Tình hình kinh tế - xã hội tháng 6 và quý II năm 2026 tỉnh Tuyên Quang
Trong 6 tháng đầu năm 2026, tình hình thế giới, khu vực tiếp tục diễn biến nhanh, phức tạp, khó lường; nhiều biến động với những thay đổi sâu sắc về kinh tế, chính trị, xã hội; sự dịch chuyển chuỗi cung ứng, thương mại, đầu tư toàn cầu và các xu thế lớn về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, trí tuệ nhân tạo (AI), kinh tế số, kinh tế xanh...; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn tiếp tục gia tăng, xung đột quân sự tại một số quốc gia, khu vực kéo dài tác động mạnh đến thị trường hàng hóa, chuỗi cung ứng, giá nguyên, nhiên, vật liệu, các yếu tố đầu vào biến động mạnh, ảnh hưởng tới dịch vụ vận tải và hoạt động sản xuất, kinh doanh. Trong nước với quyết tâm tạo động lực đột phá để phát triển kinh tế - xã hội theo mục tiêu tăng trưởng “02 con số”, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo quyết liệt các Bộ, ngành, địa phương tập trung triển khai nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội.
Tỉnh Tuyên Quang triển khai các nhiệm vụ trong bối cảnh có những thuận lợi nhất định như việc vận hành mô hình chính quyền địa phương 02 cấp tạo điều kiện để nâng cao tính chủ động, trách nhiệm và hiệu lực quản lý nhà nước của chính quyền các cấp; không gian phát triển được mở rộng; quy hoạch và kết cấu hạ tầng từng bước hoàn thiện; không gian quản lý, điều hành được sắp xếp lại đồng bộ hơn; chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan, đơn vị từng bước được rà soát, điều chỉnh phù hợp; đội ngũ cán bộ, công chức cơ bản có tinh thần trách nhiệm, đoàn kết, nỗ lực khắc phục khó khăn để bảo đảm bộ máy mới đi vào hoạt động.
Kết quả đạt được cụ thể ở các ngành, lĩnh vực như sau:
I. PHÁT TRIỂN KINH TẾ
1. Tăng trưởng kinh tế 6 tháng đầu năm 2026
1.1. Tốc độ tăng trưởng GRDP trên địa bàn (giá so sánh 2020) 6 tháng đầu năm 2026
Tốc độ tăng trưởng GRDP (giá so sánh năm 2020) trên địa bàn tỉnh tăng 7,72% so với cùng kỳ năm 2025, cụ thể của các lĩnh vực như sau:

1.1.1. Khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 5,32%; đóng góp 1,5 điểm phần trăm trong mức tăng chung của GRDP. Ngành nông nghiệp mặc dù còn gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng của thời tiết; thị trường tiêu thụ nông sản, giá vật tư đầu vào nhưng cũng đã vượt mọi khó khăn đạt mức tăng trưởng tương đối ấn tượng. Ngành nông nghiệp tăng 4,99%, đóng góp 1,15 điểm phần trăm; ngành lâm nghiệp tăng 6,47%, đóng góp 0,28 điểm phần trăm; ngành thủy sản tăng 8,59%, đóng góp 0,07 điểm phần trăm.
1.1.2. Khu vực Công nghiệp, xây dựng tiếp tục có nhiều tín hiệu khởi sắc và có những bước tăng trưởng ấn tượng, với mức tăng 10,29%, đóng góp vào tốc độ tăng trưởng chung là 2,36 điểm phần trăm. Trong đó:
- Ngành công nghiệp, tăng 11,81%, với mức đóng góp 1,90 điểm phần trăm (trong đó: Ngành khai khoáng tăng trưởng âm 8,65%, làm giảm đóng góp vào tốc độ tăng trưởng chung là âm 0,07 điểm phần trăm; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 14,56%, đóng góp 1,33 điểm phần trăm; sản xuất và phân phối điện tăng 10,71%, đóng góp 0,63 điểm phần trăm; cung cấp nước tăng 5,06%, đóng góp 0,01 điểm phần trăm).
- Ngành xây dựng tăng 6,73%, đóng góp 0,46 điểm phần trăm. Tỉnh đã tập trung chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ thi công các công trình, dự án trọng điểm, nhất là các dự án giao thông, hạ tầng kỹ thuật, tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế -xã hội, góp phần tăng trưởng khu vực xây dựng.
1.1.3. Khu vực dịch vụ tăng 7,95%, đóng góp 3,52 điểm phần trăm. Trong khu vực dịch vụ, đóng góp của một số ngành có tỷ trọng lớn vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm như sau: Bán buôn, bán lẻ và sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy tăng 8,19%, đóng góp 0,47 điểm phần trăm; vận tải kho bãi tăng 10,55%, đóng góp 0,33 điểm phần trăm; lưu trú và ăn uống tăng 3,71%, đóng góp 0,10 điểm phần trăm; hoạt động tài chính ngân hàng và bảo hiểm tăng 8,44%, đóng góp 0,29 điểm phần trăm,…Ngay từ đầu năm tỉnh đã tổ chức các hoạt động xúc tiến, quảng bá du lịch có tiềm năng phát triển như du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, du lịch cộng đồng;…
1.1.4. Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 7,44%; (đóng góp 0,34 điểm phần trăm).
1.2. Quy mô và cơ cấu kinh tế
1.2.1. Quy mô tổng sản phẩm
Quy mô tổng sản phẩm trên địa bàn 6 tháng đầu năm 2026 (giá hiện hành) ước đạt 46.907 tỷ đồng.
1.2.2. Cơ cấu kinh tế

Cơ cấu kinh tế tỉnh tiếp tục chuyển biến tích cực với chiều hướng tăng dần tỷ trọng khu vực dịch vụ, cụ thể như sau: Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 24,86%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 25,59%, trong cơ cấu nội hàm ngành công nghiệp đã có sự chuyển dịch theo hướng, giảm dần tỷ trọng công nghiệp khai thác, tăng dần tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo; khu vực dịch vụ chiếm 45,04%; thuế sản phầm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 4,51%.
Nhìn chung, trong 6 tháng năm 2026 các ngành: Công nghiệp, xây dựng và dịch vụ tiếp tục đóng góp chủ yếu vào mức tăng trưởng GRDP của toàn tỉnh, chứng tỏ cơ cấu kinh tế của tỉnh đã có sự chuyển dịch đúng hướng và tái cơ cấu kinh tế đang mang lại hiệu quả rõ rệt. Đây là sự chuyển dịch cơ cấu tích cực phù hợp với yêu cầu thúc đẩy nhanh sự tăng trưởng kinh tế theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa và tăng dần tỷ trọng dịch vụ góp phần nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế của tỉnh.
2. Tình hình tài chính, ngân hàng
2.1. Thu, chi ngân sách nhà nước
2.1.1. Thu ngân sách nhà nước: Tổng thu ngân sách nhà nước ước thực hiện 6 tháng đầu năm 2026 là 4.228,5 tỷ đồng, tăng 28,44% so với cùng kỳ. Trong đó thu nội địa ước thực hiện là 4.000,3 tỷ đồng, tăng 35,64%.

Một số khoản thu đạt khá là: Thu từ khu vực kinh tế ngoài quốc doanh là 1.421,8 tỷ đồng, tăng 45,84%; thu phí – lệ phí là 329,1 tỷ đồng, tăng 12,91%;…
2.1.2. Chi ngân sách nhà nước: Tổng chi ngân sách nhà nước là 26.204,7 tỷ đồng, tăng 20,48% so với cùng kỳ. Trong đó: Chi đầu tư phát triển là 7.804,5 tỷ đồng; chi thường xuyên là 18.386,3 tỷ đồng;...
Ngay từ đầu năm, Tỉnh đã tập trung điều hành dự toán ngân sách nhà nước chủ động chỉ đạo các cơ quan chuyên môn triển khai kịp thời việc nhập dự toán vốn đầu tư cho các công trình, dự án, tạo điều kiện thuận lợi cho các ngành, đơn vị và các xã, phường triển khai tổ chức thực hiện ngay từ đầu năm, đồng thời chỉ đạo việc tích cực đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án và tiến độ giải ngân vốn đầu tư năm 2026.
2.2. Hoạt động tín dụng ngân hàng
Triển khai Công điện số 12/CĐ-TTg ngày 08/02/2026 của Thủ tướng Chính phủ về một số giải pháp trọng tâm điều hành chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa năm 2026. Các chương trình tín dụng ưu tiên tiếp tục được triển khai nhằm khơi thông dòng vốn, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Tổng nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh đến 30/6/2026 ước đạt 79.599 tỷ đồng, tăng 5,5% so với 31/12/2025.
Tổng dư nợ ước đạt 82.426 tỷ đồng, tăng 4,0% so với 31/12/2025. Chất lượng tín dụng được đảm bảo, tỷ lệ nợ xấu là 0,8%/tổng dư nợ. Tăng cường sử dụng các phương thức thanh toán điện tử thay cho tiền mặt.
Tổ chức thực hiện nghiêm túc, kịp thời, đầy đủ các cơ chế, chính sách về tiền tệ và hoạt động ngân hàng. Tiếp tục triển khai các giải pháp thúc đẩy tăng trưởng tín dụng gắn với nâng cao chất lượng tín dụng; tăng cường kiểm soát và xử lý nợ xấu, bảo đảm an toàn hoạt động của hệ thống các tổ chức tín dụng trên địa bàn.
3. Giá cả
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 6 năm 2026 giảm 0,66% so với tháng trước, tăng 5,36% so với cùng kỳ năm trước.
Trong số 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính thì có 4 nhóm giảm giá, 6 nhóm tăng giá so với tháng trước, 01 nhóm thuốc và dịch vụ y tế giữ nguyên, cụ thể như sau.
Trong 4 nhóm hàng giảm giá, so với tháng trước, bao gồm những nhóm hàng sau: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,36%, nguyên nhân chủ yếu là do nhóm lương thực giảm 0,9%, nhóm thực phẩm giảm 0,33%; nhóm giao thông giảm 4,47% chủ yếu là do giá xăng dầu giảm; nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,04%; nhóm giáo dục giả 0,04%.
Có 6 nhóm hàng tăng giá so với tháng trước gồm: Nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,11% do thời tiết vào hè nắng nóng kéo dài giá một số mặt hàng bia, nước ngọt tăng; nhóm may mặc, mũ nón và giày dép tăng 0,09%; nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0,29% chủ yếu do các mặt hàng vật liệu xây dựng chính tăng; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,37%; nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,25%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,49%.
CPI bình quân quý II/2026 tăng 6,34% so với cùng kỳ. Một số nguyên nhân cơ bản đã tác động tăng CPI là những nguyên nhân chủ yếu sau: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 6,38%; nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 17,09%;…

- CPI bình quân 6 tháng đầu năm 2026 tăng 5,58% so với cùng kỳ năm 2025. Một số nguyên nhân cơ bản đã tác động tăng CPI là những nguyên nhân chủ yếu sau: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 6,17%, chủ yếu do nhóm hàng lương thực tăng 2,95% (do giá gạo tăng), thực phẩm tăng 5,6% (do giá thịt gia súc tăng), ăn uống ngoài gia đình tăng 13,01%; đồ uống và thuốc lá tăng 3,98%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 17,07%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 3,49%,….
Chỉ số giá vàng tăng 40,87% so với cùng kỳ, tăng 6,59% so với tháng 12 năm trước và giảm 2,24% so với tháng trước. Tính chung trong quý II/2026 chỉ số giá vàng tăng 47,26% so với cùng kỳ. Bình quân 6 tháng đầu năm 2026 giá vàng tăng 66,35%.
Chỉ số giá đô la Mỹ tăng 0,06% so với cùng kỳ, giảm 0,04% so với tháng 12 năm trước và tăng 0,06% so với tháng trước. Tính chung trong quý II/2026 chỉ số giá vàng tăng 0,43% so với cùng kỳ. Bình quân 6 tháng đầu năm 2026 giá đô la Mỹ tăng 1,28%.
4. Vốn đầu tư và Xây dựng
4.1. Vốn đầu tư
4.1.1. Tình hình thực hiện Vốn đầu tư phát triển toàn xã hội

Ước thực hiện quý II/2026 đạt 7.798 tỷ đồng, tăng 34,96% so với quý I/2026, tăng 8,84% so với quý cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 13.576,2 tỷ đồng, tăng 3,26% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Nguồn vốn từ khu vực nhà nước ước đạt 4.202,3 tỷ đồng, giảm 0,42% (chiếm 30,95% tổng nguồn vốn đầu tư); nguồn vốn đầu tư của dân cư và tư nhân ước đạt 8.593 tỷ đồng, tăng 13,84% (chiếm 63,29% tổng nguồn vốn) khu vực tư nhân chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong đầu tư phát triển toàn xã hội và giữ vai trò quan trọng trong tổng nguồn vốn, trong bối cảnh ngân sách nhà nước còn hạn hẹp rất cần các nguồn lực đầu tư từ khu vực tư nhân; vốn huy động khác ước đạt 498,3 tỷ đồng, giảm 50,29% (chiếm 3,67%); vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 7,4 tỷ đồng, giảm 69,25%;...
4.1.2. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước
- Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước thực hiện tháng 6 đạt 926,1 tỷ đồng, tăng 14,45% so với tháng trước, trong đó: Vốn ngân sách cấp tỉnh đạt 727,5 tỷ đồng, tăng 15,52%; vốn ngân sách cấp xã đạt 198,5 tỷ đồng, tăng 10,68%.

- Ước thực hiện quý II/2026 đạt 2.456,4 tỷ đồng, tăng 3,90% so với quý cùng kỳ, trong đó: Vốn ngân sách cấp tỉnh đạt 1.926,6 tỷ đồng, tăng 7,45%; vốn ngân sách cấp xã đạt 529,8 tỷ đồng, giảm 7,27%.
- Ước thực hiện 6 tháng đầu năm 2026 đạt 4.083,9 tỷ đồng, giảm 1,17% so với cùng kỳ, trong đó: Vốn ngân sách cấp tỉnh đạt 3.250,2 tỷ đồng, tăng 3,65%; vốn ngân sách cấp xã đạt 833,7 tỷ đồng, giảm 16,36%.
4.2. Xây dựng
Tăng cường kiểm tra tiến độ giải phóng mặt bằng, đẩy nhanh tiến độ thi công các dự án trọng điểm: 04 khu tái định cư thuộc Khu đô thị nghỉ dưỡng Mỹ Lâm và tuyến đường từ Khu du lịch suối khoáng Mỹ Lâm đến Quốc lộ 2D kết nối với tuyến cao tốc Tuyên Quang - Phú Thọ; Dự án cao tốc Tuyên Quang - Hà Giang (giai đoạn 1) đoạn qua tỉnh Tuyên Quang; Bệnh viện đa khoa tỉnh tại địa điểm mới; 17 trường phổ thông nội trú liên cấp tiểu học và trung học cơ sở tại các xã biên giới. Thông qua chủ trương đầu tư dự án Cao tốc Tuyên Quang - Hà Giang (giai đoạn hoàn chỉnh), đoạn qua tỉnh Tuyên Quang.
Giải ngân vốn đầu tư công năm 2026 đến hết ngày 15/6/2026 đạt 1.896,6 tỷ đồng, đạt 35% kế hoạch giao (nếu không tính số kế hoạch vốn giao bổ sung trong năm, đạt 54,8% kế hoạch), trong đó: giải ngân kế hoạch vốn NSTW là: 582,06 tỷ đồng, đạt 17% kế hoạch; giải ngân kế hoạch vốn ngân sách địa phương là 1.314,54 tỷ đồng, đạt 65,71% kế hoạch.
5. Hoạt động của doanh nghiệp
5.1. Về tình hình hoạt động của doanh nghiệp
Từ ngày 01/01/2026 đến ngày 24/6/2026, cấp Giấy chứng nhận đăng ký thành lập mới cho 574 doanh nghiệp (tăng 66% so với cùng kỳ), với số vốn đăng ký trên 3.811 tỷ đồng (tăng 206%). Số doanh nghiệp hoạt động trở lại: 148 doanh nghiệp (tăng 16%); giải thể 89 doanh nghiệp (tăng 102%); tạm ngừng 303 doanh nghiệp giảm 3%). Lũy kế tổng số doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh hiện có 6.773 doanh nghiệp, với tổng số vốn đăng ký trên 94.239 tỷ đồng (trong đó có 21 doanh nghiệp có 100% vốn đầu tư nước ngoài).

Để hỗ trợ doanh nghiệp phát triển, tỉnh đã triển khai đồng bộ, hiệu quả các chính sách hỗ trợ; tạo môi trường đầu tư và kinh doanh thuận lợi, bình đẳng, ổn định để các doanh nghiệp đóng góp ngày càng cao vào sự phát triển kinh tế - xã hội; góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế của doanh nghiệp. Trong thời gian tới, tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong giải quyết thủ tục đầu tư, rút ngắn thời gian cấp phép kinh doanh, hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận nguồn lực đất đai, tín dụng.
5.2. Điều tra xu hướng kinh doanh ngành công nghiệp chế biến chế tạo trong quý II
Kết quả điều tra về xu hướng kinh doanh của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong quý II năm 2026 cho thấy: Số doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh quý II năm nay khả quan hơn so với cùng kỳ quý trước đạt tỷ lệ 35,19%; doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh ổn định đạt tỷ 44,44%; có 20,37% số doanh nghiệp đánh giá gặp khó khăn trong sản xuất kinh doanh. Chỉ số cân bằng của quý II năm 2026 so với quý I là 14,81%. Dự kiến xu hướng kinh doanh quý III năm 2026 so với quý II năm 2025 cho thấy: Có 29,63% số doanh nghiệp đánh giá xu hướng sẽ tốt lên (trong đó có ngành: Chế biến gỗ và các sản phẩm từ gỗ, tre, nứa; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn); 48,15% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh sẽ ổn định (trong đó có ngành: Sản xuất da và các sản phẩm có liên quan; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học và sản xuất giường, tủ, bàn, ghế); có 22,22% số doanh nghiệp dự báo tiếp tục khó khăn hơn. Dự tính chỉ số cân bằng của quý tiếp theo so với quý hiện tại là 7,41%.
6. Kết quả tình hình sản xuất Nông, lâm nghiệp và thủy sản 6 tháng đầu năm 2026
6.1. Trồng trọt
6.1.1. Kết quả sản xuất vụ Đông Xuân
Vụ Đông Xuân năm 2026 diễn ra trong điều kiện khó khăn thuận lợi đan xen. Về cơ bản thời tiết trong vụ thuận lợi, có mưa, thời tiết không quá lạnh thích hợp cho cây trồng sinh trưởng phát triển tốt. Tuy nhiên đầu tháng 5, một số ngày xuất hiện mưa rào và dông trên diện rộng, cục bộ có nơi mưa to, lốc sét, mưa đá gây gẫy đổ cây trồng.

- Cây Lúa: Diện tích gieo trồng ước đạt 27.351,71 ha, giảm 1,92% (giảm 535,14 ha) so với cùng vụ năm trước. Năng suất ước đạt 60,14 tạ/ha, tăng 0,13% (tăng 0,08 tạ/ha). Sản lượng ước đạt 164.489,53 tấn, giảm 1,79%. Sản lượng lúa giảm do diện tích gieo trồng giảm.
- Cây ngô: Diện tích gieo trồng ngô ước đạt 34.214,37 ha, giảm 1,87 (giảm 653,17 ha). Năng suất ước đạt 41,30 tạ/ha, tăng 2,11% (tăng 0,85 tạ/ha). Sản lượng ước đạt 141.298,09 tấn, tăng 0,20% (tăng 280,02 tấn) so với cùng vụ năm trước.
- Cây khoai lang: Diện tích khoai lang đạt 2.271,74 ha giảm 0,62% (giảm 14,19 ha). Năng suất khoai lang đạt 66,43 tạ/ha, tăng 0,38% (tăng 0,25 tạ/ha). Sản lượng đạt 15.092,28 tấn, giảm 0,24% (giảm 36,28 tấn).
- Cây đậu tương: Diện tích cây đậu tương đạt 3.828,52 ha, giảm 8,60% (giảm 360,13 ha). Năng suất cây đậu tương đạt 15,79 tạ/ha, tăng 1,34% (tăng 0,21 tạ/ha). Sản lượng đạt 6.046,89 tấn, giảm 7,37% (giảm 481,34 tấn).
6.1.2. Cây lâu năm
Toàn tỉnh diện tích hiện có 57.547,69 ha, giảm 5,85% (giảm 3.577,36 ha) so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó: Nhóm cây ăn quả là 26.147,63 ha, giảm 11,21% (giảm 3.302,28 ha); nhóm cây chè là 27.399,13 ha, giảm 2,24% (giảm 627,49 ha); nhóm cây gia vị cây dược liệu năm là 1.318,66 ha, tăng 1,53% (tăng 19,89%); nhóm cây lâu năm khác là 1.001,14 ha, tăng 34% (tăng 254,04 ha).
Sản lượng cây lâu năm tăng cao so với cùng kỳ 2025. Các loại quả cho sản phẩm theo mùa chủ yếu như: Cây xoài ước đạt 2.184,39 tấn, tăng 10,20%; cây hồng xiêm ước đạt 50,47 tấn, tăng 32,02%; cây chuối ước đạt 13.339,64 tấn, tăng 4,75%; cây thanh long ước đạt 620 tấn, tăng 6,53%; cây đu đủ ước đạt 390,73 tấn, tăng 4,45%; cây chanh ước đạt 1.852,08 tấn, tăng 14,15%; cây mận ước đạt 2.757,19 tấn, tăng 7,50%; Cây vải ước đạt 2.344,68 tấn, giảm 3,66%; Cây chè sản lượng ước đạt 74.349,76 tấn, tăng 0,76%.
6.1.3. Sản xuất vụ mùa năm 2026
Đến ngày 20/6/2026, diện tích cấy lúa đạt 7.849,4 ha, tăng 0,27% so với cùng kỳ năm trước. Các cây trồng khác chưa gieo trồng do một phần đang thu hoạch vụ Đông Xuân, một phần đang làm đất.
6.1.3. Tình hình sinh vật gây hại
Trên cây lúa vụ Xuân rầy nâu, rầy lưng trắng, sâu cuốn lá nhỏ, sâu đục thân 2 chấm, bọ xít dài, bệnh đạo ôn lá, đạo ôn cổ bông, bệnh đốm sọc vi khuẩn, bệnh bạc lá, bệnh khô vằn, chuột xuất hiện rải rác. Cây ngô vụ Xuân xuất hiện sâu keo mùa thu, châu chấu tre lưng vàng, rệp hại, sâu đục bắp, bệnh đốm lá, bệnh khô vằn gây hại rải rác. Trên cây lạc xuất hiện rải rác sâu cuốn lá, bệnh rỉ sắt, bệnh đốm lá. Trên cây đậu tương xuất hiện sâu đục quả, sâu cuốn lá, sâu khoang, bệnh rỉ sắt, bệnh đốm lá gây hại rải rác. Trên cây rau đậu xuất hiện bọ trĩ, nhện trắng, ruồi đục lá, sâu ăn lá, rệp, bệnh thán thư, bệnh lở cổ rễ, bệnh xoăn lá gây hại rải rác.
6.2. Về chăn nuôi
6.2.1. Về số lượng đàn gia súc, gia cầm
Tổng đàn trâu hiện có 202.157 con, giảm 9,12% so với cùng kỳ năm 2025; đàn bò 175.814 con, tăng 2,13%; đàn lợn 1.210.458 con, tăng 3,22%; đàn gia cầm 14.790 nghìn con, tăng 4,60%.

6.2.2. Về sản phẩm đàn gia súc, gia cầm
6 tháng đầu năm 2026, sản lượng thịt trâu hơi xuất chuồng ước đạt 7.911 tấn, tăng 6,99% so với cùng kỳ năm 2025; đàn bò 4.525 tấn, tăng 7,18%; đàn lợn đạt 66.574 tấn, tăng 5,93%; đàn gia cầm đạt 19.349 tấn, tăng 6,74%.

Nhìn chung, tình hình chăn nuôi trong 6 tháng đầu năm 2026 duy trì ổn định, không có biến động lớn. Công tác phòng chống dịch bệnh được chú trọng, đặc biệt là các bệnh nguy hiểm như Dịch tả lợn Châu Phi.
6.3. Về công tác phòng chống dịch bệnh gia súc, gia cầm trong quý
6.3.1. Công tác phòng chống và điều trị
Trong 6 tháng đầu năm, bệnh Dịch tả lợn Châu Phi phát sinh tại 129 hộ/69thôn/27 xã; toàn tỉnh có 1.392 con lợn mắc bệnh, buộc tiêu hủy tổng khối lượng 56.457 kg. Đến ngày 08/6/2026 đã có 09 xã công bố hết dịch.
6.3.2. Công tác kiểm dịch vận chuyển động vật, sản phẩm động vật
Từ đầu năm đến nay, đã kiểm tra cấp 1.725 giấy chứng nhận kiểm dịch,vận chuyển. Trong đó: 825 chuyến, vận chuyển 110.029 con gia súc, gia cầm; 900 chuyến, vận chuyển 16.034 tấn sữa tươi nguyên liệu. Vận chuyển đi các tỉnh: Bắc Ninh, Hà Nội, Cao Bằng, Phú Thọ, Lai Châu, Nghệ An, Thái Nguyên...; kiểm soát giết mổ, kiểm tra vệ sinh thú y được 6.519 con gia súc các loại.
6.4. Về sản xuất lâm nghiệp (ước tính có đến ngày 20/6/2026)
6.4.1. Kết quả trồng rừng
Tình hình sản xuất lâm nghiệp trong tháng 6 khởi sắc hơn so với tháng cùng kỳ, yếu tố thời tiết cùng với sự quan tâm, chỉ đạo của các cấp chính quyền địa phương là nguyên nhân chính tác động. Tiến độ trồng rừng, khai thác gỗ được đẩy nhanh, tiếp tục tuyên truyền, phổ biến về công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, phòng cháy chữa cháy rừng và ký cam kết với các hộ dân đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát, theo dõi, cập nhật diễn biến rừng kịp thời phát hiện, ngăn chặn các vụ phá rừng.
Diện tích rừng trồng mới tập trung ước thực hiện trong tháng đạt 3.481,99 ha, tăng 10,67% so với cùng kỳ (tăng 335,65 ha), nguyên nhân là do trong tháng có những đợt mưa thuận lợi cho việc trồng rừng. Luỹ kế đến hết tháng báo cáo, tổng diện tích rừng trồng tập trung toàn tỉnh đã trồng được 12.063,18 ha giảm 0,88% (giảm 106,74 ha) so với cùng kỳ.
6.4.2. Kết quả khai thác rừng trồng
Ước tính tháng 6 toàn tỉnh khai thác được 144.213 m3 gỗ, tăng 51,75% (tăng 93.890,39 m3) so với cùng kỳ.

Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, sản lượng gỗ khai thác đạt 746.455,50 m3, tăng 2,13% (tăng 15.552,28 m3). Nguyên nhân tăng là do có nhiều diện tích rừng đến tuổi khai thác và thời tiết thuận lợi người dân đẩy nhanh tiến độ.
6.4.3. Công tác bảo vệ rừng:
Trong tháng không xảy ra vụ cháy rừng nào, luỹ kế 6 tháng đầu năm xảy ra 01 vụ, giảm 37 vụ so với cùng kỳ; thiệt hại 0,12 ha, giảm 80,01 ha. Nguyên nhân chính giảm số vụ cháy rừng là do các cơ quan chính quyền địa phương đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến về công tác quản lý, bảo vệ và phòng cháy chữa cháy rừng, chủ động cập nhật diễn biến rừng, theo dõi thời tiết để có những phương án phù hợp. Số vụ phá rừng xảy ra 02 vụ, giảm 04 vụ so với tháng cùng kỳ; 6 tháng đầu năm giảm 6 vụ.
6.5. Về thuỷ sản
Tổng sản lượng thuỷ sản 8.097,63 tấn, tăng 8,22%, trong đó: Sản lượng nuôi trồng 7.157,64 tấn, tăng 8,4%; sản lượng khai thác 939,99 tấn, tăng 6,89%.

7. Sản xuất công nghiệp
Trong tháng 6 và 6 tháng đầu năm 2026 các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh đối mặt với nhiều thách thức do chi phí vận tải và giá nguyên liệu tăng cao, xuất phát từ xung đột tại Trung Đông làm gián đoạn quá trình vận chuyển hàng hóa cũng như kéo dài thời gian giao hàng gây áp lực tài chính cho doanh nghiệp. Mặc dù có những khó khăn nhưng các doanh nghiệp trong tỉnh đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm thích ứng nhanh với tình hình mới. Nhiều sản phẩm công nghiệp sản lượng sản xuất tăng so với cùng kỳ năm trước như: Đường RE, Bao bì đóng gói bằng plastic, Cấu kiện làm sẵn cho xây dựng, Thép cán, Mangan và sản phẩm Mangan, Cửa ra vào bằng sắt, thép,... Riêng lĩnh vực sản xuất điện do đầu quý II lượng mưa thấp, lưu lượng nước về lòng hồ giảm, các nhà máy thủy điện hoạt động không hết công suất, do đó sản lượng điện sản xuất trong quý II giảm so với quý trước, tuy nhiên lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 so với cùng kỳ thì sản lượng điện sản xuất tăng do năm nay mùa mưa kết thúc muộn hơn, cùng với một số nhà máy thủy điện hoàn thành trong 6 tháng cuối năm 2025 đi vào hoạt động ổn định đã bổ sung năng lực sản xuất mới cho ngành điện.
7.1. Về phát triển công nghiệp trong tháng
Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) trong tháng tăng 13,61% so với tháng trước, tăng 10,10% so với cùng kỳ, trong đó: Ngành khai khoáng tăng 46,20%, tăng 10,72%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 5,63%, tăng 15,49%; sản xuất và và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 69,55%, tăng 2,14%; cung cấp nước và hoạt động thu gom xử lý rác, nước thải tăng 1,30%, tăng 2,07%.
Một số ngành công nghiệp cấp II có chỉ số sản xuất tăng so với tháng trước và tăng so với cùng kỳ như: Dệt tăng 7,41%, tăng 3,57%; sản xuất kim loại tăng 10,74%, tăng 11,99%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 5,24%; tăng 21,42%;...
Trong tháng, một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng so với tháng trước và tăng so với cùng kỳ năm trước như: Cát tự nhiên đạt 24.152 m3, tăng 7,73%, tăng 81,47%; chè (trà) nguyên chất đạt 1.382 tấn, tăng 3,96%; tăng 18,01%; điện thương phẩm đạt 193 triệu Kwh, tăng 2,43%, tăng 13,03%;...Tuy nhiên, cũng có một số sản phẩm công nghiệp giảm so với tháng trước và giảm so với cùng kỳ như: Quần áo lót cho người lớn dệt kim đạt 120 nghìn cái, giảm 29,82%, giảm 33,33%; bột giấy đạt 12.163 tấn, giảm 3,93%, giảm 22,09%;…
7.2. Về phát triển công nghiệp trong quý II/2026
- Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) quý II/2026 ước tính tăng 10,59% so với quý cùng kỳ, trong đó: Công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 11,92%; sản xuất và phân phối điện tăng 9,72%; cung cấp nước và xử lý rác, nước thải tăng 4,61%; khai khoáng giảm 10,08%.
- Trong quý II/2026 một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu của tỉnh đạt mức tăng trưởng khá so với quý cùng kỳ như: Điện thương phẩm tăng 14,31%; điện sản xuất tăng 9,41%; chè chế biến tăng 28,30%;…Tuy nhiên, cũng có một số sản phẩm công nghiệp giảm so với quý cùng kỳ như: Bột giấy giảm 12,92%; bột Felspat giảm 2,14%; xi măng giảm 7,03%;...
7.3. Về phát triển công nghiệp 6 tháng đầu năm 2026
Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, số lao động làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp giảm 6,70% so với cùng kỳ. Trong đó: Doanh nghiệp nhà nước giảm 2,84%; doanh nghiệp ngoài quốc doanh giảm 1,67%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài giảm 13,64%.
Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước đến tháng 6 năm 2026 giảm 15,89% so với tháng trước và giảm 1,97% so với tháng cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng đầu 2026, chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 10,96% so với cùng kỳ, trong đó một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng như: Ngành sản xuất chế biến thực phẩm tăng 51,89%; ngành sản xuất trang phục tăng 3,59%; ngành sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 37,26%; ngành sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 20,09%...; một số ngành có chỉ số tiêu thụ giảm như: Ngành dệt giảm 3,45%; sản xuất chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ giảm 52,77%; in, sao chép bản ghi các loại giảm 27,22%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn giảm 56,88%...
Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước đến tháng 6 năm 2026 giảm 1,46% so với tháng trước và tăng 11,61% so với cùng thời điểm năm trước, trong đó ngành có chỉ số tồn kho tăng cao hơn mức tăng chung như: Sản xuất trang phục tăng 41,72%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 14,35%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 71,53%...
Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 9,30% so với cùng kỳ năm trước, Chia theo từng ngành kinh tế cấp I như sau:

+ Ngành khai khoáng giảm 10,79%, nguyên nhân chủ yếu do Công ty cổ phần đầu tư khoáng sản An Thông chất lượng quặng khai thác xấu, công ty tập trung hoàn tất thủ tục xin khai thác mỏ mới để có quặng tốt hơn nên sản lượng sản xuất của doanh nghiệp giảm.
+ Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,76%, do chủ yếu một số doanh nghiệp sản xuất ổn định: CTCP công nghiệp và XNK lâm nghiệp Hà Giang, CTCP Hải Hàn, CTCP chè Mỹ Lâm, công ty TNHH MSA YB, công ty TNHH xây dựng và thương mại Hiệp Phát, CTCP xây dựng Tổng hợp, CTCP giấy An Hòa, CTCP xi măng Tân Quang, CTCP xi măng Tuyên Quang, công ty TNHH Gang thép Tuyên Quang, công ty Future of Sound Vina…
+ Ngành sản xuất và phân phối điện tăng 10,96%, do 05 nhà máy thủy điện đã hòa lưới phát điện cùng với thời tiết năm nay mưa nhiều hơn và mùa mưa cũng kết thúc muộn hơn so với năm trước. Một số thủy điện có sản lượng điện 6 tháng tăng cao so với cùng kỳ: Thủy điện Sông Miện 5N tăng 32,92%; Xuân Thiện Hà Giang tăng 35,61%; Sông Lô 4N tăng 82,44%; Sông Chảy 6N tăng 39,34%; Sông Lô 2N tăng 130,0%....
+ Ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 4,23%, do hoạt động thu gom, xử lý rác thải tăng 14,30% so cùng kỳ.

Tính chung 6 tháng năm 2026, một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng so với cùng kỳ năm trước như: Cát tự nhiên tăng 18,87%; chè (trà) nguyên chất tăng 17,22%; điện thương phẩm tăng 12,60%; điện sản xuất tăng 10,52%;…Tuy nhiên, một số sản phẩm công nghiệp có chiều hướng giảm so với cùng kỳ như: Áo sơ mi cho người lớn giảm 9,71%; giày, dép thể thao có mũ bằng da giảm 9,14%; xi măng giảm 10,65%;…
8. Thương mại và Dịch vụ
Tình hình thương mại và dịch vụ tỉnh Tuyên Quang trong 6 tháng đầu năm ghi nhận những tín hiệu phục hồi rõ nét và khởi sắc. Tổ chức hiệu quả Hội chợ OCOP tỉnh Tuyên Quang năm 2026. Tăng cường theo dõi, nắm bắt diễn biến thị trường và tình hình lưu thông hàng hóa; chủ động xây dựng và triển khai các phương án bảo đảm cân đối cung - cầu, bình ổn thị trường. Thúc đẩy phát triển hạ tầng thương mại, cơ bản đáp ứng nhu cầu phân phối và mua sắm của người tiêu dùng. Thương mại điện tử tiếp tục được duy trì, phát triển; hoàn thiện các nền tảng số, hỗ trợ quảng bá sản phẩm địa phương trên nền tảng số.

8.1. Doanh thu bán lẻ hàng hóa, dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch và dịch vụ khác
8.1.1. Doanh thu bán lẻ hàng hóa
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng trưởng mạnh, tháng 6/2026 doanh thu bán lẻ hàng hóa trong tháng ước đạt 3.819 tỷ đồng, tăng 1,98% so với tháng trước, tăng 25,86% so với tháng cùng kỳ. Trong đó, một số nhóm hàng tăng so với tháng trước, tăng so với cùng kỳ, cụ thể như sau: Hàng may mặc đạt 377 tỷ đồng, tăng 2,03%, tăng 43,85%; đồ dùng dụng cụ, trang thiết bị gia đình đạt 532 tỷ đồng, tăng 5,06%, tăng 4,42%;… Tính chung trong quý II/2026, doanh thu bán lẻ hàng hóa ước đạt 11.251 tỷ đồng, tăng 24,84% so với quý cùng kỳ. 6 tháng đầu năm 2025, doanh thu bán lẻ hàng hóa ước đạt 21.746 tỷ đồng, tăng 20,27% so với cùng kỳ.
8.1.2. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ khác
Trong tháng, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 590,5 tỷ đồng, giảm 8,19% so với tháng trước, tăng 16,44% so với cùng kỳ. Trong đó: Dịch vụ lưu trú đạt 57,05 tỷ đồng, giảm 3,18%, tăng 5,76%; ăn uống đạt 533,45 tỷ đồng, giảm 8,69%, tăng 17,34%. Tính chung trong quý II/2026 dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 1.929 tỷ đồng, tăng 21,62% so với quý cùng kỳ. 6 tháng đầu năm 2026, dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 3.733,65 tỷ đồng, tăng 19,98% so với cùng kỳ.
Trong tháng, doanh thu du lịch lữ hành ước đạt 2,90 tỷ đồng, giảm 37,67% so với tháng trước, tăng 15,01% so với cùng kỳ. Tính chung trong quý II/2026 du lịch lữ hành ước đạt 15 tỷ đồng, tăng 29,78% so quý cùng kỳ. 6 tháng đầu năm 2026 du lịch lữ hành ước đạt 37,49 tỷ đồng, tăng 45,62%.
Doanh thu dịch vụ khác trong tháng ước đạt 95,13 tỷ đồng, tăng 1,27% so với tháng trước, tăng 37,96% so với cùng kỳ. Tính chung trong quý II/2026 dịch vụ khác ước đạt 283 tỷ đồng, tăng 31,62% so quý cùng kỳ. 6 tháng đầu năm 2026, dịch vụ khác ước đạt 566,42 tỷ đồng, tăng 21,49% so với cùng kỳ.
8.2. Xuất, nhập khẩu hàng hóa
Tăng cường kiểm tra, kiểm soát, đấu tranh chống buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả, hàng kém chất lượng. 6 tháng đầu năm, lực lượng Quản lý thị trường tổ chức kiểm tra 381 vụ việc, xử lý vi phạm hành chính 316 vụ, với 329 hành vi vi phạm (chủ yếu là kinh doanh hàng hóa nhập lậu, hàng hoá giả mạo nhãn hiệu,…), nộp ngân sách nhà nước 2,46 tỷ đồng. Tiếp tục cải cách, rút ngắn thủ tục hành chính trong lĩnh vực hải quan; rút ngắn thời gian thông quan hàng hóa, giảm chi phí cho doanh nghiệp, người nộp thuế, tạo thuận lợi thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu.

Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa trong tháng ước đạt 55,1 triệu USD, giảm 55,2% so với cùng kỳ. 6 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa ước đạt 301,14 triệu USD, đạt 51% kế hoạch, giảm 20,12% so với cùng kỳ.
Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa trong tháng ước đạt 22,2 triệu USD, tăng 32,1% so với cùng kỳ. 6 tháng đầu năm 2026, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa ước đạt 129,85 triệu USD, đạt 51,9% kế hoạch, tăng 31,7% so với cùng kỳ.
9. Vận tải hàng hóa và hành khách
Trước biến động của giá xăng dầu, tỉnh đã yêu cầu các đơn vị liên quan theo dõi chặt chẽ tác động của giá xăng dầu đến giá cước vận tải trên địa bàn, nhất là với vận chuyển hành khách và hàng hóa thiết yếu; hướng dẫn doanh nghiệp kê khai giá đúng quy định. Tăng cường kiểm tra công tác kê khai, niêm yết và bán đúng giá niêm yết của các đơn vị kinh doanh vận tải trên địa bàn, tập trung kiểm tra các đơn vị có mức tăng giá lớn, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm (nếu có) theo quy định; tuyệt đối không để xảy ra tình trạng lợi dụng biến động giá nhiên liệu để tăng giá bất hợp lý.
9.1. Doanh thu vận tải tải kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải
Doanh thu vận tải trong tháng ước đạt 473,03 tỷ đồng, tăng 2,38% so với tháng trước, tăng 26,69% so với cùng kỳ. Trong đó, vận tải hành khách ước đạt 131,29 tỷ đồng, tăng 1,45%, tăng 34,50%; vận tải hàng hóa ước đạt 339,02 tỷ đồng, tăng 2,76%, tăng 23,88%; hỗ trợ vận tải ước đạt 1,92 tỷ đồng, tăng 1,28%, tăng 27,77%; bưu chính, chuyển phát ước đạt 0,8 tỷ đồng, tăng 0,28%, tăng 30,01%,…
Ước thực hiện quý II/2026 doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 1.396,92 tỷ đồng, tăng 16,35% so với quý cùng kỳ. Trong đó, vận tải hành khách ước đạt 389,54 tỷ đồng, tăng 28,74%; vận tải hàng hóa ước đạt 999,18 tỷ đồng, tăng 12,08%; kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 5,81 tỷ đồng, tăng 22,47%; bưu chính, chuyển phát đạt 2,39 tỷ đồng, tăng 31,21%.
Tính chung, trong 6 tháng đầu năm 2026, doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 2.712,04 tỷ đồng, tăng 17,99% so với cùng kỳ. Trong đó, doanh thu vận tải hành khách ước đạt 749,26 tỷ đồng, tăng 24,24%; vận tải hàng hóa ước đạt 1.946,34 tỷ đồng, tăng 15,74%; kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 11,40 tỷ đồng, tăng 16,41%; bưu chính, chuyển phát đạt 5,05 tỷ đồng, tăng 27,09%.

9.2. Vận tải hành khách
Vận chuyển hành khách trong tháng ước đạt 2,10 triệu lượt hành khách, tăng 2,24% so với tháng trước, tăng 30,21% so với cùng kỳ; luân chuyển hành khách ước đạt 170,12 triệu lượt hành khách.km, tăng 3,53%, tăng 27,65%.
Tính chung trong quý II/2026, vận chuyển hành khách ước đạt 6,2 triệu lượt hành khách, tăng 25,59% so với cùng kỳ; luân chuyển hành khách ước đạt 458,36 triệu lượt hành khách.km, tăng 13,55%.
Tính chung trong 6 tháng, hành khách vận chuyển ước đạt 11,72 triệu lượt hành khách, tăng 20,13% so với cùng kỳ; hành khách luân chuyển ước đạt 931,74 triệu lượt hành khách.km, tăng 17,72%.
9.3. Vận tải hàng hóa
Vận chuyển hàng hóa ước đạt 2,19 triệu tấn, tăng 2,73% so với tháng trước, tăng 18,01% so với cùng kỳ; luân chuyển hàng hóa ước đạt 139,02 triệu tấn.km, tăng 2,87%, tăng 22,38%.
Tính chung trong quý II/2026, vận chuyển hàng hóa ước đạt 6,46 triệu tấn, tăng 13,69% so với cùng kỳ; luân chuyển hàng hóa ước đạt 409,05 triệu tấn.km, tăng 19,01%.
Tính chung trong 6 tháng, hàng hóa vận chuyển ước đạt 12,72 triệu tấn, tăng 12,21% so với cùng kỳ; hàng hóa luân chuyển ước đạt 815,37 triệu tấn.km, tăng 17%.
10. Về du lịch
Tổ chức thành công Chương trình nghệ thuật “Tuyên Quang chào năm 2026” và đón những vị khách đầu tiên đến Tuyên Quang và nhiều chương trình, lễ hội trong dịp đầu xuân năm mới, thu hút khách du lịch đến thăm quan, trải nghiệm. Chỉ đạo tăng cường công tác quản lý nhà nước về hoạt động lễ hội, tôn giáo, tín ngưỡng; công tác bảo vệ môi trường trong hoạt động du lịch, nhất là trong dịp nghỉ lễ, tết. Chuẩn bị tốt công tác tái đánh giá Công viên địa chất toàn cầu cao nguyên đá Đồng Văn lần thứ IV năm 2026; lập dự án sửa chữa các Trạm Thông tin khu vực (Trạm thông tin du khách Đồng Văn - Mèo Vạc và xã Đường Thượng bị sụt lún ảnh hưởng đến công trình). Khẩn trương hoàn thành xây dựng Đề án thu phí tham quan Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Cao nguyên đá Đồng Văn. Kiểm tra tiến độ triển khai các công trình xây dựng và khảo sát một số điểm du lịch tại xã Đồng Văn, Lũng Cú, Sà Phìn, Phố Bảng.
Trong tháng 6 năm 2026, toàn tỉnh ước đón 305.000 lượt khách du lịch, trong đó có khoảng 60.000 lượt khách quốc tế (bao gồm khách mang hộ chiếu và giấy thông hành), 245.000 lượt khách nội địa; tổng chi tiêu của khách du lịch ước đạt 854,8 tỷ đồng, trong đó khách quốc tế đạt 247,2 tỷ đồng, khách nội địa đạt 607,6 tỷ đồng.

6 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh ước đón 2.093.011 lượt khách du lịch, trong đó 406.368 lượt khách quốc tế (bao gồm khách mang hộ chiếu và giấy thông hành), 1.686.643 lượt khách nội địa, đạt 51% kế hoạch năm; tổng chi tiêu của khách du lịch ước đạt 5.857 tỷ đồng, trong đó khách quốc tế đạt 1.674,2 tỷ đồng, khách nội địa đạt 4.182,8 tỷ đồng).
II. LĨNH VỰC VĂN HÓA - XÃ HỘI
1. Về lao động việc làm
Đẩy mạnh các hoạt động kết nối cung - cầu lao động, hỗ trợ người lao động tìm kiếm, tiếp cận cơ hội việc làm phù hợp với trình độ, kỹ năng và nhu cầu của thị trường lao động; đưa 518 lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, trong đó 88 lao động làm việc thời vụ tại Hàn Quốc; cho phép 06 đơn vị tham gia đưa lao động sang Trung Quốc theo thỏa thuận quản lý lao động qua biên giới, với 4.633 lượt lao động được đưa sang làm việc.
2. Đời sống dân cư
Triển khai chính sách bình ổn giá xăng dầu trên địa bàn tỉnh theo chỉ đạo của Chính phủ[1]. Bảo đảm cung ứng các mặt hàng thiết yếu phục vụ nhu cầu tiêu dùng của người dân. Yêu cầu xử lý nghiêm hành vi đầu cơ, găm hàng, tăng giá bất hợp lý, đảm bảo an sinh xã hội và đời sống nhân dân.
3. Công tác người có công, giảm nghèo, bảo trợ xã hội và phòng chống tệ nạn xã hội
3.1. Công tác đối với người có công với cách mạng
Từ đầu năm đến nay, đã tổ chức tặng quà của Đảng, Nhà nước nhân dịp chào mừng Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng và Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026. Tổ chức thăm và tặng quà 22.644 người có công với cách mạng, đối tượng bảo trợ xã hội, hưu trí xã hội và các đối tượng yếu thế khác nhân dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026 với kinh phí 9,594 tỷ đồng. Thực hiện tốt công tác chăm lo đời sống các đối tượng chính sách; duy trì chi trả trợ cấp ưu đãi thường xuyên hằng tháng cho trên 9.000 người có công, thân nhân người có công và các đối tượng chính sách khác đang hưởng trợ cấp trên địa bàn tỉnh.
3.2. Công tác bảo trợ xã hội và phòng chống các tệ nạn xã hội
Tiếp tục thực hiện tốt các chính sách trợ giúp xã hội, thực hiện đầy đủ, kịp thời các chế độ, chính sách an sinh xã hội cho các hộ có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. Tiếp tục thực hiện các giải pháp hỗ trợ, tạo việc làm cho người lao động; đôn đốc thực hiện các giải pháp phát triển đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội chăm lo, giúp đỡ các đối tượng chính sách xã hội, thực hiện các chính sách, chương trình thúc đẩy bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ.
Trong tháng, các cơ sở cai nghiện của tỉnh đã tiếp nhận 24 học viên, cấp giấy chứng nhận hoàn thành cai nghiện cho 13 học viên; tại thời điểm báo cáo, 2 cơ sở cai nghiện đang quản lý 200 học viên (cai nghiện bắt buộc 194 học viên, cai nghiện tự nguyện 6 học viên).
4. Hoạt động giáo dục và đào tạo
Tổ chức khởi công 11 trường phổ thông nội trú liên cấp Trung học và Trung học cơ sở tại các xã biên giới. Đẩy nhanh tiến độ xây dựng, sửa chữa, cải tạo trường, lớp học, nhất là tiến độ thi công các 06 trường phổ thông nội trú Trung học và Trung học cơ sở các xã biên giới khởi công giai đoạn 1. Tiếp tục triển khai đồng bộ các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục các bậc học. Thực hiện rà soát, sắp xếp tổ chức lại cơ sở giáo dục đại học công lập và cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập; sắp xếp các cơ sở giáo dục phổ thông tại 17/17 xã biên giới; sắp xếp mạng lưới cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông và giáo dục thường xuyên công lập trên địa bàn tỉnh. Hoàn thành nhiệm vụ năm học 2025-2026; tổ chức thi học sinh giỏi cấp tỉnh lớp 9 và lớp 12; tham dự Kỳ thi chọn học sinh giỏi quốc gia THPT, kết quả đạt 59 giải (02 giải nhất; 11 giải nhì, 12 giải Ba và 34 giải Khuyến khích), đặc biệt có 02 học sinh được Bộ Giáo dục và Đào tạo chọn tham dự Kỳ thi chọn đội tuyển Olympic quốc tế. Tổ chức Kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 năm học 2026-2027, Kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông năm 2026 an toàn, nghiêm túc. Tăng cường công tác quản lý, tổ chức các hoạt động hè cho trẻ em, học sinh; công tác phòng, chống tai nạn, thương tích và phòng, chống đuối nước trẻ em trong dịp hè.
5. Hoạt động y tế
Tăng cường kiểm tra, giám sát công tác bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm, nhất là trong dịp lễ, Tết. Quan tâm, nâng cao chất lượng công tác khám, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe Nhân dân, tổ chức khám sức khỏe trên 200.000 lượt cho người dân các xã vùng biên giới; chủ động dự trữ đầy đủ thuốc, máu, dịch truyền cùng các phương tiện, trang thiết bị cần thiết phục vụ cấp cứu và điều trị; đặc biệt là công tác thường trực cấp cứu tai nạn giao thông, ngộ độc thực phẩm. Triển khai Bệnh án điện tử đạt kết quả tích cực. Đẩy mạnh công tác truyền thông, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp, các ngành, gia đình và cộng đồng trong công tác bảo vệ trẻ em, phòng, chống bạo lực, xâm hại trẻ em. Trong tháng 6 /2026 thực hiện khám, chữa bệnh cho 245.028 lượt người; quý II năm 2026 khám, chữa bệnh cho 718.290 lượt người; lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 khám, chữa bệnh cho 1.315.432 lượt người, đạt 56,8% kế hoạch.
6. Hoạt động văn hoá - thể dục, thể thao
Triển khai các bước lập Quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi Danh lam thắng cảnh quốc gia đặc biệt Khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang - Lâm Bình. Tổ chức các chương trình nghệ thuật, hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao trong dịp lễ, Tết,... Tổ chức Lễ khánh thành Dự án Khu liên hợp thể thao và văn hóa Hà Giang. Chú trọng bảo tồn, gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc gắn với phát triển du lịch cộng đồng, du lịch trải nghiệm. Triển khai thực hiện Quy định chi tiết tiêu chuẩn và việc xét tặng danh hiệu "Gia đình văn hóa"; "Thôn, tổ dân phố văn hóa"; "Xã, phường tiêu biểu"; Giải báo chí năm 2026; Lễ phát động Ngày chạy Olympic vì sức khỏe toàn dân năm 2026. Tổ chức các hoạt động kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh; tuyên truyền Ngày Sách và Văn hóa đọc Việt Nam 21/4. Chỉ đạo, hướng dẫn Ủy ban nhân dân các xã, phường triển khai Đại hội thể dục, thể thao cấp xã; tổ chức đoàn cán bộ, vận động viên tỉnh Tuyên Quang tham dự Giải Bóng đá Mùa xuân giữa tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc và 5 tỉnh, thành phố của Việt Nam.
7. Tình hình an toàn giao thông
Trong tháng, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 17 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 9 người và làm bị thương 9 người. Số vụ tai nạn tăng 6,25% so với tháng trước, số người chết và số người bị thương giữ nguyên. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn tăng 30,77%, số người chết tăng 125%, số người bị thương giảm 10%. Tính chung trong quý II/2026, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 46 vụ tai nạn giao thông, làm 24 người chết và làm 27 người bị thương. So với cùng kỳ năm trước giảm 9,8% số vụ, số người chết giảm 11,11%, số người bị thương giảm 12,90%.
Trong 6 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh đã xảy ra 92 vụ tai nạn giao thông, 53 người chết và 49 người bị thương. So với cùng kỳ năm trước: Số vụ tai nạn giao thông giảm 8,91%; số người chết giữ nguyên; số người bị thương giảm 23,44%.
8. Thiệt hại do thiên tai, phòng chống cháy, nổ
8.1. Về thiên tai

Trong 6 tháng đầu năm 2026, trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang đã chịu ảnh hưởng của 10 đợt thiên tai; mưa đá, giông lốc và mưa lớn cục bộ đã gây thiệt hại nặng nề về nhà ở, tài sản của người dân; làm hư hỏng các cơ sở, hạ tầng giao thông và các công trình dân dụng khác trên địa bàn tỉnh.
Thiệt hại về người: 02 người chết và 09 người bị thương.
Thiệt hại về nhà ở: Tổng số có 1.690 ngôi nhà bị sập,hư hỏng, tốc mái.
Thiệt hại về nông, lâm nghiệp và thủy sản: Diện tích cây hoa màu thiệt hại 3.197,32 ha; 18 con gia súc, 957 con gia cầm bị chết, cuốn trôi;
Thiệt hại về cơ sở hạ tầng: 53 điểm trường bị tốc mái, hư hỏng; 05 trạm y tế bị tốc mái;
Thiệt hại về giao thông: 239 điểm giao thông bị ách tắc; 2.772 m đường, 14 công trình cầu và cống thoát nước bị hư hỏng.
Ước tính tổng giá trị thiệt hại: khoảng 259,0 tỷ đồng.
8.2. Về cháy nổ
Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh xảy ra 10 vụ cháy. Không ghi nhận thiệt hại về người, ước tính thiệt hại tài sản 798,8 triệu đồng.

9. Một số nhiệm vụ giải pháp trong thời gian tới
Với quyết tâm hoàn thành cao nhất các mục tiêu, chỉ tiêu kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh đã đề ra trong năm 2026. Để phấn đấu hoàn thành các mục tiêu theo kế hoạch cần phải tiếp tục thực hiện tốt một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm sau:
Một là, Thường xuyên theo dõi, nắm chắc tình hình sản xuất của các doanh nghiệp công nghiệp; kịp thời hỗ trợ tháo gỡ khó khăn, vướng mắc về thị trường, vốn, nguyên liệu, tạo điều kiện để doanh nghiệp phát huy công suất, duy trì ổn định sản xuất, phấn đấu hoàn thành mục tiêu tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp theo kế hoạch. Tập trung đôn đốc đẩy nhanh tiến độ các dự án đã được phê duyệt chủ trương đầu tư. Xây dựng Quy định về quản lý an toàn trong sử dụng điện.
Khẩn trương triển khai việc lập quy hoạch chung đô thị và nông thôn thuộc thẩm quyền cấp xã, đảm bảo phù hợp với các cấp độ quy hoạch còn hiệu lực, các quy chuẩn, tiêu chuẩn hiện hành và tuân thủ theo đúng trình tự, thủ tục, quy định của pháp luật. Xây dựng Quyết định quy định về trình tự, thủ tục phê duyệt điều chỉnh cục bộ quy hoạch đô thị và nông thôn đã được UBND tỉnh phê duyệt do UBND cấp xã tổ chức lập. Triển khai các bước lập điều chỉnh Quy hoạch chung xây dựng Khu kinh tế cửa khẩu Thanh Thủy; Quy hoạch chung Khu du lịch quốc gia Cao nguyên đá Đồng Văn; Quy hoạch chung Khu du lịch quốc gia Tân Trào,... Khẩn trương triển khai thực hiện điều chỉnh Chương trình phát triển nhà ở tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 2021 - 2030, định hướng đến năm 2045.
Thực hiện công bố giá vật liệu xây dựng hằng tháng bảo đảm kịp thời, đúng quy định. Tăng cường kiểm tra, hướng dẫn, theo dõi sát diễn biến thị trường, không để xảy ra tình trạng giá công bố thấp hơn giá bán vật liệu xây dựng trên thị trường, gây khó khăn cho chủ đầu tư, nhà thầu và làm phát sinh tiêu cực. Công bố, điều chỉnh đơn giá vật liệu xây dựng, đơn giá nhân công xây dựng, ca máy và thiết bị thi công bảo đảm phù hợp với mặt bằng giá thị trường, làm cơ sở cho việc lập, thẩm định và triển khai các dự án đầu tư trên địa bàn.
Hai là, Tập trung rà soát, xử lý các dự án chậm tiến độ, tồn đọng, kéo dài trên địa bàn tỉnh, phân loại để xác định phương án xử lý phù hợp; đối với các dự án có khả năng tiếp tục triển khai thì tập trung tháo gỡ khó khăn, đẩy nhanh tiến độ; đối với các dự án không còn phù hợp hoặc không đủ điều kiện thực hiện thì xem xét điều chỉnh, chấm dứt hoặc xử lý theo quy định của pháp luật.
Nâng cao chất lượng công tác chuẩn bị đầu tư và tổ chức thực hiện dự án; chủ động, linh hoạt trong thực hiện thủ tục đầu tư và công tác giải phóng mặt bằng; tập trung đẩy nhanh tiến độ thi công các dự án, đặc biệt là các dự án trọng điểm trên địa bàn tỉnh như: Dự án Cao tốc Tuyên Quang - Hà Giang (giai đoạn 1); Bệnh viện Đa khoa tỉnh Tuyên Quang; Dự án đường và từ khu du lịch suối khoáng Mỹ Lâm đến QL2D kết nối với đường cao tốc Tuyên Quang - Phú Thọ,…
Ba là, Tổ chức thực hiện nghiêm túc, kịp thời, đầy đủ các cơ chế, chính sách về tiền tệ và hoạt động ngân hàng. Tiếp tục triển khai các giải pháp thúc đẩy tăng trưởng tín dụng gắn với nâng cao chất lượng tín dụng; tăng cường kiểm soát và xử lý nợ xấu, bảo đảm an toàn hoạt động của hệ thống các tổ chức tín dụng trên địa bàn.
Tiếp tục thực hiện cải cách, rút ngắn thủ tục hành chính trong lĩnh vực hải quan, thuế; rút ngắn thời gian thông quan hàng hóa, giảm chi phí cho doanh nghiệp, người nộp thuế, tạo thuận lợi thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu.
Công tác sắp xếp, xử lý tài sản công là các trụ sở dôi dư: Tiếp tục hướng dẫn các cơ quan, tổ chức, đơn vị thực hiện sắp xếp, bố trí, xử lý các cơ sở nhà, đất, tài sản công khi sắp xếp tổ chức theo đúng các quy định của pháp luật.
Bốn là, Tiếp tục theo dõi chặt chẽ tình hình thời tiết, chủ động xây dựng các phương án phòng chống thiên tai, cảnh báo mưa lũ nhắm hạn chế tối thiểu thiệt hại về người và tài sản do thiên tai gây ra. Thực hiện tốt các chính sách về an sinh xã hội, lao động, việc làm, công tác trợ giúp đột xuất, bảo đảm người dân khi gặp rủi ro, thiên tai được hỗ trợ kịp thời, khắc phục khó khăn ổn định cuộc sống. Tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát bảo đảm an ninh trật tự, an toàn giao thông và phòng chống cháy nổ.
THỐNG KÊ TỈNH TUYÊN QUANG
Tin khác