Tình hình kinh tế - xã hội tháng 3 và quý I năm 2026 tỉnh Tuyên Quang
I. PHÁT TRIỂN KINH TẾ
1. Tăng trưởng kinh tế quý I năm 2026
1.1. Tốc độ tăng trưởng GRDP trên địa bàn (giá so sánh 2020) quý I năm 2026
Tốc độ tăng trưởng GRDP (giá so sánh năm 2020) trên địa bàn tỉnh tăng 7,55% so với cùng kỳ năm 2025, cụ thể của các lĩnh vực như sau:

1.1.1. Khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 4,84%; đóng góp 1,22 điểm phần trăm trong mức tăng chung của GRDP. Ngành nông nghiệp mặc dù còn gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng của thời tiết; thị trường tiêu thụ nông sản, giá vật tư đầu vào nhưng cũng đã vượt mọi khó khăn đạt mức tăng trưởng tương đối ấn tượng. Ngành nông nghiệp tăng 4,80%, đóng góp 1,04 điểm phần trăm; ngành lâm nghiệp tăng 4,33%, đóng góp 0,12 điểm phần trăm; ngành thủy sản tăng 7,80%, đóng góp 0,06 điểm phần trăm.
1.1.2. Khu vực Công nghiệp, xây dựng tiếp tục có nhiều tín hiệu khởi sắc và có những bước tăng trưởng ấn tượng, với mức tăng 11,46%, đóng góp vào tốc độ tăng trưởng chung là 2,54 điểm phần trăm. Trong đó:
- Ngành công nghiệp, tăng 13,13%, với mức đóng góp 1,95 điểm phần trăm (trong đó: Ngành khai khoáng tăng trưởng âm 8,83%, làm giảm đóng góp vào tốc độ tăng trưởng chung là âm 0,09 điểm phần trăm; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 15,99%, đóng góp 1,6 điểm phần trăm; sản xuất và phân phối điện tăng 12,17%, đóng góp 0,44 điểm phần trăm; cung cấp nước tăng 3,68%, đóng góp 0,01 điểm phần trăm).
- Ngành xây dựng tăng 8,06%, đóng góp 0,59 điểm phần trăm. Tỉnh đã tập trung chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ thi công các công trình, dự án trọng điểm, nhất là các dự án giao thông, hạ tầng kỹ thuật, tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế -xã hội, góp phần tăng trưởng khu vực xây dựng.
1.1.3. Khu vực dịch vụ tăng 7,11%, đóng góp 3,38 điểm phần trăm. Trong khu vực dịch vụ, đóng góp của một số ngành có tỷ trọng lớn vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm như sau: Bán buôn, bán lẻ và sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy tăng 7,53%, đóng góp 0,48 điểm phần trăm; vận tải kho bãi tăng 9,53%, đóng góp 0,34 điểm phần trăm; lưu trú và ăn uống tăng 2,24%, đóng góp 0,07 điểm phần trăm; hoạt động tài chính ngân hàng và bảo hiểm tăng 7,90%, đóng góp 0,31 điểm phần trăm,…Ngay từ đầu năm tỉnh đã tổ chức các hoạt động xúc tiến, quảng bá du lịch có tiềm năng phát triển như du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, du lịch cộng đồng;…
1.1.4. Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 8,16%; (đóng góp 0,41 điểm phần trăm).
1.2. Quy mô và cơ cấu kinh tế
1.2.1. Quy mô tổng sản phẩm
Quy mô tổng sản phẩm trên địa bàn quý I năm 2026 (giá hiện hành) ước đạt 20.755,8 tỷ đồng.
1.2.2. Cơ cấu kinh tế

Cơ cấu kinh tế tỉnh tiếp tục chuyển biến tích cực với chiều hướng tăng dần tỷ trọng khu vực dịch vụ, cụ thể như sau: Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 21,35%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 25,58%, trong cơ cấu nội hàm ngành công nghiệp đã có sự chuyển dịch theo hướng, giảm dần tỷ trọng công nghiệp khai thác, tăng dần tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo; khu vực dịch vụ chiếm 48,00%; thuế sản phầm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 5,07%.
Nhìn chung, trong quý I năm 2026 các ngành: Công nghiệp, xây dựng và dịch vụ tiếp tục đóng góp chủ yếu vào mức tăng trưởng GRDP của toàn tỉnh, chứng tỏ cơ cấu kinh tế của tỉnh đã có sự chuyển dịch đúng hướng và tái cơ cấu kinh tế đang mang lại hiệu quả rõ rệt. Đây là sự chuyển dịch cơ cấu tích cực phù hợp với yêu cầu thúc đẩy nhanh sự tăng trưởng kinh tế theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa và tăng dần tỷ trọng dịch vụ góp phần nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế của tỉnh.
2. Tình hình tài chính, ngân hàng
2.1. Thu, chi ngân sách nhà nước
2.1.1. Thu ngân sách nhà nước: Tổng thu ngân sách nhà nước ước thực hiện trong quý I/2026 là 1.869,67 tỷ đồng, tăng 140,60% so với cùng kỳ. Trong đó thu nội địa ước thực hiện là 1.806,11 tỷ đồng, tăng 48,41%.

Một số khoản thu đạt khá là: Thu từ khu vực kinh tế ngoài quốc doanh là 721,48 tỷ đồng, tăng 153,39%; thuế Thu nhập cá nhân là 151,25 tỷ đồng, tăng 55,12%; thu phí – lệ phí là 159,93 tỷ đồng, tăng 79,93%;…
2.1.2. Chi ngân sách nhà nước: Tổng chi ngân sách nhà nước là 9.321,65 tỷ đồng, giảm 4,6% so với cùng kỳ. Trong đó: Chi đầu tư phát triển là 4.598,15 tỷ đồng; chi thường xuyên là 4.723,49 tỷ đồng;...
Ngay từ đầu năm, Tỉnh đã tập trung điều hành dự toán ngân sách nhà nước chủ động chỉ đạo các cơ quan chuyên môn triển khai kịp thời việc nhập dự toán vốn đầu tư cho các công trình, dự án, tạo điều kiện thuận lợi cho các ngành, đơn vị và các huyện, thành phố triển khai tổ chức thực hiện ngay từ đầu năm, đồng thời chỉ đạo việc tích cực đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án và tiến độ giải ngân vốn đầu tư năm 2026.
2.2. Hoạt động tín dụng ngân hàng
Triển khai Công điện số 12/CĐ-TTg ngày 08/02/2026 của Thủ tướng Chính phủ về một số giải pháp trọng tâm điều hành chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa năm 2026.
Tổng nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh đến 31/3/2026 ước đạt 77.500 tỷ đồng, tăng 19,01%.
Tổng dư nợ đến 31/3/2026 ước đạt 79.800 tỷ đồng, tăng 19,58% so với quý trước. Tỷ lệ nợ xấu là 0,92%/tổng dư nợ.

Tổ chức thực hiện nghiêm túc, kịp thời, đầy đủ các cơ chế, chính sách về tiền tệ và hoạt động ngân hàng. Tiếp tục triển khai các giải pháp thúc đẩy tăng trưởng tín dụng gắn với nâng cao chất lượng tín dụng; tăng cường kiểm soát và xử lý nợ xấu, bảo đảm an toàn hoạt động của hệ thống các tổ chức tín dụng trên địa bàn.
3. Giá cả
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 3 năm 2026 tăng 2,15% so với tháng trước, tăng 6,92% so với cùng kỳ năm trước.
Trong số 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính thì có 9 nhóm tăng giá so với tháng trước, 02 nhóm giữ nguyên, cụ thể như sau.
Trong 9 nhóm hàng tăng giá, so với tháng trước, bao gồm những nhóm hàng sau: Nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,73% do giá vận chuyển một số mặt hàng bia, nước ngọt tăng, làm giá bán tăng; nhóm may mặc, mũ nón và giày dép tăng 0,11%; nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 1,79% chủ yếu do các mặt hàng vật liệu xây dựng chính tăng; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,4%; nhóm giao thông tăng 13,35% do ảnh hưởng tăng của giá xăng dầu thế giới; nhóm bưu chính viễn thông tăng 0,52%; nhóm giáo dục tăng 0,02%; nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,79%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,62%.
Có 02 nhóm hàng giữ nguyên so với tháng trước là: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống và nhóm thuốc và dịch vụ y tế.

CPI bình quân quý I/2026 tăng 4,90% so với cùng kỳ. Một số nguyên nhân cơ bản đã tác động tăng CPI là những nguyên nhân chủ yếu sau: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 5,96%; nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 17,05%;…
Chỉ số giá vàng tăng 87,77% so với cùng kỳ, tăng 21,50% so với tháng 12 năm trước và tăng 1,38% so với tháng trước. Tính chung trong quý I/2026 chỉ số giá vàng tăng 87,92% so với cùng kỳ.
Chỉ số giá đô la Mỹ tăng 1,77% so với cùng kỳ, giảm 0,37% so với tháng 12 năm trước và tăng 0,84% so với tháng trước. Tính chung trong quý I/2026 chỉ số giá vàng tăng 2,13% so với cùng kỳ.
4. Vốn đầu tư và Xây dựng
4.1. Vốn đầu tư
4.1.1. Tình hình thực hiện Vốn đầu tư phát triển toàn xã hội

Ước thực hiện quý I đạt 6.111,7 tỷ đồng, tăng 2,16% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Nguồn vốn 2026 từ khu vực nhà nước ước đạt 1.589,3 tỷ đồng, giảm 11,10% (chiếm 26% tổng nguồn vốn đầu tư), nguồn vốn từ ngân sách nhà nước tiếp tục giữ vai trò chủ đạo là động lực chính để phục hồi và phát triển kinh tế, do đó tỉnh đã triển khai nhiều biện pháp thúc đẩy tốc độ giải ngân vốn đầu tư công, tập trung vào cơ sở hạ tầng, đẩy nhanh tiến độ xây dựng các công trình trọng điểm, thu hút nguồn vốn đầu tư của các khu vực kinh tế khác và toàn xã hội; nguồn vốn đầu tư của dân cư và tư nhân ước đạt 3.870,5 tỷ đồng, tăng 11,02% (chiếm 63,33% tổng nguồn vốn) khu vực tư nhân chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong đầu tư phát triển toàn xã hội và giữ vai trò quan trọng trong tổng nguồn vốn, trong bối cảnh ngân sách nhà nước còn hạn hẹp rất cần các nguồn lực đầu tư từ khu vực tư nhân; vốn huy động khác ước đạt 570,1 tỷ đồng, tăng 7,46% (chiếm 9,33%); vốn tự có của doanh nghiệp nhà nước ước đạt 77,7 tỷ đồng, tăng 16,99%, (chiếm 1,27%); nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ước đạt 4 tỷ đồng, giảm 65,67% (chiếm 0,07%).
4.1.2. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước
- Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước thực hiện tháng 3 đạt 432,5 tỷ đồng, tăng 31,40% so với tháng trước, trong đó: Vốn ngân sách cấp tỉnh đạt 323,6 tỷ đồng, tăng 29,30%; vốn ngân sách cấp xã đạt 108,9 tỷ đồng, tăng 38,03%.

- Ước thực hiện quý I/2026 đạt 1.557,8 tỷ đồng, giảm 11,89% so với quý cùng kỳ, trong đó: Vốn ngân sách cấp tỉnh đạt 1.257,5 tỷ đồng, giảm 6,34%; vốn ngân sách cấp xã đạt 300,4 tỷ đồng, giảm 29,4%.
4.2. Xây dựng
Tăng cường quản lý, phát triển vật liệu xây dựng trong giai đoạn mới; tiếp tục đột phá xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, trọng tâm là hạ tầng giao thông, hạ tầng công nghệ, hạ tầng đô thị, hạ tầng khu, cụm công nghiệp. Chỉ đạo cập nhật và công bố giá vật liệu xây dựng hằng tháng bảo đảm kịp thời, đúng quy định. Tăng cường kiểm tra, hướng dẫn, theo dõi sát diễn biến thị trường, không để xảy ra tình trạng giá công bố thấp hơn giá bán vật liệu xây dựng trên thị trường, gây khó khăn cho chủ đầu tư, nhà thầu và làm phát sinh tiêu cực. Công bố, điều chỉnh đơn giá vật liệu xây dựng, đơn giá nhân công xây dựng, ca máy và thiết bị thi công bảo đảm phù hợp với mặt bằng giá thị trường, làm cơ sở cho việc lập, thẩm định và triển khai các dự án đầu tư trên địa bàn.
Tăng cường thực hiện các dự án lớn trọng điểm; rà soát nguồn vốn đầu tư công năm 2025 được phép kéo dài thời gian thanh toán sang năm 2026; hoàn thiện Nghị quyết về quyết định kế hoạch đầu tư công trung hạn vốn ngân sách nhà nước, giai đoạn 2026-2030; tổ chức kiểm tra tiến độ thi công một số công trình, dự án trọng điểm. Giải ngân vốn đầu tư năm 2026 đến ngày 27/3/2026 đạt 666/9.968,96 tỷ đồng, bằng 6,7% kế hoạch.
5. Hoạt động của doanh nghiệp
5.1. Về tình hình hoạt động của doanh nghiệp
Từ ngày 01/01/2026 đến ngày 30/3/2026, cấp Giấy chứng nhận đăng ký thành lập mới cho 327 doanh nghiệp (tăng 144% so với cùng kỳ), với số vốn đăng ký trên 1.902,996 tỷ đồng (tăng 366%); số doanh nghiệp hoạt động trở lại 120 doanh nghiệp (tăng 30%); giải thể 46 doanh nghiệp (tăng 130%); tạm ngừng 223 doanh nghiệp (giảm 9%). Lũy kế tổng số doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh hiện có 6.588 doanh nghiệp, với tổng số vốn đăng ký trên 95.421,413 tỷ đồng (trong đó có 22 doanh nghiệp có 100% vốn đầu tư nước ngoài).

Để hỗ trợ doanh nghiệp phát triển, tỉnh đã triển khai đồng bộ, hiệu quả các chính sách hỗ trợ; tạo môi trường đầu tư và kinh doanh thuận lợi, bình đẳng, ổn định để các doanh nghiệp đóng góp ngày càng cao vào sự phát triển kinh tế - xã hội; góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế của doanh nghiệp. Trong thời gian tới, tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong giải quyết thủ tục đầu tư, rút ngắn thời gian cấp phép kinh doanh, hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận nguồn lực đất đai, tín dụng. Trung tâm Phục vụ hành chính công tỉnh Tuyên Quang hoạt động hiệu quả, giúp doanh nghiệp và nhà đầu tư giảm đáng kể thời gian thực hiện thủ tục.
5.2. Điều tra xu hướng kinh doanh ngành công nghiệp chế biến chế tạo trong quý I
Tổng hợp kết quả phiếu điều tra xu hướng của các doanh nghiệp công nghiệp chế biến chế tạo cho thấy có 69,09% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh quý I/2026 so với quý IV/2025 tốt hơn và giữ ổn định (18,18% doanh nghiệp dự báo tốt hơn; 50,91% giữ ổn định), trong khi có 30,91% số doanh nghiệp cho rằng khó khăn hơn. Dự báo quý II/2026 xu hướng sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp công nghiệp chế biến, chế tạo trên địa bàn tỉnh thuận lợi hơn so với quý I/2026 khi có 43,64% doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp tốt hơn (trong đó có ngành: sản xuất trang phục; chế biến gỗ và sản phẩm từ gỗ; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại; sản xuất kim loại; sản xuất xe có động cơ); 38,18% doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp giữ ổn định (trong đó có ngành: Sản xuất chế biến thực phẩm; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy; in, sao chép bản ghi các loại; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học); 18,18% doanh nghiệp dự báo tình hình sản xuất kinh doanh khó khăn hơn.
6. Về sản xuất nông nghiệp (tính đến ngày 20/3/2026)
6.1. Trồng trọt
6.1.1. Sản xuất vụ Đông năm 2025-2026
Ngô lấy hạt: Diện tích đạt 7.261,29 ha, bằng 92,87% (giảm 557,3 ha) so với cùng kỳ. Diện tích gieo trồng ngô giảm chủ yếu tại các xã Vị Xuyên, Linh Hồ, Bắc Quang do một số diện tích bãi bồi ven sông bị ngập lụt, không kịp thu hoạch vụ Mùa và chuẩn bị đất gieo trồng vụ Đông nên người dân không trồng ngô vụ Đông; khu vực xã Chiêm Hóa, Hàm Yên, Hùng An, Đồng Yên, Quang Bình, Bằng Lang, Tiên Yên diện tích giảm do một phần diện tích chuyển sang trồng ngô sinh khối, một phần người dân đi làm thời vụ có thu nhập cao hơn nên không tiếp tục trồng ngô.
Khoai lang: Diện tích đạt 1.285,39 ha, giảm 2,28% (giảm 29,96 ha) so với cùng kỳ. Diện tích khoai lang giảm ở hầu hết các xã trên địa bàn tỉnh, nguyên nhân do người dân một số địa phương trong tỉnh chuyển đổi sang trồng rau đậu các loại có hiệu quả kinh tế cao hơn.
Đậu tương: Diện tích gieo trồng đạt 4,1 ha, bằng 5,86% (giảm 65,89 ha) so với cùng kỳ. Diện tích gieo trồng đậu tương giảm tại xã Tri Phú, Linh Phú do cây đậu tương trồng vụ Đông cho năng suất thấp, người dân không tiếp tục gieo trồng nữa.
Lạc: Diện tích gieo trồng đạt 43,59 ha, bằng 83,14% (giảm 8,84 ha) so với cùng kỳ. Diện tích gieo trồng lạc giảm tại xã Tân Mỹ.
Rau các loại: Diện tích gieo trồng đạt 12.050,89 ha, bằng 98,65% (giảm 164,65 ha) so với cùng kỳ. Diện tích gieo trồng giảm do ảnh hưởng của cơn bão BUALOI làm một số diện tích bị ngập, thời gian thu hoạch vụ Mùa bị kéo dài, người dân không kịp làm đất nên một số diện tích gieo trồng vụ Đông không thực hiện được.
Diện tích gieo trồng cây đậu các loại đạt 648,43 ha, bằng 95,33% (giảm 31,8 ha) so với cùng kỳ. Diện tích gieo trồng giảm tại các xã Trường Sinh, Bình Ca, Ngọc Long, Yên Cường.
6.1.2. Sản xuất vụ xuân

Cây Lúa: Diện tích lúa gieo trồng đạt 26.932,99 ha giảm 3,42% (giảm 953,86 ha) so với cùng kỳ do một số diện tích bị mất do làm đường cao tốc, phần còn lại chuyển sang trồng ngô vụ Xuân.
Ngô: Diện tích gieo trồng đạt 30.888,71 ha tăng 20,6% (tăng 5.276,31 ha). Diện tích ngô tăng cao do các xã trồng bù phần diện tích vụ Đông không gieo trồng, chuyển một phần diện tích lúa, khoai lang sang trồng ngô và trồng thêm trên diện tích cây cam, chè bị chết.
Khoai lang: Diện tích gieo trồng đạt 455 ha, bằng 71,48% (giảm 181,6 ha) do chuyển sang trồng ngô.
Đậu tương: Diện tích gieo trồng đạt 4.615 ha, tăng 12,05% (tăng 496,3 ha) do người dân chuyển diện tích trồng đậu tương không hiệu quả của vụ Đông sang trồng vụ Xuân.
Lạc: Diện tích lạc gieo trồng đạt 8.807 ha, tăng 3,34% (tăng 284,98 ha).
Rau các loại: Diện tích gieo trồng đạt 8.722 ha, tăng 8,73% (tăng 700,03 ha) do người dân tăng diện tích gieo trồng vụ Xuân tại các diện tích vụ Đông bị ảnh hưởng ngập lụt không kịp thời vụ trồng vụ Đông, đồng thời tăng diện tích trồng xen cây ngô.
Đậu các loại: Diện tích gieo trồng đạt 1.525,6 ha, tăng 2,96% (tăng 43,8 ha).
Đánh giá chung, Vụ xuân năm nay nhìn chung có nhiều thuận lợi về thời tiết, song các địa phương vẫn cần theo dõi sát diễn biến khí hậu và sâu bệnh để kịp thời ứng phó. Ngành nông nghiệp tỉnh đã yêu cầu các địa phương tăng cường kiểm tra đồng ruộng, hướng dẫn bà con chăm sóc lúa đúng kỹ thuật để cây lúa sinh trưởng đồng đều, hạn chế sâu bệnh ngay từ giai đoạn đầu.
6.1.3. Cây lâu năm
Diện tích cây chuối hiện có trên địa bàn tỉnh 3.105,29 ha, giảm 5,22% so với cùng kỳ (giảm 171,07 ha).
Diện tích cây chè toàn tỉnh hiện có 27.427,83 ha, giảm 2,02% (giảm 567,71 ha) so với cùng kỳ năm trước. Diện tích chè vẫn tiếp tục giảm do một phần diện tích trồng chè của xã Bắc Quang nhà nước thu hồi đất sử dụng mục đích mở đường quốc lộ và phát triển một số dự án xây dựng mới sau sát nhập. Chia theo thành phần kinh tế: Tư nhân là 3.522,27 ha; cá thể là 23.905,56 ha.
6.1.3. Tình hình sinh vật gây hại
Trên cây lúa vụ xuân bệnh nấm mốc, tập đoàn rầy, bệnh thối nhũn, chuột, rầy xanh, rầy nâu, ốc bươu vàng phát sinh rải rác. Cây ngô vụ Đông xuất hiện bệnh đốm lá, bệnh khô vằn, chuột gây hại rải rác. Cây ngô vụ Xuân xuất hiện sâu xám, sâu keo mùa thu, bệnh huyết dụ. Trên cây rau đậu xuất hiện sâu xám, sâu khoang, bọ nhảy, sâu tơ, sâu xanh bướm trắng, bệnh thối nhũn, mốc sương, đốm vòng gây hại rải rác. Nguyên nhân: Thời tiết sương mù dày ban sáng và nắng hanh ban ngày tạo điều kiện cho nấm bệnh và sâu phát triển.
6.2. Về chăn nuôi
6.2.1. Về số lượng đàn gia súc, gia cầm
Tổng đàn trâu hiện có 216.452 con, giảm 3,34% ( giảm 7.695 con) so với cùng kỳ năm 2025; đàn bò 175.548 con, tăng 0,2%( tăng 342 con); đàn lợn 1.221.071 con, giảm 1,32% (giảm 16.297 con); đàn gia cầm 14.237,14 nghìn con, tăng 3,44% (tăng 473,9 nghìn con).

6.2.2. Về sản phẩm đàn gia súc, gia cầm
Sản lượng thịt trâu hơi xuất chuồng ước đạt 3.691 tấn, tăng 7,64% so với cùng kỳ năm 2025; đàn bò 2.414 tấn, tăng 7,58%; đàn lợn đạt 35.284 tấn, tăng 3,54%; đàn gia cầm đạt 10.252 tấn, tăng 6,88%.

Nhìn chung, tình hình chăn nuôi trong quý I/2026 duy trì ổn định, không có biến động lớn. Công tác phòng chống dịch bệnh được chú trọng, đặc biệt là các bệnh nguy hiểm như Dịch tả lợn Châu Phi.
6.3. Về công tác phòng chống dịch bệnh gia súc, gia cầm trong quý
6.3.1. Công tác phòng chống và điều trị
Trong tháng 3, bệnh Dịch tả lợn Châu Phi phát sinh tại 04 hộ, số lợn tiêu hủy là 36 con/1.915 kg. Luỹ kế từ ngày 01/01/2026 đến ngày 13/3/2026, toàn tỉnh ghi nhận 172 con lợn mắc bệnh buộc tiêu hủy tại 10 hộ thuộc 6 xã. Tổng khối lượng 13.496 kg. Đến ngày 13/03/2026 đã có 03 xã công bố hết dịch.
6.3.2. Công tác kiểm dịch vận chuyển động vật, sản phẩm động vật
Tiếp tục thực hiện chặt chẽ đúng quy định công tác kiểm dịch vận chuyển ngoài tỉnh, kết quả: Trong tháng đã kiểm tra cấp 261 giấy chứng nhận kiểm dịch vận chuyển, trong đó: 154 chuyến vận chuyển, 12.553 con gia súc, gia cầm; 107 chuyến, vận chuyển 2.889.000 kg sữa tươi nguyên liệu. Lũy kế từ đầu năm đến nay đã kiểm tra cấp 870 giấy chứng nhận kiểm dịch vận chuyển, trong đó: 384 chuyến, vận chuyển 41.848 con gia súc, gia cầm, 486 chuyến vận chuyển, 9.936.000 kg sữa tươi nguyên liệu được vận chuyển đi các tỉnh: Bắc Ninh, Hà Nội, Cao Bằng, Phú Thọ, Lai Châu...
6.4. Về sản xuất lâm nghiệp (ước tính có đến ngày 20/3/2026)
6.4.1. Kết quả trồng rừng
Ước tính trong tháng 03, tổng diện tích rừng trồng mới tập trung toàn tỉnh đã trồng được 2.721,62 ha, giảm 9,34% (giảm 280,4 ha). Lũy kế quý I/2026, diện tích trồng rừng đạt 3.418,46 ha, giảm 1,64% (giảm 57,14 ha) so với cùng kỳ năm trước. Diện tích rừng trồng mới tập trung giảm do diện tích còn trống để thực hiện trồng rừng giảm.
6.4.2. Kết quả khai thác rừng trồng
Ước tính tháng 03 toàn tỉnh khai thác được 129.461,10 m3 gỗ, tăng 263,95% (tăng 93.890,39 m3) so với cùng kỳ.
Lũy kế quý I năm 2026, sản lượng gỗ khai thác đạt 307.296,90 m3, tăng 6,5% (tăng 18.755,19 m3). Sản lượng gỗ khai thác tăng do diện tích rừng sản xuất đến tuổi khai thác tăng.
6.4.3. Công tác bảo vệ rừng:
Công tác quản lý, bảo vệ rừng được các cấp, các ngành quan tâm, đồng thời tuyên truyền, vận động nhân dân tích cực tham gia thực hiện kế hoạch trồng rừng năm 2026; tuyên truyền, phổ biến giáo dục cho người dân nâng cao nhận thức về các chính sách quản lý bảo vệ và phát triển rừng; tăng cường kiểm tra, ngăn chặn việc phá rừng, đốt rừng, triệt phá các đường dây buôn bán, vận chuyển lâm sản trái phép. Thường xuyên cảnh báo nguy cơ cháy rừng, đẩy mạnh tuyên truyền về công tác phòng cháy chữa cháy rừng; phối hợp chặt chẽ với cơ quan chức năng và chính quyền cơ sở, các chủ rừng tăng cường kiểm tra, kiểm soát, phát hiện kịp thời, xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật các hành vi xâm hại rừng.
Theo báo cáo của Chi cục Kiểm lâm tỉnh, trong tháng không phát sinh vụ cháy rừng, phát sinh 02 vụ phá rừng tăng 02 vụ so với cùng kỳ do người dân phá rừng trồng cây, diện tích rừng bị phá 0,61 ha. Lũy kế quý I/2026, không có vụ cháy rừng, số vụ phá rừng là 09 vụ, diện tích rừng bị phá 1,14 ha số vụ phá rừng và diện tích rừng bị phá giảm mạnh do cơ quan chức năng tăng cường kiểm tra, giám sát, phát hiện và ngăn chặn kịp thời.
6.5. Về thuỷ sản
Tổng sản lượng thuỷ sản 3.793,33 tấn, tăng 9,63%, trong đó: Sản lượng nuôi trồng 3.481,40 tấn, tăng 9,35%; sản lượng khai thác có 311,93 tấn, tăng 12,75%.

6.6. Phát động Tết trồng cây “Đời đời nhớ ơn Bác Hồ” Xuân Bính Ngọ và thực hiện kế hoạch trồng rừng năm 2026
Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành Kế hoạch số 30/KH-UBND ngày 03/02/2026 về tổ chức Lễ phát động “Tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác Hồ” Xuân Bính Ngọ và phát động phong trào thi đua thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2026 (tổ chức vào ngày 23/02/2026, tức ngày mùng 7, tháng Giêng, năm Bính Ngọ) và chỉ đạo các cấp, các ngành chuẩn bị đầy đủ các điều kiện để tổ chức Tết trồng cây bảo đảm thiết thực, hiệu quả, gắn với trồng rừng, bảo vệ môi trường và phòng, chống thiên tai. Tại buổi Lễ, toàn tỉnh trồng 170.025 cây (tương đương diện tích 130,45 ha); chuẩn bị đầy đủ, kịp thời cây giống phục vụ trồng rừng năm 2026.
7. Sản xuất công nghiệp
Quý I/2026, các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh đối mặt thách thức lớn từ chi phí vận tải cũng nguyên liệu tăng cao, rủi ro địa chính trị. Cùng với đó, ảnh hưởng từ xung đột tại Trung Đông làm gián đoạn quá trình vận chuyển hàng hóa cũng như kéo dài thời gian giao hàng gây áp lực tài chính cho doanh nghiệp. Mặc dù gặp một số khó khăn do ảnh hưởng chung từ tình hình kinh tế thế giới, các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh vẫn đang tìm cách khắc phục và đẩy mạnh sản xuất. Nhiều sản phẩm công nghiệp sản lượng sản xuất tăng so với cùng kỳ năm trước như: Đường RE, Bao bì đóng gói bằng plastic, Cấu kiện làm sẵn cho xây dựng, Thép cán, Mangan và sản phẩm Mangan, Cửa ra vào bằng sắt, thép,... Riêng lĩnh vực sản xuất điện do quý I tăng cao so với cùng kỳ do năm nay mùa mưa kết thúc muộn hơn, cùng với một số nhà máy thủy điện hoàn thành đi vào hoạt động ổn định đã bổ sung năng lực sản xuất mới cho ngành điện.
7.1. Về phát triển công nghiệp trong tháng
Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) trong tháng tăng 26,18% so với tháng trước, tăng 9,80% so với cùng kỳ, trong đó: Ngành khai khoáng tăng 42,74%, giảm 12,16%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 31,38%, tăng 12,13%; sản xuất và và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 0,54%, tăng 2,32%; cung cấp nước và hoạt động thu gom xử lý rác, nước thải giảm 8,97%, tăng 5,33%.
Một số ngành công nghiệp cấp II có chỉ số sản xuất tăng so với tháng trước và tăng so với cùng kỳ như: Sản xuất trang phục tăng 46,14%, tăng 12,51%; sản xuất kim loại tăng 39,82%, tăng 34,62%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 12,47%, tăng 110,06%;...
Ước lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tính đến thời điểm 31/3/2026 tăng 3,17% so với tháng trước; so với cùng thời điểm năm trước giảm 6,98%. Tính chung 3 tháng đầu năm 2026, số lao động làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp giảm 9,19% so với cùng kỳ. Trong đó: Doanh nghiệp nhà nước tăng 1,03%; doanh nghiệp ngoài quốc doanh giảm 2,61%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài giảm 19,71%.
Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước đến 31/3/2026 tăng 26,7% so với tháng trước và giảm 11,44% so với tháng cùng kỳ năm trước. Tính chung quý I/2026, chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 14,12% so với quý I/2025, trong đó một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng như: Ngành sản xuất chế biến thực phẩm tăng 18,64%, ngành sản xuất trang phục tăng 20,14%, ngành sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 45,51%,...; một số ngành có chỉ số tiêu thụ giảm như: Ngành dệt giảm 18,61%, sản xuất chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ giảm 59,18%, sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn giảm 67,4%, sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất giảm 14,4%;...
Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước tính tại thời điểm 31/3/2026 tăng 9,44% so với tháng trước và tăng 35,5% so với cùng thời điểm năm trước, trong đó ngành có chỉ số tồn kho tăng cao hơn mức tăng chung như: Dệt tăng 36,17%; Sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 47,01%;...
Tính chung trong quý I năm 2026, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 9,08% so với cùng kỳ năm trước, Chia theo từng ngành kinh tế cấp I như sau:

+ Ngành khai khoáng giảm 10,28%, nguyên nhân chủ yếu do Công ty cổ phần đầu tư khoáng sản An Thông chất lượng quặng khai thác xấu, công ty tập trung hoàn tất thủ tục xin khai thác mỏ mới để có quặng tốt hơn nên sản lượng sản xuất của doanh nghiệp giảm.
+ Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,32%, do một số nhóm ngành công nghiệp chế biến có nguồn nguyên liệu đầu vào đảm bảo đủ phục vụ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cũng như nhận được nhiều đơn đặt hàng, sản lượng sản xuất tăng cao như: Công ty cổ phần mía đường Sơn Dương, Công Ty Trách Nhiệm Hữu Hạn 1 Thành Viên Seshin Vn 2, Công Ty Trách Nhiệm Hữu Hạn Gang thép Tuyên Quang, Công ty TNHH HITARP Việt Nam, Công ty cổ phần xây dựng và thương mại Thái Hoàng, Công ty cổ phần Hải Hà, …cụ thể: Chế biến thực phẩm tăng 15,67%; sản xuất đồ uống tăng 127,66%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 45,87%; sản xuất kim loại tăng 30,11%...
+ Ngành sản xuất và phân phối điện tăng 12,22%, do 05 nhà máy thủy điện đã hòa lưới phát điện cùng với thời tiết năm nay mưa nhiều hơn và mùa mưa cũng kết thúc muộn hơn so với năm trước. Một số thủy điện có sản lượng điện quý I tăng cao so với cùng kỳ: Thủy điện Nho Quế 2 (tăng 64,77%), thủy điện Thái An (tăng 26,99%), thủy điện sông Bạc (tăng 36,93%), thủy điện Nho Quế 1 (tăng 29,38%), thủy điện Thuận Hòa (tăng 20,59%),…
+ Ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 3,28%, do hoạt động thu gom, xử lý rác thải tăng 14,07% so cùng kỳ.
7.2. Sản phẩm công nghiệp chủ yếu
Sản phẩm công nghiệp chủ yếu trong tháng của tỉnh đạt mức tăng trưởng khá, một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng so với cùng kỳ năm trước như: Mangan đạt 1.250 tấn, tăng 92,29%; giày, dép thể thao có mũ đạt 764 nghìn đôi, tăng 67,82%; điện thương phẩm đạt 163 triệu Kwh, tăng 12,22%; điện sản xuất đạt 153 triệu Kwh, tăng 3,39%;…Tuy nhiên, cũng có một số sản phẩm công nghiệp giảm so với cùng kỳ như: ván ép từ gỗ và các vật liệu tương tự đạt 9.750 m3, giảm 9,92%; áo sơ mi cho người lớn đạt 180 nghìn cái, giảm 14,29%; quặng sắt và tinh sắt chưa nung kết đạt 7.024 tấn, giảm 45,71%…

Tính chung trong quý I năm 2026, một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng khá so với cùng kỳ năm trước: Mangan và sản phẩm từ mangan đạt 3.130 tấn, tăng 76,61%; cấu kiện làm sẵn cho xây dựng đạt 3.445 tấn, tăng 46,90%; điện sản xuất đạt 590 triệu Kwh, tăng 12,29%;… Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu giảm so với cùng kỳ năm trước như: Bột Felspat đạt 27.600 tấn, giảm 1,78%; giày, dép thể thao có mũ bằng da đạt 1.991 nghìn đôi, giảm 12,50%;...
8. Thương mại và Dịch vụ
Tình hình thương mại dịch vụ tỉnh Tuyên Quang quý I/2026 duy trì mức tăng trưởng tích cực. Thị trường hàng hóa, dịch vụ trên địa bàn vẫn tiếp nối đà tăng trưởng do nhu cầu mua sắm của người dân tăng cao, do ảnh hưởng của việc tăng giá xăng dầu cao theo giá xăng dầu thế giới và nhu cầu mua sắm của người dân tăng nhất trong dịp tết Nguyên đán Bính Ngọ và kỷ niệm ngày Quốc tế phụ nữ 8/3.

8.1. Doanh thu bán lẻ hàng hóa, dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch và dịch vụ khác
Nhằm thúc đẩy kinh tế phát triển nhanh, bền vững, tỉnh đã yêu cầu các sở, ngành, địa phương thực hiện thực hiện đồng bộ các giải pháp cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, thu hút mạnh các nguồn vốn đầu tư ngoài ngân sách, đặc biệt là vốn đầu tư tư nhân và FDI. Các hoạt động xúc tiến thương mại, du lịch được tổ chức linh hoạt và hiệu quả, góp phần thúc đẩy tiêu dùng nội địa, nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp, các hộ sản xuất kinh doanh cá thể trên địa bàn; các chỉ tiêu kinh tế chủ yếu như tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu dịch vụ tiêu trên địa bàn tỉnh được ghi nhận có mức tăng trưởng tốt so với cùng kỳ quý 1 năm trước
8.1.1. Doanh thu bán lẻ hàng hóa
Doanh thu bán lẻ hàng hóa trong tháng ước đạt 3.529 tỷ đồng, tăng 1,27% so với tháng trước, tăng 19,74% so với tháng cùng kỳ. Trong đó, một số nhóm hàng tăng so với tháng trước, tăng so với cùng kỳ, cụ thể như sau: Hàng may mặc đạt 383 tỷ đồng, tăng 0,32%, tăng 41,18%; vật phẩm văn hóa, giáo dục đạt 79 tỷ đồng, tăng 5,69%, tăng 31,17%;… Tính chung trong quý I/2026, doanh thu bán lẻ hàng hóa ước đạt 10.419 tỷ đồng, tăng 14,88% so với quý cùng kỳ.
8.1.2. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ khác
Trong tháng, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 600,81 tỷ đồng, tăng 2% so với tháng trước, tăng 14,41% so với cùng kỳ. Trong đó: Dịch vụ lưu trú đạt 55,39 tỷ đồng, tăng 3,28%, tăng 28,90%; ăn uống đạt 545,42 tỷ đồng, tăng 1,87%, tăng 11,42%. Tính chung trong quý I/2026 dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 1.774,66 tỷ đồng, tăng 17,40% so với quý cùng kỳ.
Trong tháng, doanh thu du lịch lữ hành ước đạt 7,86 tỷ đồng, tăng 1,79% so với tháng trước, tăng 61,19% so với cùng kỳ. Tính chung trong quý I/2026 du lịch lữ hành ước đạt 22,31 tỷ đồng, tăng 46,53% so quý cùng kỳ.
Doanh thu dịch vụ khác trong tháng ước đạt 93,58 tỷ đồng, tăng 0,12% so với tháng trước, tăng 14,87% so với cùng kỳ. Tính chung trong quý I/2026 dịch vụ khác ước đạt 286,09 tỷ đồng, tăng 14% so quý cùng kỳ.
8.2. Xuất, nhập khẩu hàng hóa
Tăng cường kiểm tra, kiểm soát, đấu tranh chống buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả, hàng kém chất lượng; tiếp tục cải cách, rút ngắn thủ tục hành chính trong lĩnh vực hải quan; rút ngắn thời gian thông quan hàng hóa, giảm chi phí cho doanh nghiệp, người nộp thuế, tạo thuận lợi thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu.
Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa trong tháng ước đạt 43,7 triệu USD, tăng 44,2% so với cùng kỳ. Tính trong quý I/2026, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa ước đạt 117,4 triệu USD, đạt 19,9% kế hoạch, tăng 20,3% so với cùng kỳ.
Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa trong tháng ước đạt 21,2 triệu USD, giảm 13,8% so với cùng kỳ. Tính trong quý I/2026 kim ngạch nhập khẩu hàng hóa ước đạt 49,4 triệu USD, đạt 19,8% kế hoạch, giảm 9,6% so với cùng kỳ.
9. Vận tải hàng hóa và hành khách
Trước biến động của giá xăng dầu, tỉnh đã yêu cầu các đơn vị liên quan theo dõi chặt chẽ tác động của giá xăng dầu đến giá cước vận tải trên địa bàn, nhất là với vận chuyển hành khách và hàng hóa thiết yếu; hướng dẫn doanh nghiệp kê khai giá đúng quy định. Tăng cường kiểm tra công tác kê khai, niêm yết và bán đúng giá niêm yết của các đơn vị kinh doanh vận tải trên địa bàn, tập trung kiểm tra các đơn vị có mức tăng giá lớn, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm (nếu có) theo quy định; tuyệt đối không để xảy ra tình trạng lợi dụng biến động giá nhiên liệu để tăng giá bất hợp lý.
9.1. Doanh thu vận tải tải kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải
Doanh thu vận tải trong tháng ước đạt 440,96 tỷ đồng, tăng 1,76% so với tháng trước, tăng 20,50% so với cùng kỳ. Trong đó, vận tải hành khách ước đạt 123,69 tỷ đồng, tăng 0,87%, tăng 29,40%; vận tải hàng hóa ước đạt 314,38 tỷ đồng, tăng 2,10%, tăng 17,30%; hỗ trợ vận tải ước đạt 1,99 tỷ đồng, tăng 3,83%, tăng 20,50%; bưu chính, chuyển phát ước đạt 0,9 tỷ đồng, tăng 4,74%, tăng 38%,…
Tính chung trong quý I/2026, doanh thu vận tải kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 1.315,09 tỷ đồng, tăng 12,60% so với cùng kỳ. Trong đó: Vận tải hành khách đạt 358,77 tỷ đồng, tăng 19,40%; vận tải hàng hóa đạt 947,98 tỷ đồng, tăng 10,10%; hỗ trợ vận tải đạt 5,65 tỷ đồng, tăng 11,90%; bưu chính, chuyển phát đạt 2,70 tỷ đồng, tăng 25,40%,…

9.2. Vận tải hành khách
Vận chuyển hành khách trong tháng ước đạt 1,95 triệu lượt hành khách, tăng 2,48% so với tháng trước, tăng 24,90% so với cùng kỳ; luân chuyển hành khách ước đạt 149,47 triệu lượt hành khách.km, tăng 0,19%, tăng 20,80%.
Tính chung trong quý I/2026, vận chuyển hành khách ước đạt 5,51 triệu lượt hành khách, tăng 14,50% so với cùng kỳ; luân chuyển hành khách ước đạt 432,08 triệu lượt hành khách.km, tăng 11,40%.
9.3. Vận tải hàng hóa
Vận chuyển hàng hóa ước đạt 2,10 triệu tấn, tăng 2,92% so với tháng trước, tăng 15,50% so với cùng kỳ; luân chuyển hàng hóa ước đạt 135,30 triệu tấn.km, tăng 3,46%, tăng 24,10%.
Tính chung trong quý I/2026, vận chuyển hàng hóa ước đạt 6,31 triệu tấn, tăng 11,50% so với cùng kỳ; luân chuyển hàng hóa ước đạt 411,78 triệu tấn.km, tăng 16,60%.
10. Về du lịch
Tổ chức đoàn đại biểu tham dự Chương trình giao lưu văn hoá du lịch năm 2026 giữa Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây (Trung Quốc) và các tỉnh Quảng Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng, Tuyên Quang, Hải Phòng (Việt Nam); phối hợp với Dự án Heveltas Việt Nam xây dựng và hoàn thiện Đề án phát triển du lịch tỉnh Tuyên Quang, tầm nhìn 2050; phối hợp khảo sát, xây dựng hướng dẫn quản lý điểm đến du lịch cộng đồng theo tiêu chuẩn của UN Tourism; tổ chức Lễ trao Bộ nhận diện kết hợp với trao Giấy chứng nhận Làng Du lịch tốt nhất của UN Tourism cho làng Lô Lô Chải (xã Lũng Cú); xây dựng điểm check in (chụp ảnh) tại vị trí phù hợp tại làng để tăng cường nhận diện và quảng bá cho làng và du lịch Tuyên Quang; thành lập đoàn kiểm tra các cơ sở lưu trú du lịch trên địa bàn phường Hà Giang và một số xã vùng Cao nguyên đá Đồng Văn.
Tháng 03/2026: Tuyên Quang đón 425.119 lượt khách, trong đó 61.119 lượt khách quốc tế (bao gồm khách mang hộ chiếu và giấy thông hành); 364.000 lượt khách nội địa; tổng chi tiêu khách du lịch trên địa bàn ước đạt 1.154,5 tỷ đồng (Trong đó khách du lịch quốc tế 251,8 tỷ đồng và khách nội địa 902,7 tỷ đồng).

Quý I/2026: Tuyên Quang đón 1.126.375 lượt khách, trong đó 166.732 lượt khách quốc tế (bao gồm khách mang hộ chiếu và giấy thông hành); 960.000 lượt khách nội địa (đạt 27,5% kế hoạch năm); tổng chi tiêu khách du lịch trên địa bàn ước đạt 3.067,6 tỷ đồng (Trong đó khách du lịch quốc tế 686,9 tỷ đồng và khách nội địa 2.380,7 tỷ đồng).
II. LĨNH VỰC VĂN HÓA - XÃ HỘI
1. Về lao động việc làm
Sáng 21/3/2026, tỉnh Tuyên Quang tổ chức Ngày hội việc làm năm 2026 tại Trung tâm Dịch vụ việc làm và Lưu trữ lịch sử tỉnh. Đây là sự kiện quan trọng nhằm tạo điều kiện kết nối trực tiếp giữa doanh nghiệp và người lao động, góp phần giải quyết việc làm và phát triển nguồn nhân lực địa phương.
Sự kiện năm nay ghi nhận sự góp mặt của trên 20 đơn vị tuyển dụng, bao gồm các trường đại học, cơ sở giáo dục nghề nghiệp và các doanh nghiệp lớn trong và ngoài tỉnh tham gia. Các đơn vị, doanh nghiệp không chỉ tư vấn về thị trường lao động trong nước mà còn mở rộng cơ hội đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng và du học cho người lao động. Cùng với các gian hàng phỏng vấn trực tiếp, các cơ quan chức năng như: Bảo hiểm xã hội và Ngân hàng Chính sách xã hội cũng tích cực tham gia tuyên truyền, phổ biến các chính sách về bảo hiểm và tín dụng hỗ trợ tạo việc làm cho người dân.
2. Đời sống dân cư
Triển khai chính sách bình ổn giá xăng dầu trên địa bàn tỉnh theo chỉ đạo của Chính phủ. Bảo đảm cung ứng các mặt hàng thiết yếu phục vụ nhu cầu tiêu dùng của người dân. Yêu cầu xử lý nghiêm hành vi đầu cơ, găm hàng, tăng giá bất hợp lý, đảm bảo an sinh xã hội và đời sống nhân dân.
3. Công tác người có công, giảm nghèo, bảo trợ xã hội và phòng chống tệ nạn xã hội
3.1. Công tác đối với người có công với cách mạng
Từ đầu năm đến nay, đã tổ chức tặng quà của Đảng, Nhà nước nhân dịp chào mừng Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng và Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026. Tổ chức thăm và tặng quà 22.644 người có công với cách mạng, đối tượng bảo trợ xã hội, hưu trí xã hội và các đối tượng yếu thế khác nhân dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026 với kinh phí 9,594 tỷ đồng. Thực hiện tốt công tác chăm lo đời sống các đối tượng chính sách; duy trì chi trả trợ cấp ưu đãi thường xuyên hằng tháng cho trên 9.000 người có công, thân nhân người có công và các đối tượng chính sách khác đang hưởng trợ cấp trên địa bàn tỉnh.
3.2. Công tác bảo trợ xã hội và phòng chống các tệ nạn xã hội
Tiếp tục thực hiện tốt các chính sách trợ giúp xã hội, thực hiện đầy đủ, kịp thời các chế độ, chính sách an sinh xã hội cho các hộ có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. Tiếp tục thực hiện các giải pháp hỗ trợ, tạo việc làm cho người lao động; đôn đốc thực hiện các giải pháp phát triển đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội chăm lo, giúp đỡ các đối tượng chính sách xã hội, thực hiện các chính sách, chương trình thúc đẩy bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ.
Trong tháng, Cơ sở cai nghiện của 02 tỉnh ( Tuyên Quang cũ và Hà Giang cũ) đã tiếp nhận 02 học viên, cấp giấy chứng nhận hoàn thành cai nghiện cho 25 học viên; tại thời điểm báo cáo, 2 cơ sở cai nghiện đang quản lý 193 học viên (cai nghiện bắt buộc 188 học viên, cai nghiện tự nguyện 5 học viên).
4. Hoạt động giáo dục và đào tạo
Tổ chức Khởi công 11 trường phổ thông nội trú liên cấp Trung học và Trung học cơ sở tại các xã biên giới. Tiếp tục triển khai đồng bộ các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục các bậc học và tổ chức triển khai thực hiện hiệu quả Kế hoạch năm học 2025-2026. Thực hiện rà soát, sắp xếp tổ chức lại cơ sở giáo dục đại học công lập và cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập; sắp xếp các cơ sở giáo dục phổ thông tại 17/17 xã biên giới; Tổ chức Hội nghị sơ kết Học kỳ 1 năm học 2025-2026; thi học sinh giỏi cấp tỉnh lớp 9 và lớp 12 năm học 2025-2026. Quan tâm nâng cao chất lượng giáo dục, tại kỳ thi chọn học sinh giỏi quốc gia THPT năm học 2025-2026, toàn tỉnh đạt 59 giải (02 giải nhất; 11 giải nhì, 12 giải Ba và 34 giải Khuyến khích), đặc biệt có 02 học sinh được Bộ Giáo dục và Đào tạo chọn tham dự Kỳ thi chọn đội tuyển Olympic quốc tế.
5. Hoạt động y tế
Tăng cường kiểm tra, giám sát công tác bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm, nhất là trong dịp Tết Nguyên đán năm 2026. Ban hành Kế hoạch thực hiện Chương trình hành động số 12-CTr/TU ngày 18/11/2025 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh thực hiện Nghị quyết số 72-NQ/TW ngày 09/9/2025 của Bộ Chính trị về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân. Quan tâm, nâng cao chất lượng công tác khám, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe Nhân dân; đồng thời, chủ động xây dựng, tăng cường mối quan hệ hợp tác với Sở Y tế và các cơ sở y tế tại Thành phố Hồ Chí Minh trong hoạt động khám, chữa bệnh. Nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh, hướng tới sự hài lòng của Nhân dân tại các tuyến y tế; chú trọng công tác dự phòng, phát hiện sớm, quản lý và khống chế kịp thời các bệnh, dịch trong giai đoạn chuyển mùa; trong tháng 3/2026 tổ chức khám, chữa bệnh cho 160.690 lượt người, lũy kế quý I/2026 tổ chức khám, chữa bệnh cho 597.142 lượt người.
6. Hoạt động văn hoá - thể dục, thể thao
Tổ chức chương trình nghệ thuật chào mừng kỷ niệm 96 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03/2/1930 - 03/2/2026) với chủ đề: “Mùa Xuân dâng Đảng” tại Quảng trường 26/3, phường Hà Giang 1; chào mừng thành công Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng; hướng tới cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031; Chương trình nghệ thuật đặc biệt với chủ đề “Tháng 3 - Ngày hội non sông” chào mừng Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp, nhiệm kỳ 2026 - 2031 tại Quảng trường Nguyễn Tất Thành, phường Minh Xuân và Quảng trường 26/3, phường Hà Giang 1. Hoàn thiện Chương trình thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW, ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam; Nghị quyết về xây dựng và phát triển con người Tuyên Quang phát triển toàn diện về đạo đức, nhân cách, trí tuệ, thể lực, thẩm mỹ, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững, giai đoạn 2026-2030. Ban hành và triển khai Kế hoạch tổ chức Lễ phát động Ngày chạy Olympic vì sức khỏe toàn dân năm 2026; Kế hoạch phát triển du lịch giai đoạn 2025-2030; Công bố Danh mục thủ tục hành chính mới ban hành của ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch áp dụng trên địa bàn tỉnh,...
Chỉ đạo hướng dẫn cấp xã tổ chức các lễ hội trong dịp đầu xuân năm mới, các lễ hội phải đảm bảo an ninh trật tự, an toàn giao thông, gìn giữ và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, lành mạnh, phù hợp thuần phong, mỹ tục. Tổ chức đoàn cán bộ, vận động viên tỉnh Tuyên Quang tham dự Giải Bóng đá Mùa xuân giữa tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc và 5 tỉnh, thành phố của Việt Nam. Tổ chức nghiệm thu, khánh thành dự án Khu liên hợp thể thao Hà Giang.
7. Một số hoạt động khác
Thực hiện công tác tuyển chọn gọi công dân nhập ngũ và tham gia thực hiện nghĩa vụ công an nhân dân. Năm 2026 là năm đầu tiên tiến hành công tác tuyển quân gắn với thực hiện chính quyền địa phương hai cấp. Tỉnh Tuyên Quang được Bộ Quốc phòng và Quân khu 2 giao chỉ tiêu tuyển chọn, gọi 2.849 công dân nhập ngũ. Trong đó, 2.300 công dân thực hiện nghĩa vụ quân sự tại các đơn vị quân đội thuộc Bộ Quốc phòng và 549 công dân tham gia nghĩa vụ Công an nhân dân. Thực hiện kế hoạch tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ, Hội đồng Nghĩa vụ quân sự các xã, phường trên địa bàn tỉnh đã tổ chức phát lệnh gọi công dân nhập ngũ đảm bảo đúng quy định của Luật Nghĩa vụ quân sự, đảm bảo tính công khai, dân chủ và đúng tiến độ.
8. Tình hình an toàn giao thông
Trong tháng, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 8 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 6 người và làm bị thương 1 người. Số vụ tai nạn giảm 52,94% so với tháng trước, số người chết giảm 50%; số người bị thương giảm 88,89%. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giảm 20%, số người chết giữ nguyên, số người bị thương giảm 75%.

Tính chung trong quý I/2026, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 46 vụ tai nạn giao thông, làm 29 người chết và làm 22 người bị thương. So với cùng kỳ năm trước giảm 8% số vụ, số người chết tăng 11,54%, số người bị thương giảm 33,33%.
9. Thiệt hại do thiên tai, phòng chống cháy, nổ
9.1. Về thiên tai

Trong Quý I năm 2026, trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang đã xảy ra 01 vụ thiên tai vào các ngày từ 22 - 24/3/2026. Mưa to kèm theo giông lốc đã gây thiệt hại hư hỏng 776 ngôi nhà, 518 ha hoa màu, 08 điểm trường, 02 trạm y tế, 03 nhà văn hóa, 115m kênh, 01 cây cầu dân sinh bắc qua sông Con đi thôn Tân Tiến - xã Tân Trịnh bị cuốn trôi. Ước tính thiệt hại khoảng 60 tỷ đồng.
9.2. Về cháy nổ
Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh xảy ra 03 vụ cháy. Không ghi nhận thiệt hại về người, ước tính thiệt hại tài sản 351,3 triệu đồng.

10. Một số nhiệm vụ giải pháp trong thời gian tới
Với quyết tâm hoàn thành cao nhất các mục tiêu, chỉ tiêu kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh đã đề ra trong năm 2026. Để phấn đấu hoàn thành các mục tiêu theo kế hoạch cần phải tiếp tục thực hiện tốt một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm sau:
Một là, Thường xuyên theo dõi, nắm chắc tình hình sản xuất của các doanh nghiệp công nghiệp; kịp thời hỗ trợ tháo gỡ khó khăn, vướng mắc về thị trường, vốn, nguyên liệu, tạo điều kiện để doanh nghiệp phát huy công suất, duy trì ổn định sản xuất, phấn đấu hoàn thành mục tiêu tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp theo kế hoạch. Tập trung đôn đốc đẩy nhanh tiến độ các dự án đã được phê duyệt chủ trương đầu tư. Xây dựng Quy định về quản lý an toàn trong sử dụng điện.
Khẩn trương triển khai việc lập quy hoạch chung đô thị và nông thôn thuộc thẩm quyền cấp xã, đảm bảo phù hợp với các cấp độ quy hoạch còn hiệu lực, các quy chuẩn, tiêu chuẩn hiện hành và tuân thủ theo đúng trình tự, thủ tục, quy định của pháp luật. Xây dựng Quyết định quy định về trình tự, thủ tục phê duyệt điều chỉnh cục bộ quy hoạch đô thị và nông thôn đã được UBND tỉnh phê duyệt do UBND cấp xã tổ chức lập. Triển khai các bước lập điều chỉnh Quy hoạch chung xây dựng Khu kinh tế cửa khẩu Thanh Thủy; Quy hoạch chung Khu du lịch quốc gia Cao nguyên đá Đồng Văn; Quy hoạch chung Khu du lịch quốc gia Tân Trào,... Khẩn trương triển khai thực hiện điều chỉnh Chương trình phát triển nhà ở tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 2021 - 2030, định hướng đến năm 2045.
Thực hiện công bố giá vật liệu xây dựng hằng tháng bảo đảm kịp thời, đúng quy định. Tăng cường kiểm tra, hướng dẫn, theo dõi sát diễn biến thị trường, không để xảy ra tình trạng giá công bố thấp hơn giá bán vật liệu xây dựng trên thị trường, gây khó khăn cho chủ đầu tư, nhà thầu và làm phát sinh tiêu cực. Công bố, điều chỉnh đơn giá vật liệu xây dựng, đơn giá nhân công xây dựng, ca máy và thiết bị thi công bảo đảm phù hợp với mặt bằng giá thị trường, làm cơ sở cho việc lập, thẩm định và triển khai các dự án đầu tư trên địa bàn.
Hai là, Tập trung rà soát, xử lý các dự án chậm tiến độ, tồn đọng, kéo dài trên địa bàn tỉnh, phân loại để xác định phương án xử lý phù hợp; đối với các dự án có khả năng tiếp tục triển khai thì tập trung tháo gỡ khó khăn, đẩy nhanh tiến độ; đối với các dự án không còn phù hợp hoặc không đủ điều kiện thực hiện thì xem xét điều chỉnh, chấm dứt hoặc xử lý theo quy định của pháp luật.
Nâng cao chất lượng công tác chuẩn bị đầu tư và tổ chức thực hiện dự án; chủ động, linh hoạt trong thực hiện thủ tục đầu tư và công tác giải phóng mặt bằng; tập trung đẩy nhanh tiến độ thi công các dự án, đặc biệt là các dự án trọng điểm trên địa bàn tỉnh như: Dự án Cao tốc Tuyên Quang - Hà Giang (giai đoạn 1); Bệnh viện Đa khoa tỉnh Tuyên Quang; Dự án đường và từ khu du lịch suối khoáng Mỹ Lâm đến QL2D kết nối với đường cao tốc Tuyên Quang - Phú Thọ,…
Ba là, Tổ chức thực hiện nghiêm túc, kịp thời, đầy đủ các cơ chế, chính sách về tiền tệ và hoạt động ngân hàng. Tiếp tục triển khai các giải pháp thúc đẩy tăng trưởng tín dụng gắn với nâng cao chất lượng tín dụng; tăng cường kiểm soát và xử lý nợ xấu, bảo đảm an toàn hoạt động của hệ thống các tổ chức tín dụng trên địa bàn.
Tiếp tục thực hiện cải cách, rút ngắn thủ tục hành chính trong lĩnh vực hải quan, thuế; rút ngắn thời gian thông quan hàng hóa, giảm chi phí cho doanh nghiệp, người nộp thuế, tạo thuận lợi thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu.
Công tác sắp xếp, xử lý tài sản công là các trụ sở dôi dư: Tiếp tục hướng dẫn các cơ quan, tổ chức, đơn vị thực hiện sắp xếp, bố trí, xử lý các cơ sở nhà, đất, tài sản công khi sắp xếp tổ chức theo đúng các quy định của pháp luật.
Bốn là, Tiếp tục theo dõi chặt chẽ tình hình thời tiết, chủ động xây dựng các phương án phòng chống thiên tai, cảnh báo mưa lũ nhắm hạn chế tối thiểu thiệt hại về người và tài sản do thiên tai gây ra. Thực hiện tốt các chính sách về an sinh xã hội, lao động, việc làm, công tác trợ giúp đột xuất, bảo đảm người dân khi gặp rủi ro, thiên tai được hỗ trợ kịp thời, khắc phục khó khăn ổn định cuộc sống. Tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát bảo đảm an ninh trật tự, an toàn giao thông và phòng chống cháy nổ.
THỐNG KÊ TỈNH TUYÊN QUANG
Tin khác