207.3 823 523 | ctk_tuyenquang@gso.gov.vn

Tình hình kinh tế - xã hội tháng 4 năm 2026 tỉnh Tuyên Quang

15/05/2026 15:08

I. PHÁT TRIỂN KINH TẾ 

1. Về sản xuất nông nghiệp (tính đến ngày 20/4/2026)

1.1. Trồng trọt

1.1.1. Sản xuất vụ xuân năm 2026

Hiện nay, bà con nhân dân đã hoàn thành gieo trồng cây hàng năm vụ Xuân 2026 đảm bảo khung thời vụ và đang tiến hành chăm sóc, phòng chống dịch bệnh trên cây trồng.

    

- Cây Lúa: Diện tích lúa gieo trồng đạt 26.933 ha giảm 3,42% (giảm 953,85 ha) so với cùng kỳ.

- Ngô lấy hạt: Diện tích gieo trồng vụ Đông – Xuân đạt 38.150 ha, tăng 14,12% (tăng 4.719 ha). Diện tích gieo trồng Ngô tăng cao do các xã thực hiện duy trì ổn định tổng sản lượng lương thực có hạt trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang năm 2026, bằng cách trồng bù phần diện tích vụ Đông không gieo trồng, chuyển một phần diện tích lúa, khoai lang sang trồng ngô và trồng thêm trên diện tích cây cam, chè bị chết.

- Khoai lang: Diện tích gieo trồng vụ Đông – Xuân đạt 1.740,39 ha, giảm 10,84% (giảm 211,52 ha) so. Diện tích khoai lang giảm ở hầu hết các xã trên địa bàn tỉnh, nguyên nhân do người dân một số địa phương trong tỉnh chuyển đổi sang trồng ngô và rau đậu các loại có hiệu quả kinh tế cao hơn.

- Đậu tương: Diện tích gieo trồng vụ Đông - Xuân đạt 4.619,1 ha, tăng 10,28% (tăng 430,45 ha). Diện tích gieo trồng đậu tương tăng do người dân tăng diện tích trồng xen trên diện tích trồng ngô tăng trong vụ.

- Lạc: Diện tích gieo trồng vụ Đông – Xuân đạt 8.850,59 ha, tăng 3,22% (tăng 276,14 ha).

- Rau các loại: Diện tích gieo trồng vụ Đông – Xuân đạt 20.772,89 ha, tăng 2,65% (tăng 535,38 ha). Diện tích gieo trồng tăng do người dân trồng chuyển từ diện tích trồng khoai lang và trồng xen cây ngô.

- Diện tích gieo trồng cây đậu các loại đạt 2174,03 ha, tăng 0,56% (tăng 12 ha).

1.1.2 Cây lâu năm

Diện tích cây chuối hiện có trên địa bàn tỉnh 3.105,29 ha, giảm 5,22% so với cùng kỳ (giảm 171,07 ha).

Diện tích cây chè toàn tỉnh hiện có 27.427,83 ha, giảm 2,02% (giảm 567,71 ha) so với cùng kỳ năm trước. Diện tích chè vẫn tiếp tục giảm do một phần diện tích trồng chè của xã Bắc Quang nhà nước thu hồi đất sử dụng mục đích mở đường quốc lộ và phát triển một số dự án xây dựng mới sau sát nhập. Chia theo thành phần kinh tế: Tư nhân là 3.522,27 ha; cá thể là 23.905,56 ha.

1.2. Tình hình sinh vật gây hại

Trên cây lúa vụ xuân bệnh đạo ôn, bệnh nghẹt rễ, bệnh đốm sọc vi khuẩn, bệnh bạc lá, bệnh khô vằn, chuột xuất hiện rải rác. Cây ngô vụ Xuân xuất hiện sâu keo mùa thu, rệp hại, bệnh đốm lá, bệnh khô vằn. Trên cây lạc xuất hiện rải rác sâu cuốn lá, rầy xanh lá mạ, bệnh rỉ sắt, bệnh đốm lá, bệnh héo xanh. Trên cây đậu tương xuất hiện ruồi đục thân, sâu cuốn lá, sâu khoang, bệnh rỉ sắt gây hại rải rác. Trên cây rau đậu xuất hiện bọ trĩ, sâu xanh bướm trắng, rệp, bệnh thối nhũn, bệnh mốc sương, bệnh thán thư, bệnh lở cổ rễ gây hại rải rác.

1.3. Về chăn nuôi

1.3.1. Về số lượng đàn gia súc, gia cầm

Trong tháng, tình hình chăn nuôi trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang nhìn chung duy trì ổn định và có xu hướng tăng trưởng nhẹ, tuy nhiên sự phát triển giữa các loại vật nuôi không đồng đều. Ngành chăn nuôi Tuyên Quang có một số thuận lợi cơ bản như thị trường tiêu thụ tương đối ổn định, các chính sách hỗ trợ của Nhà nước tiếp tục được triển khai, dịch bệnh cơ bản được kiểm soát, tạo điều kiện cho người dân yên tâm sản xuất. Bên cạnh đó, xu hướng chuyển đổi sang chăn nuôi hàng hóa, áp dụng kỹ thuật và phát triển theo chuỗi giá trị đang dần hình thành rõ nét. Tuy nhiên, ngành vẫn đối mặt với nhiều khó khăn như giá thức ăn chăn nuôi ở mức cao làm tăng chi phí sản xuất, giá bán sản phẩm chưa thực sự ổn định, đặc biệt đối với thịt lợn; điều kiện thời tiết giao mùa tiềm ẩn nguy cơ phát sinh dịch bệnh; quy mô sản xuất nhỏ lẻ còn phổ biến, khả năng liên kết tiêu thụ còn hạn chế.

Đàn trâu 216.179 con, giảm 3,17% so với cùng kỳ năm 2025. Nguyên nhân chủ yếu do phương thức chăn nuôi truyền thống phụ thuộc vào chăn thả tự nhiên đang dần thu hẹp, diện tích đồng cỏ bị giảm, hiệu quả kinh tế không cao so với các vật nuôi khác. Bên cạnh đó, tập quán sử dụng sức kéo của trâu trong sản xuất nông nghiệp giảm mạnh do cơ giới hóa, dẫn đến nhu cầu nuôi trâu không còn lớn như trước. Tuy vậy, việc giảm đàn trâu không làm ảnh hưởng lớn đến giá trị sản xuất do một bộ phận người chăn nuôi đã chuyển sang hình thức nuôi vỗ béo, nâng cao giá trị thương phẩm.

 Đàn bò 175.733 con, tăng 0,12%, đàn bò tiếp tục tăng nhẹ nhờ hiệu quả từ các chương trình cải tạo giống và hỗ trợ phát triển chăn nuôi của địa phương. Người dân từng bước chuyển sang nuôi bò sinh sản và bò thịt theo hướng hàng hóa, áp dụng tiến bộ kỹ thuật như thụ tinh nhân tạo, cải thiện tầm vóc và năng suất đàn bò.

Đàn lợn 1.238.014 con, tăng 0,14%. Mặc dù hầu hết các ổ dịch tả lợn Châu Phi trên địa bàn tỉnh đã công bố hết dịch nhưng tâm lý người dân còn e ngại, chưa mạnh dạn tái đàn với số lượng lớn.

Đàn gia cầm 14.242,15 nghìn con, tăng 3,48%. Nguyên nhân: Sự tăng trưởng này chủ yếu do nhu cầu tiêu dùng thịt gia cầm và trứng ổn định, thời gian nuôi ngắn, khả năng quay vòng vốn nhanh, phù hợp với điều kiện của nhiều hộ chăn nuôi. Ngoài ra, việc phát triển các mô hình chăn nuôi gà theo hướng trang trại, an toàn sinh học và liên kết tiêu thụ đã góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất.

1.4. Về công tác phòng chống dịch bệnh gia súc, gia cầm trong tháng

 1.4.1. Công tác phòng chống và điều trị

Trong tháng 4, bệnh Dịch tả lợn Châu Phi phát sinh tại 40 hộ/21thôn/09 xã mới, số lợn tiêu hủy là 223 con/8.916 kg. Luỹ kế từ ngày 01/01/2026 đến ngày 15/4/2026, toàn tỉnh ghi nhận 395 con lợn mắc bệnh buộc tiêu hủy tại 50 hộ/29 thôn/15 xã; tổng khối lượng 22.412 kg. Đến ngày 15/4/2026 đã có 04 xã công bố hết dịch.

Cơ quan chức năng phối hợp với các xã, phường theo dõi chặt chẽ tình hình dịch bệnh gia súc, gia cầm, thuỷ sản trên địa bàn, đặc biệt các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, đồng thời chỉ đạo các địa phương triển khai tiêm phòng vụ Xuân - Hè năm 2026.

1.4.2. Công tác kiểm dịch vận chuyển động vật, sản phẩm động vật

Tiếp tục thực hiện nghiêm quy định về kiểm dịch vận chuyển động vật, sản phẩm động vật ra ngoài tỉnh. Trong tháng đã kiểm tra, cấp 425 giấy chứng nhận kiểm dịch, gồm 232 chuyến, vận chuyển 40.559 con gia súc, gia cầm và 193 chuyến, vận chuyển 3.437.000 kg sữa tươi nguyên liệu. Lũy kế từ đầu năm đến nay, đã cấp 1.295 giấy, gồm 616 chuyến, vận chuyển 82.407 con gia súc, gia cầm và 679 chuyến vận chuyển 13.373.000 kg sữa tươi nguyên liệu đi các tỉnh như Bắc Ninh, Hà Nội, Cao Bằng, Phú Thọ, Lai Châu....

1.5. Về sản xuất lâm nghiệp

 1.5.1. Công tác trồng rừng

Ước tính trong tháng,  tổng diện tích rừng trồng mới tập trung toàn tỉnh đã trồng được 2.765,75 ha, giảm 6,65% (giảm 196,93 ha). Lũy kế 4 tháng đầu năm, diện tích trồng rừng đạt 6.184,21 ha, giảm 3,95% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân là do nhiều rừng chưa đến tuổi khai thác, diện tích đất trống để trồng mới giảm.

1.5.2. Khai thác gỗ rừng trồng

Trong tháng sản lượng gỗ khai thác ước đạt 156.081,98 m3 gỗ, giảm 6,31% (giảm 10.506,99 m3)  so với cùng kỳ năm 2025. Lũy kế 4 tháng đầu năm, sản lượng gỗ khai thác đạt 463.378,88 m3, tăng 1,81% (tăng 8.248,20 m3). Sản lượng gỗ khai thác giảm do diện tích rừng sản xuất đến tuổi khai thác giảm.  

1.5.3. Công tác quản lý bảo vệ rừng

Theo báo cáo của Chi cục Kiểm lâm tỉnh, trong tháng đã xảy ra 01 vụ cháy rừng; luỹ kế từ đầu năm 01 vụ, giảm 35 vụ so với cùng kỳ; thiệt hại 0,12 ha, giảm 78,21 ha so với cộng dồn đến tháng thực hiện. Nguyên nhân chính gây ra 01 vụ cháy rừng là do người dân đốt nương làm rẫy cháy lan vào rừng sản xuất. Số vụ phá rừng giảm do cơ quan chức năng địa phương đã tăng cường kiểm tra, giám sát, phát hiện và ngăn chặn kịp thời. Tăng cường tuyên truyền về công tác PCCCR và chủ động cập nhật diễn biến thời tiết để có những phương án phù hợp.

2. Sản xuất công nghiệp

2.1. Chỉ số phát triển công nghiệp

Chỉ số sản xuất công nghiệp IIP trong tháng tăng 6,37% so với tháng trước, tăng 12,97% so với cùng kỳ, cụ thể của các ngành như sau: Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 4,40%, tăng 12,01%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí tăng 22,94%, tăng 30,62%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 2,57%, tăng 2,32%. Ở chiều ngược lại, khai khoáng giảm 16,15%, giảm 29,86%.

Một số ngành công nghiệp cấp II có chỉ số sản xuất tăng so với cùng kỳ năm trước như: Sản xuất chế biến thực phẩm tăng 41,43%; sản xuất đồ uống tăng 331,87%; sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất tăng 21,81%; sản xuất giường, tủ, bàn ghế tăng 18,34%;...

Sản xuất công nghiệp trong tháng 4/2026 tiếp tục xu hướng tăng trưởng tích cực, các doanh nghiệp chủ động nắm bắt thị trường tập trung tháo gỡ khó khăn vướng mắc đối với các vấn đề về nguyên liệu, vốn kinh doanh, thị trường tiêu thụ sản phẩm, nguồn cung cấp điện… Đồng thời lên kế hoạch nâng công suất các nhà máy đã đi vào hoạt động (công ty TNHH Gang thép Tuyên Quang); mở rộng lĩnh vực sản suất (công ty TNHH HITARP Việt Nam, dự án nhà máy sản xuất vải bạt nhựa PE) và thu hút các dự án thuộc nhóm công nghệ mới, hiện đại.

- Tính chung trong 04 tháng đầu năm 2026, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 9,15% so với cùng kỳ năm trước, Chia theo từng ngành kinh tế cấp I như sau:

+ Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 8,72%, do một số ngành chế biến tăng như: Sản xuất chế biến thực phẩm tăng 22,53%; sản xuất đồ uống tăng 141,49%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế) tăng 10,77%; sản xuất giường, tủ, bàn ghế tăng 97,77%; sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 12,89%;...

+ Ngành sản xuất và phân phối điện tăng 17,32%, nguyên nhân là do lượng nước tại các lòng hồ đảm bảo việc tích nước và thực hiện các đợt xả nước của Trung tâm Điều độ Hệ thống điện Quốc gia phục vụ cho gieo cấy vụ Xuân dẫn đến sản lượng điện sản xuất trong 04 tháng đầu năm tăng.

+ Ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 3,47%, do nhu cầu sử dụng nước sinh hoạt và khối lượng rác thải tăng. Công ty Cổ phần Cấp thoát nước và công ty Đô thị đã tăng cường kiểm tra, bảo dưỡng máy móc, thiết bị, nhằm bảo đảm các hoạt động cấp nước và thu gom rác thải ổn định.

2.2. Sản phẩm công nghiệp chủ yếu

Trong tháng, nhóm sản phẩm chủ yếu tăng so với cùng kỳ cụ thể như sau: Điện thương phẩm đạt 173 triệu Kwh, tăng 12,79%; điện sản xuất đạt 216 triệu Kwh, tăng 43,52%; cát tự nhiên ước đạt 17.833 m3, tăng 12,16%; đá xây dựng khác  đạt 50.792 m3, tăng 34,01%;... Một số nhóm giảm so với cùng kỳ là: Bột Felspar  đạt 9.200 tấn, giảm 3,16%; xi măng đạt 103.000 tấn, giảm 14,07%;...

Tính chung trong 4 tháng, một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng khá so với cùng kỳ năm trước: Điện thương phẩm đạt 640 triệu Kwh, tăng 11,20%; điện sản xuất đạt 809 triệu Kwh, tăng 19,60%; mangan và sản phẩm của mangan đạt 4.200 tấn, tăng 74,17%;...

Đánh giá chung, Tháng 4/2026, một số doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp tiếp tục duy trì sản xuất ổn định. Tuy nhiên, do ảnh hưởng chung từ kinh tế thế giới, một số doanh nghiệp khai thác khoáng sản do không tiêu thụ được hàng tồn kho, phải điều chỉnh lại kế hoạch sản xuất, một số doanh nghiệp chưa đi vào sản xuất do vướng mắc trong quá trình bồi thường, giải phóng mặc bằng. Một số doanh nghiệp chế biến nông lâm sản cũng bị hạn chế về thị trường tiêu thụ sản phẩm. Trước tình hình đó, Tỉnh đã triển khai nhiều chính sách hỗ trợ, thu hút đầu tư trong lĩnh vực công nghiệp, cải thiện thủ tục hành chính, minh bạch hóa môi trường đầu tư, kinh doanh nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho các doanh nghiệp, phấn đấu hoàn thành kế hoạch đã đề ra.

3. Vốn đầu tư, xây dựng

3.1. Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý

Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước thực hiện tháng 4 ước đạt 708,8 tỷ đồng, tăng 41,16% so với tháng trước. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 553,1 tỷ đồng, tăng 41,94%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã đạt 155,7 tỷ đồng, tăng 38,48%.

Tính chung trong 4 tháng, nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 2.336,3 tỷ đồng, giảm 7,23% so với cùng kỳ. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 1.876,6 tỷ đồng, giảm 1,26%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã đạt 459,7 tỷ đồng, giảm 25,59%.

3.2. Hoạt động xây dựng

Tiếp tục đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công và triển khai thi công các dự án trọng điểm: Dự án cao tốc Tuyên Quang - Hà Giang (giai đoạn 1) đoạn qua tỉnh Tuyên Quang; Bệnh viện đa khoa tỉnh tại địa điểm mới; 17 trường phổ thông nội trú liên cấp tiểu học và trung học cơ sở tại các xã biên giới,… Tập trung chỉ đạo các công trình giao thông, trường học vùng biên giới, hạ tầng khu công nghiệp, du lịch, nông, lâm nghiệp, khoáng sản và các dự án động lực khác. Rà soát, báo cáo khó khăn, vướng mắc trong lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Tài chính khi triển khai chính quyền địa phương 02 cấp.

Giải ngân vốn đầu tư công năm 2026 đến ngày 15/4/2026 đạt 1.037,76/6.386,95 tỷ đồng, bằng 16,3% kế hoạch, nếu không bao gồm vốn ngân sách trung ương mới bổ sung, giải ngân của tỉnh đạt 30,01% kế hoạch. (Trong đó: Vốn ngân sách Trung ương đạt 106,611/3.416,873 tỷ đồng, bằng 3,12% kế hoạch; vốn ngân sách địa phương đạt 931,153/3.126,4 tỷ đồng, bằng 31,35% kế hoạch).

4. Thương mại và Dịch vụ

Trong tháng 4/2026, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang tiếp tục ghi nhận đà tăng trưởng ổn định, phản ánh tâm lý tiêu dùng tích cực của người dân. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng so với tháng trước. Do sức mua tiêu dùng của thị trường được phục hồi rõ nét, nhu cầu tiêu dùng thiết yếu duy trì ổn định. Nổi bật là doanh thu bán lẻ có tốc độ tăng trưởng khá cao tại các nhóm có quyền số lớn như: Lương thực thực phẩm; đồ gia dụng; nhóm vật liệu xây dựng; nhóm bán lẻ xăng dầu, nhóm vàng bạc, đá quý, ... Nguồn cung hàng hóa dồi dào đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, nhất là vào thời điểm vào hè, nhu cầu đi du lịch tăng cao. Hoạt động thương mại dịch vụ gắn với du lịch phát triển tích cực. Chuyển đổi số trong thương mại dịch vụ bước đầu mạng lại hiệu quả cao thể hiện trong các hoạt động như: tăng cường thanh toán không dùng tiền mặt; mở rộng bán hàng qua nền tảng số, mạng xã hội; kết hợp mô hình bán lẻ truyền thống và hiện đại, ... Các hộ kinh doanh, doanh nghiệp nhỏ từng bước thích ứng với mội trường kinh doanh số.  

4.1. Doanh thu bán lẻ hàng hóa

Doanh thu bán lẻ hàng hóa tháng 4 ước đạt 3.654 tỷ đồng, tăng 1,36% so với tháng trước, tăng 22,80% so với cùng kỳ. Trong đó, một số nhóm hàng tăng so tháng trước, tăng so cùng kỳ cụ thể như sau: Nhóm hàng lương thực, thực phẩm đạt 931 tỷ đồng, tăng 0,41%, tăng 10,65%; nhóm hàng may mặc đạt 369 tỷ đồng, tăng 0,89%, tăng 39,28%; nhóm vật phẩm văn hóa, giáo dục đạt 83 tỷ đồng, tăng 1,40%, tăng 35,94%… Tính chung trong 4 tháng, tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 14.149 tỷ đồng, tăng 17,47% so với năm 2025.

4.2. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ khác

Trong tháng, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, lữ hành ước đạt 698,05 tỷ đồng, tăng 10,71% so với tháng trước, tăng 27,54% so với cùng kỳ. Trong đó: Dịch vụ lưu trú đạt 62,03 tỷ đồng, tăng 8,04%, tăng 28,01%; ăn uống đạt 636,02 tỷ đồng, tăng 10,98%, tăng 27%. Tính chung trong 4 tháng, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 2.502,40 tỷ đồng, tăng 20,98% so với cùng kỳ.

Doanh thu du lịch lữ hành đạt 8,01 tỷ đồng, tăng 1,03%, tăng 85,38% so với cùng kỳ. Tính chung 4 tháng, doanh thu du lịch lữ hành ước đạt 30,39 tỷ đồng, tăng 55,47%.

Doanh thu dịch vụ khác trong tháng ước đạt 92,73 tỷ đồng, tăng 2,41% so với tháng trước, tăng 19,87% so với cùng kỳ. Tính chung trong 4 tháng, doanh thu dịch vụ khác ước đạt 375,79 tỷ đồng, tăng 14,46%.

4.3. Giá cả

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trong tháng tăng 6,91% so với cùng kỳ năm trước, tăng 4,79% so với tháng 12 năm trước, tăng 0,22% so với tháng trước. Tính chung trong 4 tháng, CPI bình quân tăng 5,35% so với cùng kỳ.

Tỉnh đã chỉ đạo tăng cường theo dõi, nắm bắt diễn biến thị trường và tình hình lưu thông hàng hóa; triển khai các phương án bảo đảm cân đối cung - cầu, thực hiện bình ổn giá xăng dầu và các biện pháp bình ổn giá xăng dầu trên địa bàn tỉnh theo chỉ đạo của Chính phủ. Trong số 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính thì có 7 nhóm tăng giá so với tháng trước, 4 nhóm giảm giá.

Trong 7 nhóm hàng tăng so với tháng trước, bao gồm những nhóm hàng sau: Nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 1,19%, do thời tiết vào hè nắng nóng làm cho nhu cầu về bia, nước ngọt tăng cao; nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,59% do nhu cầu mua sắm quần áo may sẵn và giầy dép của người dân tăng; nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 2,32%; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,96% do nhu cầu mua sắm các thiết bị như quạt, điều hòa tăng; nhóm giáo dục tăng nhẹ 0,02%; nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,35%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,69% tập trung ở giá nhóm đồ trang sức tăng do giá vàng tăng.

Trong 4 nhóm có giá giảm gồm: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,02%, nguyên nhân chủ yếu là do giá thực phẩm giảm; nhóm thuốc và dịch vụ y tế giảm 0,86%; nhóm giao thông giảm 1,61%; nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,16%.

- Chỉ số giá vàng tăng 58,80% so với cùng kỳ năm trước, tăng 14,03% so với tháng 12 năm trước, giảm 6,15% so với tháng trước. Tính chung trong 4 tháng đầu năm 2026, giá vàng tăng 80,17% so với cùng kỳ.

- Chỉ số giá đô la Mỹ tăng 0,87% so với cùng kỳ năm trước, giảm 0,02% so với tháng 12 năm trước, tăng 0,26% so với tháng trước. Tính chung trong 4 tháng đầu năm 2026, tăng 1,81% so với cùng kỳ.

4.4. Tình hình xuất, nhập khẩu hàng hóa

 Tỉnh đã chỉ đạo Công an, Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh (Biên phòng), Hải quan, Chi Cục Quản lý thị trường tăng cường kiểm tra, kiểm soát, đấu tranh chống buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả, hàng kém chất lượng.

Tổng kim ngạch xuất hàng hóa trong tháng 4 ước đạt 56,85 triệu USD, giảm 18,15% so với cùng kỳ. Tổng kim ngạch nhập khẩu ước đạt 14,63 triệu USD, tăng 48,26% so cùng kỳ, trong đó chủ yếu là nhập máy móc, thiết bị, phụ tùng và nguyên liệu may mặc.

Lũy kế 4 tháng đầu năm, kim ngạch xuất, nhập khẩu đạt 236,6 triệu USD, đạt 28,2% kế hoạch, tăng 5,8% so với cùng kỳ.

5. Vận tải hàng hóa và hành khách

Tháng 4, hoạt động vận tải và kho bãi tiếp tục tăng do trong tháng có kỳ nghỉ lễ dài ngày nên lượng khách tham quan, du lịch và nhu cầu đi lại của người dân tăng cao. Cùng với đó khối lượng vận chuyển hàng hóa tăng mạnh, đặc biệt từ các ngành sản xuất và thương mại điện tử, tạo áp lực lớn lên hạ tầng vận tải. Doanh thu trong tháng tăng cũng do giá xăng, dầu có nhiều biến động buộc các doanh nghiệp, hộ cá thể vận tải phải điều chỉnh tăng giá cước để bù đắp chi phí đầu vào nên đã tác động đến ngành dịch vụ vận tải.

5.1. Doanh thu vận tải tải kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải

Doanh thu vận tải trong tháng ước đạt 456,77 tỷ đồng, tăng 3,58% so với tháng trước, tăng 20,50% so với cùng kỳ. Trong đó, vận tải hành khách đạt 129,86 tỷ đồng, tăng 4,19%, tăng 29,40%; vận tải hàng hóa đạt 323,99 tỷ đồng, tăng 3,33%, tăng 17,30%; doanh thu dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 2,05 tỷ đồng, tăng 6,46%, tăng 20,50%; hoạt động bưu chính, chuyển phát đạt 0,87 tỷ đồng, tăng 0,76%, tăng 40,07%.

Tính chung trong 4 tháng đầu năm 2026, doanh thu vận tải kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 1.771,89 tỷ đồng, tăng 12,60% so với cùng kỳ. Trong đó: vận tải hành khách đạt 489,58 tỷ đồng, tăng 19,40%; vận tải hàng hóa đạt 1.271,14  tỷ đồng, tăng 10,10%; dịch vụ hỗ trợ vận tải kho bãi đạt 7,64 tỷ đồng, tăng 11,90%; bưu chính, chuyển phát đạt 3,53 tỷ đồng, tăng 27,28%.

5.2. Vận tải hành khách và hàng hóa

Trong tháng khối lượng hành khách vận chuyển ước đạt 2,02 triệu lượt hành khách, tăng 3,78% so với tháng trước, tăng 24,90% so với cùng kỳ; khối lượng hành khách luân chuyển ước đạt 157,87 triệu lượt hành khách.km, tăng 4,91%, tăng 20,80%. Tính chung 4 tháng đầu năm 2026, khối lượng hành khách vận chuyển ước đạt 7,54 triệu lượt hành khách, tăng 14,50% so với cùng kỳ; khối lượng hành khách luân chuyển ước đạt 591,26 triệu lượt hành khách.km, tăng 11,40%.

Khối lượng hàng hóa vận chuyển trong tháng ước đạt 2,12 triệu tấn, tăng 3,57% so với tháng trước, tăng 15,50% so với cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 135,14 triệu tấn.km, tăng 4,08%, tăng 24,10%. Tính chung 4 tháng đầu năm 2026, khối lượng hàng hóa vận chuyển ước đạt 8,38 triệu tấn, tăng 11,50% so với cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 541,46 triệu tấn.km, tăng 16,60%.

6. Về du lịch

Chú trọng bảo tồn, gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc gắn với phát triển du lịch cộng đồng, du lịch trải nghiệm; tổ chức các hoạt động văn hóa, thể thao thiết thực, hiệu quả, tránh hình thức, phô trương, dàn trải; quan tâm đổi mới nội dung, phương thức quảng bá, xây dựng sản phẩm văn hóa, du lịch đặc trưng của tỉnh.

Trong tháng 4/2026, toàn tỉnh đón 310.823 lượt khách du lịch, tổng thu từ du lịch đạt 944,4 tỷ đồng. Lũy kế 4 tháng đầu năm đón 1.437.198 lượt khách du lịch đạt 35% kế hoạch, tổng thu du lịch đạt 4.011,2 tỷ đồng.

II. LĨNH VỰC VĂN HÓA - XÃ HỘI

1. Công tác lao động, việc làm, giáo dục nghề nghiệp

Triển khai nắm bắt tình hình tuyển dụng, sử dụng, phổ biến các chủ trương, chính sách về lao động, việc làm; cung cấp thông tin nhu cầu tuyển dụng của các doanh nghiệp trong nước và cơ hội đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Đồng thời, cán bộ chuyên môn trực tiếp tư vấn, giải đáp thắc mắc, hướng dẫn đăng ký tuyển dụng và hoàn thiện thủ tục cần thiết. Thông qua hoạt động này, người lao động được tiếp cận kịp thời thông tin thị trường lao động, nâng cao nhận thức, hạn chế rủi ro trong quá trình tìm việc, góp phần kết nối cung - cầu lao động, giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương.

2. Công tác đảm bảo chế độ người có công với cách mạng, bảo trợ, an sinh xã hội và phòng chống các tệ nạn

2.1. Công tác đối với người có công với cách mạng

Thực hiện tốt công tác chăm lo đời sống các đối tượng chính sách; duy trì chi trả trợ cấp ưu đãi thường xuyên hằng tháng cho trên 9.000 người có công, thân nhân người có công và các đối tượng chính sách khác đang hưởng trợ cấp trên địa bàn tỉnh.

2.2. Công tác bảo trợ, an sinh xã hội và phòng chống các tệ nạn

Chủ động chuẩn bị nguồn lực, thực hiện đầy đủ, kịp thời các chế độ, chính sách đối với hộ nghèo, hộ cận nghèo, đối tượng bảo trợ xã hội và các hộ bị ảnh hưởng bởi thiên tai, bão lũ.

Trong tháng, Cơ sở cai nghiện của 02 tỉnh ( Tuyên Quang cũ và Hà Giang cũ) đã tiếp nhận 8 học viên, cấp giấy chứng nhận hoàn thành cai nghiện cho 22 học viên; tại thời điểm báo cáo, 2 cơ sở cai nghiện đang quản lý 179 học viên (cai nghiện bắt buộc 176 học viên, cai nghiện tự nguyện 3 học viên).

3. Hoạt động giáo dục và đào tạo

Thực hiện công tác tuyển dụng viên chức; tổ chức kiểm tra, sát hạch viên chức sự nghiệp giáo dục năm 2025. Ban hành và triển khai Phương án sắp xếp, tổ chức lại cơ sở giáo dục đại học công lập và cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập; phương án sắp xếp các cơ sở giáo dục phổ thông tại 17/17 xã biên giới trên địa bàn tỉnh; phương án sắp xếp mạng lưới cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông và giáo dục thường xuyên công lập trên địa bàn tỉnh. Đẩy nhanh tiến độ thi công các 06 trường phổ thông nội trú TH&THCS các xã biên giới khởi công giai đoạn 1; chuẩn bị các điều kiện tổ chức thi công 11 trường phổ thông nội trú TH&THCS tại các xã biên giới khởi công giai đoạn 2 theo kế hoạch. Tăng cường tổ chức kiểm tra công tác tổ chức ôn thi tốt nghiệp THPT. Tổ chức thành công Hội thao Giáo dục Quốc phòng và An ninh cấp tỉnh dành cho học sinh trung học phổ thông và tham dự cấp toàn quốc, năm học 2025-2026.

4. Hoạt động y tế

Chủ động triển khai các biện pháp phòng, chống dịch bệnh truyền nhiễm, nhất là trong thời điểm chuyển mùa, không để dịch bệnh phát sinh, lây lan trên diện rộng; trong tháng 4/2026 tổ chức khám, chữa bệnh cho 231.087 lượt người, lũy kế 4 tháng đầu năm 2026 khám, chữa bệnh cho 828.229 lượt người đạt 35,7% kế hoạch.

5. Hoạt động văn hoá - thể dục, thể thao

Tổ chức thành công giải Siêu đường mòn "Chạy trên cung đường Hạnh Phúc" tỉnh Tuyên Quang mở rộng lần thứ VII, năm 2026; chuẩn bị tổ chức Đại hội Thể dục thể thao các cấp đến hết quý I năm 2026; Chuẩn bị các điều kiện tổ chức giải bóng đá khánh thành sân vận động tỉnh Tuyên Quang; thành lập đoàn vận động viên của tỉnh tham gia giải Vô địch các đội mạnh Vovinam quốc gia, giải Vô địch Wushu các câu lạc bộ quốc gia năm 2026...

6. Tình hình an toàn giao thông, thiên tai và phòng chống cháy, nổ

Tổ chức “Ngày hội toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc” năm 2026. Giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, chủ động phòng ngừa, đấu tranh hiệu quả với các loại tội phạm, tệ nạn xã hội; tăng cường bảo đảm trật tự an toàn giao thông, phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ, không để phát sinh điểm nóng, tình huống phức tạp về an ninh, trật tự.

6.1. Về an toàn giao thông trong tháng

Trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 13 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 6 người và làm bị thương 9 người.

So với tháng trước tăng 62,50% về số vụ tai nạn; số người chết giữ nguyên; số người bị thương tăng 800%. So với tháng cùng kỳ số vụ tai nạn giao thông giảm 38,10; số người chết giảm 53,85%; số người bị thương giảm 25%.

Tính chung 4 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh đã xảy ra 59 vụ tai nạn giao thông; làm chết 35 người và làm bị thương 31 người. So với cùng kỳ năm trước: Số vụ tai nạn giao thông giảm 16,90%; số người chết giảm 10,26%; số người bị thương giảm 31,11%.

6.2. Về thiên tai, cháy, nổ

6.2.1. Về tình hình cháy, nổ

Trong tháng, trên địa bàn tỉnh xảy ra 02 vụ cháy. Không ghi nhận thiệt hại về người, ước tính thiệt hại tài sản 110,5 triệu đồng.

6.2.2. Về tình hình thiên tai

Trong các ngày từ 29/3-15/4/2026, trên địa bàn các xã thuộc tỉnh Tuyên Quang đã xuất hiện mưa dông kèm theo các hiện tượng lốc, sét, mưa đá và gió giật mạnh. Mưa to kèm theo giông lốc đã gây thiệt hại về người, nhà ở, tài sản của người dân và một số công trình dân dụng trên địa bản tỉnh.

Thiệt hại về người: 01 người tử vong tại xã Trung Thịnh, tỉnh Tuyên Quang do sét đánh.

Thiệt hại về nhà ở: 856 nhà bị tốc mái và hư hỏng nặng.

Thiệt hại về nông, lâm nghiệp, thủy sản: Thiệt hại 1.301,2 ha diện tích lúa bị thiệt hại; 1.107,53 ha lâm nghiệp (cây keo, cây xưa) bị gãy đổ.

Thiệt hại về chăn nuôi: 02 con lợn bị chết, cuốn trôi; 714 con gia cầm bị chết, cuốn trôi.

Thiệt hại về cơ sở hạ tầng: Thiệt hại 29 phòng học tại các điểm trường bị tốc mái hoàn toàn, tường rào bị đổ; máy tính cơ quan; công trình phụ, mái che nhà bị hư hỏng và nhiều thiết bị dụng cụ khác bị thiệt hại.

Thiệt hại về giao thông: 76 điểm giao thông bị ách tắc; 30m đường và 01 cầu bị hư hỏng.

Thiệt hại về thủy lợi: 270m kênh bị bồi lấp, hư hỏng.

Ước tính tổng giá trị thiệt hại: 125 tỷ đồng.


THỐNG KÊ TỈNH TUYÊN QUANG