207.3 823 523 | ctk_tuyenquang@gso.gov.vn

Tình hình kinh tế - xã hội tháng 5 năm 2026 tỉnh Tuyên Quang

03/06/2026 07:44

I. PHÁT TRIỂN KINH TẾ 

1. Về sản xuất nông nghiệp (tính đến ngày 20/5/2026)

1.1. Trồng trọt

1.1.1. Sản xuất vụ xuân năm 2026

Trong tháng thời tiết phổ biến trời nắng, ít mưa, đầu tháng 5 một số ngày xuất hiện mưa rào và dông trên diện rộng, cục bộ có nơi mưa to, lốc sét, mưa đá. Hiện nay bà con nhân dân đã hoàn thành gieo trồng cây hàng năm vụ xuân 2026 đảm bảo khung thời vụ và đang tiến hành chăm sóc, phòng chống dịch bệnh trên cây trồng.

- Cây Lúa: Diện tích lúa gieo trồng đạt 26.933 ha, giảm 3,42% so với cùng kỳ. Trong đó: 140 ha mất do làm đường cao tốc, phần còn lại chuyển sang trồng ngô vụ xuân.

- Ngô lấy hạt: Diện tích gieo trồng đạt 38.150 ha, tăng 14,12% (tăng 4.719 ha). Diện tích gieo trồng Ngô tăng cao do các xã duy trì ổn định tổng sản lượng lương thực có hạt trên địa bàn tỉnh, bằng cách trồng bù phần diện tích vụ Đông không gieo trồng, chuyển một phần diện tích lúa, khoai lang sang trồng ngô và trồng thêm trên diện tích cây cam, chè bị chết.

- Khoai lang: Diện tích gieo trồng đạt 1.740 ha, giảm 10,84% (giảm 211,52 ha). Diện tích khoai lang giảm ở hầu hết các xã trên địa bàn tỉnh, nguyên nhân do người dân một số địa phương trong tỉnh chuyển đổi sang trồng ngô và rau đậu các loại có hiệu quả kinh tế cao hơn.

- Đậu tương: Diện tích gieo trồng đạt 4.619 ha, tăng 10,28% (tăng 430,45 ha). Diện tích gieo trồng đậu tương tăng do người dân tăng diện tích trồng xen trên diện tích trồng ngô tăng trong vụ. Cây đậu tương vụ xuân đang trong giai đoạn ra hoa – quả non – quả xanh.

- Lạc: Diện tích gieo trồng đạt 8.851 ha, tăng 3,22% (tăng 276,14 ha).

- Rau các loại: Diện tích gieo trồng đạt 20.773 ha, tăng 2,65% (tăng 535,38 ha). Diện tích gieo trồng tăng do người dân trồng chuyển từ diện tích trồng khoai lang và trồng xen cây ngô.

- Diện tích gieo trồng cây đậu các loại đạt 2.174 ha, tăng 0,56% (tăng 12 ha).

1.1.2. Cây lâu năm

Diện tích cây chuối hiện có trên địa bàn tỉnh 3.105 ha, giảm 5,22% so với cùng kỳ (giảm 171 ha).

Diện tích cây chè toàn tỉnh hiện có 27.428 ha, giảm 2,02% (giảm 568 ha). Diện tích chè vẫn tiếp tục giảm do một phần diện tích trồng chè của xã Bắc Quang nhà nước thu hồi đất sử dụng mục đích mở đường quốc lộ và phát triển một số dự án xây dựng mới sau sát nhập. Chia theo thành phần kinh tế: Tư nhân là 3.522 ha; cá thể là 23.906 ha.

1.2. Tình hình sinh vật gây hại

Trên cây lúa vụ xuân rầy nâu, rầy lưng trắng, sâu cuốn lá nhỏ, sâu đục thân 2 chấm, bọ xít dài, bệnh đạo ôn lá, đạo ôn cổ bông, bệnh đốm sọc vi khuẩn, bệnh bạc lá, bệnh khô vằn, chuột xuất hiện rải rác. Cây ngô vụ đông xuất hiện rải rác bệnh đốm lá, bệnh khô vằn, chuột gây hại rải rác. Cây ngô vụ xuân xuất hiện sâu keo mùa thu, rệp hại, bệnh đốm lá, bệnh khô vằn gây hại rải rác. Trên cây lạc xuất hiện rải rác sâu cuốn lá, rầy xanh lá mạ, bệnh rỉ sắt, bệnh đốm lá, bệnh héo xanh. Trên cây đậu tương xuất hiện ruồi đục thân, sâu cuốn lá, sâu khoang, bệnh rỉ sắt, bệnh đốm lá gây hại rải rác. Trên cây rau đậu xuất hiện bọ trĩ, nhện trắng, ruồi đục lá, sâu ăn lá, rệp, bệnh mốc sương, bệnh thán thư, bệnh lở cổ rễ, bệnh xoăn lá gây hại rải rác.

1.3. Về chăn nuôi

1.3.1. Về số lượng đàn gia súc, gia cầm

Trong tháng, tình hình chăn nuôi trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang nhìn chung duy trì ổn định và có xu hướng tăng trưởng nhẹ, tuy nhiên sự phát triển giữa các loại vật nuôi không đồng đều, thể hiện rõ quá trình chuyển dịch cơ cấu trong nội ngành.

Đàn trâu 215.451 con, giảm 3,0% so với cùng kỳ năm 2025. Nguyên nhân chủ yếu do phương thức chăn nuôi truyền thống phụ thuộc vào chăn thả tự nhiên đang dần thu hẹp, diện tích đồng cỏ bị giảm, hiệu quả kinh tế không cao so với các vật nuôi khác. Bên cạnh đó, tập quán sử dụng sức kéo của trâu trong sản xuất nông nghiệp giảm mạnh do cơ giới hóa, dẫn đến nhu cầu nuôi trâu không còn lớn như trước. Tuy vậy, việc giảm đàn trâu không làm ảnh hưởng lớn đến giá trị sản xuất do một bộ phận người chăn nuôi đã chuyển sang hình thức nuôi vỗ béo, nâng cao giá trị thương phẩm.

 Đàn bò 175.521 con, tăng 0,13%, đàn bò tiếp tục tăng nhẹ nhờ hiệu quả từ các chương trình cải tạo giống và hỗ trợ phát triển chăn nuôi của địa phương. Người dân từng bước chuyển sang nuôi bò sinh sản và bò thịt theo hướng hàng hóa, áp dụng tiến bộ kỹ thuật như thụ tinh nhân tạo, cải thiện tầm vóc và năng suất đàn bò. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng của đàn bò vẫn còn chậm do hạn chế về nguồn vốn đầu tư, quy mô chăn nuôi còn nhỏ lẻ và chưa hình thành nhiều chuỗi liên kết tiêu thụ ổn định.

Đàn lợn 1.215.238 con, giảm 1,69%, nguyên nhân chủ yếu là do ảnh hưởng của bệnh dịch tả châu Phi. Tuy nhiên, giá lợn hơi thời gian qua tương đối ổn định, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tái đàn. Xu hướng chuyển từ chăn nuôi nhỏ lẻ sang chăn nuôi theo hướng an toàn sinh học, quy mô trang trại ngày càng rõ nét. Vẫn cần phải theo dõi sát sao do chăn nuôi lợn còn tiềm ẩn rủi ro, phụ thuộc nhiều vào biến động giá thị trường và nguy cơ tái phát dịch bệnh.

Đàn gia cầm 14.252,15 nghìn con, tăng 3,48%. Nguyên nhân: Sự tăng trưởng này chủ yếu do nhu cầu tiêu dùng thịt gia cầm và trứng ổn định, thời gian nuôi ngắn, khả năng quay vòng vốn nhanh, phù hợp với điều kiện của nhiều hộ chăn nuôi. Ngoài ra, việc phát triển các mô hình chăn nuôi gà theo hướng trang trại, an toàn sinh học và liên kết tiêu thụ đã góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất.

1.4. Về công tác phòng chống dịch bệnh gia súc, gia cầm trong tháng

 1.4.1. Công tác phòng chống và điều trị

Trong tháng 5, bệnh Dịch tả lợn Châu Phi phát sinh tại 49 hộ, số lợn tiêu hủy là 739 con, trọng lượng tiêu hủy 21.252 kg. Luỹ kế từ ngày 01/01/2026 đến ngày 11/5/2026, toàn tỉnh có 1.134 con lợn mắc bệnh buộc tiêu hủy tại 99 hộ, khối lượng tiêu hủy 43.664 kg. Đến ngày 11/5/2026 đã có 07 xã công bố hết dịch.

Cơ quan chức năng phối hợp với các xã, phường theo dõi chặt chẽ tình hình dịch bệnh gia súc, gia cầm, thuỷ sản trên địa bàn, đặc biệt các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, đồng thời chỉ đạo các địa phương triển khai tiêm phòng vụ Xuân - Hè năm 2026.

1.4.2. Công tác kiểm dịch vận chuyển động vật, sản phẩm động vật

Tiếp tục thực hiện chặt chẽ đúng quy định công tác kiểm dịch vận chuyển ngoài tỉnh, kết quả: Trong tháng đã kiểm tra cấp 446 giấy chứng nhận kiểm dịch vận chuyển, trong đó: 259 chuyến, vận chuyển 21.005 con gia súc, gia cầm; 187 chuyến, vận chuyển 3.098.000 kg sữa tươi nguyên liệu. Lũy kế từ đầu năm đến nay đã kiểm tra cấp 1.741 giấy chứng nhận kiểm dịch vận chuyển, trong đó: 875 chuyến, vận chuyển 103.412 con gia súc, gia cầm; 886 chuyến, vận chuyển 16.471.000 kg sữa tươi nguyên liệu được vận chuyển đi các tỉnh: Bắc Ninh, Hà Nội, Cao Bằng, Phú Thọ, Lai Châu, Nghệ An, Thái Nguyên...; trong tháng kiểm soát giết mổ, kiểm tra vệ sinh thú y được 209 con gia súc (lũy kế 5 tháng đầu năm kiểm soát được 6.519 con gia súc các loại).

1.5. Về sản xuất lâm nghiệp

 1.5.1. Công tác trồng rừng

Tình hình sản xuất lâm nghiệp trong tháng tương đối ổn định, tỉnh đã đưa ra những định hướng cụ thể đối với phương án phát triển nông lâm nghiệp, thủy sản phù hợp với từng xã, phường tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất lâm nghiệp. Đẩy nhanh tiến độ thực hiện kế hoạch trồng rừng năm 2026, tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến về công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, phòng cháy chữa cháy rừng và ký cam kết với các hộ dân đồng thời thường xuyên theo dõi, cập nhật diễn biến rừng.

Ước tính trong tháng,  tổng diện tích rừng trồng mới tập trung toàn tỉnh đã trồng được 2.397 ha, giảm 7,28% (giảm 188,33 ha). Lũy kế 5 tháng đầu năm, diện tích trồng rừng đạt 8.581,19 ha, giảm 4,9% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân là do nhiều rừng chưa đến tuổi khai thác, diện tích đất trống để trồng mới giảm.

1.5.2. Khai thác gỗ rừng trồng

Trong tháng sản lượng gỗ khai thác ước đạt 138.864 m3 gỗ, giảm 23,17% (giảm 41.873,29 m3)  so với cùng kỳ năm 2025. Lũy kế 5 tháng đầu năm, sản lượng gỗ khai thác đạt 602.242,82 m3, giảm 5,29% (giảm 33.625,09 m3). Sản lượng gỗ khai thác giảm do diện tích rừng sản xuất đến tuổi khai thác giảm.  

1.5.3. Công tác quản lý bảo vệ rừng

Tổ chức tuyên truyền, phổ biến về công tác quản lý, bảo vệ, phát triển rừng, PCCCR và ký cam kết được 8.801 hộ gia đình, tuyên truyền được 12.715 lượt người tham gia; cập nhật, theo dõi diễn biến rừng được 3.934,6 ha; lũy kế 5 tháng đầu năm là 9.693,57 ha. Lũy kế từ đầu năm đến nay xảy ra 01vụ cháy rừng tự nhiên tại thôn Cốc Lầy, xã Tân Tiến, diện tích thiệt hại 0,118 ha. Đã phát hiện và xử lý 08 vụ vi phạm Luật Lâm nghiệp, tịch thu 0,583 m3 gỗ, thu nộp ngân sách nhà nước 35 triệu đồng.

2. Sản xuất công nghiệp

2.1. Chỉ số phát triển công nghiệp

Chỉ số sản xuất công nghiệp IIP trong tháng tăng 7,46% so với tháng trước, tăng 11,48% so với cùng kỳ, cụ thể của các ngành như sau: Ngành khai khoáng tăng 100,55%, giảm 11,39%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 0,70%, tăng 15,37%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí tăng 42,60%, tăng 2,75%. Ở chiều ngược lại, cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải giảm 7,36%, giảm 1,98%.

Một số ngành công nghiệp cấp II có chỉ số sản xuất tăng so với cùng kỳ năm trước như: Sản xuất chế biến thực phẩm tăng 18,26%; sản xuất đồ uống tăng 298,36%; sản xuất trang phục tăng 12,40%; sản xuất kim loại tăng 38,65%;...

Sản xuất công nghiệp trong tháng 5/2026 tiếp tục xu hướng tăng trưởng tích cực, các doanh nghiệp chủ động nắm bắt thị trường tập trung tháo gỡ khó khăn vướng mắc đối với các vấn đề về nguyên liệu, vốn kinh doanh, thị trường tiêu thụ sản phẩm, nguồn cung cấp điện…Với quyết tâm đưa công nghiệp thành trụ cột tăng trưởng, Tuyên Quang đang tập trung cải thiện môi trường đầu tư và hoàn thiện hạ tầng để lấp đầy các khu, cụm công nghiệp, hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững sau sáp nhập.

- Tính chung trong 5 tháng đầu năm 2026, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 9,21% so với cùng kỳ năm trước, Chia theo từng ngành kinh tế cấp I như sau:

+ Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,52%, do một số ngành chế biến tăng như: Sản xuất chế biến thực phẩm tăng 21,22%; sản xuất đồ uống tăng 157,50%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế) tăng 8,72%; sản xuất giường, tủ, bàn ghế tăng 70,83%; sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 11,62%;...

+ Ngành sản xuất và phân phối điện tăng 12,78%, nguyên nhân là do lượng nước tại các lòng hồ đảm bảo việc tích nước và thực hiện các đợt xả nước của Trung tâm Điều độ Hệ thống điện Quốc gia phục vụ cho gieo cấy vụ xuân dẫn đến sản lượng điện sản xuất trong 5 tháng đầu năm tăng.

+ Ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 3,94%, do nhu cầu sử dụng nước sinh hoạt và khối lượng rác thải tăng. Công ty Cổ phần Cấp thoát nước và công ty Đô thị đã tăng cường kiểm tra, bảo dưỡng máy móc, thiết bị, nhằm bảo đảm các hoạt động cấp nước và thu gom rác thải ổn định.

2.2. Sản phẩm công nghiệp chủ yếu

Trong tháng, nhóm sản phẩm chủ yếu tăng so với cùng kỳ cụ thể như sau: Điện thương phẩm đạt 182 triệu Kwh, tăng 13,06%; cát tự nhiên ước đạt 15.422 m3, tăng 10,32%; chè (trà) nguyên chất đạt 1.409 tấn, tăng 39,42%; đá xây dựng khác  đạt 56.248 m3, tăng 61,58%;... Một số nhóm giảm so với cùng kỳ là: Áo sơ mi cho người lớn đạt 120 nghìn cái, giảm 19,07%; xi măng đạt 108.500 tấn, giảm 2,31%;...

Tính chung trong 5 tháng, một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng khá so với cùng kỳ năm trước: Điện thương phẩm đạt 822 triệu Kwh, tăng 11,65%; điện sản xuất đạt 1.110 triệu Kwh, tăng 13,19%; mangan và sản phẩm của mangan đạt 5.700 tấn, tăng 78,37%;...

Đánh giá chung, Tháng 5/2026 một số doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp tiếp tục duy trì sản xuất ổn định như: Công ty cổ phần Môi trường đô thị Hà Giang, HTX Lâm Thành, Công ty cổ phần Woodsland Tuyên Quang, Công ty TNHH sản xuất giày Chung Jye Tuyên Quang, Công ty TNHH Gang thép Tuyên Quang,… Bên cạnh đó, ảnh hưởng chung từ kinh tế thế giới, một số doanh nghiệp khai thác khoáng sản do không tiêu thụ được hàng tồn kho, phải điều chỉnh lại kế hoạch sản xuất, một số doanh nghiệp chưa đi vào sản xuất do vướng mắc trong quá trình bồi thường, giải phóng mặc bằng. Một số doanh nghiệp chế biến nông lâm sản cũng bị hạn chế về thị trường tiêu thụ sản phẩm. Trước tình hình đó, Tỉnh đã triển khai nhiều chính sách hỗ trợ, thu hút đầu tư trong lĩnh vực công nghiệp, cải thiện thủ tục hành chính, minh bạch hóa môi trường đầu tư, kinh doanh nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho các doanh nghiệp, phấn đấu hoàn thành kế hoạch đã đề ra.

3. Vốn đầu tư, xây dựng

3.1. Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý

Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước thực hiện tháng 5 ước đạt 800,7 tỷ đồng, tăng 11,03% so với tháng trước. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 630,8 tỷ đồng, tăng 10,80%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã đạt 170 tỷ đồng, tăng 11,91%.

Tính chung trong 5 tháng, nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 3.149,4 tỷ đồng, giảm 4,63% so với cùng kỳ. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 2.523,6 tỷ đồng, tăng 1,10%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã đạt 625,8 tỷ đồng, giảm 22,38%.

3.2. Hoạt động xây dựng

Tăng cường kiểm tra tiến độ giải phóng mặt bằng, thi công các dự án: 04 khu tái định cư thuộc Khu đô thị nghỉ dưỡng Mỹ Lâm và tuyến đường từ Khu du lịch suối khoáng Mỹ Lâm đến Quốc lộ 2D kết nối với tuyến cao tốc Tuyên Quang - Phú Thọ. Triển khai thực hiện thanh tra đối với các dự án có khó khăn, vướng mắc, tồn đọng kéo dài. Đẩy nhanh tiến độ thực hiện các công trình, dự án trọng điểm, nhất là các dự án giao thông, hạ tầng kỹ thuật, giáo dục, y tế và công trình dân sinh thiết yếu. Chỉ đạo các Ban quản lý dự án, chính quyền địa phương và các nhà đầu tư 06 trường học tại các xã biên giới (khởi công đợt 1) tập trung nguồn lực, tranh thủ điều kiện thời tiết thuận lợi, tổ chức thi công bảo đảm hoàn thành đúng tiến độ đề ra.

Giải ngân vốn đầu tư năm 2026 đến ngày 15/5/2026 đạt 1.226,06/6.386,95 tỷ đồng, đạt 19,2% kế hoạch giao, nếu không tính số kế hoạch vốn giao bổ sung trong năm đạt 35,4%, trong đó: vốn ngân sách trung ương 125,99 tỷ đồng; vốn ngân sách địa phương 1.100,07 tỷ đồng.

4. Thương mại và Dịch vụ

Trong tháng 5/2026, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang ghi nhận đà tăng trưởng ổn định, phản ánh tâm lý tiêu dùng tích cực của người dân. Tiếp tục thực hiện bình ổn giá xăng dầu và các biện pháp bình ổn giá xăng dầu trên địa bàn tỉnh theo chỉ đạo của Chính phủ.

4.1. Doanh thu bán lẻ hàng hóa

Doanh thu bán lẻ hàng hóa tháng 5 ước đạt 3.729 tỷ đồng, tăng 1,14% so với tháng trước, tăng 24,22% so với cùng kỳ. Trong đó: Nhóm hàng lương thực, thực phẩm đạt 935 tỷ đồng, tăng 0,94%, tăng 9,63%; nhóm hàng may mặc đạt 369 tỷ đồng, tăng 0,71%, tăng 40,71%; nhóm vật phẩm văn hóa, giáo dục đạt 91 tỷ đồng, tăng 2,74%, tăng 46,48%… Tính chung trong 5 tháng, tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 17.911 tỷ đồng, tăng 19,04% so với năm 2025.

4.2. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ khác

Trong tháng, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 666,24 tỷ đồng, giảm 4,23% so với tháng trước, tăng 23,93% so với cùng kỳ. Trong đó: Dịch vụ lưu trú đạt 59,22 tỷ đồng, giảm 3,99%, tăng 18,29%; ăn uống đạt 607,0 tỷ đồng, giảm 4,25%, tăng 25,48%. Tính chung trong 5 tháng, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 3.166,25 tỷ đồng, tăng 21,68% so với cùng kỳ.

Doanh thu du lịch lữ hành đạt 6,25 tỷ đồng, giảm 17,30%, tăng 69,88% so với cùng kỳ. Tính chung 5 tháng, doanh thu du lịch lữ hành ước đạt 36,19 tỷ đồng, tăng 55,81%.

Doanh thu dịch vụ khác trong tháng ước đạt 96,45 tỷ đồng, tăng 2,29% so với tháng trước, tăng 39,85% so với cùng kỳ. Tính chung trong 5 tháng, doanh thu dịch vụ khác ước đạt 473,80 tỷ đồng, tăng 19,26%.

4.3. Giá cả

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trong tháng tăng 6,66% so với cùng kỳ năm trước, tăng 4,66% so với tháng 12 năm trước, giảm 0,13% so với tháng trước. Tính chung trong 5 tháng, CPI bình quân tăng 5,61% so với cùng kỳ.

Tiếp tục theo dõi, nắm bắt diễn biến thị trường và tình hình lưu thông hàng hóa; triển khai các phương án bảo đảm cân đối cung - cầu, thực hiện bình ổn giá xăng dầu và các biện pháp bình ổn giá xăng dầu trên địa bàn tỉnh theo chỉ đạo của Chính phủ. Trong số 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính thì có 4 nhóm giảm giá, 7 nhóm tăng giá so với tháng trước.

Trong 4 nhóm có giá giảm gồm: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,67%, nguyên nhân chủ yếu là do giá thực phẩm giảm; nhóm may mặc, mũ nón và giày dép giảm 0,14%; nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,23%; nhóm văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,49%.

Trong 7 nhóm hàng tăng so với tháng trước, bao gồm những nhóm hàng sau: Nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,68%, do thời tiết vào hè nắng nóng làm cho nhu cầu về bia, nước ngọt tăng cao; nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0,11%; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,38% do nhu cầu mua sắm các thiết bị như quạt, điều hòa tăng; nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,13%; nhóm giao thông tăng 0,44% nguyên nhân chủ yếu là do giá xăng dầu tăng; nhóm giáo dục tăng nhẹ 0,01%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,46%.

- Chỉ số giá vàng tăng 42,75% so với cùng kỳ năm trước, tăng 9,03% so với tháng 12 năm trước, giảm 4,38% so với tháng trước. Tính chung trong 5 tháng đầu năm 2026, giá vàng tăng 71,97% so với cùng kỳ.

- Chỉ số giá đô la Mỹ tăng 0,38% so với cùng kỳ năm trước, giảm 0,1% so với tháng 12 năm trước, tăng 0,01% so với tháng trước. Tính chung trong 5 tháng đầu năm 2026, tăng 1,52% so với cùng kỳ.

4.4. Tình hình xuất, nhập khẩu hàng hóa

Tổng kim ngạch xuất hàng hóa trong tháng 5 ước đạt 99,7 triệu USD, giảm 52,48% so với cùng kỳ. Tổng kim ngạch nhập khẩu ước đạt 12,5 triệu USD, tăng 171,53% so cùng kỳ, trong đó chủ yếu là nhập máy móc, thiết bị, phụ tùng và nguyên liệu may mặc.

Lũy kế 5 tháng đầu năm, kim ngạch xuất, nhập khẩu là 318,37 triệu USD, đạt 37,9% kế hoạch, giảm 5,84% so với cùng kỳ.

5. Vận tải hàng hóa và hành khách

Tháng 5, hoạt động vận tải và kho bãi tiếp tục tăng do trong tháng có kỳ nghỉ lễ dài ngày nên lượng khách tham quan, du lịch và nhu cầu đi lại của người dân tăng cao. Cùng với đó khối lượng vận chuyển hàng hóa tăng mạnh, đặc biệt từ các ngành sản xuất và thương mại điện tử, tạo áp lực lớn lên hạ tầng vận tải. Doanh thu trong tháng tăng cũng do giá xăng, dầu có nhiều biến động buộc các doanh nghiệp, hộ cá thể vận tải phải điều chỉnh tăng giá cước để bù đắp chi phí đầu vào nên đã tác động đến ngành dịch vụ vận tải.

5.1. Doanh thu vận tải tải kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải

Doanh thu vận tải trong tháng ước đạt 473,83 tỷ đồng, tăng 2,59% so với tháng trước, tăng 24,12% so với cùng kỳ. Trong đó, vận tải hành khách đạt 131,41 tỷ đồng, tăng 2%, tăng 27,18%; vận tải hàng hóa đạt 339,50 tỷ đồng, tăng 2,80%, tăng 22,92%; doanh thu dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 2,07 tỷ đồng, tăng 3,10%, tăng 25,60%; hoạt động bưu chính, chuyển phát đạt 0,85 tỷ đồng, tăng 7,84%, tăng 45,77%.

Tính chung trong 5 tháng đầu năm 2026, doanh thu vận tải kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 2.250,84 tỷ đồng, tăng 16,92% so với cùng kỳ. Trong đó: vận tải hành khách đạt 619,97 tỷ đồng, tăng 22,66%; vận tải hàng hóa đạt 1.616,91  tỷ đồng, tăng 14,83%; dịch vụ hỗ trợ vận tải kho bãi đạt 9,66 tỷ đồng, tăng 16,45%; bưu chính, chuyển phát đạt 4,31 tỷ đồng, tăng 28,27%.

5.2. Vận tải hành khách và hàng hóa

Trong tháng khối lượng hành khách vận chuyển ước đạt 2,1 triệu lượt hành khách, tăng 2,08% so với tháng trước, tăng 23,59% so với cùng kỳ; khối lượng hành khách luân chuyển ước đạt 167,77 triệu lượt hành khách.km, tăng 35,39%, tăng 22,39%. Tính chung 5 tháng đầu năm 2026, khối lượng hành khách vận chuyển ước đạt 9,68 triệu lượt hành khách, tăng 18,78% so với cùng kỳ; khối lượng hành khách luân chuyển ước đạt 765,07 triệu lượt hành khách.km, tăng 16,23%.

Khối lượng hàng hóa vận chuyển trong tháng ước đạt 2,17 triệu tấn, tăng 1,25% so với tháng trước, tăng 14,11% so với cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 141,32 triệu tấn.km, tăng 4,77%, tăng 23,84%. Tính chung 5 tháng đầu năm 2026, khối lượng hàng hóa vận chuyển ước đạt 10,57 triệu tấn, tăng 11,51% so với cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 682,53 triệu tấn.km, tăng 17,01%.

6. Về du lịch

Chuẩn bị tốt công tác tái đánh giá Công viên địa chất toàn cầu cao nguyên đá Đồng Văn lần thứ IV năm 2026; lập dự án sửa chữa các Trạm Thông tin khu vực (Trạm thông tin du khách Đồng Văn - Mèo Vạc và xã Đường Thượng bị sụt lún ảnh hưởng đến công trình). Khẩn trương hoàn thành xây dựng Đề án thu phí tham quan Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Cao nguyên đá Đồng Văn. Kiểm tra tiến độ triển khai các công trình xây dựng và khảo sát một số điểm du lịch tại xã Đồng Văn, Lũng Cú, Sà Phìn, Phố Bảng.

Trong tháng 5, Tuyên Quang đón 350.813 lượt khách, trong đó 73.813 lượt khách quốc tế, 277.000 lượt khách nội địa; tổng chi tiêu khách du lịch trên địa bàn ước đạt 991 tỷ đồng.

 5 tháng đầu năm 2026, Tuyên Quang đón 1.788.011 lượt khách, trong đó 346.368 lượt khách quốc tế, 1.441.643 lượt khách nội địa (đạt 43,6% kế hoạch năm); tổng chi tiêu khách du lịch trên địa bàn ước đạt 5.022,2 tỷ đồng.

II. LĨNH VỰC VĂN HÓA - XÃ HỘI

1. Công tác lao động, việc làm, giáo dục nghề nghiệp

Tiếp tục thực hiện quản lý nhà nước về công tác đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; lao động người nước ngoài làm việc tại tỉnh; đẩy mạnh kết nối cung - cầu lao động, hỗ trợ người lao động tìm kiếm, tiếp cận cơ hội việc làm phù hợp; triển khai Tháng an toàn, vệ sinh lao động năm 2026.

2. Công tác đảm bảo chế độ người có công với cách mạng, bảo trợ, an sinh xã hội và phòng chống các tệ nạn

2.1. Công tác đối với người có công với cách mạng

Triển khai công tác tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ; thực hiện tốt công tác chăm lo đời sống các đối tượng chính sách. Tiếp tục duy trì việc chi trả trợ cấp ưu đãi thường xuyên hằng tháng cho trên 9.000 người có công, thân nhân người có công và các đối tượng chính sách khác đang hưởng trợ cấp trên địa bàn tỉnh, bảo đảm đầy đủ, đúng đối tượng và kịp thời theo quy định.

2.2. Công tác bảo trợ, an sinh xã hội và phòng chống các tệ nạn

Chủ động chuẩn bị nguồn lực, thực hiện đầy đủ, kịp thời các chế độ, chính sách đối với hộ nghèo, hộ cận nghèo, đối tượng bảo trợ xã hội và các hộ bị ảnh hưởng bởi thiên tai, bão lũ.

Trong tháng, Cơ sở cai nghiện của 02 tỉnh ( Tuyên Quang cũ và Hà Giang cũ) đã tiếp nhận 17 học viên, cấp giấy chứng nhận hoàn thành cai nghiện cho 8 học viên; tại thời điểm báo cáo, 2 cơ sở cai nghiện đang quản lý 188 học viên (cai nghiện bắt buộc 169 học viên, cai nghiện tự nguyện 19 học viên).

3. Hoạt động giáo dục và đào tạo

Hoàn thành thi học kỳ II năm học 2025-2026. Chuẩn bị đầy đủ các điều kiện tổ chức kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 năm học 2026-2027, kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông năm 2026 an toàn, nghiêm túc; triển khai kế hoạch tuyển sinh, đào tạo giáo dục nghề nghiệp năm 2026. Tăng cường công tác phòng, chống tai nạn, thương tích và phòng, chống đuối nước trẻ em trong dịp hè, mùa mưa bão năm 2026. Hoàn thành tổ chức đánh giá, công nhận "Cộng đồng học tập" cấp xã năm 2025. Đẩy nhanh tiến độ xây dựng, sửa chữa, cải tạo trường, lớp học, nhất là xây dựng các trường phổ thông nội trú liên cấp tiểu học và trung học cơ sở tại các xã biên giới.

4. Hoạt động y tế

Tiếp tục nâng cao chất lượng công tác khám, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe Nhân dân. Đẩy mạnh công tác truyền thông, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp, các ngành, gia đình và cộng đồng trong công tác bảo vệ trẻ em, phòng, chống bạo lực, xâm hại trẻ em. Trong tháng 5/2026, đã tổ chức khám, chữa bệnh cho 242.175 lượt người, lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 khám, chữa bệnh cho 1.070.404 lượt người đạt 46,26% kế hoạch

.5. Hoạt động văn hoá - thể dục, thể thao

Chuẩn bị các điều kiện tổ chức Chương trình toàn dân tập luyện thể dục thể thao tỉnh Tuyên Quang năm 2026; ban hành Điều lệ và kế hoạch, Quyết định thành lập Ban tổ chức, trọng tài, tiểu ban chuyên môn tổ chức giải Bóng đá nữ tỉnh Tuyên Quang năm 2026; 4 vận động viên của tỉnh tham gia giải Vô địch các đội mạnh Vovinam quốc gia; giải Vô địch Wushu các câu lạc bộ quốc gia năm 2026; cử vận động viên tham gia tập trung đội tuyển Pencak Silat trẻ quốc gia năm 2026; cử huấn luyện viên tham dự giải Vô địch Châu Á Pencak Silat năm 2026...

6. Tình hình an toàn giao thông, thiên tai và phòng chống cháy, nổ

Hướng dẫn triển khai dự án nâng cấp, hiện đại hóa camera giám sát trật tự an toàn giao thông trên địa bàn tỉnh. Giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, chủ động phòng ngừa, đấu tranh hiệu quả với các loại tội phạm, tệ nạn xã hội; tăng cường bảo đảm trật tự an toàn giao thông, phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ, không để phát sinh điểm nóng, tình huống phức tạp về an ninh, trật tự.

6.1. Về an toàn giao thông trong tháng

Trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 16 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 9 người và làm bị thương 9 người.

So với tháng trước tăng 23,08% về số vụ tai nạn; tăng 50% về số người chết; số người bị thương giữ nguyên. So với tháng cùng kỳ số vụ tai nạn giao thông giảm 5,88%; số người chết giảm 10%; số người bị thương giữ nguyên.

Tính chung 5 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh đã xảy ra 75 vụ tai nạn giao thông; làm chết 44 người và làm bị thương 40 người. So với cùng kỳ năm trước: Số vụ tai nạn giao thông giảm 14,77%; số người chết giảm 10,20%; số người bị thương giảm 9,09%.

6.2. Về thiên tai, cháy, nổ

6.2.1. Về tình hình cháy, nổ

Trong tháng, trên địa bàn tỉnh xảy ra 04 vụ cháy. Không ghi nhận thiệt hại về người, ước tính thiệt hại tài sản 325 triệu đồng.

6.2.2. Về tình hình thiên tai

Từ 15/4-15/5/2026, trên địa bàn các xã thuộc tỉnh Tuyên Quang đã xảy ra 03 đợt thiên tai. Do ảnh hưởng của mưa to kéo dài, một số nơi đã xảy ra tình trạng lũ cục bộ trên các hệ thống sông suối đã gây thiệt hại về người, nhà ở, tài sản của người dân và một số công trình dân dụng trên địa bàn tỉnh.

Thiệt hại về người: 01 người tử vong do nước lũ cuốn trôi tại thôn 6 Minh Tiến, xã Bình Xa, tỉnh Tuyên Quang.

Thiệt hại về nhà ở: 469 nhà bị tốc mái và hư hỏng nặng.

Thiệt hại về nông, lâm nghiệp, thủy sản: Thiệt hại 666,4 ha diện tích lúa bị thiệt hại; 635,93 ha  hoa màu bị gãy đổ.

Thiệt hại về chăn nuôi: 35 con gia cầm bị chết, cuốn trôi; 141 chuồng trại bị hư hỏng.

Thiệt hại về cơ sở hạ tầng: 10 điểm trường bị tốc mái, hư hỏng và nhiều thiết bị dụng cụ khác bị thiệt hại.

Thiệt hại về giao thông: 12 điểm giao thông bị ách tắc; 98m đường và 01 cầu bị hư hỏng.

Ước tính tổng giá trị thiệt hại: 50 tỷ đồng.


THỐNG KÊ TỈNH TUYÊN QUANG