, trong và sau Tết Nguyên đán; tăng cường công tác quản lý hoạt động vận tải, không để xảy ra tình trạng tăng giá vé, phụ thu trái quy định. Các đơn vị quản lý, khai thác kết cấu hạ tầng giao thông đã chuẩn bị đầy đủ vật tư, thiết bị, nhân lực thường trực, kịp thời xử lý các tình huống phát sinh, bảo đảm giao thông thông suốt, an toàn trên các tuyến đường. Công tác quản lý bến xe, phương tiện và người lái được tăng cường; yêu cầu các doanh nghiệp vận tải chấp hành nghiêm quy định về an toàn giao thông, giá cước, thời gian làm việc của lái xe, không vận chuyển hàng cấm, hàng hóa không rõ nguồn gốc. Các lực lượng chức năng tăng cường tuần tra, kiểm soát, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm, nhất là xe quá khổ, quá tải, chở quá số người quy định; duy trì đường dây nóng để tiếp nhận, xử lý kịp thời các phản ánh của người dân, góp phần bảo đảm trật tự, an toàn giao thông trong dịp Tết, hoạt động vận tải hành khách, hàng hóa được bảo đảm an toàn, thông suốt.
5.1. Doanh thu vận tải tải kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải
Doanh thu vận tải trong tháng ước đạt 442,47 tỷ đồng, tăng 0,37% so với tháng trước, tăng 18,98% so với cùng kỳ. Trong đó, vận tải hành khách đạt 130,33 tỷ đồng, tăng 15,90%, tăng 23,92%; vận tải hàng hóa đạt 309,40 tỷ đồng, giảm 5%, tăng 17,02%; doanh thu dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 1,93 tỷ đồng, tăng 10,66%, tăng 18,18%; hoạt động bưu chính, chuyển phát đạt 0,81 tỷ đồng, giảm 14,26%, tăng 21,23%.

Tính chung trong 02 tháng đầu năm 2026, doanh thu vận tải kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 883,30 tỷ đồng, tăng 10,06% so với cùng kỳ. Trong đó: vận tải hành khách đạt 242,79 tỷ đồng, tăng 18,51%; vận tải hàng hóa đạt 635,08 tỷ đồng, tăng 7,14%; dịch vụ hỗ trợ vận tải kho bãi đạt 3,67 tỷ đồng, tăng 8,11%; bưu chính, chuyển phát đạt 1,76 tỷ đồng, tăng 16,83%.
5.2. Vận tải hành khách và hàng hóa
Trong tháng khối lượng hành khách vận chuyển ước đạt 1,92 triệu lượt hành khách, tăng 15,16% so với tháng trước, tăng 15,43% so với cùng kỳ; khối lượng hành khách luân chuyển ước đạt 153,83 triệu lượt hành khách.km, tăng 14,78%, tăng 13,99%. Tính chung 02 tháng đầu năm 2026, khối lượng hành khách vận chuyển ước đạt 3,58 triệu lượt hành khách, tăng 10,02% so với cùng kỳ; khối lượng hành khách luân chuyển ước đạt 287,85 triệu lượt hành khách.km, tăng 8,88%.
Khối lượng hàng hóa vận chuyển trong tháng ước đạt 2,05 triệu tấn, giảm 5,3% so với tháng trước, tăng 16,93% so với cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 131,62 triệu tấn.km, giảm 9,67%, tăng 18,51%. Tính chung 02 tháng đầu năm 2026, khối lượng hàng hóa vận chuyển ước đạt 4,22 triệu tấn, tăng 10% so với cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 277,33 triệu tấn.km, tăng 13,60%.
6. Về du lịch
Trong dịp nghỉ Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026, các khu, điểm du lịch, cơ sở lưu trú, cơ sở dịch vụ du lịch và các làng văn hóa du lịch cộng đồng duy trì hoạt động phục vụ khách du lịch, đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng của Nhân dân và du khách. Một số khu, điểm du lịch ghi nhận lượng khách tăng cao, tập trung chủ yếu trong các ngày đầu năm, như: Cột cờ Lũng Cú; khu vực sông Nho Quế; dốc Thẩm Mã; điểm du lịch Nhà của Pao; Khu di tích Quốc gia đặc biệt Tân Trào;Khu du lịch sinh thái Na Hang – Lâm Bình; các điểm du lịch tâm linh (Đền Hạ, Đền Thượng, Đền Ỷ La, Đền Pác Tạ, Đền Mẫu,…).

Trong tháng 02/2026, toàn tỉnh đón 320.638 lượt khách du lịch, tổng thu từ du lịch đạt 884,7 tỷ đồng. Lũy kế 02 tháng đầu năm đón 701.613 lượt khách du lịch đạt 17,1% kế hoạch, tổng thu du lịch đạt 1.913,1 tỷ đồng.
II. LĨNH VỰC VĂN HÓA - XÃ HỘI
1. Công tác lao động, việc làm, giáo dục nghề nghiệp
Các ngành chức năng đã chủ động nắm bắt tình hình sản xuất và đời sống công nhân, đảm bảo doanh nghiệp thực hiện đúng chính sách tiền lương, thưởng và phúc lợi trong dịp Tết Nguyên đán 2026. Đồng thời, chỉ đạo các cơ sở sản xuất tăng cường tự kiểm tra an toàn vệ sinh lao động, phòng, chống cháy nổ và rà soát máy móc, quy trình vận hành nghiêm ngặt. Đặc biệt chú trọng các lĩnh vực rủi ro cao và yêu cầu khắc phục ngay các nguy cơ gây tai nạn, sự cố tại nơi làm việc và khu vực giáp dân cư. Triển khai nắm bắt tình hình tuyển dụng, sử dụng, biến động lao động trong các doanh nghiệp trên địa bàn quản lý; kịp thời hướng dẫn các doanh nghiệp giải quyết chế độ đối với người lao động thôi việc, mất việc làm; không để tình trạng ngừng việc tập thể hoặc đình công trong dịp Tết Nguyên đán năm 2026.
2. Công tác đảm bảo chế độ người có công với cách mạng, bảo trợ, an sinh xã hội và phòng chống các tệ nạn
2.1. Công tác đối với người có công với cách mạng
Tổ chức thăm và tặng quà nhân dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026 cho người có công với cách mạng, đối tượng bảo trợ xã hội, hưu trí xã hội và các đối tượng yếu thế khác, kết quả đã tặng quà cho 22.644 người, với kinh phí 9,594 tỷ đồng. Thực hiện tốt công tác chăm lo đời sống cho các đối tượng chính sách; duy trì chi trả trợ cấp ưu đãi thường xuyên hằng tháng cho 9.032 người có công, thân nhân người có công và các đối tượng chính sách khác đang được hưởng trợ cấp trên địa bàn tỉnh.
Triển khai tặng quà của Chủ tịch nước nhân dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026 cho: 10.888 người có công với số tiền là 3.355,5 triệu đồng. Đồng thời, trích ngân sách tỉnh tặng quà cho: 11.756 người có công với số tiền là 6.038,5 triệu đồng (theo Nghị quyết số 22/2025/NQ-HĐND ngày 09/12/2025 của Hội đồng nhân dân tỉnh).
2.2. Công tác bảo trợ, an sinh xã hội và phòng chống các tệ nạn
Lãnh đạo tỉnh đã tổ chức các đoàn công tác đi thăm, động viên các đơn vị, tặng quà người cao tuổi, hộ nghèo tại các xã biên giới, xã khó khăn
(thăm, tặng quà cho 431 người có công, đối tượng bảo trợ xã hội; 550 hộ nghèo; 300 bệnh nhân đang nằm điều trị tại khoa cấp cứu của các Bệnh viện tuyến tỉnh vì sức khỏe không về ăn tết cùng gia đình và 58 đơn vị với số tiền 1.325 triệu đồng).
Tổ chức triển khai mừng thọ, tặng quà cho 2.154 người cao tuổi trên địa bàn tỉnh ở độ tuổi 90, 95, 100 và trên 100 tuổi với tổng số kinh phí thực hiện chúc thọ, mừng thọ là 3.240 triệu đồng.
Cấp phát gạo dự trữ quốc gia (nguồn của Trung ương) cho 119 xã, phường với 12.956 hộ/48.608 nhân khẩu, với 729.120 kg gạo.
Trong tháng, Cơ sở cai nghiện của 02 tỉnh ( Tuyên Quang cũ và Hà Giang cũ) đã tiếp nhận 4 học viên, cấp giấy chứng nhận hoàn thành cai nghiện cho 13 học viên; tại thời điểm báo cáo, 2 cơ sở cai nghiện đang quản lý 226 học viên (cai nghiện bắt buộc 212 học viên, cai nghiện tự nguyện 14 học viên).
3. Hoạt động giáo dục và đào tạo
Chuẩn bị các điều kiện tổ chức Khởi công 11 trường phổ thông nội trú liên cấp Trung học và Trung học cơ sở tại các xã biên giới. Thực hiện rà soát, sắp xếp lại mạng lưới điểm trường, lớp học đối với giáo dục mầm non và giáo dục phổ thông trên địa bàn tỉnh theo hướng tinh gọn, hiệu quả, phù hợp với điều kiện thực tiễn; sắp xếp, tổ chức lại cơ sở giáo dục đại học công lập và cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập; sắp xếp các cơ sở giáo dục phổ thông tại 17/17 xã biên giới. Chuẩn bị các điều kiện tổ chức thi học sinh giỏi cấp tỉnh lớp 9 và lớp 12 năm học 2025-2026.
4. Hoạt động y tế
Tiếp tục triển khai đồng bộ các giải pháp nâng cao chất lượng công tác khám, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe nhân dân, trọng tâm là y tế tuyến cơ sở; trong tháng 02/2026 tổ chức khám, chữa bệnh cho 206.868 lượt người. Tăng cường kiểm tra, giám sát công tác bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm, nhất là trong dịp trước, trong và sau Tết Nguyên đán năm 2026.
5. Hoạt động văn hoá - thể dục, thể thao
Các địa phương trên địa bàn tỉnh đã tổ chức nhiều hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao và lễ hội truyền thống, góp phần tạo không khí vui tươi, phấn khởi trong nhân dân và thu hút du khách, như: Các hoạt động văn hóa, nghệ thuật chào xuân; tổ chức bắn pháo hoa chào năm mới; tổ chức ngày hội văn hóa, thể thao các dân tộc với các hoạt động giao lưu văn hóa, thể thao và trò chơi dân gian; tổ chức các lễ hội truyền thống (như: Lễ hội Lồng Tông; lễ hội Gầu Tào; lễ hội Nhảy lửa; lễ hội Cầu may; Hội đua thuyền trên Sông Lô,...) góp phần bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.
Tổ chức thành công chương trình nghệ thuật chào mừng kỷ niệm 96 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03/2/1930 - 03/2/2026) với chủ đề: “Mùa Xuân dâng Đảng” tại Quảng trường 26/3, phường Hà Giang 1; chào mừng thành công Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng; hướng tới cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031.
Chỉ đạo hướng dẫn Ủy ban nhân dân các xã, phường triển khai Đại hội thể dục, thể thao cấp xã. Tổ chức đoàn cán bộ, vận động viên tỉnh Tuyên Quang tham dự Giải Bóng đá Mùa xuân giữa tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc và 5 tỉnh, thành phố của Việt Nam.
6. Một số hoạt động khác
Năm 2026 là năm đầu tiên tiến hành công tác tuyển quân gắn với thực hiện chính quyền địa phương hai cấp. Tỉnh Tuyên Quang được Bộ Quốc phòng và Quân khu 2 giao chỉ tiêu tuyển chọn, gọi 2.849 công dân nhập ngũ. Trong đó, 2.300 công dân thực hiện nghĩa vụ quân sự tại các đơn vị quân đội thuộc Bộ Quốc phòng và 549 công dân tham gia nghĩa vụ Công an nhân dân. Thực hiện kế hoạch tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ, Hội đồng Nghĩa vụ quân sự các xã, phường trên địa bàn tỉnh đã tổ chức phát lệnh gọi công dân nhập ngũ đảm bảo đúng quy định của Luật Nghĩa vụ quân sự, đảm bảo tính công khai, dân chủ và đúng tiến độ.
7. Tình hình an toàn giao thông, thiên tai và phòng chống cháy, nổ
Các lực lượng chức năng tăng cường tuần tra, kiểm soát, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm, nhất là xe quá khổ, quá tải, chở quá số người quy định; duy trì đường dây nóng để tiếp nhận, xử lý kịp thời các phản ánh của người dân, góp phần bảo đảm trật tự, an toàn giao thông trong dịp Tết, hoạt động vận tải hành khách, hàng hóa được bảo đảm an toàn, thông suốt. Duy trì nghiêm chế độ trực sẵn sàng chiến đấu; triển khai các đợt cao điểm tấn công, trấn áp tội phạm, đảm bảo an ninh trật tự, an toàn giao thông, nhất là trong dịp Tết Nguyên đán. Trong kỳ báo cáo, thực hiện bảo đảm tuyệt đối an ninh, an toàn 02 đoàn công tác của lãnh đạo Đảng, Nhà nước đến thăm, làm việc tại tỉnh.
Trong kỳ báo cáo (từ ngày 14/02 đến ngày 21/02/2026), trên địa bàn tỉnh xảy ra 07 vụ tai nạn giao thông đường bộ làm chết 06 người, bị thương 01 người (so với cùng kỳ Tết Nguyên đán Ất Tỵ năm 2025 số vụ tai nạn tăng 01, tăng 03 người chết, giảm 04 người bị thương); không xảy ra tai nạn giao thông đường thủy.
7.1. Về an toàn giao thông trong tháng
Trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 17 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 12 người và làm bị thương 9 người.

So với tháng trước giảm 19,05% về số vụ tai nạn; số người chết tăng 9,09%; số người bị thương giảm 25%. So với tháng cùng kỳ số vụ tai nạn giao thông giữ nguyên; số người chết tăng 9,09%; số người bị thương giảm 30,77%.
Tính chung 02 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh đã xảy ra 38 vụ tai nạn giao thông; làm chết 23 người và làm bị thương 21 người. So với cùng kỳ năm trước: Số vụ tai nạn giao thông giảm 5%; số người chết tăng 15%; số người bị thương giảm 27,59%.
7.2. Về thiên tai, cháy, nổ
Trong tháng trên địa bàn tỉnh không ghi nhận các đợt thiên tai, cháy nổ nào xảy ra.
Tin khác