Tình hình kinh tế - xã hội tháng 9 và 9 tháng đầu năm 2024 tỉnh Tuyên Quang
- 10/11/2025 22:12
Chín tháng đầu năm 2024, tăng trưởng kinh tế của tỉnh đang hồi phục dù phải chịu không ít tác động do những khó khăn, nguy cơ bất ổn của kinh tế toàn cầu (xung đột vũ trang Nga - Ukraine kéo dài; xung đột leo thang dải Gaza; an ninh vận tải, năng lượng, lương thực, thực phẩm bị đe doạ) và những thách thức từ bên trong (vốn, thị trường tiêu thụ, chính sách) tác động đến sức khoẻ của Doanh nghiệp. Bên cạnh đó tỉnh cũng chịu ảnh hưởng cơn bão số 3 (bão Yagi), lũ lụt, sạt lở đất đã gây ra thiệt hại về người, tài sản và sản xuất, kinh doanh của các hộ gia đình. Tỉnh đã chỉ đạo quyết liệt các sở, ban, ngành, UBND các huyện, thành phố tập trung công tác ứng phó và khắc phục hậu quả do cơ bão số 3 gây ra; tiếp tục triển khai quyết liệt các giải pháp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, duy trì và củng cố ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế, ổn định hệ thống tài chính; cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, đẩy mạnh cải cách hành chính, tập trung tháo gỡ các khó khăn, tạo mọi nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội, thúc đẩy sản xuất kinh doanh. Kết quả đạt được cụ thể ở các ngành, lĩnh vực như sau:I. PHÁT TRIỂN KINH TẾ 1. Tăng trưởng kinh tế 9 tháng đầu năm 20241.1. Tốc độ tăng trưởng GRDP trên địa bàn (giá so sánh 2010) 9 tháng đầu năm 2024Tốc độ tăng trưởng GRDP (giá so sánh năm 2010) trên địa bàn tỉnh tăng 9,14% so với cùng kỳ năm 2023, tiếp tục có xu hướng tăng trưởng tích cực (quý I tăng 9,42%, quý II tăng 10,18%, quý III tăng 7,85%), đây cũng là mức tăng trưởng tương đối ổn định trong bối cảnh kinh tế cả nước còn gặp nhiều khó khăn, thách thức, cụ thể của các lĩnh vực như sau: 1.1.1. Khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 4,30%; đóng góp 1,03 điểm phần trăm trong mức tăng chung của GRDP. Trong đó: Ngành nông nghiệp tăng 4,44%, đóng góp 0,75; ngành lâm nghiệp tăng 3,85%, đóng góp 0,23; ngành thủy sản tăng 4,44%, đóng góp 0,05. Để đạt được kết quả tăng trưởng khá trên tỉnh đã triển khai các giải pháp chuyển đổi tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, nâng cao giá trị gia tăng và bền vững, đáp ứng theo nhu cầu của thị trường, thích ứng với biến đổi khí hậu,... nâng cao thu nhập và đời sống cho dân cư nông thôn, xây dựng nông nghiệp, nông thôn phát triển. Với trọng tâm là lấy phát triển kinh tế nông nghiệp là bệ đỡ và là động lực tăng trưởng quan trọng, thúc đẩy phát triển công nghiệp, thương mại và dịch vụ, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô.Sản lượng lương thực đạt trên 176.366 tấn, tăng 0,72% (tăng 1.264 tấn) so với cùng kỳ, trong đó: Lúa 111.824,87 tấn, giảm 1,14% (giảm 1.286,62 tấn); ngô 64.541,17 tấn, tăng 4,11% (tăng 2.549,71 tấn); khoai lang 8.540,98 tấn, giảm 17,46% (giảm 1.806,53 tấn); lạc 9.458,78 tấn, giảm 2,29% (giảm 221,3 tấn),… chuối 17.509,02 tấn, tăng 1,21% (tăng 208,49 tấn); xoài 1.042,11 tấn, tăng 12,26% (tăng 113,77 tấn); chè đạt 61.257,20 tấn, tăng 0,42% (tăng 253,58 tấn),… sản lượng thịt hơi xuất chuồng ước đạt 51.458 tấn, tăng 6,44% (tăng 3.115,16 tấn); thủy sản ước đạt 9.766,12 tấn, tăng 3,72% (tăng 350,71 tấn); sản lượng gỗ khai thác đạt 987.459 m3, tăng 3,55% (tăng 33.872 m3).1.1.2. Khu vực Công nghiệp, xây dựng tiếp tục có những bước tăng trưởng ấn tượng, với mức tăng 14,85%, đóng góp vào tốc độ tăng trưởng chung là 4,20% điểm phần trăm. Trong đó:- Ngành công nghiệp, tăng 17,92%, với mức đóng góp 3,35 điểm phần trăm (trong đó: Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 11,82%, đóng góp 1,54; sản xuất và phân phối điện tăng 43,81%, đóng góp 1,84; cung cấp nước tăng 9,60%, đóng góp 0,04; khai khoáng giảm 5,78%, làm giảm 0,06). Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng khá so với cùng kỳ như: Điện sản xuất tăng 56,87%; Đường kính tăng 54,38%; Xi măng tăng 11,37%; Nước máy thương phẩm tăng 20,76%; Gỗ tinh chế tăng 11,74%,…- Ngành xây dựng tăng 8,87%, đóng góp 0,85% điểm phần trăm trong khu vực. Với mục tiêu “lấy đầu tư công dẫn dắt”, phát huy vai trò “vốn mồi” của đầu tư công để kích thích sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Tỉnh đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ xây dựng dự án đường cao tốc Tuyên Quang – Hà Giang (giai đoạn 1); đường từ Thành phố Tuyên Quang đi Khu du lịch suối khoáng Mỹ Lâm; xây dựng cầu và đường tránh thị trấn Sơn Dương; đường từ Khu du lịch suối khoáng Mỹ Lâm đến Quốc lộ 2D; Bệnh viện đa khoa tỉnh,… và các dự án thuộc 03 Chương trình mục tiêu quốc gia; chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội,... nhằm kết nối liên vùng, đồng bộ, theo hướng hiện đại, tạo động lực thúc đẩy kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh.1.1.3. Khu vực dịch vụ tăng 8,45%, đóng góp 3,67 điểm phần trăm. Trong khu vực dịch vụ, đóng góp của một số ngành có tỷ trọng lớn vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm như sau: Bán buôn, bán lẻ và sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy tăng 11,13%, đóng góp 0,61; vận tải kho bãi tăng 15,85%, đóng góp 0,60; lưu trú và ăn uống tăng 8,80%, đóng góp 0,18; hoạt động tài chính ngân hàng và bảo hiểm tăng 8,70% , đóng góp 0,32,…Trong 9 tháng đầu năm tỉnh đã tổ chức các hoạt động xúc tiến, quảng bá du lịch có tiềm năng phát triển như: Du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, du lịch cộng đồng; tổ chức thành công các hoạt động khai mạc Khai mạc năm du lịch tỉnh Tuyên Quang năm 2024 và Lễ hội Khinh khí cầu quốc tế lần thứ III - năm 2024; Phối hợp với Trung tâm truyền hình Việt Nam Khu vực miền Trung - Tây Nguyên (VTV8) tư vấn, giới thiệu, kết nối các điểm du lịch, sản phẩm du lịch thực hiện sản xuất Chương trình "Quyến rũ Việt Nam"; tham gia các hoạt động trong khuân khổ Chương trình Qua những miền di sản Việt Bắc lần thứ XV… 1.1.4. Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 5,56% (đóng góp 0,24 điểm phần trăm vào tốc độ tăng trưởng chung của nền kinh tế. 1.2. Quy mô và cơ cấu kinh tế 1.2.1. Quy mô tổng sản phẩmQuy mô tổng sản phẩm trên địa bàn 9 tháng đầu năm 2024 (giá hiện hành) ước đạt 35.083 tỷ đồng. 1.2.2. Cơ cấu kinh tếCơ cấu kinh tế tỉnh tiếp tục chuyển biến tích cực với chiều hướng tăng dần tỷ trọng khu vực dịch vụ, cụ thể như sau: Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy chiếm 23,30%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 29,44%, trong cơ cấu nội hàm ngành công nghiệp đã có sự chuyển dịch theo hướng, tăng dần tỷ trọng công nghiệp công nghiệp chế biến, chế tạo; khu vực dịch vụ chiếm 43,11%; thuế sản phầm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 4,15%.Nhìn chung, 9 tháng năm 2024 các ngành: Công nghiệp, xây dựng và dịch vụ tiếp tục đóng góp chủ yếu vào mức tăng trưởng GRDP của toàn tỉnh, chứng tỏ cơ cấu kinh tế của tỉnh đã có sự chuyển dịch đúng hướng và tái cơ cấu kinh tế đang mang lại hiệu quả rõ rệt. Đây là sự chuyển dịch cơ cấu tích cực phù hợp với yêu cầu thúc đẩy nhanh sự tăng trưởng kinh tế theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa và tăng dần tỷ trọng dịch vụ góp phần nâng cao chất lượng tăng trưởng và củng cố tiềm lực kinh tế của tỉnh.2. Tài chính, ngân hàng2.1. Tình hình thu, chi ngân sách nhà nước2.1.1. Thu ngân sách nhà nước: Tổng thu ngân sách nhà nước ước thực hiện là 3.062 tỷ đồng, đạt 79,28% dự toán, tăng 76,60% so với cùng kỳ. Trong đó thu nội địa ước thực hiện là 2.931 tỷ đồng, đạt 77,14%, tăng 78,66%.Một số khoản thu đạt khá là: Thu từ khu vực Doanh nghiệp nhà nước do trung ương quản lý là 276 tỷ đồng, đạt 83,50%, tăng 28,54%; khu vực kinh tế ngoài quốc doanh là 545 tỷ đồng, đạt 60,07%, tăng 25,23%; thuế Thu nhập cá nhân là 144 tỷ đồng, đạt 96,31%, tăng 46,60%; thuế Bảo vệ môi trường là 181 tỷ đồng, đạt 72,57%, tăng 19,79%; các khoản thu về nhà đất là 770 tỷ đồng, đạt 73,44%, tăng 213,05%; hoạt động xổ số kiến thiết là 19 tỷ đồng, đạt 80,08%, tăng 0,01%; thu khác của ngân sách là 310 tỷ đồng, đạt 169,63%, tăng 350,46%,…Một số khoản thu thấp: Thu từ khu vực Doanh nghiệp nhà nước do địa phương quản lý là 34 tỷ đồng, đạt 48,68%, giảm 4,01%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là 33 tỷ đồng, đạt 47,83%, giảm 26,04%; thu cố định tại xã tính cân đối là 2 tỷ đồng, đạt 57,78%, giảm 23,25%,...- Một số nguyên nhân cơ bản làm ảnh hưởng đến tiến độ dự toán:+ Một số doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh gặp khó khăn, dẫn đến số nộp ngân sách giảm so với cùng kỳ,... + Tiến độ thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất còn chậm chưa đảm bảo theo dự toán. Trong công tác đấu giá quyền sử dụng đất, quyền dử dụng đất thuê của các huyện, thành phố còn phát sinh một số vướng mắc, khó khăn do chưa phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, xác định giá khởi điểm để đấu giá quyền sử dụng đất. + Tiến độ thực hiện các CTMTQG còn chậm, đặc biệt là tiến độ giải ngân vốn sự nghiệp. Do các đơn vị được giao dự toán thực hiện các CTMTQG chưa chủ động, quyết liệt trong việc tổ chức thực hiện các nhiệm vụ trong những tháng đầu năm; trong quá trình thực hiện còn phát sinh khó khăn, vướng mắc phải nghiên cứu giải pháp đồng bộ để tổ chức thực hiện; một số đơn vị gặp khó khăn thiếu nguồn nhân lực để triển khai thực hiện các nhiệm vụ, dự án thuộc các Chương trình. 2.1.2. Chi ngân sách nhà nước: Tổng chi ngân sách nhà nước là 12.399 tỷ đồng, đạt 91,96% dự toán, tăng 50,57% so với cùng kỳ. Trong đó: Chi đầu tư phát triển 1.950 tỷ đồng, đạt 93,90%, tăng 29,14%; chi thường xuyên 4.881 tỷ đồng, đạt 62,40%, tăng 18,82%; chi dự phòng ngân sách 120 tỷ đồng, đạt 63,22%, tăng 61,85%,...Tỉnh đã tập trung điều hành dự toán ngân sách nhà nước chủ động, chặt chẽ, bảo đảm kỷ luật tài chính, ngân sách, an sinh xã hội, bảo đảm đúng dự toán được duyệt. Ngân sách địa phương tiếp tục thực hiện các chính sách, chế độ về đảm bảo an sinh xã hội. Đẩy nhanh tiến độ thực hiện chi thường xuyên, hạn chế tối đa việc điều chỉnh nhiệm vụ chi. Tăng cường công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách nhà nước; chủ động rà soát, sắp xếp các nhiệm vụ chi, cắt giảm tối đa các nhiệm vụ chi chưa thực sự cần thiết. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra tài chính và phòng chống tham nhũng góp phần giữ nghiêm kỷ cương, kỷ luật tài chính nhằm quản lý kinh phí, tài sản công chặt chẽ, tiết kiệm, hiệu lực, hiệu quả.2.2. Hoạt động tín dụng ngân hàngCác ngân hàng thực hiện tốt công tác giao dịch, công tác thanh toán trên địa bàn tỉnh; thực hiện đúng quy định các biện pháp về bảo đảm an toàn hệ thống công nghệ thông tin.Thực hiện các giải pháp, tháo gỡ khó khăn về công tác tín dụng nhằm đảm bảo cung ứng vốn cho nền kinh tế, hỗ trợ người dân doanh nghiệp trong tiếp cận tín dụng phục vụ sản xuất - kinh doanh, tiếp tục triển khai có hiệu quả các gói vay phục vụ mục tiêu sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an toàn hoạt động của các tổ chức tín dụng.- Về hoạt động huy động vốn: Nguồn vốn huy động tại địa phương ước thực hiện là 35.990 tỷ đồng, so với cùng kỳ tăng 5.625 tỷ đồng (+18,52%); so với 31/12/2023 tăng 2.848 tỷ đồng (+8,6%).- Về đầu tư tín dụng: Tổng dư nợ ước đạt 33.290 tỷ đồng, so với cùng kỳ tăng 5.207 tỷ đồng (+18,54%); so với 31/12/2023 tăng 3.170 tỷ đồng (+10,5%). Trong đó: Dư nợ tín dụng thương mại 28.935 tỷ đồng, so với 31/12/2023 tăng 3.024 tỷ đồng (+11,7%); dư nợ tín dụng chính sách 4.355 tỷ đồng so với 31/12/2023 tăng 146 tỷ đồng (+3,5%).- Chất lượng tín dụng: Nợ xấu của các Ngân hàng đến 30/9/2024 khoảng 180 tỷ đồng, chiếm 0,54% trên tổng dư nợ. Các giải pháp tín dụng về tháo gỡ khó khăn cho khách hàng: Tính đến 31/8/2024, các ngân hàng thương mại trên địa bàn tỉnh đã cơ cấu lại thời hạn trả nợ cho 33 lượt khách hàng với tổng giá trị nợ đã được cơ cấu là 42,3 tỷ đồng.3. Giá cả- Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 9 năm 2024 giảm 0,85% so với tháng trước, tăng 1,82% so với cùng kỳ năm trước. Trong số 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính thì có 7 nhóm tăng giá so với tháng trước, 3 nhóm giảm giá và 1 nhóm giữ nguyên so với tháng trước là nhóm Bưu chính viễn thông, cụ thể của các nhóm như sau:+ Có 7/11 nhóm hàng có chỉ số CPI tăng so với tháng trước, trong đó: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 2,23%. Trong đó, lương thực tăng 0,53%; thực phẩm tăng 2,75%; ăn uống ngoài gia đình tăng 0,92%, nguyên nhân làm nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng là nhóm gạo tăng 0,80% do giá gạo trong nước tăng theo giá gạo xuất khẩu, nhóm thịt gia súc tăng 4,85%, nguyên nhân chủ yếu mặt hàng thịt lợn tăng 5,65% do nguồn cung thiếu hụt; đồ uống và thuốc lá tăng 0,40%, do nhu cầu sử dụng của người dân về nhóm mặt hàng nước khoáng và nước có ga tăng 3,67%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,39% do nhu cầu mua sắm các loại hàng may mặc và quần áo may sẵn của người dân cho các con chuẩn bị vào năm học mới; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0,29%, chủ yếu là nhóm giá thuê nhà tăng 0,86%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng nhẹ 0,07%, do nhu cầu sử đụng đồ đèn điện thắp sáng và sửa chữa thiết bị gia đình của người dân tăng; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,06%, do giá mặt hàng thuốc các loại tăng như: thuốc điều trị tim mạch, thuốc điều trị ký sinh trùng, thuốc chữa đường hô hấp…; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 1,71%.+ Có 03/11 nhóm hàng giảm so với tháng trước, trong đó: Nhóm giao thông giảm 2,8% là do giá xăng, dầu điều chỉnh giảm theo quyết định điều chỉnh của Tập đoàn xăng dầu Việt Nam về giá bán lẻ xăng, dầu (xăng giảm 7,35%, dầu diesel giảm 8,74%); giáo dục giảm 25,72% theo Nghị quyết số 07/NQ-HĐND ngày 04/7/2024; văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,6% do nhu cầu người dân đi du lịch trong nước và ngoài nước giảm.+ Có nhóm hàng bưu chính viễn thông giữ nguyên so với tháng trước.+ Chỉ số giá vàng tăng 2,37% so với tháng trước, tăng 36,06% so với cùng kỳ năm trước và tăng 25,94% so với tháng 12 năm trước (do giá vàng trong nước biến động cùng chiều với giá vàng thế giới, Cục dự trữ liên bang Mỹ (Fed) liên tục cắt giảm lãi suất USD và căng thẳng địa chính trị gia tăng). + Chỉ số giá đô la Mỹ giảm 1,77% so với tháng trước, tăng 1,96% so với cùng kỳ năm trước và tăng 1,55% so với tháng 12 năm trước.- CPI bình quân quý III/2024 tăng 3,56% so với quý cùng kỳ, một số nhóm hàng tác động làm CPI trong quý tăng là những nhóm hàng chủ yếu sau: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 6,66%; đồ uống và thuốc lá tăng 3,59%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 5,77%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,53%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 5,34%;... chỉ số giá vàng tăng 28,67%; giá đô la Mỹ tăng 5,36%.- CPI bình quân 9 tháng năm 2024 tăng 3,56% so với cùng kỳ năm 2023. Một số nguyên nhân cơ bản đã tác động tăng CPI là những nguyên nhân chủ yếu sau: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 6,66%, chủ yếu do nhóm hàng lương thực tăng 17,77% (do giá gạo tăng), thực phẩm tăng 5,34% (do giá thịt gia súc tăng), ăn uống ngoài gia đình tăng 2,92%; đồ uống và thuốc lá tăng 3,59%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 5,77%; giao thông tăng 1,02%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 8,36%,…. chỉ số giá vàng tăng 28,67%, giá đô la Mỹ tăng 5,36%.4. Vốn đầu tư và xây dựng 4.1. Tình hình thực hiện vốn đầu tư Để phục hồi và phát triển kinh tế sau dịch Covid-19, Chính phủ xác định thúc đẩy đầu tư công là một trong những trụ cột chính, là động lực phát triển, có tác động lan tỏa tới các ngành, nghề lĩnh vực trong nền kinh tế. Việc đẩy mạnh đầu tư công vừa kích thích chi tiêu đầu tư công trong ngắn hạn để tạo động lực thúc đẩy công nghiệp hoá, thúc đẩy tăng trưởng nhanh và là công cụ chủ yếu điều hành kinh tế vĩ mô và tạo ra các kết cấu hạ tầng phục vụ hiệu quả, lâu dài cho nền kinh tế.4.1.1. Vốn đầu tư phát triển toàn xã hộiƯớc thực hiện quý III/2024 đạt 4.342 tỷ đồng, tăng 14,81% so với quý II/2024, tăng 5,12% so với quý cùng kỳ năm trước; tính chung 9 tháng năm 2024 ước đạt 11.570 tỷ đồng, tăng 12,96% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Nguồn vốn từ khu vực nhà nước ước đạt 3.712 tỷ đồng, giảm 4,19% so với cùng kỳ (chiếm 32,08% tổng nguồn vốn đầu tư); nguồn vốn đầu tư của dân cư và tư nhân ước đạt 6.953 tỷ đồng, tăng 14,69% (chiếm 60,09% tổng nguồn vốn) khu vực tư nhân chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong đầu tư phát triển toàn xã hội và giữ vai trò quan trọng trong tổng nguồn vốn, trong bối cảnh ngân sách nhà nước còn hạn hẹp rất cần các nguồn lực đầu tư từ khu vực tư nhân; Vốn vay từ các nguồn khác (của khu vực Nhà nước) ước đạt 312 tỷ đồng, tăng 2.699,19% (chiếm 2,7%); vốn huy động khác ước đạt 225 tỷ đồng, tăng 3,32% (chiếm 1,94%); vốn tự có của doanh nghiệp nhà nước ước đạt 299 tỷ đồng, tăng 2.702,1%, (chiếm 2,58%); nguồn vốn tín dụng đầu tư theo kế hoạch nhà nước ước đạt 3 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng tương đối nhỏ (chiếm 0,02%); nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ước đạt 65 tỷ đồng, giảm 0,87% (chiếm 0,56%) trên tổng nguồn vốn.4.1.2. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước- Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước thực hiện tháng 9 ước đạt 476 tỷ đồng, giảm 3,45% so với tháng trước; giảm 1,66% so với tháng cùng kỳ năm trước, trong đó: Vốn ngân sách cấp tỉnh đạt 425 tỷ đồng, giảm 2,97%, tăng 2,90%; vốn ngân sách cấp huyện đạt 48 tỷ đồng, giảm 7,69%, giảm 28,36%; vốn ngân sách cấp xã đạt 3 tỷ đồng, giữ nguyên so với tháng trước, giảm 15,49%.- Ước thực hiện quý III/2024 đạt 1.466 tỷ đồng, tăng 14,09% so với quý II/2024, tăng 16,17% so với cùng quý năm trước, trong đó: Vốn ngân sách cấp tỉnh đạt 1.310 tỷ đồng, tăng 13,03%, tăng 19,15%; vốn ngân sách cấp huyện đạt 149 tỷ đồng, tăng 26,27%, giảm 3,72%; vốn ngân sách cấp xã đạt 8 tỷ đồng, tăng 14,28%, giảm 7,99%.- Ước thực hiện 9 tháng năm 2024 đạt 3.534 tỷ đồng, tăng 27,98% so với cùng kỳ, trong đó: Vốn ngân sách cấp tỉnh đạt 3.154 tỷ đồng, tăng 30,20%; vốn ngân sách cấp huyện đạt 358 tỷ đồng, tăng 12,88%; vốn ngân sách cấp xã đạt 23 tỷ đồng, tăng 1,60%.4.2. Xây dựng Với mục tiêu giải ngân ngồn vốn đầu tư công là nhiệm vụ chính trị quan trọng hàng đầu trong năm 2024, là động lực quan trọng nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của tỉnh. Tỉnh đã tập trung thực hiện các biện pháp, giải pháp linh hoạt, sáng tạo, kịp thời, hiệu quả để quyết liệt đẩy mạnh thực hiện và giải ngân vốn đầu tư công, vốn 03 Chương trình mục tiêu quốc gia; đẩy nhanh tiến độ triển khai các công trình, dự án trọng điểm, quan trọng quốc gia, đường cao tốc, các dự án liên vùng, có tác động lan tỏa,.... tập trung tháo gỡ dứt điểm các khó khăn, vướng mắc, nhất là trong công tác giải phóng mặt bằng, khó khăn về đất đai, tài nguyên, hoàn thiện thủ tục đầu tư để khởi công các dự án mới, và để các dự án đang triển khai sớm hoàn thành... Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát hiện trường, đôn đốc các nhà thầu, tư vấn đẩy nhanh tiến độ. Chủ động rà soát, điều chuyển vốn theo thẩm quyền giữa các dự án chậm giải ngân sang các dự án có khả năng giải ngân tốt hơn và còn thiếu vốn theo quy định. Năm 2024, Tuyên Quang được giao tổng kế hoạch vốn đầu tư công là 6.161,16 tỷ đồng, trong đó vốn năm 2023 kéo dài sang năm 2024 là 355,16 tỷ đồng; vốn được phân bổ, giao theo kế hoạch năm 2024 là 5.805,99 tỷ đồng. Tính đến ngày 30/9/2024 , tổng số vốn vốn đầu tư công đã giải ngân được là trên 2.309,18 tỷ đồng, đạt 37,5% kế hoạch, trong đó: Nguồn vốn kế hoạch năm 2024 giải ngân được 2.188,47 tỷ đồng, đạt 37,7%; nguồn vốn năm 2023 kéo dài thời gian thực hiện và giải ngân sang năm 2024 giải ngân được 120,7 tỷ đồng, đạt 34%. 5. Hoạt động của doanh nghiệp5.1. Về tình hình hoạt động của doanh nghiệp- Tính chung trong 9 tháng năm 2024, toàn tỉnh có 211 doanh nghiệp thành lập mới với tổng số vốn đăng ký là 1.145 tỷ đồng, tăng 7,65% về số doanh nghiệp, số vốn đăng ký giảm 61,82% so với cùng kỳ, số vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới đạt 5,4 tỷ đồng, giảm 64,71% so với cùng kỳ. - Tổng số doanh nghiệp đang hoạt động trên địa bàn tỉnh là 2.819 doanh nghiệp với tổng số vốn đăng ký trên 35.785,26 tỷ đồng (trong đó có 18 doanh nghiệp có 100% vốn đầu tư nước ngoài). - Số doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động là 213 doanh nghiệp, tăng 38,31% (tăng 59 doanh nghiệp so với cùng kỳ). Số doanh nghiệp đã hoàn tất thủ tục giải thể là 32 doanh nghiệp, tăng 77,77% (tăng 14 doanh nghiệp so với cùng kỳ). Nhìn chung, hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp còn nhiều khó khăn, số lượng doanh nghiệp thành lập mới tăng nhẹ, trong khi số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường lại tăng so với cùng kỳ. Nguyên nhân chủ yếu là những doanh nghiệp nhỏ và vừa gặp khó khăn về thiếu vốn sản xuất kinh doanh, không tìm kiếm được thị trường mới, nên nhiều doanh nghiệp phải thu hẹp lại, không thể tiếp tục hoạt động dẫn đến phải giải thể doanh nghiệp.5.2. Tình hình xu hướng kinh doanh của các doanh nghiệp ngành chế biến chế tạo quý III năm 2024Kết quả điều tra về xu hướng kinh doanh của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong quý III năm 2024 cho thấy: 26,67% số doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh quý III năm nay khả quan hơn quý trước; 60% doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh ổn định và 13,33% số doanh nghiệp đánh giá gặp khó khăn trong sản xuất kinh doanh. Chỉ số cân bằng của quý III năm 2024 so với quý II là 13,33%. Dự kiến xu hướng kinh doanh quý IV năm 2024 so với quý III cho thấy: Có 26,67% số doanh nghiệp đánh giá xu hướng sẽ tốt lên (trong đó có ngành: Sản xuất chế biến thực phẩm; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất; sản xuất kim loại); 60% số doanh nghiệp đánh giá xu hướng ổn định sản xuất kinh doanh (trong đó có ngành: Sản xuất trang phục; sản xuất giấy và các sản phẩm từ giấy; in sao chép bản ghi các loại; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác; sản xuất giường, tủ, bàn ghế); có 13,33% số doanh nghiệp dự báo tiếp tục khó khăn hơn. Dự tính chỉ số cân bằng của quý tiếp theo so với quý hiện tại là 13,33%.6. Kết quả tình hình sản xuất Nông, lâm nghiệp và thủy sản 9 tháng năm 20246.1. Trồng trọt 6.1.1. Sản xuất vụ đông xuân năm 2024Sản xuất Đông Xuân 2023-2024 diễn ra trong điều kiện thời tiết diễn biến phức tạp và khó lường, những đợt mưa lớn kèm theo rét đậm, rét hại xảy ra trên diện rộng ở thời điểm trước và trong tết Nguyên Đán, tiến độ gieo trồng vụ Đông Xuân bị chậm lại, cùng với đó là hiện tượng sâu bệnh phát sinh trên diện rộng đã ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng và phát triển của cây trồng muộn hơn so với vụ Đông xuân 2022-2023 từ 5-7 ngày. Ngành chức năng và chính quyền các cấp đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo sản xuất, diện tích gieo cấy lúa được đảm bảo theo kế hoạch đề ra và theo đúng khung lịch thời vụ. Hơn 18 nghìn ha lúa trên địa bàn tỉnh vẫn sinh trưởng, phát triển tốt, năng suất trung bình đạt khá so với vụ Đông xuân năm ngoái.- Cây lúa: Diện tích gieo trồng được 18.481,73 ha, giảm 1,16% (giảm 217,68 ha) so với vụ đông xuân năm 2023, ước tính năng suất lúa bình quân chung 60,44 tạ/ha, giảm 0,07% (giảm 0,04 tạ/ha) so với cùng kỳ. Sản lượng ước tính 111.825 tấn, giảm 1,14% (giảm 1.286 tấn) so với vụ đông xuân năm 2023. - Cây ngô: Trồng được 13.894,87 ha, tăng 3,42% (tăng 459,66 ha) so với vụ đông xuân năm 2023; năng suất đạt 46,56 tạ/ha, tăng 0,91% (tăng 0,42 tạ/ha); sản lượng 64.541 tấn, tăng 4,11% (tăng 2.550 tấn).- Cây khoai lang: Trồng được 1.367 ha, giảm 17,33% (giảm 286,64 ha) so với vụ đông xuân năm 2023; năng suất 62,46 tạ/ha, giảm 0,18% (giảm 0,11 tạ/ha); sản lượng 8.541 tấn, giảm 17,46% (giảm 1.807 tấn).- Cây đậu tương: Trồng được 102 ha, giảm 32,31% (giảm 48,54 ha) so với vụ đông xuân năm 2023; năng suất 18,87 tạ/ha, tăng 0,64% (tăng 0,12 tạ/ha); sản lượng 190 tấn, giảm 32,41% (giảm 91 tấn).- Cây lạc: Trồng được 3.169 ha, giảm 3,24% (giảm 105,96 ha) so với vụ đông xuân năm 2023; năng suất 29,84 tạ/ha, tăng 0,93% (tăng 0,28 tạ/ha); sản lượng đạt 9.454 tấn, giảm 2,33% (giảm 97,67 tấn). 6.1.2. Sản xuất vụ mùa năm 2024Vụ mùa năm 2024 do bị ảnh hưởng bởi đợt bão số 3 (Yagi) làm ảnh hưởng đến diện tích lúa và cây màu bị đổ, ngập úng ước diện tích lúa bị ảnh hưởng là 5.430,8 ha; Ngô, rau màu bị ảnh hưởng là 2.836,1 ha do đó cũng phần nào làm ảnh hưởng đến năng suất và sản lượng lương thực chung của toàn tỉnh. Các ngành chức năng đã chỉ đạo phòng chuyên môn các huyện, thành phố, Trung tâm Dịch vụ nông nghiệp các huyện, thành phố tăng cường công tác kiểm tra bám sát địa bàn, phối hợp với UBND các xã, thị trấn tập trung hướng dẫn nông dân khác phục hậu quả sau bão. - Cây lúa: Diện tích đã gieo cấy 24.543 ha, đạt 101% kế hoạch (trong đó: 9.312 ha lúa lai; 15.231 ha lúa thuần). - Cây ngô: Diện tích đã gieo trồng được 4.883 ha, đạt 102,8% kế hoạch. - Cây đậu tương: Diện tích trồng 173 ha, đạt 58,68% kế hoạch.- Cây lạc: Diện tích trồng 1.176 ha, đạt 100,1% kế hoạch.6.1.3 Cây lâu nămDiện tích cây lâu năm cây ăn quả năm 2024 có xu thế giảm là do diện tích cây cam giảm nhiều ở huyện Hàm Yên, do một số diện tích cây cho sản phẩm đã già cỗi, chết, nấm bệnh kém năng suất, nên người dân đã chuyển đổi luân canh sang trồng cây ăn quả khác đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn. Ngoài ra đầu tháng 9 do bị ảnh hưởng bởi đợt bão số 3 Yagi gây ra mưa lớn, ngập úng làm một số diện tích cây chuối bị chết chủ yếu ở Thành phố và các huyện Chiêm Hóa, Hàm Yên, Yên Sơn; diện tích cây bưởi bị ảnh hưởng nhiều nhất ở huyện Yên sơn. Toàn tỉnh diện tích hiện có 26.775,38 ha, giảm 6,29% (giảm 1.798,35 ha) so với cùng kỳ năm 2023. Diện tích cây chuối hiện có trên địa bàn tỉnh 2.117 ha, giảm 4,9% (giảm 109 ha) so với cùng kỳ năm trước, sản lượng ước đạt trên 17.509 tấn, tăng 1,21% (tăng 208 tấn); sản lượng chủ yếu được thu mua của các doanh nghiệp chế biến trên địa bàn tỉnh và tiêu thụ tại các thị trường lân cận và các địa phương khác trong cả nước,… cây vải hiện có 308 ha, giảm 2,59% (giảm 8,21 ha), sản lượng ước đạt 1.740 tấn, giảm 2,93% (giảm 52,43 tấn). Diện tích cây chè trên địa bàn tỉnh hiện có 8.095,90 ha, giảm 2,33% (giảm 193,14 ha), sản lượng 61.257,20 tấn, tăng 0,42% (tăng 254 tấn) so với cùng kỳ.6.2. Tình hình sinh vật gây hại - Cây hàng năm vụ mùa (chuẩn bị cho thu hoạch): Bị rầy nâu, rầy lưng trắng, bọ xít gây hại rải rác, đạo ôn cổ bong gây hại cục bộ; cây ngô, cây lạc, đậu tương bị sâu keo, sâu đục thân, bệnh đóm lá, khô vằn gây hại; cây mía, bị bọ trĩ, sâu đục thân, than đen, bọ hung gây hại rải rác, tỷ lệ hại nơi cao 1-3% số cây.- Cây lâu năm: Cây chè bị rầy xanh, bọ trĩ, bọ xít, nhện đỏ gây hại, tỷ lệ hại trung bình 2-4 %, nơi cao 6-10% số búp; cây có múi xuất hiện nhện trắng, nhện đỏ, rám vàng gây hại rải rác, tỷ lệ hại nơi cao 3-5% số lá; cây nhãn, vải bị bọ xít, bệnh gây hại, mật độ trung bình 1-2 con/cành, nơi cao 4-5 con/cành, non-trưởng thành; bệnh chổi rồng, bệnh sương mai gây hại rải rác, tỷ lệ hại nơi cao 2-4% số cành.- Cây lâm nghiệp (vườn ươm 1-5 tuổi): bệnh phấn trắng, bệnh cháy lá, lở cổ rễ vườn ươm gây hại, sâu ăn lá tỷ lệ hại nơi cao 1-3% số cây.6.3. Về chăn nuôi 6.3.1. Về số lượng đàn gia súc, gia cầmĐàn trâu tổng đàn ước đạt 86.707 con, giảm 2,47% (giảm 2.192 con) so với cùng kỳ năm 2023; đàn bò 39.247 con, tăng 0,62% (tăng 243 con); đàn lợn 547.926 con, tăng 1,87% (tăng 10.562 con); đàn gia cầm 7.396,72 nghìn con, tăng 4,66% (tăng 330 nghìn con).6.3.2. Về sản phẩm đàn gia súc, gia cầmĐàn trâu sản lượng thịt hơi đạt 6.150 tấn, tăng 7,05% (tăng 405 tấn) so với cùng kỳ năm 2023; đàn bò 1.627 tấn, tăng 6,69% (tăng 102 tấn); đàn lợn 51.458 tấn, tăng 6,44% (tăng 3.115 tấn); đàn gia cầm 15.273 tấn, tăng 6,67% (tăng 955 tấn).Đánh giá chung, tình hình chăn nuôi trong 9 tháng đầu năm trên địa bàn tỉnh tiếp tục xu hướng tích cực, đàn trâu, bò khá ổn định về tổng đàn, không có biến động lớn, chăn nuôi lợn có kết quả tích cực vì giá thịt lợn hơi tương đối ổn định, chăn nuôi gia cầm tiếp tục tăng do khu vực hộ và doanh nghiệp áp dụng kỹ thuật tiên tiến, từng bước đưa chăn nuôi phát triển bền vững. 6.4. Công tác phòng chống dịch bệnh gia súc, gia cầm6.4.1. Công tác phòng chống và điều trị - Bệnh Dịch tả lợn Châu Phi: 9 tháng năm 2024 bệnh xảy ra tại 21 xã/48 thôn/140 hộ, số lợn tiêu hủy 897 con, trọng lượng 24.527,5 kg. Các ổ dịch đều xuất hiện ở những hộ chăn nuôi nhỏ lẻ, không đủ các điều kiện về vệ sinh thú y, thiếu các biện pháp phòng, chống dịch. Hiện, toàn bộ lợn mắc bệnh đã được đưa đi tiêu hủy theo đúng quy định về phòng chống dịch bệnh. Trước tình hình trên, ngành chức năng đã khẩn trương thực hiện các biện pháp khoanh vùng dập dịch, hỗ trợ thuốc, vôi bột cho các địa phương để tiêu độc khử trùng tại khu vực chuồng trại của các hộ gia đình chăn nuôi có dịch. Đồng thời tạm dừng hoạt động mua bán gia súc khu vực có dịch; thành lập các chốt kiểm dịch động vật tạm thời tại địa bàn có dịch và các xã có nguy cơ lây nhiễm cao nhằm ngăn chặn dịch phát sinh lan rộng.- Các bệnh truyền nhiễm khác: Hiện nay, trên địa bàn chưa xuất hiện các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm như công tác theo dõi giám sát được tăng cường thường xuyên, đồng thời phối hợp chặt chẽ với các huyện thành phố để kịp thời xử lý ngay khi dịch bệnh xảy ra.- Trên địa bàn các huyện, thành phố rải rác xuất hiện các bệnh Tụ huyết trùng; ký sinh trùng, chướng bụng đầy hơi, sán lá gan (đàn trâu,bò,tiêu chảy, lép tô, phân trắng lợn con (đàn lợn); Newcastle, THT, cầu trùng…(đối với đàn gia cầm), đã được nhân viên thú y phát hiện, điều trị khỏi, trong 9 tháng đầu năm 2024 phát hiện và điều trị là: 4.484/4.608 con, trong đó: Trâu, bò: 554/554 con; đàn lợn: 3.930/4.054 con.6.4.2. Công tác tiêm phòng: Các huyên, thành phố đã thực hiện công tác tiêm phòng bổ sung cho đàn gia súc, gia cầm, cụ thể như sau: Đàn trâu LMLM: 45.611con; THT: 49.315 con; đàn bò LMLM: 28.214 con; THT: 28.739 con; đàn lợn LMLM: 30.343 con; THT: 372.608 con; Dịch tả: 369.561 con; đàn gia cầm THT: 3.528.028 con; Niucatson: 3.739.636 con. 6.5. Công tác kiểm dịch vận chuyển động vật và công tác kiểm soát giết mổ- Kiểm dịch vận chuyển ngoại tỉnh: Thực hiện nghiêm theo cơ chế “Một cửa”, trong quý III đã kiểm tra cấp 824 giấy chứng nhận kiểm dịch vận chuyển, trong đó: 306 chuyến vận chuyển 41.754 con gia súc, gia cầm và 134.075 con cá giống và 520 chuyến vận chuyển 10.139,5 tấn sữa tươi nguyên liệu và 2.560 kg sản phẩm động vật chế biến làm thực phẩm và thức ăn chăn nuôi); 9 tháng đầu năm 2024 đã kiểm tra, cấp 2.083 giấy chứng nhận kiểm dịch vận chuyển trong đó (610 giấy chứng nhận vận chuyển 117.443 con gia súc, gia cầm và 204.075 con cá giống; 1.473 giấy chứng nhận vận chuyển 28.527,5 tấn sữa tươi nguyên liệu và 5.120 kg sản phẩm động vật chế biến làm thực phẩm và thức ăn chăn nuôi) đi các tỉnh Bắc Ninh, Hà Nội, Hà Nam, Hà Giang, Nam Định...+ Tại các Trạm Kiểm dịch động vật: Các huyện duy trì thực hiện tại các trạm Kiểm dịch, trong quý III đã kiểm tra 437 lượt phương tiện vận chuyển đủ thủ tục, trong đó: 436 chuyến vận chuyển 298.098 con gia súc, gia cầm và 01 chuyến vận chuyển 8.550 kg sản phẩm động vật; 9 tháng đầu năm kiểm tra 1.132 phương tiện vận chuyển đủ thủ tục, trong đó: 1.130 chuyến vận chuyển 968.470 con gia súc, gia cầm và 02 chuyến vận chuyển 17.100 kg sản phẩm động vật.+ Công tác kiểm soát giết mổ và kiểm tra vệ sinh thú y: Trung tâm Dịch vụ nông nghiệp các huyện, thành phố duy trì công tác kiểm soát giết mổ trên địa bàn, đã kiểm tra trong quý III: 392 con trâu, bò và 12.554 con lợn; 9 tháng đầu năm đã kiểm tra, đóng dấu kiểm soát giết mổ: 1.091 con trâu, bò và 38.966 con lợn.6.6. Về sản xuất lâm nghiệp 6.6.1. Công tác trồng rừngNăm 2024, toàn tỉnh phấn đấu trồng mới trên 10.500 ha, trong đó: Rừng sản xuất là 10.100 ha, rừng phân tán 400 ha; tỉnh đã chỉ đạo các ngành chức năng chủ động hướng dẫn và kiểm tra các huyện, thành phố, các cơ quan, đơn vị tăng cường thực hiện công tác quản lý đất lâm nghiệp. Bố trí đất trồng, cây giống, dọn thực bì và cuốc hố để bước vào vụ trồng rừng mới, đảm bảo thắng lợi, quyết tâm phấn đấu hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch đề ra. Trong 9 tháng đầu năm 2024, toàn tỉnh đã trồng được 11.563,76 ha rừng, đạt 110,13% kế hoạch, trong đó: Trồng rừng tập trung 11.102,26 ha, trồng cây phân tán: 738,40 nghìn cây (quy ha là 461,5 ha).6.6.2. Khai thác gỗ rừng trồng 9 tháng năm 2024 toàn tỉnh khai thác được 8.689,24 ha gỗ (chủ yếu là rừng trồng), sản lượng trên 987.459 m3, đạt 79,52 % kế hoạch, sản lượng khai thác tre, nứa đạt 23.122 tấn. Trong sản xuất lâm nghiệp 9 tháng đầu năm 2024 tỉnh đã có những cơ chế chính sách, thu hút được các nhà đầu tư sản xuất chế biến lâm sản với dây chuyền công nghiệp hiện đại như: Nhà máy giấy và bột giấy An Hòa; nhà máy sản xuất đũa xuất khẩu; Công ty cổ phần chế biến gỗ Woodsland Tuyên Quang đã thu mua nguyên liệu tạo điều kiện cho các chủ rừng thực hiện việc khai thác lâm sản mặt khác việc khai thác gỗ nguyên liệu. Tuy nhiên kết quả khai thác gỗ vẫn đạt thấp so với kế hoạch đề ra. Nguyên nhân là do: Việc giao chỉ tiêu kế hoạch sản xuất, khai thác rừng ở một số địa phương chưa hợp lý; cùng với khó khăn của đầu ra các doanh nghiệp chế biến gỗ đang phải dừng, giãn kế hoạch sản xuất khiến nhiều diện tích rừng được thiết kế để khai thác trong thời điểm này phải dừng lại), từ đầu năm đến hết tháng 5, thời tiết có diễn biến phức tạp, mưa nhiều dẫn đến công tác khai thác gỗ tiến độ đạt chưa cao.6.6.3. Công tác quản lý bảo vệ rừngTrong 9 tháng năm 2024, Chi cục Kiểm lâm tỉnh đã thường xuyên kiểm tra và thông báo cho các địa phương những diện tích rừng có khả năng xảy ra cháy rừng. Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng tiếp tục được tăng cường. Trong 9 tháng năm 2024 trên địa bàn tỉnh đã không xảy ra vụ cháy rừng nào; số vụ phá rừng 29 vụ, với diện tích 10,35 ha; tổ chức kiểm tra, phát hiện, xử lý nghiêm 83 vụ vi phạm pháp luật về lâm nghiệp; tịch thu 1 phương tiện xe máy và 10 phương tiện khác, thu giữ 56,09 m3 gỗ các loại; phạt hành chính và bán thanh lý tài sản 598 triệu đồng (đã thu nộp ngân sách 347,8 triệu đồng).6.7. Về thuỷ sảnLà tỉnh miền núi có nhiều sông, ngòi, là điều kiện thuận lợi để phát triển nhiều loại hình nuôi trồng thủy sản, đa dạng hóa đối tượng nuôi và phương thức nuôi trồng. Nuôi cá lồng trên sông, hồ chứa nhiều tiềm năng, lợi thế để phát triển đem lại hiệu quả kinh tế cao vừa tận dụng được tài nguyên đất đai, nguồn nước, giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho các hộ nông dân. Bên cạnh đó việc thực hiện cơ chế, chính sách cho vay vốn phát triển cá đặc sản (cá Anh vũ, Chiên, Lăng, Bỗng...) để khuyến khích các hộ dân, doanh nghiệp đầu tư, mở rộng quy mô, phát triển mạnh số lượng lồng nuôi các đặc sản trên sông, hồ thủy điện được tỉnh và các địa phương quan tâm, đặc biệt là phát triển lồng nuôi có kích thước lớn (trên 100 m3).Tổng diện tích nuôi trồng thủy sản ước tính là 3.360,91 ha, giảm 0,25% so với cùng kỳ năm 2023. Tổng sản lượng thủy sản ước 9 tháng đạt 9.766 tấn, tăng 3,72% so với cùng kỳ năm 2023, trong đó: Cá đạt 9.612 tấn, tăng 3,68%; tôm đạt 143 tấn, tăng 6,44%; thủy sản khác đạt 11 tấn, tăng 11,12%. Sản lượng khai thác thủy sản ước đạt 1.510 tấn, tăng 28,71% so với cùng kỳ năm 2023; sản lượng nuôi trồng thủy sản ước đạt 8.256 tấn, tăng 0,17% so với cùng kỳ năm 2023.6.8. Phát động Tết trồng cây “Đời đời nhớ ơn Bác Hồ” Xuân Giáp Thìn và thực hiện kế hoạch trồng rừng năm 2024Hưởng ứng phong trào Tết trồng cây “Đời đời nhớ ơn Bác Hồ” Xuân Giáp Thìn năm 2024 và Chương trình “Trồng 1 tỷ cây xanh” của Thủ tướng Chính phủ; trên địa bàn toàn tỉnh đã tổ chức 150 điểm phát động “Tết trồng cây” với tổng số 19.054 người tham gia, trồng được 235.772 cây Keo, Mỡ, Bạch đàn và một số loài cây bản địa, tương đương diện tích 198,84 ha.Tỉnh đã phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức Lễ phát động Tết trồng cây Đời đời nhớ ơn Bác Hồ Xuân Giáp Thìn năm 2024, địa điểm tại thôn 21, xã Kim Phú (Thành phố Tuyên Quang). Tại buổi Lễ đã trồng được 3.060 cây (3.000 cây Keo lai mô và 60 cây Chò chỉ) trên diện tích 2 ha. Các huyện, thành phố trên địa bàn tỉnh đã tích cực hưởng ứng tham gia trồng cây, trồng rừng. Kết quả đã huy động được 18.304 người tham gia, trồng được 232.712 cây Keo, Mỡ, Bạch đàn và một số loài cây bản địa, tương đương diện tích 196,84 ha, hoạt động trên đã mở đầu cho một mùa trồng cây, gây rừng của tỉnh trong năm 2024.6.9. Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới 6.9.1. Đối với xã nông thôn mớiTrong 9 tháng đầu năm 2024 tỉnh đã có quyết định công nhận và tổ chức công bố cho 17 xã nông thôn mới, 07 xã nông thôn mới nâng cao và 01 xã nông thôn mới kiểu mẫu.Đến nay, toàn tỉnh đã có 73/121 xã hoàn thành 19/19 tiêu chí xã nông thôn mới (chiếm 60,3% tổng số xã). Dự kiến trong quý IV năm 2024, sẽ hoàn thành thêm 12 xã nông thôn mới, nâng tổng số xã đạt chuẩn nông thôn mới của tỉnh lên 86 xã (chiếm 70,49% tổng số xã). Ngay trong những ngày đầu năm, các địa phương trong tỉnh đã quyết tâm thực hiện các tiêu chí, đặc biệt là những tiêu chí khó thực hiện do phụ thuộc nhiều vào vốn đầu tư, và cần huy động nhiều nguồn lực từ xã hội. 6.9.2. Đối với huyện nông thôn mới- Huyện Hàm Yên: Đến nay cơ bản đạt 5/9 tiêu chí, gồm: Quy hoạch, thủy lợi và phòng, chống thiên tai; điện; kinh tế; hệ thống chính trị - an ninh trật tự - hành chính công. Còn 04 tiêu chí chưa đạt, gồm: Giao thông; y tế - văn hóa - giáo dục; môi trường; chất lượng môi trường sống. - Huyện Sơn Dương: Đến nay huyện Sơn Dương đánh giá đã đạt 04 tiêu chí, gồm: Thủy lợi và phòng chống thiên tai, điện; kinh tế; hệ thống chính trị - an ninh trật tự - hành chính công; còn 05 tiêu chí chưa đạt, gồm: Quy hoạch; giao thông; y tế - văn hóa - giáo dục; môi trường; chất lượng môi trường sống.7. Sản xuất công nghiệp7.1. Về phát triển công nghiệp trong tháng Chín- Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) trong tháng giảm 3,14% so với tháng trước, tăng 14,26% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Ngành sản xuất và và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí giảm 6,05%, tăng 147,68%; khai khoáng giảm 12,53%, giảm 10,05%; công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 2,03%, tăng 1,40%; cung cấp nước và hoạt động thu gom xử lý rác, nước thải tăng 0,86%, giảm 5,36%.- Trong tháng, một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng so với tháng trước và tăng so với cùng kỳ năm trước như: Bột barit đạt 6.000 tấn, tăng 33,33%, tăng 20%; bột Felspat đạt 23.200 tấn, tăng 10,69%, tăng 25,41%; hàng may mặc xuất khẩu đạt 1.586 nghìn sản phẩm, tăng 47,74%, tăng 17,13%; gỗ tinh chế đạt 5.228 m3, tăng 32,23%, tăng 33,78%; thép cuộn đạt 25.000 tấn, tăng 53,08%, tăng 3,28%. Tuy nhiên, cũng có một số sản phẩm công nghiệp giảm so với cùng kỳ như: Xi măng đạt 89.200 tấn, giảm 28,64%; giấy in viết, photo thành phẩm đạt 6.768 tấn, giảm 27,17%; giày da đạt 600 nghìn đôi, giảm 27,71%,…7.2. Về phát triển công nghiệp trong quý III/2024- Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) quý III/2024 ước tính tăng 8,24% so với quý cùng kỳ, trong đó: Sản xuất và phân phối điện tăng 55,79%; cung cấp nước và xử lý rác, nước thải tăng 0,79%; khai khoáng giảm 3,82%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 0,50%.- Trong quý III/2024 một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu của tỉnh đạt mức tăng trưởng khá so với quý cùng kỳ như: Điện thương phẩm tăng 2,95%; điện sản xuất tăng 62,96%; bột Felspat tăng 18,14%; xi măng tăng 37,30%; nước máy thương phẩm tăng 47,59%; gỗ tinh chế tăng 14,46%,…Tuy nhiên, cũng có một số sản phẩm công nghiệp giảm so với quý cùng kỳ như: Bột ba rít giảm 6,54%; giấy đế xuất khẩu giảm 6,65%; bột giấy giảm 24,14%,…7.3. Về phát triển công nghiệp 9 tháng năm 2024- Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp 9 tháng năm 2024 tăng 6,87% so với cùng kỳ năm trước, Chia theo từng ngành kinh tế cấp I như sau:+ Ngành khai khoáng giảm 1,42%, nguyên nhân do khai thác khoáng hóa chất và khoáng phân bón giảm so với cùng kỳ.+ Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 1,45%, trong đó: Sản xuất chế biến thực phẩm tăng 12,12%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 18,78%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa tăng 21,74%; sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 64,03%,...+ Ngành sản xuất và phân phối điện tăng 54,23%, nguyên nhân: từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh xuất hiện các đợt mưa dông trên diện rộng và kéo dài, lượng nước đổ về các hồ chứa thủy điện cao hơn so với trung bình nhiều năm, các nhà máy thủy điện đã đảm bảo lượng nước đủ để cung cấp điện lâu dài đến hết mùa khô; đáp ứng đủ nhu cầu sản xuất và cung ứng điện cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, và nước sinh hoạt của các hộ dân trên phạm vi toàn tỉnh.+ Ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 6,62%, nguyên nhân: Do hoạt động thu gom, xử lý và tiêu hủy rác thải tăng.- Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng so với cùng kỳ năm trước như: Điện thương phẩm tăng 2,28%; điện sản xuất tăng 56,87%; đường kính tăng 54,38%; chè chế biến tăng 2,50%; xi măng tăng 11,37%; giấy đế xuất khẩu tăng 8,47%,… Tuy nhiên, một số sản phẩm công nghiệp có chiều hướng giảm so với cùng kỳ như: Bột ba rít giảm 30,35%; bột Felspat nghiền giảm 14,79%; giấy in viết, photo thành phẩm giảm 8,4%; may mặc xuất khẩu giảm 11,52%,...Nhìn chung, tình hình sản xuất công nghiệp 9 tháng năm 2024 nói chung, tình hình sản xuất công nghiệp tỉnh khó khăn vẫn có thể sẽ còn tiếp diễn trong thời gian tới. Kết quả các chỉ tiêu chủ yếu 9 tháng năm 2024 cơ bản đảm bảo kế hoạch đề ra, sản xuất công nghiệp tăng trưởng khá, thị trường hàng hoá được giữ ổn định, đảm bảo đầy đủ hàng hoá phục vụ cho đời sống nhân dân và sản xuất kinh doanh.8. Thương mại và Dịch vụHoạt động thương mại, dịch vụ và vận tải trên địa bàn tỉnh trong những tháng đầu năm diễn ra sôi động, tăng trưởng khá so với cùng kỳ; nguồn cung các mặt hàng dồi dào, không có biến động lớn về giá cả, đáp ứng tốt nhu cầu phục vụ sản xuất của doanh nghiệp và đời sống của người dân, nguồn cung các mặt hàng xăng, dầu đầy đủ, giá trong nước diễn biến và chịu tác động theo giá nhiên liệu thế giới; các doanh nghiệp đã triển khai nhiều chương trình khuyến mại, giảm giá hấp dẫn để kích cầu tiêu dùng của người dân. Bên cạnh đó, ngành chức năng đã tăng cường xúc tiến các hoạt động thương mại, kích cầu trên địa bàn tỉnh, tìm kiếm và mở rộng các thị trường tiềm năng trong và ngoài nước; tích cực kêu gọi người dân hưởng ứng Cuộc vận động "Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam"; “Người Tuyên Quang ưu tiên dùng hàng nông sản Tuyên Quang”, cùng với đó là thúc đẩy phân phối hàng hóa qua nền tảng số, thương mại điện tử. Hoạt động du lịch, lữ hành đang dần tăng trưởng trở lại; dịch vụ tăng trưởng khá; xuất, nhập khẩu tương đối ổn định, các doanh nghiệp đã chủ động tìm kiếm và mở rộng thị trường thông qua các hoạt động xúc tiến thương mại, duy trì các đối tác, góp phần tạo việc làm cho người lao động, tăng thu nhập và góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 9 ước đạt 2.928 tỷ đồng, tăng 14,11% so với tháng trước, tăng 6,16% so với cùng kỳ. Tính chung 9 tháng năm 2024, tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước ước đạt 24.612 tỷ đồng, tăng 15,54% so với cùng kỳ.8.1. Doanh thu bán lẻ hàng hóa Doanh thu bán lẻ hàng hóa trong tháng ước đạt 2.616 tỷ đồng, tăng 1,95% so với tháng trước, tăng 6,13% so với tháng cùng kỳ. Trong đó, một số nhóm hàng tăng so với tháng trước, tăng so với cùng kỳ, cụ thể như sau: Hàng lương thực, thực phẩm đạt 990 tỷ đồng, tăng 3,21%, tăng 2,96%; đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình đạt 271 tỷ đồng, tăng 1,73%, tăng 2,95%; gỗ và vật liệu xây dựng đạt 212 tỷ đồng, tăng 2,60%, tăng 0,53%; xăng, dầu các loại đạt 294 tỷ đồng, tăng 7,17%, tăng 6,72%; hàng hóa khác đạt 374 tỷ đồng, tăng 2,47%, tăng 22,69%,…Ở chiều ngược lại, một số nhóm hàng giảm so với tháng trước và tăng so với cùng kỳ như: Vật phẩm, văn hóa, giáo dục đạt 31 tỷ đồng, giảm 7,63%, tăng 32,70%; nhiên liệu khác (trừ xăng dầu) đạt 42 tỷ đồng, giảm 2,47%, tăng 8,49%; đá quý, kim loại quý và sản phẩm đạt 36 tỷ đồng, giảm 14,26%, tăng 47,94%; sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác đạt 79 tỷ đồng, giảm 10,32%, tăng 0,23%. Tính chung quý III/2024, doanh thu bán lẻ hàng hóa ước đạt 7.719 tỷ đồng, tăng 10,84% so với quý cùng kỳ. Tính trong 9 tháng năm 2024, doanh thu bán lẻ hàng hóa ước đạt 21.713 tỷ đồng, tăng 15,41% so với cùng kỳ. 8.2. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ khác- Trong tháng, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 312 tỷ đồng, giảm 8,50% so với tháng trước, giảm 5,43% so với cùng kỳ. Trong đó: Dịch vụ lưu trú đạt 18 tỷ đồng, giảm 14,28%, giảm 15,28%; ăn uống đạt 193 tỷ đồng, giảm 9,81%, giảm 0,15%. Tính chung trong quý III/2024 dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 995 tỷ đồng, tăng 10,41% so với quý cùng kỳ. Tính trong 9 tháng năm 2024, dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 2.899 tỷ đồng, tăng 16,56% so với cùng kỳ.- Trong tháng, doanh thu du lịch lữ hành ước đạt 0,403 tỷ đồng, giảm 7,9% so với tháng trước, giảm 12,31% so với cùng kỳ. Tính chung trong quý III/2024 du lịch lữ hành ước đạt 1,29 tỷ đồng, tăng 16,56% so quý cùng kỳ. Tính trong 9 tháng năm 2024 du lịch lữ hành ước đạt 4 tỷ đồng, tăng 91,17% so với cùng kỳ.- Doanh thu dịch vụ khác trong tháng ước đạt 101 tỷ đồng, giảm 4,71% so với tháng trước, giảm 12,35% so với cùng kỳ. Tính chung trong quý III/2024 dịch vụ khác ước đạt 319 tỷ đồng, tăng 3,98% so quý cùng kỳ. Tính trong 9 tháng năm 2024, dịch vụ khác ước đạt 971 tỷ đồng, tăng 23,48% so với cùng kỳ. 8.3. Xuất, nhập khẩu hàng hóaHoạt động xuất, nhập khẩu trong tháng 9 vẫn tiếp tục gặp khó khăn, các doanh nghiệp chưa ký kết được nhiều đơn hàng xuất khẩu; kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa ước đạt 24,6 triệu USD, giảm 13,99% so với tháng trước, tăng 16,59% so với tháng cùng kỳ năm trước, trong đó: Xuất khẩu ước đạt trên 18,1 triệu USD, giảm 3,72%, tăng 88,54%; nhập khẩu ước đạt 6,5 triệu USD, giảm 33,67%, giảm 14,78%. Tuy nhiên, những khó khăn trong sản xuất và sự sụt giảm đơn hàng xuất khẩu từ đầu năm đã tác động đến hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hóa trong 9 tháng năm 2024, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu ước đạt 186 triệu USD, đạt 71,54% kế hoạch, tăng 1,47% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Xuất khẩu ước đạt 123 triệu USD, tăng 11,21%; nhập khẩu ước đạt 63 triệu USD, giảm 13,34%. Tính chung trong 9 tháng năm 2024, một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực tăng so với cùng kỳ như: Chè (tăng 144,4%); giấy đế xuất khẩu (tăng 35,5%), phong bì (tăng 30%), antimony thỏi (tăng 1.179,4%) ... Tuy nhiên, cũng có một số mặt hàng giảm so với cùng kỳ như: Bột Barit (giảm 87,5%); bột giấy (giảm 49,9%); hàng dệt may (giảm 5%),…9. Vận tải hàng hóa và hành khách Từ đầu năm đến nay, nhu cầu đi du lịch, lễ hội, về quê, thăm người thân của người dân, du khách tăng cao. Các đơn vị vận tải đang tích cực tăng cường phương tiện, nhân lực phục vụ nhu cầu đi lại của người dân phục vụ tối đa nhu cầu đi lại của người dân, hàng hóa vận chuyển được thông suốt, tiết kiệm chi phí xã hội; ngành chức năng đã chú trọng, tăng cường xử lý các hành vi vi phạm quy định pháp luật về bảo đảm trật tự, an toàn giao thông, chở quá khổ, quá tải, quá số người quy định, phương tiện không bảo đảm an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường khi lưu thông.9.1. Doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải- Doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải tháng 9 ước đạt 347 tỷ đồng, tăng 3,03% so với tháng trước, giảm 2,95% so với cùng kỳ. Trong đó, vận tải hành khách ước đạt 62 tỷ đồng, tăng 1,24%, giảm 6,55%; vận tải hàng hóa ước đạt 285 tỷ đồng, tăng 3,42%, giảm 2,23%; kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 0,5 tỷ đồng, tăng 6,01%, tăng 44,97%; bưu chính, chuyển phát đạt 0,3 tỷ đồng, tăng 3,31%, tăng 45%. - Ước thực hiện quý III/2024 doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 1.025 tỷ đồng, tăng 6,33% so với quý cùng kỳ. Trong đó, vận tải hành khách ước đạt 180 tỷ đồng, tăng 5,24%; vận tải hàng hóa ước đạt 842 tỷ đồng, tăng 6,47%; kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 1 tỷ đồng, tăng 45,55%; bưu chính, chuyển phát đạt 1 tỷ đồng, tăng 59,04%. - Tính chung, trong 9 tháng năm 2024, doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 3.199 tỷ đồng, tăng 18,38% so với cùng kỳ. Trong đó, doanh thu vận tải hành khách ước đạt 539 tỷ đồng, tăng 13,64%; vận tải hàng hóa ước đạt 2.653 tỷ đồng, tăng 19,36%; kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 4 tỷ đồng, tăng 32,35%; bưu chính, chuyển phát đạt 3 tỷ đồng, tăng 47,30%. 9.2. Vận tải hành khách và hàng hóa9.2.1. Vận tải hành khách- Hành khách vận chuyển trong tháng 9 ước đạt 1 triệu lượt hành khách, tăng 0,72% so với tháng trước, giảm 6,72% so với cùng kỳ; khối lượng hành khách luân chuyển ước đạt 78 triệu lượt hành khách.km, tăng 0,85%, giảm 5,68%.- Ước thực hiện quý III/2024, hành khách vận chuyển ước đạt 3 triệu lượt hành khách, tăng 2,52% so với quý cùng kỳ; hành khách luân chuyển ước đạt 231 triệu lượt hành khách.km, tăng 5,45%.- Tính chung trong 9 tháng, hành khách vận chuyển ước đạt 10 triệu lượt hành khách, tăng 13,63% so với cùng kỳ; hành khách luân chuyển ước đạt 700 triệu lượt hành khách.km, tăng 14,07%.9.2.2. Vận tải hàng hóa- Hàng hóa vận chuyển trong tháng 9 ước đạt 2 triệu tấn, tăng 1,93% so với tháng trước, giảm 0,84% so với cùng kỳ; hàng hóa luân chuyển ước đạt 119 triệu tấn.km, tăng 0,97%, giảm 0,14%. - Ước thực hiện quý III/2024, hàng hóa vận chuyển ước đạt 6 triệu tấn, tăng 9,81% so với quý cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 362 triệu tấn.km, tăng 12,97%.- Tính chung trong 9 tháng, hàng hóa vận chuyển ước đạt 18 triệu tấn, tăng 19,62% so với cùng kỳ; hàng hóa luân chuyển ước đạt 1.157 triệu tấn.km, tăng 23,91%.II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI1. Công tác người có công, giảm nghèo, bảo trợ xã hội và phòng chống tệ nạn xã hội 1.1. Công tác đối với người có công với cách mạngTiếp tục thực hiện đúng, đủ, kịp thời các chế độ, chính sách đối với người có công với cách mạng và thân nhân người có công: Phong trào "Đền ơn đáp nghĩa", “uống nước nhớ nguồn” được duy trì tổ chức thường xuyên; phối hợp triển khai các hoạt động tôn vinh, tri ân đối với chiến sĩ Điện Biên, thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến (trực tiếp tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ) trên địa bàn tỉnh nhân dịp kỷ niệm 70 năm chiến thắng Điện Biên Phủ (07/5/1954-07/5/2024), các hoạt động tri ân các Anh hùng liệt sĩ, chăm sóc người có công với cách mạng nhân dịp Tết Nguyên đán Giáp Thìn và dịp kỷ niệm 77 năm ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2024).1.2. Công tác xã hội Tỉnh đã triển khai thực hiện công tác trợ giúp xã hội, chăm lo, giúp đỡ các đối tượng chính sách xã hội, hỗ trợ cho các hộ có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, thiếu lương thực nhân dịp Tết Nguyên đán Giáp Thìn năm 2024; toàn tỉnh đã hỗ trợ 9.557 hộ, với 28.019 nhân khẩu, tổng số 420.285 kg gạo (Dịp tết nguyên đán: Tổng số hộ cứu trợ gạo 5.014 hộ, 14.645 khẩu, 219.675 kg gạo; dịp giáp hạt: Tổng số hộ cứu trợ gạo 4.543 hộ, 13.374 khẩu, 200.610 kg gạo). Thường xuyên rà soát, nắm chắc tình hình đời sống ngân dân, kịp thời hỗ trợ các hộ gia đình, cá nhân có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, gặp tai nạn rủi ro bất khả kháng. Duy trì trợ cấp hàng tháng cho trên 36.000 đối tượng bảo trợ xã hội bảo trợ xã hội tại cộng đồng. Các cơ quan, tổ chức, cá nhân cũng triển khai các hoạt động thăm, tặng quà các đối tượng hộ nghèo, cận nghèo, đối tượng bảo trợ xã hội, trẻ em, người cao tuổi có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn tỉnh. 2. Đời sống dân cư Trong 9 tháng đầu năm 2024, tình hình đời sống dân cư trên địa bàn tỉnh tiếp tục ổn định. Tuy nhiên, trong tháng 9 do ảnh hưởng, thiệt hại cơn bão Số 3 gây ra, đã tác động lên giá các mặt hàng thiết yếu như giá lương thực, thực phẩm tăng, dẫn đến chi phí sinh hoạt tăng theo, đã ảnh hưởng đến đời sống của nhiều hộ gia đình, đặc biệt là nhiều hộ gia đình có thu nhập thấp và trung bình, người dân dần thắt chặt chi tiêu hơn cho tiêu dùng cá nhân, cắt giảm những khoản chi tiêu không cần thiết.Tình hình hoạt động của nhiều doanh nghiệp vẫn còn gặp khó khăn, trong hoạt động sản xuất kinh doanh, sụt giảm về doanh thu, tình trạng thiếu hụt đơn hàng bị kéo dài, thị trường bị thu hẹp, nhất là các thị trường lớn,…Trong bối cảnh nêu trên, nhiều chính sách chính sách, giải pháp điều hành của Chính phủ đã phát huy tác động tích cực nhất là các giải pháp về phục hồi, phát triển kinh tế - xã hội, nhằm hỗ trợ và tháo gỡ khó khăn, vướng mắc đối với sản xuất, kinh doanh, doanh nghiệp, hỗ trợ về nguồn vốn,…; bên cạnh đó, các doanh nghiệp đã khắc phục khó khăn về tài chính để chi trả lương cho người lao động đảm bảo đời sống ổn định. Nhìn chung, tình hình đời sống dân cư trên địa bàn tỉnh cơ bản ổn định và từng bước được cải thiện hơn; không xảy ra tình trạng thiếu đói; hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp tiếp tục ổn định, người lao động có thu nhập ổn định từ tiền lương đảm bảo phần nào cho nhu cầu cuộc sống.3. Hoạt động y tế- Từ đầu năm đến nay, thời tiết diễn biến phức tạp nắng nóng, xen kẽ các đợt mưa rào và giông lốc cục bộ có nơi mưa rất to, nguy cơ gia tăng, bùng phát các dịch bệnh truyền nhiễm như: Sởi, sốt xuất huyết, tay chân miệng, bạch hầu, ho gà và một số bệnh truyền nhiễm khác. Để chủ động phòng, chống các bệnh dịch truyền nhiễm bùng phát trong mùa hè, tỉnh đã triển khai nhiều giải pháp phòng, chống dịch; chủ động theo dõi, giám sát, phát hiện sớm, xử lý kịp thời triệt để các ổ dịch bệnh truyền nhiễm, không để lây lan, bùng phát lan rộng ra cộng đồng; kịp thời khoanh vùng, xử lý triệt để các ổ dịch (nếu có), chuẩn bị đầy đủ cơ sở vật chất, thuốc men để thu dung điều trị kịp thời cho bệnh nhân không để dịch bùng phát trở lại và hạn chế tối đa xảy ra nguy cơ dịch chồng dịch. Kết quả giám sát ca bệnh ghi nhận 09 trường hợp sốt xuất huyết trên địa bàn tỉnh, không có bệnh nhân tử vong do Sốt xuất huyết; thực hiện tốt công tác tuyên truyền trên hệ thống loa truyền thanh xã, phường điểm đến tận các thôn, xóm, tổ nhân dân.- Về công tác khám chữa bệnh: Tiếp tục thực hiện đồng bộ các giải pháp để giảm quá tải, nâng cao chất lượng dịch vụ các tuyến. Tổ chức kiểm tra giám sát công tác khám chữa bệnh ở một số Bệnh viện, Trạm Y tế xã nhằm giải quyết kịp thời những vướng mắc trong công tác khám chữa bệnh, đặc biệt là khám chữa bệnh BHYT thanh toán theo giá dịch vụ y tế mới. Tổng số lượt khám bệnh trong 9 tháng đạt 942.111 lượt người. Trong đó: Bệnh viện tuyến tỉnh: 233.592 lượt, Trung tâm Y tế huyện: 355.134 lượt, Bệnh viện Đa khoa khu vực: 39.781 lượt, Trạm Y tế xã, phường, thị trấn: 313.604 lượt. Công suất sử dụng giường bệnh tại Bệnh viện tuyến tỉnh: 117,7%, Trung tâm Y tế huyện: 108,6% và Bệnh viện Đa khoa khu vực: 84,7%; Ngày điều trị trung bình tại Bệnh viện tuyến tỉnh: 7,4 ngày, Trung tâm Y tế huyện: 5,7 ngày, Bệnh viện Đa khoa khu vực: 5,7 ngày.- Công tác đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm (ATVSTP): Tỉnh đã triển khai kế hoạch kiểm tra liên ngành trong dịp Tháng hành động vì an toàn thực phẩm năm 2024; kế hoạch truyền thông đảm bảo an toàn thực phẩm năm 2024; Tháng hành động về An toàn thực phẩm năm 2024; tăng cường công tác đảm bảo an toàn thực phẩm, phòng chống ngộ độc thực phẩm tại khu vực trường học. Phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng thực hiện thanh tra, kiểm tra, giám sát chất lượng ATVSTP trên địa bàn toàn tỉnh; Kiểm tra, giám sát tại 2.048 cơ sở, đạt 71,1% kế hoạch; xử lý 57 cơ sở vi phạm các quy định về ATVSTP; Triển khai việc thẩm định và cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện ATVSTP cho 115 cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm tại các huyện, thành phố, đạt 92,7% kế hoạch. Từ đầu năm đến nay ghi nhận 07 vụ ngộ độc thực phẩm với 46 người mắc; không có trường hợp tử vong (Các trường hợp công nhân tại công ty Chung Jye thuộc xã Tân Thành, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang không xác định ngộ độc thực phẩm).4. Hoạt động giáo dục và đào tạoNgành giáo dục của tỉnh tiếp tục đẩy mạnh các mô hình mới, cách làm sáng tạo để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo và đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ. Mạng lưới trường, lớp ngày càng phát triển cả về quy mô và chất lượng, đáp ứng yêu cầu học tập của người dân, đặc biệt là vùng đồng bào dân tộc thiểu số; cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học tiếp tục được bổ sung. Công tác xã hội hóa giáo dục được quan tâm, đẩy mạnh; giáo dục ngoài công lập bước đầu được khuyến khích phát triển.Tại kỳ thi tốt nghiệp THPT của tỉnh năm 2024 cao hơn so với năm 2023 và xếp thứ 22/63 tỉnh, thành phố; xếp thứ 3/14 tỉnh khu vực trung du miền núi phía Bắc. Điểm bình quân môn Hóa học, Sinh học cao nhất cả nước; điểm thi khối thi đại học B0 cao nhất cả nước, khối A0 xếp thứ 6, khối A01 xếp thứ 7; toàn tỉnh có 117 điểm 10. Công tác thể thao trường học cũng được quan tâm và phát triển. Tại Hội khỏe Phù Đổng toàn quốc Khu vực I năm 2024 tại Phú Thọ, tỉnh Tuyên Quang đạt 25 huy chương (6 Vàng, 5 Bạc, 14 Đồng), xếp thứ 5/13 tỉnh Khu vực I. Tại Hội khỏe Phù Đổng toàn quốc, tỉnh đạt 1 huy chương Bạc và 1 huy chương Đồng và xếp thứ 38/63 tỉnh, thành phố. Trong năm học, toàn ngành tổ chức học cảm tình đảng cho 402 học sinh và kết nạp 92 học sinh xuất sắc vào Đảng Cộng sản Việt Nam.5. Hoạt động văn hoá, thể dục, thể thao- Lĩnh vực văn hoá: Nhiều hoạt động văn hóa được tổ chức tại các địa phương trong tỉnh với quy mô và nhiều hoạt động, đáp ứng nhu cầu của người dân và du khách tham quan trong và ngoài tỉnh; tổ chức các hoạt động tuyên truyền Kỷ niệm các ngày lễ lớn và sự kiện lịch sử quan trọng của đất nước và các sự kiện chính trị quan trọng của tỉnh, nổi bật, như: Chương nghệ thuật “Tuyên Quang chào năm 2024”; khai mạc Hội báo Xuân Giáp Thìn và phát động Giải báo chí toàn quốc về Xây dựng Đảng (Giải Búa liềm vàng) lần thứ IX năm 2024; triển lãm, giới thiệu thành tựu văn hóa, con người Tuyên Quang trong thời gian diễn ra Hội nghị Văn hóa toàn tỉnh và tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết 33-NQ/TW ngày 09/6/2014 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam phát triển bền vững đất nước... Tiếp tục đẩy mạnh phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” gắn với chương trình xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh được triển khai sâu rộng.- Lĩnh vực thể dục, thể thao: Tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động ''Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại''. Trong 9 tháng năm 2024, tổ chức thành công 13 giải thể thao cấp tỉnh; đăng cai tổ chức thành công Giải Cầu lông câu lạc bộ các tỉnh, thành, ngành toàn quốc năm 2024, Ban Tổ chức trao 17 bộ huy chương ở các nội dung cho các vận động viên; tham gia 15 giải thể thao toàn quốc, đạt 80 huy chương các loại (trong đó: 15 HCV, 24 HCB; 41 HCĐ); 12 vận động viên đạt cấp kiện tướng, 25 vận động viên đạt cấp I. Ngoài ra, tỉnh đã tổ chức thành công giải “Giải đua thuyền Kayak” tỉnh Tuyên Quang mở rộng năm 2024; giải bóng chuyền hơi toàn tỉnh, giải Quần vợt các câu lạc bộ tỉnh Tuyên Quang năm 2024, Ngày chạy Olympic toàn dân và giải Việt dã Tiền Phong năm 2024; Giải Giải đua thuyền Kayak mở rộng, Giải bóng đá nữ các dân tộc thiểu số tỉnh Tuyên Quang năm 2024, Giải bóng đá thiếu niên -nhi đồng tỉnh Tuyên Quang năm 2024.6. Về du lịch Tỉnh đã tổ chức thành công Lễ Khai mạc năm du lịch tỉnh Tuyên Quang 2024 diễn ra từ ngày 27/4 đến 2/5 với nhiều hoạt động hấp dẫn như: Lễ hội Khinh khí cầu quốc tế Tuyên Quang lần thứ 3 tại Quảng trường Nguyễn Tất Thành. Lễ hội ánh sáng khinh khí cầu quốc tế; trưng bày, giới thiệu sản phẩm du lịch, làng nghề Tuyên Quang với sự góp mặt của hơn 100 gian hàng của tỉnh Tuyên Quang và các tỉnh, thành phố trong cả nước; hội nghị kết nối đầu tư, thương mại, du lịch và làng nghề vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi Tuyên Quang. Bên cạnh đó, các địa phương trong tỉnh đã tổ chức các lễ hội mang đậm nét văn hóa truyền thống của đồng bào các dân tộc và các điểm du lịch tâm linh trên địa bàn tỉnh như: Lễ hội Lồng Tông; Lễ hội đền Hạ, đền Thượng, đền Ỷ La; Lễ hội Hương sắc Na Hang (Lễ hội Hoa Lê); Lễ hội Nhảy lửa của người Pà Thẻn,... các lễ, hội đã phát huy hiệu quả rất tích cực và rõ nét trong việc tuyên truyền, quảng bá, giới thiệu hình ảnh miền đất, văn hóa, con người và các sản phẩm du lịch hấp dẫn của Tuyên Quang đến với đông đảo nhân dân, du khách trong nước và quốc tế, góp phần thúc đẩy du lịch của tỉnh ngày càng phát triển. Tính đến 30/8/2024, trên địa bàn tỉnh đã có 16 công ty, chi nhánh, đại lý lữ hành hoạt động; có 448 cơ sở lưu trú, với 4.527 buồng, 6.393 giường, trong đó có 01 khách sạn 4 sao; 34 khách sạn 1- 2 sao; trên 270 nhà hàng ẩm thực có quy mô lớn. Quý III/2024 các khu, điểm du lịch ước đón khoảng 547.000 lượt khách du lịch tổng thu từ khách du lịch đạt 787 tỷ đồng (nâng tổng số 9 tháng năm 2024, thu hút được 2.407.000 lượt khách du lịch, trong đó 5.000 lượt khách quốc tế, đạt 88% kế hoạch năm, tăng 5% so với cùng kỳ; tổng thu từ khách du lịch đạt 3.058 tỷ đồng, đạt 85% kế hoạch năm, tăng 14% so với cùng kỳ) .7. Về lao động việc làmCông tác giải quyết việc làm cho người lao động là một trong những nhiệm vụ quan trọng góp phần đảm bảo an sinh xã hội, phát triển kinh tế xã hội tại địa phương; thời gian qua, tỉnh đã triển khai thực hiện đồng bộ các giải pháp tạo việc làm cho người lao động bằng nhiều hình thức; đặc biệt là tăng cường liên kết đào tạo giữa cơ sở dạy nghề và các doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh thông qua nhiều hình thức hợp đồng liên kết đào tạo và tuyển dụng sau đào tạo, huy động tối đa các nguồn lực sẵn có trong dân để tạo thêm nhiều việc làm mới cho người lao động, góp phần tích cực vào sự ổn định và phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương.Trong 9 tháng đầu năm 2024, tạo việc làm cho 22.553 người, đạt 100% kế hoạch, tăng 8,7% so với cùng kỳ, trong đó: Lao động làm việc trong các ngành kinh tế tại tỉnh 14.123 người; đi làm việc tại các tỉnh, thành phố trong nước 7.408 người; đi làm việc ở nước ngoài 1.022 người .8. Tình hình an toàn giao thông, thiên tai và phòng chống cháy, nổ8.1. Về an toàn giao thôngTỉnh tiếp tục triển khai đợt cao điểm tuần tra, kiểm soát, xử lý nghiêm các hành vi, vi phạm trật tự, an toàn giao thông, nhất là vi phạm về nồng độ cồn khi lái xe; vi phạm tốc độ, tránh, vượt sai quy định; vi phạm chở hàng quá tải trọng; phương tiện không đảm bảo an toàn kỹ thuật; không đội mũ bảo hiểm khi đi mô tô, xe máy, xe đạp điện; tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát trên các tuyến cao tốc, tuyến quốc lộ, đường tỉnh, đường huyện, là những nơi thường xảy ra tai nạn giao thông. Trong tháng, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 10 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 01 người và bị thương 13 người. So với tháng trước giảm 33,3% về số vụ tai nạn, số người chết giảm 80%, số người bị thương giảm 13,3%. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông giảm 50%, số người chết giảm 75%, số người bị thương giảm 38,1%.Trong quý III/2024, toàn tỉnh đã xảy ra 35 vụ tai nạn giao thông, làm chết 10 người và làm bị thương 34 người. So với cùng quý năm trước: Số vụ tai nạn giao thông giảm 22,2% (giảm 10 vụ); số người chết giảm 16,7% (giảm 02 người); số người bị thương giảm 19,1% (giảm 08 người).Trong 9 tháng đầu năm 2024, toàn tỉnh đã xảy ra; 118 vụ tai nạn giao thông, 45 người chết và 100 người bị thương. So với cùng kỳ năm trước: Số vụ tai nạn giao thông giảm 8,5% (giảm 11 vụ); số người chết tăng 12,5% (tăng 05 người); số người bị thương giảm 11,5% (giảm 13 người).8.2. Về cháy nổTháng 9/2024, toàn tỉnh không xảy ra vụ cháy, nổ nào. Tính chung 9 tháng đầu năm, trên địa bàn tỉnh xảy ra 01 vụ cháy tại cây xăng ở xã Bình Xa, huyện Hàm Yên, thiệt hại về tài sản ước tính 1.250 triệu đồng, vụ cháy không gây thiệt hại về người và tài sản của nhân dân.8.3. Thiệt hại do thiên taiTính từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra các đợt mưa lớn kéo dài, đặc biệt là đợt thiên tai do ảnh hưởng của cơn bão Số 3 (Yagi). Mưa to kéo dài dẫn đến lũ, sạt lở đất ở các khu vực ven suối đã gây ra những thiệt hại về tài sản của người dân, làm ảnh hưởng đến tình hình sản xuất và đời sống của nhân dân gây ra thiệt hại cụ thể như sau:Thiệt hại về người: Trong tháng 9, có 05 người chết trong cơn bão số 3 (Yagi), 06 người bị thương. Tính chung 9 tháng năm 2024, có 07 người chết, 07 người bị thương. Thiệt hại về nhà ở: Trong tháng 9, có 72 nhà bị sập hoàn toàn; 64 nhà bị hư hại rất nặng; 1.315 nhà bị hư hại; 19.206 nhà bị ngập nước; 4.603 hộ đã phải di dời khẩn cấp; 5.364 nhà bị cô lập. Tính chung 9 tháng năm 2024, số nhà bị tốc mái và hư hỏng nặng là 3.389 nhà; 19.207 nhà bị ngập nước; 73 nhà bị sập hoàn toàn; số hộ đã phải di dời khẩn cấp là 4.603 hộ; số nhà bị cô lập 5.364 nhà.Thiệt hại về nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản: Trong tháng 9, diện tích lúa bị thiệt hại là 5.182,6 ha; diện tích hoa màu bị thiệt hại là 2.890,8 ha; diện tích cây trồng hàng năm bị thiệt hại 539,2 ha; diện tích cây ăn quả bị ảnh hưởng 802,7 ha; thiệt hại về lâm nghiệp 908,6 ha; diện tích ao bị tràn bờ 660,3 ha; lồng, bè nuôi thủy sản bị thiệt hại 466 cái. Tính chung 9 tháng năm 2024, diện tích lúa bị thiệt hại và ảnh hưởng là 6.582,84 ha; diện tích mạ bị thiệt hại 0,091 ha; diện tích ngô, rau màu bị ảnh hưởng 4.149,1 ha; diện tích cây hàng năm bị thiệt hại 588,41 ha; diện tích thiệt hại cây lâm nghiệp 1.870,44 ha; diện tích ao bị tràn bờ 2.856,4 ha, cuốn trôi 1.920 kg cá; 1.690 con gia súc bà 20.740 con gia cầm bị thiệt hại,…Thiệt hại về cơ sở hạ tầng: Trong tháng 9, có 39 điểm trường bị ảnh hưởng; cơ sở y tế (bệnh viện, trung tâm y tế, trạm xá) bị thiệt hại 02 cái; trụ sở cơ quan bị thiệt hại 19 cái. Tính chung 9 tháng năm 2024, có 41 điểm trường bị thiệt hại; 23 trụ sở cơ quan bị thiệt hại; 04 trạm y tế bị thiệt hại.Thiệt hại về giao thông: Trong tháng 9, khối lượng đất sạt lở là 107.000 m3; bị hư hỏng 13 cầu; điểm/đường giao thông bị sạt lở, ách tắc 365 điểm; bị hư hỏng 01 cái cống. Tính chung 9 tháng năm 2024, có 169.593 m3 đất sạt lở; 40 m đường giao thông bị sạt lở, hư hỏng gây ách tắc 377 điểm giao thông; 01 cống bị hư hỏng.Ước tính tổng giá trị thiệt hại: Trong tháng 9, ước tính giá trị thiệt hại của đợt thiên tai là 1.350.964 triệu đồng. Tính chung 9 tháng năm 2024, ước tính tổng giá trị thiệt hại của các đợt thiên tai trên địa bàn toàn tỉnh là trên 1.437.848,9 triệu đồng.Theo dự báo từ nay đến hết năm, trên địa bàn tỉnh sẽ còn xuất hiện nhiều đợt thiên tai xảy ra; nguy cơ xảy ra lũ quét, sạt lở đất và ngập úng, đặc biệt là nơi có địa hình dốc, khu vực có kết cấu đất đá kém ổn định, vùng trũng thấp, ven sông suối. Để chủ động ứng phó với các điều kiện thời tiết cực đoan, tỉnh đã yêu cầu các ngành chức năng, địa phương tập trung theo dõi chặt chẽ diễn biến thời tiết để chủ động tổ chức di dời, sơ tán người dân khi có tình huống xảy ra; đồng thời, kiểm tra rà soát và thực hiện các biện pháp đảm bảo an toàn công trình giao thông, thủy lợi, chủ động các biện pháp ứng phó nhằm hạn chế thấp nhất thiệt hại có thể xảy ra.9. Đánh giá chungĐánh giá chung, Tình hình kinh tế - xã hội của cả nước 9 tháng đầu năm 2024 tiếp tục duy trì xu hướng tích cực, kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, lạm phát trong tầm kiểm soát, các cân đối lớn được đảm bảo, hoạt động xuất khẩu tiếp tục xu hướng tăng khá trong bối cảnh thương mại toàn cầu gặp nhiều khó khăn. Tuy nhiên, tình hình thế giới vẫn còn tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường, tác động, ảnh hưởng nặng nề trên nhiều lĩnh vực; căng thẳng địa chính trị, cạnh tranh giữa các nước lớn ngày càng gia tăng, xung đột tại Nga - Ukraine tiếp tục kéo dài, căng thẳng trên biển Đỏ, dải Gaza tiếp tục leo thang, giá các loại hàng hóa và dịch vụ trên thế giới tăng cao đã ảnh hưởng đến chuỗi cung ứng và các hoạt động xuất khẩu, sự phục hồi của các đối tác thương mại lớn còn chậm; các chính sách thắt chặt tiền tệ, tăng lãi suất kéo dài để kiềm chế lạm phát,... những yếu tố trên là những khó khăn, thách thức tác động đến tình hình phát triển kinh tế của cả nước nói chung và của tỉnh nói riêng.Tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh vẫn duy trì đà tăng trưởng và đạt được nhiều kết quả tích cực so với các tỉnh trong khu vực: Tốc độ tăng trưởng 9 tháng đầu năm 2024 tăng 9,14% (GRDP quý I tăng 9,42%, quý II tăng 10,18%, quý III tăng 7,85%); tiếp tục huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực để xây dựng nhiều công trình, dự án trọng điểm tiến độ giải ngân vốn đầu tư công được đẩy mạnh, tỷ lệ giải ngân cao hơn mức trung bình cả nước; số lượng doanh nghiệp thành lập mới tăng; môi trường đầu tư kinh doanh tiếp tục được cải thiện; đã tích cực tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án đầu tư ngoài ngân sách; thu hút được các nguồn lực vào phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh,...Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được vẫn còn một số khó khăn, thách thức: Một số sản phẩm công nghiệp, sản phẩm xuất khẩu chủ yếu của tỉnh và nguồn thu nội địa còn đạt thấp so với kế hoạch; tiến độ thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc còn chậm; công tác giải phóng mặt bằng một số dự án hoàn thành trong năm 2024 chưa dứt điểm như: Dự án xây dựng đường từ Khu du lịch suối khoáng Mỹ Lâm đến Quốc lộ 2D; dự án Cầu Xuân Vân; dự án Đầu tư xây dựng cầu và tuyến đường tránh thị trấn Sơn Dương; về đất đắp cho công trình khu tái định cư và xây dựng các khu tái định cư Dự án cao tốc Tuyên Quang - Hà Giang chưa đáp ứng tiến độ đề ra.10. Một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm 03 tháng cuối năm 2024Với quyết tâm hoàn thành cao nhất các mục tiêu, chỉ tiêu kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh đã đề ra trong năm 2024. Để phấn đấu hoàn thành các mục tiêu theo kế hoạch cần phải tiếp tục thực hiện tốt một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm sau:Một là, chủ động, tập trung tháo gỡ vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ triển khai các dự án trên địa bàn tỉnh, kịp thời tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc để đẩy nhanh tiến độ thực hiện, giải ngân vốn đầu tư công, phấn đấu đạt mục tiêu giải ngân cao nhất số vốn đầu tư công được giao theo kế hoạch; đẩy nhanh tiến độ xây dựng dự án đường cao tốc Tuyên Quang – Hà Giang (giai đoạn 1); đường từ Thành phố Tuyên Quang đi Khu du lịch suối khoáng Mỹ Lâm; xây dựng cầu và đường tránh thị trấn Sơn Dương; đường từ Khu du lịch suối khoáng Mỹ Lâm đến Quốc lộ 2D; Bệnh viện đa khoa tỉnh, Trường Trung học phổ thông Chuyên tại địa điểm mới,… và các dự án thuộc 03 Chương trình mục tiêu quốc gia,... các dự án trên khi hoàn thành sẽ hình thành vùng động lực, hành lang kinh tế, cực tăng trưởng, tạo động lực thúc đẩy kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh.Hai là, Tiếp tục thực hiện đồng bộ, triển khai thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 11/NQ-CP của Chính phủ về Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế- xã hội, đẩy mạnh cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư, nâng cao năng lực cạnh tranh; chú trọng công tác chuyển đổi số đẩy mạnh phát triển các thành phần kinh tế; kịp thời hỗ trợ người dân và doanh nghiệp phục hồi sản xuất kinh doanh.Ba là, Triển khai thực hiện có hiệu quả Quy hoạch tỉnh Tuyên Quang thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; tiếp tục tập trung thực hiện các giải pháp phát triển công nghiệp, xây dựng với trọng tâm vào các ngành mà tỉnh có tiềm năng, lợi thế như: Công nghiệp chế biến gỗ, sản xuất vật liệu xây dựng, công nghiệp dệt may, da giày, điện tử,… đôn đốc tiến độ và kịp thời giải quyết khó khăn, vướng mắc nhằm đẩy nhanh tiến độ dự án công nghiệp trọng điểm, để các dự án sớm hoàn thành đầu tư đưa vào sản xuất, nhằm gia tăng sản lượng và đóng góp thêm các sản phẩm công nghiệp mới và có phương án bù đắp các sản phẩm thiếu hụt, đảm bảo hoàn thành chỉ tiêu sản xuất công nghiệp theo kế hoạch.Bốn là, tập trung triển khai có hiệu quả các nhiệm vụ tài chính - ngân sách nhà nước năm 2024; tăng cường quản lý thu, chi ngân sách nhà nước; rà soát, xác định chính xác những nguồn thu còn tiềm năng, nguồn thu chưa khai thác hết, còn dư địa để tổ chức thực hiện, khai thác tăng thu, bù đắp các khoản hụt thu; phấn đấu hoàn thành dự toán thu ngân sách nhà nước trên địa bàn. Năm là, triển khai đầy đủ các chính sách hỗ trợ của Chính phủ về các gói hỗ trợ hồi phục kinh tế như: Hỗ trợ lãi suất 2%/năm thuế giá trị gia tăng đối với tất cả nhóm hàng hóa, dịch vụ đang áp dụng mức thuế suất giá trị gia tăng 10% xuống còn 8% (từ ngày 01/7/2024 đến hết ngày 31/12/2024); gia hạn nộp thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp,... Đây là những giải pháp rất cần thiết, là nguồn lực đáng kể để tháo gỡ khó khăn cho người dân, doanh nghiệp, góp phần làm giảm chi phí sản xuất, giảm giá thành sản phẩm, các doanh nghiệp có nguồn lực để thúc đẩy sản xuất-kinh doanh, nhanh chóng khôi phục hoạt động sản xuất, kinh doanh, phát triển ổn định, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo nguồn thu bền vững cho ngân sách nhà nước.CỤC THỐNG KÊ TUYÊN QUANG
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 8 năm 2024 tỉnh Tuyên Quang
- 10/12/2024 16:03
I. PHÁT TRIỂN KINH TẾ 1. Về sản xuất nông nghiệp (tính đến ngày 20/8/2024)1.1. Trồng trọt 1.1.1. Sản xuất vụ mùa năm 2024Tính đến ngày 20/8/2024, các địa phương trong tỉnh đã gieo trồng được một số cây chủ yếu sau như sau: Cây lúa: Diện tích đã gieo cấy 24.543 ha, đạt 101% kế hoạch (trong đó: 9.312 ha lúa lai; 15.231 ha lúa thuần); cây ngô đã trồng 4.878 ha, đạt 102,7%; cây đậu tương 173 ha, đạt 58,70%; cây lạc trồng 1.168 ha, đạt 99,4%.1.1.2 Cây lâu năm- Diện tích cây chuối hiện có trên địa bàn tỉnh 2.257 ha, tăng 1,11% (tăng 24,79 ha) so với cùng kỳ; sản lượng ước đạt trên 11.717,63 tấn, tăng 2,06% (tăng 236,13 tấn); cây vải diện tích hiện có 327 ha, sản lượng 1.828,17 tấn, tăng 3,11% (tăng 55,12 tấn) so với cùng kỳ.- Cây thanh long hiện có 343 ha, sản lượng thu hoạch ước đạt 457,31 tấn tăng 8,48% (tăng 35,73 tấn) so với cùng kỳ.- Cây chè hiện có 8.217 ha, sản lượng thu hoạch ước đạt 45.996 tấn, tăng 0,11% (tăng 49,75 tấn) so với cùng kỳ.1.2. Tình hình sinh vật gây hại - Cây hàng năm vụ mùa: Cây lúa đang trong giai đoạn phát triển bị ảnh hưởng bởi rầy lứa 5 gây hại rải rác, mật độ phổ biến 160 - 180 con/m2 ; nơi cao 500 – 600 con/m2 , tuổi 4 -5 -TT. Sâu cuốn lá nhỏ gây hại rải rác, mật độ phổ biến 5 -7 con/m2 , nơi cao 8 -10 con/m2 trưởng thành lứa 6 bắt đầu vũ hóa rải rác, mật độ nơi cao 1-2 con/m2, sâu đục thân 2 chấm lứa 3 gây hại rải rác, tỷ lệ hại nơi cao 1-2% số dảnh, Trưởng thành lứa 4 vũ hóa rải rác, mật độ nơi cao 1-2 con/m2. Trên cây ngô xuất hiện sâu keo, sâu cắn nõn mùa thu gây hại rải rác, mật độ nơi cao 2-3 con/m2, bệnh đốm lá, khô vằn gây hại rải rác, tỷ lệ hại nơi cao 3-5% số lá, cây; cấp 1-3.- Cây lâu năm: Cây chè: Rầy xanh, nhện đỏ, bọ trĩ gây hại vẫn tiếp tục gây hại tăng, tỷ lệ hại phổ biến 3-5 %, nơi cao 8-10 % số búp. Cây nhãn, vải: Sâu đục cuống, quả, bọ xít nâu, bệnh thán thư, chổi rồng gây hại rải rác. Cây cam, bưởi, chanh xuất hiện nhóm nhện nhỏ (nhện đỏ, nhện trắng, nhện rám vàng gây hại tăng, tỷ lệ hại nơi cao 15-20 % số lá, quả). Bệnh sẹo, bệnh loét lá, bệnh thán thư, bệnh vàng lá thối rễ hại rải rác.- Cây lâm nghiệp (vườn ươm-1-5 tuổi): Sâu nâu ăn lá gây hại rải rác, bệnh chết héo tiếp tục gây hại phổ biến tỷ lệ hại 1-2% số cây bị hại.Trước tình hình sinh vật gây hại cây trồng nêu trên. Ngành chức năng đã tập trung hướng dẫn bà con nông dân khẩn trương bón thúc cho lúa đẻ nhánh, gieo trồng ngô, lạc, đậu tương hè thu đảm bảo diện tích kế hoạch; tăng cường kiểm tra đồng ruộng, phát hiện sâu bệnh hại cây trồng, kịp thời hướng dẫn cách phòng trừ, giảm thiệt hại do sâu bênh gây ra.1.3. Về chăn nuôi 1.3.1. Về số lượng đàn gia súc, gia cầmĐàn trâu 86.707 con, giảm 2,47% (giảm 2.192 con) so với cùng kỳ năm 2023; đàn bò 39.247 con, tăng 0,62% (tăng 243 con); đàn lợn 574.926 con, tăng 1,87% (tăng 10.562 con); đàn gia cầm 7.397 nghìn con, tăng 4,69% (tăng 332 nghìn con).1.3.2. Về sản phẩm đàn gia súc, gia cầmĐàn trâu sản lượng thịt hơi xuất chuồng đạt 692 tấn, tăng 6,01% (tăng 39,27 tấn) so với cùng kỳ; đàn bò đạt 117 tấn, tăng 6,32% (tăng 6,93 tấn); đàn lợn đạt 5.214 tấn, tăng 6,02% (tăng 295,87 tấn); đàn gia cầm đạt 1.696 tấn, tăng 6,68% (tăng 106,24 tấn).Ảnh 3 Đánh giá chung, tình hình chăn nuôi trên địa bàn tỉnh trong tháng nhìn tương đối thuận lợi, đàn trâu, bò ổn định; chăn nuôi lợn gia tăng do giá thịt lợn hơi, gia cầm tiếp tục ổn định và có xu hướng tăng so với tháng trước, do nguồn cung không ổn định, người chăn nuôi bắt đầu thu được lợi nhuận cao, đây là điều kiện thuận lợi để người chăn nuôi tái đàn, tăng đàn, đảm bảo nguồn cung cho thị trường, đặc biệt là trong dịp lễ trung thu sắp tới. Tuy nhiên, tình hình bệnh dịch tả lợn Châu Phi tiếp tục diễn biến phức tạp và tiềm ẩn nguy cơ lan ra diện rộng; bên cạnh đó, các chi phí sản xuất (giá thức ăn chăn nuôi, con giống, thuốc thú y…) luôn biến động. Ngoài ra, đầu ra của sản phẩm và giá bán các loại sản phẩm không ổn định là những thách thức đối với các hộ chăn nuôi.1.4. Về công tác phòng chống dịch bệnh gia súc, gia cầm trong tháng1.4.1. Công tác phòng chống và điều trị- Bệnh Dịch tả lợn Châu Phi: Trong tháng bệnh xảy ra tại 55 hộ/ 19 thôn/ 06 xã, với số lợn mắc bệnh buộc phải tiêu hủy là 339 con/9.492,5 kg, lũy kế 126 hộ/41 thôn/17 xã/ 04 huyện (Hàm Yên, Lâm Bình, Na hang, Chiêm Hóa) với số lợn mắc bệnh buộc phải tiêu hủy là 762 con/22.264,5 kg. Trước tình hình trên, ngành chức năng đã khẩn trương thực hiện các biện pháp khoanh vùng dập dịch, hỗ trợ thuốc, vôi bột cho các địa phương để tiêu độc khử trùng tại khu vực chuồng trại của các hộ gia đình chăn nuôi có dịch, cùng với đó là kiểm soát chặt chẽ việc vận chuyển gia súc, gia cầm, sản phẩm gia súc, gia cầm ra, vào địa bàn. Đồng thời tạm dừng hoạt động mua bán gia súc khu vực có dịch; thành lập các chốt kiểm dịch động vật tạm thời tại địa bàn có dịch và các xã có nguy cơ lây nhiễm cao nhằm ngăn chặn dịch phát sinh lan rộng.- Các bệnh truyền nhiễm khác: Trong tháng, trên địa bàn tỉnh các bệnh truyền nhiễm khác không phát sinh; một số bệnh nội, ngoại khoa ký sinh trùng xuất hiện trên đàn gia súc như: Bệnh viêm phổi, bệnh ký sinh trùng đường máu, bệnh tiêu chảy, bệnh phù đầu… đã được nhân viên thú y phát hiện, chuẩn đoán và điều trị kịp thời số gia súc khỏi bệnh: 877/906 con trong đó: (Trâu, bò: 139/139 con; đàn lợn 738/767 con).1.4.2. Công tác kiểm dịch vận chuyển động vật, sản phẩm động vật- Kiểm dịch vận chuyển ngoại tỉnh: Tiếp tục thực hiện chặt chẽ đúng quy định công tác kiểm dịch vận chuyển ngoài tỉnh đã kiểm tra cấp 257 giấy chứng nhận kiểm dịch vận chuyển trong đó: (97 chuyến vận chuyển 10.373 con gia súc, gia cầm và 68.075 con cá giống; 160 chuyến vận chuyển 3.126 tấn sữa tươi nguyên liệu); lũy kế cấp 1.764 giấy chứng nhận kiểm dịch vận chuyển trong đó: (452 chuyến vận chuyển 105.293 con gia súc, gia cầm và 204.075 con cá giống; 1.312 chuyến vận chuyển 25.393 tấn sữa tươi nguyên liệu và 5.120 kg SPĐV chế biến làm thức ăn chăn nuôi) đi các tỉnh Bắc Ninh, Hà Nội, Hà Nam, Hà Giang, Nam Định...- Tại các Trạm Kiểm dịch động vật: Đã kiểm tra 100 lượt phương tiện, vận chuyển 69.040 con gia súc, gia cầm và 8.550 kg sản phẩm động vật; cộng dồn từ đầu năm đến nay đã kiểm tra trên 954 lượt phương tiện vận chuyển đủ thủ tục vận chuyển 892.562 con gia súc, gia cầm; và 17.100 kg sản phẩm động vật.- Kiểm soát giết mổ và kiểm tra vệ sinh thú y: Đã kiểm tra, đóng dấu và thu phí: 84 con trâu, bò và 4.519 con lợn; lũy kế 958 con trâu, bò và 38.218 con lợn.1.5. Về sản xuất lâm nghiệp 1.5.1. Công tác trồng rừngTrong tháng, trên địa bàn tỉnh thời tiết mưa nhiều, độ ẩm cao, thuận lợi cho việc trồng rừng, đảm bảo cây trồng đạt tỷ lệ sống cao; ngành chức năng và chính quyền các địa phương đã kịp thời hỗ trợ cây giống, đôn đốc, hướng dẫn người dân và các chủ rừng tiến hành xử lý thực bì, triển khai trồng rừng trong khung thời vụ tốt nhất, đảm bảo kế hoạch đề ra. Toàn tỉnh đã trồng 568 ha rừng trồng tập trung, tăng 9,91% so với cùng kỳ năm 2023. Số cây lâm nghiệp trồng phân tán lũy kế 738,40 nghìn cây giảm 8,64% (giảm 69,83 nghìn cây) so với cùng kỳ năm trước.1.5.2. Khai thác gỗ rừng trồngSản lượng gỗ khai thác trong tháng ước đạt 95.295 m3, tăng 0,45% (tăng 423 m3) so với cùng kỳ năm 2023. Sản lượng gỗ khai thác chủ yếu là gỗ rừng trồng nguyên liệu.1.5.3. Công tác quản lý bảo vệ rừngCông tác quản lý, bảo vệ rừng được các cấp, các ngành quan tâm, đồng thời tuyên truyền, vận động nhân dân tích cực tham gia thực hiện kế hoạch trồng rừng năm 2024; tuyên truyền, phổ biến giáo dục cho người dân nâng cao nhận thức về các chính sách quản lý bảo vệ và phát triển rừng; tăng cường kiểm tra, ngăn chặn việc phá rừng, đốt rừng, triệt phá các đường dây buôn bán, vận chuyển lâm sản trái phép. Thường xuyên cảnh báo nguy cơ cháy rừng, đẩy mạnh tuyên truyền về công tác phòng cháy chữa cháy rừng đối với các chủ rừng; tăng cường hợp chặt chẽ với cơ quan chức năng và chính quyền cơ sở, các chủ rừng tăng kiểm tra, kiểm soát, phát hiện kịp thời, xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật các hành vi xâm hại rừng.Trong tháng, trên địa bàn tỉnh không xảy ra vụ cháy rừng nào; số vụ chặt phá rừng 5 vụ, diện tích rừng bị chặt phá 0,91 ha. Kiểm tra, phát hiện và xử lý 0,628 m3 gỗ các loại; phạt hành chính và bán thanh lý tài sản 49,06 triệu đồng (đã thu nộp ngân sách 42,06 triệu đồng).3. Sản xuất công nghiệp3.1. Chỉ số phát triển công nghiệp - Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) trong tháng ước tính tăng 7,51% so với tháng trước, tăng 6,52% so với cùng kỳ, cụ thể của các ngành như sau: Ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 21,59%, tăng 45,93%; cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,35%, tăng 8,14%; khai khoáng giảm 2,05%, giảm 0,07%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 4,65%, tăng 1,89%.Một số ngành công nghiệp cấp II có chỉ số sản xuất tăng so với cùng kỳ năm trước như: Sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 55,92%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 8,14%; in, sao chép bản ghi các loại tăng 5,88%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 18,4%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 23,02%;...Tính chung trong 8 tháng, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 6,52% so với cùng kỳ năm trước, Chia theo từng ngành kinh tế cấp I như sau:+ Ngành khai khoáng giảm 0,07%, nguyên nhân chủ yếu là nhu cầu tiêu thụ giảm, sản lượng khai thác đá, cát, sỏi, đất sét của các doanh nghiệp khai khoáng giảm so với cùng kỳ.+ Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 1,89%, do một số ngành chế biến tăng như: Sản xuất chế biến thực phẩm tăng 13,19%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 20,47%; sản xuất chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế) tăng 31,52%;...+ Ngành sản xuất và phân phối điện tăng 45,93% nguyên nhân là do nhà máy thủy điện Sông Lô 7 mới đi vào hoạt động từ đầu năm 2024, nên sản lượng điện tăng so với cùng kỳ. Bên cạnh đó lượng mưa từ đầu năm 2024 tương đối ổn định làm cho sản lượng điện tăng cao so với cùng kỳ. Công ty Điện lực Tuyên Quang đã đẩy nhanh tiến độ các công trình điện, triển khai nhiều giải pháp, phương án, sẵn sàng cung ứng điện năng, bảo đảm vận hành lưới điện an toàn, ổn định phục vụ các hoạt động chính trị, xã hội, nhu cầu sử dụng điện của người dân trên địa bàn.+ Ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 8,14%, do hoạt động thu gom, xử lý và tiêu hủy rác thải, tái chế phế liệu tăng.3.2. Sản phẩm công nghiệp chủ yếu Trong tháng, một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng so với cùng kỳ năm trước: Điện sản xuất đạt 312 triệu Kwh, tăng 20,43%; bột Barit đạt 23.150 tấn, tăng 19,14%; xi măng đạt 94.200 tấn, tăng 179,86%; bột giấy đạt 4.500 tấn, tăng 125%; bột Felspat đạt 23.150 tấn, tăng 20,52%;... Tuy nhiên, cũng có một số sản phẩm công nghiệp giảm so với cùng kỳ như: Bột giấy đạt 7.500 tấn, giảm 3,21%; giày da đạt 600 nghìn đôi, giảm 40%.- Tính chung trong 8 tháng đầu năm 2024, một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng khá so với cùng kỳ năm trước: Điện thương phẩm tăng 1,75%; điện sản xuất tăng 45,80%; đường kính tăng 54,38%; chè chế biến tăng 3,14%; xi măng tăng 10,86%; giấy đế xuất khẩu tăng 9,89%; bột giấy tăng 2,39%; giày da tăng 10,38%,... Ở chiều ngược lại, một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu giảm so với cùng kỳ năm trước như: bột Barit giảm 40,83%; bột Felspat giảm 17,41%; giấy in viết, photo thành phẩm giảm 7,05%; hàng may mặc xuất khẩu giảm 13,68%; thép cây, thép cuộn giảm 4,99%.Đánh giá chung, sản xuất công nghiệp trong 8 tháng đầu năm 2024 tiếp tục giữ được xu hướng tăng trưởng tích cực, tháng sau tốt hơn tháng trước, sản lượng và đơn hàng một số sản phẩm thuộc nhóm ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng trưởng khá; các cấp, các ngành trong tỉnh đã triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp nắm bắt tình hình, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, hỗ trợ tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp,... Qua đó, giúp doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất, kinh doanh, đặc biệt là những doanh nghiệp chủ lực, có đóng góp lớn vào giá trị sản xuất của ngành công nghiệp và tăng thu ngân sách địa phương và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của tỉnh.4. Vốn đầu tư, xây dựng4.1. Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước thực hiện tháng 8 đạt 557 tỷ đồng, tăng 11,82% so với tháng trước, tăng 29,46% so cùng kỳ. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 502 tỷ đồng, tăng 12,20%, tăng 33,80%; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện đạt 51 tỷ đồng, tăng 6,59%, giảm 0,86%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã đạt 3 tỷ đồng, tăng 49,53%, tăng 7,74% so với cùng kỳ.Tính chung trong 8 tháng, nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 3.123 tỷ đồng, tăng 37,12% so với cùng kỳ. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 2.794 tỷ đồng, tăng 39,09%; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện đạt 308 tỷ đồng, tăng 23,43%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã đạt 21 tỷ đồng, tăng 9,08%.4.2. Hoạt động xây dựngVới quyết tâm thực hiện mục tiêu giải ngân vốn đầu tư công là nhiệm vụ chính trị trọng tâm trong năm 2024, là động lực quan trọng nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của tỉnh. Tỉnh đã triển khai các giải pháp đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công, nhất là những chương trình, dự án hạ tầng trọng điểm, tháo gỡ dứt điểm các khó khăn, vướng mắc, nhất là trong công tác giải phóng mặt bằng đủ điều kiện khởi công mới các công trình, dự án. Chủ động đôn đốc các nhà thầu tập trung nhân lực, vật tư, máy thi công, tăng ca để đẩy nhanh tiến độ thi công, nâng cao chất lượng các công trình, dự án sớm hoàn thành trước tiến độ đề ra.Năm 2024, Tuyên Quang được giao tổng kế hoạch vốn đầu tư công là 6.113,18 tỷ đồng, trong đó vốn năm 2023 kéo dài sang năm 2024 là 355,16 tỷ đồng; vốn được phân bổ, giao theo kế hoạch năm 2024 là 5.758,02 tỷ đồng. Tính đến ngày 25/8/2024, tổng số vốn vốn đầu tư công đã giải ngân được là trên 2.148,60 tỷ đồng, đạt 35,15% kế hoạch, trong đó: Nguồn vốn kế hoạch năm 2024 giải ngân được 2.044,43 tỷ đồng, đạt 33,44%; nguồn vốn năm 2023 kéo dài thời gian thực hiện và giải ngân sang năm 2024 giải ngân được 104,17 tỷ đồng, đạt 29,33%.5. Thương mại và Dịch vụTrong tháng, thị trường hàng sôi động, nhu cầu mua sắm, vui chơi, giải trí tăng, nguồn cung hàng hóa, dồi dào, ổn định, không có biến động lớn về giá cả; các doanh nghiệp đã triển khai nhiều chương trình khuyến mại, giảm giá hấp dẫn để kích cầu tiêu dùng của người dân. Đây cũng là thời điểm cao điểm của mùa du lịch hè nên hoạt động thương mại diễn ra sôi động.Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 8 ước đạt 3.019 tỷ đồng, tăng 8,95% so với tháng trước, tăng 14,01% so với cùng kỳ. Tính chung 8 tháng đầu năm 2024, tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước ước đạt 21.796 tỷ đồng, tăng 17,78% so với cùng kỳ.5.1. Doanh thu bán lẻ hàng hóa Doanh thu bán lẻ hàng hóa trong tháng ước đạt 2.664 tỷ đồng, tăng 5,05% so với tháng trước, tăng 13,24% so với tháng cùng kỳ. Các nhóm hàng tăng so với tháng trước, tăng so với cùng kỳ, cụ thể như sau: Lương thực, thực phẩm đạt 955 tỷ đồng, tăng 11,06%, tăng 0,64%; hàng may mặc đạt 155 tỷ đồng, tăng 1,96%, tăng 6,06%; đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình đạt 275 tỷ đồng, tăng 1,46%, tăng 6,94%; vật phẩm, văn hóa, giáo dục đạt 31 tỷ đồng, tăng 5,34%, tăng 33,64%; gỗ và vật liệu xây dựng đạt 220 tỷ đồng, tăng 0,34%, tăng 2%;… Tính chung trong 8 tháng, tổng mức bán lẻ hàng hóa đạt 19.195 tỷ đồng, tăng 17,41% so với cùng kỳ.5.2. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ khác- Trong tháng, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 243 tỷ đồng, tăng 5,91% so với tháng trước, tăng 25,74% so với cùng kỳ. Trong đó: Dịch vụ lưu trú đạt 22 tỷ đồng, tăng 5,42%, tăng 16,21%; ăn uống đạt 221 tỷ đồng, tăng 5,96%, tăng 26,76%. Tính chung trong 8 tháng, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 2.601 tỷ đồng, tăng 20,58% so với cùng kỳ.- Doanh thu du lịch lữ hành trong tháng ước đạt 1 tỷ đồng, tăng 4,52% so với tháng trước, tăng 33,37% so với cùng kỳ. Tính chung trong 8 tháng, doanh thu du lịch lữ hành ước đạt 4 tỷ đồng, tăng 122,16% so với cùng kỳ.- Doanh thu dịch vụ khác trong tháng ước đạt 112 tỷ đồng, tăng 0,21% so với tháng trước, tăng 10,92% so với cùng kỳ. Trong đó: Dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 5 tỷ đồng, tăng 0,88% so với tháng trước, tăng 30,41% so với cùng kỳ; dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí đạt 36 tỷ đồng, tăng 0,55%, tăng 35,35%;… Tính chung trong 8 tháng, doanh thu dịch vụ khác ước đạt 876 tỷ đồng, tăng 30,55% so với cùng kỳ.5.3. Giá cả- Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trong tháng tăng 3,47% so với cùng kỳ năm trước, tăng 3,45% so với tháng 12 năm trước, giảm 0,13% so với tháng trước. Tính chung trong 8 tháng, CPI bình quân tăng 3,77% so với cùng kỳ.Trong số 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính thì có 5 nhóm tăng giá so với tháng trước, 1 nhóm giữ nguyên giá so với tháng trước, 5 nhóm giảm giá so với tháng trước, cụ thể của các nhóm như sau:Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,64%, Trong đó, lương thực tăng 0,25%, thực phẩm tăng 0,80%, ăn uống ngoài gia đình tăng 0,04%, nguyên nhân làm nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng là nhóm gạo tăng 0,37%, nhóm bột mì và ngũ cốc khác tăng 3,39% (do giá nguyên liệu bột mì, ngô, khoai tăng). Trong đó, giá gạo tăng 0,37%; nhóm thực phẩm tăng 0,8%, trong đó nhóm thịt gia súc tăng 1,46%, trứng các loại tăng 0,18% (do nhu cầu tiêu thụ các nhóm sản phẩm này tăng) thịt gia cầm giảm 0,07%; đồ uống và thuốc lá tăng 0,06% (do nhu cầu tiêu thụ các loại rượu, bia của người dân tăng); nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0,08% (do dịch vụ sửa chữa nhà ở của người dân tăng); thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,14% (do nhu cầu của người dân mua sắm đồ dùng trong nhà và thiết bị tăng); thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,06% (nguyên nhân chủ yếu do giá thuốc tăng 0,2%). Nhóm hàng bưu chính viễn thông là giữ nguyên giá so với tháng trước.Nhóm may mặc, mũ nón và giày dép giảm 1,19% do nhu cầu người dân mua sắm quần áo, giày dép giảm; giao thông giảm 1,67% nguyên nhân chủ yếu giá nhiên liệu giảm 5,69% do Tập đoàn xăng dầu Việt Nam điều chỉnh mức giá bán lẻ xăng, dầu (xăng giảm 5,8%, dầu diezel giảm 6,95%); giáo dục giảm 0,08% (do giá sách giáo khoa giảm); văn hóa, giải trí và du lịch giảm 1,28% (do nhu cầu du lịch trong nước và ngoài nước của người dân giảm); hàng hóa và dịch vụ khác giảm 0,42% (do nhu cầu mua sắm đồ dùng cá nhân, dịch vụ hiếu hỉ, dịch vụ bảo hiểm giảm).- Chỉ số giá vàng tăng 34,06% so với cùng kỳ năm trước, tăng 23,02% so với tháng 12 năm trước, tăng 0,9% so với tháng trước. Tính chung trong 8 tháng đầu năm 2024, giá vàng tăng 27,77% so với cùng kỳ. - Chỉ số giá đô la Mỹ tăng 5,48% so với cùng kỳ năm trước, tăng 3,38% so với tháng 12 năm trước, giảm 0,79% so với tháng trước. Tính chung trong 8 tháng đầu năm 2024, tăng 5,79% so với cùng kỳ.5.4. Tình hình xuất, nhập khẩu hàng hóa Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa trong tháng ước đạt 21,6 triệu USD, đạt 8,3% kế hoạch, giảm 7,3% so với cùng kỳ. Trong đó, xuất khẩu ước đạt 16,1 triệu USD; nhập khẩu ước đạt 5,5 triệu USD.+ Một số mặt hàng xuất khẩu chủ yếu trong tháng tăng so với cùng kỳ như: Chè xuất khẩu ước đạt 1.150 tấn, tăng 78,8%; giấy đế xuất khẩu đạt 380 tấn, tăng 9,9%; phong bì đạt 400 nghìn sản phẩm, tăng 10,8%,…Nhóm hàng giảm so với cùng kỳ như: Bột Barit đạt 1.800 tấn, giảm 28%; hàng dệt may đạt 750 nghìn sản phẩm, giảm 20,8%; đũa gỗ xuất khẩu đạt 2.000 nghìn đôi, giảm 4,8%.+ Mặt hàng nhập khẩu chủ yếu trong tháng giảm so với cùng kỳ như: Máy móc, thiết bị, phụ tùng, hàng hóa khác giảm 42,3%; vải may mặc, phụ liệu may mặc, phụ liệu khác giảm 4,3%.Tính chung trong 8 tháng đầu năm 2024, kim ngạch xuất, nhập khẩu ước đạt 154,7 triệu USD, đạt 59,5% kế hoạch, giảm 4,57% so với cùng kỳ. Trong đó, xuất khẩu ước đạt 102,6 triệu USD, tăng 1,68%, nhập khẩu ước đạt 52,1 triệu USD, giảm 14,87%. Một số mặt hàng xuất khẩu tiếp tục tăng so với cùng kỳ như: Chè (tăng 150,1%); giấy đế xuất khẩu (tăng 34,8%); phong bì (tăng 38,7%),... Tuy nhiên, cũng có một số mặt hàng giảm so với cùng kỳ như: Bột giấy (giảm 49,9%); đũa gỗ xuất khẩu (giảm 49,8%); bột Barit (giảm 79,6%);…6. Vận tải hàng hóa và hành khách 6.1. Doanh thu vận tải tải kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải - Doanh thu vận tải trong tháng ước đạt 335 tỷ đồng, giảm 1,47% so với tháng trước, tăng 8,57% so với cùng kỳ. Trong đó, vận tải hành khách đạt 59 tỷ đồng, tăng 3,11%, tăng 12,33%; vận tải hàng hóa đạt 276 tỷ đồng, giảm 2,31%, tăng 7,71%; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 0,48 tỷ đồng, tăng 6,43%, tăng 47,57%; hoạt động bưu chính, chuyển phát đạt 0,31 tỷ đồng, tăng 3,63%, tăng 63,54%.- Tính chung trong 8 tháng đầu năm 2024, doanh thu vận tải kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 2.850 tỷ đồng, tăng 21,51% so với cùng kỳ. Trong đó: vận tải hành khách đạt 475 tỷ đồng, tăng 16,20%; vận tải hàng hóa đạt 2.369 tỷ đồng, tăng 22,59%; dịch vụ hỗ trợ vận tải kho bãi đạt 4 tỷ đồng, tăng 33,73%; bưu chính, chuyển phát đạt 2 tỷ đồng, tăng 46,88%.6.2. Vận tải hành khách và hàng hóa- Trong tháng khối lượng hành khách vận chuyển ước đạt 1 triệu lượt hành khách, tăng 2,89% so với tháng trước, tăng 11,35% so với cùng kỳ; khối lượng hành khách luân chuyển ước đạt 78 triệu lượt hành khách.km, tăng 2,84%, tăng 15,71%. Tính chung 8 tháng đầu năm 2024, khối lượng hành khách vận chuyển ước đạt 9 triệu lượt hành khách, tăng 17,04% so với cùng kỳ; khối lượng hành khách luân chuyển ước đạt 622 triệu lượt hành khách.km, tăng 17,43%.- Khối lượng hàng hóa vận chuyển trong tháng ước đạt 2 triệu tấn, giảm 3,23% so với tháng trước, tăng 15,64% so với cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 121 triệu tấn.km, giảm 3,41%, tăng 17,46%. Tính chung 8 tháng đầu năm 2024, khối lượng hàng hóa vận chuyển ước đạt 16 triệu tấn, tăng 23,89% so với cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 1.043 triệu tấn.km, tăng 28,31%.7. Về du lịch - Tiếp tục triển khai các giải pháp quảng bá, truyền thông về văn hóa và du lịch tỉnh Tuyên quang “ Nơi vẻ đẹp hội tụ” trên các trang, mạng xã hội của tỉnh, nhằm giới thiệu về mảnh đất và con người Tuyên Quang; chuẩn bị các điều kiện và tham gia các hoạt động trong khuân khổ Chương trình Qua những miền di sản Việt Bắc lần thứ XV; lễ hội Thành Tuyên năm 2024, giới thiệu về các sản phẩm du lịch, các di tích văn hóa - lịch sử tại các khu, điểm du lịch trên địa bàn tỉnh.- Trong tháng các khu, điểm du lịch trên địa bàn tỉnh, thu hút được 115.000 lượt khách du lịch. Tổng thu từ khách du lịch đạt 150 tỷ đồng. Tính chung trong 8 tháng đầu năm 2024, thu hút được 2.081.000 lượt khách đạt 76% kế hoạch, tăng 6% so với cùng kỳ; tổng thu đạt 2.556 tỷ đồng; đạt 71% kế hoạch, tăng 14% so với cùng kỳ.II. LĨNH VỰC VĂN HÓA - XÃ HỘI 1. Công tác lao động, việc làm, giáo dục nghề nghiệpTriển khai thực hiện Quyết định số 12/2024/QĐ-TTg ngày 31/7/2024 của Thủ tướng Chính phủ về cơ chế, chính sách giải quyết việc làm và đào tạo nghề cho người có đất thu hồi. Thực hiện các phiên giao dịch việc làm, các hoạt động tư vấn, giới thiệu việc làm, thông tin thị trường lao động, đào tạo nghề, kết nối thông tin, nhu cầu tuyển dụng lao động của doanh nghiệp, tuyển sinh đào tạo nghề của các cơ sở giáo dục nghề nghiệp với nhu cầu tìm việc làm, học nghề của người lao động để đưa lao động đi làm việc tại các doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh. Kết quả trong tháng toàn tỉnh có 2.580 lao động được tạo việc làm; luỹ kế từ đầu năm đến nay toàn tỉnh có 21.180 lao động được tạo việc làm (Trong đó: Lao động làm việc trong các ngành kinh tế tại tỉnh là 13.227 người; Lao động đi làm việc các tỉnh, thành phố 6.993 người; lao động đi làm việc nước ngoài theo hợp đồng 960 người), đạt 93,9% kế hoạch và vượt 15,1% so với cùng kỳ. Thực hiện tốt công tác quản lý người lao động là người nước ngoài trên địa bàn tỉnh, hướng dẫn các đơn vị, doanh nghiệp sử dụng lao động nước ngoài trên địa bàn tỉnh thực hiện đăng thông báo tuyển dụng người lao động Việt Nam vào các vị trí dự kiến tuyển dụng người lao động nước ngoài đúng quy định. Tiếp tục hướng dẫn, hỗ trợ các doanh nghiệp, người sử dụng lao động trên địa bàn tỉnh thực hiện đúng các chế độ chính sách đối với người lao động theo quy định của pháp luật. Tăng cường công tác quản lý nhà nước về công tác giáo dục nghề nghiệp, đôn đốc các cơ sở giáo dục nghề nghiệp triển khai thực hiện kế hoạch đào tạo năm 2024; kết quả, từ đầu năm đến nay toàn tỉnh đã tuyển sinh, đào tạo 5.545 học viên đạt 69,3% kế hoạch (trong đó: đào tạo trình độ cao đẳng 46 người; trung cấp 288 người; sơ cấp 3.504 người; đào tạo thường xuyên 1.707 người).2. Công tác đảm bảo chế độ người có công với cách mạng, bảo trợ, an sinh xã hội và phòng chống các tệ nạn2.1. Công tác đối với người có công với cách mạng Tiếp tục triển khai các hoạt động tri ân các Anh hùng liệt sĩ, thăm, tặng quà và chăm sóc người có công với cách mạng nhân dịp kỷ niệm 77 năm ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2024). Lựa chọn 3 đại biểu người có công với cách mạng dự Hội nghị biểu dương người có công với cách mạng tiêu biểu toàn quốc năm 2024 tại thành phố Hà Nội. Duy trì thực hiện đúng, đủ, kịp thời các chế độ, chính sách đối với người có công với cách mạng và thân nhân người có công; đẩy mạnh thực hiện các phong trào, hoạt động " Đền ơn, đáp nghĩa", "Uống nước nhớ nguồn", nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người có công.2.2. Công tác bảo trợ, an sinh xã hội và phòng chống các tệ nạn - Thực hiện trợ giúp xã hội, ổn định đời sống nhân dân khi thiên tai xảy ra; thường xuyên rà soát, nắm chắc tình hình đời sống nhân dân, hỗ trợ kịp thời các hộ gia đình, cá nhân gặp khó khăn do ảnh hưởng thiên tai, mưa bão, tai nạn rủi ro. Duy trì trợ cấp hàng tháng cho trên 38.000 đối tượng bảo trợ xã hội. Tăng cường thực hiện công tác chăm sóc, giáo dục và Bảo vệ trẻ em trên địa bàn tỉnh. Duy trì thực hiện tốt các chính sách, chương trình thúc đẩy bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ. - Trong tháng Cơ sở cai nghiện tỉnh đã tiếp nhận, quản lý, điều trị, cai nghiện cho người nghiện ma túy tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh; trong tháng Cơ sở tiếp nhận 11 học viên cai nghiện ma túy (10 học viên cai nghiện bắt buộc, 01 người nghiện đang trong thời gian làm thủ tục vào cai nghiện bắt buộc), cấp giấy chứng nhận hoàn thành cai nghiện, chuyển thông báo đến chính quyền địa phương nơi cư trú quản lý 11 học viên hoàn thành cai nghiện tại Cơ sở.3. Hoạt động giáo dục và đào tạoTrong tháng ngành giáo dục và đào tạo đã tổ chức hội nghị tổng kết năm học 2023-2024 và triển khai nhiệm vụ năm học 2024-2025. Công tác giáo dục và đạo tạo trong năm học qua có nhiều đổi mới, chuyển biến tích cực, nền nếp, kỷ cương trong trường học cơ bản được duy trì và giữ vững. Công tác chuẩn bị về cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học, công tác tu sửa, chỉnh trang, vệ sinh trường lớp năm học 2024-2025 đang được ngành Giáo dục và Đào tạo tỉnh khẩn trương hoàn tất, sẵn sàng mọi điều kiện tốt nhất cho năm học mới; và tổ chức tốt Lễ khai giảng ngày 5/9 sắp tới; tiếp tục rà soát, sửa đổi, bổ sung kịp thời thể chế, cơ chế, chính sách về đổi mới giáo dục, đào tạo, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về giáo dục; tổng kết, đánh giá toàn diện việc triển khai đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông.4. Hoạt động y tế Ngành y tế tiếp tục kiểm tra, giám sát việc triển khai công tác khám chữa bệnh và công tác phòng chống dịch bệnh; tập trung nhân lực, bảo đảm việc đáp ứng đầy đủ các phương tiện, trang thiết bị, thuốc….để xử lý kịp thời bệnh dịch. Tỉnh đã triển khai nhiều giải pháp phòng, chống dịch; chủ động theo dõi, giám sát, phát hiện sớm các trường hợp nghi mắc bệnh, các ổ dịch tại cộng đồng và các cơ sở y tế; thực hiện cách ly, kịp thời xử lý triệt để ổ dịch không để bùng phát dịch trong cộng đồng. Công tác khám chữa bệnh và điều trị: Trong tháng, số lượt người khám chữa bệnh đạt 112.047 lượt người, trong đó: Bệnh viện tuyến tỉnh đạt 31.199 lượt; trung tâm y tế huyện là 42.477 lượt.Vệ sinh an toàn thực phẩm: Thực hiện kiểm tra liên ngành ở các tại các cơ sở sản xuất, kinh doanh, nhập khẩu thực phẩm, dịch vụ ăn uống, đặc biệt trong dịp Tết Trung thu năm 2024. Tiến hành kiểm tra, xử lý nghiêm các vi phạm về an toàn thực phẩm theo quy định. Số cơ sở được kiểm tra là 118 cơ sở (số cơ sở vi phạm là 0 cơ sở). Trong tháng, trên địa bàn tỉnh xảy ra 01 vụ ngộ độc (số người ngộ độc thực phẩm là 12 người, không có số người chết do bị ngộ độc thực phẩm).5. Hoạt động văn hoá - thể dục, thể thao- Lĩnh vực văn hoá: Thực hiện tuyên truyền, tổ chức hoạt động văn hóa phục vụ nhiệm vụ chính trị, chào mừng các ngày lễ lớn. Tham gia Hội thi Diễn xướng dân gian văn hóa các dân tộc tại tỉnh Quảng Ngãi đạt 01 Huy chương vàng; 02 huy chương bạc; Triển lãm ảnh "Sắc màu Văn hoá các dân tộc tỉnh Tuyên Quang" tại Ngày hội Văn hoá thể thao các dân tộc thiểu số tỉnh Tuyên quang; xây dựng 01 chương trình mẫu cho cơ sở tại xã Kim Phú, huyện Yên Sơn.Tổ chức 04 buổi biểu diễn nghệ thuật chuyên nghiệp phục vụ nhiệm vụ chính trị. Tổ chức Đợt phim tuyên truyền kỷ niệm 79 năm Ngày cách mạng tháng tám thành công và Ngày Quốc khánh nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam… với 111 buổi chiếu phim, phục vụ 24.290 lượt người xem. Trưng bày, giới thiệu sách, báo, tài liệu nhân dịp kỷ niệm 79 năm Cách mạng Tháng tám (19/8) và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (02/9). - Lĩnh vực thể dục thể thao: Tổ chức thành công giải Vật dân tộc tỉnh Tuyên Quang năm 2024 (kết quả: BTC đã trao 33 bộ Huy chương cho 11 nội dung thi đấu tại giải). Xây dựng, ban hành Điều lệ, kế hoạch; lập dự toán chi tiết tổ chức giải Quần vợt Cúp Tân Trào mở rộng năm 2024; Giải Bóng bàn các CLB tỉnh Tuyên Quang mở rộng tranh Cúp "Lễ hội Thành Tuyên"; Giải Pencak silat tỉnh Tuyên Quang năm 2024; quyết định thành lập đoàn vận động viên tham gia Giải Rowing và Canoeing Vô địch trẻ Quốc gia năm 2024; Giải vô địch trẻ và thiếu niên Vật dân tộc quốc gia lần thứ XXV năm 2024. Tham gia giải vô địch Pencak silat trẻ quốc gia năm 2024, đạt 07 huy chương đồng...6. Tình hình an toàn giao thông, thiên tai và phòng chống cháy, nổTiếp tục triển khai đầy đủ, kịp thời, nghiêm túc các chỉ đạo của Trung ương, của tỉnh về công tác bảo đảm trật tự an toàn giao thông. Nhằm giảm thiểu tai nạn giao thông, hiện nay các cấp, các ngành trên địa bàn tỉnh đã phối hợp, triển khai đồng bộ nhiều giải pháp đảm bảo trật tự an toàn giao thông nhằm kiềm chế và kéo giảm tai nạn giao thông. Đồng thời, tăng cường tổ chức các hoạt động tuyên truyền, phổ biến về pháp luật về công tác TTATGT; đẩy mạnh giáo dục kiến thức và kỹ năng tham gia giao thông an toàn cho học sinh, sinh viên... Đặc biệt là triển khai các giải pháp bảo đảm trật tự, an toàn giao thông trong dịp nghỉ Lễ Quốc khánh 2/9 và khai giảng năm học mới 2024 - 2025.6.1. Về an toàn giao thông trong thángToàn tỉnh đã xảy ra 15 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 5 người và làm bị thương 15 người. So với tháng trước số vụ tai nạn tăng 50%; số người chết tăng 25%; số người bị thương tăng 150%. So với tháng cùng kỳ số vụ tai nạn giao thông tăng 15,38%; số người chết giảm 16,67%; số người bị thương tăng 66,67%.Tính chung 8 tháng đầu năm 2024, toàn tỉnh đã xảy ra 108 vụ tai nạn giao thông; làm chết 44 người và làm bị thương 87 người. So với cùng kỳ năm trước: Số vụ tai nạn giao thông giảm 0,92%; số người chết tăng 22,22%; số người bị thương giảm 5,43%.6.2. Về thiên tai, cháy, nổ- Trong tháng, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 03 đợt thiên tai (đêm ngày 30/7 rạng sáng ngày 01/8; mưa to kéo dài từ ngày 04/8 đến ngày 06/8; mưa to kéo dài từ ngày 12/8 đến ngày 15/8). Mưa lớn, lũ, sạt lở đất các khu vực ven suối gây ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống của nhân dân, cụ thể như sau:Thiệt hại về người: 02 người chết; 01 người bị thương. Thiệt hại về nhà ở: 01 nhà bị sập hoàn toàn; 135 nhà bị hư hại.Thiệt hại về nông, lâm nghiệp, thủy sản: Thiệt hại 866,80 ha lúa; 156,84 ha hoa màu; 36,55 ha cây trồng hàng năm; 38,05 ha ao bị tràn bờ; 1.070 kg cá bị cuốn trôi; thiệt hại 3 ha lâm nghiệp; 6.300 m3 gỗ bị thiệt hại; 11 con lợn, 30 con dúi.Thiệt hại về cơ sở hạ tầng, thủy lợi, giao thông: 01 điểm trường bị ảnh hưởng; 490 m kênh mương bị thiệt hại; 01 cái Cống bị hư hỏng; 36.536 m3 đất sạt lở; 1 cái Cầu bị hư hỏng; 171 điểm/đường giao thông bị sạt lở, ách tắc; 7 cái Cột điện bị đổ, gãy; 30 cái công trình khác bị hư hỏng. Ước tính tổng giá trị thiệt hại: 35.009 triệu đồng.Theo dự báo, trong thời gian tới thời tiết tiếp tục diễn biến phức tạp mưa giông bão. Nguy cơ xảy ra các đợt thiên tai, lũ lụt và lũ quét, gây sạt lở đất, đá ở vùng có độ dốc, ngập úng ở vùng trũng. Các địa phương, người dân cần chủ động các biện pháp để chủ động ứng phó, phòng, tránh.- Trong tháng, trên địa bàn tỉnh không ghi nhận vụ cháy nổ nào xảy ra. CỤC THỐNG KÊ TỈNH TUYÊN QUANG
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 7 năm 2024 tỉnh Tuyên Quang
- 10/11/2025 22:01
I. PHÁT TRIỂN KINH TẾ 1. Về sản xuất nông nghiệp (tính đến ngày 15/7/2024)1.1. Trồng trọt 1.1.1. Sản xuất vụ mùa năm 2024Tính đến ngày 15/7/2024, các địa phương trong tỉnh đã gieo trồng được một số cây chủ yếu sau như sau: Cây lúa: Diện tích đã gieo cấy 23.971 ha, đạt 98,6% kế hoạch (trong đó: 9.188 ha lúa lai; 14.783 ha lúa thuần); cây ngô đã trồng 2.618 ha, đạt 55,1%; cây đậu tương 11 ha, đạt 3,8%; cây lạc trồng 791 ha, đạt 67,3%.1.1.2 Cây lâu năm- Diện tích cây chuối hiện có trên địa bàn tỉnh 2.257 ha, tăng 1,11% (giảm 24,79 ha) so với cùng kỳ; sản lượng ước đạt 9.931,5 tấn, tăng 1,95% (tăng 189,50 tấn), sản lượng chủ yếu được thu mua của các doanh nghiệp chế biến trên địa bàn tỉnh và tiêu thụ tại các thị trường lân cận và các địa phương khác trong cả nước; cây vải diện tích hiện có 327 ha, sản lượng 1.828,17 tấn, tăng 3,11% (tăng 55,12 tấn) so với cùng kỳ.- Cây thanh long hiện có 343 ha, sản lượng thu hoạch ước đạt 268,66 tấn tăng 10,96% (tăng 26,54 tấn) so với cùng kỳ.- Cây chè hiện có 8.280 ha, sản lượng thu hoạch ước đạt 40.562,72 tấn, tăng 1,02% (tăng 409,56 tấn) so với cùng kỳ.1.2. Tình hình sinh vật gây hại - Cây hàng năm vụ mùa: Cây lúa mới cấy bị ảnh hưởng bởi ốc bươu vàng gây hại, mật độ trung bình 1-2con/m2, nơi cao 3-5 con/m2, cục bộ 6-8 con/m2. Trên cây ngô xuất hiện sâu keo mùa thu gây hại phổ biến 1-2 con/m2, nơi cao 3-4 con/m2.- Cây lâu năm: Cây chè: Rầy xanh, nhện đỏ, bọ trĩ gây hại, tỷ lệ hại nơi cao 5-13% số búp, bọ cánh tơ, bệnh thối búp, bệnh chám xám phát sinh gây hại, tỷ lệ hại trung bình 3-6%. Cây nhãn, vải (quả đã dày cùi); bọ xít nâu gây hại, mật độ trung bình 1-2 con/cành, nơi cao 3-4 con/cành, non - trưởng thành. Cây cam, bưởi, chanh sâu vẽ bùa, bọ trĩ, bệnh ghẻ sẹo, bệnh loét, bệnh vàng lá, thối rễ tỷ lệ hại trung bình 10-12%.- Cây lâm nghiệp (vườn ươm-1-5 tuổi): Bệnh chết héo gây hại rải rác trên cây keo 1-3 tuổi, nơi cao 1-3% số cây; Bệnh sâu ăn lá, bệnh than hư, phấn trắng, cháy lá, khô cành, gây hại tỷ lệ hại nơi cao 6-8% số cây.Trước tình hình sinh vật gây hại cây trồng nêu trên. Ngành chức năng đã tập trung hướng dẫn bà con nông dân khẩn trương bón thúc cho lúa đẻ nhánh, gieo trồng ngô, lạc, đậu tương hè thu đảm bảo diện tích kế hoạch; tăng cường kiểm tra đồng ruộng, phát hiện sâu bệnh hại cây trồng, kịp thời hướng dẫn cách phòng trừ, giảm thiệt hại do sâu bênh gây ra.1.3. Về chăn nuôi 1.3.1. Về số lượng đàn gia súc, gia cầmĐàn trâu 86.701 con, giảm 2,65% (giảm 2.364 con) so với cùng kỳ năm 2023; đàn bò 39.839 con, tăng 2,84% (tăng 1.102 con); đàn lợn 576.819 con, tăng 3,43% (tăng 19.129 con); đàn gia cầm 6.547 nghìn con, tăng 4,08% (tăng 255 nghìn con).1.3.2. Về sản phẩm đàn gia súc, gia cầmĐàn trâu sản lượng thịt hơi xuất chuồng đạt 706 tấn, tăng 6,47% (tăng 45,82 tấn) so với cùng kỳ; đàn bò đạt 145 tấn, tăng 7,67% (tăng 10,32 tấn); đàn lợn đạt 5.274 tấn, tăng 6,87% (tăng 338,87 tấn); đàn gia cầm đạt 1.484 tấn, tăng 7,31% (tăng 116,24 tấn).Đánh giá chung, tình hình chăn nuôi trên địa bàn tỉnh trong tháng nhìn tương đối thuận lợi, đàn trâu, bò ổn định; chăn nuôi lợn có dấu hiệu khả quan, giá thịt lợn hơi, gia cầm tiếp tục ổn định và có xu hướng tăng so với tháng trước, do nguồn cung không ổn định, người chăn nuôi bắt đầu có lãi, đây là điều kiện thuận lợi để người chăn nuôi tái đàn, tăng đàn, đảm bảo nguồn cung cho thị trường, đặc biệt là trong dịp Tết sắp tới. Tuy nhiên, tình hình bệnh dịch tả lợn Châu Phi tiếp tục diễn biến phức tạp và tiềm ẩn nguy cơ lan ra diện rộng; bên cạnh đó, các chi phí sản xuất (giá thức ăn chăn nuôi, con giống, thuốc thú y…) luôn biến động. Ngoài ra, đầu ra của sản phẩm và giá bán các loại sản phẩm không ổn định là những thách thức đối với các hộ chăn nuôi.1.4. Về công tác phòng chống dịch bệnh gia súc, gia cầm trong tháng 1.4.1. Công tác phòng chống và điều trị- Bệnh Dịch tả lợn Châu Phi: Trong tháng bệnh xảy ra tại 48 hộ/13 thôn/04 xã, với số gia súc buộc phải tiêu hủy là 245 con/7.293 kg, chủ yếu tại huyện Hàm Yên, Lâm Bình, Na Hang, Chiêm Hóa. Toàn bộ lợn mắc bệnh đã được đưa đi tiêu hủy theo đúng quy định về phòng chống dịch bệnh. Trước tình hình trên, ngành chức năng đã khẩn trương thực hiện các biện pháp khoanh vùng dập dịch, hỗ trợ thuốc, vôi bột cho các địa phương để tiêu độc khử trùng tại khu vực chuồng trại của các hộ gia đình chăn nuôi có dịch, cùng với đó là kiểm soát chặt chẽ việc vận chuyển gia súc, gia cầm, sản phẩm gia súc, gia cầm ra, vào địa bàn. Đồng thời tạm dừng hoạt động mua bán gia súc khu vực có dịch; thành lập các chốt kiểm dịch động vật tạm thời tại địa bàn có dịch và các xã có nguy cơ lây nhiễm cao nhằm ngăn chặn dịch phát sinh lan rộng.- Các bệnh truyền nhiễm khác: Trong tháng, trên địa bàn tỉnh xuất hiện rải rác các bệnh trên đàn gia súc như: Bệnh viêm phổi, bệnh ký sinh trùng đường máu, bệnh tiêu chảy, bệnh phù đầu...), phát hiện và điều trị khỏi: 743/766 con, chết 23 con (trong đó: Trâu, bò: 133/133 con; đàn lợn: 610/633 con). Ngành chức năng đã tăng cường kiểm tra, theo dõi giám sát chặt chẽ tình hình dịch bệnh trên địa bàn quản lý, tăng cường công tác phòng, chống dịch bệnh; thường xuyên theo dõi công tác thú y trên địa bàn. 1.4.2. Công tác kiểm dịch vận chuyển động vật, sản phẩm động vật - Kiểm dịch vận chuyển ngoại tỉnh: Đã kiểm tra cấp trên 248 giấy chứng nhận kiểm dịch vận chuyển trong đó: (51 chuyến vận chuyển 19.231 con gia súc, gia cầm và 66.000 con cá giống và 297 chuyến vận chuyển 3.879 tấn sữa tươi nguyên liệu và 2.560 kg SPĐV chế biến làm thức ăn chăn nuôi); cộng dồn từ đầu năm đến nay cấp 1.507 giấy chứng nhận kiểm dịch vận chuyển trong đó: (355 chuyến vận chuyển 94.920 con gia súc, gia cầm và 136.000 con cá giống và 1.152 chuyến vận chuyển 22.267 tấn sữa tươi nguyên liệu và 5.120 kg SPĐV chế biến làm thức ăn chăn nuôi) đi các tỉnh Bắc Ninh, Hà Nội, Hà Nam, Hà Giang, Nam Định...- Tại các Trạm Kiểm dịch động vật: Đã kiểm tra 159 lượt phương tiện, vận chuyển 153.150 con gia súc, gia cầm và 8.550 kg sản phẩm động vật; cộng dồn từ đầu năm đến nay đã kiểm tra trên 854 lượt phương tiện vận chuyển đủ thủ tục vận chuyển 823.522 con gia súc, gia cầm; và 17.100 kg sản phẩm động vật.- Kiểm soát giết mổ và kiểm tra vệ sinh thú y: Đã kiểm tra, đóng dấu: 175 con trâu, bò và 7.287 con lợn; lũy kế 874 con trâu, bò và 26.412 con lợn.1.5. Về sản xuất lâm nghiệp 1.5.1. Công tác trồng rừngTrong tháng, trên địa bàn tỉnh thời tiết mưa nhiều, độ ẩm cao, thuận lợi cho việc trồng rừng, đảm bảo cây trồng đạt tỷ lệ sống cao; ngành chức năng và chính quyền các địa phương đã kịp thời hỗ trợ cây giống, đôn đốc, hướng dẫn người dân và các chủ rừng tiến hành xử lý thực bì, triển khai trồng rừng trong khung thời vụ tốt nhất, đảm bảo kế hoạch đề ra. Toàn tỉnh đã trồng 1.165 ha rừng trồng tập trung, tăng 1,09% so với cùng kỳ năm 2023. Số cây lâm nghiệp trồng phân tán 2,9 nghìn cây giảm 58,92% (giảm 4,16 nghìn cây) so với cùng kỳ năm trước.1.5.2. Khai thác gỗ rừng trồngSản lượng gỗ khai thác trong tháng ước đạt 112.715 m3 gỗ, tăng 12,7% (tăng 12.699 m3) so với cùng kỳ năm 2023. Sản lượng gỗ khai thác chủ yếu là gỗ rừng trồng nguyên liệu.1.5.3. Công tác quản lý bảo vệ rừngCông tác quản lý, bảo vệ rừng được các cấp, các ngành quan tâm, đồng thời tuyên truyền, vận động nhân dân tích cực tham gia thực hiện kế hoạch trồng rừng năm 2024; tuyên truyền, phổ biến giáo dục cho người dân nâng cao nhận thức về các chính sách quản lý bảo vệ và phát triển rừng; tăng cường kiểm tra, ngăn chặn việc phá rừng, đốt rừng, triệt phá các đường dây buôn bán, vận chuyển lâm sản trái phép. Thường xuyên cảnh báo nguy cơ cháy rừng, đẩy mạnh tuyên truyền về công tác phòng cháy chữa cháy rừng đối với các chủ rừng; tăng cường hợp chặt chẽ với cơ quan chức năng và chính quyền cơ sở, các chủ rừng tăng kiểm tra, kiểm soát, phát hiện kịp thời, xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật các hành vi xâm hại rừng.Trong tháng, trên địa bàn tỉnh không xảy ra vụ cháy rừng nào; số vụ chặt phá rừng 2 vụ, diện tích rừng bị chặt phá 1,67 ha. Kiểm tra, phát hiện và xử lý 2,1 m3 gỗ các loại; phạt hành chính và bán thanh lý tài sản 53,08 triệu đồng (đã thu nộp ngân sách 44,08 triệu đồng).3. Sản xuất công nghiệp3.1. Chỉ số phát triển công nghiệp - Chỉ số sản xuất công nghiệp IIP trong tháng ước tính tăng 10,82% so với tháng trước, tăng 6,25% so với cùng kỳ, cụ thể của các ngành như sau: Ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 0,76%, tăng 59,52%; cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 1,11%, tăng 6,42%; khai khoáng tăng 3,99%, tăng 3,63%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 14,65%, giảm 3,24%.Một số ngành công nghiệp cấp II có chỉ số sản xuất tăng so với cùng kỳ năm trước như: Sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 78,01%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế) tăng 23,78%; in, sao chép bản ghi các loại tăng 12,5%; sản xuất sắt, thép, gang tăng 40,57%;...Tính chung trong 7 tháng, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 6,15% so với cùng kỳ năm trước, Chia theo từng ngành kinh tế cấp I như sau:+ Ngành khai khoáng tăng 0,51%, nguyên nhân chủ yếu là nhu cầu tiêu thụ những tháng gần đây tăng, làm tăng sản lượng khai thác đá, cát, sỏi, đất sét của các doanh nghiệp khai khoáng tăng cao so với cùng kỳ. + Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 1,18%, do một số ngành chế biến tăng như: Sản xuất chế biến thực phẩm tăng 15,21%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế) tăng 46,12%; sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 72,99%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 7,87%; sản xuất giấy và các sản phẩm từ giấy tăng 0,81%;...+ Ngành sản xuất và phân phối điện tăng 54,4% trong tháng trên địa bàn tỉnh xuất hiện các đợt mưa to kéo dài, lượng nước tích trữ tại các hồ thủy điện tăng khá, các nhà máy thủy điện đã đảm bảo lượng nước đủ để cung cấp điện ổn định, đảm bảo cung cấp điện phục vụ sản xuất và sinh hoạt của nhân dân.+ Ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 9,29%, do hoạt động thu gom, xử lý và tiêu hủy rác thải tăng.3.2. Sản phẩm công nghiệp chủ yếu Trong tháng, một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng so với cùng kỳ năm trước: Điện sản xuất đạt 305 triệu Kwh, tăng 60,46%; bột Felspat đạt 23.150 tấn, tăng 19,14%; xi măng đạt 94.200 tấn, tăng 179,86%; bột giấy đạt 7.639 tấn, tăng 7,47%; nước máy thương phẩm đạt 981.000 m3, tăng 25,60%; hàng may mặc xuất khẩu đạt 1.348 nghìn sản phẩm, tăng 29,03%; gỗ tinh chế đạt 5.258 m3, tăng 31,27%;.... Tuy nhiên, cũng có một số sản phẩm công nghiệp giảm so với cùng kỳ như: Điện thương phẩm đạt 117 triệu Kwh, giảm 1,33%; bột Barit đạt 2.000 tấn, giảm 68,62%; giấy đế xuất khẩu đạt 900 tấn, giảm 22,21%;…- Tính chung trong 7 tháng đầu năm 2024, một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng khá so với cùng kỳ năm trước: Điện thương phẩm tăng 1,36%; điện sản xuất tăng 54,30%; đường kính tăng 54,38%; chè chế biến tăng 4,16%; xi măng tăng 13,82%; giấy đế xuất khẩu tăng 9,97%; bột giấy tăng 15,95%; giày da tăng 21,51%,...Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu giảm so với cùng kỳ năm trước như: bột Barit giảm 55,89%; bột Felspat giảm 22,82%; hàng may mặc xuất khẩu giảm 10,15%,… Đánh giá chung, sản xuất công nghiệp trong 7 tháng đầu năm 2024 tiếp tục giữ được xu hướng tăng trưởng tích cực, tháng sau tốt hơn tháng trước, sản lượng và đơn hàng một số sản phẩm thuộc nhóm ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng trưởng khá; các cấp, các ngành trong tỉnh đã triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp nắm bắt tình hình, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, hỗ trợ tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp,... Qua đó, giúp doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất, kinh doanh, đặc biệt là những doanh nghiệp chủ lực, có đóng góp lớn vào giá trị sản xuất của ngành công nghiệp và tăng thu ngân sách địa phương và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của tỉnh.4. Vốn đầu tư, xây dựng4.1. Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước thực hiện tháng 7 đạt 508 tỷ đồng, tăng 13,65% so với tháng trước, tăng 27,38% so cùng kỳ. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 455 tỷ đồng, tăng 11,52%, tăng 29,85%; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện đạt 50 tỷ đồng, tăng 35,13%, tăng 8,22%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã đạt 2 tỷ đồng giữ nguyên so với tháng trước và tăng 1,0% so với cùng kỳ.Tính chung trong 7 tháng, nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 2.576 tỷ đồng, tăng 39,43% so với cùng kỳ. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 2.299 tỷ đồng, tăng 40,77%; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện đạt 259 tỷ đồng, tăng 30,82%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã đạt 18 tỷ đồng, tăng 9,46%.4.2. Hoạt động xây dựngVới quyết tâm thực hiện mục tiêu giải ngân vốn đầu tư công là nhiệm vụ chính trị trọng tâm trong năm 2024, là động lực quan trọng nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của tỉnh. Tỉnh đã triển khai các giải pháp đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công, nhất là những chương trình, dự án hạ tầng trọng điểm, tháo gỡ dứt điểm các khó khăn, vướng mắc, nhất là trong công tác giải phóng mặt bằng đủ điều kiện khởi công mới các công trình, dự án. Chủ động đôn đốc các nhà thầu tập trung nhân lực, vật tư, máy thi công, tăng ca để đẩy nhanh tiến độ thi công, nâng cao chất lượng các công trình, dự án sớm hoàn thành trước tiến độ đề ra.Năm 2024, Tuyên Quang được giao tổng kế hoạch vốn đầu tư công là 6.113,18 tỷ đồng, trong đó vốn năm 2023 kéo dài sang năm 2024 là 355,16 tỷ đồng; vốn được phân bổ, giao theo kế hoạch năm 2024 là 5.758,02 tỷ đồng. Tính đến ngày 19/7/2024, tổng số vốn vốn đầu tư công đã giải ngân được là trên 1.825,26 tỷ đồng, đạt 30% kế hoạch, trong đó: Nguồn vốn kế hoạch năm 2024 giải ngân được 1.767,35 tỷ đồng, đạt 30,69%; nguồn vốn năm 2023 kéo dài thời gian thực hiện và giải ngân sang năm 2024 giải ngân được 57,9 tỷ đồng, đạt 16,30%.5. Thương mại và Dịch vụTrong tháng, thị trường hàng sôi động, nhu cầu mua sắm, vui chơi, giải trí tăng, nguồn cung hàng hóa, dồi dào, ổn định, không có biến động lớn về giá cả; các doanh nghiệp đã triển khai nhiều chương trình khuyến mại, giảm giá hấp dẫn để kích cầu tiêu dùng của người dân. Đây cũng là thời điểm cao điểm của mùa du lịch hè nên hoạt động thương mại diễn ra sôi động.Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 7 ước đạt 2.771 tỷ đồng, tăng 0,76% so với tháng trước, tăng 12,64% so với cùng kỳ. Tính chung 7 tháng đầu năm 2024, tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước ước đạt 18.669 tỷ đồng, tăng 17,89% so với cùng kỳ.5.1. Doanh thu bán lẻ hàng hóa Doanh thu bán lẻ hàng hóa trong tháng ước đạt 2.428 tỷ đồng, tăng 0,31% so với tháng trước, tăng 11,17% so với tháng cùng kỳ. Trong đó, một số nhóm hàng tăng so với tháng trước, tăng so với cùng kỳ, cụ thể như sau: Gỗ và vật liệu xây dựng đạt 231 tỷ đồng, tăng 0,98%, tăng 2,7%; phương tiện đi lại, trừ ô tô con đạt 85 tỷ đồng, tăng 1,38%, tăng 59,19%; xăng, dầu các loại đạt 298 tỷ đồng, tăng 1,44%, tăng 17,14%; nhiên liệu khác (trừ xăng dầu) đạt 47 tỷ đồng, tăng 7,05%, tăng 54,35%; đá quý, kim loại quý và sản phẩm đạt 43 tỷ đồng, tăng 0,37%, tăng 89,11%; hàng hóa khác đạt 343 tỷ đồng, tăng 0,34%, tăng 89,19%;… Ở chiều ngược lại, một số nhóm hàng giảm so với tháng trước như: Hàng may mặc đạt 142 tỷ đồng, giảm 1,79%; vật phẩm, văn hóa, giáo dục đạt 28 tỷ đồng, giảm 7,65%,… Tính chung trong 7 tháng, tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 16.422 tỷ đồng, tăng 17,52% so với cùng kỳ.5.2. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ khác- Trong tháng, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 231 tỷ đồng, tăng 4,52% so với tháng trước, tăng 24,46% so với cùng kỳ. Trong đó: Dịch vụ lưu trú đạt 23 tỷ đồng, tăng 4,54%, tăng 32,23%; ăn uống đạt 207 tỷ đồng, tăng 4,02%, tăng 23,50%. Tính chung trong 7 tháng, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 1.484 tỷ đồng, tăng 14,80% so với cùng kỳ.- Doanh thu du lịch lữ hành trong tháng ước đạt 1 tỷ đồng, tăng 10,53% so với tháng trước, tăng 105,12% so với cùng kỳ. Tính chung trong 7 tháng, doanh thu du lịch lữ hành ước đạt 3 tỷ đồng, tăng 158,85% so với cùng kỳ.- Doanh thu dịch vụ khác trong tháng ước đạt 112 tỷ đồng, tăng 2,75% so với tháng trước, tăng 23,29% so với cùng kỳ. Trong đó: Dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 5 tỷ đồng, tăng 25% so với tháng trước, tăng 48,95% so với cùng kỳ; dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí đạt 38 tỷ đồng, tăng 7,53%, tăng 79,74 %. Tính chung trong 7 tháng, doanh thu dịch vụ khác ước đạt 763 tỷ đồng, tăng 33,94% so với cùng kỳ.5.3. Giá cả- Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trong tháng tăng 4,52% so với cùng kỳ năm trước, tăng 3,6% so với tháng 12 năm trước, tăng 1,72% so với tháng trước. Tính chung trong 7 tháng, CPI bình quân tăng 3,82% so với cùng kỳ.Trong số 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính thì có 8 nhóm tăng giá so với tháng trước, 3 nhóm giảm giá so với tháng trước, cụ thể của các nhóm như sau:Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,55%, Trong đó, lương thực tăng 0,28%, thực phẩm tăng 0,69%, ăn uống ngoài gia đình giữ nguyên, nguyên nhân làm nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng là nhóm bột mì và ngũ cốc khác tăng 2,62% (do giá nguyên liệu bột mì, ngô, khoai và sắn tăng). Trong đó, giá gạo giảm 0,03% (do đã thu hoạch lúa vụ Đông Xuân nên giá lúa, gạo trên địa bàn tỉnh giảm hơn tháng trước); nhóm thực phẩm tăng 0,69%, trong đó nhóm thịt gia súc tăng 0,91%, thịt gia cầm tăng 0,1%, trứng các loại tăng 5,74% (do nhu cầu tiêu thụ các nhóm sản phẩm này tăng); đồ uống và thuốc lá tăng 0,35% (do nhu cầu tiêu thụ các loại rượu, và thuốc lá của người dân tăng); may mặc, mũ nón và giày dép tăng 0,44% (do nhu cầu tiêu thụ các loại vải, quần áo may sẵn và giày dép của người dân tăng); nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 1,6% (do nhu cầu sử dụng nước sinh hoạt của người dân tăng cùng với đó giá thuê nhà ở tăng cao); thuốc và dịch vụ y tế tăng 11,65% (nguyên nhân chủ yếu do giá dịch vụ y tế tăng 17,5%). Trong đó, dịch vụ khám chữa bệnh ngoại trú tăng 7,89% và khám chữa bệnh nội trú tăng 24,39% (nguyên nhân chủ yếu tăng là tỉnh đã áp dụng Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh quy định mức giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh không thuộc phạm vi thanh toán của Quỹ Bảo hiểm y tế mà không phải là dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh theo yêu cầu trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của Nhà nước trên địa bàn tỉnh quản lý); giao thông tăng 1,69% nguyên nhân chủ yếu giá nhiên liệu tăng 3,74% do Tập đoàn xăng dầu Việt Nam điều chỉnh mức giá bán lẻ xăng, dầu (xăng tăng 3,81%, dầu diezel tăng 4,38%); giáo dục tăng 0,04% (do nhu cầu mua sắm đồ dùng học tập và văn phòng phẩm của học sinh tăng để chuẩn bị bước vào năm học mới); hàng hóa và dịch vụ khác tăng 2,89% (nguyên nhân tăng là nhóm bảo hiểm y tế tăng 29,97% bắt đầu từ 1/7, lương cơ sở tăng lên 2,34 triệu đồng nên mức đóng bảo hiểm y tế của một số nhóm đối tượng sẽ được điều chỉnh tăng).Nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình giảm 0,1% do nhu cầu mua sắm thiết bị dùng trong gia đình của người dân giảm; bưu chính viễn thông giảm 0,03%; văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,08% do nhu cầu sử dụng dịch vụ văn hóa, vui chơi giải trí của người dân giảm.- Chỉ số giá vàng tăng 33,73% so với cùng kỳ năm trước, tăng 21,92% so với tháng 12 năm trước, tăng 0,98% so với tháng trước. Tính chung trong 7 tháng đầu năm 2024, giá vàng tăng 26,9% so với cùng kỳ. - Chỉ số giá đô la Mỹ tăng 6,87% so với cùng kỳ năm trước, tăng 4,20% so với tháng 12 năm trước, giảm 0,01% so với tháng trước. Tính chung trong 7 tháng đầu năm 2024, tăng 5,83% so với cùng kỳ.5.4. Tình hình xuất, nhập khẩu hàng hóa Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa trong tháng ước đạt 21 triệu USD, đạt 17% kế hoạch, giảm 33,48% so với cùng kỳ. Trong đó, xuất khẩu ước đạt 9,8 triệu USD, giảm 38,64%; nhập khẩu ước đạt 5,5 triệu USD.+ Một số mặt hàng xuất khẩu chủ yếu trong tháng tăng so với cùng kỳ như: Chè xuất khẩu ước đạt 430 tấn, tăng 5,1%; giấy đế xuất khẩu đạt 350 tấn, tăng 29,6%; hàng dệt may đạt 950 nghìn sản phẩm, tăng 41,1%; phong bì đạt 300 nghìn sản phẩm, tăng 55,9%,…Nhóm hàng giảm so với cùng kỳ như: Bột Barit đạt 1.000 tấn, giảm 83,2%.+ Mặt hàng nhập khẩu chủ yếu trong tháng tăng so với cùng kỳ như: Máy móc, thiết bị, phụ tùng, hàng hóa khác tăng 119,6%; vải may mặc, phụ liệu may mặc, phụ liệu khác tăng 31,0%. Tính chung trong 7 tháng đầu năm 2024, kim ngạch xuất, nhập khẩu ước đạt 113,5 triệu USD, đạt 43,65% kế hoạch, giảm 18,23% so với cùng kỳ. Trong đó, xuất khẩu ước đạt 74,4 triệu USD, giảm 11,9%, nhập khẩu ước đạt 39,1 triệu USD, giảm 28,1%. Một số mặt hàng xuất khẩu tiếp tục tăng so với cùng kỳ như: Chè (tăng 105,2%); giấy đế xuất khẩu (tăng 33,8%); hàng dệt may (tăng 3,7%); phong bì (tăng 38,9%),... Tuy nhiên, cũng có một số mặt hàng giảm so với cùng kỳ như: Bột giấy (giảm 49,9%); đũa gỗ xuất khẩu (giảm 46,5%); antimony thỏi (giảm 33,2%).6. Vận tải hàng hóa và hành khách 6.1. Doanh thu vận tải tải kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải - Doanh thu vận tải trong tháng ước đạt 345 tỷ đồng, giảm 5,45% so với tháng trước, tăng 16,36% so với cùng kỳ. Trong đó, vận tải hành khách đạt 58 tỷ đồng, giảm 2,06%, tăng 9,79%; vận tải hàng hóa đạt 287 tỷ đồng, giảm 6,11%, tăng 17,69%; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 0,45 tỷ đồng, giảm 4,97%, tăng 48,15%; hoạt động bưu chính, chuyển phát đạt 0,30 tỷ đồng, giảm 3,38%, tăng 68,65%.- Tính chung trong 7 tháng đầu năm 2024, doanh thu vận tải kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 1.810 tỷ đồng, tăng 25,69% so với cùng kỳ. Trong đó: vận tải hành khách đạt 301 tỷ đồng, tăng 20,16%; vận tải hàng hóa đạt 1.506 tỷ đồng, tăng 26,85%; dịch vụ hỗ trợ vận tải kho bãi đạt 2,1 tỷ đồng, tăng 26,95%; bưu chính, chuyển phát đạt 1,3 tỷ đồng, tăng 34,29%.6.2. Vận tải hành khách và hàng hóa- Trong tháng khối lượng hành khách vận chuyển ước đạt 1 triệu lượt hành khách, giảm 2,01% so với tháng trước, tăng 6,99% so với cùng kỳ; khối lượng hành khách luân chuyển ước đạt 76 triệu lượt hành khách.km, giảm 1,53%, tăng 12,44%. Tính chung 7 tháng đầu năm 2024, khối lượng hành khách vận chuyển ước đạt 8 triệu lượt hành khách, tăng 18,04% so với cùng kỳ; khối lượng hành khách luân chuyển ước đạt 545 triệu lượt hành khách.km, tăng 17,92%.- Khối lượng hàng hóa vận chuyển trong tháng ước đạt 2 triệu tấn, giảm 5,13% so với tháng trước, tăng 25,87% so với cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 128 triệu tấn.km, giảm 5,8%, tăng 29,79%. Tính chung 7 tháng đầu năm 2024, khối lượng hàng hóa vận chuyển ước đạt 14 triệu tấn, tăng 24,95% so với cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 923 triệu tấn.km, tăng 29,64%.7. Về du lịch - Tiếp tục triển khai các giải pháp quảng bá, truyền thông về văn hóa và du lịch tỉnh Tuyên quang “ Nơi vẻ đẹp hội tụ” trên các trang, mạng xã hội của tỉnh, nhằm giới thiệu về mảnh đất và con người Tuyên Quang; xây dựng các sản phẩm du lịch đặc trưng của các vùng, miền, cùng với đó là đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến, giới thiệu về các sản phẩm du lịch, các di tích văn hóa - lịch sử tại các khu, điểm du lịch trên địa bàn tỉnh.- Trong tháng các khu, điểm du lịch trên địa bàn tỉnh, thu hút được 106.000 lượt khách du lịch. Tổng thu từ khách du lịch đạt 135 tỷ đồng. Tính chung trong 7 tháng đầu năm 2024, thu hút được 1.966.000 lượt khách đạt 71% kế hoạch, tăng 4% so với cùng kỳ; tổng thu đạt 2.406 tỷ đồng; đạt 67% kế hoạch, tăng 13% so với cùng kỳ).II. LĨNH VỰC VĂN HÓA - XÃ HỘI 1. Công tác lao động, việc làm, giáo dục nghề nghiệp- Tỉnh đã tổ chức Ngày hội tư vấn hướng nghiệp và giới thiệu việc làm năm 2024 với sự tham gia của gần 1.600 người lao động, học sinh, sinh viên trên địa bàn tỉnh. Tham gia sự kiện có 23 đơn vị, doanh nghiệp, trường đại học, cao đẳng trong và ngoài tỉnh với các gian hàng tư vấn, giới thiệu hàng chục nghìn vị trí việc làm cần tuyển dụng và học nghề thuộc lĩnh vực sản xuất linh kiện điện tử, chế biến gỗ xuất khẩu, may mặc, du lịch, xuất khẩu lao động… Hoạt động trên nhằm giúp kết nối các đơn vị, doanh nghiệp với người lao động, học sinh, sinh viên trên địa bàn tỉnh. Từ đó tăng cơ hội tìm kiếm việc làm, học nghề, góp phần giải quyết việc làm mới, nâng cao thu nhập và giảm nghèo bền vững trên địa bàn tỉnh.- Trong tháng toàn tỉnh có 1.725 lao động; luỹ kế 7 tháng đầu năm đến nay toàn tỉnh có 18.600 lao động được tạo việc làm, đạt 82,5% kế hoạch và tăng 7,8% so với cùng kỳ (Trong đó: Lao động làm việc trong các ngành kinh tế tại tỉnh là 11.601 người; Lao động đi làm việc các tỉnh, thành phố 6.099 người; lao động đi làm việc nước ngoài theo hợp đồng 900 người).2. Công tác đảm bảo chế độ người có công với cách mạng, bảo trợ, an sinh xã hội và phòng chống các tệ nạn2.1. Công tác đối với người có công với cách mạng Trong tháng, nhân dịp kỷ niệm 77 năm Ngày Thương binh – Liệt sĩ (27/7/1947 – 27/7/2024) tỉnh đã tổ chức các đoàn thăm hỏi, tặng quà người có công với cách mạng, các đối tượng chính sách trên địa bàn tỉnh. Tiếp tục thực hiện đúng, đủ, kịp thời các chế độ, chính sách đối với người có công với cách mạng và thân nhân người có công; đẩy mạnh thực hiện các phong trào, hoạt động "Đền ơn, đáp nghĩa", "Uống nước nhớ nguồn", nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người có công.2.2. Công tác bảo trợ, an sinh xã hội và phòng chống các tệ nạn - Tiếp tục thực hiện tốt các chính sách trợ giúp xã hội, thường xuyên rà soát, nắm chắc tình hình đời sống nhân dân, hỗ trợp kịp thời các hộ gia đình, cá nhân gặp khó khăn do bị ảnh hưởng thiên tai, tại nạn rủi ro. Duy trì trợ cấp hàng tháng cho trên 38.000 đối tượng bảo trợ xã hội. - Trong tháng Cơ sở cai nghiện tỉnh đã tiếp nhận 13 học viên cai nghiện ma túy, cấp giấy chứng nhận hoàn thành cai nghiện cho 07 học viên, đưa ra khỏi danh sách quản lý của Cơ sở cai nghiện 01 học viên đang trốn đã bị bắt tạm giam; lũy kế từ đầu năm đến nay, Cơ sở đã tiếp nhận 56 học viên; cấp giấy chứng nhận hoàn thành cai nghiện cho 69 học viên; tại thời điểm báo cáo, Cơ sở cai nghiện đang quản lý 150 học viên (cai nghiện bắt buộc 138 học viên, cai nghiện tự nguyện 04 học viên, 05 người nghiện đang trong thời gian làm thủ tục vào cai nghiện bắt buộc), trong đó: Số có mặt 148 học viên; trốn cai 02 học viên.3. Hoạt động giáo dục và đào tạo- Theo kết quả chính thức điểm thi tốt nghiệp THPT năm 2024 đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo công bố, tỉnh đã đứng đầu toàn quốc điểm thi môn Hóa với trung bình 7,52 điểm và môn Sinh với trung bình 7,32 điểm; theo phổ điểm trung bình Tuyên Quang xếp thứ 22 toàn quốc, xếp thứ 3/14 tỉnh miền núi phía Bắc với điểm trung bình là 6,75 điểm. Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm nay Tuyên Quang có hơn 9.000 thí sinh đăng ký dự thi. Có 117 thí sinh đạt điểm 10, trong đó có 47 thí sinh đạt điểm 10 môn Địa lý, 32 thí sinh đạt điểm 10 môn Giáo dục công dân, 24 thí sinh đạt điểm 10 môn Lịch sử, 10 thí sinh đạt điểm 10 môn Hóa học và 4 thí sinh đạt điểm 10 môn Ngoại ngữ. Hiện các thí sinh đang làm thủ tục đăng ký, điều chỉnh nguyện vọng xét tuyển đại học trên hệ thống của Bộ Giáo dục và Đào tạo, dự kiến thời gian kéo dài đến hết ngày 30-7.Tại kỳ thi chọn học sinh giỏi các trường THPT chuyên khu vực duyên hải và đồng bằng Bắc bộ lần thứ XV năm 2024 được tổ chức tại Trường THPT Chuyên Nguyễn Trãi (TP Hải Dương). Trường THPT Chuyên Tuyên Quang tham gia và có 45/54 học sinh tham gia đoạt giải.Trong tháng, các trường THCS, Tiểu học, Mầm non trên địa bàn tỉnh đã bắt đầu tiến hành tuyển sinh năm học 2024 - 2025. Theo kế hoạch, các trường sẽ tuyển 100% trẻ 5 tuổi (sinh năm 2019) vào học mầm non; tuyển 100% trẻ 6 tuổi (sinh năm 2018) vào học lớp 1 và tuyển 100% học sinh lớp 5 đã hoàn thành chương trình tiểu học vào học lớp 6.Để có được các thành quả đáng tự hào trên, là tỉnh đã triển khai hiệu quả các giải pháp nâng cao chất lượng dạy và học. Trong đó chú trọng nâng cao chất lượng giáo dục đại trà, giáo dục mũi nhọn; giao điểm trung bình theo từng môn thi tốt nghiệp THPT cho các đơn vị; đồng thời đẩy mạnh hoạt động của Tổ tư vấn chuyên môn thông qua hình thức trực tiếp và trực tuyến để kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc nhằm nâng cao chất lượng giáo dục của các nhà trường; tích cực ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và dạy học,… 4. Hoạt động y tế - Trong tháng, thời tiết diễn biến phức tạp nắng nóng, xen kẽ các đợt mưa rào và giông lốc cục bộ có nơi mưa rất to, nguy cơ gia tăng, bùng phát các dịch bệnh truyền nhiễm như: Sởi, sốt xuất huyết, tay chân miệng, bạch hầu, ho gà và một số bệnh truyền nhiễm khác. Để chủ động phòng, chống các bệnh dịch truyền nhiễm bùng phát trong mùa hè, tỉnh đã triển khai nhiều giải pháp phòng, chống dịch; chủ động theo dõi, giám sát, phát hiện sớm các trường hợp nghi mắc bệnh, các ổ dịch tại cộng đồng và các cơ sở y tế; thực hiện cách ly, kịp thời xử lý triệt để ổ dịch không để bùng phát dịch trong cộng đồng; tăng cường lấy máu xét nghiệm xác định các tác nhân gây bệnh, không để lây lan, bùng phát lan rộng ra cộng đồng; kịp thời khoanh vùng, xử lý triệt để các ổ dịch (nếu có), không để dịch bùng phát trở lại và hạn chế tối đa xảy ra nguy cơ dịch chồng dịch. - Thường xuyên cập nhật thông tin về tình hình dịch bệnh và khuyến cáo người dân thực hiện các yêu cầu phòng chống dịch theo quy định; tuyên truyền khuyến khích người dân thực hiện đeo khẩu trang tại những nơi đông người và khi đi lại, di chuyển trên các phương tiện công cộng. 5. Hoạt động văn hoá - thể dục, thể thao- Lĩnh vực văn hoá: Tỉnh đã tham gia hội thi Diễn xướng dân gian văn hóa các dân tộc tại tỉnh Quảng Ngãi; tổ chức các hoạt động biểu diễn nghệ thuật quần chúng phục vụ nhân dân kỷ niệm 77 năm ngày Thương binh – Liệt sỹ (21/7/1947 – 27/7/2024). Tiếp tục đẩy mạnh phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” gắn với chương trình xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh được triển khai sâu rộng.- Về thể dục thể thao: Đã tổ chức thành công giải cầu lông công nhân, viên chức, lao động và lực lượng vũ trang tỉnh năm 2024 (kết quả: BTC đã trao17 bộ Huy chương, với 51 huy chương vàng, bạc, đồng cho 5 nội dung thi đấu tại giải); tham gia giải cầu lông các nhóm tuổi thiếu niên quốc gia năm 2024; tham gia giải Vô địch Đông Nam Á trẻ, U19, U23 và Vô địch Đông Nam Á tại Việt Nam ở nội dung Canoeing thuyền hỗn hợp U23, thuyền đơn U23, thuyền đôi, đoạt 01 huy chương vàng, 03 huy chương bạc, 01 huy chương đồng, được phong 2 đẳng cấp kiện tướng quốc tế.6. Tình hình an toàn giao thông, thiên tai và phòng chống cháy, nổTỉnh tiếp tục triển khai đợt cao điểm tuần tra, kiểm soát, xử lý nghiêm các hành vi, vi phạm trật tự, an toàn giao thông, nhất là vi phạm về nồng độ cồn khi lái xe; vi phạm tốc độ, tránh, vượt sai quy định; vi phạm chở hàng quá tải trọng; phương tiện không đảm bảo an toàn kỹ thuật; không đội mũ bảo hiểm khi đi mô tô, xe máy, xe đạp điện; tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát trên các tuyến cao tốc, tuyến quốc lộ, đường tỉnh, đường huyện, là những nơi thường xảy ra tai nạn giao thông. 6.1. Về an toàn giao thông trong thángToàn tỉnh đã xảy ra 10 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 4 người và làm bị thương 6 người. So với tháng trước số vụ tai nạn giảm 28,57%; số người chết giảm 20%; số người bị thương giảm 45,45%. So với tháng cùng kỳ số vụ tai nạn giao thông giảm 16,67%; số người tăng 100%; số người bị thương giảm 50%.Tính chung 7 tháng đầu năm 2024, toàn tỉnh đã xảy ra 93 vụ tai nạn giao thông; làm chết 39 người và làm bị thương 72 người. So với cùng kỳ năm trước: Số vụ tai nạn giao thông giảm 3,12%; số người chết tăng 30%; số người bị thương giảm 13,25%.6.2. Về thiên tai, cháy, nổ- Trong tháng, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra các đợt mưa giông, lốc kèm theo mưa lớn và xuất hiện các hiện tượng sấm, sét, mưa đá và gió giật mạnh đã gây ra những thiệt hại về tài sản hoa màu của người dân, làm ảnh hưởng đến tình hình sản xuất và đời sống của nhân dân, cụ thể như sau:Thiệt hại về người: Không có.Thiệt hại về nhà ở: 12 nhà bị tốc mái và hư hỏng nặng.Thiệt hại về nông nghiệp và công trình giao thông: Giông lốc đã làm 17,44 ha lúa bị ảnh hưởng; diện tích ao bị tràn bờ là 0,51 ha; 04 con gia súc và 65 con gia cầm bị thiệt hại,…. Ước tính tổng giá trị thiệt hại của các đợt thiên tai là 21.275 triệu đồng.Theo dự báo, trong thời gian tới thời tiết tiếp tục diễn biến phức tạp mưa giông bão. Nguy cơ xảy ra các đợt thiên tai, lũ lụt và lũ quét, gây sạt lở đất, đá ở vùng có độ dốc, ngập úng ở vùng trũng. Các địa phương, người dân cần chủ động các biện pháp để chủ động ứng phó, phòng, tránh.- Trong tháng, trên địa bàn tỉnh không ghi nhận vụ cháy nổ nào xảy ra. CỤC THỐNG KÊ TUYÊN QUANG
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 6 và 6 tháng đầu năm 2024 tỉnh Tuyên Quang
- 10/11/2025 21:56
Năm 2024, là năm bản lề, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII và năm 2024 cũng được coi là năm tăng tốc, bứt phá, có ý nghĩa trong việc thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021-2025.Với quyết tâm cao trong lãnh chỉ đạo và điều hành, căn cứ vào các Kết luận, Nghị quyết của Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ. Ngay từ đầu năm, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo sát sao của Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân tỉnh, sự điều hành tập trung, linh hoạt của Ủy ban nhân dân tỉnh đã tập trung chỉ đạo các cấp, các ngành thực hiện đồng bộ, quyết liệt các giải pháp của Chính phủ về chỉ đạo, điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2024; triển khai quyết liệt các giải pháp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, duy trì và củng cố ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế, ổn định hệ thống tài chính; cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, đẩy mạnh cải cách hành chính, tập trung tháo gỡ các khó khăn, điểm nghẽn, khơi thông mọi nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội, thúc đẩy sản xuất kinh doanh, môi trường đầu tư được củng cố. Bên cạnh những thời cơ, thuận lợi, kinh tế của tỉnh vẫn còn những tồn tại, hạn chế như: Công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng thực hiện các dự án trọng điểm trên địa bàn còn chậm; hoạt động doanh nghiệp còn gặp nhiều khó khăn thách thức, số doanh nghiệp rút khỏi thị trường còn cao; xuất, nhập khẩu đối mặt với nhiều thách thức, do suy giảm nhu cầu ở các thị trường xuất khẩu lớn của tỉnh, làm cho các sản phẩm xuất khẩu hàng hóa chủ lực giảm, ảnh hưởng lớn đến tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp; một số diện tích cây trồng bị sâu bệnh gây hại làm ảnh hưởng đến năng suất; bệnh dịch tả lợn Châu Phi tái phát tại một số huyện trên địa bàn tỉnh; chăn nuôi gia cầm còn gặp khó do thị trường bấp bênh, thị trường tiêu thụ không ổn định; tình hình thời tiết có nhiều diễn biến phức tạp, cùng ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đã gây thiệt hại không nhỏ cho sản xuất nông nghiệp của tỉnh,...nhu cầu đầu tư phát triển trong tỉnh lớn nhưng nguồn lực còn hạn hẹp.Kết quả đạt được cụ thể ở các ngành, lĩnh vực như sau:I. PHÁT TRIỂN KINH TẾ 1. Tăng trưởng kinh tế 6 tháng đầu năm 20241.1. Tốc độ tăng trưởng GRDP trên địa bàn (giá so sánh 2010) 6 tháng đầu năm 2024Tốc độ tăng trưởng GRDP (giá so sánh năm 2010) trên địa bàn tỉnh tăng 8,84% so với cùng kỳ năm 2023, tiếp tục có xu hướng tăng trưởng tích cực (quý I tăng 9,12%, quý II tăng 8,6%), đây cũng là mức tăng trưởng tương đối ấn tượng trong bối cảnh kinh tế cả nước còn gặp nhiều khó khăn, thách thức, cụ thể của các lĩnh vực như sau: 1.1.1. Khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 5,21%; đóng góp 1,33 điểm phần trăm trong mức tăng chung của GRDP. Trong đó: Ngành nông nghiệp tăng 5,16%, đóng góp 0,96 điểm phần trăm; ngành lâm nghiệp tăng 5,17%, đóng góp 0,31 điểm phần trăm; ngành thủy sản tăng 6,54%, đóng góp 0,06 điểm phần trăm. Để đạt được kết quả đó tỉnh đã triển khai các giải pháp chuyển đổi tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, nâng cao giá trị gia tăng và bền vững, đáp ứng theo nhu cầu của thị trường, thích ứng với biến đổi khí hậu,... nâng cao thu nhập và đời sống cho dân cư nông thôn, xây dựng nông nghiệp, nông thôn phát triển. Với trọng tâm là lấy phát triển kinh tế nông nghiệp là bệ đỡ và là động lực tăng trưởng quan trọng, thúc đẩy phát triển công nghiệp, thương mại và dịch vụ, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô.Sản lượng lương thực đạt trên 176.408 tấn, tăng 0,75% (tăng 1.305,23 tấn) so với cùng kỳ, trong đó: Lúa 111.712 tấn, giảm 1,24% (giảm 1.399,89 tấn); ngô 64.696 tấn, tăng 4,36% (tăng 2.705,12 tấn); khoai lang 8.539 tấn, giảm 17,48% (giảm 1.808,33 tấn); lạc 9.454,41 tấn, giảm 2,33% (giảm 97,67 tấn); đậu tương 191,86 tấn, giảm 32,31% (giảm 48,54 tấn),… chuối 8.969 tấn, tăng 1,02% (tăng 90,18 tấn); xoài 1.022 tấn, tăng 12,62% (tăng 114,57 tấn); chè đạt 33.717 tấn, tăng 1,02% (tăng 340,06 tấn),… sản lượng thịt hơi xuất chuồng ước đạt 50.326 tấn, tăng 6,49% (tăng 3.066,17 tấn); thủy sản ước đạt 5.516 tấn, tăng 6,4% (tăng 331,77 tấn); sản lượng gỗ khai thác đạt 600.334 m3, tăng 2,74% (tăng 15.992,1 m3).1.1.2. Khu vực Công nghiệp, xây dựng tiếp tục có nhiều tín hiệu khởi sắc và có những bước tăng trưởng ấn tượng, với mức tăng 13,54%, đóng góp vào tốc độ tăng trưởng chung là 3,77% điểm phần trăm. Trong đó:- Ngành công nghiệp, tăng 13,23%, với mức đóng góp 2,51 điểm phần trăm (trong đó: Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 15,99%, đóng góp 2,21 điểm phần trăm; sản xuất và phân phối điện tăng 8,25%, đóng góp 0,3 điểm phần trăm; cung cấp nước tăng 13,84%, đóng góp 0,05 điểm phần trăm; khai khoáng giảm 5,36%, tăng trưởng âm 0,06 điểm phần trăm). Một số sản phẩm chủ yếu tăng khá so với cùng kỳ như: Điện sản xuất tăng 38,7%; Thép cây, thép cuộn tăng 10,9%; Xi măng tăng 11,4%; Đường kính tăng 54,4%; Giấy đế xuất khẩu tăng 13,3%; Bột giấy tăng 12,5%; Gỗ tinh chế tăng 11%; Giày da tăng 27,1%,...- Ngành xây dựng tăng 14,2%, đóng góp 1,26% điểm phần trăm trong khu vực. Với mục tiêu “lấy đầu tư công dẫn dắt đầu tư tư”, phát huy vai trò “vốn mồi” của đầu tư công để kích thích sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Tỉnh đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ xây dựng dự án đường cao tốc Tuyên Quang – Hà Giang (giai đoạn 1); đường từ Thành phố Tuyên Quang đi Khu du lịch suối khoáng Mỹ Lâm; xây dựng cầu và đường tránh thị trấn Sơn Dương; đường từ Khu du lịch suối khoáng Mỹ Lâm đến Quốc lộ 2D; Bệnh viện đa khoa tỉnh, Trường Trung học phổ thông Chuyên tại địa điểm mới,… và các dự án thuộc 03 Chương trình mục tiêu quốc gia; chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội,... nhằm kết nối liên vùng, đồng bộ, theo hướng hiện đại, tạo động lực thúc đẩy kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh.1.1.3. Khu vực dịch vụ tăng 8,4%, đóng góp 3,55 điểm phần trăm. Trong khu vực dịch vụ, đóng góp của một số ngành có tỷ trọng lớn vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm như sau: Bán buôn, bán lẻ và sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy tăng 9,32%, đóng góp 0,44 điểm phần trăm; vận tải kho bãi tăng 16,07%, đóng góp 0,54 điểm phần trăm; lưu trú và ăn uống tăng 19,18%, đóng góp 0,29 điểm phần trăm; hoạt động tài chính ngân hàng và bảo hiểm tăng 10,6% , đóng góp 0,36 điểm phần trăm,…Trong 6 tháng đầu năm tỉnh đã tổ chức các hoạt động xúc tiến, quảng bá du lịch có tiềm năng phát triển như du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, du lịch cộng đồng; tổ chức thành công các hoạt động khai mạc Năm du lịch và Lễ hội Khinh khí cầu quốc tế lần thứ II năm 2023 và giải đua thuyền Kayak tỉnh Tuyên Quang mở rộng năm 2023,…1.1.4. Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 4,28% (đóng góp 0,27 điểm phần trăm vào tốc độ tăng trưởng chung của nền kinh tế. 1.2. Quy mô và cơ cấu kinh tế 1.2.1. Quy mô tổng sản phẩmQuy mô tổng sản phẩm trên địa bàn 6 tháng đầu năm 2024 (giá hiện hành) ước đạt 22.408 tỷ đồng. 1.2.2. Cơ cấu kinh tếCơ cấu kinh tế tỉnh tiếp tục chuyển biến tích cực với chiều hướng tăng dần tỷ trọng khu vực dịch vụ, cụ thể như sau: Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản ước đạt 5.020,1 tỷ đồng chiếm 24,72%; khu vực công nghiệp và xây dựng ước đạt 5.841 tỷ đồng, chiếm 28,48%, trong cơ cấu nội hàm ngành công nghiệp đã có sự chuyển dịch theo hướng, giảm dần tỷ trọng công nghiệp khai thác, tăng dần tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo; khu vực dịch vụ ước đạt 8.491,6 tỷ đồng, chiếm 42,65%; thuế sản phầm trừ trợ cấp sản phẩm ước đạt 827,2 tỷ đồng chiếm 4,15%.Nhìn chung, trong 6 tháng đầu năm 202 các ngành: Công nghiệp, xây dựng và dịch vụ tiếp tục đóng góp chủ yếu vào mức tăng trưởng GRDP của toàn tỉnh, chứng tỏ cơ cấu kinh tế của tỉnh đã có sự chuyển dịch đúng hướng và tái cơ cấu kinh tế đang mang lại hiệu quả rõ rệt. Đây là sự chuyển dịch cơ cấu tích cực phù hợp với yêu cầu thúc đẩy nhanh sự tăng trưởng kinh tế theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa và tăng dần tỷ trọng dịch vụ góp phần nâng cao chất lượng tăng trưởng và củng cố tiềm lực kinh tế của tỉnh.2. Tài chính, ngân hàng2.1. Tình hình thu, chi ngân sách nhà nước2.1.1. Thu ngân sách nhà nước: Tổng thu ngân sách nhà nước ước thực hiện là 1.930 tỷ đồng, đạt 49,97% dự toán, tăng 59,61% so với cùng kỳ. Trong đó thu nội địa ước thực hiện là 1.833 tỷ đồng, đạt 48,25%, tăng 59,03%.Một số khoản thu đạt khá là: Thu từ khu vực Doanh nghiệp nhà nước do trung ương quản lý là 123 tỷ đồng, đạt 37,3%, tăng 6,57%; khu vực kinh tế ngoài quốc doanh là 434 tỷ đồng, đạt 47,78%, tăng 30,69%; thuế Thu nhập cá nhân là 105 tỷ đồng, đạt 70,05%, tăng 41,15%; thuế Bảo vệ môi trường là 116 tỷ đồng, đạt 46,25%, tăng 8,02%; các khoản thu về nhà đất là 551 tỷ đồng, đạt 36,16%, tăng 126,75%; hoạt động xổ số kiến thiết là 13 tỷ đồng, đạt 53,73%, tăng 7,52%; thu khác của ngân sách là 244 tỷ đồng, đạt 211,81%, tăng 499,64%,…Một số khoản thu thấp: Thu từ khu vực Doanh nghiệp nhà nước do địa phương quản lý là 27 tỷ đồng, đạt 38,13%, giảm 9,1%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là 28 tỷ đồng, đạt 40,46%, giảm 24,94%; thu cố định tại xã tính cân đối là 1,47 tỷ đồng, đạt 36,89%, giảm 34,15%,...- Một số nguyên nhân cơ bản làm ảnh hưởng đến tiến độ dự toán:+ Một số doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh gặp khó khăn, dẫn đến số nộp ngân sách giảm so với cùng kỳ,... + Tiến độ thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất còn chậm chưa đảm bảo theo dự toán. Trong công tác đấu giá quyền sử dụng đất, quyền dử dụng đất thuê của các huyện, thành phố còn phát sinh một số vướng mắc, khó khăn do chưa phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, xác định giá khởi điểm để đấu giá quyền sử dụng đất. + Một số dự án ngoài ngân sách (các dự án khu đô thị và một số dự án sản xuất, kinh doanh,...) còn bị chậm tiến độ, đã ảnh hưởng đến nguồn thu.2.1.2. Chi ngân sách nhà nước: Tổng chi ngân sách nhà nước là 8.553 tỷ đồng, đạt 63,43% dự toán, tăng 63,62% so với cùng kỳ. Trong đó: Chi đầu tư phát triển 828 tỷ đồng, đạt 39,84%, giảm 20,74%; chi thường xuyên 3.267 tỷ đồng, đạt 41,77%, tăng 18,66%; chi dự phòng ngân sách 30 tỷ đồng, đạt 15,78%, tăng 71,45%,...Tỉnh đã tập trung điều hành dự toán ngân sách nhà nước chủ động, chặt chẽ, bảo đảm kỷ luật tài chính, ngân sách, an sinh xã hội, bảo đảm đúng dự toán được duyệt. Ngân sách địa phương tiếp tục thực hiện các chính sách, chế độ về đảm bảo an sinh xã hội. Đẩy nhanh tiến độ thực hiện chi thường xuyên, hạn chế tối đa việc điều chỉnh nhiệm vụ chi. Tăng cường công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách nhà nước; chủ động rà soát, sắp xếp các nhiệm vụ chi, cắt giảm tối đa các nhiệm vụ chi chưa thực sự cần thiết. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra tài chính và phòng chống tham nhũng góp phần giữ nghiêm kỷ cương, kỷ luật tài chính nhằm quản lý kinh phí, tài sản công chặt chẽ, tiết kiệm, hiệu lực, hiệu quả.2.2. Hoạt động tín dụng ngân hàngCác ngân hàng thương mại trên địa bàn tỉnh đã thực hiện các giải pháp, tháo gỡ khó khăn về công tác tín dụng nhằm đảm bảo cung ứng vốn cho nền kinh tế, hỗ trợ người dân doanh nghiệp trong tiếp cận tín dụng phục vụ sản xuất - kinh doanh, tiếp tục triển khai có hiệu quả các gói vay phục vụ mục tiêu sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an toàn hoạt động của các tổ chức tín dụng.- Về hoạt động huy động vốn: Nguồn vốn huy động tại địa phương ước thực hiện là 35.200, so với cùng kỳ tăng 6.047 tỷ đồng (+20,7%); so với 31/12/2023 tăng 2.058 tỷ đồng (+6,2%).- Về đầu tư tín dụng: Tổng dư nợ ước đạt 31.320 tỷ đồng, so với cùng kỳ tăng 4.133 tỷ đồng (+15,2%); so với 31/12/2023 tăng 1.200 tỷ đồng (+4%). Trong đó: Dư nợ tín dụng thương mại 26.860 tỷ đồng, so với 31/12/2023 tăng 949 tỷ đồng (+3,7%); dư nợ tín dụng chính sách 4.460 tỷ đồng so với 31/12/2023 tăng 251 tỷ đồng (+6%).- Chất lượng tín dụng: Nợ xấu của các Ngân hàng đến 30/6/2024 khoảng 177 tỷ đồng, chiếm 0,56% trên tổng dư nợ. Các giải pháp tín dụng về tháo gỡ khó khăn cho khách hàng: Tính đến 30/4/2024, các ngân hàng thương mại trên địa bàn tỉnh đã cơ cấu lại thời hạn trả nợ cho 31 lượt khách hàng với tổng giá trị nợ đã được cơ cấu là 43,6 tỷ đồng.3. Giá cả- Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 6 năm 2024 tăng 0,23% so với tháng trước, tăng 3,48% so với cùng kỳ năm trước. Trong số 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính thì có 8 nhóm tăng giá so với tháng trước, 2 nhóm giảm giá và 1 nhóm giữ nguyên so với tháng trước là nhóm Giáo dục, cụ thể của các nhóm như sau:+ Có 8/11 nhóm hàng có chỉ số CPI tăng so với tháng trước, trong đó: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,07%. Trong đó, lương thực tăng 1,05%; thực phẩm tăng 1,25%; ăn uống ngoài gia đình giữ nguyên, nguyên nhân làm nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng là nhóm gạo tăng 1,59% do giá gạo trong nước tăng theo giá gạo xuất khẩu, nhóm thịt gia súc tăng 2,29% chủ yếu do mặt hàng thịt lợn giá tăng mạnh do nguồn cung thiếu hụt; đồ uống và thuốc lá tăng 0,41%, do thời tiết nắng nóng gay gắt với nhiệt độ cao, nhu cầu sử dụng các loại bia để giải khát của người dân tăng đồng thời giá nguyên liệu đầu vào và giá vận chuyển tăng; may mặc, mũ nón, giày dép tăng nhẹ 0,08% do thời tiết nắng nóng nhu cầu mua sắm các loại vải và quần áo may sẵn của người dân tăng; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,49%, do nhu cầu sử dụng điện, nước sinh hoạt của người dân tăng cùng với đó giá thuê nhà ở tăng cao; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,1%; bưu chính viễn thông tăng 0,04%; văn hóa giải trí và du lịch tăng 0,91% do nhu cầu đi du lịch của người dân tăng; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,3%.+ Có 02/11 nhóm hàng giảm so với tháng trước, trong đó: Nhóm giao thông giảm 2,09% là do giá xăng, dầu điều chỉnh tăng theo quyết định điều chỉnh của Tập đoàn xăng dầu Việt Nam về giá bán lẻ xăng, dầu (xăng giảm 6,09%, dầu diesel giảm 1,11%); thiết bị và đồ dùng gia đình giảm 0,04% do nhu cầu mua sắm các loại thiết bị làm mát như điều hòa của người dân giảm.+ Chỉ số giá vàng giảm 1,64% so với tháng trước, tăng 32,38% so với cùng kỳ năm trước và tăng 20,74% so với tháng 12 năm trước. + Chỉ số giá đô la Mỹ giảm 0,01% so với tháng trước, tăng 7,57% so với cùng kỳ năm trước và tăng 4,21% so với tháng 12 năm trước.- CPI bình quân quý II/2024 tăng 0,33% so với quý cùng kỳ, một số nhóm hàng tác động làm CPI trong quý tăng là những nhóm hàng chủ yếu sau: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,43%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,3%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,44%; giao thông tăng 0,45%,… chỉ số giá vàng tăng 14,73%, giá đô la Mỹ tăng 2,79%.- CPI bình quân 6 tháng đầu năm 2024 tăng 3,7% so với cùng kỳ năm 2023. Một số nguyên nhân cơ bản đã tác động tăng CPI là những nguyên nhân chủ yếu sau: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 7,02%, chủ yếu do nhóm hàng lương thực tăng 18,31% (do giá gạo tăng), thực phẩm tăng 5,8% (do giá thịt gia súc tăng), ăn uống ngoài gia đình tăng 2,46%; đồ uống và thuốc lá tăng 3,08%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 6,14%; giao thông tăng 2,36%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 8,47%,…. chỉ số giá vàng tăng 25,8%, giá đô la Mỹ tăng 5,66%.4. Vốn đầu tư và xây dựng 4.1. Tình hình thực hiện vốn đầu tư Để phục hồi và phát triển kinh tế sau dịch Covid-19, Chính phủ xác định thúc đẩy đầu tư công là một trong những trụ cột chính, là động lực phát triển, có tác động lan tỏa tới các ngành, nghề lĩnh vực trong nền kinh tế. Việc đẩy mạnh đầu tư công vừa kích thích chi tiêu đầu tư công trong ngắn hạn để tạo động lực thúc đẩy công nghiệp hoá, thúc đẩy tăng trưởng nhanh và là công cụ chủ yếu điều hành kinh tế vĩ mô và tạo ra các kết cấu hạ tầng phục vụ hiệu quả, lâu dài cho nền kinh tế.4.1.1. Vốn đầu tư phát triển toàn xã hộiƯớc thực hiện quý II/2024 đạt 4.056 tỷ đồng, tăng 17,7% so với quý I/2024, tăng 15,86% so với quý cùng kỳ năm trước; tính chung 6 tháng đầu năm 2024 ước đạt 7.502 tỷ đồng, tăng 22,74% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Nguồn vốn từ khu vực nhà nước ước đạt 2.123 tỷ đồng, giảm 3,26% so với cùng kỳ (chiếm 28,3% tổng nguồn vốn đầu tư); nguồn vốn đầu tư của dân cư và tư nhân ước đạt 4.470 tỷ đồng, tăng 15% (chiếm 59,58% tổng nguồn vốn) khu vực tư nhân chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong đầu tư phát triển toàn xã hội và giữ vai trò quan trọng trong tổng nguồn vốn, trong bối cảnh ngân sách nhà nước còn hạn hẹp rất cần các nguồn lực đầu tư từ khu vực tư nhân; Vốn vay từ các nguồn khác (của khu vực Nhà nước) ước đạt 270 tỷ đồng, tăng 2.319,63% (chiếm 3,6%); vốn huy động khác ước đạt 142 tỷ đồng, tăng 2,34% (chiếm 1,89%); vốn tự có của doanh nghiệp nhà nước ước đạt 445 tỷ đồng, tăng 6.105,2%, (chiếm 5,93%); nguồn vốn tín dụng đầu tư theo kế hoạch nhà nước ước đạt 3 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng tương đối nhỏ (chiếm 0,05%); nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ước đạt 49 tỷ đồng, tăng 9,62% (chiếm 0,65%) trên tổng nguồn vốn,...4.1.2. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước- Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước thực hiện tháng 6 đạt 449 tỷ đồng, tăng 12,86% so với tháng trước; tăng 26,26% so với tháng cùng kỳ năm trước, trong đó: Vốn ngân sách cấp tỉnh đạt 407 tỷ đồng, tăng 15,87%, tăng 28,88%; vốn ngân sách cấp huyện đạt 41 tỷ đồng, giảm 8,65%, tăng 5,72%; vốn ngân sách cấp xã đạt 2 tỷ đồng, giảm 25,21%, tăng 6,62%.- Ước thực hiện quý II/2024 đạt 1.308 tỷ đồng, tăng 31,37% so với quý I/2024, tăng 52,1% so với cùng quý năm trước, trong đó: Vốn ngân sách cấp tỉnh đạt 1.179 tỷ đồng, tăng 28,23%, tăng 56,15%; vốn ngân sách cấp huyện đạt 123 tỷ đồng, tăng 66,44%, tăng 23,7%; vốn ngân sách cấp xã đạt 7 tỷ đồng, tăng 6,53%, tăng 12,71%.- Ước thực hiện 6 tháng đầu năm 2024 đạt 1.631 tỷ đồng, tăng 49,27% so với cùng kỳ, trong đó: Vốn ngân sách cấp tỉnh đạt 1.442 tỷ đồng, tăng 49,13%; vốn ngân sách cấp huyện đạt 176 tỷ đồng, tăng 54,83%; vốn ngân sách cấp xã đạt 13 tỷ đồng, tăng 8,48%.4.2. Xây dựng Với mục tiêu giải ngân ngồn vốn đầu tư công là nhiệm vụ chính trị quan trọng hàng đầu trong năm 2024, là động lực quan trọng nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của tỉnh. Tỉnh đã tập trung thực hiện các biện pháp, giải pháp linh hoạt, sáng tạo, kịp thời, hiệu quả để quyết liệt đẩy mạnh thực hiện và giải ngân vốn đầu tư công, vốn 03 Chương trình mục tiêu quốc gia; đẩy nhanh tiến độ triển khai các công trình, dự án trọng điểm, quan trọng quốc gia, đường cao tốc, các dự án liên vùng, có tác động lan tỏa,.... tập trung tháo gỡ dứt điểm các khó khăn, vướng mắc, nhất là trong công tác giải phóng mặt bằng, khó khăn về đất đai, tài nguyên, hoàn thiện thủ tục đầu tư để khởi công các dự án mới, và để các dự án đang triển khai sớm hoàn thành... Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát hiện trường, đôn đốc các nhà thầu, tư vấn đẩy nhanh tiến độ. Chủ động rà soát, điều chuyển vốn theo thẩm quyền giữa các dự án chậm giải ngân sang các dự án có khả năng giải ngân tốt hơn và còn thiếu vốn theo quy định. Các đơn vị thi công đã nỗ lực khắc phục khó khăn, thi công với tinh thần "vượt nắng, thắng mưa", tranh thủ từng ngày, từng giờ, huy động đầy đủ thiết bị, nhân lực, tài chính, vật liệu để thi công "3 ca, 4 kíp" nâng cao chất lượng các công trình, dự án sớm hoàn thành trước tiến độ đề ra.Năm 2024, Tuyên Quang được giao tổng kế hoạch vốn đầu tư công là 6.113,18 tỷ đồng, trong đó vốn năm 2023 kéo dài sang năm 2024 là 355,16 tỷ đồng; vốn được phân bổ, giao theo kế hoạch năm 2024 là 5.758,02 tỷ đồng. Tính đến ngày 15/6/2024, tổng số vốn vốn đầu tư công đã giải ngân được là trên 1.562,2 tỷ đồng, đạt 25,55% kế hoạch, trong đó: Nguồn vốn kế hoạch năm 2024 giải ngân được 1.512,3 tỷ đồng, đạt 26,26%; nguồn vốn năm 2023 kéo dài thời gian thực hiện và giải ngân sang năm 2024 giải ngân được 49,9 tỷ đồng, đạt 14,05%. Ước tính đến ngày 30/6/2024 giải ngân 2.445 tỷ đồng đạt 40% kế hoạch, nằm trong nhóm các địa phương có tỷ lệ giải ngân khá của cả nước.5. Hoạt động của doanh nghiệp5.1. Về tình hình hoạt động của doanh nghiệp- Tính đến thời điểm ngày 20/6 toàn tỉnh có 02 doanh nghiệp thành lập mới trong tháng với số vốn đăng ký đạt trên 7 tỷ đồng. Tính chung trong quý II toàn tỉnh có 48 doanh nghiệp thành lập mới với tổng số vốn đăng ký là 118,31 tỷ đồng, giảm 21,31% về số doanh nghiệp, giảm 80,79% về số vốn đăng ký so với quý cùng kỳ năm trước. - Tính chung trong 6 tháng đầu năm 2024, toàn tỉnh có 134 doanh nghiệp thành lập mới với tổng số vốn đăng ký là 792,07 tỷ đồng, tăng 18,58% về số doanh nghiệp, số vốn đăng ký giảm 9,93% so với cùng kỳ, số vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới đạt 5,91 tỷ đồng, giảm 24,05% so với cùng kỳ. - Số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trong 6 tháng là 60 doanh nghiệp, giảm 10,45% (giảm 8 doanh nghiệp so với cùng kỳ). Tổng số doanh nghiệp đang hoạt động trên địa bàn tỉnh là 2.752 doanh nghiệp (bao gồm 11 doanh nghiệp nhà nước và 17 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài) với tổng số vốn đăng ký trên 35.078,06 tỷ đồng; số vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp đạt trên 12,75 tỷ đồng. - Số doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động là 169 doanh nghiệp, tăng 33,07% (tăng 42 doanh nghiệp so với cùng kỳ). Số doanh nghiệp đã hoàn tất thủ tục giải thể là 17 doanh nghiệp, tăng 41,67% (tăng 05 doanh nghiệp so với cùng kỳ). Nhìn chung, hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp còn nhiều khó khăn, số lượng doanh nghiệp thành lập mới giảm, trong khi số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường lại tăng so với cùng kỳ. Nguyên nhân chủ yếu là những doanh nghiệp nhỏ và vừa có sức chống chọi với khó khăn kém hơn so với những doanh nghiệp có quy mô lớn; sản lượng và số lượng đơn đặt hàng mới tiếp tục giảm; giá xăng dầu liên tục biến động, chi phí logistics quá cao và một yếu tố nữa là do làm ăn thua lỗ kéo dài, thiếu vốn đầu tư sản xuất vì không huy động được vốn, tài chính để tiếp tục hoạt động, trong khi đó năng lực quản lý, điều hành thiếu kinh nghiệm làm cho tình hình kinh doanh của DN ngày càng đi xuống và không thể phát triển, thiếu vốn sản xuất kinh doanh, không tìm kiếm được thị trường, nên nhiều doanh nghiệp phải thu hẹp lại, không thể tiếp tục hoạt động dẫn đến phải giải thể doanh nghiệp. 5.2. Tình hình xu hướng kinh doanh của các doanh nghiệp ngành chế biến chế tạo quý II năm 2024Kết quả điều tra về xu hướng kinh doanh của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong quý II năm 2024 cho thấy: 36,67% số doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh quý II năm nay khả quan hơn quý trước; 53,33% doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh ổn định và có 10,0% số doanh nghiệp đánh giá gặp khó khăn trong sản xuất kinh doanh. Chỉ số cân bằng của quý II năm 2024 so với quý I là 26,67%. Dự kiến xu hướng kinh doanh quý III năm 2024 so với quý II cho thấy: Có 53,33% số doanh nghiệp đánh giá xu hướng sẽ tốt lên (trong đó có ngành: Sản xuất trang phục; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa; in, sao chép bản ghi các loại; sản xuất sản phẩm từ caosu và plastic; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn); 33,33% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh sẽ ổn định (trong đó có ngành: sản xuất da và các sản phẩm có liên quan; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học); có 13,33% số doanh nghiệp dự báo tiếp tục khó khăn hơn. Dự tính chỉ số cân bằng của quý tiếp theo so với quý hiện tại là 40,0%.6. Kết quả tình hình sản xuất Nông, lâm nghiệp và thủy sản 6 tháng đầu năm 20246.1. Trồng trọt 6.1.1. Sản xuất vụ đông xuân năm 2024Sản xuất Đông Xuân 2023-2024 diễn ra trong điều kiện thời tiết diễn biến phức tạp và khó lường, những đợt mưa lớn kèm theo rét đậm, rét hại xảy ra trên diện rộng ở thời điểm trước và trong tết Nguyên Đán, tiến độ gieo trồng vụ Đông Xuân bị chậm lại, cùng với đó là hiện tượng sâu bệnh phát sinh trên diện rộng đã ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng và phát triển của cây trồng muộn hơn so với vụ Đông xuân 2022-2023 từ 5-7 ngày. Ngành chức năng và chính quyền các cấp đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo sản xuất, diện tích gieo cấy lúa được đảm bảo theo kế hoạch đề ra và theo đúng khung lịch thời vụ. Hơn 18 nghìn ha lúa trên địa bàn tỉnh vẫn sinh trưởng, phát triển tốt, năng suất trung bình đạt khá so với vụ Đông xuân năm ngoái.Sơ bộ vụ đông xuân 2024 toàn tỉnh gieo trồng được 49.607 ha, giảm nhẹ 0,44% (giảm 219,19 ha) so với năm 2023, trong đó: Vụ xuân đạt 34.984 ha, giảm 0,75% (giảm 263,24 ha); vụ đông đạt 14.624 ha, tăng 0,3% (tăng 44,05 ha), diện tích một số cây trồng chủ yếu như sau:- Cây lúa: Diện tích gieo trồng được 18.482 ha, giảm 1,16% (giảm 217,68 ha) so với vụ đông xuân năm 2023; năng suất ước đạt 60,44 tạ/ha, giảm 0,07% (giảm 0,04 tạ/ha); sản lượng đạt 111.712 tấn, giảm 1,24% (giảm 1.399,89 tấn).- Cây ngô: Trồng được 13.895 ha, tăng 3,42% (tăng 459,66 ha) so với vụ đông xuân năm 2023; năng suất đạt 46,56 tạ/ha, tăng 0,91% (tăng 0,42 tạ/ha); sản lượng 64.697 tấn, tăng 4,36% (tăng 2.705,12 tấn).- Cây khoai lang: Trồng được 1.367 ha, giảm 17,33% (giảm 286,64 ha) so với vụ đông xuân năm 2023; năng suất 62,46 tạ/ha, giảm 0,18% (giảm 0,11 tạ/ha); sản lượng 8.539 tấn, giảm 17,48% (giảm 1.808,33 tấn).- Cây đậu tương: Trồng được 102 ha, giảm 32,31% (giảm 48,54 ha) so với vụ đông xuân năm 2023; năng suất 18,87 tạ/ha, tăng 0,64% (tăng 0,12 tạ/ha); sản lượng 192 tấn, giảm 32,31% (giảm 48,54 tấn).- Cây lạc: Trồng được 3.169 ha, giảm 3,24% (giảm 105,96 ha) so với vụ đông xuân năm 2023; năng suất 29,84 tạ/ha, tăng 0,93% (tăng 0,28 tạ/ha); sản lượng đạt 9.454 tấn, giảm 2,33% (giảm 97,67 tấn). 6.1.2 Cây lâu nămDiện tích cây chuối hiện có trên địa bàn tỉnh 2.123 ha, tăng 4,88% (tăng 109 ha) so với cùng kỳ năm trước, sản lượng ước đạt trên 8.969 tấn, tăng 1,02% (tăng 90,18 tấn); sản lượng chủ yếu được thu mua của các doanh nghiệp chế biến trên địa bàn tỉnh và tiêu thụ tại các thị trường lân cận và các địa phương khác trong cả nước,… cây vải hiện có 311 ha, giảm 1,8% (giảm 5,71 tấn), sản lượng 1.764 tấn, giảm 1,57%, giảm 28,1%. Diện tích cây chè trên địa bàn tỉnh hiện có 8.203 ha, giảm 1,04% (giảm 86,3 ha), sản lượng 33.717 tấn, giảm 1,02% (giảm 340,06 tấn) so với cùng kỳ.6.1.3. Sản xuất vụ mùa năm 2023Vụ mùa năm 2024 dự báo sẽ gặp rất nhiều khó khăn do thời gian chuyển vụ ngắn, thiếu nguồn lực lao động trong sản xuất, thời tiết sẽ có nhiều diễn biến bất thường, các hình thái thời tiết mưa dông lớn, nắng nóng gay gắt sẽ xuất hiện, tình hình sâu bệnh khó lường,... Vì vậy, để sản xuất vụ mùa thắng lợi, các ngành chức năng và các địa phương trong toàn tỉnh đã chủ động xây dựng các phương án sản xuất phù hợp, sẵn sàng đối phó với các tình huống khó khăn, huy động nguồn lực tập trung gieo trồng trong khung thời vụ tốt nhất… đảm bảo một vụ mùa bội thu.Vụ mùa năm 2024, toàn tỉnh gieo cấy 24.311 ha lúa trong đó: Lúa lai 8.906 ha, lúa thuần 15.404 ha. Hiện nay, các địa phương trong tỉnh đang tập trung nhân lực, huy động máy móc, đẩy nhanh thu hoạch vụ xuân, với phương châm thu hoạch đến đâu làm đất gieo cấy vụ mùa đến đó, đẩy nhanh tiến độ sản xuất vụ mùa, bảo đảm khung thời vụ cho vụ đông sắp tới; tính đến ngày 15/6/2024 toàn tỉnh đã gieo được 501.760 kg mạ, tương đương 12.570 ha, diện tích gieo cấy được 504 ha, đạt 2,07% so kế hoạch.6.2. Tình hình sinh vật gây hại - Cây hàng năm vụ xuân (chín cho thu hoạch): Bị rầy nâu, rầy lưng trắng, bọ xít gây hại rải rác, đạo ôn cổ bong gây hại cục bộ; cây ngô, cây lạc, đậu tương bị sâu keo, sâu đục thân, bệnh đóm lá, khô vằn gây hại; cây mía, bị bọ trĩ, sâu đục thân, than đen, bọ hung gây hại rải rác, tỷ lệ hại nơi cao 1-3% số cây.- Cây lâu năm: Cây chè bị rầy xanh, bọ trĩ, bọ xít, nhện đỏ gây hại, tỷ lệ hại trung bình 2-4 %, nơi cao 6-10% số búp; cây có múi xuất hiện nhện trắng, nhện đỏ, rám vàng gây hại rải rác, tỷ lệ hại nơi cao 3-5% số lá; cây nhãn, vải bị bọ xít, bệnh gây hại, mật độ trung bình 1-2 con/cành, nơi cao 4-5 con/cành, non-trưởng thành; bệnh chổi rồng, bệnh sương mai gây hại rải rác, tỷ lệ hại nơi cao 2-4% số cành.- Cây lâm nghiệp (vườn ươm 1-5 tuổi): Sâu ăn lá gây hại rải rác, tỷ lệ hại nơi cao 1-2% số lá (sâu non); bệnh chết héo gây hại trên cây keo 1-3 tuổi, nơi cao 1-3% số cây, bệnh thán thư, bệnh phấn trắng, bệnh cháy lá, khô cành, lở cổ rễ vườn ươm gây hại, tỷ lệ hại nơi cao 1-3% số cây.6.3. Về chăn nuôi 6.3.1. Về số lượng đàn gia súc, gia cầmĐàn trâu tổng đàn ước đạt 86.701 con, giảm 2,65% (giảm 2.364 con) so với cùng kỳ năm 2023; đàn bò 39.839 con, tăng 2,84% (tăng 1.102 con); đàn lợn 576.819 con, tăng 3,43% (tăng 19.129 con); đàn gia cầm 7.348,19 nghìn con, tăng 3,6% (tăng 255,32 nghìn con).6.3.2. Về sản phẩm đàn gia súc, gia cầmĐàn trâu sản lượng thịt hơi đạt 4.030 tấn, tăng 6,55% (tăng 224 tấn) so với cùng kỳ năm 2023; đàn bò 1.317 tấn, tăng 6,28% (tăng 78 tấn); đàn lợn 34.829 tấn, tăng 6,33% (tăng 2.074,25 tấn); đàn gia cầm 10.150 tấn, tăng 7,3% (tăng 601,32 tấn).Đánh giá chung, tình hình chăn nuôi trong 6 tháng đầu năm trên địa bàn tỉnh tiếp tục xu hướng tích cực, đàn trâu, bò khá ổn định về tổng đàn, không có biến động lớn, chăn nuôi lợn có kết quả tích cực mặc dù vẫn phải đối mặt với nhiều khó khăn do giá lợn hơi thấp, chi phí đảm bảo chăn nuôi an toàn sinh học và phòng dịch cao, giá thức ăn chăn nuôi theo xu hướng giảm nhưng vẫn ở mức cao; chăn nuôi gia cầm tiếp tục tăng do khu vực hộ và doanh nghiệp đều phát triển ổn định. Tuy nhiên, do sức mua thực phẩm của người dân nhìn chung giảm nhẹ so với trước đây do mức thu nhập của người dân không ổn định, sức tiêu thụ thực phẩm của các khu công nghiệp giảm do nhiều công ty giảm quy mô sản xuất, tâm lý của người chăn nuôi cũng phần nào bị ảnh hưởng tiêu cực do bệnh dịch tả lợn Châu phi tái phát, đã tác dộng xấu lên tâm lý người chăn nuôi và người tiêu dùng, phần nào ảnh hưởng đến công tác tái đàn gia súc, gia cầm để cung ứng thực phẩm cho dịp cuối năm và Tết Nguyên Đán sắp tới.6.4. Công tác phòng chống dịch bệnh gia súc, gia cầm6.4.1. Công tác phòng chống và điều trị - Bệnh Dịch tả lợn Châu Phi: Từ đầu năm đến nay toàn tỉnh đã ghi nhận 3 địa phương tái phát dịch tả lợn châu Phi là huyện Lâm Bình, Na Hang, Chiêm Hóa, Hàm Yên, số lợn mắc bệnh là 178 con của 23 hộ/09 thôn/07 xã, tổng trọng lượng 5.479 kg. Các ổ dịch đều xuất hiện ở những hộ chăn nuôi nhỏ lẻ, không đủ các điều kiện về vệ sinh thú y, thiếu các biện pháp phòng, chống dịch. Hiện, toàn bộ lợn mắc bệnh đã được đưa đi tiêu hủy theo đúng quy định về phòng chống dịch bệnh. Trước tình hình trên, ngành chức năng đã khẩn trương thực hiện các biện pháp khoanh vùng dập dịch, hỗ trợ thuốc, vôi bột cho các địa phương để tiêu độc khử trùng tại khu vực chuồng trại của các hộ gia đình chăn nuôi có dịch. Đồng thời tạm dừng hoạt động mua bán gia súc khu vực có dịch; thành lập các chốt kiểm dịch động vật tạm thời tại địa bàn có dịch và các xã có nguy cơ lây nhiễm cao nhằm ngăn chặn dịch phát sinh lan rộng.- Các bệnh truyền nhiễm khác: Hiện nay, trên địa bàn chưa xuất hiện các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm như công tác theo dõi giám sát được tăng cường thường xuyên, đồng thời phối hợp chặt chẽ với các huyện thành phố để kịp thời xử lý ngay khi dịch bệnh xảy ra.- Trên địa bàn các huyện, thành phố rải rác xuất hiện các bệnh khác như: viêm phổi, bệnh ký sinh trùng đường máu, bệnh tiêu chảy, bệnh phù đầu... rải rác xuất hiện trên đàn gia súc (tập trung lớn ở 02 huyện Yên Sơn, Sơn Dương) đã được nhân viên thú y phát hiện, điều trị khỏi: 1.825/1.862 con, chết 37 con (trong đó: Trâu, bò: 135/135 con; đàn lợn: 1690/1727 con chết 37 con). 6.4.2. Công tác tiêm phòng: Các huyên, thành phố đã thực hiện công tác tiêm phòng bổ sung cho đàn gia súc, gia cầm, cụ thể như sau: Đàn trâu LMLM: 44.493 con; THT: 48.168 con; đàn bò LMLM: 26.135 con; THT: 26.996 con; đàn lợn LMLM: 30.343 con; THT: 357.550 con; Dịch tả: 354.133 con; đàn gia cầm THT: 3.528.020 con; Niucatson: 3.626.676 con. 6.5. Công tác kiểm dịch vận chuyển động vật và công tác kiểm soát giết mổ- Trong 6 tháng đầu năm 2024 các Trạm Kiểm dịch vận chuyển ngoại tỉnh: Đã kiểm tra cấp 1.259 giấy chứng nhận kiểm dịch vận chuyển trong đó (304 chuyến vận chuyển 75.689 con gia súc, gia cầm và 70.000 con cá giống và 953 chuyến vận chuyển 18.388 tấn sữa tươi nguyên liệu và02 chuyến vận chuyển 2.560 kg SPĐV chế biến làm Thức ăn chăn nuôi). đi các tỉnh Bắc Ninh, Hà Nội, Hà Nam, Hà Giang, Nam Định...+ Tại các Trạm Kiểm dịch động vật: Các huyện duy trì thực hiện tại các trạm Kiểm dịch, đã kiểm tra 695 lượt phương tiện vận chuyển đủ thủ tục trong đó: (694 chuyến vận chuyển 670.372con gia súc, gia cầm; 01 chuyến vận chuyển 8.550 kg sản phẩm động vật).+ Công tác kiểm soát giết mổ và kiểm tra vệ sinh thú y: Trung tâm Dịch vụ nông nghiệp các huyện, thành phố đã kiểm tra, đóng dấu: 699 con trâu, bò; 26.412 con lợn. 6.6. Về sản xuất lâm nghiệp 6.6.1. Công tác trồng rừngNăm 2024, toàn tỉnh phấn đấu trồng mới trên 10.500 ha, trong đó: Rừng sản xuất là 10.100 ha, rừng phân tán 400 ha; tỉnh đã chỉ đạo các ngành chức năng chủ động hướng dẫn và kiểm tra các huyện, thành phố, các cơ quan, đơn vị tăng cường thực hiện công tác quản lý đất lâm nghiệp. Bố trí đất trồng, cây giống, dọn thực bì và cuốc hố để bước vào vụ trồng rừng mới, đảm bảo thắng lợi, quyết tâm phấn đấu hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch đề ra. Trong 6 tháng đầu năm 2024, toàn tỉnh đã trồng được 9.288 ha, giảm 2,15% (giảm 204,18 ha) so với cùng kỳ; số cây lâm nghiệp trồng phân tán là 725,5 nghìn cây, giảm 3,99%, giảm 30,15 nghìn cây.6.6.2. Khai thác gỗ rừng trồng Toàn tỉnh khai thác được 600.334 m3 gỗ¬, tăng 2,74% (tăng 15.992 m3) so với cùng kỳ năm 2023. Gỗ khai thác chủ yếu là gỗ rừng trồng nguyên liệu như keo, bạch đàn phục vụ cho các công ty chế biến gỗ và sản xuất giấy trên địa bàn tỉnh.6.6.3. Công tác quản lý bảo vệ rừngHiện nay, thời tiết đã bước vào thời kỳ cao điểm hanh khô, nhiều diện tích rừng trên địa bàn tỉnh có nguy cơ cháy rất cao, đặc biệt là ở một số huyện trọng điểm về cháy rừng. Để chủ động phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR) mùa hanh khô, ngành chức năng của tỉnh đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục cho người dân nâng cao kiến thức về phòng cháy, chữa cháy rừng; tăng cường kiểm tra, ngăn chặn việc phá rừng, đốt rừng, triệt phá các đường dây buôn bán, vận chuyển lâm sản trái phép. Thường xuyên cảnh báo nguy cơ cháy rừng, đẩy mạnh tuyên truyền về công tác phòng cháy chữa cháy rừng đối với các chủ rừng; tăng cường hợp chặt chẽ với cơ quan chức năng và chính quyền cơ sở, các chủ rừng tăng kiểm tra, kiểm soát, phát hiện kịp thời, xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật các hành vi xâm hại rừng, hạn chế thấp nhất các vụ cháy rừng xảy ra trên địa bàn.Trong 6 tháng đầu năm 2024, trên địa bàn toàn tỉnh không xảy ra các vụ cháy rừng, diện tích chặt, phá rừng trên 7,77 ha; tổ chức kiểm tra, phát hiện, xử lý nghiêm 60 vụ vi phạm pháp luật về lâm nghiệp; tịch thu 7 phương tiện và 51,57 m3 gỗ các loại; phạt hành chính và bán thanh lý tài sản 490 triệu đồng (đã thu nộp ngân sách 261,7 triệu đồng).6.7. Về thuỷ sảnNhằm giảm thiệt hại cho các hộ nuôi trồng thủy sản trong mùa mưa bão, bão kéo dài và không theo quy luật; ngành chức năng và các hộ nuôi trồng đã chủ động triển khai nhiều biện pháp để bảo vệ an toàn nuôi trồng thủy sản trước diễn biến phức tạp của thời tiết.Ước tính, diện tích nuôi trồng thuỷ sản 6 tháng đầu năm 2024 đạt 3.361 ha, giảm 0,25% (giảm 8,52 ha) so với cùng kỳ năm 2023. Tổng sản lượng thuỷ sản ước đạt 5.516 tấn, tăng 6,4% (tăng 331,77 tấn), trong đó: Sản lượng nuôi trồng 4.798 tấn, tăng 5,28% (tăng 240,8 tấn); sản lượng khai thác 718 tấn, tăng 14,5% (tăng 90,87 tấn); sản xuất giống được 75,57 triệu con tăng 1,59% (tăng 1,18 triệu con).6.8. Phát động Tết trồng cây “Đời đời nhớ ơn Bác Hồ” Xuân Giáp Thìn và thực hiện kế hoạch trồng rừng năm 2024Hưởng ứng phong trào Tết trồng cây “Đời đời nhớ ơn Bác Hồ” Xuân Giáp Thìn năm 2024 và Chương trình “Trồng 1 tỷ cây xanh” của Thủ tướng Chính phủ; trên địa bàn toàn tỉnh đã tổ chức 150 điểm phát động “Tết trồng cây” với tổng số 19.054 người tham gia, trồng được 235.772 cây Keo, Mỡ, Bạch đàn và một số loài cây bản địa, tương đương diện tích 198,84 ha.Tỉnh đã phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức Lễ phát động Tết trồng cây Đời đời nhớ ơn Bác Hồ Xuân Giáp Thìn năm 2024, địa điểm tại thôn 21, xã Kim Phú (Thành phố Tuyên Quang). Tại buổi Lễ đã trồng được 3.060 cây (3.000 cây Keo lai mô và 60 cây Chò chỉ) trên diện tích 2 ha. Các huyện, thành phố trên địa bàn tỉnh đã tích cực hưởng ứng tham gia trồng cây, trồng rừng. Kết quả đã huy động được 18.304 người tham gia, trồng được 232.712 cây Keo, Mỡ, Bạch đàn và một số loài cây bản địa, tương đương diện tích 196,84 ha, hoạt động trên đã mở đầu cho một mùa trồng cây, gây rừng của tỉnh trong năm 2024.6.9. Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới 6.9.1. Đối với xã nông thôn mớiTỉnh đã tổ chức Lễ công bố Quyết định công nhận 08/08 xã đạt chuẩn nông thôn mới theo kế hoạch năm 2023. Tính đến tháng 6/2024, toàn tỉnh có 74/122 xã hoàn thành 19/19 tiêu chí xã nông thôn mới (chiếm 60,65%). Tiêu chí xây dựng nông thôn mới đạt bình quân 15,8 tiêu chí/xã; duy trì và giữ vững 19/19 tiêu chí tại các xã đã đạt chuẩn nông thôn mới theo các bộ tiêu chí xã nông thôn mới nâng cao và xã nông thôn mới kiểu mẫu giai đoạn 2021-2025.Năm 2024, Tuyên Quang phấn đấu có thêm 12 xã đạt chuẩn nông thôn mới, 5 xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao và 2 xã đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu. Ngay trong những ngày đầu năm, các địa phương trong tỉnh đã quyết tâm thực hiện các tiêu chí, đặc biệt là những tiêu chí khó thực hiện do phụ thuộc nhiều vào vốn đầu tư, và cần huy động nhiều nguồn lực từ xã hội. 6.9.2. Đối với huyện nông thôn mới- Huyện Hàm Yên: Đến nay cơ bản đạt 5/9 tiêu chí, gồm: Quy hoạch, thủy lợi và phòng, chống thiên tai; điện; kinh tế; hệ thống chính trị - an ninh trật tự - hành chính công. Còn 04 tiêu chí chưa đạt, gồm: Giao thông; y tế - văn hóa - giáo dục; môi trường; chất lượng môi trường sống. - Huyện Sơn Dương: Đến nay huyện Sơn Dương đánh giá đã đạt 04 tiêu chí, gồm: Thủy lợi và phòng chống thiên tai, điện; kinh tế; hệ thống chính trị - an ninh trật tự - hành chính công; còn 05 tiêu chí chưa đạt, gồm: Quy hoạch; giao thông; y tế - văn hóa - giáo dục; môi trường; chất lượng môi trường sống.7. Sản xuất công nghiệp7.1. Về phát triển công nghiệp trong tháng - Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) trong tháng giảm 6,66% so với tháng trước, tăng 13,54% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Ngành sản xuất và và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 45,72%, tăng 419,42%; khai khoáng giảm 5,41%, tăng 9,23%; công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 6,01%, giảm 8,16%; cung cấp nước và hoạt động thu gom xử lý rác, nước thải giảm 2,48%, giảm 0,83%.- Trong tháng, một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng so với tháng trước và tăng so với cùng kỳ năm trước như: Điện thương phẩm đạt 123 triệu Kwh, tăng 13,08%, tăng 8,49%; điện sản xuất đạt 252 triệu Kwh, tăng 37,09%, tăng 376,08%; xi măng đạt 120.000 tấn, tăng 16,16%, tăng 65,3%; nước máy thương phẩm đạt 872 nghìn m3, tăng 27,06%, tăng 29,78%; gỗ tinh chế đạt 1.1188 m3, tăng 37,24%, tăng 37,02%%,…Tuy nhiên, cũng có một số sản phẩm công nghiệp giảm so với cùng kỳ như: Bột ba rít đạt 1.500 tấn, giảm 40%; bột Felspat đạt 22.500 tấn, giảm 4,31%; may mặc xuất khẩu đạt 1.308 nghìn sản phẩm, giảm 2,71%; giấy đế xuất khẩu đạt 1.000 tấn, giảm 13,33%,…7.2. Về phát triển công nghiệp trong quý II/2024- Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) quý II/2024 ước tính tăng 6,1% so với quý cùng kỳ, trong đó: Sản xuất và phân phối điện tăng 114,19%; cung cấp nước và xử lý rác, nước thải tăng 5,85%; khai khoáng tăng 4,53%; công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 2,75%.- Trong quý II/2024 một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu của tỉnh đạt mức tăng trưởng khá so với quý cùng kỳ như: Điện thương phẩm tăng 5,6%; điện sản xuất tăng 102,76%; xi măng tăng 26,86%; nước máy thương phẩm tăng 9,86%; giấy in viết, photo thành phẩm tăng 9,85%; giày da tăng 26,68%; gỗ tinh chế tăng 61,12%; thép cây, thép cuộn tăng 39,85%,…Tuy nhiên, cũng có một số sản phẩm công nghiệp giảm so với quý cùng kỳ như: Bột ba rít giảm 53,86%; bột felspat giảm 15,65%; may mặc xuất khẩu giảm 20,68%,…7.3. Về phát triển công nghiệp 6 tháng đầu năm 2024- Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp 6 tháng đầu năm 2024 tăng 6,22% so với cùng kỳ năm trước, Chia theo từng ngành kinh tế cấp I như sau:+ Ngành khai khoáng tăng 0,58%. Nguyên nhân chủ yếu là nhu cầu tiêu thụ những tháng gần đây tăng, làm tăng sản lượng khai thác của các doanh nghiệp sản xuất bột ba rít và bột felspat nghiền so cùng kỳ.+ Ngành sản xuất và phân phối điện tăng 49,53%, nguyên nhân: từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh xuất hiện các đợt mưa dông trên diện rộng và kéo dài, lượng nước đổ về các hồ chứa thủy điện cao hơn so với trung bình nhiều năm, các nhà máy thủy điện đã đảm bảo lượng nước đủ để cung cấp điện lâu dài đến hết mùa khô; đáp ứng đủ nhu cầu sản xuất và cung ứng điện cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, và nước sinh hoạt của các hộ dân trên phạm vi toàn tỉnh+ Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 2,32%, trong đó: Sản xuất chế biến thực phẩm tăng 17,11%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa tăng 53,57%; sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 68,31%; In, sao chép bản ghi các loại tăng 9,62%; giường, tủ, bàn, ghế tăng 7,2%,...+ Ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 9,3%: nguyên nhân: Do thời tiết năng nóng nhu cầu sử dụng nước sinh hoạt và sản xuất kinh doanh của hộ gia đình và doanh nghiệp tăng cao so với cùng kỳ.- Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng so với cùng kỳ năm trước như: Điện thương phẩm tăng 3,1%; điện sản xuất tăng 38,66%; xi măng tăng 11,4%; giấy đế xuất khẩu tăng 13,3%; bột giấy tăng 12,46%; giày da tăng 27,12%; gỗ tinh chế tăng 11,05%; thép cây, thép cuộn tăng 10,92%,… Tuy nhiên, một số sản phẩm công nghiệp có chiều hướng giảm so với cùng kỳ như: Bột ba rít giảm 50,7%; bột Felspat nghiền giảm 27,97%; giấy in viết, photo thành phẩm giảm 5,54%; may mặc xuất khẩu giảm 5,85%,...Nhìn chung, tình hình sản xuất công nghiệp tỉnh đang dần phục hồi và duy trì xu hướng tăng trưởng tích cực, tháng sau tốt hơn tháng trước, quý sau tăng hơn quý trước; tỉnh cũng tập trung thực hiện các giải pháp phát triển công nghiệp, xây dựng với trọng tâm vào các ngành mà tỉnh có tiềm năng, lợi thế như: Công nghiệp chế biến gỗ, sản xuất vật liệu xây dựng, công nghiệp dệt may, da giày, điện tử,… đôn đốc tiến độ và kịp thời giải quyết khó khăn, vướng mắc nhằm đẩy nhanh tiến độ dự án công nghiệp trọng điểm, để các dự án sớm hoàn thành đầu tư đưa vào sản xuất, nhằm gia tăng sản lượng và đóng góp thêm các sản phẩm công nghiệp mới và có phương án bù đắp các sản phẩm thiếu hụt, đảm bảo hoàn thành chỉ tiêu sản xuất công nghiệp theo kế hoạch; đẩy mạnh xuất khẩu các sản phẩm hàng hóa chủ lực của địa phương. Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh có thêm 14 dự án hoàn thành đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh, với tổng mức đầu tư trên 1.458,6 tỷ đồng,… các dự án hoàn thành đưa vào hoạt động dự kiến tăng giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh trên 650 tỷ đồng góp phần thực hiện kế hoạch đã đề ra, tạo việc làm ổn định cho lao động, đóng góp ngân sách vào kinh tế của tỉnh. Tuy nhiên, đối với các nhóm hàng chủ lực chính của tỉnh như: May mặc xuất khẩu, gỗ, bột ba rít,… do nhu cầu tiêu dùng giảm của các đối tác thương mại truyền thống lớn như: Trung Quốc, Mỹ và EU giảm dẫn đến đơn hàng sản xuất giảm, lượng hang tồn kho lớn. Để phục hồi sản xuất, bắt buộc các doanh nghiệp, cùng với đó là chuyển hướng đa dạng sản phẩm và tìm kiếm thị trường mới. Đây là thách thức rất lớn đối với doanh nghiệp trong bối cảnh kinh tế thế giới vẫn đang bất ổn.8. Thương mại và Dịch vụHoạt động thương mại, dịch vụ và vận tải trên địa bàn tỉnh trong những tháng đầu năm diễn ra sôi động, tăng trưởng khá so với cùng kỳ; nguồn cung các mặt hàng dồi dào, không có biến động lớn về giá cả, đáp ứng tốt nhu cầu phục vụ sản xuất của doanh nghiệp và đời sống của người dân, nguồn cung các mặt hàng xăng, dầu đầy đủ, giá trong nước diễn biến và chịu tác động theo giá nhiên liệu thế giới; các doanh nghiệp đã triển khai nhiều chương trình khuyến mại, giảm giá hấp dẫn để kích cầu tiêu dùng của người dân. Bên cạnh đó, ngành chức năng đã tăng cường xúc tiến các hoạt động thương mại, kích cầu trên địa bàn tỉnh, tìm kiếm và mở rộng các thị trường tiềm năng trong và ngoài nước; tích cực kêu gọi người dân hưởng ứng Cuộc vận động "Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam"; “Người Tuyên Quang ưu tiên dùng hàng nông sản Tuyên Quang”, cùng với đó là thúc đẩy phân phối hàng hóa qua nền tảng số, thương mại điện tử. Hoạt động du lịch, lữ hành được phục hồi và khởi sắc; dịch vụ tăng trưởng khá; xuất, nhập khẩu tương đối ổn định, các doanh nghiệp đã chủ động tìm kiếm và mở rộng thị trường thông qua các hoạt động xúc tiến thương mại, duy trì các đối tác, bạn hàng truyền thống và cải tiến chất lượng, mẫu mã sản phẩm, tiết giảm các chi phí để giảm gía thành sản phẩm,....Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 6 ước đạt 2.843 tỷ đồng, tăng 2,28% so với tháng trước, tăng 16,34% so với cùng kỳ. Tính chung 6 tháng đầu năm 2024, tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước ước đạt 15.994 tỷ đồng, tăng 19,56% so với cùng kỳ.8.1. Doanh thu bán lẻ hàng hóa Doanh thu bán lẻ hàng hóa trong tháng ước đạt 2.490 tỷ đồng, tăng 1,73% so với tháng trước, tăng 15,63% so với tháng cùng kỳ. Trong đó, một số nhóm hàng tăng so với tháng trước, tăng so với cùng kỳ, cụ thể như sau: Hàng lương thực, thực phẩm đạt 885 tỷ đồng, tăng 4,14%, tăng 1,17%; may mặc đạt 141 tỷ đồng, tăng 2,2%, tăng 9,45%; xăng, dầu các loại đạt 279 tỷ đồng, tăng 2,99%, tăng 13,06%; hang hóa khác đạt 351 tỷ đồng, tăng 0,85%, tăng 96,06%; sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác đạt 92 tỷ đồng, tăng 1,65%, tăng 33,12%,…Ở chiều ngược lại, một số nhóm hàng giảm so với tháng trước và tăng so với cùng kỳ như: Vật phẩm, văn hóa, giáo dục đạt 35 tỷ đồng, giảm 5,54%, tăng 74,2%; gỗ và vật liệu xây dựng đạt 238 tỷ đồng, giảm 0,25%, tăng 7,51%; Ô tô con (dưới 9 chỗ ngồi) đạt 43 tỷ đồng, giảm 9,61%, tăng 8,37%; phương tiện đi lại, trừ ô tô con đạt 79 tỷ đồng, giảm 6,59%, tăng 49,29%,…Tính chung trong quý I/2024, doanh thu bán lẻ hàng hóa ước đạt 7.237 tỷ đồng, tăng 19,23% so với quý cùng kỳ. Tính trong 6 tháng đầu năm 2024, doanh thu bán lẻ hàng hóa ước đạt 14.064 tỷ đồng, tăng 19,29% so với cùng kỳ.8.2. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ khác- Trong tháng, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 243 tỷ đồng, tăng 7,06% so với tháng trước, tăng 18,29% so với cùng kỳ. Trong đó: Dịch vụ lưu trú đạt 24 tỷ đồng, tăng 10,24%, tăng 33,73%; ăn uống đạt 219 tỷ đồng, tăng 6,73%, tăng 16,67%. Tính chung trong quý II/2024 dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 682 tỷ đồng, tăng 10,23% so với quý cùng kỳ. Tính trong 6 tháng đầu năm 2024, dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 1.275 tỷ đồng, tăng 15,2% so với cùng kỳ.- Trong tháng, doanh thu du lịch lữ hành ước đạt 0,55 tỷ đồng, tăng 5,55% so với tháng trước, tăng 176,49% so với cùng kỳ. Tính chung trong quý II/2024 du lịch lữ hành ước đạt 1,52 tỷ đồng, tăng 186,79% so quý cùng kỳ. Tính trong 6 tháng đầu năm 2024 du lịch lữ hành ước đạt 2,71 tỷ đồng, tăng 174,96%.- Doanh thu dịch vụ khác trong tháng ước đạt 109 tỷ đồng, tăng 4,9% so với tháng trước, tăng 29,09% so với cùng kỳ. Trong đó: Dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 5 tỷ đồng, tăng 0,26%, tăng 63,85%; hành chính và dịch vụ hỗ trợ đạt 22 tỷ đồng, tăng 5,61%, tăng 24,48%; giáo dục và đào tạo đạt 4 tỷ đồng, tăng 6,33%, tăng 15,14%; nghệ thuật, vui chơi và giải trí đạt 31 tỷ đồng, tăng 14,53%, tăng 73,41%; nhóm sửa chữa máy vi tính, đồ dùng cá nhân và gia đình đạt 12 tỷ đồng, giảm 0,24%, giảm 1,8%. Tính chung trong quý II/2024 dịch vụ khác ước đạt 331 tỷ đồng, tăng 32,93% so quý cùng kỳ. Tính trong 6 tháng đầu năm 2024, dịch vụ khác ước đạt 652 tỷ đồng, tăng 35,99% so với cùng kỳ. 8.3. Xuất, nhập khẩu hàng hóaHoạt động xuất, nhập khẩu trong tháng 6 đã có nhiều tín hiệu khởi sắc, các doanh nghiệp đã ký kết được nhiều đơn hàng xuất khẩu; kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa ước đạt trên 24 triệu USD, tăng 56,06% so với tháng trước, tăng 18,62% so với tháng cùng kỳ năm trước, trong đó: Xuất khẩu ước đạt trên 15 triệu USD, tăng 56,91%, tăng 18,48%; nhập khẩu ước đạt 9 triệu USD, tăng 54,55%, tăng 18,88%. Tuy nhiên, những khó khăn trong sản xuất và sự sụt giảm đơn hàng xuất khẩu từ đầu năm đã tác động đến hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hóa trong 6 tháng đầu năm 2024, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu ước đạt 94,56 triệu USD, đạt 36,38% kế hoạch, giảm 18,27% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Xuất khẩu ước đạt 60,46 triệu USD, giảm 14,28%; nhập khẩu ước đạt 34,1 triệu USD, giảm 24,5%. Trong 6 tháng đầu năm 2024, một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực tăng so với cùng kỳ như: Chè (tăng 79,84%); giấy đế xuất khẩu (tăng 29,08%), giấy in viết, photo thành phẩm tăng 278,5%; hàng dệt may tăng 22,46%; phong bì (tăng 46,5%),... Tuy nhiên, cũng có một số mặt hàng giảm so với cùng kỳ như: Bột Barit (giảm 76,24%); đũa gỗ xuất khẩu (giảm 54,1%); antimony thỏi (giảm 38,2%),…9. Vận tải hàng hóa và hành khách Từ đầu năm đến nay, nhu cầu đi du lịch, lễ hội, về quê, thăm người thân của người dân, du khách tăng cao. Các đơn vị vận tải đang tích cực tăng cường phương tiện, nhân lực phục vụ nhu cầu đi lại của người dân phục vụ tối đa nhu cầu đi lại của người dân, hàng hóa vận chuyển được thông suốt, tiết kiệm chi phí xã hội; ngành chức năng đã chú trọng, tăng cường xử lý các hành vi vi phạm quy định pháp luật về bảo đảm trật tự, an toàn giao thông, chở quá khổ, quá tải, quá số người quy định, phương tiện không bảo đảm an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường khi lưu thông.9.1. Doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải- Doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải tháng 6 ước đạt 364 tỷ đồng, tăng 1,87% so với tháng trước, tăng 21,86% so với cùng kỳ. Trong đó, vận tải hành khách ước đạt 59 tỷ đồng, tăng 1,09%, tăng 9,66%; vận tải hàng hóa ước đạt 305 tỷ đồng, tăng 2%, tăng 24,46%; kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 0,5 tỷ đồng, tăng 9,8%, tăng 41,86%; bưu chính, chuyển phát đạt 0,3 tỷ đồng, tăng 9,48%, tăng 74,33%. - Ước thực hiện quý II/2024 doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 1.076 tỷ đồng, tăng 21,23% so với quý cùng kỳ. Trong đó, vận tải hành khách ước đạt 175 tỷ đồng, tăng 10,8%; vận tải hàng hóa ước đạt 899 tỷ đồng, tăng 23,45%; kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 1 tỷ đồng, tăng 31,55%; bưu chính, chuyển phát đạt 1 tỷ đồng, tăng 52,71%. - Tính chung, trong 6 tháng đầu năm 2024, doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 2.173 tỷ đồng, tăng 24,97% so với cùng kỳ. Trong đó, doanh thu vận tải hành khách ước đạt 359 tỷ đồng, tăng 18,14%; vận tải hàng hóa ước đạt 1.810 tỷ đồng, tăng 26,36%; kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 3 tỷ đồng, tăng 29,73%; bưu chính, chuyển phát đạt 2 tỷ đồng, tăng 41,42%. 9.2. Vận tải hành khách và hàng hóa9.2.1. Vận tải hành khách- Hành khách vận chuyển trong tháng 6 ước đạt 1 triệu lượt hành khách, tăng 1,65% so với tháng trước, tăng 7,37% so với cùng kỳ; khối lượng hành khách luân chuyển ước đạt 78 triệu lượt hành khách.km, tăng 1,23%, tăng 12,09%.- Ước thực hiện quý II/2024, hành khách vận chuyển ước đạt 3 triệu lượt hành khách, tăng 10,74% so với quý cùng kỳ; hành khách luân chuyển ước đạt 231 triệu lượt hành khách.km, tăng 11,8%.- Tính chung trong 6 tháng, hành khách vận chuyển ước đạt 7 triệu lượt hành khách, tăng 22,57% so với cùng kỳ; hành khách luân chuyển ước đạt 469 triệu lượt hành khách.km, tăng 19%.9.2.2. Vận tải hàng hóa- Hàng hóa vận chuyển trong tháng 6 ước đạt 2 triệu tấn, tăng 2,03% so với tháng trước, tăng 24,92% so với cùng kỳ; hàng hóa luân chuyển ước đạt 136 triệu tấn.km, tăng 2,37%, tăng 29,46%. - Ước thực hiện quý II/2024, hàng hóa vận chuyển ước đạt 6 triệu tấn, tăng 22,96% so với quý cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 398 triệu tấn.km, tăng 28,16%.- Tính chung trong 6 tháng, hàng hóa vận chuyển ước đạt 12 triệu tấn, tăng 24,5% so với cùng kỳ; hàng hóa luân chuyển ước đạt 796 triệu tấn.km, tăng 29,66%.10. Công tác chuyển đổi số và hoạt động bưu chính, viễn thông10.1. Lĩnh vực chuyển đổi số và Chính quyền sốVới chủ đề chuyển đổi số năm 2024 là năm “Phát triển kinh tế số với 04 trụ cột công nghiệp công nghệ thông tin, số hóa các ngành kinh tế, quản trị số, dữ liệu số - Động lực quan trọng cho phát triển kinh tế -xã hội nhanh và bền vững. Tỉnh đã tăng cường công tác chỉ đạo, điều hành về chuyển đổi số của các sở, ngành và các thành viên Ban Chỉ đạo chuyển đổi số. Cùng với đó là tăng cường trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân, nhất là người đứng đầu các cơ quan hành chính nhà nước các cấp trong việc triển khai chuyển đổi số; với mục tiêu Chuyển đổi số trên địa bàn tỉnh phải lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm, chủ thể, làm mục tiêu, động lực nhằm cung cấp dịch vụ chất lượng hơn, phục vụ tốt hơn cho người dân, doanh nghiệp một cách thực chất và hiệu quả; hướng tới việc hình thành công dân số, xã hội số.- Hoàn thành đánh giá kết quả đánh giá, xếp hạng mức độ chuyển đổi số năm 2023 của các cơ quan Nhà nước trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang (đối với 19 cơ quan cấp tỉnh, 07 Ủy ban nhân dân huyện/thành phố, 138 Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn).- Duy trì và đảm bảo kết nối thông suốt 169 điểm cầu của Hệ thống Hội nghị truyền hình trực tuyến tỉnh Tuyên Quang phục vụ công tác chỉ đạo điều hành từ trung ương đến cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã.- Xây dựng Phần mềm số hóa kết quả giải quyết thủ tục hành chính, xây dựng cơ sở dữ liệu số hóa kết quả giải quyết thủ tục hành chính của tỉnh.- Đến thời điểm hiện tại, tỉnh đã cung cấp 1.843 TTHC, trong đó có 1.088 thủ tục được cung cấp DVC toàn trình, 495 thủ tục được cung cấp DVC một phần, 260 thủ tục là dịch vụ cung cấp thông tin trực tuyến.10.2. Về hoạt động Bưu chính - Viễn thông- Toàn tỉnh hiện có hơn 20 doanh nghiệp bưu chính, chuyển phát hoạt động theo nhiều mô hình khác nhau. Có 216 điểm cung cấp dịch vụ bưu chính của các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực bưu chính, chuyển phát trên địa bàn tỉnh tiếp tục được duy trì hoạt động phục vụ người dân và doanh nghiệp. 100% các xã có thư báo đến trong ngày. - Trên địa bàn tỉnh hiện có 05 doanh nghiệp hoạt động viễn thông và Internet. Hạ tầng Internet cáp quang, thông tin di động được triển khai đến 100% các xã, phường, thị trấn trên toàn tỉnh với 1.283 vị trí lắp đặt trạm thu phát sóng BTS, đảm bảo gần 100% các thôn, bản, tổ nhân dân được phủ sóng điện thoại di động, tạo điều kiện cho người dân tiếp cận thông tin, phục vụ phát triển kinh tế, xã hội tại địa phương. Hiện nay, Viettel Tuyên Quang đang triển khai thử nghiệm 5G tại Thành phố Tuyên Quang (04 trạm) và huyện Chiêm Hoá (01 trạm). Hạ tầng viễn thông của các doanh nghiệp viễn thông khác đã sẵn sàng đáp ứng cho việc triển khai mạng 5G trong thời gian tới.- Các Doanh nghiệp bưu chính, viễn thông tăng cường công tác bảo đảm an toàn, an ninh trong quá trình cung ứng dịch vụ bưu chính; an toàn mạng lưới, thông tin liên lạc thông suốt đáp ứng nhu cầu thông tin liên lạc của các cơ quan nhà nước, tổ chức, doanh nghiệp và người dân trong dịp Tết Nguyên đán Giáp Thìn 2024.11. Về du lịch Tỉnh đã tổ chức thành công Lễ Khai mạc năm du lịch tỉnh Tuyên Quang 2024 diễn ra từ ngày 27/4 đến 2/5 với nhiều hoạt động hấp dẫn như: Lễ hội Khinh khí cầu quốc tế Tuyên Quang lần thứ 3 tại Quảng trường Nguyễn Tất Thành. Lễ hội ánh sáng khinh khí cầu quốc tế; trưng bày, giới thiệu sản phẩm du lịch, làng nghề Tuyên Quang với sự góp mặt của hơn 100 gian hàng của tỉnh Tuyên Quang và các tỉnh, thành phố trong cả nước; hội nghị kết nối đầu tư, thương mại, du lịch và làng nghề vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi Tuyên Quang. Bên cạnh đó, các địa phương trong tỉnh đã tổ chức các lễ hội mang đậm nét văn hóa truyền thống của đồng bào các dân tộc và các điểm du lịch tâm linh trên địa bàn tỉnh như: Lễ hội Lồng Tông; Lễ hội đền Hạ, đền Thượng, đền Ỷ La; Lễ hội Hương sắc Na Hang (Lễ hội Hoa Lê); Lễ hội Nhảy lửa của người Pà Thẻn,... các lễ, hội đã phát huy hiệu quả rất tích cực và rõ nét trong việc tuyên truyền, quảng bá, giới thiệu hình ảnh miền đất, văn hóa, con người và các sản phẩm du lịch hấp dẫn của Tuyên Quang đến với đông đảo nhân dân, du khách trong nước và quốc tế, góp phần thúc đẩy du lịch của tỉnh ngày càng phát triển. Tổng số cơ sở lưu trú toàn tỉnh hiện có 446 cơ sở lưu trú, 4.495 buồng, 6.361 giường, trong đó có 01 khách sạn 4 sao; 34 khách sạn 1-2 sao; trên 250 nhà hàng ẩm thực có quy mô lớn; trên địa bàn tỉnh hiện có 16 công ty, chi nhánh, đại lý lữ hành hoạt động (trong đó có 3 công ty lữ hành quốc tế, 13 công ty lữ hành nội địa); Từ đầu năm đến nay, các khu, điểm du lịch ước đón khoảng 1.860.000 lượt khách du lịch (trong đó 4.000 lượt khách quốc tế), đạt 68% kế hoạch, tăng 2% so với cùng kỳ; tổng thu từ khách du lịch đạt 2.271 tỷ đồng, đạt 63% kế hoạch, tăng 9% so với cùng kỳ. II. LĨNH VỰC VĂN HÓA - XÃ HỘI 1. Về lao động việc làmXác định công tác giải quyết việc làm cho người lao động là một trong những nhiệm vụ quan trọng góp phần đảm bảo an sinh xã hội, phát triển kinh tế xã hội tại địa phương; thời gian qua, tỉnh đã triển khai thực hiện đồng bộ các giải pháp tạo việc làm cho người lao động bằng nhiều hình thức; đặc biệt là tăng cường liên kết đào tạo giữa cơ sở dạy nghề và các doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh thông qua nhiều hình thức hợp đồng liên kết đào tạo và tuyển dụng sau đào tạo, huy động tối đa các nguồn lực sẵn có trong dân để tạo thêm nhiều việc làm mới cho người lao động, góp phần tích cực vào sự ổn định và phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương.Trong 6 tháng đầu năm 2024, tạo việc làm cho 16.875 người, đạt 75,63% kế hoạch, tăng 12,15% so với cùng kỳ, trong đó: Lao động làm việc trong các ngành kinh tế tại tỉnh 10.650 người; đi làm việc tại các tỉnh, thành phố trong nước 5.608 người; đi làm việc ở nước ngoài 617 người.2. Đời sống dân cư Trong 6 tháng đầu năm 2024, tình hình đời sống dân cư trên địa bàn tỉnh tiếp tục ổn định. Tuy nhiên, giá các mặt hàng thiết yếu như giá lương thực, thực phẩm tăng, giá nhiên liệu, năng lượng có xu hướng tăng dẫn đến chi phí sinh hoạt tăng theo, đã ảnh hưởng đến đời sống của nhiều hộ gia đình, đặc biệt là nhiều hộ gia đình có thu nhập thấp và trung bình, người dân dần thắt chặt chi tiêu hơn cho tiêu dùng cá nhân, cắt giảm những khoản chi tiêu không cần thiết.Tình hình hoạt động của nhiều doanh nghiệp vẫn còn gặp khó khăn, trong hoạt động sản xuất kinh doanh, sụt giảm về doanh thu, tình trạng thiếu hụt đơn hàng bị kéo dài, thị trường bị thu hẹp, nhất là các thị trường lớn,…Trong bối cảnh nêu trên, nhiều chính sách chính sách, giải pháp điều hành của Chính phủ đã phát huy tác động tích cực nhất là các giải pháp về phục hồi, phát triển kinh tế - xã hội, nhằm hỗ trợ và tháo gỡ khó khăn, vướng mắc đối với sản xuất, kinh doanh, doanh nghiệp, hỗ trợ về nguồn vốn,…; bên cạnh đó, các doanh nghiệp đã khắc phục khó khăn về tài chính để chi trả lương cho người lao động đảm bảo đời sống ổn định. Nhìn chung, tình hình đời sống dân cư trên địa bàn tỉnh cơ bản ổn định và từng bước được cải thiện hơn; không xảy ra tình trạng thiếu đói; hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp tiếp tục ổn định, người lao động có thu nhập ổn định từ tiền lương đảm bảo phần nào cho nhu cầu cuộc sống.3. Công tác người có công, giảm nghèo, bảo trợ xã hội và phòng chống tệ nạn xã hội 3.1. Công tác đối với người có công với cách mạngTiếp tục thực hiện đúng, đủ, kịp thời các chế độ, chính sách đối với người có công với cách mạng và thân nhân người có công; đẩy mạnh thực hiện các phong trào, hoạt động "Đền ơn, đáp nghĩa", "Uống nước nhớ nguồn", nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người có công,… Triển khai các hoạt động tặng quà của Chủ tịch nước và quà của tỉnh đối với người có công với cách mạng trên địa bàn tỉnh nhân dịp Tết Nguyên đán Giáp Thìn năm 2024. Tổng số là 16.479 suất quà, với tổng kinh phí là 6.915,4 triệu đồng. Trong đó: Quà của Chủ tịch nước: 7.886 suất, số tiền 2.444,7 triệu đồng; quà của tỉnh: 8.530 suất, số tiền 4.396,5 triệu đồng,… lãnh đạo tỉnh cũng đã tổ chức thăm hỏi, tặng quà đối với các gia đình người có công với cách mạng tiêu biểu trên địa bàn tỉnh.3.2. Công tác xã hội - Tỉnh đã triển khai thực hiện công tác trợ giúp xã hội, chăm lo, giúp đỡ các đối tượng chính sách xã hội, hỗ trợ cho các hộ có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, thiếu lương thực nhân dịp Tết Nguyên đán Giáp Thìn năm 2024; toàn tỉnh đã hỗ trợ 9.557 hộ, với 28.019 nhân khẩu, tổng số 420.285 kg gạo (Dịp tết nguyên đán: Tổng số hộ cứu trợ gạo 5.014 hộ, 14.645 khẩu, 219.675 kg gạo; dịp giáp hạt: Tổng số hộ cứu trợ gạo 4.543 hộ, 13.374 khẩu, 200.610 kg gạo). Thường xuyên rà soát, nắm chắc tình hình đời sống ngân dân, kịp thời hỗ trợ các hộ gia đình, cá nhân có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, gặp tai nạn rủi ro bất khả kháng. Duy trì trợ cấp hàng tháng cho trên 38.000 đối tượng bảo trợ xã hội bảo trợ xã hội tại cộng đồng. Các cơ quan, tổ chức, cá nhân cũng triển khai các hoạt động thăm, tặng quà các đối tượng hộ nghèo, cận nghèo, đối tượng bảo trợ xã hội, trẻ em, người cao tuổi có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn tỉnh. 4. Hoạt động giáo dục và đào tạoNgành giáo dục của tỉnh tiếp tục đẩy mạnh các mô hình mới, cách làm sáng tạo để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo và đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ. Mạng lưới trường, lớp ngày càng phát triển cả về quy mô và chất lượng, đáp ứng yêu cầu học tập của người dân, đặc biệt là vùng đồng bào dân tộc thiểu số; cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học tiếp tục được bổ sung. Công tác xã hội hóa giáo dục được quan tâm, đẩy mạnh; giáo dục ngoài công lập bước đầu được khuyến khích phát triển Tỉnh đã tổ chức Lễ Trao tặng danh hiệu “Nhà giáo ưu tú” lần thứ 16 năm 2023 và Tuyên dương học sinh, sinh viên đạt giải cao; giáo viên, giảng viên có học sinh, sinh viên đạt giải trong các kỳ thi cấp tỉnh, cấp quốc gia năm học 2023-2024. Tại buổi lễ, có 12 nhà giáo được trao tặng danh hiệu “Nhà giáo ưu tú” lần thứ 16 năm 2023; 122 học sinh đạt giải cao tại các kỳ thi cấp tỉnh, cấp quốc gia và 23 giáo viên có học sinh đạt giải trong các kỳ thi cấp tỉnh, cấp quốc gia năm học 2023-2024 và 1 tập thể được tuyên dương, khen thưởng.Tổ chức thành công Kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 các trường THPT và trường liên cấp có bậc THPT trên địa bàn tỉnh với hơn hơn 12.000 thí sinh dự thi không có trường hợp thí sinh, giám thị vi phạm quy chế thi bị đình chỉ, kỳ thi diễn ra an toàn, nghiêm túc, đúng quy chế và đúng kế hoạch đề ra.Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm nay, Tuyên Quang có 9.022 thí sinh đăng ký dự thi, trong đó có 357 thí sinh tự do. Toàn tỉnh có 29 điểm thi, 458 phòng thi, lực lượng tham gia tổ chức kỳ thi hơn 1.600 người, nhằm chuẩn bị tốt nhất cho Kỳ thi tốt nghiệp THPT, hiện nay, các trường THPT trên địa bàn tỉnh đã tập trung công tác ôn tập cho học sinh lớp 12, trong quá trình ôn tập các trường đã thường xuyên kiểm tra, đánh giá, phân loại học sinh để điều chỉnh phương pháp ôn tập cho hiệu quả chất lượng học sinh để điều chỉnh phương án ôn tập cho phù hợp, đạt hiệu quả cao, đồng thời đẩy mạnh công tác tuyên truyền để phụ huynh, thí sinh và nhân dân hiểu rõ về kỳ thi.Các huyện thành phố đã tổ chức Lễ khai mạc Hội khoẻ Phù Đổng các vận động viên tham gia là học sinh các trường tiểu học, THCS đã đạt kết quả cao trong Hội khoẻ Phù Đổng cấp trường, cấp cụm. Các vận động viên tham gia thi đấu các môn như: Bóng đá, cầu lông, điền kinh, đẩy gậy, cờ vua, võ cổ truyền, vovinam. Đây là ngày hội thể thao học đường lớn nhất của các em học sinh tại các huyện, thành phố; là dịp để ngành giáo dục và các nhà trường đánh giá công tác giáo dục thể chất và sự phát triển của phong trào thể dục thể thao học đường; nhằm tiếp tục duy trì và đẩy mạnh Cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại”; khơi dậy tiềm năng thể dục, thể thao ở lứa tuổi học sinh, thúc đẩy phong trào ở các nhà trường. Tại Hội khỏe Phù Đổng toàn quốc lần thứ X, khu vực I (bao gồm các tỉnh Trung du miền núi phía Bắc) được tổ chức tại thành phố Việt Trì tỉnh Phú Thọ, đoàn Tuyên Quang có 64 VĐV tham gia thi đấu 5 môn gồm: đẩy gậy, điền kinh, cầu lông, bóng đá, kéo co. Kết quả, đoàn đã giành 25 huy chương, Trong đó môn điền kinh giành 16 huy chương gồm 6 Huy chương Vàng, 4 Huy chương Bạc và 6 Huy chương Đồng; môn cầu lông giành 4 huy chương gồm 1 Huy chương Bạc và 3 Huy chương Đồng; môn đẩy gậy giành 5 Huy chương Đồng.5. Hoạt động y tế - Từ đầu năm đến nay, thời tiết diễn biến phức tạp nắng nóng, xen kẽ các đợt mưa rào và giông lốc cục bộ có nơi mưa rất to, nguy cơ gia tăng, bùng phát các dịch bệnh truyền nhiễm như: Sởi, sốt xuất huyết, tay chân miệng, bạch hầu, ho gà và một số bệnh truyền nhiễm khác. Để chủ động phòng, chống các bệnh dịch truyền nhiễm bùng phát trong mùa hè, tỉnh đã triển khai nhiều giải pháp phòng, chống dịch; chủ động theo dõi, giám sát, phát hiện sớm, xử lý kịp thời triệt để các ổ dịch bệnh truyền nhiễm, không để lây lan, bùng phát lan rộng ra cộng đồng; kịp thời khoanh vùng, xử lý triệt để các ổ dịch (nếu có), chuẩn bị đầy đủ cơ sở vật chất, thuốc men để thu dung điều trị kịp thời cho bệnh nhân không để dịch bùng phát trở lại và hạn chế tối đa xảy ra nguy cơ dịch chồng dịch.- Về công tác khám chữa bệnh: Tiếp tục thực hiện đồng bộ các giải pháp để giảm quá tải, nâng cao chất lượng dịch vụ các tuyến. Tổ chức kiểm tra giám sát công tác khám chữa bệnh ở một số Bệnh viện, Trạm Y tế xã nhằm giải quyết kịp thời những vướng mắc trong công tác khám chữa bệnh, đặc biệt là khám chữa bệnh BHYT thanh toán theo giá dịch vụ y tế mới. Tổng số lượt khám bệnh trong 6 tháng đầu năm đạt 629.386 lượt người. Trong đó: Bệnh viện tuyến tỉnh: 145.027lượt, Trung tâm Y tế huyện: 247.069 lượt, Bệnh viện Đa khoa khu vực: 26.000lượt, Trạm Y tế xã, phường, thị trấn: 177.045lượt. Công suất sử dụng giường bệnh tại Bệnh viện tuyến tỉnh: 108,9%, Trung tâm Y tế huyện: 105,8% và Bệnh viện Đa khoa khu vực: 85,7%. Ngày điều trị trung bình tại Bệnh viện tuyến tỉnh: 7,2 ngày, Trung tâm Y tế huyện: 5,6 ngày, Bệnh viện Đa khoa khu vực: 5,7 ngày.- Công tác đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm (ATVSTP) cũng đã được tỉnh triển khai bằng nhiều giải pháp như: Tăng cường công tác truyền thông về an toàn vệ sinh thực phẩm trên các phương tiện thông tin đại chúng; triển khai công tác hậu kiểm chất lượng, giám sát các mối nguy cơ ô nhiễm thực phẩm; các cơ quan chức năng đã thực hiện thanh tra, kiểm tra, giám sát chất lượng ATVSTP tại 1.802 cơ sở, đạt 62,6% kế hoạch; xử lý 66 cơ sở vi phạm các quy định về ATVSTP; thẩm định và cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện ATVSTP cho 76 cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm tại các huyện, thành phố, đạt 61,3% kế hoạch.Từ đầu năm đến nay toàn tỉnh đã ghi nhận 05 vụ ngộ độc thực phẩm với 158 người mắc; không có trường hợp tử vong.6. Hoạt động văn hoá, thể dục, thể thao- Lĩnh vực văn hoá: Nhiều hoạt động văn hóa được tổ chức tại các địa phương trong tỉnh với quy mô và nhiều hoạt động, đáp ứng nhu cầu của người dân và du khách tham quan trong và ngoài tỉnh; tổ chức các hoạt động tuyên truyền Kỷ niệm các ngày lễ lớn và sự kiện lịch sử quan trọng của đất nước và các sự kiện chính trị quan trọng của tỉnh, nổi bật, như: Chương nghệ thuật “Tuyên Quang chào năm 2024”; khai mạc Hội báo Xuân Giáp Thìn và phát động Giải báo chí toàn quốc về Xây dựng Đảng (Giải Búa liềm vàng) lần thứ IX năm 2024; triển lãm, giới thiệu thành tựu văn hóa, con người Tuyên Quang trong thời gian diễn ra Hội nghị Văn hóa toàn tỉnh và tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết 33-NQ/TW ngày 09/6/2014 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam phát triển bền vững đất nước..... Tiếp tục đẩy mạnh phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” gắn với chương trình xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh được triển khai sâu rộng.- Lĩnh vực thể dục, thể thao: Tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động ''Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại''. Tỉnh đã phối hợp với Cục Thể dục thể thao tổ chức đăng cai giải cầu lông CLB các tỉnh, thành, ngành toàn quốc năm 2024 với sự tham gia của 25 đoàn đến từ 22 tỉnh, thành, ngành trong cả nước với trên 200 vận động viên thi đấu, tranh tài ở 5 nhóm tuổi nam và nữ. Kết thúc giải, Ban Tổ chức trao huy chương cho các vận động viên có thành tích thi đấu xuất sắc ở 5 nhóm tuổi (nhóm 1 từ 12 - 30 tuổi, nhóm 2 từ 31 - 40 tuổi, nhóm 3 từ 41 - 45 tuổi, nhóm 4 từ 46 - 50 tuổi và nhóm 5 từ 51 - 55 tuổi) và trao cúp Thành Công cho đoàn có thành tích thi đấu xuất sắc tại giải; tỉnh đã tổ chức thành công giải “Giải đua thuyền Kayak” tỉnh Tuyên Quang mở rộng năm 2024; giải bóng chuyền hơi toàn tỉnh, giải Quần vợt các câu lạc bộ tỉnh Tuyên Quang năm 2024, Ngày chạy Olympic toàn dân và giải Việt dã Tiền Phong năm 2024; Giải Giải đua thuyền Kayak mở rộng, Giải bóng đánữ các dân tộcthiểu sốtỉnh Tuyên Quang năm 2024, Giải bóng đá thiếu niên -nhi đồng tỉnh Tuyên Quang năm 2024. …7. Một số hoạt động tiêu biểu khác- Các địa phương trên địa bàn tỉnh đã đồng loạt tổ chức lễ giao nhận quân năm 2024 với không khí vui tươi, phấn khởi. Công tác giao nhận quân diễn ra long trọng, đúng thời gian, đảm bảo nhanh gọn, đủ chỉ tiêu, tiết kiệm và an toàn. Trong đợt giao quân năm nay, toàn tỉnh có 1.375 tân binh, tham gia nghĩa vụ quân sự và công an. Trong đó, 1.150 tân binh tham gia nghĩa vụ quân sự, 225 tân binh tham gia nghĩa vụ công an. Ngoài ra, Hội đồng Nghĩa vụ quân sự các huyện, thành phố phát lệnh gọi nhập ngũ cho 66 tân binh dự phòng.- Tỉnh đã khai trương Trung tâm Giám sát điều hành hành thông minh của tỉnh Tuyên Quang. Trung tâm cớ chức năng thu thập cơ sở dữ liệu chuyên ngành của cơ quan, đơn vị và xử lý, phân tích cho kết quả đầu ra đáp ứng yêu cầu chỉ đạo, điều hành của các cấp chính quyền và cơ quan, đơn vị. Trung tâm sẽ phục vụ đắc lực trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo điều hành, giúp lãnh đạo tỉnh có cái nhìn tổng quan, toàn diện về mọi hoạt động kinh tế - xã hội theo thời gian thực. Từ đó, đưa ra quyết định nhanh chóng, kịp thời, chuẩn xác, tiết kiệm thời gian, công sức trong giám sát, điều hành công việc. Ngoài ra, kết nối thông tin, cập nhật dữ liệu phục vụ công tác xây dựng các chính sách, chiến lược phát triển kinh tế xã hội trung và dài hạn một cách bền vững.- Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) đã công bố Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) và Chỉ số Xanh cấp tỉnh (PGI) năm 2023. Trong báo cáo kết quả công bố, chỉ số PCI năm 2023 của tỉnh Tuyên Quang đạt 65,45 điểm, tăng 2,59 điểm so với điểm PCI năm 2022, tăng 02 bậc so với năm trước và xếp thứ 50/63 tỉnh, thành phố trên cả nước; xếp thứ 10/14 tỉnh Trung du miền núi phía Bắc.- Theo số liệu đã công bố Chỉ số hài lòng của người dân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước năm 2023 (SIPAS) của tỉnh Tuyên Quang tỷ lệ hài lòng trung bình của người dân, tổ chức về sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước tỉnh Tuyên Quang năm 2023 đạt 82,83%, xếp thứ 26/63 tỉnh, thành phố (tăng 1,11% so với năm 2022). Chỉ số CCHC năm 2023 (PAR Index) của tỉnh đạt 88,46%, xếp thứ 16/63 tỉnh, thành phố (tăng 3,12%, tăng 16 bậc so với năm 2022). - Về Chỉ số đổi mới sáng tạo cấp của Tuyên Qaung năm 2023 đạt 33,74 điểm, đứng thứ 43 toàn quốc và xếp thứ 5 trong khu vực Trung du và miền núi phía Bắc. Bộ chỉ số đổi mới sáng tạo cấp địa phương do Bộ Khoa học và Công nghệ xây dựng gồm 52 chỉ số thành phần.8. Tình hình an toàn giao thông, thiên tai và phòng chống cháy, nổ8.1. Về an toàn giao thôngTỉnh tiếp tục triển khai đợt cao điểm tuần tra, kiểm soát, xử lý nghiêm các hành vi, vi phạm trật tự, an toàn giao thông, nhất là vi phạm về nồng độ cồn khi lái xe; vi phạm tốc độ, tránh, vượt sai quy định; vi phạm chở hàng quá tải trọng; phương tiện không đảm bảo an toàn kỹ thuật; không đội mũ bảo hiểm khi đi mô tô, xe máy, xe đạp điện; tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát trên các tuyến cao tốc, tuyến quốc lộ, đường tỉnh, đường huyện, là những nơi thường xảy ra tai nạn giao thông. Trong tháng, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 14 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 05 người và bị thương 11 người. So với tháng trước giảm 12,5% về số vụ tai nạn, số người chết tăng 25%, số người bị thương giảm 8,33%. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông tăng 7,69%, số người chết tăng 400%, số người bị thương giảm 21,43%.Trong quý II/2024, toàn tỉnh đã xảy ra 45 vụ tai nạn giao thông, làm chết 15 người và làm bị thương 34 người. So với cùng quý năm trước: Số vụ tai nạn giao thông tăng 18,42% (tăng 07 vụ); số người chết tăng 36,36% (tăng 04 người); số người bị thương giữ nguyên.Trong 6 tháng đầu năm 2024, toàn tỉnh đã xảy ra; 83 vụ tai nạn giao thông, 35 người chết và 66 người bị thương. So với cùng kỳ năm trước: Số vụ tai nạn giao thông giảm 1,19% (giảm 01 vụ); số người chết tăng 25% (tăng 07 người); số người bị thương giảm 7,04% (giảm 05 người).8.2. Về cháy nổTháng 6/2024, toàn tỉnh không xảy ra vụ cháy, nổ nào. Tính chung 6 tháng đầu năm, trên địa bàn tỉnh xảy ra 01 vụ cháy tại cây xăng ở xã Bình Xa, huyện Hàm Yên, thiệt hại về tài sản ước tính 1.250 triệu đồng, vụ cháy không gây thiệt hại về người và tài sản của nhân dân.8.3. Thiệt hại do thiên taiTừ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra các đợt mưa lớn trên diện rộng kèm theo giông, lốc, gió giật mạnh đã gây lũ, ngập lụt và sạt lở đất các khu vực ven suối đã gây ra những thiệt hại về tài sản của người dân, làm ảnh hưởng đến tình hình sản xuất và đời sống của nhân dân, cụ thể như sau:Thiệt hại về người: Không có.Thiệt hại về nhà ở: 1.928 nhà bị tốc mái và hư hỏng nặng, 02 nhà phải di dời khẩn cấp.Thiệt hại về nông nghiệp và công trình giao thông: Diện tích lúa bị thiệt hại và ảnh hưởng là 516 ha, 0,091 ha mạ bị thiệt hại; trên 1.101,46 ha cây ngô, rau màu bị ảnh hưởng, 12,66 ha cây trồng hàng năm bị thiệt hại, diện tích cây lâm nghiệp bị thiệt hại 958,84 ha; diện tích ao bị tràn bờ là 2.157,54 ha, cuốn trôi 450 kg cá; 10 con gia súc và 600 con gia cầm bị thiệt hại,…. Thiệt hại về cơ sở hạ tầng: 03 trụ sở cơ quan bị thiệt hại: 01 điểm trường bị thiệt hại và 02 trạm y tế bị thiệt hại.Thiệt hại về giao thông: 80m đường giao thông bị sạt lở, hư hỏng gây ách tắc: 12 điểm; khối lượng đất sạt lở trên 8.594,41 m3. Ước tính tổng giá trị thiệt hại của các đợt thiên tai là trên 30.601 triệu đồng.Theo dự báo từ nay đến hết năm, trên địa bàn tỉnh sẽ còn xuất hiện nhiều đợt thiên tai xảy ra; nguy cơ xảy ra lũ quét, sạt lở đất và ngập úng, đặc biệt là nơi có địa hình dốc, khu vực có kết cấu đất đá kém ổn định, vùng trũng thấp, ven sông suối. Để chủ động ứng phó với các điều kiện thời tiết cực đoan, tỉnh đã yêu cầu các ngành chức năng, địa phương tập trung theo dõi chặt chẽ diễn biến thời tiết để chủ động tổ chức di dời, sơ tán người dân khi có tình huống xảy ra; đồng thời, kiểm tra rà soát và thực hiện các biện pháp đảm bảo an toàn công trình giao thông, thủy lợi, chủ động các biện pháp ứng phó nhằm hạn chế thấp nhất thiệt hại có thể xảy ra.9. Đánh giá chungĐánh giá chung, Tình hình kinh tế - xã hội của cả nước 6 tháng đầu năm 2024 tiếp tục duy trì xu hướng tích cực, kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, lạm phát trong tầm kiểm soát, các cân đối lớn được đảm bảo, hoạt động xuất khẩu tiếp tục xu hướng tăng khá trong bối cảnh thương mại toàn cầu gặp nhiều khó khăn. Tuy nhiên, tình hình thế giới vẫn còn tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường, tác động, ảnh hưởng nặng nề trên nhiều lĩnh vực; căng thẳng địa chính trị, cạnh tranh giữa các nước lớn ngày càng gia tăng, xung đột tại Nga - Ukraine tiếp tục kéo dài, căng thẳng trên biển Đỏ, dải Gaza tiếp tục leo thang, giá các loại hàng hóa và dịch vụ trên thế giới tăng cao đã ảnh hưởng đến chuỗi cung ứng và các hoạt động xuất khẩu, sự phục hồi của các đối tác thương mại lớn còn chậm; các chính sách thắt chặt tiền tệ, tăng lãi suất kéo dài để kiềm chế lạm phát,... những yếu tố trên là những khó khăn, thách thức tác động đến tình hình phát triển kinh tế của cả nước nói chung và của tỉnh nói riêng.Tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh vẫn duy trì đà tăng trưởng và đạt được nhiều kết quả tích cực so với các tỉnh trong khu vực: Tốc độ tăng trưởng 6 tháng đầu năm 2024 tăng 8,84% (GRDP quý I tăng 9,12%, quý II tăng 8,6%); tiếp tục huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực để xây dựng nhiều công trình, dự án trọng điểmtiến độ giải ngân vốn đầu tư công được đẩy mạnh, tỷ lệ giải ngân cao hơn mức trung bình cả nước; số lượng doanh nghiệp thành lập mới tăng; môi trường đầu tư kinh doanh tiếp tục được cải thiện; đã tích cực tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án đầu tư ngoài ngân sách; thu hút được các nguồn lực vào phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh,...Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được vẫn còn một số khó khăn, thách thức: Một số sản phẩm công nghiệp và sản phẩm xuất khẩu chủ yếu của tỉnh còn đạt thấp so với kế hoạch; nguồn thu nội địa còn đạt thấp so với kế hoạch; tiến độ thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc còn chậm; công tác giải phóng mặt bằng một số dự án hoàn thành trong năm 2024 chưa dứt điểm như: Dự án xây dựng đường từ Khu du lịch suối khoáng Mỹ Lâm đến Quốc lộ 2D; dự án Cầu Xuân Vân; dự án Đầu tư xây dựng cầu và tuyến đường tránh thị trấn Sơn Dương; về đất đắp cho công trình khu tái định cư và xây dựng các khu tái định cư Dự án cao tốc Tuyên Quang - Hà Giang chưa đáp ứng tiến độ đề ra,...10. Một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm 6 tháng cuối năm 2024Với quyết tâm hoàn thành cao nhất các mục tiêu, chỉ tiêu kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh đã đề ra trong năm 2024. Để phấn đấu hoàn thành các mục tiêu theo kế hoạch cần phải tiếp tục thực hiện tốt một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm sau:Một là, chủ động, tập trung tháo gỡ vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ triển khai các dự án trên địa bàn tỉnh, kịp thời tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc để đẩy nhanh tiến độ thực hiện, giải ngân vốn đầu tư công, phấn đấu đạt mục tiêu giải ngân cao nhất số vốn đầu tư công được giao theo kế hoạch; đẩy nhanh tiến độ xây dựng dự án đường cao tốc Tuyên Quang – Hà Giang (giai đoạn 1); đường từ Thành phố Tuyên Quang đi Khu du lịch suối khoáng Mỹ Lâm; xây dựng cầu và đường tránh thị trấn Sơn Dương; đường từ Khu du lịch suối khoáng Mỹ Lâm đến Quốc lộ 2D; Bệnh viện đa khoa tỉnh, Trường Trung học phổ thông Chuyên tại địa điểm mới,… và các dự án thuộc 03 Chương trình mục tiêu quốc gia,... các dự án trên khi hoàn thành sẽ hình thành vùng động lực, hành lang kinh tế, cực tăng trưởng, tạo động lực thúc đẩy kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh.Hai là, Tiếp tục thực hiện đồng bộ, triển khai thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 11/NQ-CP của Chính phủ về Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế- xã hội, đẩy mạnh cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư, nâng cao năng lực cạnh tranh; chú trọng công tác chuyển đổi số đẩy mạnh phát triển các thành phần kinh tế; kịp thời hỗ trợ người dân và doanh nghiệp phục hồi sản xuất kinh doanh.Ba là, Triển khai thực hiện có hiệu quả Quy hoạch tỉnh Tuyên Quang thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; tiếp tục tập trung thực hiện các giải pháp phát triển công nghiệp, xây dựng với trọng tâm vào các ngành mà tỉnh có tiềm năng, lợi thế như: Công nghiệp chế biến gỗ, sản xuất vật liệu xây dựng, công nghiệp dệt may, da giày, điện tử,… đôn đốc tiến độ và kịp thời giải quyết khó khăn, vướng mắc nhằm đẩy nhanh tiến độ dự án công nghiệp trọng điểm, để các dự án sớm hoàn thành đầu tư đưa vào sản xuất, nhằm gia tăng sản lượng và đóng góp thêm các sản phẩm công nghiệp mới và có phương án bù đắp các sản phẩm thiếu hụt, đảm bảo hoàn thành chỉ tiêu sản xuất công nghiệp theo kế hoạch.Bốn là, tập trung triển khai có hiệu quả các nhiệm vụ tài chính - ngân sách nhà nước năm 2023; tăng cường quản lý thu, chi ngân sách nhà nước; rà soát, xác định chính xác những nguồn thu còn tiềm năng, nguồn thu chưa khai thác hết, còn dư địa để tổ chức thực hiện, khai thác tăng thu, bù đắp các khoản hụt thu; phấn đấu hoàn thành dự toán thu ngân sách nhà nước trên địa bàn. Năm là, triển khai đầy đủ các chính sách hỗ trợ của Chính phủ về các gói hỗ trợ hồi phục kinh tế như: Hỗ trợ lãi suất 2%/năm thuế giá trị gia tăng đối với tất cả nhóm hàng hóa, dịch vụ đang áp dụng mức thuế suất giá trị gia tăng 10% xuống còn 8% (từ ngày 01/7/2024 đến hết ngày 31/12/2024); gia hạn nộp thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp,... Đây là những giải pháp rất cần thiết, là nguồn lực đáng kể để tháo gỡ khó khăn cho người dân, doanh nghiệp, góp phần làm giảm chi phí sản xuất, giảm giá thành sản phẩm, các doanh nghiệp có nguồn lực để thúc đẩy sản xuất-kinh doanh, nhanh chóng khôi phục hoạt động sản xuất, kinh doanh, phát triển ổn định, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo nguồn thu bền vững cho ngân sách nhà nước.CỤC THỐNG KÊ TUYÊN QUANG
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 5 năm 2024 tỉnh Tuyên Quang
- 10/11/2025 21:52
I. PHÁT TRIỂN KINH TẾ 1. Về sản xuất nông nghiệp (tính đến ngày 15/5/2024)1.1. Trồng trọt 1.1.1. Sản xuất vụ xuân năm 2024Tại thời điểm này, lúa xuân đang bước vào giai đoạn chín rộ, bà con nông dân ở các địa phương trong tỉnh tranh thủ điều kiện thời tiết nắng ráo, thuận lợi, tập trung tối đa nhân lực, huy động máy móc tiến hành thu hoạch nhanh gọn trong thời gian sớm nhất, để tránh hiện tượng thời tiết bất thường như mưa, bão gây ngập úng, thiệt hại đến năng suất, sản lượng lúa; với phương châm lúa chín đến đâu thu hoạch hết đến đó. Vụ Xuân năm nay, mặc dù thời tiết bất thuận song theo đánh giá của ngành chức năng ước tính năng suất lúa bình quân ước đạt khoảng 60 tạ/ha, tương đương với vụ xuân năm ngoái.Bên cạnh đó, ngành chức năng cũng đã tập trung chỉ đạo, đôn đốc bà con nông dân thu hoạch nhanh gọn lúa xuân đảm bảo đúng tiến độ, theo phương châm "xanh nhà hơn già đồng” để giải phóng diện tích đất chuẩn bị sản xuất cho vụ mùa 2024 trong khung thời vụ đạt kết quả cao. Kết quả cụ thể của một số cây trồng chính như sau:Cây lúa đã cấy 18.420 ha, đạt 101,8% kế hoạch, giảm 0,46% (giảm 84,8 ha) so với cùng kỳ, (trong đó: Lúa lai 8.771 ha; lúa thuần 9.649 ha); cây ngô đã trồng 8.262 ha, đạt 102,7%, giảm 0,24% (giảm 24,6 ha); cây lạc 3.274 ha, đạt 98,7%, tăng 1,68% (tăng 53,9 ha); cây đậu tương 115 ha, đạt 99,8%, tăng 6,48% (tăng 6,8 ha); cây mía trồng mới, trồng lại là 950 ha, trong đó: Diện tích trồng mới là 731 ha, trồng lại là 219 ha. 1.1.2 Cây lâu năm- Diện tích cây chuối hiện có trên địa bàn tỉnh 2.123 ha, giảm 4,88% (giảm 109,01 ha) so với cùng kỳ; sản lượng ước đạt 7.955 tấn, tăng 6,53% (tăng 487,75 tấn), sản lượng chủ yếu được thu mua của các doanh nghiệp chế biến trên địa bàn tỉnh và tiêu thụ tại các thị trường lân cận và các địa phương khác trong cả nước; cây vải diện tích hiện có 311 ha, sản lượng 1.764 tấn, giảm 0,49% (giảm 8,71 tấn) so với cùng kỳ.- Cây chè hiện có 8.203 ha, sản lượng thu hoạch ước đạt 33.717 tấn, tăng 4,14% (tăng 1.340,06 tấn) so với cùng kỳ.1.2. Tình hình sinh vật gây hại - Cây hàng năm vụ xuân: Cây lúa xuân chính vụ (trỗ bông – phơi màu – chín sáp): Bọ xít dài, sâu cuốn lá nhỏ, sâu đục thân, rầy nâu, rầy lưng trắng, bệnh đạo ôn lá gây hại rải rác, tỷ lệ hại 3-5%.- Cây lâu năm: Cây chè (ra búp): Nhện đỏ, rầy xanh, bọ cánh tơ, bệnh thối búp, bệnh chám xám phát sinh gây hại, tỷ lệ hại trung bình 3-6%. Cây nhãn, vải (hoa - quả non); bọ xít nâu gây hại, mật độ trung bình 1-2 con/cành, nơi cao 3-4 con/cành, non - trưởng thành. Cây cam, bưởi, chanh sâu vẽ bùa, bọ trĩ, bệnh ghẻ sẹo, bệnh loét, bệnh vàng lá, thối rễ tỷ lệ hại trung bình 10-12%.- Cây lâm nghiệp (vườn ươm-1-5 tuổi): Sâu ăn lá gây hại rải rác, tỷ lệ hại nơi cao 1-2% số lá (sâu non). Bệnh chết héo gây hại rải rác trên cây keo 1-3 tuổi, nơi cao 3-5% số cây. Bệnh thán thư, bệnh vàng lá, khô cành, khô ngọn gây hại rải rác trên cây bạch đàn tuổi 1-2, tỷ lệ hại nơi cao 2-4% số cây.1.3. Về chăn nuôi 1.3.1. Về số lượng đàn gia súc, gia cầmĐàn trâu 87.840 con, giảm 2.53% (giảm 2.284 con) so với cùng kỳ năm 2023; đàn bò 40.684 con, tăng 2,62% (tăng 1.038 con); đàn lợn 580.282 con, tăng 3,17% (tăng 22.592 con); đàn gia cầm 7.352 nghìn con, tăng 1,75% (tăng 127 nghìn con).1.3.2. Về sản phẩm đàn gia súc, gia cầmĐàn trâu sản lượng thịt hơi xuất chuồng đạt 791 tấn, tăng 6,19% (tăng 46,11 tấn) so với cùng kỳ; đàn bò đạt 237 tấn, tăng 6,38% (tăng 14,24 tấn); đàn lợn đạt 5.703 tấn, tăng 7,52% (tăng 398,74 tấn); đàn gia cầm đạt 1.856 tấn, tăng 7,17% (tăng 124,19 tấn).Đánh giá chung, tình hình chăn nuôi trong tháng trên địa bàn tỉnh cơ bản ổn định, ngành chức năng đã quan tâm, chú trọng, giám sát tình hình dịch bệnh trên đàn vật nuôi và thực hiện tiêm phòng cho đàn vật nuôi theo đúng định kỳ, đồng thời, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho các hộ chăn nuôi các biện pháp phòng, chống dịch bệnh xảy ra trên đàn gia súc. Tuy nhiên, do tình hình thời tiết trong tháng nắng nóng, đan xen với các đợt mưa lớn trên diện rộng, các yếu tố môi trường thay đổi khó lường sẽ gây bất lợi cho sinh trưởng, phát triển của vật nuôi. Ngành chức năng đã khuyến cáo người chăn nuôi thường xuyên thu dọn, vệ sinh chuồng trại hàng ngày; thực hiện tiêu độc khử trùng trong và bên ngoài chuồng nuôi, khơi thông cống rãnh thoát nước, phát quang bụi rậm xung quanh khu chăn nuôi, xử lý nơi khu trú, sinh sản của muỗi, côn trùng đốt, giảm thiểu ô nhiễm môi trường và ngăn ngừa nguy cơ phát sinh dịch bệnh…1.4. Về công tác phòng chống dịch bệnh gia súc, gia cầm trong tháng 1.4.1. Công tác phòng chống và điều trị- Bệnh Dịch tả lợn Châu Phi: Trong tháng toàn tỉnh đã ghi nhận 3 địa phương tái phát dịch tả lợn châu Phi là xã Phúc Yên (huyện Lâm Bình), Minh Hương (huyện Hàm Yên), Thượng Nông (huyện Na Hang), số lợn mắc bệnh là 116 con của 16 hộ chăn nuôi, tổng trọng lượng 3.779 kg. Toàn bộ lợn mắc bệnh đã được đưa đi tiêu hủy theo đúng quy định về phòng chống dịch bệnh. Trước tình hình trên, ngành chức năng đã khẩn trương thực hiện các biện pháp khoanh vùng dập dịch, hỗ trợ thuốc, vôi bột cho các địa phương để tiêu độc khử trùng tại khu vực chuồng trại của các hộ gia đình chăn nuôi có dịch. Đồng thời tạm dừng hoạt động mua bán gia súc khu vực có dịch; thành lập các chốt kiểm dịch động vật tạm thời tại địa bàn có dịch và các xã có nguy cơ lây nhiễm cao nhằm ngăn chặn dịch phát sinh lan rộng.- Các bệnh truyền nhiễm khác: Trong tháng, trên địa bàn tỉnh xuất hiện rải rác các bệnh trên đàn gia súc như: Bệnh viêm phổi, bệnh ký sinh trùng đường máu, bệnh tiêu chảy, bệnh phù đầu...), phát hiện và điều trị khỏi: 1.176/1.209 con, chết 33 con (trong đó: Trâu, bò: 356/356 con; đàn lợn: 820/853 con chết 33 con). Ngành chức năng đã tăng cường kiểm tra, theo dõi giám sát chặt chẽ tình hình dịch bệnh trên địa bàn quản lý, tăng cường công tác phòng, chống dịch bệnh; thường xuyên theo dõi công tác thú y trên địa bàn. 1.4.2. Công tác kiểm dịch vận chuyển động vật, sản phẩm động vật - Công tác kiểm dịch vận chuyển ngoại tỉnh: Đã kiểm tra cấp trên 191 giấy chứng nhận kiểm dịch vận chuyển trong đó (39 chuyến vận chuyển 11.031 con gia súc, gia cầm và 152 chuyến vận chuyển 2.984 tấn sữa tươi nguyên liệu); lũy kế cấp 1.119 giấy chứng nhận kiểm dịch vận chuyển trong đó (276 chuyến vận chuyển 71.049 con gia súc, gia cầm và 842 chuyến vận chuyển 16.206,5 tấn sữa tươi nguyên liệu và 01 chuyến vận chuyển 1.280 kg SPĐV chế biến làm Thức ăn chăn nuôi) đi các tỉnh Bắc Ninh, Hà Nội, Hà Nam, Hà Giang, Nam Định...- Công tác kiểm soát giết mổ và kiểm tra vệ sinh thú y: Trong tháng, đã kiểm tra, đóng dấu: 190 con trâu, bò và 4.728 con lợn; lũy kế từ đầu năm đến nay là 694 con trâu, bò và 25.012 con lợn.1.5. Về sản xuất lâm nghiệp 1.5.1. Công tác trồng rừngTrong tháng, tranh thủ thời tiết mưa nhiều, thuận lợi cho việc trồng rừng, ngành chức năng và chính quyền các địa phương đã kịp thời hỗ trợ cây giống, đôn đốc, hướng dẫn người dân tiến hành xử lý thực bì, triển khai trồng rừng trong khung thời vụ tốt nhất, đảm bảo kế hoạch đề ra. Toàn tỉnh đã trồng 5.984 ha rừng trồng tập trung, đạt 59,25% kế hoạch, giảm 13,31% (giảm 919 ha) cùng kỳ; số cây lâm nghiệp trồng phân tán trồng được là 430 nghìn cây. 1.5.2. Khai thác gỗ rừng trồngSản lượng gỗ khai thác ước đạt 472.173 m3 gỗ, giảm 10,24% (giảm 53.858 m3) so với cùng kỳ năm 2023. Sản lượng gỗ khai thác chủ yếu là gỗ rừng trồng nguyên liệu.1.5.3. Công tác quản lý bảo vệ rừngCông tác quản lý, bảo vệ rừng được các cấp, các ngành quan tâm, đồng thời tuyên truyền, vận động nhân dân tích cực tham gia thực hiện kế hoạch trồng rừng năm 2024; tuyên truyền, phổ biến giáo dục cho người dân nâng cao nhận thức về các chính sách quản lý bảo vệ và phát triển rừng; tăng cường kiểm tra, ngăn chặn việc phá rừng, đốt rừng, triệt phá các đường dây buôn bán, vận chuyển lâm sản trái phép. Thường xuyên cảnh báo nguy cơ cháy rừng, đẩy mạnh tuyên truyền về công tác phòng cháy chữa cháy rừng đối với các chủ rừng; tăng cường hợp chặt chẽ với cơ quan chức năng và chính quyền cơ sở, các chủ rừng tăng kiểm tra, kiểm soát, phát hiện kịp thời, xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật các hành vi xâm hại rừng.Trong tháng, trên địa bàn tỉnh không xảy ra vụ cháy rừng nào; số vụ chặt phá rừng 4 vụ, diện tích rừng bị chặt phá 0,84 ha. Đã xử lý nghiêm 11 vụ vi phạm với 10,14 m3 gỗ các loại; phạt hành chính và bán thanh lý tài sản 21,1 triệu đồng (đã thu nộp ngân sách 17 triệu đồng).3. Sản xuất công nghiệp3.1. Chỉ số phát triển công nghiệp - Chỉ số sản xuất công nghiệp IIP trong tháng ước tính giảm 0,03% so với tháng trước, tăng 11,31% so với cùng kỳ, cụ thể của các ngành như sau: Ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 37,93%, tăng 68,75%; cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 5,19%, tăng 2,74%; khai khoáng tăng 4,93%, giảm 1,74%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 3,49%, tăng 7,24%.Một số ngành công nghiệp cấp II có chỉ số sản xuất tăng so với cùng kỳ năm trước như: Sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 2,67%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế) tăng 63,80%; sản xuất sản phẩm từ plastic tăng 17,85%; sản xuất xi măng, vôi, thạch cao tăng nhẹ 5,70%,... Tính chung trong 5 tháng, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 4,85% so với cùng kỳ năm trước, Chia theo từng ngành kinh tế cấp I như sau:+ Ngành khai khoáng giảm 2,79%, nguyên nhân từ đầu năm đến nay, do thị trường tiêu thụ sản phẩm gặp nhiều khó khăn, giá bán các loại sản phẩm rất thấp và khó tiêu thụ, lượng hàng tồn kho nhiều dẫn đến sản lượng khai thác đá, cát, sỏi, đất sét, hóa chất và khoáng phân bón của các doanh nghiệp công nghiệp giảm so với cùng kỳ.+ Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 5,19%, do một số ngành chế biến tăng như: Sản xuất chế biến thực phẩm tăng 19,83%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế) tăng 62,82%; sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 72,99%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 9,51%,...+ Ngành sản xuất và phân phối điện tăng 3,43% trong tháng trên địa bàn tỉnh xuất hiện các đợt mưa to kéo dài, lượng nước tích trữ tại các hồ thủy điện tăng, cùng vơi đó là ngành điện đã chủ động triển khai các giải pháp, phương án ứng phó, tăng cường kiểm tra củng cố hệ thống lưới điện và đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức của người dân về sử dụng điện an toàn, hiệu quả, tiết kiệm, đảm bảo cung cấp điện trong mùa nắng nóng năm 2024.+ Ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 10,39%, do hoạt động thu gom, xử lý và tiêu hủy rác thải tăng.3.2. Sản phẩm công nghiệp chủ yếu Trong tháng, một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng khá so với cùng kỳ năm trước: Điện sản xuất đạt 134 triệu Kwh, tăng 80,70%; xi măng đạt 119.300 tấn, tăng 24,27%; thép cuộn đạt 27.000 tấn, tăng 38,02%; giày da đạt 921 nghìn đôi, tăng 21,17%; gỗ tinh chế đạt 4.788 m3, tăng 18,66%,…Tuy nhiên, cũng có một số sản phẩm công nghiệp giảm so với cùng kỳ như: Điện thương phẩm đạt 107 triệu Kwh, giảm 0,17%; bột ba rít đạt 1.200 tấn, giảm 84,32%; bột Felspat đạt 23.550 tấn, giảm 22,05%; may mặc xuất khẩu đạt 1.302 nghìn sản phẩm, giảm 20,23%; giấy đế xuất khẩu đạt 1.000 tấn, giảm 6,06%,…- Tính chung trong 5 tháng đầu năm 2024, một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng khá so với cùng kỳ năm trước: Điện thương phẩm tăng 1,46%; đường kính tăng 54,38%; chè chế biến tăng 1,64%; xi măng tăng 5,91%; giấy đế xuất khẩu tăng 18,53%; bột giấy tăng 17,49%; giày da tăng 33,66%,...Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu giảm so với cùng kỳ năm trước như: Điện sản xuất giảm 11,37%; bột ba rít giảm 59,94%; bột Felspat giảm 32,18%; hàng may mặc xuất khẩu giảm 3,90%,… Đánh giá chung, sản xuất công nghiệp trong tháng tiếp tục xu hướng tăng trưởng tích cực, sản lượng và đơn hàng một số sản phẩm thuộc nhóm ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng trưởng khá; các cấp, các ngành trong tỉnh đã triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp nắm bắt tình hình, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, hỗ trợ tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực công nghiệp sản xuất, da, giầy, xi măng,... Qua đó, giúp doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất, kinh doanh, đặc biệt là những doanh nghiệp chủ lực, có đóng góp lớn vào giá trị sản xuất của ngành công nghiệp và tăng thu ngân sách địa phương và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.4. Vốn đầu tư, xây dựng4.1. Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước thực hiện tháng 5 đạt 449 tỷ đồng, tăng 12,86% so với tháng trước, tăng 62,81% so cùng kỳ. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 407 tỷ đồng, tăng 15,87%, tăng 67,45%; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện đạt 41 tỷ đồng, giảm 8,65%, tăng 29,96%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã đạt 2 tỷ đồng, giảm 25,21%, tăng 8,89% so với cùng kỳ.Tính chung trong 5 tháng, nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 1.631 tỷ đồng, tăng 49,27% so với cùng kỳ. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 1.442 tỷ đồng, tăng 49,13%; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện đạt 176 tỷ đồng, tăng 54,83%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã đạt 13 tỷ đồng, tăng 8,48%.4.2. Hoạt động xây dựngVới quyết tâm thực hiện mục tiêu giải ngân vốn đầu tư công là nhiệm vụ chính trị trọng tâm trong năm 2024, là động lực quan trọng nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của tỉnh. Tỉnh đã triển khai các giải pháp đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công, nhất là những chương trình, dự án hạ tầng trọng điểm, tháo gỡ dứt điểm các khó khăn, vướng mắc, nhất là trong công tác giải phóng mặt bằng đủ điều kiện khởi công mới các công trình, dự án. Chủ động đôn đốc các nhà thầu tập trung nhân lực, vật tư, máy thi công, tăng ca để đẩy nhanh tiến độ thi công, nâng cao chất lượng các công trình, dự án sớm hoàn thành trước tiến độ đề ra.Năm 2024, Tuyên Quang được giao tổng kế hoạch vốn đầu tư công là 4.758,02 tỷ đồng, trong đó: Vốn ngân sách địa phương: 1.956,03 tỷ đồng; Vốn ngân sách trung ương: 2.801,9 tỷ đồng. Tính đến ngày 17/5/2024, tổng số vốn đã giải ngân được 1.311,44 tỷ đồng, đạt 27,56% kế hoạch, trong đó: Nguồn vốn ngân sách địa phương giải ngân được 357,7 tỷ đồng, đạt 18,29%; nguồn vốn ngân sách trung ương giải ngân được 953,72 tỷ đồng, đạt 34,04%.5. Thương mại và Dịch vụTrong tháng, thị trường hàng hóa sôi động do có nhiều ngày nghỉ lễ, nhu cầu mua sắm, vui chơi, giải trí tăng, nguồn cung hàng hóa, dồi dào, ổn định; các doanh nghiệp đã triển khai nhiều chương trình khuyến mại, giảm giá hấp dẫn để kích cầu tiêu dùng của người dân. Bên cạnh đó, ngành chức năng, đã tăng cường xúc tiến các hoạt động thương mại, kích cầu trên địa bàn tỉnh, tìm kiếm và mở rộng các thị trường tiềm năng trong và ngoài nước; tích cực kêu gọi người dân hưởng ứng Cuộc vận động "Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam"; “Người Tuyên Quang ưu tiên dùng hàng nông sản Tuyên Quang”, thúc đẩy phân phối hàng hóa qua nền tảng số, thương mại điện tử.Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 5 ước đạt 3.893 tỷ đồng, tăng 49,56% so với tháng trước, tăng 64,46% so với cùng kỳ. Tính chung 5 tháng đầu năm 2024, tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước ước đạt 13.020 tỷ đồng, tăng 19,09% so với cùng kỳ.5.1. Doanh thu bán lẻ hàng hóa Doanh thu bán lẻ hàng hóa trong tháng ước đạt 2.326 tỷ đồng, tăng 1,19% so với tháng trước, tăng 11,89% so với tháng cùng kỳ. Trong đó, một số nhóm hàng tăng so với tháng trước, tăng so với cùng kỳ, cụ thể như sau: Hàng may mặc đạt 137 tỷ đồng, tăng 1,08%, tăng 19,26%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình đạt 237 tỷ đồng, tăng 2,32%, tăng 8,46%; gỗ và vật liệu xây dựng đạt 237 tỷ đồng, tăng 5,46%, tăng 11,92%; xăng, dầu các loại đạt 281 tỷ đồng, tăng 5,93%, tăng 3,15%,…Ở chiều ngược lại, một số nhóm hàng giảm so với tháng trước và tăng so với cùng kỳ như: Vật phẩm, văn hóa, giáo dục đạt 34 tỷ đồng, giảm 1,21%, tăng 81,99%; phương tiện đi lại, trừ ô tô con đạt 76 tỷ đồng, giảm 7,46%, tăng 65,51%; nhiên liệu khác (trừ xăng dầu) đạt 45 tỷ đồng, giảm 1,55%, tăng 49%,…Tính chung trong 5 tháng, tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 11.453 tỷ đồng, tăng 18,85% so với cùng kỳ.5.2. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ khác- Trong tháng, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 216,6 tỷ đồng, tăng 2,47% so với tháng trước, tăng 4,21% so với cùng kỳ. Trong đó: Dịch vụ lưu trú đạt 19,96 tỷ đồng, tăng 4%, tăng 14,10%; ăn uống đạt 196,72 tỷ đồng, tăng 2,37%, tăng 3,35%. Tính chung trong 5 tháng, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 1.019 tỷ đồng, tăng 13,22% so với cùng kỳ.- Doanh thu du lịch lữ hành trong tháng ước đạt 0,50 tỷ đồng, tăng 8,18% so với tháng trước, tăng 195% so với cùng kỳ. Tính chung trong 5 tháng, doanh thu du lịch lữ hành ước đạt 2,14 tỷ đồng, tăng 171,64% so với cùng kỳ.- Doanh thu dịch vụ khác trong tháng ước đạt 107 tỷ đồng, giảm 8,97% so với tháng trước, tăng 33,47% so với cùng kỳ. Trong đó: Dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 5 tỷ đồng, tăng 1,52% so với tháng trước, tăng 86,82% so với cùng kỳ; sửa chữa máy vi tính, đồ dùng cá nhân và gia đình, tăng 2,78%, tăng 5,56%. Tính chung trong 5 tháng, doanh thu dịch vụ khác ước đạt 546 tỷ đồng, tăng 33,47% so với cùng kỳ.5.3. Giá cả- Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trong tháng giảm 0,01% so với cùng kỳ năm trước, tăng 1,61% so với tháng 12 năm trước, tăng 3,75% so với tháng trước. Tính chung trong 5 tháng, CPI bình quân tăng 3,75% so với cùng kỳ.Trong số 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính thì có 7 nhóm tăng giá so với tháng trước, 3 nhóm giảm giá và 1 nhóm giữ nguyên so với tháng trước là nhóm Bưu chính viễn thông, cụ thể của các nhóm như sau:Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,27%, do nhóm lương thực tăng 0,09%; nhóm thực phẩm tăng 0,34%, trong đó nhóm thịt lợn tăng 0,32%; thịt gia cầm tăng 0,81%; đồ uống và thuốc lá tăng 0,05% do thời tiết nắng nóng nhu cầu tiêu thụ các loại rượu, bia của người dân tăng; may mặc, mũ nón và giày dép tăng 0,27% do nhu cầu tiêu thụ các loại vải, quần áo may sẵn và giày dép của người dân tăng; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,05% do nhu cầu mua sắm các thiết bị làm mát của người dân tăng khi thời tiết nắng nóng; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,03% do thời tiết nắng, mưa đan xen, không khí nồm ẩm, xuất hiện các bệnh liên quan đến đường hô hấp, cúm, bệnh sởi, thủy đậu,… khiến nhu cầu sử dụng các loại thuốc điều trị tăng; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,4%, do trong tháng có nhiều ngày nghỉ lễ nhu cầu đi du lịch theo các tour du lịch của người dân tăng cao.Nhóm giao thông giảm 1,39% do giá xăng, dầu điều chỉnh tại các kỳ điều hành giá của Tập đoàn xăng dầu Việt Nam về mức giá bán lẻ xăng, dầu (xăng giảm 4,74%, dầu diesel giảm 5,07%); giáo dục giảm 0,01% do nhu cầu sử dụng các loại bút, văn phòng phẩm và đồ dùng học tập của học sinh giảm do chuẩn bị kết thưc năm học và chuẩn bị bước vào kỳ nghỉ hè; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác giảm 0,35%.- Chỉ số giá vàng tăng 32,99% so với cùng kỳ năm trước, tăng 22,75% so với tháng 12 năm trước, tăng 2,43% so với tháng trước. Tính chung trong 5 tháng đầu năm 2024, giá vàng tăng 24,52% so với bình quân cùng kỳ. - Chỉ số giá đô la Mỹ tăng 7,75% so với cùng kỳ năm trước, tăng 4,22% so với tháng 12 năm trước, tăng 0,97% so với tháng trước. Tính chung trong 5 tháng đầu năm 2024, tăng 5,28% so với bình quân cùng kỳ.5.4. Tình hình xuất, nhập khẩu hàng hóa Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa trong tháng ước đạt 15,3 triệu USD, đạt 17% kế hoạch, giảm 33,48% so với cùng kỳ. Trong đó, xuất khẩu ước đạt 9,8 triệu USD, giảm 38,64%; nhập khẩu ước đạt 5,5 triệu USD.+ Một số mặt hàng xuất khẩu chủ yếu trong tháng tăng so với cùng kỳ như: Chè xuất khẩu ước đạt 602 tấn, tăng 13,5%; giấy đế xuất khẩu đạt 300 tấn, tăng 21,4%; phong bì đạt 400 nghìn sản phẩm, tăng 18,9%,…. Một số nhóm hàng giảm so với cùng kỳ như: Hàng dệt may đạt 920 nghìn sản phẩm, giảm 23,8%; đũa gỗ xuất khẩu đạt 2.000 nghìn đôi, giảm 20%; antimony thỏi đạt 38 tấn, giảm 2,6%.+ Mặt hàng nhập khẩu chủ yếu trong tháng tăng so với cùng kỳ như: Máy móc, thiết bị, phụ tùng, hàng hóa khác tăng 31,6%. Tính chung trong 5 tháng đầu năm 2024, kim ngạch xuất, nhập khẩu ước đạt 93,7 triệu USD, đạt 36,03% kế hoạch, giảm 1,91% so với cùng kỳ. Trong đó, xuất khẩu ước đạt 45 triệu USD, giảm 21,77%, nhập khẩu ước đạt 26 triệu USD, giảm 31,58%. Một số mặt hàng xuất khẩu tiếp tục tăng so với cùng kỳ như: Chè (tăng 78,6%); giấy đế xuất khẩu (tăng 39,8%), phong bì (tăng 68,8%),... Tuy nhiên, cũng có một số mặt hàng giảm so với cùng kỳ như: Bột giấy (giảm 49,9%); đũa gỗ xuất khẩu (giảm 53,2%).6. Vận tải hàng hóa và hành khách Là tháng có nhiều ngày nghỉ lễ, nhu cầu đi du lịch, lễ hội, về quê, thăm người thân của người dân, du khách tăng cao. Các đơn vị vận tải đang tích cực tăng cường phương tiện, nhân lực phục vụ nhu cầu đi lại của người dân phục vụ tối đa nhu cầu đi lại của người dân; ngành chức năng đã chú trọng, tăng cường xử lý các hành vi vi phạm quy định pháp luật về bảo đảm trật tự, an toàn giao thông, vi phạm nồng độ cồn, chở quá khổ, quá tải, quá số người quy định, phương tiện không bảo đảm an toàn khi lưu thông.6.1. Doanh thu vận tải tải kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải - Doanh thu vận tải trong tháng ước đạt 359 tỷ đồng, tăng 1,33% so với tháng trước, tăng 21,34% so với cùng kỳ. Trong đó, vận tải hành khách đạt 59 tỷ đồng, tăng 1,43%, tăng 11,54%; vận tải hàng hóa đạt 300 tỷ đồng, tăng 1,31%, tăng 23,43%; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 0,43 tỷ đồng, tăng 1,40%, tăng 32,23%; hoạt động bưu chính, chuyển phát đạt 0,28 tỷ đồng, giảm 1,40%, tăng 49,02%.- Tính chung trong 5 tháng đầu năm 2024, doanh thu vận tải kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 1.810 tỷ đồng, tăng 25,69% so với cùng kỳ. Trong đó: vận tải hành khách đạt 301 tỷ đồng, tăng 20,16%; vận tải hàng hóa đạt 1.506 tỷ đồng, tăng 26,85%; dịch vụ hỗ trợ vận tải kho bãi đạt 2,1 tỷ đồng, tăng 26,95%; bưu chính, chuyển phát đạt 1,3 tỷ đồng, tăng 34,29%.6.2. Vận tải hành khách và hàng hóa- Trong tháng khối lượng hành khách vận chuyển ước đạt 1 triệu lượt hành khách, tăng 1,02% so với tháng trước, tăng 7,58% so với cùng kỳ; khối lượng hành khách luân chuyển ước đạt 77 triệu lượt hành khách.km, tăng 0,95%, tăng 11,24%. Tính chung 5 tháng đầu năm 2024, khối lượng hành khách vận chuyển ước đạt 6 triệu lượt hành khách, tăng 7,58% so với cùng kỳ; khối lượng hành khách luân chuyển ước đạt 391 triệu lượt hành khách.km, tăng 11,24%.- Khối lượng hàng hóa vận chuyển trong tháng ước đạt 2 triệu tấn, tăng 4,55% so với tháng trước, tăng 25,22% so với cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 132 triệu tấn.km, tăng 1,98%, tăng 29,02%. Tính chung 5 tháng đầu năm 2024, khối lượng hàng hóa vận chuyển ước đạt 10 triệu tấn, tăng 25,22% so với cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 659 triệu tấn.km, tăng 29,02%.7. Về du lịch - Tỉnh đã xây dựng và ban hành Kế hoạch phát triển du lịch tỉnh Tuyên Quang năm 2024 để thúc đẩy mục tiêu phát triển du lịch của tỉnh và xây dựng các sản phẩm du lịch đặc trưng của các vùng, miền đặc biệt là du lịch văn hóa - lịch sử, du lịch nghỉ dưỡng và du lịch sinh thái, nhằm giới thiệu quảng bá về mảnh đất và con người Tuyên Quang, cùng với đó là đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến, giới thiệu về các sản phẩm du lịch, các điểm du lịch tại các khu, điểm du lịch trên địa bàn tỉnh.- Trong tháng các khu, điểm du lịch trên địa bàn tỉnh, thu hút được 455.000 lượt khách du lịch. Tổng thu từ khách du lịch đạt 583 tỷ đồng. Tính chung trong 5 tháng đầu năm 2024, thu hút được 1.567.500 lượt khách đạt 57% kế hoạch, tăng 1,6% so với cùng kỳ; tổng thu đạt 1.886 tỷ đồng; đạt 52.3% kế hoạch, tăng 4% so với cùng kỳ).II. LĨNH VỰC VĂN HÓA - XÃ HỘI 1. Công tác lao động, việc làm, giáo dục nghề nghiệp- Tỉnh đã tổ chức Ngày hội tư vấn hướng nghiệp và giới thiệu việc làm năm 2024 với sụ tham gia của gần 1.600 người lao động, học sinh, sinh viên trên địa bàn tỉnh. Tham gia sự kiện có 23 đơn vị, doanh nghiệp, trường đại học, cao đẳng trong và ngoài tỉnh với các gian hàng tư vấn, giới thiệu hàng chục nghìn vị trí việc làm cần tuyển dụng và học nghề thuộc lĩnh vực sản xuất linh kiện điện tử, chế biến gỗ xuất khẩu, may mặc, du lịch, xuất khẩu lao động… Hoạt động trên nhằm giúp kết nối các đơn vị, doanh nghiệp với người lao động, học sinh, sinh viên trên địa bàn tỉnh. Từ đó tăng cơ hội tìm kiếm việc làm, học nghề, góp phần giải quyết việc làm mới, nâng cao thu nhập và giảm nghèo bền vững trên địa bàn tỉnh.- Tổ chức Lễ phát động Tháng Công nhân và Tháng hành động về An toàn, vệ sinh lao động năm 2024 và biểu dương công nhân lao động tiêu biểu giai đoạn 2022-02024.- Trong tháng toàn tỉnh có 2.779 lao động; luỹ kế 5 tháng đầu năm đến nay toàn tỉnh có 13.107 lao động được tạo việc làm (Trong đó: Lao động làm việc trong các ngành kinh tế tại tỉnh là 7.961 người; Lao động đi làm việc các tỉnh, thành phố 4.637 người; lao động đi làm việc nước ngoài theo hợp đồng 473 người), đạt 58,12% kế hoạch và đạt 104,68% so với cùng kỳ.2. Công tác đảm bảo chế độ người có công với cách mạng, bảo trợ, an sinh xã hội và phòng chống các tệ nạn2.1. Công tác đối với người có công với cách mạng Duy trì thực hiện đúng, đủ, kịp thời các chế độ, chính sách cho trên 6.800 người có công với cách mạng; triển khai rà soát hộ gia đình người có công với cách mạng còn có vướng mắc trong hỗ trợ làm mới và sửa chữa nhà ở. Đẩy mạnh thực hiện các phong trào, hoạt động "đền ơn, đáp nghĩa", "uống nước nhớ nguồn", nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người có công với cách mạng. 2.2. Công tác bảo trợ, an sinh xã hội và phòng chống các tệ nạn - Tiếp tục thực hiện tốt các chính sách trợ giúp xã hội, thường xuyên rà soát, nắm chắc tình hình đời sống nhân dân, hỗ trợp kịp thời các hộ gia đình, cá nhân gặp khó khăn do bị ảnh hưởng thiên tai, tại nạn rủi ro. Duy trì trợ cấp hàng tháng cho trên 38.000 đối tượng bảo trợ xã hội. - Trong tháng Cơ sở cai nghiện tỉnh đã tiếp nhận 07 học viên, cấp giấy chứng nhận hoàn thành cai nghiện cho 11 học viên, đưa ra khỏi danh sách quản lý của Cơ sở cai nghiện 01 học viên đang trốn đã bị bắt tạm giam; lũy kế từ đầu năm đến nay, Cơ sở đã tiếp nhận 40 học viên; cấp giấy chứng nhận hoàn thành cai nghiện cho 65 học viên; tại thời điểm báo cáo, Cơ sở cai nghiện đang quản lý 142 học viên (cai nghiện bắt buộc 140 học viên, cai nghiện tự nguyện 02 học viên), trong đó: Số có mặt 140 học viên; trốn cai 02 học viên.3. Hoạt động giáo dục và đào tạo Các trường THPT trên địa bàn tỉnh đã hoàn tất đăng ký dự thi tốt nghiệp THPT và thi đại học năm 2024, với sự tham gia của trên 9.079 thí sinh; trong đó, số thí sinh chỉ thi tốt nghiệp THPT là 1.547; thí sinh chỉ thi để tuyển sinh đại học, cao đẳng là 384; thi tốt nghiệp THPT và tuyển sinh đại học, cao đẳng là 8.695 thí sinh. Để chuẩn bị cho Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2023 dự kiến sẽ diễn ra trong hai ngày 27 và 28/6 đạt kết quả cao; hiện nay, các trường THPT trên địa bàn tỉnh đang tập trung triển khai cho học sinh khối 12 ôn thi tốt nghiệp và xây dựng nội dung chương trình bám theo chuẩn kiến thức kỹ năng để tổ chức ôn tập. Trong quá trình ôn tập thường xuyên đánh giá, phân loại học sinh theo trình độ và có phương án ôn tập thích hợp với năng lực, kiến thức của các em để điều chỉnh phương pháp ôn tập cho phù hợp, đạt hiệu quả cao.4. Hoạt động y tế - Trong tháng, thời tiết diễn biến phức tạp nắng nóng, xen kẽ các đợt mưa rào và giông lốc cục bộ có nơi mưa rất to, nguy cơ gia tăng, bùng phát các dịch bệnh truyền nhiễm như: Sởi, sốt xuất huyết, tay chân miệng, bạch hầu, ho gà và một số bệnh truyền nhiễm khác. Để chủ động phòng, chống các bệnh dịch truyền nhiễm bùng phát trong mùa hè, tỉnh đã đã triển khai nhiều giải pháp phòng, chống dịch; chủ động theo dõi, giám sát, phát hiện sớm, xử lý kịp thời triệt để các ổ dịch bệnh truyền nhiễm, không để lây lan, bùng phát lan rộng ra cộng đồng; kịp thời khoanh vùng, xử lý triệt để các ổ dịch (nếu có), không để dịch bùng phát trở lại và hạn chế tối đa xảy ra nguy cơ dịch chồng dịch. Tính đến hết ngày 15-5, toàn tỉnh có 5 ca mắc nghi mắc sốt xuất huyết, 88 ca mắc tiêu chảy, 138 ca bị thủy đậu, 62 ca tay chân miệng...- Thường xuyên cập nhật thông tin về tình hình dịch bệnh và khuyến cáo người dân thực hiện các yêu cầu phòng chống dịch theo quy định; tuyên truyền khuyến khích người dân thực hiện đeo khẩu trang tại những nơi đông người và khi đi lại, di chuyển trên các phương tiện công cộng. 5. Hoạt động văn hoá - thể dục, thể thao- Lĩnh vực văn hoá: Tỉnh đã tổ chức thành công các sự kiện quảng bá, thu hút khách du lịch đến với tỉnh như: Lễ hội đền Hạ, đền Thượng, đền Ỷ La; Lễ hội Nhảy lửa của người Pà Thẻn; Lễ hội Hương sắc Na Hang (Lễ hội Hoa Lê); Lễ khai mạc năm du lịch tỉnh Tuyên Quang 2024 với nhiều hoạt động hấp dẫn như: Lễ hội Khinh khí cầu quốc tế Tuyên Quang lần thứ 3 tại Quảng trường Nguyễn Tất Thành,… Tiếp tục đẩy mạnh phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” gắn với chương trình xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh được triển khai sâu rộng.- Về thể dục thể thao: Tỉnh đã phối hợp với Tổng cục TDTT, Liên đoàn Cầu lông Việt Nam tổ chức thành công giải cầu lông CLB các tỉnh, thành, ngành toàn quốc năm 2024 với sự tham gia của 25 đoàn đến từ 22 tỉnh, thành, ngành trong cả nước với trên 200 vận động viên thi đấu, tranh tài ở 5 nhóm tuổi nam và nữ. Kết thúc giải, Ban Tổ chức trao huy chương cho các vận động viên có thành tích thi đấu xuất sắc ở 5 nhóm tuổi (nhóm 1 từ 12 - 30 tuổi, nhóm 2 từ 31 - 40 tuổi, nhóm 3 từ 41 - 45 tuổi, nhóm 4 từ 46 - 50 tuổi và nhóm 5 từ 51 - 55 tuổi) và trao cúp Thành Công cho đoàn có thành tích thi đấu xuất sắc tại giải; tỉnh đã tổ chức thành công giải “Giải đua thuyền Kayak” tỉnh Tuyên Quang mở rộng năm 2024; Giải bóng đá Thiếu niên Nhi đồng tỉnh Tuyên Quang năm 2024. …- Tại Hội khỏe Phù Đổng toàn quốc lần thứ X, khu vực I (bao gồm các tỉnh Trung du miền núi phía Bắc) được tổ chức tại thành phố Việt Trì tỉnh Phú Thọ, đoàn Tuyên Quang có 64 VĐV tham gia thi đấu 5 môn gồm: đẩy gậy, điền kinh, cầu lông, bóng đá, kéo co. Kết quả, đoàn đã giành 25 huy chương, Trong đó môn điền kinh giành 16 huy chương gồm 6 Huy chương Vàng, 4 Huy chương Bạc và 6 Huy chương Đồng; môn cầu lông giành 4 huy chương gồm 1 Huy chương Bạc và 3 Huy chương Đồng; môn đẩy gậy giành 5 Huy chương Đồng. Hội khỏe Phù Đổng toàn quốc lần thứ X, năm 2024, Khu vực I đã tạo không khí vui tươi, phấn khởi nhằm lan tỏa tinh thần thể thao cao thượng, lành mạnh trong các em học sinh, góp phần đẩy mạnh Cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại”.6. Một số hoạt động khác- Tỉnh đã khai trương Trung tâm Giám sát điều hành hành thông minh của tỉnh Tuyên Quang. Trung tâm sẽ thu thập thông tin, số liệu kết nối đến cơ sở dữ liệu của các cơ quan, đơn vị, địa phương giúp lãnh đạo tỉnh có các thông tin, dữ liệu trong điều hành, quy hoạch, định hướng phát triển. Đồng thời phục vụ công tác điều hành, xử lý các tình huống khẩn cấp trên địa bàn tỉnh nhanh chóng, chính xác, hiệu quả; cung cấp cơ sở dữ liệu, thông tin tổng hợp chung và chi tiết về lĩnh vực chuyên môn của các cơ quan, đơn vị, địa phương, giúp lãnh đạo tỉnh quản lý, chỉ đạo, điều hành các hoạt động của tỉnh phù hợp với tình hình thực tế, đem lại hiệu quả cao, phục vụ tốt hơn đối với người dân và doanh nghiệp.- Trong tháng Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) đã công bố Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) và Chỉ số Xanh cấp tỉnh (PGI) năm 2023. Trong báo cáo kết quả công bố, chỉ số PCI năm 2023 của tỉnh Tuyên Quang đạt 65,45 điểm, tăng 2,59 điểm so với điểm PCI năm 2022, tăng 02 bậc so với năm trước và xếp thứ 50/63 tỉnh, thành phố trên cả nước; xếp thứ 10/14 tỉnh Trung du miền núi phía Bắc.7. Tình hình an toàn giao thông, thiên tai và phòng chống cháy, nổTrong dịp nghỉ lễ 30/4- 1/5, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 4 vụ tai nạn giao thông, làm bị thương 4 người, không có trường hợp tử vong (so với cùng kỳ năm 2023, tăng 1 vụ, tăng 2 người bị thương). Ngành chức năng đã phát hiện, xử lý 534 trường hợp vi phạm. Trong đó, chủ yếu vi phạm tốc độ với 250 trường hợp; vi phạm nồng độ cồn với 116 trường hợp; 62 trường hợp không có giấy phép lái xe; các vi phạm khác như: chở hàng quá khổ, quá tải, cơi nới thành thùng; tránh, vượt sai quy định; dừng đỗ sai quy định; không đội mũ bảo hiểm,… Tổng số tiền phạt ước tính hơn 1,1 tỷ đồng.Tỉnh tiếp tục triển khai đợt cao điểm tuần tra, kiểm soát, xử lý nghiêm các hành vi, vi phạm trật tự, an toàn giao thông, nhất là vi phạm về nồng độ cồn khi lái xe; vi phạm tốc độ, tránh, vượt sai quy định; vi phạm chở hàng quá tải trọng; phương tiện không đảm bảo an toàn kỹ thuật; không đội mũ bảo hiểm khi đi mô tô, xe máy, xe đạp điện; tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát trên các tuyến cao tốc, tuyến quốc lộ, đường tỉnh, đường huyện, là những nơi thường xảy ra tai nạn giao thông. 7.1. Về an toàn giao thông trong thángToàn tinh đã xảy ra 16 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 4 người và làm bị thương 12 người. So với tháng trước số vụ tai nạn tăng 6,66%; số người chết giảm 33,34%; số người bị thương tăng 9,09%. So với tháng cùng kỳ số vụ tai nạn giao thông tăng 14,29%; số người chết giảm 42,86%; số người bị thương tăng 33,33%.Tính chung 5 tháng đầu năm 2024, toàn tỉnh đã xảy ra 69 vụ tai nạn giao thông; làm chết 30 người và làm bị thương 55 người. So với cùng kỳ năm trước: Số vụ tai nạn giao thông giảm 2,82%; số người chết tăng 11,11%; số người bị thương giảm 3,51%.7.2. Về thiên tai, cháy, nổ- Trong tháng, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra các đợt mưa giông, lốc kèm theo mưa lớn và xuất hiện các hiện tượng sét, mưa đá và gió giật mạnh đã gây ra những thiệt hại về tài sản hòa màu của người dân, làm ảnh hưởng đến tình hình sản xuất và đời sống của nhân dân, cụ thể như sau:Thiệt hại về người: Không có.Thiệt hại về nhà ở: 1.706 nhà bị tốc mái và hư hỏng nặng.Thiệt hại về nông nghiệp và công trình giao thông: Giông lốc đã làm 506 ha lúa bị ảnh hưởng, 807,54 ha cây ngô, rau màu và cây hàng năm khác bị thiệt hại, 952,3 ha cây lâm nghiệp và 1,5 ha cây ăn quả bị thiệt hại; diện tích ao bị tràn bờ là 2.157 ha; 4 con gia súc và 600 con gia cầm bị thiệt hại,…. Ước tính tổng giá trị thiệt hại của các đợt thiên tai là 26.461 triệu đồng.Theo dự báo, trong thời gian tới thời tiết có tiếp tục diễn biến phức tạp. Dự báo nắng nóng sớm và gay gắt hơn trung bình nhiều năm, số đợt nắng nóng có khả năng nhiều hơn và gay gắt hơn so với trung bình nhiều năm. Nguy cơ xảy ra các đợt thiên tai, lũ lụt và lũ quét, gây sạt lở đất, đá ở vùng có độ dốc, ngập úng ở vùng trũng. Các địa phương, người dân cần chủ động các biện pháp để chủ động ứng phó, phòng, tránh.- Trong tháng, trên địa bàn tỉnh không ghi nhận vụ cháy nổ nào xảy ra..CỤC THỐNG KÊ TUYÊN QUANG
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 4 năm 2024 tỉnh Tuyên Quang
- 10/11/2025 21:47
I. PHÁT TRIỂN KINH TẾ 1. Về sản xuất nông nghiệp (tính đến ngày 15/4/2024)1.1. Trồng trọt 1.1.1. Sản xuất vụ xuân năm 2024Trong tháng thời tiết thuận lợi hơn cho cây lúa vụ xuân phát triển, thời gian này lúa đang trong giai đoạn đứng cái làm đòng, đây cũng là giai đoạn rất quan trọng quyết định đến năng suất, sản lượng cả vụ; ngành chức năng đã tập trung hướng dẫn, chỉ đạo, đôn đốc bà con nông dân thường xuyên thăm đồng, chăm sóc, bón phân, phòng trừ sâu bệnh cho lúa và cây trồng với quyết tâm hướng tới một vụ xuân thắng lợi.Kết quả: Cây lúa đã cấy được 18.420 ha, đạt 101,8% kế hoạch, giảm 0,46% (giảm 84,8 ha) so với cùng kỳ, trong đó: Lúa lai 8.771 ha; lúa thuần 9.649 ha; cây ngô đã trồng 8.262 ha, đạt 102,7%, giảm 0,3% (giảm 24,6 ha); cây lạc 3.274 ha, đạt 98,7%, tăng 1,67% (tăng 53,9 ha); cây đậu tương 115 ha, đạt 99,8%, tăng 6,3% (tăng 6,8 ha); cây mía trồng mới, trồng lại là 929 ha, trong đó: Diện tích trồng mới là 710 ha, trồng lại là 219 ha. 1.1.2 Cây lâu năm- Diện tích cây chuối hiện có trên địa bàn tỉnh 2.245 ha, tăng 0,52% so với cùng kỳ; sản lượng đạt trên 5.882 tấn, tăng 1,73%, sản lượng chủ yếu được thu mua của các doanh nghiệp chế biến trên địa bàn tỉnh và tiêu thụ tại các thị trường lân cận và các địa phương khác trong cả nước.- Cây chè hiện có 8.298 ha, sản lượng thu hoạch ước đạt 7.948 tấn, tăng 1,68% so với cùng kỳ.1.2. Tình hình sinh vật gây hại Trong tháng trên địa bàn tỉnh thời tiết tương đối thuận lợi, mưa nhỏ, mưa phùn xen kẽ những ngày nắng ấm tạo điều kiện cho cây cối sinh trưởng và phát triển tốt. Tuy nhiên, đây cũng là thời điểm giao mùa, mưa nhỏ, độ ẩm không khí cao là môi trường lý tưởng cho các đối tượng sâu, bệnh hại như: Cây lúa bị rầy nâu, rầy lưng trắng, sâu quấn lá nhỏ, bọ xít gây hại rải rác; cây ngô, cây lạc, đậu tương bị sâu keo, sâu đục thân, sâu cắn nõn gây hại rải rác; cây chè bị rầy xanh, bọ trĩ, bọ xít gây bệnh, gây hại,... Các ngành chức năng đã khuyến cáo bà con theo dõi sát sao diễn biến sâu, bệnh hại để sử dụng các loại thuốc đặc hiệu phòng, trừ bệnh kịp thời, hiệu quả.1.3. Về chăn nuôi 1.3.1. Về số lượng đàn gia súc, gia cầmĐàn trâu 88.840 con, giảm 2.53% (giảm 2.284 con) so với cùng kỳ năm 2023; đàn bò 40.684 con, tăng 2,62% (tăng 1.038 con); đàn lợn 580.282 con, tăng 4,1% (tăng 22.836 con); đàn gia cầm 7.352 nghìn con, tăng 1,75% (tăng 127 nghìn con).1.3.2. Về sản phẩm đàn gia súc, gia cầmĐàn trâu sản lượng thịt hơi xuất chuồng đạt 544 tấn, tăng 7,34% (tăng 37,22 tấn) so với cùng kỳ; đàn bò đạt 209 tấn, tăng 7,27% (tăng 14,2 tấn); đàn lợn đạt 5.363 tấn, tăng 6,96% (tăng 348,74 tấn); đàn gia cầm đạt 1.433 tấn, tăng 6,80% (tăng 91,19 tấn). Đánh giá chung, trong tháng tình hình chăn nuôi trong tháng trên địa bàn tỉnh cơ bản ổn định và phát triển. Trên địa bàn tỉnh không xuất hiện các ổ dịch bệnh nguy hiểm như cúm gia cầm; bệnh viêm da nổi cục trâu, bò; bệnh lở mồm long móng ở đàn gia súc,… đàn gia súc, gia cầm phát triển ổn định. Tuy nhiên, thời tiết đang chuyển mùa, có nhiều diễn biến phức tạp, nguy cơ bùng phát dịch bệnh rất cao, nhất là các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, cùng với đó là thời tiết nắng, nóng kéo dài là điều kiện thuận lợi cho nhiều loại dịch bệnh nguy hiểm có nguy cơ phát sinh, lây lan như: tiêu chảy, lở mồm long móng, tai xanh, cảm nóng… Vì vậy, ngành chức năng đã tuyên truyền, khuyến cáo người chăn nuôi tăng cường công tác vệ sinh, tiêu độc, phun khử trùng chuồng trại, ngăn ngừa sự truyền nhiễm của mầm bệnh trên vật nuôi, hạn chế dịch bệnh bùng phát và lây lan trên diện rộng.1.4. Về công tác phòng chống dịch bệnh gia súc, gia cầm trong tháng 1.4.1. Công tác phòng chống và điều trị- Bệnh Dịch tả lợn Châu Phi: Trong tháng, bệnh không phát sinh tại các huyện, thành phố trên địa bàn tỉnh. - Các dịch bệnh truyền nhiễm khác: Trên địa bàn tỉnh không xảy ra. - Công tác giám sát dịch bệnh: Các ngành chức năng đã theo dõi chặt chẽ tình hình dịch bệnh gia súc, gia cầm, thủy sản, đặc biệt là các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm. 1.4.2. Công tác kiểm dịch vận chuyển động vật, sản phẩm động vật - Kiểm dịch vận chuyển ngoại tỉnh: Đã kiểm tra cấp trên 252 giấy chứng nhận kiểm dịch vận chuyển trong đó (58 chuyến vận chuyển 9.951 con gia súc, gia cầm và 194 chuyến vận chuyển 4.062,5 tấn sữa tươi nguyên liệu); từ đầu năm đến nay, đã cấp 928 giấy chứng nhận kiểm dịch vận chuyển trong đó (237 chuyến vận chuyển 60.018 con gia súc, gia cầm và 690 chuyến vận chuyển trên 13.223 tấn sữa tươi nguyên liệu, 01 chuyến vận chuyển 1.280 kg SPĐV chế biến làm thức ăn chăn nuôi) đi các tỉnh Bắc Ninh, Hà Nội, Hà Nam, Hà Giang, Nam Định,...- Các Trạm Kiểm dịch động vật: Đã kiểm tra 140 lượt phương tiện vận chuyển đủ thủ tục, vận chuyển 112.534 con gia súc, gia cầm; từ đầu năm đến nay, đã kiểm tra 496 lượt phương tiện vận chuyển 516.908 con gia súc, gia cầm, 01 chuyến vận chuyển 8.550 kg sản phẩm động vật. 1.5. Về sản xuất lâm nghiệp 1.5.1. Công tác trồng rừngTrong tháng, toàn tỉnh đã trồng 4.474 ha rừng trồng tập trung, đạt 44,29% kế hoạch, giảm 6,62% (giảm 317,15 ha) cùng kỳ; số cây lâm nghiệp trồng phân tán trồng được là 303,84 nghìn cây. 1.5.2. Khai thác gỗ rừng trồngSản lượng gỗ khai thác ước đạt 342.692 m3 gỗ, tăng 3,73% (tăng 12.330 m3) so với cùng kỳ năm 2023. Sản lượng gỗ khai thác chủ yếu là gỗ rừng trồng nguyên liệu.1.5.3. Công tác quản lý bảo vệ rừngHiện nay, thời tiết đã bước vào thời kỳ cao điểm hanh khô, nhiều diện tích rừng trên địa bàn tỉnh có nguy cơ cháy rất cao, đặc biệt là ở một số huyện trọng điểm về cháy rừng. Để chủ động phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR) mùa hanh khô, ngành chức năng đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động, nâng cao nhận thức của người dân, các chủ rừng trong công tác PCCCR; triển khai nhiều phương án thiết thực, hiệu quả nhằm hạn chế thấp nhất các vụ cháy rừng xảy ra.Trong tháng, trên địa bàn tỉnh không xảy ra vụ cháy rừng có thiệt hại đến cây rừng. Số vụ chặt phá rừng là 03 vụ, tổng diện tích bị chặt phá 2,52 ha. Đã kiểm tra, phát hiện và xử lý nghiêm 11 vụ, tịch thu 2 máy cưa xăng và 20,4 m3 gỗ các loại: phạt hành chính và bán thanh lý tài sản 131,2 triệu đồng (đã thu nộp ngân sách nhà nước 88,75 triệu đồng).1.6. Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới - Trong tháng, tỉnh đã ban hành quyết định công nhận 6 xã đạt chuẩn nông thôn mới (NTM). Trong đó, huyện Yên Sơn có 2 xã Đội Bình, Nhữ Khê; huyện Hàm Yên có 2 xã Bạch Xa, Yên Phú; Sơn Dương có 2 xã Hào Phú và Thượng Ấm. Đây là các xã đã hoàn thành 19/19 tiêu chí theo bộ tiêu chí NTM mới, giai đoạn 2021-2025. Như vậy tính đến thời điểm này toàn tỉnh đã có 60 xã được công nhân đạt chuẩn nông thôn mới.- Bên cạnh đó, Ban Chỉ đạo Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới tiếp tục phối hợp với các huyện tiếp tục thẩm định và đề nghị tỉnh công nhận 14 xã đã hoàn thành 19/19 tiêu chí, gồm 2 xã trong kế hoạch năm 2022 và 12 xã trong kế hoạch 2023 theo đúng quy định.3. Sản xuất công nghiệp3.1. Chỉ số phát triển công nghiệp - Chỉ số sản xuất công nghiệp IIP trong tháng ước tính tăng 0,39% so với tháng trước, tăng 0,08% so với cùng kỳ, cụ thể của các ngành như sau: Ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 56,21%, tăng 8,47%; cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 9,64%, tăng 4,69%; khai khoáng giảm 7,49%, giảm 2,44%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 3,31%, giảm 0,79%.Một số ngành công nghiệp cấp II có chỉ số sản xuất tăng so với cùng kỳ năm trước như: Sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 34,61%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế) tăng 40,41%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng mạnh 17,48%; sản xuất trang phục tăng nhẹ 4,39%,... Tính chung trong 4 tháng, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 4,56% so với cùng kỳ năm trước, Chia theo từng ngành kinh tế cấp I như sau:+ Ngành khai khoáng giảm 3,29%, nguyên nhân từ đầu năm đến nay, sản lượng khai thác đá, cát, sỏi, đất sét, hóa chất và khoáng phân bón của các doanh nghiệp công nghiệp giảm so với cùng kỳ.+ Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 5,33%, do một số ngành chế biến tăng như: Sản xuất chế biến thực phẩm tăng 25,19%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế) tăng 69,4%; sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 93,61%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 11,28%,...+ Ngành sản xuất và phân phối điện giảm 0,8%, trong tháng trên địa bàn tỉnh xuất hiện các đợt mưa to. Tuy nhiên, do những tháng đầu năm lượng mưa thấp hơn so với cùng kỳ, lưu lượng nước về hồ thuỷ điện thấp; ngoài ra, để bảo đảm nước phục vụ gieo cấy lúa vụ Xuân cho khu vực Trung du và Đồng bằng Bắc Bộ, hồ thủy điện Tuyên Quang cũng đã thực hiện các đợt xả nước dẫn đến việc tích đủ nước tại các hồ chứa nước còn gặp khó khăn. + Ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 10,89%, do nhu cầu sử dụng nước sinh hoạt và sản xuất kinh doanh của hộ gia đình và doanh nghiệp tăng cao trong tháng.3.2. Sản phẩm công nghiệp chủ yếu Trong tháng, một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng khá so với cùng kỳ năm trước: Điện sản xuất đạt 132 triệu Kwh, tăng 13,95%; bột barit đạt 1.500 tấn, tăng 126,59%; xi măng đạt 120.000 tấn, tăng 35,59%; giấy in viết, photo thành phẩm đạt 10.101 tấn, tăng 70,51%; gỗ tinh chế đạt 5.088 m3, tăng 30,33%,... Tuy nhiên, cũng có một số sản phẩm công nghiệp giảm so với cùng kỳ như: Điện thương phẩm đạt 98 triệu Kwh, giảm 1,37%; bột Felspat đạt 18.800 tấn, giảm 32,86%; may mặc xuất khẩu đạt 1.285 nghìn sản phẩm, giảm 3,03%; thép cây, thép cuộn đạt 25.272 tấn, giảm 3,2%,…- Tính chung trong 4 tháng đầu năm 2024, một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng khá so với cùng kỳ năm trước: Đường kính tăng 54,38%; bột giấy tăng 21,7%; giấy đế xuất khẩu tăng 24,53%; giầy da tăng 18,41%; gỗ tinh chế tăng 10,73%,... Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu giảm so với cùng kỳ năm trước như: Điện thương phẩm giảm 0,22%; điện sản xuất giảm 6,2%; bột ba rít giảm 42,66%; bột Felspat giảm 41,9%; giấy in viết, photo thành phẩm giảm 4,48%; thép cây, thép cuộn giảm 11,72%,… Đánh giá chung, sản xuất công nghiệp trong tháng tiếp tục xu hướng tăng trưởng tích cực, sản lượng và đơn hàng một số sản phẩm thuộc nhóm ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng trưởng khá; các doanh nghiệp đã triển khai nhiều giải pháp thúc đẩy sản xuất kinh doanh, trong đó tập trung quản lý tốt khâu sản xuất và cải tiến máy móc, thiết bị để đảm bảo chất lượng, cùng với đó là chủ động tìm kiếm nguồn nguyên liệu có giá thành cạnh tranh nhằm hạ giá thành sản phẩm, ký kết nhiều đơn hàng mới, nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường, phấn đấu hoàn thành kế hoạch đã đề ra.4. Vốn đầu tư, xây dựng4.1. Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước thực hiện tháng 4 đạt 392 tỷ đồng, tăng 18,79% so với tháng trước, tăng 72,11% so cùng kỳ. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 348 tỷ đồng, tăng 20,83%, tăng 77,38%; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện đạt 42 tỷ đồng, tăng 7,69%, tăng 41,72%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã đạt 3 tỷ đồng, giữ nguyên so với tháng trước, tăng 14,39% so với cùng kỳ.Tính chung trong 4 tháng, nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 1.176 tỷ đồng, tăng 43,98% so với cùng kỳ. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 1.032 tỷ đồng, tăng 42,54%; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện đạt 133 tỷ đồng, tăng 61,10%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã đạt 11 tỷ đồng, tăng 8,42%.4.2. Hoạt động xây dựngTỉnh đã xác định đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công là nhiệm vụ chính trị trọng tâm năm 2024, là động lực quan trọng nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của tỉnh; do vậy, tỉnh đã tập trung giải quyết dứt điểm những khó khăn, vướng mắc đẩy nhanh tiến độ thực hiện các công trình, dự án nhất là các công trình dự án trọng điểm của tỉnh, các chương trình mục tiêu Quốc gia; đồng thời đôn đốc các chủ đầu tư thực hiện thanh, quyết toán dự án hoàn thành, khẩn trương hoàn thiện hồ sơ, giải phóng mặt bằng đủ điều kiện khởi công mới các công trình, dự án; tăng cường đôn đốc các nhà thầu tập trung nhân lực, vật tư, máy thi công, tăng ca để đẩy nhanh tiến độ thi công, nâng cao chất lượng các công trình, dự án, phấn đấu hoàn thành vượt tiến độ đề ra.Năm 2024, Tuyên Quang được giao tổng kế hoạch vốn đầu tư công là 4.734 tỷ đồng, trong đó: Vốn ngân sách địa phương: 1.932 tỷ đồng; Vốn ngân sách trung ương: 2.802 tỷ đồng. Tính đến ngày 18/4/2024, tổng số vốn đã giải ngân được 1.018 tỷ đồng, đạt 21,5% kế hoạch, trong đó: Nguồn vốn ngân sách địa phương giải ngân được 277 tỷ đồng, đạt 14,32%; nguồn vốn ngân sách trung ương giải ngân được 741tỷ đồng, đạt 26,44%.5. Thương mại và Dịch vụThị trường hàng hóa trong tháng không có nhiều biến động; nguồn cung các hàng hóa dồi dào, đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng của người dân; giá một số hàng hóa nhóm lương thực, thực phẩm tương đối ổn định, đáp ứng tốt nhu cầu của người tiêu dùng. Hưởng ứng “ Ngày Thương hiệu Việt Nam” nhiều đơn vị, doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh đã triển khai nhiều chương trình khuyến mại, giảm giá, tặng quà cho người tiêu dùng; tăng cường nhập bán và giới thiệu tới người tiêu dùng những sản phẩm, hàng hóa Việt Nam chất lượng cao, giá cả phải chăng trong thời gian diễn ra Tuần lễ Thương hiệu quốc gia năm 2024. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 4 năm 2024 ước đạt 2.603 tỷ đồng, tăng 1,96% so với tháng trước, tăng 12,34% so với cùng kỳ. Tính chung 4 tháng đầu năm 2024, tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước ước đạt 10.343 tỷ đồng, tăng 20,76% so với cùng kỳ.5.1. Doanh thu bán lẻ hàng hóa Doanh thu bán lẻ hàng hóa trong tháng 4 ước đạt 2.273 tỷ đồng, tăng 1,43% so với tháng trước, tăng 12,11% so với tháng cùng kỳ. Trong đó, một số nhóm hàng tăng so với tháng trước, tăng so với cùng kỳ, cụ thể như sau: Lương thực, thực phẩm đạt 721 tỷ đồng, tăng 2,3%, tăng 18,69%; vật phẩm, văn hóa, giáo dục đạt 31 tỷ đồng, tăng 3,79%, tăng 8,11%; đá quý, kim loại quý và sản phẩm đạt 55 tỷ đồng, tăng 5,94%, tăng 45,96%,… Tuy nhiên, cũng có một số nhóm hàng tăng so với tháng trước và giảm so với cùng kỳ như: Đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình tăng 0,02%, giảm 5,55%;… Tính chung trong 4 tháng, tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 9.100 tỷ đồng, tăng 20,41% so với cùng kỳ.5.2. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ khác- Trong tháng, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 211 tỷ đồng, tăng 4,84% so với tháng trước, tăng 3,15% so với cùng kỳ. Trong đó: Dịch vụ lưu trú đạt 18 tỷ đồng, tăng 7,17%, tăng 3,60%; ăn uống đạt 194 tỷ đồng, tăng 4,61%, tăng 2,96%. Tính chung trong 4 tháng, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 804 tỷ đồng, tăng 16,07% so với cùng kỳ.- Doanh thu du lịch lữ hành trong tháng ước đạt 0,4 tỷ đồng, tăng 14,29% so với tháng trước, tăng 181,11% so với cùng kỳ. Tính chung trong 4 tháng, doanh thu du lịch lữ hành ước đạt 2 tỷ đồng, tăng 165,76% so với cùng kỳ.- Doanh thu dịch vụ khác trong tháng ước đạt 439 tỷ đồng, tăng 7,19% so với tháng trước, tăng 40,32% so với cùng kỳ. Trong đó: Dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ đạt 19 tỷ đồng, tăng 4,30%, tăng 20,36%; y tế và hoạt động trợ giúp xã hội đạt 4 tỷ đồng, tăng 2,96%, tăng 92,16%; sửa chữa máy vi tính, đồ dùng cá nhân và gia đình, tăng 9,05%, tăng 21,44%; dịch vụ khác, tăng 1,31%, tăng 24,48%,… Tính chung trong 4 tháng, doanh thu dịch vụ khác ước đạt 439 tỷ đồng, tăng 39,58% so với cùng kỳ.5.3. Giá cả- Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trong tháng tăng 4,05% so với cùng kỳ năm trước, tăng 1,62% so với tháng 12 năm trước, tăng 0,1% so với tháng trước. Tính chung trong 4 tháng, CPI bình quân tăng 3,75% so với cùng kỳ.Trong số 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính thì có 6 nhóm tăng giá so với tháng trước, 5 nhóm giảm giá, cụ thể như sau. Trong 5 nhóm hàng tăng giá, so với tháng trước, bao gồm những nhóm hàng sau: Nhóm may mặc, mũ nón và giày dép tăng 0,35% do nhu cầu mua sắm của người dân tăng; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,05% do thời tiết đang bước vào thời điểm giao mùa xuất hiện các bệnh liên quan đến đường hô hấp, cúm, viêm phổi, viêm phế quản, bệnh sởi, thủy đậu,… khiến nhu cầu sử dụng các loại thuốc điều trị và dịch vụ y tế tăng; giáo dục tăng 0,16% do nhu cầu sử dụng các loại bút, văn phòng phẩm và đồ dùng học tập của học sinh tăng; giao thông tăng 1,68% do giá xăng, dầu điều chỉnh tại các kỳ điều hành giá của Tập đoàn xăng dầu Việt Nam về mức giá bán lẻ xăng, dầu (xăng tăng 5%, dầu diesel tăng 2,58%).Có 6 nhóm hàng giảm so với tháng trước là: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,1%, giảm chủ yếu ở nhóm lương thực giảm 0,96%; đồ uống và thuốc lá giảm 0,15% do nhu cầu tiêu thụ các loại rượu, bia, nước giải khát các loại giảm; nhóm nhà ở, điện, nước và vật liệu xây dựng giảm 0,56% là do nhu cầu sinh hoạt của các hộ gia đình giảm; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình giảm 0,03% do nhu cầu mua sắm các thiết bị điện lạnh, điện tử giảm; nhóm văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,16%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác giảm 0,32%.- Chỉ số giá vàng tăng 31,41% so với cùng kỳ năm trước, tăng 19,84% so với tháng 12 năm trước, tăng 8,54% so với tháng trước, do sức cầu tăng nhưng nguồn cung hạn chế. Tính chung trong 4 tháng đầu năm 2024, giá vàng tăng 22,49% so với bình quân cùng kỳ. - Chỉ số giá đô la Mỹ tăng 6,71% so với cùng kỳ năm trước, tăng 3,22% so với tháng 12 năm trước, tăng 1,44% so với tháng trước. Tính chung trong 4 tháng đầu năm 2024, tăng 4,67% so với bình quân cùng kỳ.5.4. Tình hình xuất, nhập khẩu hàng hóa Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa trong tháng ước đạt 22,1 triệu USD, đạt 8,5% kế hoạch, giảm 3,49% so với cùng kỳ. Trong đó, xuất khẩu ước đạt 17 triệu USD, tăng 100%, nhập khẩu ước đạt 7,7 triệu USD, giảm 46,53%.+ Một số mặt hàng xuất khẩu chủ yếu trong tháng tăng so với cùng kỳ như: Chè xuất khẩu ước đạt 810 tấn, tăng 483,4%; giấy đế xuất khẩu đạt 430 tấn, tăng 38,5%; phong bì đạt 500 nghìn sản phẩm, tăng 368,2%; Antimony thỏi đạt 50 tấn, tăng 127,3%, hàng dệt may đạt 1.750 nghìn sản phẩm, tăng 22,1%,...Bên cạnh đó mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu giảm so với cùng kỳ, đũa gỗ xuất khẩu giảm 16%.- Tính chung trong 4 tháng đầu năm 2024, kim ngạch xuất, nhập khẩu ước đạt 78,4 triệu USD, đạt 30,15% kế hoạch, tăng 7,84% so với cùng kỳ. Trong đó, xuất khẩu ước đạt 50,8 triệu USD, tăng 22,41%, nhập khẩu ước đạt 27,6 triệu USD, giảm 11,54%. Một số mặt hàng xuất khẩu tiếp tục tăng so với cùng kỳ như: Chè (tăng 126,5%); bột Barit (tăng 88,3%); giấy đế xuất khẩ (tăng 58,5%), hàng dệt may (tăng 52,5%),... Tuy nhiên, cũng có một số mặt hàng giảm so với cùng kỳ như: Bột giấy (giảm 10%); Antimony thỏi (giảm 30,8%),…6. Vận tải hàng hóa và hành khách Dịp nghỉ lễ 30/4 - 1/5 năm nay là đợt nghỉ kéo dài với 5 ngày nghỉ, nhu cầu du lịch, về quê, thăm người thân của người dân, du khách trên địa bàn tỉnh tăng cao so với cùng kỳ. Nhằm đảm bảo nhu cầu đi lại của người dân được thuận tiện, an toàn trong dịp nghỉ lễ, các lực lượng chức năng đã tăng cường công tác kiểm tra, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm trong lĩnh vực vận tải hành khách và hàng hóa, đồng thời chỉ đạo các Bến xe khách, các doanh nghiệp, hợp tác xã và các hộ kinh doanh cá thể vận tải triển khai kế hoạch phục vụ dịp cao điểm nghỉ lễ. Ngoài ra, tình hình an ninh, trật tự tại các bến xe và trên các phương tiện vận tải hành khách được duy trì tốt, các tuyến đường trên địa bàn tỉnh đảm bảo giao thông an toàn, thông suốt, trên địa bàn tỉnh không xảy ra ùn tắc giao thông. 6.1. Doanh thu vận tải tải kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải - Doanh thu vận tải trong tháng ước đạt 353 tỷ đồng, tăng 1,08% so với tháng trước, tăng 20,37% so với cùng kỳ. Trong đó, vận tải hành khách đạt 57 tỷ đồng, tăng 4,72%, tăng 11,24%; vận tải hàng hóa đạt 295 tỷ đồng, tăng 0,38%, tăng 22,31%; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 0,42 tỷ đồng, tăng 7,05%, tăng 17,38%; hoạt động bưu chính, chuyển phát đạt 0,28 tỷ đồng, tăng 12,09%, tăng 28,76%,…- Tính chung trong 4 tháng đầu năm 2024, doanh thu vận tải kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 1.450 tỷ đồng, tăng 26,69% so với cùng kỳ. Trong đó: vận tải hành khách đạt 242 tỷ đồng, tăng 22,20%; vận tải hàng hóa đạt1.206 tỷ đồng, tăng 27,63%; dịch vụ hỗ trợ vận tải kho bãi đạt 1,70 tỷ đồng, tăng 25,14%; bưu chính, chuyển phát tăng 29,87%. 6.2. Vận tải hành khách và hàng hóa- Trong tháng khối lượng hành khách vận chuyển ước đạt 1 triệu lượt hành khách, tăng 4,26% so với tháng trước, tăng 31,73% so với cùng kỳ; khối lượng hành khách luân chuyển ước đạt 76 triệu lượt hành khách.km, tăng 6,10%, tăng 12,13%. Tính chung 4 tháng đầu năm 2024, khối lượng hành khách vận chuyển ước đạt 5 triệu lượt hành khách, tăng 31,73% so với cùng kỳ; khối lượng hành khách luân chuyển ước đạt 315 triệu lượt hành khách.km, tăng 22,98%.- Khối lượng hàng hóa vận chuyển trong tháng ước đạt 2 triệu tấn, tăng 2,12% so với tháng trước, tăng 21,71% so với cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 130 triệu tấn.km, tăng 0,95%, tăng 25,71%. Tính chung 4 tháng đầu năm 2024, khối lượng hàng hóa vận chuyển ước đạt 8 triệu tấn, tăng 24,97% so với cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 527 triệu tấn.km, tăng 29,80%.7. Về du lịch - Nhằm chuẩn bị cho chương trình Khai mạc Năm du lịch 2024 tỉnh đã hoàn tất công tác chuẩn bị và sẵn sàng chào đón nhân dân, du khách đến với chuỗi sự kiện Khai mạc năm du lịch tỉnh Tuyên Quang 2024 diễn ra từ ngày 27/4 đến 2/5 với nhiều hoạt động hấp dẫn như: Lễ hội Khinh khí cầu quốc tế Tuyên Quang lần thứ 3 tại Quảng trường Nguyễn Tất Thành. Lễ hội ánh sáng khinh khí cầu quốc tế; trưng bày, giới thiệu sản phẩm du lịch, làng nghề Tuyên Quang với sự góp mặt của hơn 100 gian hàng của tỉnh Tuyên Quang và các tỉnh, thành phố trong cả nước; hội nghị kết nối đầu tư, thương mại, du lịch và làng nghề vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi Tuyên Quang,... các khu, điểm du lịch trong tỉnh đã chuẩn bị chu đáo các điều kiện về cơ sở vật chất kỹ thuật, tăng cường kết nối tour, tuyến, làm mới các sản phẩm và nâng cao chất lượng dịch vụ, sẵn sàng đón tiếp và phục vụ du khách tham quan, trải nghiệm.- Trong tháng các khu, điểm du lịch trên địa bàn tỉnh, thu hút được 471.000 lượt khách du lịch. Tổng thu từ khách du lịch đạt 650 tỷ đồng. Tính chung trong 4 tháng đầu năm 2024, thu hút được 1.388.500 lượt khách đạt 50% kế hoạch, tăng 113% so với cùng kỳ; tổng thu đạt 1.730 tỷ đồng; đạt 48% kế hoạch, tăng 121% so với cùng kỳ).II. LĨNH VỰC VĂN HÓA - XÃ HỘI 1. Công tác lao động, việc làm, giáo dục nghề nghiệp- Với mục tiêu giải quyết việc làm cho người lao động, tỉnh đã triển khai các phiên giao dịch việc làm, các hoạt dộng tư vấn, giới thiệu việc làm, thông tin thị trường lao động, đào tạo nghề, kết nối thông tin, nhu cầu tuyển dụng lao động của doanh nghiệp, tuyển sinh đào tạo nghề của các cơ sở giáo dục nghề nghiệp với nhu cầu tìm việc làm, học nghề của người lao động để đưa lao động đi làm việc tại các doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh; tiếp tục phối hợp với các địa phương trong tỉnh tăng cường triển khai thực hiện công tác đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.- Tỉnh đã tổ chức ngày hội việc làm năm 2024 với sự tham gia của các đơn vị, doanh nghiệp, cơ sở đào tạo nghề trong và ngoài tỉnh với hơn 30.000 vị trí tuyển dụng lao động phổ thông, lao động có tay nghề và học nghề; hoạt động trên đã thu hút hơn 600 người lao động, học sinh, sinh viên trên địa bàn tỉnh đã được tư vấn, giới thiệu việc làm và học nghề phù hợp thuộc nhiều lĩnh vực như may mặc, xuất khẩu lao động, du lịch, chế biến gỗ, điện công nghiệp, y dược…- Trong tháng toàn tỉnh có 4.408 lao động; luỹ kế từ đầu năm đến nay toàn tỉnh có 10.328 lao động được tạo việc làm (Trong đó: Lao động làm việc trong các ngành kinh tế tại tỉnh là 6.430 người; Lao động đi làm việc các tỉnh, thành phố 3.532 người; lao động đi làm việc nước ngoài theo hợp đồng 366 người), đạt 45,8% kế hoạch và đạt 102,7% so với cùng kỳ.2. Công tác đảm bảo chế độ người có công với cách mạng, bảo trợ, an sinh xã hội và phòng chống các tệ nạn2.1. Công tác đối với người có công với cách mạng Nhân dịp kỷ niệm 70 năm chiến thắng Điện Biên Phủ (07/5/1954-07/5/2024) tỉnh đã triển khai các hoạt động thăm hỏi, tặng quà, tôn vinh, tri ân đối với chiến sĩ Điện Biên, thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến (trực tiếp tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ) trên địa bàn tỉnh. 2.2. Công tác bảo trợ, an sinh xã hội và phòng chống các tệ nạn - Tiếp tục thực hiện tốt các chính sách trợ giúp xã hội, thường xuyên rà soát, nắm chắc tình hình đời sống nhân dân, hỗ trợp kịp thời các hộ gia đình, cá nhân gặp khó khăn do bị ảnh hưởng thiên tai, tại nạn rủi ro. Duy trì trợ cấp hàng tháng cho trên 38.000 đối tượng bảo trợ xã hội.- Duy trì công tác tiếp nhận, quản lý, điều trị, cai nghiện cho người nghiện ma túy tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh, từ đầu năm đến nay, Cơ sở đã tiếp nhận 33 học viên; cấp giấy chứng nhận hoàn thành cai nghiện cho 47 học viên. Tại thời điểm báo cáo Cơ sở đang quản lý 147 học viên (có mặt 143 học viên; trốn cai 03 học viên, đi viện 01 học viên). Duy trì công tác phòng chống mại dâm, hỗ trợ nạn nhân bị mua bán trở về địa phương. 3. Hoạt động giáo dục và đào tạoTrong tháng, tỉnh đã tổ chức phát động hưởng ứng Ngày sách và Văn hóa đọc Việt Nam tỉnh Tuyên Quang năm 2024, cùng với đó là kêu gọi mỗi tổ chức, cá nhân, các cấp, các ngành hãy chung tay góp sức xây dựng một phong trào đọc sách, hướng tới một phong trào học tập và học tập suốt đời.Nhằm chuẩn bị cho Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2024, các trường trên địa bàn tỉnh đang dồn sức ôn tập cho học sinh lớp 12. Tùy theo học lực của học sinh, các trường có phương pháp ôn tập phù hợp để giúp các em thi tốt kỳ thi quan trọng sắp tới cũng như hiện thực hóa ước mơ về ngành nghề học tập trong tương lai. Cùng với việc ôn tập cho kỳ thi cuối năm học, học sinh lớp 12 trên địa bàn tỉnh cũng đang tập trung ôn tập cho kỳ thi tốt nghiệp THPT. Hiện các trường đang tập trung tổ chức ôn tập kiến thức trọng tâm theo định hướng của kỳ thi tốt nghiệp THPT. Đối với từng môn thi, các trường có phương pháp ôn tập phù hợp, giúp học sinh nắm chắc kiến thức, kỹ năng để làm bài thi.4. Hoạt động y tế - Tỉnh đã tăng cường chỉ đạo công tác phòng, chống các dịch bệnh truyền nhiễm như: Sởi, sốt xuất huyết, tay chân miệng và đặc biệt là bệnh dại,... Chủ động công tác giám sát, theo dõi chặt chẽ tình hình dịch bệnh trên địa bàn; chuẩn bị sẵn sàng ứng phó với các tình huống có thể xảy ra của dịch bệnh. Tiếp tục đẩy mạnh công tác giám sát phát hiện sớm và xử lý kịp thời các ca bệnh, ổ dịch, không để dịch bùng phát trở lại và hạn chế tối đa xảy ra nguy cơ dịch chồng dịch.- Thường xuyên cập nhật thông tin về tình hình dịch bệnh và khuyến cáo người dân thực hiện các yêu cầu phòng chống dịch theo quy định; tuyên truyền khuyến khích người dân thực hiện đeo khẩu trang tại những nơi đông người và khi đi lại, di chuyển trên các phương tiện công cộng nhất là trong dịp nghỉ lễ dài sắp tới.- Trong tháng, tại Công ty TNHH Sản xuất giày Chung Jye Tuyên Quang tại xã Tân Thành (Hàm Yên) xảy ra 01 vụ nghi ngộ độc thực phẩm khiến 111 công nhân phải nhập viện. Hiện sức khỏe của 111 công nhân nghi bị ngộ độc thực phẩm đã ổn định và ngành chức năng đã khẩn trương điều tra, làm rõ nguyên nhân vụ ngộ độc. 5. Hoạt động văn hoá - thể dục, thể thao- Lĩnh vực văn hoá: Tiếp tục đẩy mạnh phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” gắn với chương trình xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh được triển khai sâu rộng.- Về thể dục thể thao: Tỉnh đã tổ chức thành công Hội khỏe Phù Đổng tỉnh Tuyên Quang lần thứ XI năm 2024 thu hút gần 2.000 vận động viên tham gia thi đấu. Các vận động viên tranh tài ở 7 môn thi đấu: Điền kinh, cờ vua, đẩy gậy, cầu lông, bóng đá, võ vovinam, võ cổ truyền. Kết quả Ban Tổ chức đã trao 617 huy chương các loại, trong đó có 154 Huy chương Vàng, 154 huy chương Bạc và 309 huy chương Đồng; tổ chức Giải bóng đá nữ các dân tộc thiểu số tỉnh Tuyên Quang năm 2024 (kết quả: Ban tổ chức đã trao 01 giải nhất, 01 giải nhì, 02 giải ba và các giải khuyến khích cho các đội tham gia. Duy trì hoạt động 6 lớp đội tuyển năng khiếu với 30 vận động viên; 7 lớp đội tuyển trẻ với 68 vận động viên; 03 lớp đội tuyển tỉnh với 20 vận động viên.6. Một số hoạt động khácBan Chỉ đạo cải cách hành chính (CCHC) của Chính phủ đã tổ chức Hội nghị công bố Chỉ số hài lòng của người dân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước năm 2023 (SIPAS) và Chỉ số CCHC năm 2023 (PAR Index) của các bộ, ngành, địa phương. Theo kết quả công bố tại hội nghị, điểm Chỉ số CCHC (Par Index) đạt 88,46%, xếp thứ 16/63 tỉnh, thành phố (tăng 3,12%, tăng 16 bậc so với năm 2022). Đối với kết quả công bố chỉ số hài lòng của người dân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước năm 2023 (SIPAS), tỷ lệ hài lòng trung bình của người dân, tổ chức về sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước tỉnh Tuyên Quang năm 2023 đạt 82,83%, xếp thứ 26/63 tỉnh, thành phố (tăng 1,11% so với năm 2022).7. Tình hình an toàn giao thông, thiên tai và phòng chống cháy, nổĐể đảm bảo trật tự an toàn giao thông đón nhân dân, du khách đến với sự kiện khai mạc năm du lịch tỉnh Tuyên Quang năm 2024, và dịp nghỉ lễ 30/4 - 1/5, lực lượng chức năng đã tổ chức trực 100% quân số. Cùng với đó là tăng cường tuần tra, kiểm soát trên các tuyến đường trọng điểm, phức tạp, tập trung xử lý các vi phạm hành lang giao thông dẫn đến ùn tắc gây tai nạn giao thông. Đồng thời, siết chặt kiểm tra, xử lý vi phạm nồng độ cồn với phương châm “không có ngoại lệ, không có vùng cấm” nhằm nâng cao ý thức chấp hành luật của người tham gia giao thông.7.1. Về an toàn giao thông trong thángTrên địa bàn tỉnh đã xảy ra 15 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 6 người và làm bị thương 11 người. So với tháng trước số vụ tai nạn giữ nguyên; số người chết giảm 33,33%; số người bị thương giảm 31,25%. So với tháng cùng kỳ số vụ tai nạn giao thông tăng 36,36%; số người chết tăng 100%; số người bị thương giữ nguyên.Tính chung 4 tháng đầu năm 2024, toàn tỉnh đã xảy ra 53 vụ tai nạn giao thông; làm chết 26 người và làm bị thương 43 người. So với cùng kỳ năm trước: Số vụ tai nạn giao thông giảm 7,02%; số người chết tăng 30%; số người bị thương giảm 10,42%.7.2. Về thiên tai, cháy, nổ- Trong tháng, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra các đợt mưa lớn cục bộ kèm theo các hiện tượng lốc, sét, mưa đá và gió giật mạnh đã làm 179 nhà dân bị tốc mái, hư hỏng nặng, diện tích lúa bị ảnh hưởng 0,56 ha, diện tích cây ngô, rau màu bị ảnh hưởng 295,07 ha, diện tích cây trồng hàng năm bị ảnh hưởng 0,65 ha, diện tích cây lâm nghiệp bị thiệt hại 6 ha, không có thiệt hại về người và chăn nuôi. Ngoài ra thiệt hại công trình phụ bị hư hỏng là 12 cái, ước tính tổng giá trị thiệt hại của đợt thiên tai là 3.435 triệu đồng.- Trong tháng, trên địa bàn tỉnh không ghi nhận vụ cháy nổ nào xảy ra. CỤC THỐNG KÊ TUYÊN QUANG
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 3 và quý I năm 2024 tỉnh Tuyên Quang
- 10/11/2025 21:42
I. PHÁT TRIỂN KINH TẾ 1. Tình hình tài chính, ngân hàng 1.1. Thu, chi ngân sách nhà nước1.1.1. Thu ngân sách nhà nước: Tổng thu ngân sách nhà nước ước thực hiện trong quý I/2024 là 1.044 tỷ đồng, đạt 27,03% dự toán, tăng 88,47% so với cùng kỳ. Trong đó thu nội địa ước thực hiện là 1.000 tỷ đồng, đạt 26,32% so với dự toán, tăng 86,6%. Một số khoản thu đạt khá là: - Thu từ khu vực doanh nghiệp nhà nước trung ương ước đạt 54 tỷ đồng, đạt 16,36%, tăng 10,62%; thu từ khu vực doanh nghiệp địa phương 16,5 tỷ đồng, đạt 23,4%, tăng 51,77%; %; thu từ khu vực kinh tế ngoài quốc doanh 229 tỷ đồng, đạt 25,18%, tăng 24,75%.- Thu từ thuế thu nhập cá nhân ước đạt 52 tỷ đồng, đạt 34,33%, tăng 12,48%; thuế bảo vệ môi trường 49 tỷ đồng, đạt 19,6%, tăng 98,71%; thu tiền sử dụng đất 463 tỷ đồng, đạt 35,59%, tăng 374,57%; thu khác của ngân sách 29 tỷ đồng, đạt 25,22%, tăng 69,53%.Một số khoản thu thấp: Thu từ khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 15 tỷ đồng, đạt 20,71%, giảm 15,48%; thu cân đối từ hoạt động xuất nhập khẩu 8 tỷ đồng, đạt 12,1%, giảm 57,29%.- Một số nguyên nhân cơ bản làm ảnh hưởng đến tiến độ dự toán:+ Do ảnh hưởng của các chính sách miễn, giảm thuê đất, thuế GTGT, thuế bảo vệ môi trường để hỗ trợ doanh nghiệp, người dân dẫn đến một số khoản thu thấp hơn so với cùng kỳ.+ Số thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp từ khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài giảm so với cùng kỳ.+ Tiến độ thu tiền cho thuê đất và thuế sử đất phi nông nghiệp đạt thấp so với dự toán, do chưa đến kỳ nộp hàng năm theo quy định. 1.1.2. Chi ngân sách nhà nước: Tổng chi ngân sách nhà nước là 3.740 tỷ đồng, đạt 27,74% dự toán, tăng 34,73% so với cùng kỳ. Trong đó: Chi đầu tư phát triển là 552 tỷ đồng, đạt 26,59%, giảm 9,74%; chi thường xuyên là 1.659 tỷ đồng, đạt 21,21%, tăng 26,4%,...Trong quý I năm 2024, tỉnh đã tập trung điều hành dự toán ngân sách nhà nước chủ động, chặt chẽ, bảo đảm kỷ luật tài chính, ngân sách, an sinh xã hội, bảo đảm đúng dự toán được duyệt, các nhiệm vụ chi ngân sách địa phương được thực hiện theo dự toán; đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng, an sinh xã hội trên địa bàn tỉnh; thực hiện tiết kiệm 10% chi thường xuyên (trừ tiền lương và các khoản có tính chất như lương và các khoản chi cho con người theo chế độ) ngay từ đầu năm; chủ động rà soát sắp xếp các nhiệm vụ chi chưa thực sự cấp thiết, tiết kiệm, cắt giảm những khoản chi thường xuyên, xây dựng kế hoạch, lộ trình thực hiện các nhiệm vụ chi đã giao trong dự toán đảm bảo tiến độ; tăng cường công tác quản lý, điều hành và bình ổn giá trong dịp Tết nguyên đán Giáp Thìn năm 2024, đảm bảo chủ động kiểm soát ổn định thị trường giá cả, không để xảy ra các biến động bất thường ảnh hưởng đến đời sống kinh tế - xã hội của nhân dân trên địa bàn tỉnh.1.2. Hoạt động tín dụng ngân hàngCác ngân hàng thương mại đã triển khai các giải pháp nhằm đẩy mạnh tín dụng ngân hàng ngay từ đầu năm, tăng cường rà soát, đơn giản hóa quy trình và thủ tục cấp tín dụng, tối ưu hóa áp dụng chuyển đổi số vào quy trình cấp tín dụng, tạo điều kiện thuận lợi trong tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng,… cùng với đó là hỗ trợ lãi suất nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và người dân trong hoạt động sản xuất và kinh doanh, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp các gói vay với lãi suất ưu đãi để phục vụ sản xuất, đáp ứng nhu cầu vay vốn phục vụ sản xuất và tiêu dùng, góp phần hỗ trợ doanh nghiệp. Trong bối cảnh tình hình giải ngân vốn đầu tư công gặp nhiều khó khăn thì mức tăng trưởng tín dụng thời gian qua đã góp phần đáp ứng yêu cầu tăng trưởng kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội.- Về nguồn vốn: Nguồn vốn huy động tại địa phương ước thực hiện đến 31/3/2024 là 33.800 tỷ đồng, tăng 2% (tăng 658 tỷ dồng) so với 31/12/2023.- Về đầu tư tín dụng: Dư nợ ước thực hiện đến 31/3/2024 là 30.210 tỷ đồng, tăng 0,3% (tăng 90 tỷ đồng) so với 31/12/2023, cụ thể như sau:+ Dư nợ tín dụng của các Ngân hàng thương mại là 25.925 tỷ đồng, tăng 0,05% (tăng 14 tỷ đồng) so với 31/12/2023.+ Dư nợ tín dụng chính sách xã hội là 4.285 tỷ đồng, tăng 1,8% (tăng 76 tỷ đồng) so với 31/12/2023.- Chất lượng tín dụng: Nợ xấu của các Ngân hàng đến 31/3/2024 khoảng 160 tỷ đồng, chiếm 0,52% trên tổng dư nợ.2. Giá cả- Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 3 năm 2024 giảm 0,51% so với tháng trước, tăng 3,67% so với cùng kỳ năm trước. Trong số 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính thì có 5 nhóm tăng giá so với tháng trước, 6 nhóm giảm giá, cụ thể như sau. Trong 5 nhóm hàng tăng giá, so với tháng trước, bao gồm những nhóm hàng sau: Nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,87% do do nhu cầu tiêu dùng điện sinh hoạt của người dân tăng trong tháng; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,12% chủ yếu do nhu cầu tiêu dùng các loại giường, tủ, bàn ghế tăng; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,09% do thời tiết nồm ẩm xuất hiện các bệnh liên quan đến đường hô hấp, cúm, viêm phổi, viêm phế quản,… có chiều hướng gia tăng khiến nhu cầu sử dụng thuốc và dịch vụ y tế tăng; giáo dục tăng 0,13% do nhu cầu tiêu dùng các loại bút, văn phòng phẩm và đồ dùng học tập của học sinh tăng; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,23%.Có 6 nhóm hàng giảm so với tháng trước là: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 1,56%, giảm chủ yếu ở nhóm thực phẩm giảm mạnh, giảm 2,42% do nguồn cung các mặt hàng thịt lợn, thịt bò, thịt gia cầm giảm do nhiều giảm do nguồn cung thị trường khá dồi dào và nhu cầu tiêu dùng của người dân giảm sau Tết; nhóm ăn uống ngoài gia đình tăng 2,08% do vào dịp 8/3 các gia đình, người thân và các nhóm thanh niên chọn những địa điểm vui chơi và ẩm thực để tổ chức; đồ uống và thuốc lá giảm 1,05% do nhu cầu tiêu thụ các loại rươu, bia, nước giải khát các loại giảm; may mặc, mũ nón, giày dép giảm 0,86% do nhu cầu mua sắm các loại vải, quần áo may sẵn, mũ nón của người dân giảm khi thời tiết đang giao mùa; giao thông giảm nhẹ, giảm 0,48% do giá xăng, dầu điều chỉnh tại các kỳ điều hành giá của Tập đoàn xăng dầu Việt Nam về mức giá bán lẻ xăng, dầu (xăng tăng 0,8%, dầu diesel giảm 1,13%); bưu chính viễn thông giảm 0,01%; văn hóa giải trí và du lịch giảm 0,12%,…- CPI bình quân quý I/2024 tăng 3,65% so với cùng kỳ. Một số nguyên nhân cơ bản đã tác động tăng CPI là những nguyên nhân chủ yếu sau: Nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 9,16%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 6,63%; đồ uống và thuốc lá tăng 3,04%; nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 6,31%; giao thông tăng 2,47%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 1,96%,…- Chỉ số giá vàng tăng 25,06% so với cùng kỳ, tăng 10,41% so với tháng 12 năm trước và tăng 5,98% so với tháng trước. Tính chung trong quý I/2024 chỉ số giá vàng tăng 19,65% so với cùng kỳ. - Chỉ số giá đô la Mỹ tăng 4,4% so với cùng kỳ, tăng 1,76% so với tháng 12 năm trước và tăng 1,03% so với tháng trước. Tính chung trong quý I/2024 chỉ số giá vàng tăng 4% so với cùng kỳ. 3. Vốn đầu tư và Xây dựng 3.1. Vốn đầu tư3.1.1. Tình hình thực hiện Vốn đầu tư phát triển toàn xã hộiƯớc thực hiện quý I đạt 3.075 tỷ đồng, tăng 17,75% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Nguồn vốn từ khu vực nhà nước ước đạt 795 tỷ đồng, tăng 21,61% so với cùng kỳ (chiếm 25,85% tổng nguồn vốn đầu tư), chứng tỏ nguồn vốn từ ngân sách nhà nước tiếp tục giữ vai trò chủ đạo là “vốn mồi” là động lực chính để phục hồi và phát triển kinh tế, do tỉnh đã triển khai nhiều biện pháp thúc đẩy tốc độ giải ngân vốn đầu tư công, tập trung vào cơ sở hạ tầng, đẩy nhanh tiến độ xây dựng các công trình trọng điểm, thu hút nguồn vốn đầu tư của các khu vực kinh tế khác và toàn xã hội; nguồn vốn đầu tư của dân cư và tư nhân ước đạt 2.161 tỷ đồng, tăng 16,74% (chiếm 70,29% tổng nguồn vốn); khu vực tư nhân chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong đầu tư phát triển toàn xã hội và giữ vai trò quan trọng trong tổng nguồn vốn, trong bối cảnh ngân sách nhà nước còn hạn hẹp rất cần các nguồn lực đầu tư từ khu vực tư nhân; vốn huy động khác ước đạt 71 tỷ đồng, tăng 4,31% (chiếm 2,31%); vốn tự có của doanh nghiệp nhà nước ước đạt 21 tỷ đồng, tăng 662,72%, chiếm tỷ trọng tương đối nhỏ (chiếm 0,7%); nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ước đạt 26 tỷ đồng, tăng 3,98% (chiếm 0,85%).3.1.2. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước- Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước thực hiện tháng 3 đạt 774 tỷ đồng, tăng 27,87% so với tháng trước; tăng 49,56% so với cùng kỳ, trong đó: Vốn ngân sách cấp tỉnh đạt 281 tỷ đồng, tăng 30,56%, tăng 49,62%; vốn ngân sách cấp huyện đạt 36 tỷ đồng, tăng 13,79%, tăng 53,24%; vốn ngân sách cấp xã đạt 3 tỷ đồng, giảm 14,63%, tăng 8,27%.- Ước thực hiện quý I/2024 đạt 774 tỷ đồng, tăng 31,37% so với quý cùng kỳ, trong đó: Vốn ngân sách cấp tỉnh đạt 677 tỷ đồng, tăng 28,23%; vốn ngân sách cấp huyện đạt 88 tỷ đồng, tăng 66,44%; vốn ngân sách cấp xã đạt 8 tỷ đồng, tăng 6,53%.3.2. Xây dựng Xác định giải ngân vốn đầu tư công là một trong những nhiệm vụ trọng tâm là động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, thu hút đầu tư vào địa bàn; do vậy, tỉnh đã tập trung cao độ, giải quyết dứt điểm những vướng mắc trong công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, xây dựng khu tái định cư để bàn giao mặt bằng thi công cho các nhà thầu thi công, kiểm tra, đôn đốc các nhà thầu tập trung nhân lực, vật tư, máy thi công, tăng ca để đẩy nhanh tiến độ thi công; kịp thời nghiệm thu, thanh toán khối lượng hoàn thành; tăng cường kiểm tra, giám sát chặt chẽ chất lượng xây dựng công trình điều chuyển vốn từ công trình, dự án không có khả năng giải ngân, giải ngân chậm sang công trình, dự án giải ngân nhanh còn thiếu vốn thanh toán theo đúng quy định; các nhà thầu thi công, nhà thầu tư vấn đã tập trung nhân lực, vật tư, máy móc, thiết bị, tăng ca khắc phục mọi khó khăn, vướng mắc, nỗ lực đẩy nhanh tiến độ thi công, phát huy tinh thần “vượt nắng, thắng mưa”, thi công “3 ca 4 kíp”, làm việc xuyên lễ, xuyên Tết để đẩy nhanh tiến độ thi công, nâng cao chất lượng các công trình, dự án, phấn đấu hoàn thành vượt tiến độ đề raNăm 2024, Tuyên Quang được giao tổng kế hoạch vốn đầu tư công là 4.734,01 tỷ đồng, trong đó: Vốn ngân sách địa phương: 1.932,03 tỷ đồng; Vốn ngân sách trung ương: 2.801,98 tỷ đồng. Tính đến ngày 15/3/2024, tổng số vốn đã giải ngân được 729,58 tỷ đồng, đạt 15,41% kế hoạch.4. Hoạt động của doanh nghiệp4.1. Về tình hình hoạt động của doanh nghiệp- Trong tháng, toàn tỉnh có 24 doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký là 84,63 tỷ đồng; tổng vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp đạt 2,37 tỷ đồng.- Tính chung trong quý I, toàn tỉnh có 78 doanh nghiệp thành lập mới với tổng số vốn đăng ký là 461,6 tỷ đồng, tăng 90,2% về số doanh nghiệp, tăng 121,7% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm trước; số vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới đạt 5,92 tỷ đồng, tăng 1,2 lần.- Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp bắt đầu có sự phục hồi, những tín hiệu tích cực trong tình hình sản xuất, kinh doanh cho thấy các doanh nghiệp đã quay trở lại hoạt động bình thường, đã tác động tích cực đến việc phục hồi kinh tế ở tỉnh. Tính chung trong 3 tháng đầu năm 2024, số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động là 43 doanh nghiệp, tăng 2,38% so cùng kỳ. Nâng tổng số doanh nghiệp đang hoạt động trên địa bàn tỉnh là 2.711 doanh nghiệp (bao gồm 11 doanh nghiệp nhà nước và 16 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài) với tổng số vốn đăng ký trên 34.840 tỷ đồng; số vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp đạt 12,85 tỷ đồng. - Số doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động là 132 doanh nghiệp, tăng 38,95% (tăng 37 doanh nghiệp so với cùng kỳ). Số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể là 6 doanh nghiệp, tăng 100% so với cùng kỳ. Nhìn chung, phần lớn những doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động và giải thể là những doanh nghiệp nhỏ và vừa có sức chống chọi với khó khăn thấp hơn so với những doanh nghiệp có quy mô lớn và một yếu tố nữa là do làm ăn thua lỗ kéo dài, doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn trong quá trình hoạt động vì không huy động được vốn, tài chính để tiếp tục hoạt động, trong khi đó năng lực quản lý, điều hành thiếu kinh nghiệm làm cho tình hình kinh doanh của doanh nghiệp ngày càng đi xuống và không thể phát triển, thiếu vốn sản xuất kinh doanh, không tìm kiếm được thị trường, nên nhiều doanh nghiệp phải thu hẹp lại, không thể tiếp tục hoạt động dẫn đến phải giải thể doanh nghiệp.4.2. Điều tra xu hướng kinh doanh ngành công nghiệp chế biến chế tạo trong quý IKết quả điều tra về xu hướng kinh doanh của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo cho thấy: Có 26,67% số doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh quý I năm nay khả quan hơn quý trước; 50% doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh ổn định đạt tỷ và có 23,33% số doanh nghiệp đánh giá gặp khó khăn trong sản xuất kinh doanh. Chỉ số cân bằng của quý I năm 2024 so với quý IV năm 2023 là 3,33%. Dự kiến xu hướng kinh doanh quý II năm 2024 so với quý I cho thấy: Có 46,67% số doanh nghiệp đánh giá xu hướng sẽ tốt lên (trong đó có ngành: Sản xuất da và các sản phẩm có liên quan; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy; sản xuất kim loại; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn); 43,33% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh sẽ ổn định (trong đó có ngành: In, sao chép bản ghi các loại; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học); có 10% số doanh nghiệp dự báo tiếp tục khó khăn hơn. Dự tính chỉ số cân bằng của quý tiếp theo so với quý hiện tại là 36,67%. 5. Về sản xuất nông nghiệp (tính đến ngày 15/3/2024)5.1. Trồng trọt 5.1.1. Sản xuất vụ Đông năm 2024Vụ đông 2024 toàn tỉnh gieo trồng được 14.624 ha, tăng 0,3% (tăng 44,05 ha) so với năm 2023, tăng ở những cây trồng chính như: Ngô, khoai lang, lạc, đậu tương,... Kết quả gieo trồng đối với từng loại cây như sau:- Cây ngô: Trồng được 5.679 ha, tăng 5,33% (tăng 287,15 ha); sản lượng đạt 26.187 tấn, tăng 6,57% (tăng 1.615,54 tấn) so với vụ đông năm 2023. Do điều kiện thời tiết tương đối thuận lợi, cây ngô vẫn là cây lương thực chủ đạo của vụ đông, nên vẫn được bà con ưu tiên chú trọng phát triển, diện tích tăng chủ yếu ở các huyện Hàm Yên, Chiêm Hóa, Sơn Dương..., do đó diện tích ngô toàn tỉnh tăng so với cùng kỳ.- Cây khoai lang: Trồng được 938 ha, giảm 16,71% (giảm 188,25 ha); sản lượng đạt 5.811 tấn, giảm 16,31%, giảm 1.132,59 tấn so với cùng kỳ.- Cây đậu tương: Trồng được 36,2 ha, giảm 36,94% (giảm 21,21 ha); sản lượng 59,87 tấn, giảm 36,76 % (giảm 34,8 tấn). - Cây lạc: Trồng được 27,97 ha, giảm 45,21% (giảm 38,19 ha); sản lượng 61,81 tấn, giảm 38,19%, giảm 50,6 tấn.1.1.2. Sản xuất vụ xuân Vụ xuân được xác định là vụ lúa chủ lực, cho năng suất cao và góp phần quan trọng đến sản xuất nông nghiệp. Vì vậy, ngay từ đầu vụ toàn tỉnh đã tập trung cao độ cho công tác chỉ đạo, triển khai các điều kiện cần thiết để chuẩn bị cho sản xuất vụ xuân năm 2024 trong khung thời vụ tốt nhất. Vụ xuân năm nay toàn tỉnh phấn đấu gieo cấy trên 18.000 ha lúa xuân, trong đó nhóm lúa có năng suất cao chiếm từ 60 - 65%, nhóm giống lúa có chất lượng gạo ngon chiếm 35 - 40%. Kết quả: Cây lúa đã cấy 18.420 ha (trong đó: Lúa lai 8.771 ha; lúa thuần 9.649 ha), đạt 101,84% kế hoạch, giảm 0,46% (giảm 84,8 ha) so với cùng kỳ. Cây ngô đã trồng 8.262 ha, đạt 102,69%, giảm 0,25% (giảm 20,6 ha); cây lạc 3.274 ha, đạt 98,68%, tăng 1,72% (tăng 55,4 ha); cây đậu tương 115 ha, đạt 99,83%, tăng 6,3% (tăng 6,8 ha); cây khoai lang 394 ha, đạt 93,9% kế hoạch.- Cây mía: Diện tích trồng mới, trồng lại là 594 ha, đạt 80,7% kế hoạch. Trong đó: Diện tích trồng mới là 474 ha, trồng lại là 120 ha.Đánh giá chung, trong những tháng đầu năm 2024, mặc dù sản xuất nông nghiệp có những thuận lợi, tuy nhiên vẫn còn có những khó khăn, thách thức về tình hình thời tiết, dịch bệnh diễn biến bất thường; tại một số địa phương trong tỉnh diện tích gieo trồng một số cây trồng chính giảm do nhiều diện tích đất nông nghiệp nằm trong quy hoạch thu hồi để làm các dự án đường cao tốc; bên cạnh đó sản xuất nông nghiệp chủ yếu tự phát, chưa gắn với thị trường, với chuỗi giá trị ngành hàng. Các doanh nghiệp kinh doanh về lĩnh vực nông nghiệp còn ít chưa phát triển theo hướng bền vững, chưa mạnh dạn xây dựng các vùng nguyên liệu vì không có thị trường ổn định; giá vật tư, nguyên liệu đầu vào cao, trong khi tình hình tiêu thụ nông sản cũng đang gặp nhiều khó khăn đã ảnh hưởng đến thu nhập của người nông dân. 5.1.3. Cây lâu năm- Diện tích cây chuối hiện có trên địa bàn tỉnh 2.245 ha, tăng 0,52% so với cùng kỳ; sản lượng đạt trên 4.786 tấn, tăng 1,57%.- Diện tích cây chè trên địa bàn tỉnh hiện có 8.298 ha, giảm 0,41% (giảm 33,77 ha) so với cùng kỳ; sản lượng thu hoạch ước đạt trên 2.089 tấn, tăng 2,1% (tăng 43 tấn).5.1.3. Tình hình sinh vật gây hại Trong những tháng đầu năm 2024, thời tiết diễn biến bất thường, mưa phùn và sương mù xuất hiện, độ ẩm cao, tạo điều kiện thuận lợi để sâu bệnh phát triển gây hại đến cây trồng. Cây lúa xuất hiện ốc bươu vàng gây hại cục bộ, bọ trĩ, rầy nâu, rầy lưng trắng, sâu cuốn lá, bệnh nghẹt rễ, bệnh đạo ôn lá gây hại rải rác, một số diện tích ngô, lạc đậu tương bị sâu xám, sâu cuốn lá gây hại rải rác; cây mía bị bọ trĩ, sâu đục thân gây hại. Trên cây chè, cây có múi bị nhiễm rầy xanh nhẹ, bọ trĩ, bọ xít, nhện đỏ, nhện trắng gây hại ở mức trung bình. Cây lâm nghiệp xuất hiện bệnh chết héo, bệnh đốm lá gây khô ngọn làm ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của cây. Ngành chức năng đã tập trung chỉ đạo, hướng dẫn bà con nông dân thực hiện việc gieo cấy đúng thời vụ, chăm sóc cây trồng; thường xuyên kiểm tra đồng ruộng, phát hiện sâu bệnh hại cây trồng, kịp thời hướng dẫn cách phòng trừ, giảm thiệt hại do sâu bệnh gây ra.5.2. Về chăn nuôi 5.2.1. Về số lượng đàn gia súc, gia cầmTổng đàn trâu hiện có 87.840 con, giảm 2,53% (giảm 2.284 con) so với cùng kỳ năm 2023; đàn bò 40.684 con, tăng 2,62% (tăng 1.038 con); đàn lợn 580.282 con, tăng 4,05% (tăng 22.592 con); đàn gia cầm 7.352,46 nghìn con, tăng 1,75% (tăng 126,8 nghìn con).5.2.2. Về sản phẩm đàn gia súc, gia cầmSản lượng thịt trâu hơi xuất chuồng ước đạt 1.808 tấn, tăng 4,93% (tăng 384,87 tấn) so với cùng kỳ năm 2023; đàn bò 525 tấn, tăng 7,19% (tăng 35,2 tấn); đàn lợn đạt 18.150 tấn, tăng 7,19% (tăng 1.217,91 tấn); đàn gia cầm đạt 5.175 tấn, tăng 7,58% (tăng 364,77 tấn). Đánh giá chung, tình hình chăn nuôi trong 3 tháng đầu năm 2024 trên địa bàn tỉnh cơ bản ổn định, đàn vật nuôi phát triển tốt không có biến động lớn về dịch bệnh, đảm bảo nguồn cung cho thị trường, giá thịt lợn và gia cầm có xu hướng tăng nhẹ và giữ ổn định, đây là động lực quan trọng để các cơ sở chăn nuôi đẩy mạnh tái đàn, đáp ứng nhu cầu của thị trường. Tuy nhiên, giá nguyên liệu đầu vào (thức ăn chăn nuôi, các chi phí khác…) vẫn còn ở mức cao, người chăn nuôi không có lãi; chăn nuôi gia cầm còn gặp khó do thị trường bấp bênh, tiêu thụ khó, giá trứng gia cầm giảm mạnh thời điểm này là sau kỳ nghỉ Tết Nguyên đán kéo dài khiến nguồn cung dồi dào, trong khí đó nhu cầu tiêu thụ của người dân giảm cùng hiện tượng thời tiết nồm ẩm, hầu hết trang trại, các hộ chăn nuôi nhỏ, lẻ không có kho lạnh bảo quản nên phải xuất bán ồ ạt. Những yếu tố này đã tác động trực tiếp, khiến người chăn nuôi gặp nhiều khó khăn trong việc duy trì, mở rộng và phát triển đàn.5.3. Về công tác phòng chống dịch bệnh gia súc, gia cầm trong quý5.3.1. Công tác phòng chống và điều trị- Bệnh Dịch tả lợn Châu Phi: Trong quý, bệnh không phát sinh tại các, thành phố trên địa bàn tỉnh. - Các huyện, thành phố rải rác xuất hiện các bệnh Tụ huyết trùng; ký sinh trùng, chướng bụng đầy hơi, sán lá gan (đàn trâu,bò, tiêu chảy, lép tô, phân trắng lợn con (đàn lợn); Newcastle, THT, cầu trùng…(đối với đàn gia cầm), đã được nhân viên thú y phát hiện, điều trị khỏi: 340/350 con, trong đó: Trâu, bò: 41/41 con; đàn lợn: 299/309 con. 5.3.2. Công tác kiểm dịch vận chuyển động vật, sản phẩm động vật - Kiểm dịch vận chuyển ngoại tỉnh: Tiếp tục thực hiện chặt chẽ đúng quy định công tác kiểm dịch; kiểm soát giết mổ, kiểm tra vệ sinh thú y...), đã kiểm tra, cấp trên 676 giấy chứng nhận kiểm dịch vận chuyển, trong đó (179 chuyến vận chuyển 50.068 con gia súc, gia cầm và 496 chuyến vận chuyển 9.160 tấn sữa tươi nguyên liệu và 01 chuyến vận chuyển 1.280 kg SPĐV chế biến làm thức ăn chăn nuôi) đi các tỉnh Bắc Ninh, Hà Nội, Hà Nam, Hà Giang, Nam Định,...- Các Trạm Kiểm dịch động vật các huyện, thành phố tiếp tục duy trì thực hiện nghiêm công tác kiểm dịch động vật, đã kiểm tra trên 357 lượt phương tiện vận chuyển đủ thủ tục trong đó: (356 chuyến vận chuyển 404.374 con gia súc, gia cầm; 01 chuyến vận chuyển 8.550 kg sản phẩm động vật).- Công tác kiểm soát giết mổ và kiểm tra vệ sinh thú y: Trung tâm Dịch vụ nông nghiệp các huyện, thành phố đã kiểm tra, đóng dấu: 294 con trâu, bò; 15.242 con lợn. 5.4. Về sản xuất lâm nghiệp (ước tính có đến ngày 15/3/2024)5.3.1. Kết quả trồng rừng - Theo kế hoạch trồng rừng năm 2024, toàn tỉnh phấn đấu trồng mới trên 10.500 ha, trong đó: Rừng sản xuất là 10.100 ha, rừng phân tán 400 ha; tỉnh đã chỉ đạo các ngành chức năng chủ động hướng dẫn và kiểm tra các huyện, thành phố, các cơ quan, đơn vị tăng cường thực hiện công tác quản lý đất lâm nghiệp. Bố trí đất trồng, cây giống, dọn thực bì và cuốc hố để bước vào vụ trồng rừng mới, đảm bảo thắng lợi, quyết tâm phấn đấu hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch đề ra. Tính đến ngày 15/3/2024, toàn tỉnh đã trồng được 2.873 ha rừng trồng tập trung, tăng 10,18% (tăng 265, 36 ha) so với cùng kỳ; sản xuất được 8.620 triệu cây giống. 5.3.2. Kết quả khai thác rừng trồngƯớc tính quý I năm 2024, toàn tỉnh khai thác được 204.630 m3 gỗ¬, đạt 17,05% kế hoạch, tăng 0,28% (tăng 577,19 m3) so với cùng kỳ.Với mục tiêu đưa Tuyên Quang trở thành Khu lâm nghiệp ứng dụng công nghệ cao và trung tâm sản xuất và chế biến gỗ trong vùng và của cả nước. Tỉnh đã triển khai thực hiện tốt các nhiệm vụ, giải pháp phát triển lâm nghiệp, đi liền với đẩy mạnh sản xuất, nâng cao thu nhập và đời sống cho người trồng rừng và bảo vệ rừng, hướng tới phát triển lâm nghiệp xanh, tuần hoàn; xây dựng nhiều cơ chế chính sách, thu hút được các nhà đầu tư sản xuất chế biến lâm sản với dây chuyền công nghiệp hiện đại như: Công ty cổ phần giấy An Hòa; nhà máy sản xuất đũa xuất khẩu; Công ty cổ phần chế biến gỗ Woodsland Tuyên Quang đã thu mua nguyên liệu tạo điều kiện cho các chủ rừng thực hiện việc khai thác lâm sản mặt khác việc khai thác gỗ nguyên liệu.5.3.3. Công tác bảo vệ rừng: Công tác quản lý, bảo vệ rừng được các cấp, các ngành quan tâm, đồng thời tuyên truyền, vận động nhân dân tích cực tham gia thực hiện kế hoạch trồng rừng năm 2024. Công tác phòng cháy, chữa cháy rừng được quan tâm, ngành chức năng và các địa phương cùng các chủ rừng đã tập trung tăng cường lực lượng bám, nắm địa bàn, thường xuyên tuần tra, kiểm tra tại các khu vực có nguy cơ cháy cao, các khu vực đông người qua lại; sẵn sàng phương châm "bốn tại chỗ" khi có cháy rừng xảy ra, nhằm hạn chế tối đa thiệt hại về người và tài sản. Trong quý I năm 2024, trên địa bàn tỉnh không có vụ cháy rừng nào xảy ra; số vụ chặt phá rừng 13 vụ, tổng diện tích bị chặt phá 4,13 ha; đã kiểm tra, phát hiện và xử lý 28 vụ vi phạm (trong đó xử phạt vi phạm hành chính 21 vụ, xử lý hình sự 7 vụ), tịch thu 10,228 m3 gỗ các loại, thu nộp ngân sách 132,9 triệu đồng.5.4. Về thuỷ sản Diện tích nuôi trồng thuỷ sản 3.346 ha, giảm 0,69% (giảm 23,23 ha) so với cùng kỳ. Tổng sản lượng thuỷ sản 2.348 tấn, tăng 7,44% (tăng 162,45 tấn), trong đó: Sản lượng nuôi trồng 2.146 tấn, tăng 6,47%; sản lượng khai thác có 202 tấn, tăng 18,89%. Sản xuất giống được 27 triệu con tăng 0,04% (tăng 0,1 triệu con). 5.6. Phát động Tết trồng cây “Đời đời nhớ ơn Bác Hồ” Xuân Giáp Thìn và thực hiện kế hoạch trồng rừng năm 2024Hưởng ứng phong trào Tết trồng cây “Đời đời nhớ ơn Bác Hồ” Xuân Giáp Thìn năm 2024 và Chương trình “Trồng 1 tỷ cây xanh” của Thủ tướng Chính phủ; trên địa bàn toàn tỉnh đã tổ chức 150 điểm phát động “Tết trồng cây” với tổng số 19.054 người tham gia, trồng được 235.772 cây Keo, Mỡ, Bạch đàn và một số loài cây bản địa, tương đương diện tích 198,84 ha.Tỉnh đã phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức Lễ phát động Tết trồng cây Đời đời nhớ ơn Bác Hồ Xuân Giáp Thìn năm 2024, địa điểm tại thôn 21, xã Kim Phú (Thành phố Tuyên Quang). Tại buổi Lễ đã trồng được 3.060 cây (3.000 cây Keo lai mô và 60 cây Chò chỉ) trên diện tích 2 ha. Các huyện, thành phố trên địa bàn tỉnh đã tích cực hưởng ứng tham gia trồng cây, trồng rừng. Kết quả đã huy động được 18.304 người tham gia, trồng được 232.712 cây Keo, Mỡ, Bạch đàn và một số loài cây bản địa, tương đương diện tích 196,84 ha, hoạt động trên đã mở đầu cho một mùa trồng cây, gây rừng của tỉnh trong năm 2024.5.6. Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới Năm 2024, Tuyên Quang phấn đấu có thêm 12 xã đạt chuẩn nông thôn mới, 5 xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao và 2 xã đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu. Ngay trong những ngày đầu năm, các địa phương trong tỉnh đã quyết tâm thực hiện các tiêu chí, đặc biệt là những tiêu chí khó thực hiện do phụ thuộc nhiều vào vốn đầu tư, và cần huy động nhiều nguồn lực từ xã hội. Tiếp tục, củng cố, duy trì và giữ vững 19/19 tiêu chí tại các xã đã đạt chuẩn nông thôn mới theo bộ tiêu chí xã nông thôn mới nâng cao và xã nông thôn mới kiểu mẫu giai đoạn 2021-2025. 6. Sản xuất công nghiệpSản xuất công nghiệp trong 3 tháng đầu năm 2024 tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực, với kết quả tháng sau tích cực hơn tháng trước, quý sau tăng trưởng hơn quý trước. Các doanh nghiệp đã vượt qua những khó khăn, thách thức tập trung sản xuất, kinh doanh; bên cạnh đó, tỉnh đã chỉ đạo tập trung đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng, thực hiện các dự án xây dựng hạ tầng khu, cụm công nghiệp và hạ tầng giao thông trọng điểm nhằm thu hút nhà đầu tư thứ cấp; tập trung phát triển mạnh công nghiệp chế biến, chế tạo, chú trọng phát triển công nghiệp xanh. Cùng với đó là rà soát, nắm chắc tình hình sản xuất của từng ngành, đặc biệt là các ngành công nghiệp chủ lực (như may mặc, da giày, chế biến gỗ, sản xuất vật liệu xây dựng,...). Trong tháng, tỉnh đã tổ chức động thổ Dự án Nhà máy Nhiên liệu sinh khối Erex Sakura Tuyên Quang, dự án được đầu tư với nguồn vốn 478,8 tỷ đồng với quy mô trên 3,3 ha với mục tiêu sản xuất viên nén sinh khối và dăm gỗ, nhà máy có công suất thiết kế sản xuất viên nén sinh khối 150.000 tấn sản phẩm/năm, dăm gỗ 150.000 tấn sản phẩm/năm. Tuy nhiên, do thời gian nghỉ Tết Nguyên đán kéo dài đã ảnh hưởng đến thời gian sản xuất của doanh nghiệp; cùng với đó là những khó khăn từ suy giảm kinh tế toàn cầu trong thời gian qua nên một số ngành sản xuất, chế biến chế tạo như (Bột Felspat, Bột Barit, Gạch Tuynel...) do thị trường bị thu hẹp, thiếu đơn hàng, chi phí nguyên, nhiên vật liệu đầu vào cho sản xuất, chi phí vận tải còn ở mức cao, áp lực cạnh tranh đã tác động tiêu cực đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp; một yếu tố nữa là tình trạng tiêu thụ sản phẩm còn nhiều khó khăn, dẫn đến lượng hàng tồn kho trong doanh nghiệp hiện đang rất cao, gây ảnh hưởng lớn đến tình hình tài chính của doanh nghiệp, trong khi tiêu chuẩn sản xuất của các đơn hàng ngày càng khắt khe hơn và yêu cầu cao hơn, không chỉ về chất lượng sản phẩm mà còn phải đáp ứng các yêu cầu sản xuất hướng tới xanh và phát triển bền vững; hoạt động sản xuất của doanh nghiệp trong những tháng đầu năm tuy phục hồi theo chiều hướng tích cực dần lên, nhưng tốc độ phục hồi còn chậm, dự báo hoạt động sản xuất công nghiệp vẫn còn gặp nhiều khó khăn trong trong thời gian tới. 6.1. Về phát triển công nghiệp trong tháng - Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) trong tháng tăng 37,63% so với tháng trước, tăng 5,82% so với cùng kỳ, trong đó: Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 42,42%, tăng 6,06%; cung cấp nước và hoạt động thu gom xử lý rác, nước thải tăng 5,83%, tăng 16,81%; khai khoáng tăng 24,61%, giảm 2%; sản xuất và và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí giảm 1,2%, tăng 4,85%,...Một số ngành công nghiệp cấp II có chỉ số sản xuất tăng so với tháng trước và tăng so với cùng kỳ như: Sản xuất chế biến thực phẩm tăng 4,55%, tăng 40,49%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế) tăng 48,88%, tăng 100,31%; sản xuất trang phục; In, sao chép bản ghi các loại tăng 80%, tăng 20%,...- Trong tháng chỉ số sử dụng lao động của các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn tháng 3/202 tăng 1,19% so với tháng trước, giảm 1,23% so với cùng kỳ. Trong đó: khu vực doanh nghiệp Nhà nước giữ nguyên so với tháng trước và tăng 0,03%; doanh nghiệp ngoài quốc doanh giảm 0,42% và tăng 16,24%; doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng 3,11% và giảm 13,37%. Mặc dù còn gặp nhiều khó khăn về thị trường tiêu thụ, song các doanh nghiệp đã nỗ lực thực hiện các giải pháp để ổn định sản xuất, tìm kiếm đơn hàng, đảm bảo việc làm và thu nhập cho người lao động.- Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong tháng tăng 28,89% so với tháng trước và giảm 21,04% so với cùng kỳ. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng khá so với tháng trước là: Ngành sản xuất chế biến thực phẩm tăng 14,21%; sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất tăng 109,97%; giấy và sản phẩm từ giấy tăng 15,61%; In, sao chép bản ghi các loại tăng 80%; sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 109,99%,… Sản xuất trang phục giảm 46,67%,…- Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong tháng tăng 9,24% so với tháng trước và tăng 58,71% so với cùng kỳ. Trong đó, một số ngành có chỉ số tồn kho tăng so với tháng trước và so với cùng kỳ là: Ngành sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 13,68%, tăng 22,01%; hoá chất và sản phẩm hoá chất tăng 128,2%, tăng 52,24%; sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 3,12%, tăng 217,65%,…- Tính chung trong quý I năm 2023, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 6,2% so với cùng kỳ năm trước, Chia theo từng ngành kinh tế cấp I như sau:+ Ngành khai khoáng giảm 3,65%, nguyên nhân từ đầu năm đến nay, sản lượng khai thác khai thác khoáng hóa chất và khoáng phân bón giảm so cùng kỳ.+ Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 7,72%, do một số ngành chế biến, chế tạo tăng như: Chế biến thực phẩm tăng 27,43%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 10,25%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa tăng 103,68%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 6,91%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 9,81%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 2,33%; sản xuất kim loại tăng 17,77%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 4,97%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 167,72%,...+ Ngành sản xuất và phân phối điện giảm 5,22%, do từ đầu năm đến nay lượng mưa thấp hơn so với cùng kỳ, lưu lượng nước về hồ thuỷ điện thấp; ngoài ra, để bảo đảm nước phục vụ gieo cấy lúa vụ Xuân cho khu vực Trung du và Đồng bằng Bắc Bộ, hồ thủy điện Tuyên Quang cũng đã thực hiện các đợt xả nước dẫn đến việc tích đủ nước tại các hồ chứa nước còn gặp khó khăn. + Ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 8,87%, do nhu cầu sử dụng nước sinh hoạt và sản xuất kinh doanh của hộ gia đình và doanh nghiệp tăng cao trong tháng Tết. Công ty Cổ phần Cấp thoát nước đã tăng cường kiểm tra, bảo dưỡng máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ xử lý nước nhằm bảo đảm các trạm sản xuất cấp nước ổn định.6.2. Sản phẩm công nghiệp chủ yếu - Sản phẩm công nghiệp chủ yếu trong tháng của tỉnh đạt mức tăng trưởng khá, một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng so với cùng kỳ năm trước như: Điện sản xuất đạt 76 triệu Kwh, tăng 5,23%; đường kính đạt 6.000 tấn, tăng 2.066,06%; chè chế biến đạt 80 tấn, tăng 60%; xi măng đạt 120.000 tấn, tăng 17,48%; giày da đạt 780 nghìn đôi, tăng 6,47%; gỗ tinh chế đạt 4.258 m3, tăng 9,28%; thép cây, thép cuộn đạt 24.207 tấn, tăng 6,04%,… Tuy nhiên, cũng có một số sản phẩm công nghiệp giảm so với cùng kỳ như: Điện thương phẩm đạt 85 triệu Kwh, giảm 15,03%; bột Felspat đạt 16.000 tấn, giảm 41,5%; giấy đế xuất khẩu đạt 900 tấn, giảm 2,3%; bột giấy đạt 7.554 tấn, giảm 5,1%,..- Tính chung trong quý I năm 2024, một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng khá so với cùng kỳ năm trước: Đường kính tăng 62,67%; chè chế biến tăng 10,34%; xi măng tăng 13,67%; giấy đế xuất khẩu tăng 20,83%; may mặc xuất khẩu tăng 9,19%; giầy da tăng 27,8%; gỗ tinh chế tăng 5,85%; thép cây, thép cuộn đạt tăng 5,64%,… Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu giảm so với cùng kỳ năm trước như: Điện thương phẩm giảm 3,21%; điện sản xuất giảm 0,46%; bột ba rít giảm 46,99%; bột Felspat giảm 45,41%,...- Chỉ số sử dụng lao động của các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn quý I/2024 giảm 0,11% so với cùng kỳ. Trong đó: khu vực doanh nghiệp Nhà nước giảm 5,55%; doanh nghiệp ngoài quốc doanh tăng 11,57%; doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài giảm 6,49%,...- Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo quý I/2024 tăng 5,62% so với cùng kỳ, một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng khá là: Ngành sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 48,32%; In, sao chép bản ghi các loại tăng 12,5%; sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 70,16%,… một số ngành có chỉ số tiêu thụ sản phẩm giảm là: Chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế) giảm 41,36%; sản xuất trang phục giảm 6,46%; sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác giảm 25,18%; hóa chất và sản phẩm hoá chất giảm 10,62%,…7. Thương mại và Dịch vụHoạt động thương mại, dịch vụ và vận tải trên địa bàn tỉnh trong những tháng đầu năm diễn ra sôi động, tăng trưởng khá so với cùng kỳ; nguồn cung các mặt hàng dồi dào, giá không có biến động lớn, đáp ứng tốt nhu cầu phục vụ sản xuất của doanh nghiệp và đời sống của người dân, doanh thu dịch vụ tăng khá; hoạt động xuất, nhập khẩu ổn định, chỉ số giá được kiềm chế ở mức thấpTại các chợ, siêu thị, nguồn cung hàng hóa dồi dào cả về chủng loại lẫn số lượng, đáp ứng đầy đủ nhu cầu tiêu dùng, không có tình trạng khan hiếm hàng hóa và tăng giá đột biến, hàng hóa được tổ chức lưu thông thông suốt. Các nhà sản xuất đã đã chuân bị lượng hàng hóa đầy đủ, mẫu mã phong phú, đa dạng, đáp ứng đủ nhu cầu của nhân dân. Hoạt động du lịch của tỉnh tiếp tục đạt được nhiều tín hiệu khởi sắc, các địa phương trong tỉnh đã tổ chức các sự kiện văn hóa, thể thao, du lịch, nhằm tuyên truyền, giới thiệu, quảng bá về miền đất, văn hóa, con người và mang đậm nét văn hóa truyền thống của đồng bào các dân tộc trong tỉnh; các điểm du lịch tâm linh trên địa bàn tỉnh đã thu hút đông đảo du khách đến tham quan, vãn cảnh ngay trong những ngày đầu năm, góp phần thúc đẩy du lịch của tỉnh ngày càng phát triển.Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 3 ước đạt 2.559 tỷ đồng, giảm 2,64% so với tháng trước, tăng 15,34% so với cùng kỳ. Tính chung trong quý I/2024, tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 7.746 tỷ đồng, tăng 23,98% so với cùng kỳ.7.1. Doanh thu bán lẻ hàng hóa, dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch và dịch vụ khác7.1.1. Doanh thu bán lẻ hàng hóa Tổng mức bán lẻ hàng hóa trong tháng ước đạt 2.251 tỷ đồng, giảm 3,11% so với tháng trước, tăng 13,95% so với cùng kỳ, cụ thể như sau: Lương thực, thực phẩm giảm 6,3%, tăng 49,96%; hàng may mặc giảm 6,61%, tăng 33,59%; đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình giảm 5,74%, tăng 5,96%; vật phẩm, văn hoá, giáo dục giảm 2,61%, tăng 25,45%,… một số nhóm hàng tăng so với tháng trước và giảm so với cùng kỳ cùng kỳ như: Ô tô con (dưới 9 chỗ ngồi) tăng 3,51%, giảm 11,43%; xăng, dầu các loại tăng 2,65%, giảm 30,12%; nhiên liệu khác (trừ xăng dầu) tăng 6%, giảm 31,59%,... Tính chung trong quý I/2024, tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 6.837 tỷ đồng, tăng 23,64% so với cùng kỳ.7.1.2. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ khác- Trong tháng, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 203 tỷ đồng, tăng 2,49% so với tháng trước, tăng 22,31% so với cùng kỳ. Trong đó: Dịch vụ lưu trú đạt 16 tỷ đồng, tăng 7,51%, tăng 19,87%; dịch vụ ăn uống đạt 187 tỷ đồng, tăng 2,07%, tăng 22,53%. Tính chung trong quý I/2024 ước đạt 593 tỷ đồng, tăng 21,72%.- Doanh thu du lịch, lữ hành trong tháng ước đạt 0,49 tỷ đồng, tăng 17,24% so với tháng trước, tăng 211,99% so với cùng kỳ. Tính chung trong quý I/2024 ước đạt 1 tỷ đồng, tăng 179,25%.- Doanh thu nhóm dịch vụ khác trong tháng ước đạt 104 tỷ đồng, giảm 1,87% so với tháng trước, tăng 35,75% so với cùng kỳ. Trong đó: Dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 5 tỷ đồng, tăng 5,07%, tăng 50,81%; hành chính và dịch vụ hỗ trợ đạt 18 tỷ đồng, tăng 5,79%, tăng 10,62%; giáo dục và đào tạo đạt 03 tỷ đồng, tăng 6,82%, tăng 2,74%; y tế và hoạt động trợ giúp xã hội đạt 4 tỷ đồng, tăng 0,96%, tăng 40,27%; nghệ thuật, vui chơi và giải trí đạt 31 tỷ đồng, giảm 14,1%, tăng 76,76%,…. Tính chung trong quý I/2024, ước đạt 315 tỷ đồng, tăng 36,57%. 7.2. Xuất, nhập khẩu hàng hóaXuất khẩu tăng trưởng tích cực và ổn định từ đầu năm 2024, nhiều mặt hàng xuất khẩu chủ lực thuộc nhóm công nghiệp chế biến đạt mức tăng trưởng cao so với cùng kỳ. Kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa trong tháng ước đạt 22 triệu USD, tăng 31,59% so với tháng trước, tăng 47,53% so với cùng kỳ. Tính trong quý I/2024, kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa ước đạt 54 triệu USD, đạt 20,64% kế hoạch, tăng 7,85% so với cùng kỳ. Trong đó, xuất khẩu ước đạt 34 triệu USD, đạt 19,88%, tăng 2,34%, nhập khẩu ước đạt 20 triệu USD, đạt 22,09%, tăng 18,69%.Một số nhóm hàng có sản phẩm xuất khẩu trong quý đạt mức tăng trưởng cao so với cùng kỳ như: Chè xuất khẩu tăng 49,09%; bột ba rít tăng 25,52%; giấy đế xuất khẩu tăng 69,15%; giấy in viết, photo thành phẩm tăng 14,48%; hàng dệt, may tăng 33,75%; phong bì tăng 22,83%,… Bên cạnh đó, một số nhóm hàng có kim ngạch xuất khẩu giảm so với cùng kỳ: Bột giấy giảm 50%; đũa gỗ xuất khẩu giảm 30,97%; Antimony thỏi giảm 56,72%,... Tuy nhiên, tình trạng thiếu vắng các đơn hàng cộng thêm xu hướng giảm của giá hàng hóa; những yêu cầu về tiêu chuẩn kỹ thuật, hợp chuẩn, yêu cầu chứng minh nguồn gốc,… của các đối tác đặt ra đang là vấn đề không dễ vượt qua của các sản phẩm xuất khẩu; cùng với đó là nguồn cung dồi dào, lượng hàng tồn kho cao tại các thị trường như Nhật Bản, Hàn Quốc cũng dẫn đến xu hướng đơn hàng chậm lại, mức giá xuất khẩu gỗ nguyên liệu giảm; thị trường Trung Quốc dù đã mở cửa trở lại, nhưng chuỗi cung ứng nội địa chưa hoàn toàn hồi phục, ẩn chứa nhiều rủi ro; những khó khăn, thách thức trên cho thấy hoạt động xuất khẩu nhiều khả năng vẫn còn gặp nhiều khó khăn trong những tháng tới.8. Vận tải hàng hóa và hành kháchNhững tháng đầu năm 2024 nhu cầu đi lại của người dân trên địa bàn tỉnh tăng cao so với cùng kỳ, tình hình sản xuất của các doanh nghiệp đã phục hồi và khởi sắc, hoạt động xây dựng đã có xu hướng tăng trưởng nên nhu cầu vận chuyển hàng hóa máy móc thiết bị, dịch vụ logistics của người dân và nhu cầu đi du lịch, lễ hội đầu năm của người dân tăng khá; các lực lượng chức năng đã tăng cường công tác kiểm tra, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm trong lĩnh vực vận tải hành khách và hàng hóa, đồng thời chỉ đạo các Bến xe khách, các doanh nghiệp, hợp tác xã và các hộ kinh doanh cá thể vận tải quản lý, bảo đảm an toàn, lưu thông hàng hóa thông suốt phục vụ nhu cầu đi lại của nhân dân đặc biệt trong dịp Tết Nguyên đán. Công tác bảo đảm an ninh, trật tự tại các bến xe và trên các phương tiện vận tải hành khách được duy trì tốt, các tuyến đường trên địa bàn tỉnh đảm bảo giao thông an toàn, thông suốt, trên địa bàn tỉnh không xảy ra ùn tắc giao thông. 8.1. Doanh thu vận tải tải kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải - Doanh thu vận tải trong tháng ước đạt 355 tỷ đồng, giảm 0,36% so với tháng trước, tăng 27,64% so với cùng kỳ. Trong đó, vận tải hành khách ước đạt 59 tỷ đồng, giảm 11,01%, tăng 24,21%; vận tải hàng hóa ước đạt 296 tỷ đồng, tăng 2,06%, tăng 28,35%; hỗ trợ vận tải ước đạt 0,43 tỷ đồng, giảm 3,24%, tăng 27,63%; bưu chính, chuyển phát ước đạt 0,24 tỷ đồng, tăng 3,06%, tăng 19,13%,…- Tính chung trong quý I/2024, doanh thu vận tải kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 1.103 tỷ đồng, tăng 29,57% so với cùng kỳ. Trong đó: Vận tải hành khách đạt 188 tỷ đồng, tăng 28,77%; vận tải hàng hóa đạt 913 tỷ đồng, tăng 29,74%; hỗ trợ vận tải đạt 1 tỷ đồng, tăng 32,17%; bưu chính, chuyển phát đạt 1 tỷ đồng, tăng 28,85%,… 8.2. Vận tải hành khách- Vận chuyển hành khách trong tháng ước đạt 1 triệu lượt hành khách, giảm 12,67% so với tháng trước, tăng 24,69% so với cùng kỳ; luân chuyển hành khách ước đạt 75 triệu lượt hành khách.km, giảm 12,27%, tăng 19,65%.- Tính chung trong quý I/2024, vận chuyển hành khách ước đạt 3 triệu lượt hành khách, tăng 32,61% so với cùng kỳ; luân chuyển hành khách ước đạt 241 triệu lượt hành khách.km, tăng 28,27%.8.3. Vận tải hàng hóa- Vận chuyển hàng hóa ước đạt 2 triệu tấn, tăng 0,71% so với tháng trước, tăng 22,9% so với cùng kỳ; luân chuyển hàng hóa ước đạt 130 triệu tấn.km, tăng 1,95%, tăng 30,52%.- Tính chung trong quý I/2024, vận chuyển hàng hóa ước đạt 6 triệu tấn, tăng 26,08% so với cùng kỳ; luân chuyển hàng hóa ước đạt 399 triệu tấn.km, tăng 31,67%.9. Công tác chuyển đổi số và bưu chính, viễn thông9.1. Lĩnh vực chuyển đổi sốVới mục tiêu Chuyển đổi số trên địa bàn tỉnh phải lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm, chủ thể, làm mục tiêu, động lực nhằm cung cấp dịch vụ chất lượng hơn, phục vụ tốt hơn cho người dân, doanh nghiệp một cách thực chất và hiệu quả; hướng tới việc hình thành công dân số, xã hội số. Đến nay, công tác chuyển đổi số trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang đã đạt được một số kết quả nổi bật sau:Tiếp tục duy trì kết nối 18 dịch vụ dữ liệu trên Nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu quốc gia (NDXP) và Nền tảng trao đổi dữ liệu quốc gia (VDXP) qua nền tảng LGSP của tỉnh (trong đó có 08/08 cơ sở dữ liệu chuyên ngành và cơ sở dữ liệu dùng chung). Các cơ quan, đơn vị đang khai thác, sử dụng có hiệu quả các cơ sở dữ liệu phục vụ công tác chuyên môn, nghiệp vụ tại địa phương. - Xây dựng Phần mềm số hóa kết quả giải quyết thủ tục hành chính, xây dựng cơ sở dữ liệu số hóa kết quả giải quyết thủ tục hành chính tỉnh Tuyên Quang; triển khai nâng cấp Cổng thông tin điện tử của tỉnh.- Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính của tỉnh đang cung cấp 1.826 thủ tục hành chính, trong đó có 1.047 thủ tục được cung cấp dịch vụ công toàn trình, 445 thủ tục được cung cấp dịch vụ công một phần, 335 thủ tục là dịch vụ cung cấp thông tin trực tuyến. Từ 01/01/2024 đến 20/02/2024 đã tiếp nhận 21.730 hồ sơ (hồ sơ trực tuyến: 20.345 hồ sơ, hồ sơ trực tiếp: 1.385 hồ sơ), tỷ lệ hồ sơ trực tuyến đạt: 93,62%.9.2. Về Lĩnh vực Bưu chính - Viễn thông- Toàn tỉnh hiện có hơn 20 doanh nghiệp bưu chính, chuyển phát hoạt động theo nhiều mô hình khác nhau. Có 314 điểm cung cấp dịch vụ bưu chính của các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực bưu chính, chuyển phát trên địa bàn tỉnh tiếp tục được duy trì hoạt động phục vụ người dân và doanh nghiệp. 100% các xã có thư báo đến trong ngày. - Các dịch vụ bưu chính phát triển mạnh như bưu phẩm, bưu kiện. Việc triển khai chuyển trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính qua dịch vụ bưu chính công ích đã đem lại việc làm cho doanh nghiệp bưu chính trên địa bàn. - Các Doanh nghiệp bưu chính, viễn thông tăng cường công tác bảo đảm an toàn, an ninh trong quá trình cung ứng dịch vụ bưu chính; an toàn mạng lưới, thông tin liên lạc thông suốt đáp ứng nhu cầu thông tin liên lạc của các cơ quan nhà nước, tổ chức, doanh nghiệp và người dân trong dịp Tết Nguyên đán Giáp Thìn 2024.- Hạ tầng Internet cáp quang và thông tin di động được triển khai đến 100% các xã, phường, thị trấn trên toàn tỉnh. Đến nay, toàn tỉnh có 1.344 vị trí lắp đặt trạm thu phát sóng BTS, tăng 06 trạm so với cuối năm 2023 (01 vị trí lắp đặt nhiều loại trạm 2G, 3G, 4G), đảm bảo gần 100% các thôn, bản, tổ nhân dân được phủ sóng điện thoại di động, tạo điều kiện cho người dân tiếp cận thông tin, phục vụ phát triển kinh tế, xã hội tại địa phương.10. Về du lịch Tỉnh đã tổ chức thành công các sự kiện quảng bá, thu hút khách du lịch đến với tỉnh như: Lễ hội Lồng Tông; Lễ hội đền Hạ, đền Thượng, đền Ỷ La; Lễ hội Nhảy lửa của người Pà Thẻn; Lễ hội Hương sắc Na Hang (Lễ hội Hoa Lê) với nhiều hoạt động nổi bật như: Lễ hội Áo dài và Liên hoan Dân vũ; tham quan Cây Di sản Việt Nam và hang Bó Kim thôn Bản Bung, xã Thanh Tương; tham quan Danh thắng Quốc gia đặc biệt Khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang-Lâm Bình; Khu Lâm viên Phiêng Bung, xã Năng Khả,… các lễ hội trên đã góp phần quảng bá, bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, thúc đẩy du lịch phát triển,.... Bên cạnh đó, tỉnh cũng tập trung phát triển các sản phẩm du lịch, đặc biệt là các sản phẩm mới lạ, độc đáo. thu hút đầu tư của doanh nghiệp du lịch và phát triển các sản phẩm du lịch đặc thù trong thời gian tới. Từ đó tạo ra những tour du lịch hấp dẫn, dịch vụ tối ưu, điểm đến mới lạ cho du khách. Trong quý I/2024, các khu, điểm du lịch trên địa bàn tỉnh đã thu hút được 917.500 lượt khách du lịch, đạt 33% kế hoạch, tăng 4% so với cùng kỳ. Tổng thu từ khách du lịch đạt 1.080 tỷ đồng, đạt 30%, tăng 7%.II. LĨNH VỰC VĂN HÓA - XÃ HỘI 1. Về lao động việc làm- Giải quyết việc làm cho người lao động là mục tiêu hàng đầu trong công tác giảm nghèo, nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân, phát triển kinh tế - xã hội địa phương. Do đó, trong thời gian qua, các cấp, các ngành, các địa phương của tỉnh đã triển khai nhiều giải pháp có hiệu quả nhằm khuyến khích, hỗ trợ tạo sinh kế, việc làm cho người lao động, cụ thể: Hỗ trợ về vốn, khoa học kỹ thuật cho người dân phát triển sản xuất, kinh tế gia đình; tổ chức ngày hội việc làm, kết nối khởi nghiệp và phiên giao dịch việc làm lưu động; duy trì xuất khẩu lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, giúp người lao động có nguồn thu nhập ổn định, nâng cao chất lượng cuộc sống, đời sống của nhân dân từng bước được cải thiện.Trong quý I/2024, toàn tỉnh đã tạo việc làm cho 5.920 lao động, trong đó: Lao động làm việc trong các ngành kinh tế tại tỉnh là 3.659 người; Lao động đi làm việc các tỉnh, thành phố 1.681 người; lao động đi làm việc nước ngoài theo hợp đồng 146 người), đạt 26,3% kế hoạch và đạt 100,6% so với cùng kỳ. Thực hiện kịp thời, đúng quy định các chế độ, chính sách bảo hiểm thất nghiệp đối với người lao động. Duy trì thực hiện công tác công tác quản lý người lao động là người nước ngoài trên địa bàn tỉnh, thẩm định và cấp mới 20 giấy phép lao động, thu hồi 04 giấy phép lao động của 03 đơn vị, doanh nghiệp, chấp thuận cho 01 doanh nghiệp sử dụng 01 lao động nước ngoài làm việc tại tỉnh.2. Đời sống dân cư Từ đầu năm đến nay, tình hình đời sống dân cư trên địa bàn tỉnh tiếp tục ổn định. Tuy nhiên, giá nhiều mặt hàng như điện, nước, giá xăng dầu liên tục điều chỉnh tăng kéo theo giá cả nhiều mặt hàng tăng nhanh đã tác động không nhỏ đến đời sống của nhiều hộ gia đình, đặc biệt là nhiều hộ gia đình có thu nhập thấp và trung bình. Với đồng lương eo hẹp, người dân phải cắt giảm các khoản chi tiêu và triển khai kế hoạch chi tiêu một cách tiết kiệm, hiệu quả hơn, cắt giảm những khoản tiêu dùng không cần thiết.Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong các khu, cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh cơ bản ổn định và sản xuất đạt kế hoạch đề ra, đa số doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả và phát triển ổn định, không xảy ra tình trạng cắt giảm giờ làm, nghỉ việc, nghỉ luân phiên và chấm dứt hợp đồng với người lao động, đời sống của người lao động trong các công ty tiếp tục ổn định.Các doanh nghiệp và các tổ chức đoàn thể đã quan tâm chăm lo Tết cho người lao động, đã phần nào giúp đời sống của những người hưởng lương trong dịp Tết được ổn định hơn. Nhiều doanh nghiệp dù gặp khó khăn nhưng luôn thực hiện tốt các chính sách về tiền lương, đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và tổ chức thăm hỏi, hỗ trợ kịp thời người lao động gặp khó khăn,... Mức thưởng bình quân cho người lao động trong các loại hình doanh nghiệp: Kế hoạch thưởng Tết Dương lịch 2024: Mức thưởng bình quân cho người lao động của doanh nghiệp có kế hoạch thưởng: 1.152.000/người; Kế hoạch thưởng Tết Nguyên đán 2024: Mức thưởng bình quân người lao động tại doanh nghiệp báo cáo có kế hoạch thưởng: 3.359.000 đồng/người. Nhìn chung, đời sống của người dân trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang trong quý I/2024, cơ bản ổn định và từng bước được cải thiện hơn, hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp có nhiều tín hiệu khởi sắc tác động tích cực đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, người lao động có việc làm và thu nhập ổn định đã đảm bảo phần nào cho nhu cầu cuộc sống.3. Công tác người có công, giảm nghèo, bảo trợ xã hội và phòng chống tệ nạn xã hội 3.1. Công tác đối với người có công với cách mạngDuy trì thực hiện đầy đủ, kịp thời các chế độ, chính sách đối với người có công với cách mạng và thân nhân người có công; đẩy mạnh thực hiện các phong trào, hoạt động "đền ơn, đáp nghĩa", "uống nước nhớ nguồn", chú trọng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần đối với người có công; tỉnh đã triển khai các hoạt động tặng quà của Chủ tịch nước và quà của tỉnh đối với người có công với cách mạng trên địa bàn tỉnh nhân dịp Tết Nguyên đán Giáp Thìn năm 2024, tổng số là 16.479 suất quà với kinh phí trên 6.915,4 triệu đồng. Trong đó: Quà của Chủ tịch nước 7.886 suất, số tiền 2.444,7 triệu đồng; quà của tỉnh 8.530 suất, số tiền 4.396,5 triệu đồng; quà của tỉnh tặng 07 thương binh, bệnh binh đang điều dưỡng tại các trung tâm điều dưỡng thương bệnh binh: 7 triệu đồng; quà tặng người có công tiêu biểu 36 suất, số tiền 43,2 triệu đồng; quà các đồng chí Lãnh đạo Đảng, Nhà nước tặng người có công và gia đình người có công với cách mạng 20 suất quà, số tiền 24 triệu đồng), chỉ đạo các huyện, thành phố triển khai các hoạt động chăm lo, thăm hỏi, tặng quà người có công với cách mạng nhân dịp Tết Nguyên đán.3.2. Công tác bảo trợ xã hội và phòng chống các tệ nạn xã hộiTiếp tục thực hiện tốt các chính sách trợ giúp xã hội, tỉnh đã thực hiện đầy đủ, kịp thời các chế độ, chính sách an sinh xã hội cho các hộ có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, bảo đảm mọi nhà, mọi người đều có điều kiện vui xuân, đón Tết. Kết quả toàn tỉnh có 5.003 hộ với 14.648 nhân khẩu được hỗ trợ lương thực với tổng số 219.720 kg gạo (15 kg/khẩu); có 75.028 người, đơn vị được thăm hỏi và nhận quà tặng, hỗ trợ của các tổ chức, cá nhân, với tổng giá trị là 28.284 triệu đồng, trong đó: có 22.537 đối tượng hộ nghèo, cận nghèo nhận quà, trị giá 10.409 triệu đồng; 1.777 đối tượng bảo trợ xã hội nhận quà, trị giá 912 triệu đồng; 50.711 đối tượng là người lao động nhận quà, trị giá 16.923 triệu đồng; có 02 đơn vị quản lý, chăm sóc các đối tượng bảo trợ xã hội nhận quà, trị giá 40 triệu đồng. Duy trì chi trả trợ cấp thường xuyên cho trên 37.000 đối tượng bảo trợ xã hội tại cộng đồng- Duy trì công tác tiếp nhận, quản lý, điều trị, cai nghiện cho người nghiện ma túy tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh, từ đầu năm đến nay, Cơ sở đã tiếp nhận 25 học viên (Cai nghiện bắt buộc 22 học viên, 02 học viên đang trong thời gian làm thủ tục cai nghiện bắt buộc, 01 học viên đang trong độ tuổi từ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi); cấp giấy chứng nhận hoàn thành cai nghiện cho 34 học viên. Tại thời điểm báo cáo Cơ sở đang quản lý 153 học viên (có mặt 147 học viên; trốn cai 03 học viên, đi viện 03 học viên); cơ sở tổ chức các hoạt động vui xuân, đón tết cho học viên đang cai nghiện tại Cơ sở cai nghiện trong dịp Tết nguyên đán Giáp Thìn 2024 vui vẻ và an toàn; tuy nhiên gặp nhiều khó khăn, nguy cơ mất an toàn do thiếu nhiều người làm việc theo quy định. Duy trì công tác phòng chống mại dâm, hỗ trợ nạn nhân bị mua bán trở về4. Hoạt động giáo dục và đào tạoSau kỳ nghỉ Tết Nguyên đán Giáp Thìn 2024, học sinh các cấp trên địa bàn toàn tỉnh đã quay trở lại trường học, tiếp tục chương trình học kỳ II, năm học 2023-2024. Dù thời gian nghỉ Tết kéo dài, nhưng các trường đã chuẩn bị tốt các điều kiện đón học sinh trở lại trường và nhanh chóng ổn định nền nếp dạy, học ngay trong những ngày đầu nămNhằm chuẩn bị cho Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2024, các trường trên địa bàn tỉnh đang dồn sức ôn tập cho học sinh lớp 12. Tùy theo học lực của học sinh, các trường có phương pháp ôn tập phù hợp để giúp các em thi tốt kỳ thi quan trọng sắp tới cũng như hiện thực hóa ước mơ về ngành nghề học tập trong tương lai. Cùng với việc ôn tập cho kỳ thi cuối năm học, học sinh lớp 12 trên địa bàn tỉnh cũng đang tập trung ôn tập cho kỳ thi tốt nghiệp THPT. Hiện các trường đang tập trung tổ chức ôn tập kiến thức trọng tâm theo định hướng của kỳ thi tốt nghiệp THPT. Đối với từng môn thi, các trường có phương pháp ôn tập phù hợp, giúp học sinh nắm chắc kiến thức, kỹ năng để làm bài thi.Tỉnh đã tổ chức Kỳ thi chọn học sinh giỏi cấp tỉnh lớp 12 THPT, năm học 2023-2024, tham dự kỳ thi có 730 học sinh đến từ 34 đơn vị, trường học trên địa bàn tỉnh với 9 môn thi gồm: Toán, Vật lý, Hoá học, Sinh học, Tin học, Ngữ văn, Lịch sử, Địa lý và Tiếng Anh. Kết quả, toàn tỉnh có 367 thí sinh đoạt giải trên tổng số 730 thí sinh dự thi, chiếm 50,3%. Trong đó, có 13 giải nhất, 47 giải nhì, 138 giải ba và 169 giải khuyến khíchTổ chức Kỳ thi chọn học sinh giỏi cấp tỉnh lớp 9 THCS, năm học 2023 -2024, với sự tham dự của 572 học sinh ưu tú trên địa bàn tỉnh tham gia dự thi ở 9 môn gồm: Toán, Vật lý, Hóa học, Sinh học, Tin học, Ngữ văn, Lịch sử, Địa lý và Tiếng Anh.Các kỳ thi chọn học sinh giỏi cấp tỉnh lớp 9, lớp 12 được tổ chức nhằm đánh giá chất lượng giáo dục mũi nhọn của các trường trên địa bàn tỉnh, qua đó động viên, khuyến khích người dạy và người học phát huy năng lực sáng tạo, dạy giỏi, học giỏi, góp phần thúc đẩy việc cải tiến, nâng cao chất lượng dạy và học. Đồng thời tạo nguồn bồi dưỡng, thực hiện mục tiêu đào tạo nhân tài cho tỉnh và cho đất nước.Các huyện thành phố đã tổ chức Lễ khai mạc Hội khoẻ Phù Đổng các vận động viên tham gia là học sinh các trường tiểu học, THCS đã đạt kết quả cao trong Hội khoẻ Phù Đổng cấp trường, cấp cụm. Các vận động viên tham gia thi đấu các môn như: Bóng đá, cầu lông, điền kinh, đẩy gậy, cờ vua, võ cổ truyền, vovinam. Đây là ngày hội thể thao học đường lớn nhất của các em học sinh tại các huyện, thành phố; là dịp để ngành giáo dục và các nhà trường đánh giá công tác giáo dục thể chất và sự phát triển của phong trào thể dục thể thao học đường; nhằm tiếp tục duy trì và đẩy mạnh Cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại”; khơi dậy tiềm năng thể dục, thể thao ở lứa tuổi học sinh, thúc đẩy phong trào ở các nhà trường.5. Hoạt động y tế Từ đầu năm đến nay, tỉnh đã tăng cường chỉ đạo công tác phòng, chống dịch Covid-19 và các dịch bệnh truyền nhiễm khác như: Sốt xuất huyết, tay chân miệng,... Chủ động công tác giám sát, theo dõi chặt chẽ tình hình dịch bệnh trên địa bàn; chuẩn bị sẵn sàng ứng phó với các tình huống có thể xảy ra của dịch bệnh. Tiếp tục đẩy mạnh công tác giám sát phát hiện sớm và xử lý kịp thời các ca bệnh, ổ dịch, không để dịch bùng phát trở lại và hạn chế tối đa xảy ra nguy cơ dịch chồng dịch.Về công tác khám, chữa bệnh: Tiếp tục thực hiện tốt công tác khám, chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe cho nhân dân, tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước về y tế; đổi mới, phát triển các kỹ thuật cao, kỹ thuật chuyên sâu trong khám, chữa bệnh; nâng cao chất lượng các dịch vụ y tế; tinh thần, thái độ phục vụ của cán bộ y tế chuyển biến rõ nét. Tổng số lượt khám bệnh trong 3 tháng đầu năm 2024 đạt 317.567 lượt người. Trong đó: Bệnh viện tuyến tỉnh: 67.019 lượt, Trung tâm Y tế huyện: 128.371 lượt, Bệnh viện Đa khoa khu vực: 12.981 lượt, Trạm Y tế xã, phường, thị trấn: 109.196 lượt. Công suất sử dụng giường bệnh tại Bệnh viện tuyến tỉnh: 103,5%, Trung tâm Y tế huyện: 104,7% và Bệnh viện Đa khoa khu vực: 87,5%. Ngày điều trị trung bình tại Bệnh viện tuyến tỉnh: 7,6 ngày, Trung tâm Y tế huyện: 5,8 ngày, Bệnh viện Đa khoa khu vực: 5,6 ngày.- Công tác đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm (ATVSTP) cũng đã được tỉnh triển khai bằng nhiều giải pháp như: Tăng cường công tác truyền thông về an toàn vệ sinh thực phẩm trên các phương tiện thông tin đại chúng; triển khai công tác hậu kiểm chất lượng, giám sát các mối nguy cơ ô nhiễm thực phẩm; thực hiện thanh tra, kiểm tra, giám sát chất lượng ATVSTP trên địa bàn toàn tỉnh. Đã kiểm tra, giám sát tại 977 cơ sở, đạt 33,9% kế hoạch; xử lý 30 cơ sở vi phạm các quy định về ATVSTP; triển khai việc thẩm định và cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện ATVSTP cho 07 cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm tại các huyện, thành phố, đạt 5,6% kế hoạch. Trong 03 tháng đầu năm không ghi nhận vụ ngộ độc thực phẩm, không có tử vong do ngộ độc thực phẩm.6. Hoạt động văn hoá - thể dục, thể thao- Tổ chức thành công các hoạt động, sự kiện văn hóa, nghệ thuật chào mừng kỷ niệm các ngày lễ lớn của đất nước, sự kiện chính trị quan trọng của tỉnh, như: Chương trình "Tuyên Quang chào năm 2024", cũng trong khuôn khổ chương trình đã công bố 10 sự kiện và kết quả nổi bật của tỉnh năm 2023; vinh danh 10 công dân tiêu biểu tỉnh Tuyên Quang năm 2023 và chương trình nghệ thuật đặc sắc với chủ đề “Khát vọng thịnh vượng”. Tổ chức các hoạt động tuyên truyền kỷ niệm 94 năm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03/02/1930 - 03/02/2024), mừng xuân Giáp Thìn năm; Hội báo Xuân Giáp Thìn và phát động Giải báo chí toàn quốc về Xây dựng Đảng (Giải Búa liềm vàng) lần thứ IX năm 2024; tiếp tục đẩy mạnh phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” gắn với chương trình xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh.- Lĩnh vực thể dục, thể thao: Tỉnh đã tổ chức phát động Ngày chạy Olympic vì sức khỏe toàn dân và giải Việt dã Tiền phong năm 2024; Tổ chức thành công 3 giải thể thao cấp tỉnh (giải bóng chuyền hơi toàn tỉnh, giải Quần vợt các câu lạc bộ tỉnh Tuyên Quang, Ngày chạy Olympic toàn dân và giải Việt dã Tiền Phong). Duy trì hoạt động 6 lớp đội tuyển năng khiếu với 30 vận động viên; 7 lớp đội tuyển trẻ với 68 vận động viên; 03 lớp đội tuyển tỉnh với 20 vận động viên.7. Một số hoạt động khác- Tỉnh đã tổ chức Lễ ra quân huấn luyện năm 2024 và phát động đợt thi đua cao điểm với chủ đề: “Tiếp bước Chiến sỹ Điện Biên - Tiến lên giành 3 nhất”; thời gian từ ngày 1-3 đến ngày 7-5-2024; thiết thực lập thành tích chào mừng kỷ niệm 70 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ (7-5-1954 – 7-5-2024). Trong quý I, các địa phương trên địa bàn tỉnh đã đồng loạt tổ chức lễ giao nhận quân năm 2024 với không khí vui tươi, phấn khởi. Công tác giao nhận quân diễn ra long trọng, đúng thời gian, đảm bảo nhanh gọn, đủ chỉ tiêu, tiết kiệm và an toàn. Trong đợt giao quân năm nay, toàn tỉnh có 1.375 tân binh, tham gia nghĩa vụ quân sự và công an. Trong đó, 1.150 tân binh tham gia nghĩa vụ quân sự, 225 tân binh tham gia nghĩa vụ công an. Ngoài ra, Hội đồng Nghĩa vụ quân sự các huyện, thành phố phát lệnh gọi nhập ngũ cho 66 tân binh dự phòng. - Bộ Khoa học và Công nghệ đã công bố xếp hạng Chỉ số đổi mới sáng tạo cấp địa phương năm 2023. Theo kết quả, tỉnh Tuyên Quang đạt 33,74 điểm, đứng thứ 43 toàn quốc và xếp thứ 5 trong khu vực Trung du và miền núi phía Bắc. Bộ chỉ số đổi mới sáng tạo cấp địa phương do Bộ Khoa học và Công nghệ xây dựng gồm 52 chỉ số thành phần.8. Tình hình an toàn giao thông - Trong tháng, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra vụ tai nạn giao thông đặc biệt nghiêm trọng trên tuyến Quốc lộ 2 đoạn qua xã Tứ Quận (huyện Yên Sơn) giữa xe ô tô khách với xe ô tô container. Hậu quả: 5 người tử vong tại chỗ, 10 người bị thương, 2 phương tiện hư hỏng nặng. Toàn tỉnh đã xảy ra 15 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 9 người và làm bị thương 16 người. Số vụ tai nạn giữ nguyên so với tháng trước, số người chết tăng 50%; số người bị thương tăng 33,33%. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giảm 11,76%, số người chết tăng 50%, số người bị thương tăng 14,29%.- Tính chung trong quý I/2024, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 38 vụ tai nạn giao thông, làm 20 người chết và làm 32 người bị thương. So với cùng kỳ năm trước giảm 17,39% số vụ, số người chết tăng 17,65%, số người bị thương giảm 13,51%.8. Thiệt hại do thiên tai, phòng chống cháy, nổ8.1. Về thiên taiTừ đầu năm đến nay trên địa bàn tỉnh không ghi nhận các đợt thiên tai nào xảy ra. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của các đợt không khí lạnh tăng cường, trên địa bàn tỉnh xuất hiện các đợt mưa rào kèm dông, kết hợp với độ ẩm trong không khí tăng cao khiến nền nhiệt giảm mạnh, dẫn đến các đợt rét đậm, rét hại kéo dài đã ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống sinh hoạt của người dân và gây hại cho cây trồng, vật nuôi. 8.2. Về cháy nổTừ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh xảy ra 01 vụ cháy tại cây xăng ở xã Bình Xa, huyện Hàm Yên, thiệt hại về tài sản ước tính 1.250 triệu đồng, vụ cháy không gây thiệt hại về người và tài sản của nhân dân. 9. Một số nhiệm vụ giải pháp trong thời gian tớiVới quyết tâm hoàn thành cao nhất các mục tiêu, chỉ tiêu kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh đã đề ra trong năm 2024. Để phấn đấu hoàn thành các mục tiêu theo kế hoạch cần phải tiếp tục thực hiện tốt một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm sau:Một là, chủ động, tập trung tháo gỡ vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ triển khai các dự án trên địa bàn tỉnh; tập trung thực hiện quyết liệt, đồng bộ các giải pháp, tháo gỡ kịp thời các khó khăn để đẩy nhanh tiến độ thực hiện, giải ngân vốn đầu tư công, phấn đấu đạt mục tiêu giải ngân hết số vốn đầu tư công được giao theo kế hoạch; đẩy nhanh tiến xây dựng dự án đường cao tốc Tuyên Quang – Hà Giang (giai đoạn 1); đường từ Thành phố Tuyên Quang đi Khu du lịch suối khoáng Mỹ Lâm; xây dựng cầu và đường tránh thị trấn Sơn Dương; đường từ Khu du lịch suối khoáng Mỹ Lâm đến Quốc lộ 2D; Bệnh viện đa khoa tỉnh, Trường Trung học phổ thông Chuyên tại địa điểm mới,… và các dự án thuộc 03 Chương trình mục tiêu quốc gia; chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội,... nhằm kết nối liên vùng, đồng bộ, theo hướng hiện đại, tạo động lực thúc đẩy kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh.Hai là, triển khai thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 01/NQ-CP của Chính phủ về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và dự toán ngân sách Nhà nước năm 2024; Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 05/01/2024 của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2024. Tập trung thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, hỗ trợ doanh nghiệp; phát triển kinh tế tư nhân; đẩy mạnh triển khai các dự án ngoài ngân sách; quyết liệt cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh và chuyển đổi số. đẩy mạnh cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư, nâng cao năng lực cạnh tranh và chuyển dổi số; thu hút nhiều nhà đầu tư trong nước và nước ngoài đầu tư tại tỉnh.Ba là, triển khai thực hiện có hiệu quả Quy hoạch tỉnh Tuyên Quang thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, tập trung phát triển ba trụ cột kinh tế và hình thành 4 cực tăng trưởng gắn với tiềm năng thế mạnh vùng; tiếp tục tập trung thực hiện các giải pháp phát triển công nghiệp, xây dựng với trọng tâm vào các ngành mà tỉnh có tiềm năng, lợi thế như: Công nghiệp chế biến gỗ, sản xuất vật liệu xây dựng, công nghiệp dệt may, da giày, điện tử,… đôn đốc tiến độ và kịp thời giải quyết khó khăn, vướng mắc nhằm đẩy nhanh tiến độ dự án công nghiệp trọng điểm, để các dự án sớm hoàn thành đầu tư đưa vào sản xuất, nhằm gia tăng sản lượng và đóng góp thêm các sản phẩm công nghiệp mới và có phương án bù đắp các sản phẩm thiếu hụt, đảm bảo hoàn thành chỉ tiêu sản xuất công nghiệp theo kế hoạch; đẩy mạnh xuất khẩu các sản phẩm hàng hóa chủ lực của địa phương.Bốn là, tăng cường các biện pháp siết chặt kỷ luật tài chính - ngân sách, đẩy mạnh công tác chống thất thu, trốn thuế, chống gian lận thương mại, rà soát, những nguồn thu còn tiềm năng, nguồn thu chưa khai thác hết, còn dư địa để tổ chức thực hiện, khai thác tăng thu, bù đắp các khoản hụt thu; khẩn trương triển khai thực hiện đấu giá quyền sử dụng đất theo kế hoạch được giao, phấn đấu hoàn thành dự toán thu ngân sách nhà nước trên địa bàn. Thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ chi đã bố trí trong dự toán ngân sách tỉnh giao.Năm là, triển khai đầy đủ các chính sách hỗ trợ của Chính phủ về các gói hỗ trợ hồi phục kinh tế như: Hỗ trợ lãi suất 2%/năm thuế giá trị gia tăng đối với tất cả nhóm hàng hóa, dịch vụ đang áp dụng mức thuế suất giá trị gia tăng 10% xuống còn 8%, cho vay hỗ trợ tạo việc làm, duy trì và mở rộng việc làm; giảm thuế và gia hạn thời gian nộp thuế; thực hiện tốt công tác hoàn thuế giá trị gia tăng cho doanh nghiệp,... Đây là những giải pháp rất cần thiết, là nguồn lực đáng kể để tháo gỡ khó khăn cho người dân, doanh nghiệp, nhằm nhanh chóng khôi phục hoạt động sản xuất, kinh doanh, phát triển ổn định, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo nguồn thu bền vững cho ngân sách nhà nước.Sáu là, tiếp tục theo dõi chặt chẽ tình hình thời tiết, chủ động xây dựng các phương án phòng chống thiên tai, cảnh báo mưa lũ nhắm hạn chế tối thiểu thiệt hại về người và tài sản do thiên tai gây ra. Thực hiện tốt các chính sách về an sinh xã hội, lao động, việc làm, công tác trợ giúp đột xuất, bảo đảm người dân khi gặp rủi ro, thiên tai được hỗ trợ kịp thời, khắc phục khó khăn ổn định cuộc sống. Tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát bảo đảm an ninh trật tự, an toàn giao thông và phòng chống cháy nổ.CỤC THỐNG KÊ TUYÊN QUANG
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 02 năm 2024 tỉnh Tuyên Quang
- 07/11/2025 22:08
I. PHÁT TRIỂN KINH TẾ 1. Về sản xuất nông nghiệp (tính đến ngày 15/02/2024)1.1. Trồng trọt 1.1.1. Sản xuất vụ đôngĐến thời điểm hiện tại nông dân các địa phương trong tỉnh đang tất bật thu hoạch cây vụ đông, giải phóng đất để sản xuất vụ xuân; những diện tích đã được thu hoạch xong đã được triển khai làm bờ, cày ải, nạo vét kênh mương thủy lợi đảm bảo đủ nước tưới tiêu phục vụ sản xuất. Kết quả: Cây ngô đã thu hoạch được 5.679 ha, đạt 100% so với diện tích đã trồng, tăng 5,53% so với cùng kỳ; cây khoai lang 938 ha, đạt 100%, giảm 16,71%; cây rau, đậu các loại 4.081 ha, đạt 100%, giảm 2,61%.1.1.2. Sản xuất vụ xuân Vụ xuân được xác định là vụ lúa chủ lực, cho năng suất cao và góp phần quan trọng đến sản xuất nông nghiệp. Vì vậy, ngay từ đầu vụ toàn tỉnh đã tập trung cao độ cho công tác chỉ đạo, triển khai các điều kiện cần thiết để chuẩn bị cho sản xuất vụ xuân năm 2024 trong khung thời vụ tốt nhất. Vụ xuân năm nay toàn tỉnh phấn đấu gieo cấy trên 18.000 ha lúa xuân, trong đó nhóm lúa có năng suất cao chiếm từ 60 - 65%, nhóm giống lúa có chất lượng gạo ngon chiếm 35 - 40%. Kết quả: Cây lúa đã cấy 11.844 ha, đạt 65,49% kế hoạch (trong đó: Lúa lai 5.768 ha; lúa thuần 6.076 ha), giảm 28,84% so với cùng kỳ; cây ngô 1.452 ha, đạt 18,04%, giảm 62,5%; cây lạc 1.239 ha, đạt 37,34%, giảm 48,71%; cây đậu tương 54 ha, đạt 47,04%, tăng 22,4%,…. Do trùng với dịp tết Nguyên đán Giáp Thìn 2024, để vụ xuân đạt năng suất, ngành chức năng đã khuyến cáo bà con gieo mạ trong khung thời vụ, che phủ nilon chống rét cho toàn bộ diện tích mạ, chỉ gieo cấy khi thời tiết trên 15°C; kết thúc cấy trong tháng 3 để kịp thu hoạch, giải phóng đất sản xuất vụ mùa, khuyến khích nông dân sử dụng giống ngắn ngày, có khả năng chống chịu sâu bệnh, chịu hạn, phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng của địa phương chọn những giống có năng suất cao, chất lượng tốt, giá trị kinh tế cao, thị trường tiêu thụ ổn định.Theo kế hoạch từ 0 giờ ngày 18/2, các địa phương vùng Trung du và đồng bằng Bắc Bộ bắt đầu lấy nước đợt 2 phục vụ gieo cấy lúa đông xuân 2023-2024. Nhằm bảo đảm cho các địa phương lấy nước được thuận lợi, Tập đoàn Điện lực Việt Nam đã thực hiện xả gia tăng các hồ thủy điện từ 15 giờ ngày 16/2 (hồ Hòa Bình), từ 1 giờ ngày 16/2 (Hồ Thác Bà), từ 9 giờ ngày 16/2 (hồ Tuyên Quang), trước khoảng 1,5 ngày. Tỉnh đã chỉ đạo ngành chức năng và các địa phương quản lý chặt chẽ và khai thác hợp lý các nguồn nước; tăng cường nạo vét hệ thống kênh mương, đào ao trữ nước, lắp đặt và vận hành các trạm bơm dã chiến để tận dụng tối đa nguồn nước, giảm thất thoát, lãng phí nguồn nước; thực hiện các giải pháp tiết kiệm nước cho lúa và cây trồng cạn, đặc biệt với cây ăn quả, cây trồng có giá trị kinh tế cao, chuẩn bị các điều kiện để sẵn sàng bơm nước chống hạn khi cần thiết, trong đó chú trọng giải pháp cấp nước sản xuất, nước sinh hoạt cho các khu vực, các hộ dân có nguy cơ thiếu nước trong trường hợp nguồn nước bị thiếu hụt.1.1.3 Cây lâu nămDiện tích cây chuối hiện có trên địa bàn tỉnh 2.235 ha, tăng 0,09% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng ước đạt 2.789 tấn, tăng 1,65%, sản lượng chủ yếu được tiêu thụ tại các thị trường lân cận như Hà Nội, Vĩnh Phúc và nhiều địa phương khác trong cả nước.1.2. Tình hình sinh vật gây hại Trong tháng, thời tiết diễn biến bất thường, mưa phùn và sương mù xuất hiện, độ ẩm cao, tạo điều kiện thuận lợi để sâu bệnh phát triển gây hại đến cây trồng; một số diện tích mạ xuân bị chuột, nấm mốc, thối nhũn, bênh trắng lá gây hại rải rác. Diện tích ngô bị sâu đục bắp, đốm lá, khô vằn, châu chấu, chuột gây hại rải rác. Trên cây chè, cây cam bị nhiễm rầy xanh nhẹ, bọ trĩ, bọ xít, nhện đỏ, nhện trắng gây hại ở mức trung bình. Ngành chức năng đã tập trung chỉ đạo, hướng dẫn bà con nông dân thực hiện việc gieo cấy đúng thời vụ, chăm sóc cây trồng; thường xuyên kiểm tra đồng ruộng, phát hiện sâu bệnh hại cây trồng, kịp thời hướng dẫn cách phòng trừ, giảm thiệt hại do sâu bệnh gây ra.1.3. Về chăn nuôi 1.3.1. Về số lượng đàn gia súc, gia cầmĐàn trâu 88.746 con, giảm 1,45% (giảm 1.304 con) so với cùng kỳ năm 2023; đàn bò 40.487 con, tăng 3% (tăng 1.180 con); đàn lợn 583.367 con, tăng 6,12% (tăng 33.663 con); đàn gia cầm 7.332 nghìn con, tăng 1,86% (tăng 134 nghìn con).1.3.2. Về sản phẩm đàn gia súc, gia cầmĐàn trâu sản lượng thịt hơi xuất chuồng đạt 685 tấn, tăng 6,74% (tăng 43,24 tấn) so với cùng kỳ; đàn bò đạt 180 tấn, tăng 7,42% (tăng 12,47 tấn); đàn lợn đạt 6.409 tấn, tăng 6,3% (tăng 379,69 tấn); đàn gia cầm đạt 1.792 tấn, tăng 6,05% (tăng 102,2 tấn). Đánh giá chung, tình hình chăn nuôi trong tháng trên địa bàn tỉnh cơ bản ổn định, đàn gia súc, gia cầm tiếp tục phát triển khá, đảm bảo đủ nguồn cung cho thị trường trong dịp Tết Nguyên đán Giáp Thìn 2024; dịp Tết giá lợn hơi có có xu hướng ổn định và tăng nhẹ do nhu cầu tiêu thụ tăng cao hơn so với ngày thường, Tuy nhiên, tình hình dịch bệnh động vật ở một số nơi vẫn có diễn biến phức tạp, nguy cơ bùng phát dịch bệnh trên động vật là rất cao, nhất là các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm trên đàn gia súc; các ngành chức năng đã tập trung chỉ đạo các địa phương chú trọng thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch bệnh, vệ sinh, khử trùng, tiêu độc môi trường tại các vùng trọng điểm chăn nuôi của tỉnh, vùng nguy cơ cao để tiêu diệt các loại mầm bệnh, khuyến khích người chăn nuôi giảm dần hình thức chăn nuôi quy mô nhỏ lẻ, hộ gia đình; tập trung đầu tư phát triển chăn nuôi trang trại để áp dụng công nghệ và kỹ thuật tiên tiến nhằm giảm dần quy mô chăn nuôi nhỏ lẻ, hộ gia đình để quản lý dịch bệnh tốt hơn.1.4. Về công tác phòng chống dịch bệnh gia súc, gia cầm trong tháng 1.4.1. Công tác phòng chống và điều trị- Bệnh Dịch tả lợn Châu Phi: Trong tháng, bệnh không phát sinh tại các, thành phố trên địa bàn tỉnh. - Các huyện, thành phố không xuất hiện các bệnh Tụ huyết trùng; ký sinh trùng, chướng bụng đầy hơi, sán lá gan (đàn trâu,bò,tiêu chảy, lép tô, phân trắng lợn con (đàn lợn); Niucatson, THT, cầu trùng.1.4.2. Công tác kiểm dịch vận chuyển động vật, sản phẩm động vật - Kiểm dịch vận chuyển ngoại tỉnh: Tiếp tục thực hiện chặt chẽ đúng quy định công tác kiểm dịch; kiểm soát giết mổ, kiểm tra vệ sinh thú y...), đã kiểm tra, cấp trên 228 giấy chứng nhận kiểm dịch vận chuyển (45 chuyến vận chuyển 8.075 con gia súc, gia cầm và 183 chuyến vận chuyển 3.497.000 kg sữa tươi nguyên liệu). Lũy kế cấp 446 giấy chứng nhận kiểm dịch vận chuyển (100 chuyến vận chuyển 26.086 con gia súc, gia cầm và 366 chuyến vận chuyển 6.934.500 kg sữa tươi nguyên liệu và 1.280 kg SPDDV chế biến làm thức ăn chăn nuôi) đi các tỉnh Bắc Ninh, Hà Nội, Hà Nam, Hà Giang, Nam Định,...- Các Trạm Kiểm dịch động vật: Đã kiểm tra trên 110 lượt phương tiện vận chuyển đủ thủ tục (110 chuyến vận chuyển 112.732 con gia súc, gia cầm). Lũy kế đã kiểm tra 271 lượt phương tiện vận chuyển đủ thủ tục (270 chuyến vận chuyển 324.518 con gia súc, gia cầm; 01 chuyến vận chuyển 8.550kg sản phẩm động vật).- Công tác kiểm soát giết mổ và kiểm tra vệ sinh thú y: Đã kiểm tra, đóng dấu: 136 con trâu, bò; 5.988 con lợn. Lũy kế 259 con trâu, bò; 11.032 con lợn.1.5. Về sản xuất lâm nghiệp 1.5.1. Công tác trồng rừng- Theo kế hoạch trồng rừng năm 2024, toàn tỉnh phấn đấu trồng mới trên 10.500 ha, trong đó: Rừng sản xuất là 10.100 ha, rừng phân tán 400 ha. Dự kiến năm 2024 các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất giống cây lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh sẽ sản xuất trên 30 triệu cây giống các loại, trong đó có hơn 20 triệu cây phục vụ nhu cầu trồng rừng trên địa bàn tỉnh, số còn lại cung ứng cho người trồng rừng tại các tỉnh lân cận. Ngay từ đầu năm các địa phương trong tỉnh đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động, người dân tham gia trồng, chăm sóc, bảo vệ và phát triển rừng. Hiện nay, các chủ rừng đang chuẩn bị các điều kiện cần thiết như xử lý thực bì, vật tư phân bón, cây giống và cuốc hố để bước vào vụ trồng rừng mới, đảm bảo thắng lợi, quyết tâm phấn đấu hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch đề ra.- Trong tháng, toàn tỉnh đã trồng 358 ha rừng trồng tập trung, đạt 3,54% kế hoạch, tăng 12,44% (tăng 39,62 ha) cùng kỳ; số cây lâm nghiệp trồng phân tán trồng được là 14,08 nghìn cây. 1.5.2. Khai thác gỗ rừng trồng Trong tháng sản lượng gỗ khai thác ước đạt 55.218 m3 gỗ, tăng 39,96% (tăng 15.764 m3) so với cùng kỳ năm 2023. 1.5.3. Công tác quản lý bảo vệ rừngTrong tháng, trên địa bàn tỉnh không có vụ cháy rừng nào xảy ra. Số vụ chặt phá rừng là 07 vụ, tổng diện tích bị chặt phá 1,58 ha, phát hiện và xử lý tịch thu 01 phương tiện khác (cưa xăng...) và 2,408 m3 gỗ các loại; phạt hành chính và bán thanh lý tài sản 198,5 triệu đồng (đã thu nộp ngân sách 23,5 triệu đồng).1.6. Phát động Tết trồng cây “Đời đời nhớ ơn Bác Hồ” Xuân Giáp Thìn và thực hiện kế hoạch trồng rừng năm 2024Hưởng ứng phong trào Tết trồng cây “Đời đời nhớ ơn Bác Hồ” Xuân Giáp Thìn năm 2024 và Chương trình “Trồng 1 tỷ cây xanh” của Thủ tướng Chính phủ; trên địa bàn toàn tỉnh đã tổ chức 150 điểm phát động “Tết trồng cây” với tổng số 19.054 người tham gia, trồng được 235.772 cây Keo, Mỡ, Bạch đàn và một số loài cây bản địa, tương đương diện tích 198,84 ha.Tỉnh đã phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức Lễ phát động Tết trồng cây Đời đời nhớ ơn Bác Hồ Xuân Giáp Thìn năm 2024, địa điểm tại thôn 21, xã Kim Phú (Thành phố Tuyên Quang). Tại buổi Lễ đã trồng được 3.060 cây (3.000 cây Keo lai mô và 60 cây Chò chỉ) trên diện tích 2 ha. Các huyện, thành phố trên địa bàn tỉnh đã tích cực hưởng ứng tham gia trồng cây, trồng rừng. Kết quả đã huy động được 18.304 người tham gia, trồng được 232.712 cây Keo, Mỡ, Bạch đàn và một số loài cây bản địa, tương đương diện tích 196,84 ha, hoạt động trên đã mở đầu cho một mùa trồng cây, gây rừng của tỉnh trong năm 2024.2. Sản xuất công nghiệp2.1. Chỉ số phát triển công nghiệp - Chỉ số sản xuất công nghiệp IIP trong tháng giảm 24,63% so với tháng trước, tăng 0,85% so với cùng kỳ, cụ thể của các ngành như sau: Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 26,08%, tăng 2,82%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí giảm 18,34%, giảm 11,83%; khai khoáng giảm 2,6%, giảm 3,24%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải giảm 8,3%, tăng 0,46%.Một số ngành công nghiệp cấp II có chỉ số sản xuất tăng so với cùng kỳ năm trước như: Chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế) tăng 73,83%; giấy và sản phẩm từ giấy tăng 14,4%; In, sao chép bản ghi các loại tăng 38,89%; sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 53,55%; sản xuất trang phục tăng 7,52%; chế biến thực phẩm tăng 5,94%,...Nguyên nhân chủ yếu chỉ số IIP giảm so với tháng trước là tháng 2 năm nay trùng vào dịp nghỉ Tết Nguyên đán, nên số ngày làm việc ít hơn 8-10 ngày so với tháng trước, sản lượng sản xuất của các doanh nghiệp giảm, chủ yếu giảm ở ngành công nghiệp chế biến, chế tạo. Trong ngành công nghiệp chế biến chế tạo có 6/10 ngành công nghiệp cấp 2 có chỉ số giảm so với tháng trước, trong đó một số ngành giảm sâu như: Chế biến thực phẩm (giảm 29,07%); chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (giảm 34,7%); In, sao chép bản ghi các loại (giảm 28,57%),… Ngược lại, các ngành sản xuất sản phẩm thiết yếu phục vụ tiêu dùng của dân cư trong dịp Tết Nguyên đán tăng như: Sản xuất trang phục (tăng 12,68%); da và các sản phẩm có liên quan (tăng 7,93%); giường, tủ, bàn , ghế (tăng 3,58%),...- Tính chung trong 02 tháng đầu năm 2024, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 6,18% so với cùng kỳ năm trước, Chia theo từng ngành kinh tế cấp I như sau:+ Ngành khai khoáng giảm 5,56%, nguyên nhân từ đầu năm đến nay, sản lượng khai thác khai thác khoáng hóa chất và khoáng phân bón giảm so cùng kỳ.+ Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 7,67%, do một số ngành chế biến tăng như: Chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế) tăng 111,18%; In, sao chép bản ghi các loại tăng 46,34%; sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 138,15%; sản xuất chế biến thực phẩm tăng 22,4%; sản xuất trang phục tăng 6,19%,...+ Ngành sản xuất và phân phối điện giảm 2,3%, do từ đầu năm đến nay lượng mưa thấp hơn so với cùng kỳ, lưu lượng nước về hồ thuỷ điện thấp; ngoài ra, để bảo đảm nước phục vụ gieo cấy lúa vụ Xuân cho khu vực Trung du và Đồng bằng Bắc Bộ, hồ thủy điện Tuyên Quang cũng đã thực hiện các đợt xả nước dẫn đến việc tích đủ nước tại các hồ chứa nước còn gặp khó khăn. + Ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 6,12%, do nhu cầu sử dụng nước sinh hoạt và sản xuất kinh doanh của hộ gia đình và doanh nghiệp tăng cao trong tháng Tết. Công ty Cổ phần Cấp thoát nước đã tăng cường kiểm tra, bảo dưỡng máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ xử lý nước nhằm bảo đảm các trạm sản xuất cấp nước ổn định.2.2. Sản phẩm công nghiệp chủ yếu Do bước vào thời gian nghỉ Tết nên sản phẩm công nghiệp của các doanh nghiệp trong tháng giảm so với cùng kỳ, có 10/15 nhóm sản phẩm chủ yếu giảm cụ thể như sau: Điện thương phẩm đạt 83 triệu Kwh, giảm 8,71%; điện sản xuất đạt 91 triệu Kwh, giảm 14,82%; bột barit đạt 1.000 tấn, giảm 64,03%; bột Felspat nghiền đạt 3.930 tấn, giảm 78,07%; giấy đế xuất khẩu đạt 500 tấn, giảm 24,31%; bột giấy đạt 3.569 tấn, giảm 53,89%; hàng may mặc xuất khẩu đạt 1.328 nghìn sản phẩm, giảm 17,92%,... Có 02 nhóm sản phẩm tăng so với cùng kỳ là nhóm: Xi măng đạt 90.000 tấn, tăng 54,88%; gỗ tinh chế đạt 5.008 tấn, tăng 35,44%,...Tính chung trong 02 tháng, một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng khá so với cùng kỳ năm trước: Điện thương phẩm đạt 184 triệu Kwh, tăng 5,22%; điện sản xuất đạt 215 triệu Kwh, tăng 0,61%; xi măng đạt 215.000 tấn, tăng 59,07%; giấy đế xuất khẩu đạt 1.550 tấn, tăng 32,01%; hàng may mặc xuất khẩu đạt 3.429 nghìn sản phẩm, tăng 10,28%; gỗ tinh chế đạt 9.931 m3, tăng 35,8%; thép cây, thép cuộn đạt 42.540 tấn, tăng 12,24%,... Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu giảm so với cùng kỳ năm trước như: Đường kính đạt 4.153 tấn, giảm 31,24%; bột barit đạt 2.500 tấn, giảm 62,97%; bột Felspat đạt 15.279 tấn, giảm 42,91%; bột giấy đạt 11.266 tấn, giảm 1,4%,…Đánh giá chung, ngay sau kỳ nghỉ Tết Nguyên đán, các doanh nghiệp đã hoạt động trở lại với không khí khẩn trương, nghiêm túc, tư tưởng người lao động ổn định, phấn khởi, thể hiện quyết tâm cùng doanh nghiệp hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu kế hoạch đã đề ra, đảm bảo hoàn thành các đơn hàng đã được ký kết. Các doanh nghiệp đã chủ động tìm kiếm đơn hàng, mở rộng thị trường, cùng với đó là tập trung sản xuất đa dạng hóa các mặt hàng, giữ vững chất lượng và thương hiệu, nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường, tạo việc làm ổn định và thu nhập cho người lao động.3. Vốn đầu tư, xây dựng3.1. Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước thực hiện tháng 2 năm 2024 đạt 237 tỷ đồng, tăng 16,84% so với tháng trước, tăng 21,88% so cùng kỳ. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 207 tỷ đồng, tăng 14,93%, tăng 17,38%; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện đạt 27 tỷ đồng, tăng 35,77%, tăng 75,73%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã đạt 3 tỷ đồng, tăng 7,19%, tăng 13,89%.Tính chung trong 02 tháng đầu năm 2024, nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 440 tỷ đồng, tăng 17,48% so với cùng kỳ. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 388 tỷ đồng, tăng 14,1%; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện đạt 46 tỷ đồng, tăng 58,81%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã đạt 6 tỷ đồng, tăng 7,19%.3.2. Hoạt động xây dựngNăm 2024, Tuyên Quang được giao tổng kế hoạch vốn đầu tư công là 4.734,01 tỷ đồng, trong đó: Vốn ngân sách địa phương: 1.932,03 tỷ đồng; Vốn ngân sách trung ương: 2.801,98 tỷ đồng. Tính đến ngày 19/02/2024, tổng số vốn đã giải ngân được 711,08 tỷ đồng, đạt 15,02% kế hoạch vốn.Với quyết tâm đạt kết quả cao nhất giải ngân vốn đầu tư công năm 2024, tỉnh đã tập trung đẩy nhanh tiến độ thực hiện các công trình trọng điểm ngay từ những ngày đầu năm mới, chỉ đạo các sở, ngành, các huyện, thành phố tập trung cao độ giải quyết, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc về đất đai, tài nguyên môi trường, giải phóng mặt bằng các dự án đầu tư; đẩy nhanh tiến độ hoàn thiện các thủ tục đầu tư, thanh quyết toán vốn đầu tư. Đồng thời xây dựng phương án, đề ra các giải pháp phù hợp để tổ chức thực hiện thi công liên tục trong các ngày của dịp Tết Nguyên đán Giáp Thìn 2024 đối với các dự án trọng điểm của tỉnh; các nhà thầu thi công, nhà thầu tư vấn đã tập trung nhân lực, vật tư, máy móc, thiết bị, tăng ca khắc phục mọi khó khăn, vướng mắc, nỗ lực đẩy nhanh tiến độ thi công, phát huy tinh thần “vượt nắng, thắng mưa”, thi công “3 ca 4 kíp”, làm việc xuyên lễ, xuyên Tết để đẩy nhanh tiến độ thi công, nâng cao chất lượng các công trình, dự án, phấn đấu hoàn thành vượt tiến độ đề ra. Tỉnh cũng huy động mọi nguồn lực, đẩy nhanh tiến độ xây dựng, sớm hoàn thành đưa vào sử dụng các công trình dự án trọng điểm của tỉnh như: Dự án đường cao tốc Tuyên Quang – Hà Giang (giai đoạn 1); đường từ Thành phố Tuyên Quang đi Khu du lịch suối khoáng Mỹ Lâm; xây dựng cầu và đường tránh thị trấn Sơn Dương; đường từ Khu du lịch suối khoáng Mỹ Lâm đến Quốc lộ 2D; Bệnh viện đa khoa tỉnh, Trường Trung học phổ thông Chuyên tại địa điểm mới,… và các dự án thuộc 03 Chương trình mục tiêu quốc gia; chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội,... nhằm kết nối liên vùng, đồng bộ, theo hướng hiện đại, tạo động lực thúc đẩy kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh.Trong tháng, tỉnh đã tổ chức Lễ khánh thành Dự án xây dựng tuyến đường trục phát triển đô thị từ thành phố Tuyên Quang đi trung tâm huyện Yên Sơn, dự án được khởi công xây dựng ngày 3-11-2021 với tổng mức đầu tư gần 700 tỷ đồng. 4. Thương mại và Dịch vụSau kỳ nghỉ Tết Nguyên đán Giáp Thìn 2024, hiện nay đời sống sinh hoạt, nhu cầu mua sắm của người dân đã trở lại nhịp sống bình thường. Thị trường hàng hóa dịp Tết ổn định, không có hiện tượng tăng giá đột biến do nguồn cung được bảo đảm. Các doanh nghiệp, hộ kinh doanh triển khai nhiều chương trình khuyến mại, chuẩn bị nguồn hàng hóa đa dạng, phong phú về chủng loại và số lượng nhằm kích cầu người dân mua sắm hàng hóa dịp Tết; các siêu thị, trung tâm thương mại phục vụ khách hàng đến hết ngày 30 Tết và mở cửa trở lại từ ngày mùng 4 Tết, nhìn chung sức mua những ngày sau Tết năm nay cao hơn so với năm trước, tập trung chủ yếu ở các mặt hàng thực phẩm, rau, củ, quả và các loại bánh kẹo phục vụ người dân du xuân đi lễ đầu năm. Các siêu thị như Winmart và Winmart+, Siêu thị Tuyên Quang đã chủ động dự trữ nguồn hàng bảo đảm cho thị trường sau Tết, cũng như tiếp tục triển khai các chương trình khuyến mại, kích cầu sau thời gian nghỉ Tết.Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 02 năm 2024 ước đạt 2.553 tỷ đồng, giảm 0,28% so với tháng trước, tăng 27,22% so với cùng kỳ. Tính chung 02 tháng đầu năm 2024, tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước ước đạt 5.113 tỷ đồng, tăng 26,86% so với cùng kỳ.4.1. Doanh thu bán lẻ hàng hóa Doanh thu bán lẻ hàng hóa trong tháng 2 ước đạt 2.259 tỷ đồng, giảm 0,22% so với tháng trước, tăng 28% so với tháng cùng kỳ. Trong đó, một số nhóm hàng tăng so với tháng trước, tăng so với cùng kỳ, cụ thể như sau: Lương thực, thực phẩm đạt 1.692 tỷ đồng, tăng 2,15%, tăng 63,28%; may mặc đạt 270 tỷ đồng, tăng 0,27%, tăng 44,73%; xăng, dầu các loại đạt 256 tỷ đồng, tăng 3,85%, tăng 13,22%,… Tuy nhiên, cũng có một số nhóm hàng giảm so với tháng trước và tăng so với cùng kỳ như: Đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình giảm 4,42%, tăng 3,22%; vật phẩm, văn hoá, giáo dục, giảm 12,04%, tăng 0,04%; Ô tô con (dưới 9 chỗ ngồi), giảm 1,36%, tăng 4,92%; phương tiện đi lại, trừ ô tô con (kể cả phụ tùng) giảm 2%, tăng 48,26%; nhiên liệu khác (trừ xăng dầu), giảm 9,46%, tăng 4,18%,… Tính chung trong 02 tháng, tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 4.522 tỷ đồng, tăng 27,21% so với cùng kỳ.4.2. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ khác- Trong tháng, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 194 tỷ đồng, tăng 1,4% so với tháng trước, tăng 17,87% so với cùng kỳ. Trong đó: Dịch vụ lưu trú đạt 14 tỷ đồng, tăng 1,18%, tăng 17,39%; ăn uống đạt 180 tỷ đồng, tăng 1,42%, tăng 17,91%. Tính chung trong 02 tháng, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 385 tỷ đồng, tăng 20,07% so với cùng kỳ.- Doanh thu du lịch lữ hành trong tháng ước đạt 0,4 tỷ đồng, tăng 12% so với tháng trước, tăng 165,39% so với cùng kỳ. Tính chung trong 02 tháng, doanh thu du lịch lữ hành ước đạt 1 tỷ đồng, tăng 157,09% so với cùng kỳ.- Doanh thu dịch vụ khác trong tháng ước đạt 100 tỷ đồng, giảm 4,77% so với tháng trước, tăng 28,99% so với cùng kỳ. Trong đó: Dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ đạt 17 tỷ đồng, giảm 12,12%, tăng 16,83%; y tế và hoạt động trợ giúp xã hội đạt 4 tỷ đồng, giảm 8,08%, tăng 25,47%; sửa chữa máy vi tính, đồ dùng cá nhân và gia đình, giảm 14,12%, tăng 24,7%; dịch vụ khác, giảm 9,57%, tăng 21,5%,… Tính chung trong 02 tháng, doanh thu dịch vụ khác ước đạt 204 tỷ đồng, tăng 32,85% so với cùng kỳ.4.3. Giá cả- Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trong tháng tăng 4,03% so với cùng kỳ năm trước, tăng 2,04% so với tháng 12 năm trước, tăng 1,51% so với tháng trước. Tính chung trong 02 tháng, CPI bình quân tăng 3,64% so với cùng kỳ.Là tháng Tết nên nhu cầu mua sắm của người dân tăng cao, đẩy giá hàng hóa và dịch vụ tăng theo quy luật tiêu dùng vào dịp Tết, cùng với đó là giá xăng dầu trong nước điều chỉnh tăng theo giá nhiên liệu thế giới đã làm cho giá nhiên liệu tăng theo. Trong số 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính thì có 9 nhóm tăng giá so với tháng trước, 01 nhóm giảm giá, 01 nhóm giữ giá ổn định (nhóm bưu chính viễn thông). Trong 9 nhóm hàng tăng so với tháng trước, bao gồm những nhóm hàng sau: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 3,16%, trong đó nhóm lương thực tăng 3,95%, nhóm thực phẩm tăng tăng 3,2%, nhóm ăn uống ngoài gia đình tăng 2,01%, nguyên nhân là do nhu cầu tiêu dùng các loại gạo tẻ ngon, gạo nếp, thịt lợn, bò và thịt gia cầm tăng trong dịp Tết Nguyên đán; đồ uống và thuốc lá tăng 2,33%, do do nhu cầu tiêu dùng và sử dụng làm quà biếu tặng trong dịp Tết khiến giá rượu bia tăng 3,24%; thuốc hút tăng 0,12%; đồ uống không cồn tăng 2,85%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,98% do nhu cầu mua sắm các loại vải, quần áo may sẵn và giầy dép của người dân dịp Tết Nguyên đán tăng; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,29%, chủ yếu là do tiêu dùng nước sinh hoạt tăng 0,1%, điện sinh hoạt tăng 0,52% do nhu cầu trang trí nhà bằng các loại đèn nháy, đèn trang trí, đèn Led của người dân tăng và nhóm gas và các loại chất đốt khác tăng 1,65% do giá gas trong nước tăng do giá gas thế giới biến động mạnh; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,58%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,58% chủ yếu do nhu cầu tiêu dùng các loại bàn ghế và tủ tăng; thuốc và dịch vụ y tế tăng nhẹ 0,04%; giao thông tăng 2,46% là do giá xăng, dầu điều chỉnh tăng theo giá nhiên liệu thế giới tại các kỳ điều hành giá của Tập đoàn xăng dầu Việt Nam (xăng tăng 5,88%, dầu diesel tăng 5,5%); giáo dục tăng nhẹ 0,05%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 1,6% tập trung ở giá nhóm đồ trang sức tăng 0,98%; dịch vụ cắt tóc, gội đầu, chăm sóc cá nhân. Bên cạnh đó, nhu cầu đồ thờ cúng vào dịp cuối năm tăng nên giá các mặt hàng này tăng.Nhóm văn hóa, giải trí và du lịch giảm 1,57%, do nhu cầu mua sắm các loại ti vi giảm 5,41%, dụng cụ thể dục thể thao giảm 2,4%. Ở chiều ngược lại, nhu cầu chơi các loài hoa, cây cảnh trưng bày và biếu người thân, bạn bè của người dân tăng, du lịch tăng 1,39% do Xu hướng du lịch tự túc, nhóm nhỏ và hộ gia đình đi du lịch trong nước của người dân tăng khi bước vào kỳ nghỉ dài.- Chỉ số giá vàng tăng 17,95% so với cùng kỳ năm trước, tăng 4,18% so với tháng 12 năm trước, tăng 1,9% so với tháng trước, do nhu cầu mua sắm vàng trước Tết Nguyên đán và ngày Vía Thần Tài (mùng 10 tháng Giêng hàng năm) của người dân tăng cao. Tính chung trong 02 tháng đầu năm 2024, giá vàng tăng 17,04% so với cùng kỳ.- Chỉ số giá đô la Mỹ tăng 3,51% so với cùng kỳ năm trước, tăng 0,72% so với tháng 12 năm trước, tăng 0,02% so với tháng trước. Tính chung trong 02 tháng đầu năm 2024, tăng 3,81% so với cùng kỳ.4.4. Tình hình xuất, nhập khẩu hàng hóa - Trong tháng, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu ước đạt 17 triệu USD, đạt 9,83% kế hoạch, giảm 5,57% so với cùng kỳ. Trong đó, xuất khẩu ước đạt 10 triệu USD, giảm 5,07%, nhập khẩu ước đạt 7 triệu USD, giảm 6,34%, cụ thể của các nhóm hàng chính như sau:+ Một số mặt hàng xuất khẩu chủ yếu trong tháng tăng so với cùng kỳ như: Chè xuất khẩu ước đạt 603 tấn, tăng 184,74%; bột barit đạt 1.500 tấn tăng 50%; giấy đế xuất khẩu đạt 300 tấn, tăng 98,31%; phong bì đạt 400 nghìn sản phẩm, tăng 175,2%; Antimony thỏi đạt 38 tấn, tăng 26,67%,… Nhóm hàng đũa gỗ xuất khẩu đạt 2.000 nghìn đôi, giảm 20%; hàng dệt, may đạt 950 nghìn sản phẩm, giảm 26,85%.+ Một số mặt hàng nhập khẩu chính được dùng làm nguyên liệu phục vụ sản xuất hàng hàng may mặc tiếp tục tăng, cho thấy những dấu hiệu trong phục hồi trong sản xuất may mặc; nhóm hàng vải may mặc, phụ liệu may mặc, phụ liệu khác đạt 5 triệu USD, tăng 9,76% so với cùng kỳ; nhóm máy móc, thiết bị, phụ tùng, hàng hóa khác đạt 2 triệu USD, giảm 29,58%. - Tính chung trong 02 tháng đầu năm 2024, kim ngạch xuất, nhập khẩu ước đạt 32 triệu USD, đạt 12,41% kế hoạch, giảm 7,64% so với cùng kỳ. Trong đó, xuất khẩu ước đạt 21 triệu USD, giảm 11,41%, nhập khẩu ước đạt trên 11 triệu USD, tăng 0,18%. Một số mặt hàng xuất khẩu tiếp tục tăng so với cùng kỳ như: Chè (tăng 178,96%); phong bì (tăng 229,43%); giấy đế (tăng 91,63%), hàng dệt may (tăng 13,7%),..... Tuy nhiên, cũng có một số mặt hàng giảm so với cùng kỳ như: Antimony thỏi (giảm 45,71%); đũa gỗ (giảm 46,9%),…5. Vận tải hàng hóa và hành khách Dịp Tết Nguyên đán Giáp Thìn 2024, nhu cầu đi lại của người dân trên địa bàn tỉnh tăng cao so với cùng kỳ. Nhằm đảm bảo nhu cầu đi lại của người dân được thuận tiện, an toàn trong dịp Tết, các lực lượng chức năng đã tăng cường công tác kiểm tra, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm trong lĩnh vực vận tải hành khách và hàng hóa, đồng thời chỉ đạo các Bến xe khách, các doanh nghiệp, hợp tác xã và các hộ kinh doanh cá thể vận tải triển khai kế hoạch phục vụ dịp cao điểm Tết, đồng thời trang hoàng, dọn dẹp vệ sinh khu vực sân bến xe, bãi đỗ xe và Nhà chờ xe phục vụ hành khách dịp Tết. Ngoài ra, tình hình an ninh, trật tự tại các bến xe và trên các phương tiện vận tải hành khách được duy trì tốt, các tuyến đường trên địa bàn tỉnh đảm bảo giao thông an toàn, thông suốt, trên địa bàn tỉnh không xảy ra ùn tắc giao thông. 5.1. Doanh thu vận tải tải kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải - Doanh thu vận tải trong tháng ước đạt 363 tỷ đồng, giảm 7,35% so với tháng trước, tăng 33,44% so với cùng kỳ. Trong đó, vận tải hành khách đạt 67 tỷ đồng, tăng 4,45%, tăng 43,48%; vận tải hàng hóa đạt 296 tỷ đồng, giảm 9,65%, tăng 31,37%; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 0,42 tỷ đồng, giảm 6,14%, tăng 32,5; hoạt động bưu chính, chuyển phát đạt 0,27 tỷ đồng, giảm 6,99%, tăng 42,29%,…- Tính chung trong 02 tháng đầu năm 2024, doanh thu vận tải kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 755 tỷ đồng, tăng 31,74% so với cùng kỳ. Trong đó: vận tải hành khách đạt 130 tỷ đồng, tăng 31,65%; vận tải hàng hóa đạt 624 tỷ đồng, tăng 31,75%; dịch vụ hỗ trợ vận tải kho bãi đạt 0,88 tỷ đồng, tăng 32,31%; bưu chính, chuyển phát tăng 44,71%. 5.2. Vận tải hành khách và hàng hóa- Trong tháng khối lượng hành khách vận chuyển ước đạt 1 triệu lượt hành khách, tăng 3,3% so với tháng trước, tăng 45,03% so với cùng kỳ; khối lượng hành khách luân chuyển ước đạt 85 triệu lượt hành khách.km, tăng 4,32%, tăng 43,03%. Tính chung 02 tháng đầu năm 2024, khối lượng hành khách vận chuyển ước đạt 2 triệu lượt hành khách, tăng 36,55% so với cùng kỳ; khối lượng hành khách luân chuyển ước đạt 166 triệu lượt hành khách.km, tăng 32,41%.- Khối lượng hàng hóa vận chuyển trong tháng ước đạt 2 triệu tấn, giảm 9,5% so với tháng trước, tăng 28,04% so với cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 129 triệu tấn.km, giảm 8,28%, tăng 33,43%. Tính chung 02 tháng đầu năm 2024, khối lượng hàng hóa vận chuyển ước đạt 4 triệu tấn, tăng 29,22% so với cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 270 triệu tấn.km, tăng 33,04%.6. Về du lịch Với thời gian nghỉ Tết Nguyên đán Giáp Thìn 2024 kéo dài 7 ngày cùng với thời tiết thuận lợi nên hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh diễn ra sôi động, nhộn nhịp trên hầu khắp các điểm đến du lịch. Tại các địa phương trong tỉnh đã tổ chức các lễ hội mang đậm nét văn hóa truyền thống của đồng bào các dân tộc và các điểm du lịch tâm linh trên địa bàn tỉnh đã thu hút hàng vạn du khách đến tham quan, vãn cảnh ngay trong những ngày đầu Xuân mới. Để đảm bảo các hoạt động du lịch trong dịp Tết Nguyên đán, ngành chức năng đã tăng cường công tác quản lý, kiểm tra, kiểm soát chất lượng dịch vụ du lịch trên địa bàn, tình hình an ninh trật tự tại các điểm du lịch ổn định; công tác niêm yết giá, bán đúng giá niêm yết, bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm được triển khai thực hiện nghiêm. Các đơn vị kinh doanh du lịch thực hiện nghiêm túc các quy định về phòng cháy, chữa cháy, an ninh trật tự, an toàn vệ sinh thực phẩm...Trong tháng các khu, điểm du lịch trên địa bàn tỉnh, thu hút được 356.000 lượt khách du lịch. Tổng thu từ khách du lịch đạt 430 tỷ đồng. Tính chung trong 02 tháng đầu năm 2024, thu hút được 492.500 lượt khách đạt 18% kế hoạch, tăng 6% so với cùng kỳ; tổng thu đạt 595 tỷ đồng; đạt 17% kế hoạch, tăng 8% so với cùng kỳ).II. LĨNH VỰC VĂN HÓA - XÃ HỘI 1. Công tác lao động, việc làm, giáo dục nghề nghiệp- Với mục tiêu giải quyết việc làm cho 22.500 lao động trong năm 2024, ngay từ đầu năm, tỉnh đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm tạo việc làm cho người lao động ngay từ đầu năm mới, ngành chức năng đã tăng cường kết nối thông tin cung cầu của thị trường lao động trong và ngoài nước, nâng cao chất lượng đào tạo nghề, cùng với đó là tăng cường hỗ trợ, giới thiệu, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp, tổ chức đủ điều kiện đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài, chú trọng đưa lao động đi làm việc tại các thị trường có thu nhập cao, ổn định, môi trường làm việc tiên tiến.- Sau Tết công nhân lao động đã quay trở lại làm việc tại các khu, cụm công nghiệp và các nhà máy với tinh thần phấn khởi, vui tươi; nhiều doanh nghiệp có nhu cầu tuyển dụng thêm lao động để đáp ứng nhu cầu sản xuất. Trong tháng tạo toàn tỉnh có 1.126 lao động được tạo việc làm; luỹ kế thực hiện 02 tháng đầu năm 2024 có 1.430 lao động được tạo việc làm, đạt 6,3% kế hoạch, trong đó: Lao động làm việc trong các ngành kinh tế tại tỉnh là 996 người; Lao động đi làm việc các tỉnh, thành phố 344 người; lao động đi làm việc nước ngoài theo hợp đồng 90 người.2. Công tác đảm bảo chế độ người có công với cách mạng, bảo trợ, an sinh xã hội và phòng chống các tệ nạn2.1. Công tác đối với người có công với cách mạng - Duy trì thực hiện đúng, đủ, kịp thời các chế độ, chính sách đối với người có công; đẩy mạnh thực hiện các phong trào, hoạt động "đền ơn, đáp nghĩa", "uống nước nhớ nguồn", nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người có công với cách mạng. - Tỉnh đã triển khai các hoạt động tặng quà của Chủ tịch nước và quà của tỉnh đối với người có công với cách mạng trên địa bàn tỉnh nhân dịp Tết Nguyên đán Giáp Thìn năm 2024, tổng số là 16.479 suất quà với kinh phí trên 6.915,4 triệu đồng. Trong đó: Quà của Chủ tịch nước 7.886 suất, số tiền 2.444,7 triệu đồng; quà của tỉnh 8.530 suất, số tiền 4.396,5 triệu đồng; quà của tỉnh tặng 07 thương binh, bệnh binh đang điều dưỡng tại các trung tâm điều dưỡng thương bệnh binh: 7 triệu đồng; quà tặng người có công tiêu biểu 36 suất, số tiền 43,2 triệu đồng; quà các đồng chí Lãnh đạo Đảng, Nhà nước tặng người có công và gia đình người có công với cách mạng 20 suất quà, số tiền 24 triệu đồng), chỉ đạo các huyện, thành phố triển khai các hoạt động chăm lo, thăm hỏi, tặng quà người có công với cách mạng nhân dịp Tết Nguyên đán.2.2. Công tác bảo trợ, an sinh xã hội và phòng chống các tệ nạn - Tỉnh cũng triển khai hoạt động trợ giúp xã hội nhân dịp Tết Nguyên đán Giáp Thìn năm 2024, bảo đảm mọi nhà, mọi người đều có điều kiện vui xuân, đón Tết. Kết quả toàn tỉnh có 5.003 hộ với 14.648 nhân khẩu được hỗ trợ lương thực với tổng số 219.720 kg gạo (15 kg/khẩu); có 75.028 người, đơn vị được thăm hỏi và nhận quà tặng, hỗ trợ của các tổ chức, cá nhân, với tổng giá trị là 28.284 triệu đồng, trong đó: có 22.537 đối tượng hộ nghèo, cận nghèo nhận quà, trị giá 10.409 triệu đồng; 1.777 đối tượng bảo trợ xã hội nhận quà, trị giá 912 triệu đồng; 50.711 đối tượng là người lao động nhận quà, trị giá 16.923 triệu đồng; có 02 đơn vị quản lý, chăm sóc các đối tượng bảo trợ xã hội nhận quà, trị giá 40 triệu đồng. Duy trì chi trả trợ cấp thường xuyên cho trên 37.000 đối tượng bảo trợ xã hội tại cộng đồng.- Duy trì công tác tiếp nhận, quản lý, điều trị và chuẩn bị các điều kiện tổ chức vui xuân, đón tết cho học viên đang cai nghiện tại Cơ sở cai nghiện ma tuý trong dịp Tết nguyên đán. Trong tháng đã tiếp nhận 07 học viên (Cai nghiện bắt buộc 04 học viên, 03 học viên đang trong thời gian chờ thủ tục vào cai nghiện bắt buộc); cấp giấy chứng nhận hoàn thành cai nghiện cho 17 học viên. Luỹ kế từ đầu năm đến nay Cơ sở cai nghiện ma tuý tỉnh đã tiếp nhận nhận 10 học viên (Cai nghiện bắt buộc 06 học viên, 04 học viên đang trong thời gian chờ thủ tục vào cai nghiện bắt buộc); cấp giấy chứng nhận hoàn thành cai nghiện cho 22 học viên. Tại thời điểm báo cáo, Cơ sở cai nghiện ma túy đang quản lý 149 học viên (có mặt 145 học viên; trốn cai 04 học viên).3. Hoạt động giáo dục và đào tạoSau kỳ nghỉ Tết Nguyên đán Giáp Thìn 2024, ngày 15/02 (tức ngày mùng 6 tháng Giêng) học sinh các cấp trên địa bàn toàn tỉnh đã quay trở lại trường học, tiếp tục chương trình học kỳ II, năm học 2023-2024. Dù thời gian nghỉ Tết kéo dài, nhưng các trường đã chuẩn bị tốt các điều kiện đón học sinh trở lại trường và nhanh chóng ổn định nền nếp dạy, học ngay trong những ngày đầu năm, cùng với đó là tổ chức nhiều hoạt động ý nghĩa, tạo không khí sôi động để chào đón học sinh.Tại kỳ nghỉ Tết năm nay, công tác bảo đảm an ninh trật tự, an toàn tại các trường học trên địa bàn tình tiếp tục được bảo đảm, các trường không xảy ra sự cố. Việc ứng trực, bảo vệ đơn vị, trường học được duy trì tốt, không xảy ra tình trạng mất an toàn và phòng chống cháy nổ.4. Hoạt động y tế - Tỉnh đã tăng cường chỉ đạo công tác phòng, chống dịch Covid-19 và các dịch bệnh truyền nhiễm khác như: Sốt xuất huyết, tay chân miệng,... Chủ động công tác giám sát, theo dõi chặt chẽ tình hình dịch bệnh trên địa bàn; chuẩn bị sẵn sàng ứng phó với các tình huống có thể xảy ra của dịch bệnh. Tiếp tục đẩy mạnh công tác giám sát phát hiện sớm và xử lý kịp thời các ca bệnh, ổ dịch, không để dịch bùng phát trở lại và hạn chế tối đa xảy ra nguy cơ dịch chồng dịch- Tăng cường công tác tuyên truyền, truyền thông phòng bệnh để nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi của người dân trong việc bảo vệ sức khoẻ của bản thân, gia đình và cộng đồng. Thường xuyên cập nhật thông tin về tình hình dịch 2 bệnh và khuyến cáo người dân thực hiện các yêu cầu phòng chống dịch theo quy định; tuyên truyền khuyến khích người dân thực hiện đeo khẩu trang phòng chống dịch tại những nơi đông người và khi đi lại, di chuyển trên các phương tiện công cộng; chuẩn bị đầy đủ hóa chất, trang thiết bị, phương tiện và nhân lực đảm bảo đáp ứng các yêu cầu về phòng, chống dịch bệnh trên địa bàn; các cơ sở y tế tổ chức thực hiện ứng trực 24/24 giờ; bảo đảm đủ cơ số thuốc, máu, dịch truyền, vật tư, hóa chất, thiết bị y tế, ô xy y tế; chuẩn bị phương án cấp cứu trong các sự kiện tập trung đông người; bố trí cơ số giường bệnh, phương tiện, sẵn sàng đáp ứng, phục vụ công tác điều trị, cấp cứu, nhất là cấp cứu tai nạn giao thông, cháy nổ, thương tích, ngộ độc thực phẩm và điều trị người bệnh mắc các bệnh truyền nhiễm trong dịp Tết.5. Hoạt động văn hoá - thể dục, thể thao- Lĩnh vực văn hoá: Xây dựng dự thảo Kế hoạch tổ chức Hội nghị truyền thông về chương trình Khai mạc năm du lịch tỉnh Tuyên Quang và Lễ hội khinh khí cầu quốc tế - Tuyên Quang lần thứ III, năm 2024 tại thành phố Đà Nẵng; Kế hoạch tổ chức Lễ phát động Ngày chạy Olympic vì sức khỏe toàn dân và giải Việt dã Tiền Phong năm 2024. Tiếp tục đẩy mạnh phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” gắn với chương trình xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh được triển khai sâu rộng.- Về thể dục thể thao: Tổ chức các hoạt động thể thao mừng Đảng, mừng Xuân. Duy trì hoạt động 6 lớp đội tuyển năng khiếu với 30 vận động viên; 07 lớp đội tuyển trẻ với 68 vận động viên; 03 lớp đội tuyển tỉnh với 20 vận động viên.6. Một số hoạt động khác- Trong tháng, Hội đồng Nghĩa vụ quân sự các huyện, thành phố trên địa bàn tỉnh đã tổ chức đón 900 quân nhân hoàn thành nghĩa vụ quân sự về địa phương. Trong đó, huyện Lâm Bình 61 quân nhân, Na Hang 67 quân nhân, Chiêm Hóa 170 quân nhân, Hàm Yên 118 quân nhân, Yên Sơn 210 quân nhân, Sơn Dương 205 quân nhân, thành phố Tuyên Quang 69 quân nhân. Sau thời gian tại ngũ ở các đơn vị thuộc Quân khu 2, Bộ Quốc phòng, các quân nhân đã hoàn thành tốt nhiệm vụ học tập, rèn luyện, chấp hành nghiêm ý thức kỷ luật trong môi trường Quân đội, góp sức xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.- Năm 2024, toàn tỉnh có 1.863 công dân có sức khỏe đạt loại 1, 2, 3 đủ điều kiện nhập ngũ. Đây là những thanh niên được tuyển chọn từ 7.600 công dân trong độ tuổi sẵn sàng nhập ngũ của tỉnh. Theo chỉ tiêu được giao, tỉnh Tuyên Quang sẽ bàn giao 1.150 công dân tham gia nghĩa vụ quân sự, 225 công dân tham gia nghĩa vụ công an. Dự kiến ngày giao nhận quân là 25-2-2024. Các địa phương đang tích cực đẩy mạnh công tác tuyên truyền Luật Nghĩa vụ Quân sự, Luật Công an nhân dân để nâng cao nhận thức của người dân, thanh niên trong độ tuổi nhập ngũ. Đồng thời, chỉ đạo xử lý nghiêm minh, kiên quyết các trường hợp cố tình trốn tránh, gây cản trở không thực hiện nghĩa vụ quân sự, công an.7. Tình hình an toàn giao thông, thiên tai và phòng chống cháy, nổĐể đảm bảo trật tự an toàn giao thông trước, trong và sau Tết Nguyên đán Giáp Thìn 2024, lực lượng Cảnh sát giao thông đã tổ chức trực 100% quân số, tổ chức trực ban, tuần tra khép kín 24/24h “xuyên đêm, xuyên tết”. Cùng với đó là tăng cường tuần tra, kiểm soát trên các tuyến đường trọng điểm, phức tạp để tập trung xử lý các vi phạm là nguyên nhân chính dẫn đến tai nạn giao thông. Đồng thời, siết chặt kiểm tra, xử lý vi phạm nồng độ cồn với phương châm “không có ngoại lệ, không có vùng cấm” nhằm nâng cao ý thức chấp hành luật của người tham gia giao thông.Trong 7 ngày nghỉ Tết Nguyên đán, toàn tỉnh xảy ra 6 vụ tai nạn giao thông, làm chết 3 người, bị thương 44 người, xử lý 460 trường hợp vi phạm, tạm giữ 152 giấy phép lái xe, 16 xe ô tô, 291 xe mô tô, 1 phương tiện khác. Các hành vi vi phạm chủ yếu đó là vi phạm nồng độ cồn 257 trường hợp, vi phạm tốc độ 62 trường hợp, 150 trường hợp không có giấy phép lái xe, 58 trường hợp vi phạm về đội mũ bảo hiểm… Số tiền thu được từ xử phạt vi phạm hành chính là trên 1,3 tỷ đồng. Toàn tỉnh không xảy ra tình trạng đua xe trái phép.7.1. Về an toàn giao thông trong thángTrên địa bàn tỉnh đã xảy ra 15 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 6 người và làm bị thương 12 người. So với tháng trước tăng 87,5% về số vụ tai nạn; tăng 20% số người chết; số người bị thương tăng 200%. So với tháng cùng kỳ số vụ tai nạn giao thông tăng 36,36%; số người chết giữ nguyên; số người bị thương tăng 33,33%.Tính chung 02 tháng đầu năm 2024, toàn tỉnh đã xảy ra 23 vụ tai nạn giao thông; làm chết 11 người và làm bị thương 16 người. So với cùng kỳ năm trước: Số vụ tai nạn giao thông giảm 20,69%; số người chết giữ nguyên; số người bị thương giảm 30,43%.7.2. Về thiên tai, cháy, nổTrong tháng trên địa bàn tỉnh không ghi nhận các đợt thiên tai, cháy nổ nào xảy ra.CỤC THỐNG KÊ TỈNH TUYÊN QUANG
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 01 năm 2024 tỉnh Tuyên Quang
- 07/11/2025 21:59
I. PHÁT TRIỂN KINH TẾ 1. Về sản xuất nông nghiệp (tính đến ngày 15/01/2024)1.1. Trồng trọt 1.1.1. Sản xuất vụ đôngHiện nay, tranh thủ thời tiết thuận lợi, bà con nông dân tại các huyện, thành phố đang tập trung phương tiện và nhân lực khẩn trương xuống đồng thu hoạch nhanh gọn diện tích cây màu vụ đông. Đồng thời, triển khai các điều kiện cần thiết để chuẩn bị cho sản xuất vụ xuân năm 2024 trong khung lịch thời vụ tốt nhất, những diện tích đã được thu hoạch xong đã được triển khai làm bờ, cày ải, nạo vét kênh mương thủy lợi đảm bảo đủ nước tưới tiêu phục vụ sản xuất. Kết quả: Cây ngô đã thu hoạch được 3.534 ha, đạt 64,9% so với diện tích đã trồng, tăng 7,73% so với cùng kỳ; cây ngô làm thức ăn gia súc 2.422 ha, đạt 72,8%, tăng 15,52%; cây khoai lang, rau, đậu các loại 3.572 ha, đạt 75,29%, tăng 4,13%.1.1.2. Sản xuất vụ xuân Theo kế hoạch vụ xuân năm 2024 toàn tỉnh gieo cấy 18.087 ha lúa các loại. Đáp ứng đầy đủ nhu cầu về giống phục vụ cho bà con nông dân để gieo cấy. - Làm đất: Đến ngày 15/01/2024 các địa phương trong tỉnh đã làm đất được 9.934 ha. - Gieo mạ: Toàn tỉnh gieo được 407.055 kg giống lúa các loại trong đó: Mạ Lúa lai gieo được 169.283 kg, mạ lúa thuần gieo được 237.772 kg.Xác định vụ xuân năm 2024 là một trong những vụ sản xuất chính và và giữ vai trò quan trọng đối với việc thực hiện kế hoạch sản xuất nông nghiệp cả năm; để đạt kết quả cao trong sản xuất chính quyền các cấp, và ngành chức năng đã chủ động xây dựng khung lịch thời vụ, cơ cấu giống chi tiết và phù hợp với điệu kiện cụ thể của các địa phương, cùng với đó là hướng dẫn cụ thể cơ cấu giống lúa, thời vụ gieo cấy theo từng vùng; phấn đấu giành kết quả cao cả về 3 mặt năng suất, sản lượng và giá trị theo kế hoạch đã đề ra. Theo kế hoạch bắt đầu từ ngày 23/1/2024 hồ thủy điện Tuyên Quang sẽ xả nước phục vụ sản xuất vụ xuân 2024. Theo đó, thực hiện xả 02 đợt tổng cộng 12 ngày. Đợt 1, bắt đầu từ 0h00’ ngày 23/1/2024 đến hết ngày 30/1/2024; đợt 2, bắt đầu từ 0h00’ ngày 18/2/2024 đến hết ngày 21/02/2024. Tỉnh đã chỉ đạo ngành chức năng và các địa phương quản lý chặt chẽ và khai thác hợp lý các nguồn nước; tập trung duy tu bảo dưỡng các công trình, trạm bơm, nạo vét hệ thống mương máng, bám sát lịch xả nước theo thông báo; tập trung tích nước vào hồ chứa, sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả; có kế hoạch chôn nước, giữ nước bằng mọi hình thức ở các công trình thủy lợi và trong các ao, hồ nhỏ, kể cả mỏ nước... Đồng thời, hướng dẫn nông dân chủ động lấy nước đổ ải, trữ nước vào ruộng và tận dụng nguồn nước mưa cuối vụ, tích trữ thêm nước vào các ruộng, đảm bảo có đủ lượng nước gieo cấy trong khung thời vụ tốt nhất. Với những diện tích khả năng nguồn nước không đảm bảo tưới suốt vụ, cần chủ động chuyển đổi sang loại cây trồng khác sử dụng ít nước hơn để đảm bảo hiệu quả sản xuất.1.1.3 Cây lâu năm- Diện tích cây chuối hiện có trên địa bàn tỉnh 2.238 ha tăng 0,2% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng ước đạt 1.613 tấn, tăng 3,1%, sản lượng chủ yếu được tiêu thụ tại các thị trường như Hà Nội, Vĩnh Phúc và nhiều địa phương khác trong cả nước - Cây chè hiện có 8.319 ha, sản lượng thu hoạch ước đạt 2.733 tấn, tăng 1,82% so với cùng kỳ.1.2. Tình hình sinh vật gây hại Trong tháng, thời tiết mưa phùn và sương mù, độ ẩm cao, tạo điều kiện thuận lợi để sâu bệnh phát triển gây hại đến cây trồng. Trong đó một số diện tích lúa – mạ xuân bị chuột, nấm mốc, thối nhũn, bệnh trắng lá gây hại rải rác. Diện tích ngô bị sâu đục bắp, đốm lá, khô vằn, châu chấu, chuột gây hại rải rác. Trên cây chè, cây cam bị nhiễm rầy xanh nhẹ, bọ trĩ, bọ xít, nhện đỏ, nhện trắng gây hại ở mức trung bình. Ngành chức năng đã tập trung chỉ đạo, hướng dẫn bà con nông dân thực hiện việc gieo cấy đúng thời vụ, chăm sóc cây trồng; thường xuyên kiểm tra đồng ruộng, phát hiện sâu bệnh hại cây trồng, kịp thời hướng dẫn cách phòng trừ, giảm thiệt hại do sâu bênh gây ra.1.3. Về chăn nuôi 1.3.1. Về số lượng đàn gia súc, gia cầmĐàn trâu 88.746 con, giảm 3,24% (giảm 2.975 con) so với cùng kỳ năm 2023; đàn bò 40.487 con, tăng 9,03% (tăng 3.354 con); đàn lợn 583.367 con, tăng 7,67% (tăng 41.553 con); đàn gia cầm 7.332,39 nghìn con, tăng 5,71% (tăng 395.95 nghìn con).1.3.2. Về sản phẩm đàn gia súc, gia cầmĐàn trâu sản lượng thịt hơi xuất chuồng đạt 605 tấn, tăng 5,7% (tăng 32,62 tấn) so với cùng kỳ; đàn bò đạt 150 tấn, tăng 6,26% (tăng 8,87 tấn); đàn lợn đạt 5.629 tấn, tăng 2,27% (tăng 124,78 tấn); đàn gia cầm đạt 1.662 tấn, tăng 6,78% (tăng 105,52 tấn). Đánh giá chung, tình hình chăn nuôi trong tháng trên địa bàn tỉnh cơ bản ổn định, đàn gia súc, gia cầm tiếp tục phát triển khá, đảm bảo nguồn cung cho thị trường trong dịp cuối năm và dịp Tết Nguyên đán Giáp Thìn 2024; giá lợn hơi có có xu hướng ổn định và tăng nhẹ do nhu cầu tiêu thụ tăng, tại các chợ gần khu công nghiệp sức tiêu thụ cũng cao hơn trước do lượng công nhân, người lao động tiếp tục duy trì được việc làm ổn định. Tuy nhiên, tình hình thời tiết cuối năm xuất hiện các đợt rét đậm, rét hại, mưa phùn và độ ẩm cao xảy ra, ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển của vật nuôi, vì vậy, ngành chức năng đã tập trung chỉ đạo các địa phương chú trọng thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch bệnh, chủ động nguồn thức ăn trong những ngày giá rét; cùng với đó là khuyến khích người chăn nuôi tận dụng sản phẩm và phụ phẩm nông nghiệp sẵn có để giảm chi phí, cũng như không sử dụng thức ăn kém chất lượng, và các chất cấm sử dụng trong chăn nuôi, bảo đảm chất lượng sản phẩm chăn nuôi khi xuất bán. 1.4. Về công tác phòng chống dịch bệnh gia súc, gia cầm trong tháng 1.4.1. Công tác phòng chống và điều trị- Bệnh Dịch tả lợn Châu Phi: Trong tháng, bệnh không phát sinh tại các, thành phố trên địa bàn tỉnh. - Các huyện, thành phố rải rác xuất hiện các bệnh tụ huyết trùng, viêm phổi, tiêu chảy (đàn trâu, bò); bệnh tiêu chảy, sưng phù đấu, đóng dấu (trên đàn lợn), đã được phát hiện và điều trị khỏi: 565/595 con, trong đó: Trâu, bò: 91/91 con; đàn lợn: 470/500 con, chết 30 con.1.4.2. Công tác kiểm dịch vận chuyển động vật, sản phẩm động vật - Kiểm dịch vận chuyển ngoại tỉnh: Tiếp tục thực hiện chặt chẽ đúng quy định công tác kiểm dịch; kiểm soát giết mổ, kiểm tra vệ sinh thú y...), đã kiểm tra, cấp trên 238 giấy chứng nhận kiểm dịch vận chuyển (55 chuyến vận chuyển 18.011 con gia súc, gia cầm và 183 chuyến vận chuyển 3.437.500 kg sữa tươi nguyên liệu) đi các tỉnh Bắc Ninh, Hà Nội, Hà Nam, Hà Giang, Nam Định...- Công tác kiểm soát giết mổ và kiểm tra vệ sinh thú y: Các huyện, thành phố duy trì công tác kiểm soát giết mổ trên địa bàn, đã kiểm tra, đóng dấu: 123 con trâu, bò; 5.044 con lợn.1.5. Về sản xuất lâm nghiệp 1.5.1. Công tác trồng rừngĐể hoàn thành kế hoạch trồng rừng năm 2024, ngay từ cuối năm 2023, tỉnh đã chỉ đạo các cơ quan chuyên môn đẩy mạnh tuyên truyền người dân về hiệu quả lâu dài của trồng rừng sản xuất, khuyến khích các hộ chủ động trồng rừng, đồng thời tăng cường kiểm tra việc sản xuất, kinh doanh cây giống tại vườn ươm, đảm bảo cung ứng đủ số lượng, chất lượng phục vụ trồng rừng, hướng dẫn, đôn đốc người dân xử lý thực bì, chuẩn bị cây giống, vật tư lâm nghiệp để triển khai trồng rừng trong khung thời vụ.1.5.2. Khai thác gỗ rừng trồng Trong tháng toàn tỉnh khai thác được 433 ha gỗ rừng trồng, sản lượng ước đạt 51.332 m3 gỗ, tăng 20,31% (tăng 8.666 m3) so với cùng kỳ năm 2023. 1.5.3. Công tác quản lý bảo vệ rừngTrong tháng, trên địa bàn tỉnh không có vụ cháy rừng nào xảy ra. Số vụ chặt phá rừng là 02 vụ, diện tích chặt phá 0,131 ha, phát hiện và xử lý tịch thu 01 phương tiện và 5,62 m3 gỗ các loại; phạt hành chính và bán thanh lý tài sản 76,3 triệu đồng (đã thu nộp ngân sách 65,3 triệu đồng).1.6. Phát động Tết trồng cây “Đời đời nhớ ơn Bác Hồ” Xuân Giáp Thìn và thực hiện kế hoạch trồng rừng năm 2024Tỉnh đã ban hành văn bản chỉ đạo các sở, ban, ngành, các địa phương trên địa bàn tỉnh tổ chức lễ phát động "Tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác Hồ" Xuân Giáp Thìn năm 2024; việc tổ chức cần thiết thực, đảm bảo hiệu quả, tiết kiệm và kêu gọi mọi tầng lớp nhân dân hưởng ứng tích cực tham gia trồng cây, trồng rừng, để góp phần thúc đẩy phong trào trồng cây, trồng rừng và bảo vệ rừng năm 2024 đạt kết quả cao.2. Sản xuất công nghiệp2.1. Chỉ số phát triển công nghiệp Chỉ số sản xuất công nghiệp trong tháng tăng 7,55% so với cùng kỳ, giảm 12,16% so với tháng trước, cụ thể như sau: Ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí tăng 20,04%, tăng 76,09%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 6,21%, giảm 16,66%; khai khoáng tăng 3,54%, giảm 37,58%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải giảm 6,38%, tăng 1,08%.2.2. Sản phẩm công nghiệp chủ yếu Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng so với cùng kỳ năm trước như: Điện thương phẩm đạt 99 triệu Kwh, tăng 17,98%; điện sản xuất đạt 137 triệu Kwh, tăng 28,72%; đường kính đạt 4.500 tấn, tăng 76,19%; bột Felspat nghiền đạt 10.800 tấn, tăng 22,21%; xi măng đạt 125.000 tấn, tăng 62,23%; giấy đế xuất khẩu đạt 1.050 tấn, tăng 104,46%; bột giấy đạt 7.668 tấn, tăng 107,13%; hàng may mặc xuất khẩu đạt 1.894 nghìn sản phẩm, tăng 27,01%,... Tuy nhiên, cũng có một số sản phẩm công nghiệp giảm so với cùng kỳ như: Bột barit đạt 1.500 tấn, giảm 62,22%; giấy in viết, photo thành phẩm đạt 8.131 tấn, giảm 16,84%,...Đánh giá chung, với quyết tâm hoàn thành và vượt kế hoạch sản xuất năm 2024, các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh đã tập trung đẩy mạnh hoạt động sản xuất đảm bảo hoàn thành các đơn hàng đã được ký kết, chủ động xây dựng kế hoạch sản xuất và kinh doanh chi tiết theo từng tháng để không gián đoạn trong dịp nghỉ Tết Nguyên đán. Các doanh nghiệp đã chủ động tìm kiếm đơn hàng, mở rộng thị trường, cùng với đó là tập trung sản xuất đa dạng hóa các mặt hàng, giữ vững chất lượng và thương hiệu, nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường, tạo việc làm ổn định và thu nhập cho người lao động.3. Vốn đầu tư, xây dựng3.1. Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước thực hiện tháng 1 năm 2024 đạt 198 tỷ đồng, đạt 4,18% kế hoạch, tăng 9,82% so với tháng cùng kỳ. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 177 tỷ đồng, tăng 8,62%; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện đạt 17 tỷ đồng, tăng 24,34%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã đạt 3 tỷ đồng, tăng 7,71%.3.2. Hoạt động xây dựngTrong tháng, tỉnh tiếp tục tập trung đẩy nhanh tiến độ thực hiện các công trình trọng điểm ngay từ những ngày đầu năm mới. Đối với những công trình chuyển tiếp của các năm trước thì đẩy nhanh tiến độ thi công, đặc biệt là các dự án trọng điểm, dự án lớn của tỉnh và dự án hạ tầng giao thông, đảm bảo tiến độ thi công hoàn thành theo kế hoạch đề ra, sớm đưa vào sử dụng, khai thác đạt hiệu quả cao nhất. Tập trung tháo gỡ vướng mắc liên quan đến khai thác, cung ứng vật liệu xây dựng, hỗ trợ các chủ đầu tư, nhà thầu đẩy nhanh tiến độ thi công; bên cạnh đó, các chủ đầu tư, Ban Quản lý dự án, nhà thầu thi công, nhà thầu tư vấn đã khắc phục mọi khó khăn, vướng mắc, nỗ lực đẩy nhanh tiến độ thi công phát huy hơn nữa tinh thần “vượt nắng, thắng mưa”, thi công “3 ca 4 kíp”, làm việc xuyên lễ, xuyên Tết để đẩy nhanh tiến độ thi công, nâng cao chất lượng các công trình, dự án, phấn đấu hoàn thành vượt tiến độ đề ra. Tỉnh đã tổ chức Lễ khánh thành Công trình cầu qua sông Lô Km 71 đường Tuyên Quang – Hà Giang (Cầu Bạch Xa), huyện Hàm Yên, cầu được khởi công xây dựng từ ngày 15/11/2021, sau 26 tháng thi công đến nay đã chính thức hoàn thành, đi vào khai thác sử dụng, vượt tiến độ 4 tháng đây là công trình giao thông nhóm B, cầu cấp II, đường dẫn cầu cấp III có tổng chiều dài tuyến là 1.594,2 m.4. Thương mại và Dịch vụCòn chưa đầy một tháng nữa là đến Tết Nguyên đán Giáp Thìn 2024, không khí thị trường hàng hóa những ngày này đang vô cùng sôi động. Hiện các doanh nghiệp, đơn vị sản xuất, kinh doanh phân phối hàng hóa trên địa bàn tỉnh đã chuẩn bị đầy đủ lượng hàng hóa để phục vụ tết với nhiều mẫu mã phong phú và đa dạng, đáp ứng tốt nhu cầu của người tiêu dùng. Các siêu thị, trung tâm thương mại, cửa hàng kinh doanh tổng hợp đã triển khai nhiều chương trình ưu đãi, khuyến mãi, tri ân khách hàng với nhiều quà tặng hấp dẫn thu hút đông đảo người dân đến tham quan, mua sắm.Bên cạnh đó, ngành chức năng đã tập trung theo dõi sát diễn biến cung cầu, giá cả thị trường nhất là các mặt hàng thuộc diện bình ổn giá, các hàng hóa, dịch vụ thiết yếu có nhu cầu tăng cao vào dịp cuối năm; tăng cường kiểm tra, kiểm soát thị trường, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật về thương mại, hàng giả, hàng kém chất lượng, hàng không rõ nguồn gốc xuất xứ, hàng vi phạm sở hữu trí tuệ,… nhất là các mặt hàng trọng điểm dịp tết như thuốc lá, thuốc lá điện tử, pháo nổ, pháo hoa các loại,…Đặc biệt, xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân lợi dụng nhu cầu tiêu dùng tăng cao vào dịp tết để tăng giá bất hợp lý, gây bất ổn thị trường.Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 01/2024 ước đạt 2.726 tỷ đồng, tăng 0,95% so với tháng trước, tăng 34,74% so với tháng cùng kỳ.4.1. Doanh thu bán lẻ hàng hóa Doanh thu bán lẻ hàng hóa trong tháng 01 ước đạt 2.413 tỷ đồng, tăng 1% so với tháng trước, tăng 34,77% so với tháng cùng kỳ. Trong đó, một số nhóm hàng tăng so với tháng trước, tăng so với cùng kỳ, cụ thể như sau: Lương thực, thực phẩm đạt 901 tỷ đồng, tăng 0,09%, tăng 58,28%; may mặc đạt 152 tỷ đồng, tăng 1,38%, tăng 74,52%; đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình tăng 3,65%, tăng 9,25%; ô tô con (dưới 9 chỗ ngồi) đạt 56 tỷ đồng, tăng 2,64%, tăng 57,85%; phương tiện đi lại, trừ ô tô con (kể cả phụ tùng) đạt 101 tỷ đồng, tăng 6,84%, tăng 12,98%,… Tuy nhiên, cũng có một số nhóm hàng giảm so với tháng trước và cùng kỳ như: Vật phẩm, văn hoá, giáo dục giảm 8,68%, giảm 29,72%; đá quý, kim loại quý và sản phẩm giảm 0,22%, giảm 31,92%,...4.2. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ khác- Trong tháng, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 192 tỷ đồng, tăng 0,12% so với tháng trước, tăng 22,83% so với cùng kỳ. Trong đó: Doanh thu dịch vụ lưu trú đạt 15 tỷ đồng, tăng 1,27%, tăng 31,14%; dịch vụ ăn uống đạt 178 tỷ đồng, tăng 0,02%, tăng 22,2%.- Doanh thu du lịch lữ hành trong tháng ước đạt 0,35 tỷ đồng, giảm 32,2% so với tháng trước, tăng 138,46% so với cùng kỳ. - Doanh thu nhóm dịch vụ khác trong tháng ước đạt 121 tỷ đồng, tăng 1,36% so với tháng trước, tăng 58,05% so với cùng kỳ. Trong đó: Dịch vụ kinh doanh bất động sản 5 tỷ đồng, tăng 1,6%, tăng 74,64%; hành chính và dịch vụ hỗ trợ 20 tỷ đồng, tăng 0,86%, tăng 35,58%; y tế và hoạt động trợ giúp xã hội 4 tỷ đồng, tăng 0,27%, tăng 36,5%; dịch vụ khác 38 tỷ đồng, tăng 5,47%, tăng 51,06%,…. Nhóm giáo dục và đào tạo 3 tỷ đồng, giảm 1,4%, giảm 4,48%,….4.3. Giá cả- Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trong tháng 01/2024 tăng 3,22% so với cùng kỳ năm trước, tăng 0,49% so với tháng 12 năm trước. Trong số 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính thì có 6 nhóm tăng giá so với tháng trước, 4 nhóm giảm giá, 01 nhóm giữ giá ổn định (nhóm bưu chính viễn thông). Trong 6 nhóm hàng tăng so với tháng trước, bao gồm những nhóm hàng sau: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,49%. Trong đó, nhóm lương thực tăng 6,78% do giá nhóm gạo tăng 9,53% (gạo tẻ thường tăng 10,08%; gạo tẻ ngon tăng 7,85% và gạo nếp tăng 5,05%). Giá gạo trong nước tăng cao theo giá gạo xuất khẩu do nhu cầu nhập khẩu gạo của các nước tiếp tục tăng, trong khi nguồn cung vẫn hạn chế và ảnh hưởng của tình hình thiên tai, dịch bệnh, biến đổi khí hậu, hạn hán đã khiến nhu cầu tích trữ tăng cao; đồ uống và thuốc lá tăng 1,86%, do giá các loại rượu, bia và nước giải khát tăng nhẹ do nhu cầu mua sắm phục vụ cho dịp Tết của người dân tăng; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,17%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,08% do thời tiết rét đậm, rét hại và độ ẩm không khí cao dẫn đến xuất hiện các bệnh liên quan đến đường hô hấp, cảm cúm, dị ứng,… có chiều hướng gia tăng khiến nhu cầu sử dụng thuốc và dịch vụ y tế tăng; giáo dục tăng 0,1% do nhu cầu tiêu dùng các loại văn phòng phẩm và đồ dùng học tập khác của học sinh tăng; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 1,18% do nhu cầu tiêu dùng các loại đồ dùng cá nhân của người dân tăng.Có 4 nhóm hàng giảm so với tháng trước là: Nhóm may mặc, mũ nón, giày dép giảm 0,32% do nhu cầu mua sắm các loại vải, quần áo may sẵn, mũ nón của người dân giảm; nhà ở và vật liệu xây dựng giảm 0,03% do nhu cầu tiêu thụ nước sinh hoạt của người dân giảm và giá tiền thuê nhà giảm nhẹ; giao thông giảm 0,2%; văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,97%.- Chỉ số giá vàng tăng 16,12% so với cùng kỳ năm trước, tăng 2,24% so với tháng trước. - Chỉ số giá đô la Mỹ tăng 4,11% so với cùng kỳ năm trước, tăng 0,7% so với tháng trước. 4.4. Tình hình xuất, nhập khẩu hàng hóa Trong tháng, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu ước đạt 25 triệu USD, đạt 9,5% kế hoạch, tăng 43,05% so với cùng kỳ. Trong đó, xuất khẩu ước đạt 14 triệu USD, tăng 11,3%, nhập khẩu ước đạt 11 triệu USD, tăng 35,29%, cụ thể của các nhóm hàng chính như sau:- Giá trị xuất khẩu trong tháng ước đạt 14 triệu USD. Trong đó, một số mặt hàng xuất khẩu chủ yếu tăng so với cùng kỳ như: Chè xuất khẩu ước đạt 460 tấn, tăng 19,47%; bột barit 1.500 tấn tăng 50%; giấy đế xuất khẩu đạt 331 tấn, tăng 59,55%; hàng dệt, may đạt 981 nghìn sản phẩm, tăng 21%; phong bì đạt 386 nghìn sản phẩm, tăng 71,8%,… Nhóm hàng đũa gỗ xuất khẩu đạt 2.150 tấn, giảm 60,91%,…- Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa trong tháng ước đạt 11 triệu USD, tăng 35,29% so với cùng kỳ. Một trong những tín hiệu vui trong tháng là kim ngạch nhập khẩu các mặt hàng nguyên liệu phục vụ sản xuất hàng xuất khẩu tiếp tục tăng, cho thấy những dấu hiệu trong phục hồi trong sản xuất công nghiệp. Trong đó, kim ngạch nhập khẩu vải may mặc, phụ liệu may mặc, phụ liệu khác đạt 4 triệu USD, tăng 60,24% so với cùng kỳ,...5. Vận tải hàng hóa và hành khách Dịp cuối năm, đặc biệt là những dịp trước, trong và sau Tết hàng năm, nhu cầu đi lại của người dân bằng các phương tiện vận tải tăng cao, đặc biệt là ô tô. Nhằm đảm bảo nhu cầu đi lại của người dân được thuận tiện, an toàn trong dịp Tết, các lực lượng chức năng tăng cường công tác kiểm tra, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm trong lĩnh vực vận tải hành khách và hàng hóa, đồng thời chỉ đạo các Bến xe khách, các doanh nghiệp, hợp tác xã và các hộ kinh doanh cá thể vận tải trên địa bàn tỉnh chuẩn bị đầy đủ phương tiện, bảo đảm phục vụ nhu cầu đi lại của nhân dân trong dịp này được thuận lợi, an toàn... tăng cường công tác kiểm tra, giám sát về việc kê khai, niêm yết giá và việc bán vé đúng giá niêm yết đối với các đơn vị kinh doanh vận tải. Triển khai các biện pháp kiểm soát chặt chẽ việc vận chuyển hàng hóa, đặc biệt là hàng hóa ký gửi; không sử dụng rượu, bia và các chất kích thích khác khi lái xe. 5.1. Doanh thu vận tải tải kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải Doanh thu vận tải trong tháng ước đạt 391 tỷ đồng, tăng 0,91% so với tháng trước, tăng 29,98% so với tháng cùng kỳ. Trong đó, doanh thu vận tải hành khách ước đạt 64 tỷ đồng, tăng 0,38%, tăng 20,97%; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 327 tỷ đồng, tăng 1%, tăng 31,88%; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 0,44 tỷ đồng, tăng 5,65%, tăng 27,67%,…5.2. Vận tải hành khách và hàng hóa- Khối lượng hành khách vận chuyển ước đạt 1 triệu lượt hành khách, tăng 0,62% so với tháng trước, tăng 28,89% so với tháng cùng kỳ; khối lượng hành khách luân chuyển ước đạt 81 triệu lượt hành khách.km, tăng 0,81%, tăng 22,26%. - Khối lượng hàng hóa vận chuyển ước đạt 2 triệu tấn, tăng 1,52% so với tháng trước, tăng 25,6% so với tháng cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 140 triệu tấn.km, tăng 1,44%, tăng 32,2%. 6. Về du lịch Để đảm bảo các hoạt động du lịch trong dịp Tết Nguyên đán Giáp Thìn 2024, ngành chức năng đã tăng cường công tác quản lý, kiểm tra, kiểm soát chất lượng dịch vụ du lịch trên địa bàn, đặc biệt là các dịch vụ lưu trú du lịch, vận chuyển khách du lịch, hoạt động lữ hành, tại các khu, điểm du lịch và các cơ sở vui chơi giải trí trên địa bàn tỉnh; kịp thời phát hiện, ngăn chặn và kiên quyết xử lý các hành vi chèo kéo, gây phiền hà cho du khách; không để người lang thang, ăn xin gây phiền hà cho khách du lịch tại các khu, điểm du lịch; có biện pháp hỗ trợ phù hợp đối với trường hợp có hoàn cảnh khó khăn.Trong tháng các khu, điểm du lịch trên địa bàn tỉnh, thu hút được 148.800 lượt khách du lịch, tăng 9% so với cùng kỳ, đạt 5% kế hoạch. Tổng thu từ khách du lịch đạt 186 tỷ đồng; tăng 12,7% so với cùng kỳ, đat 5,2% kế hoạch.II. LĨNH VỰC VĂN HÓA - XÃ HỘI 1. Công tác lao động, việc làm, giáo dục nghề nghiệp- Trong tháng tạo việc làm cho 304 lao động, đạt 1,34% kế hoạch, trong đó: Lao động làm việc trong các ngành kinh tế tại tỉnh 248 người; lao động đi làm việc tại các tỉnh, thành phố trong nước 51 người, lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng 05 người.- Tỉnh đã chỉ đạo các cơ quan, đơn vị, địa phương nắm bắt tình hình tuyển dụng, sử dụng, biến động lao động trong các doanh nghiệp trên địa bàn quản lý; kịp thời hướng dẫn, hỗ trợ, đôn đốc các doanh nghiệp, người sử dụng lao động trên địa bàn thực hiện đúng các chế độ chính sách đối với người lao động theo quy định của pháp luật lao động; các doanh nghiệp cũng chủ động, tuyên truyền, vận động để người lao động cùng chung tay chia sẻ khó khăn với doanh nghiệp để phát triển sản xuất, kinh doanh, phục hồi thị trường lao động.2. Công tác đảm bảo chế độ chính sách và an sinh xã hội, phòng chống các tệ nạn và tình hình lương thưởng Tết của người lao động tại các doanh nghiệp2.1. Công tác đối với người có công với cách mạng - Duy trì thực hiện đúng, đủ, kịp thời các chế độ, chính sách đối với người có công; đẩy mạnh thực hiện các phong trào, hoạt động "đền ơn, đáp nghĩa", "uống nước nhớ nguồn", nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người có công với cách mạng. - Tỉnh đã phê duyệt kinh phí tặng quà đối với người có công với cách mạng, gia đình người có công với cách mạng trên địa bàn trên địa bàn tỉnh nhân dịp Tết Nguyên đán Giáp Thìn năm 2024, tổng số quà tặng: 18.344 suất quà, số tiền gần 7,6 tỷ đồng. Trong đó: Quà của Chủ tịch nước: 8.011 suất, số tiền gần 2,5 tỷ đồng; Quà của tỉnh: 8.673 suất, số tiền gần 4,5 tỷ đồng; quà của cấp huyện, cấp xã: 552 suất, số tiền trên 0,2 tỷ đồng; quà do các tổ chức, cá nhân tặng: 1.108 suất, kinh phí 0,4 tỷ đồng; đôn đốc các huyện, thành phố triển khai các hoạt động chăm lo, thăm hỏi, tặng quà người có công với cách mạng nhân dịp Tết Nguyên đán.2.2. Công tác bảo trợ xã hội và phòng chống các tệ nạn xã hội- Tỉnh cũng chỉ đạo các huyện, thành phố triển khai trợ giúp xã hội nhân dịp Tết Nguyên đán Giáp Thìn năm 2024, xây dựng phương án cứu trợ lương thực cho đối tượng dịp Tết nguyên đán Giáp Thìn năm 2024, tổng số hộ đề nghị cứu trợ gạo là 5.003 hộ, 14.648 khẩu, 219.720 kg gạo. Mức hỗ trợ 15 kg gạo/khẩu/tháng. Duy trì chi trả trợ cấp thường xuyên cho trên 38.000 đối tượng bảo trợ xã hội tại cộng đồng.- Duy trì công tác tiếp nhận, quản lý, điều trị và chuẩn bị các điều kiện tổ chức vui xuân, đón tết cho học viên đang cai nghiện tại Cơ sở trong dịp Tết nguyên đán. Trong tháng Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh đã tiếp nhận 06 học viên (cai nghiện bắt buộc: 05 học viên, 01 học viên cai nghiện tự nguyện), cấp Giấy chứng nhận cho 07 học viên hoàn thành cai nghiện trở về cộng đồng; tiếp tục duy trì quản lý 161 học viên cai nghiện ma túy (trong đó số có mặt cai nghiện tại Cơ sở 155 học viên, trốn cai 5 học viên, 01 học viên đi chữa bệnh tại bệnh viện đa khoa tỉnh). 2.3. Về tình hình lương thưởng Tết của người lao động tại các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh+ Tổng số doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh thời điểm ngày 15/12/2023: 2.393 doanh nghiệp; Tổng số lao động tại các doanh nghiệp: 46.470 người. + Tiền lương bình quân của người lao động tại các doanh nghiệp có báo cáo trên địa bàn tỉnh là 6.213.000 đồng/người/tháng.+ Kế hoạch thưởng Tết Dương lịch năm 2024: Mức thưởng bình quân người lao động tại doanh nghiệp báo cáo có kế hoạch thưởng: 1.152.000 đồng/người. + Kế hoạch thưởng Tết Nguyên đán 2024: Mức thưởng bình quân người lao động tại doanh nghiệp báo cáo có kế hoạch thưởng: 3.359.000 đồng/người.+ Tình hình nợ lương: Có 02 doanh nghiệp nợ lương và số người lao động bị nợ lương là 225 người với số tiền lương là 4.921 triệu đồng.Mặc dù hoạt động sản xuất, kinh doanh còn nhiều khó khăn và dự báo trong thời gian tới vẫn còn phục hồi chậm. Tuy nhiên, các doanh nghiệp cũng đã cố gắng duy trì thưởng Tết ở mức phù hợp tùy theo kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh, nhằm động viên, chăm lo cho người lao động, đồng thời thực hiện đầy đủ các chế độ, chính sách, góp phần nâng cao đời sống người lao động.3. Hoạt động giáo dục và đào tạoTrong tháng, tỉnh đã tổ chức Lễ khai mạc Kỳ thi chọn học sinh giỏi quốc gia năm học 2023-2024 với sự tham gia của 88 thí sinh xuất sắc dự thi ở 9 môn. Đây là kỳ thi quan trọng được Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức hàng năm nhằm động viên, khuyến khích người dạy và người học phát huy năng lực sáng tạo, dạy giỏi, học giỏi; góp phần thúc đẩy mạnh việc cải tiến, nâng cao chất lượng dạy và học trên địa bàn tỉnh.Các đơn vị, trường học đã tổ chức ký cam kết với học sinh, cha mẹ học sinh về thực hiện nghiêm Luật Giao thông đường bộ; Luật phòng, chống tác hại của rượu, bia; quy định về quản lý, sử dụng pháo; tổ chức phát động “Tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác Hồ” góp phần xây dựng trường học xanh, sạch đẹp, thân thiện, tích cực.Trước tình hình thời tiết rét đậm, rét hại kéo dài và nhiệt độ giảm sâu chỉ ở mức khoảng 9-10°C, Sở Giáo dục và Đào tạo đã ban hành văn bản chỉ đạo về việc đảm bảo sức khỏe và phòng chống rét cho học sinh, trong đó học sinh mầm non, tiểu học được nghỉ học khi nhiệt độ từ 10 °C trở xuống; các trường căn cứ diễn biến thời tiết, chủ động cho học sinh nghỉ học để đảm bảo an toàn, nhất là đối với các trường nội trú ở khu vực miền núi; bên cạnh đó, các trường cũng chủ động các biện pháp phòng, chống rét như: dự trữ quần áo, mũ, tất; đóng kín các phòng học, phòng ở, đảm bảo dinh dưỡng, thuốc dự phòng cho học sinh, đủ nước ấm cho học sinh dùng trong sinh hoạt,... cùng với đó là tuyên truyền đến phụ huynh học sinh chủ động thực hiện các biện pháp phòng, chống rét cho con em tại gia đình.4. Hoạt động y tế - Tỉnh đã tăng cường chỉ đạo công tác phòng, chống dịch, bệnh dịp Tết Nguyên Đán năm 2024; chủ động theo dõi, giám sát, phát hiện sớm, xử lý kịp thời triệt để các ổ dịch bệnh truyền nhiễm, không để lây lan, bùng phát lan rộng ra cộng đồng; xây dựng phương án sẵn sàng ứng phó với các tình huống của dịch bệnh theo phương châm 4 tại chỗ; chuẩn bị đầy đủ hóa chất, trang thiết bị, phương tiện và nhân lực đảm bảo đáp ứng các yêu cầu về phòng, chống dịch bệnh trên địa bàn; các cơ sở y tế tổ chức thực hiện ứng trực 24/24 giờ; bảo đảm đủ cơ số thuốc, máu, dịch truyền, vật tư, hóa chất, thiết bị y tế, ô xy y tế; chuẩn bị phương án cấp cứu trong các sự kiện tập trung đông người; bố trí cơ số giường bệnh, phương tiện, sẵn sàng đáp ứng, phục vụ công tác điều trị, cấp cứu, nhất là cấp cứu tai nạn giao thông, cháy nổ, thương tích, ngộ độc thực phẩm và điều trị người bệnh mắc các bệnh truyền nhiễm trong dịp Tết.- Để đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm (ATTP) dịp trước, trong và sau Tết Nguyên đán Quý Mão, các ngành chức năng và các địa phương trong tỉnh đã tăng cường kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ các cơ sở sản xuất, chế biến, kinh doanh thực phẩm; theo đó, tập trung vào các nhóm sản phẩm tiêu thụ nhiều trong dịp Tết, các cơ sở chế biến thực phẩm. Đồng thời, chú trọng kiểm soát những đầu mối sản xuất, nhập khẩu, chợ đầu mối, trung tâm thương mại, siêu thị, cơ sở giết mổ, vận chuyển thực phẩm... tập trung kiểm tra việc thực hiện các quy định về đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm; kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm theo quy định.5. Hoạt động văn hoá - thể dục, thể thao- Lĩnh vực văn hoá: Tỉnh đã tổ chức Chương trình "Tuyên Quang chào năm 2024", cũng trong khuôn khổ chương trình đã công bố 10 sự kiện và kết quả nổi bật của tỉnh năm 2023; vinh danh 10 công dân tiêu biểu tỉnh Tuyên Quang năm 2023 và chương trình nghệ thuật đặc sắc với chủ đề “Khát vọng thịnh vượng”. Tổ chức các hoạt động tuyên truyền kỷ niệm 94 năm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03/02/1930 - 03/02/2024), mừng xuân Giáp Thìn năm 2024 tại Trung tâm Hội nghị tỉnh, các tuyến phố, thành phố Tuyên Quang. Đẩy mạnh tuyên truyền, vận động nhân dân và các cơ quan, đơn vị ra quân vệ sinh môi trường, chỉnh trang đô thị nhân dịp đón Tết Dương lịch và Tết Nguyên đán Giáp Thìn năm 2024. Tiếp tục đẩy mạnh phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” gắn với chương trình xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh được triển khai sâu rộng.- Về thể dục thể thao: Xây dựng kế hoạch tổ chức các hoạt động thể thao mừng Đảng, mừng Xuân. Duy trì hoạt động 6 lớp đội tuyển năng khiếu với 30 vận động viên; 07 lớp đội tuyển trẻ với 68 vận động viên; 03 lớp đội tuyển tỉnh với 20 vận động viên.6. Tình hình an toàn giao thông, thiên tai và phòng chống cháy, nổĐể đảm bảo trật tự an toàn giao thông trước, trong và sau Tết Nguyên đán, lực lượng Cảnh sát giao đã tăng cường tuần tra, kiểm soát, xử lý vi phạm trên các tuyến đường, đặc biệt là các tuyến giao thông có lưu lượng phương tiện qua lại đông, có nguy cơ tiềm ẩn xảy ra tai nạn giao thông. Trong đó tập trung xử lý các trường hợp có hành vi vi phạm là nguyên nhân chính dẫn đến tai nạn giao thông như vi phạm nồng độ cồn, chất ma túy; chạy quá tốc độ quy định; tránh, vượt sai quy định; vi phạm phần đường, làn đường; triển khai các biện pháp phòng chống đua xe trái phép; kiểm tra an toàn giao thông đường thủy tại các bến khách ngang sông, các điểm du lịch, lễ hội.6.1. Về an toàn giao thông trong thángTrên địa bàn tỉnh đã xảy ra 8 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 5 người và làm bị thương 4 người. So với tháng trước giảm 46,67% về số vụ tai nạn, giảm 37,5% số người chết và giảm 42,86% số người bị thương. So với tháng cùng kỳ số vụ tai nạn giao thông giảm 55,56%; số người chết giữ nguyên; số người bị thương giảm 71,43%.6.2. Về cháy, nổTrong tháng trên địa bàn tỉnh xảy ra 01 vụ cháy tại cây xăng ở xã Bình Xa, huyện Hàm Yên, thiệt hại về tài sản ước tính 1.250 triệu đồng, vụ cháy không gây thiệt hại về người và tài sản của nhân dân. Hiện, nguyên nhân vụ cháy đang được cơ quan chức năng điều tra, làm rõ.6.3. Thiệt hại do thiên taiTrong tháng trên địa bàn tỉnh không ghi nhận các đợt thiên tai nào xảy ra. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của các đợt không khí lạnh tăng cường, trên địa bàn tỉnh xuất hiện các đợt mưa rào kèm dông, kết hợp với độ ẩm trong không khí tăng cao khiến nền nhiệt giảm mạnh, dẫn đến các đợt rét đậm, rét hại kéo dài đã ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống sinh hoạt của người dân và gây hại cho cây trồng, vật nuôi.CỤC THỐNG KÊ TỈNH TUYÊN QUANG
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 10 năm 2023 tỉnh Tuyên Quang
- 10/11/2025 22:16
I. PHÁT TRIỂN KINH TẾ 1. Về sản xuất nông nghiệp (tính đến ngày 15/10/2023)1.1. Trồng trọt 1.1.1. Sản xuất vụ mùa năm 2023Hiện nay, nhiều diện tích cây trồng đã đến thời kỳ cho thu hoạch, năng suất ước đạt khá so với cùng kỳ, bà con nông dân tại các địa phương đang tranh thủ thời tiết tạnh, ráo, huy động nhân lực, phương tiện máy móc, khẩn trương ra đồng thu hoạch. Đồng thời, tiến hành giải phóng đất, phục vụ sản xuất vụ đông 2023 - 2024 trong khung thời vụ tốt nhất, diện tích thu hoạch một số cây trồng chính cụ thể như sau:Cây lúa đã thu hoạch 22.055 ha, đạt 90,6% so với diện tích cấy, tăng 6,44% so với cùng kỳ; cây ngô 3.770 ha, đạt 73,6%, tăng 18,79%; cây đậu tương 167 ha, đạt 100%, giảm 30,48%; cây lạc 942 ha, đạt 90%, tăng 41,24%.Đánh giá chung, Vụ mùa là vụ sản xuất lúa quan trọng trong năm. Vì vậy, ngay từ đầu vụ, ngành chức năng và chính quyền các cấp đã tập trung chỉ đạo sản xuất, đảm bảo theo kế hoạch đã đề ra. Tuy nhiên, sản xuất vụ mùa thường gặp điều kiện thời tiết, khí hậu diễn biến khó lường, tình hình sâu bệnh phức tạp; tuy nhiên, bà con nông dân đã tích cực vượt mọi khó khăn, sản xuất đúng tiến độ, quyết tâm vụ mùa đạt nhiều kết quả tốt. Để bảo vệ năng suất lúa mùa, trong điều kiện thời tiết có nhiều diễn biến phức tạp, tỉnh đã chỉ đạo ngành có liên quan, các địa phương tăng cường tuyên truyền, đôn đốc bà con nông dân huy động nhân lực, các loại phương tiện máy móc tập trung ra đồng thu hoạch nhanh, gọn diện tích lúa vụ mùa đã chín từ 85% trở lên, với phương châm “Xanh nhà hơn già đồng” lúa chín đến đâu, thu hoạch đến đó, thu hoạch nhanh, gọn, không để bị thiệt hại do thời tiết, tạo điều kiện triển khai vụ đông năm 2023 - 2024 có hiệu quả, nhằm bảo đảm năng suất, sản lượng các loại cây trồng. 1.1.2. Về sản xuất vụ đông 2023 - 2024 Cùng với việc đẩy nhanh tiến độ thu hoạch lúa mùa, tỉnh đã chỉ đạo ngành chức năng và các địa phương tập trung tổ chức thực hiện phương án sản xuất vụ đông năm 2023-2024. Các địa phương căn cứ vào các điều kiện cụ thể, chủ động xây dựng khung lịch thời vụ và phương án sản xuất vụ đông phù hợp với tình hình thực tế; khuyến khích nông dân duy trì, mở rộng diện tích gieo trồng hàng năm, đưa các loại cây trồng có giá trị kinh tế cao, được thị trường ưa chuộng vào sản xuất, như: Khoai tây, ngô ngọt, ớt, cà chua, rau đậu các loại,…góp phần nâng cao năng suất và sản lượng lương thực của địa phương, phấn đấu đạt sản xuất vụ đông đạt thắng lợi.Tiến độ đến ngày 15/10/2023 các địa phương trong tỉnh bà con nông dân đã gieo trồng được một số cây trồng vụ đông trên đất ruộng 2 vụ, kết quả như sau: Cây ngô lấy hạt đã trồng 5.446 ha, đạt 119,8% kế hoạch, tăng 3,58% so với cùng kỳ; cây ngô làm thức ăn gia súc 2.195 ha, đạt 68,2%, tăng 16,78%,...1.1.2. Cây lâu năm- Diện tích cây chuối hiện có trên địa bàn tỉnh 2.226 ha, tăng 0,6% so với cùng kỳ năm trước, sản lượng ước đạt trên 17.465 tấn, tăng 2,58%; sản lượng chuối chủ yếu được tiêu thụ tại các thị trường như Hà Nội, Vĩnh Phúc và các địa phương khác trong cả nước.- Cây chè hiện có 8.289 ha, sản lượng thu hoạch ước đạt 62.513 tấn, tăng 0,03% so với cùng kỳ.1.2. Tình hình sinh vật gây hại - Từ đầu tháng 10 đến nay, trên địa bàn tỉnh xuất hiện các đợt không khí lạnh, đêm và sáng có sương mù nhẹ, tạo điều kiện thuận lợi để sâu bệnh phát triển gây hại nhất là ở cây ngô đông, một số diện tích bị sâu xám, sâu xanh, sâu khoang, sâu keo, gây hại,... bên cạnh đó, cây chè cũng bị nhiễm rầy xanh nhẹ, bọ trĩ, bọ xít, nhện đỏ; cây cam có nhện đỏ, nhện trắng gây hại trung bình, nhện rám vàng; cây lâm nghiệp bệnh phấn trắng, bệnh lở cổ rễ, sâu ăn lá,... - Tình hình sinh vật hại trên cây lâu năm: Cây chè (ra búp) xuất hiện rầy xanh, nhện đỏ, bọ trĩ, bọ xít muỗi tiếp tục gây hại, bệnh đốm nâu, thối búp phát sinh gây hại, tỷ lệ hại phổ biến 3-5%, nơi cao 8-15% số búp tại các huyện Yên Sơn, Sơn Dương, Hàm Yên và thành phố Tuyên Quang; cây có múi (quả non) nhóm nhện nhỏ (nhện đỏ, nhện trắng, nhện rám vàng) gây hại tăng, tỷ lệ hại phổ biến 3-4%, nơi cao 15-20% số lá, quả; cây nhãn, vải (quả chín-lộc bánh tẻ) bệnh thán thư, nhện lông nhung, bệnh chổi rồng gây hại rải rác; cây lâm nghiệp (vườn ươm 1-5 tuổi) bệnh sâu nâu ăn lá gây hại rải rác, bệnh chết héo tiếp tục gây hại rải rác, tỷ lệ hại nơi cao 3-5% số cây.Trước tình hình sinh vật gây bệnh, gây hại trên các loại cây trồng trên, ngành chức năng đã chỉ đạo các địa phương có kế hoạch phòng trừ kịp thời, không để bệnh hại lây lan, đồng thời hướng dẫn bà con nông dân thực hiện việc gieo trồng, chăm sóc đúng khung thời vụ; thường xuyên kiểm tra đồng ruộng, phát hiện sâu bệnh hại cây trồng, kịp thời hướng dẫn cách phòng trừ, giảm thiệt hại do sâu bệnh gây ra.1.3. Về chăn nuôi 1.3.1. Về số lượng đàn gia súc, gia cầmĐàn trâu 88.899 con, giảm 1,61% (giảm 1.457 con) so với cùng kỳ năm 2022; đàn bò 39.004 con, tăng 1,52% (tăng 584 con); đàn lợn 564.364 con, tăng 1,45% (tăng 8.066 con); đàn gia cầm 7.067 nghìn con, tăng 3,48% (tăng 237 nghìn con).1.3.2. Về sản phẩm đàn gia súc, gia cầmĐàn trâu sản lượng thịt hơi xuất chuồng ước đạt 570 tấn, tăng 6,6% (tăng 35,26 tấn) so với cùng kỳ năm 2022; đàn bò đạt 86 tấn, tăng 6,5% (tăng 5,26 tấn); đàn lợn đạt 5.160 tấn, tăng 6,35% (tăng 216,77 tấn); đàn gia cầm 1.634 tấn, tăng 4,58% (tăng 71,62 tấn).Đánh giá chung, tình hình chăn nuôi trong tháng trên địa bàn tỉnh cơ bản ổn định, thời tiết tương đối thuận lợi, đàn gia súc, gia cầm tiếp tục phát triển khá, đảm bảo nguồn cung cho thị trường, một tín hiệu vui đối với người chăn nuôi là giá lợn hơi trên thị trường hiện có xu hướng giữ ổn định, trong khi đó giá thức ăn chăn nuôi, lợn giống đã giảm hơn so với những tháng đầu năm, sau khi trừ chi phí, người chăn nuôi bắt đầu có lãi, đây là động lực quan trọng để các cơ sở chăn nuôi đẩy mạnh tái đàn, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và chuẩn bị cho nguồn cung các dịp lễ, Tết sắp tới. Tuy nhiên, do tình hình thời tiết bất lợi, đang trong giai đoạn chuyển mùa, nhiệt độ chênh lệch giữa ngày và đêm lớn tạo điều kiện thuận lợi cho các loại mầm bệnh phát triển, dẫn đến nguy cơ bùng phát dịch bệnh trên vật nuôi tăng cao. Để chủ động kiểm soát dịch bệnh, bảo đảm nguồn cung những tháng cuối năm, người chăn nuôi cần tuân thủ nghiêm ngặt các biện pháp chăn nuôi; tăng cường cập nhật thông tin về tình hình thị trường, các sản phẩm chăn nuôi để chủ động trong việc tăng, giảm số lượng, bảo đảm chăn nuôi đạt hiệu quả cao; chủ động theo dõi diễn biến của thời tiết để chăm sóc, phát hiện sớm những biểu hiện bất thường trên đàn vật nuôi, góp phần bảo đảm ổn định nguồn cung thực phẩm cho thị trường.1.4. Công tác phòng chống dịch bệnh gia súc, gia cầm, kiểm dịch vận chuyển và kiểm soát giết mổ1.4.1. Công tác phòng chống và điều trị bệnh - Bệnh Dịch tả lợn Châu Phi: Bệnh xảy ra tại 01 thôn với 01 hộ trên địa bàn xã Phúc Yên, huyện Lâm Bình. Số lợn tiêu huỷ là 04 con, trọng lượng trên 135 kg.- Tại các huyện, thành phố đã xuất hiện rải rác một số bệnh như: Tụ huyết trùng, viêm phổi, ký sinh trùng đường máu, tiêu chảy trên đàn trâu, bò đã điều trị khỏi 65/65 con; đàn lợn xuất hiện các bệnh Tụ, dấu, tiêu chảy, viêm phổi, phù đầu đã điều trị khỏi 807 con, chết 24 con.1.4.2. Công tác tiêm phòng: Các huyện, thành phố trong tỉnh tiếp tục thực hiện công tác tiêm phòng bổ sung cho đàn gia súc, gia cầm, kết quả tiêm phòng như sau: Đàn trâu LMLM: 8.238 con, THT: 19.859 con; đàn bò LMLM: 10.155 con, THT: 15.038 con; đàn lợn LMLM: 5.549 con, THT: 119.464, Dịch tả: 133.346 con.1.4.3. Công tác kiểm dịch vận chuyển và công tác kiểm soát giết mổ- Kiểm dịch vận chuyển ngoại tỉnh: Đã kiểm tra và cấp trên 191 giấy chứng nhận kiểm dịch vận chuyển, trong đó: 33 chuyến vận chuyển 9.818 con gia súc và 158 chuyến vận chuyển 2.929.000 kg sữa tươi nguyên liệu) đi các tỉnh Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hà Nội, Hà Nam, Hà Giang, Nam Định...- Công tác kiểm soát giết mổ và kiểm tra vệ sinh thú y: Trung tâm Dịch vụ nông nghiệp các huyện, thành phố duy trì công tác kiểm soát giết mổ trên địa bàn, đã kiểm tra, đóng dấu cho trên 105 con trâu, bò; 4.624 con lợn.1.5. Về sản xuất lâm nghiệp 1.5.1. Công tác trồng rừngTrong tháng, toàn tỉnh đã trồng được 11,73 ha, giảm 86,14% so cùng kỳ năm 2022. Nguyên nhân chủ yếu diện tích khai thác giảm là thời điểm này không xuất hiện các đợt mưa, thời tiết khô hanh, dẫn đến đất khô, cằn, tỷ lệ cây sồng thấp, nên các hộ gia đình để đất thở và trồng vào vụ xuân 2024.1.5.2. Khai thác gỗ rừng trồngTrong tháng, toàn tỉnh khai thác được 80.523,21 m3 gỗ¬, tăng 6,82% so với cùng kỳ năm 2022. Sản lượng khai thác chủ yếu là gỗ rừng trồng nguyên liệu (Do diện tích rừng chủ yếu đã đến tuổi khai thác, các chủ rừng đẩy nhanh tiến độ khai thác, đảm bảo cung ứng sản lượng gỗ phục vụ nhu cầu thị trường). 1.5.3. Công tác quản lý bảo vệ rừngHiện nay, tình trạng thời tiết khô hanh, nhiều diện tích rừng trên địa bàn tỉnh có nguy cơ cháy rất cao, đặc biệt là ở một số huyện trọng điểm về cháy rừng. Để chủ động phòng cháy, chữa cháy rừng, ngành chức năng và các địa phương cùng các chủ rừng đã triển khai nhiều biện pháp quyết liệt trong công tác quản lý, bảo vệ rừng, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng; huy động lực lượng truy quét các điểm nóng xâm hại tài nguyên rừng trên địa bàn tỉnh; tăng cường tuần tra kiểm tra công tác phòng cháy chữa cháy rừng; hạn chế đến mức thấp nhất tình trạng phá rừng, khai thác rừng trái pháp luật có thể xảy ra.Trong tháng, trên địa bàn toàn tỉnh đã xảy ra 1 vụ cháy rừng, diện tích rừng bị cháy là 4,14 ha; số vụ chặt phá rừng là 04 vụ, diện tích rừng bị chặt phá 0,37 ha, đã xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng; kiểm tra, phát hiện và xử lý tịch thu 4 phương tiện và 19,71 m3 gỗ các loại; phạt hành chính và bán thanh lý tài sản 174,4 triệu đồng (đã thu nộp ngân sách 74,75 triệu đồng).2. Sản xuất công nghiệp 2.1. Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP)Chỉ số sản xuất công nghiệp trong tháng tăng 7,5% so với tháng trước, giảm 2,36% so với cùng kỳ, cụ thể như sau: Ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 1,81%, tăng 6,27%; khai khoáng tăng 8,14%, giảm 2,9%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 8,22%, giảm 2,56%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí tăng 3,53%, giảm 1,55%.Một số ngành công nghiệp cấp II có chỉ số sản xuất tăng so với tháng trước, tăng so với cùng kỳ, cụ thể như sau: Sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 40,71%, tăng 8,53%; giấy và sản phẩm từ giấy tăng 18,49%, tăng 3,22%; sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 8,48%, tăng 2,84%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 38,17%, tăng 86,85%,… Tuy nhiên, cũng có chỉ số sản xuất giảm so với tháng trước và so với cùng kỳ như: Sản xuất trang phục giảm 21,85%, giảm 26,05%; sản phẩm từ cao su và plastic giảm 1,93%, giảm 32,01%,,...- Tính chung trong 10 tháng, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 2,77% so với cùng kỳ năm trước, chia theo từng ngành kinh tế cấp I như sau:+ Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,71%, nguyên nhân do một số ngành chế biến tăng như: Sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 49,13%; giường, tủ, bàn, ghế tăng 36,01%; chế biến thực phẩm tăng 19,26%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa tăng 26,21%; sản phẩm từ cao su và plastic tăng 24,72%; da và các sản phẩm có liên quan tăng 18,41%; giấy và sản phẩm từ giấy tăng 7,26%; sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 8,25%,...+ Ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 6,18%, nguyên nhân: Do nhu cầu sử dụng nước sinh hoạt và sản xuất kinh doanh của hộ gia đình và doanh nghiệp ngày càng tăng.+ Ngành khai khoáng giảm 4,5%, do sản lượng khai thác khoáng hóa chất và khoáng phân bón giảm so với cùng kỳ, nguyên nhân chủ yếu là do giá bán các sản phẩm phân bón giảm, sản lượng tiêu thụ khó, lượng hàng tồn kho còn nhiều, nên các nhà máy sản xuất phân bón, hóa chất trên địa bàn tỉnh duy trì sản xuất ở mức trung bình.+ Ngành sản xuất và phân phối điện giảm 28,96%, do thời tiết khô hạn kéo dài, lưu lượng nước về hồ thuỷ điện rất thấp, dẫn đến các nhà máy thủy điện bị thiếu nước để vận hành đạt công suất thiết kế dẫn đến tổng lượng điện sản xuất giảm 33,58% so cùng kỳ. 2.2. Sản phẩm công nghiệp chủ yếu Trong tháng, một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng so với cùng kỳ năm trước như: Điện thương phẩm đạt 110 triệu Kwh, tăng 11,96%; xi măng đạt 125.000 tấn, tăng 11,51%; giầy da đạt 830 nghìn đôi, tăng 13,7%; gỗ tinh chế đạt 5.228 m3, tăng 30,2%; thép cây, thép cuộn đạt 23.400 tấn, tăng 312,02%,.... Tuy nhiên, cũng có một số sản phẩm công nghiệp giảm so với tháng cùng kỳ như: Điện sản xuất đạt 160 triệu Kwh, giảm 3,44%; Bột Felspat nghiền đạt 17.500 tấn, giảm 39,56%; giấy đế xuất khẩu đạt 650 tấn, giảm 50,43%; bột giấy đạt 70.957 tấn, giảm 4,23%; nước máy thương phẩm đạt 660 nghìn m3, giảm 3,86%; hàng may mặc xuất khẩu đạt 1.406 nghìn sản phẩm, giảm 7,75%,… Tính chung trong 10 tháng, một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu của tỉnh tăng khá so với cùng kỳ năm trước: Điện thương phẩm tăng 4,48%; bột ba rít tăng 101,4%; giấy đế xuất khẩu tăng 7,3%; nước máy thương phẩm tăng 1,46%; giấy in viết, photo thành phẩm tăng 11,39%; giầy da tăng 12,35%; gỗ tinh chế tăng 11,21%; thép cây, thép cuộn đạt tăng 36,48%,… Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu giảm so với cùng kỳ năm trước như: Điện sản xuất giảm 37,49%; chè chế biến giảm 3,22%; bột felspat nghiền giảm 10,09%; xi măng giảm 24,53%; bột giấy giảm 12,7%; hàng may mặc xuất khẩu giảm 28,34%,... Đánh giá chung, tình hình sản xuất công nghiệp của tỉnh tiếp tục có xu hướng phục hồi và duy trì với kết quả tích cực; các ngành chức năng đã chủ động nắm chắc tình hình, kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc, bảo đảm cho các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh; duy trì công suất hoạt động của các nhà máy sản xuất công nghiệp có quy mô lớn của tỉnh như: Nhà máy bột giấy và giấy An Hòa, Nhà máy sản xuất gang thép, Nhà máy chế biến gỗ xuất khẩu Woodsland,… triển khai đôn đốc, đẩy nhanh tiến độ triển khai thực hiện các dự án công nghiệp, sớm hoàn thành, đưa vào hoạt động sản xuất. Tuy nhiên, một số nhóm hàng chủ lực của tỉnh còn găp nhiều khó khăn như: May mặc, gỗ, da giày, bột giấy,… do thiếu vốn, sụt giảm đơn hàng, giá bán sản phẩm rẻ, cạnh tranh gắt gao… trong khi đó giá nguyên, nhiên liệu, chi phí logistics, lãi vay mặc dù đang giảm dần nhưng còn ở mức cao là những khó khăn, thách thức đến tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.3. Kết quả thu ngân sách nhà nước trong tháng 3.1. Kết quả thu ngân sách- Tổng thu nội địa trong tháng ước thực hiện là 332 tỷ đồng, lũy kế đạt 1.973 tỷ đồng, đạt 62,4% dự toán, giảm 4,5% so với cùng kỳ.- Số thu nội địa trừ tiền sử dụng đất và xổ số ước thực hiện là 281 tỷ đồng, lũy kế đạt 1.605 tỷ đồng, đạt 64,1% dự toán, giảm 2,7% so với cùng kỳ.3.2. Các nguyên nhân ảnh hưởng đến kết quả thu Nguyên nhân ảnh hưởng đến kết quả thu chủ yếu do thực hiện các chính sách giảm thuế, gia hạn thời hạn nộp thuế, tiến độ đấu giá quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất thuê chưa thực hiện được so với kế hoạch và một số dự án chậm tiến độ. 3.2.1. Tăng thuNgành thuế đã tích cực thanh tra, kiểm tra đôn đốc thực hiện các quyết định xử lý sau thanh tra, kiểm toán nhà nước, kiên quyết thu hồi các khoản nợ thuế và các khoản thu từ hoạt động chuyển nhượng bất động sản. Ước tính các khoản thu trên đạt 79,5 tỷ đồng.3.2.2. Giảm thu- Thu tiền sử dụng đất ước thực hiện là 345,9 tỷ đồng, đạt 54,6% dự toán thấp hơn so với cùng kỳ (giảm 53,1 tỷ đồng, giảm 13,3%), do tại một số địa bàn huyện, thành phố chậm triển khai công tác đấu giá quyền sử dụng đất. - Thu từ khu vực doanh nghiệp giảm so với cùng kỳ năm 2022 như: Công ty Thủy điện Tuyên Quang - Chi nhánh Tập đoàn Điện lực Việt Nam kê khai nộp thuế trong 10 tháng đầu năm 2023 ước sản lượng giảm 480,1 triệu kwh so với cùng kỳ, tương ứng số nộp NSNN giảm 33,5 tỷ đồng; công ty TNHH Một thành viên cơ khí hóa chất 13 nộp thuế giảm 12,6 tỷ đồng; nhà máy thủy điện Chiêm Hóa (Công ty CP năng lượng Thành An T&T) nộp thuế giảm 7,5 tỷ đồng; Viettel Tuyên Quang - Chi nhánh tập đoàn công nghiệp - Viễn thông quân đội giảm thuế GTGT là 4 tỷ đồng,… 4. Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý 4.1. Tình hình thực hiện Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước- Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước thực hiện tháng 10 đạt 499 tỷ đồng, tăng 4,71% so với tháng trước, tăng 16,32% so với cùng kỳ, trong đó: Vốn ngân sách cấp tỉnh đạt 412 tỷ đồng, tăng 1,25%, tăng 17,13%; vốn ngân sách cấp huyện đạt 83 tỷ đồng, tăng 25,45%, tăng 11,13%; vốn ngân sách cấp xã đạt 4 tỷ đồng, tăng 17,22%, tăng 53,78%.- Tính chung, trong 10 tháng nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 3.255 tỷ đồng, đạt 61,63% kế hoạch, tăng 27,63% so với cùng kỳ. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 2.828 tỷ đồng, đạt 61,44%, tăng 27,88%; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện đạt 400 tỷ đồng, đạt 63,31%, tăng 26,91%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã đạt 27 tỷ đồng, đạt 58,29%, tăng 13,69%.4.2. Về giải ngân vốn đầu tư côngTỉnh đã tổ chức khởi công Dự án xây dựng cao tốc Tuyên Quang – Hà Giang (giai đoạn 1), đoạn qua tỉnh Tuyên Quang, với tổng chiều dài toàn tuyến là 77 km; dự án được chia thành 2 giai đoạn, giai đoạn 1 được triển khai với 2 làn xe cơ giới, giai đoạn 2 dự kiến 4 làn xe cơ giới. Tổng mức đầu tư 6.800 tỷ đồng, trong đó: 4.497,17 tỷ đồng vốn ngân sách Trung ương; 2.302,83 tỷ đồng vốn ngân sách địa phương. Việc đầu tư xây dựng tuyến cao tốc sẽ góp phần hoàn thiện kết cấu hạ tầng giao thông của tỉnh theo hướng đồng bộ, hiện đại, , tạo động lực cho phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, kết nối liên hoàn, thông suốt giữa các tỉnh trong khu vực và hình thành liên kết vùng, tạo sức bật trong thu hút đầu tư. Năm 2023, Tuyên Quang được giao tổng kế hoạch vốn đầu tư công là 6.954,57 tỷ đồng, trong đó vốn năm 2022 kéo dài sang năm 2023 là 1.302,89 tỷ đồng; vốn được phân bổ, giao theo kế hoạch năm 2023 là 5.651,68 tỷ đồng. Tính đến ngày 19/10/2023, tổng số vốn vốn đầu tư công đã giải ngân được là trên 2.515,31 tỷ đồng, đạt 36,17% kế hoạch, trong đó: Nguồn vốn kế hoạch năm 2023 giải ngân được 1.999,44 tỷ đồng, đạt 35,38%; nguồn vốn năm 2022 kéo dài thời gian thực hiện và giải ngân sang năm 2023 giải ngân được 515,87 tỷ đồng, đạt 39,59%.5. Hoạt động thương mại, dịch vụ, giá cả và tình hình xuất, nhập khẩu hàng hóa trong thángThị trường các mặt hàng thiết yếu trong tháng 10 và 10 tháng diễn ra khá sôi động và tương đối ổn định, nguồn cung các hàng hóa được bảo đảm, đáp ứng đủ nhu cầu tiêu thụ hàng hóa vào dịp lễ, tết cuối năm của người dân. Sức mua trên thị trường đã có sự phục hồi tốt so với cùng kỳ năm trước; các mặt hàng thiết yếu như: Lương thực, thực phẩm, xăng dầu, phân bón, thức ăn chăn nuôi,… luôn được bảo đảm, đáp ứng tốt nhu cầu phục vụ sản xuất của doanh nghiệp và đời sống của người dân. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 10 ước đạt 2.819 tỷ đồng, tăng 0,39% so với tháng trước, tăng 14,23% so với cùng kỳ. Tính chung trong 10 tháng, tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước ước đạt 24.134 tỷ đồng, tăng 30,74% so với cùng kỳ.5.1. Doanh thu bán lẻ hàng hóa Doanh thu bán lẻ hàng hóa trong tháng 10 ước đạt 2.499 tỷ đồng, tăng 1,38% so với tháng trước, tăng 13,71% so với cùng kỳ. Trong đó, một số nhóm hàng hóa một số nhóm hàng tăng so với tháng trước, tăng so với cùng kỳ, cụ thể như sau: Lương thực, thực phẩm tăng 1,82%, tăng 33,08%; may mặc tăng 0,69%, tăng 34,48%; ô tô con (dưới 9 chỗ ngồi) tăng 4,69%, tăng 1,28%; phương tiện đi lại, trừ ô tô con (kể cả phụ tùng) tăng 4,15%, tăng 25,01%,… Tuy nhiên, cũng có một số nhóm hàng giảm so với cùng kỳ như: Đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình giảm 6,29%; vật phẩm, văn hoá, giáo dục giảm 37,2%; gỗ và vật liệu xây dựng giảm 18,42%; nhiên liệu khác (trừ xăng dầu) giảm 26,15%,…Tính chung trong 10 tháng, tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 21.313 tỷ đồng, tăng 18,91% so với cùng kỳ.5.2. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ khác- Trong tháng, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 201 tỷ đồng, giảm 6,53% so với tháng trước, tăng 10,58% so với cùng kỳ. Trong đó: Doanh thu dịch vụ lưu trú giảm 4,78%, tăng 25,18%; dịch vụ ăn uống giảm 6,72%, tăng 9,15%. Tính chung trong 10 tháng, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 1.899 tỷ đồng, tăng 29,1%.- Doanh thu du lịch lữ hành trong tháng ước đạt 0,46 tỷ đồng, giảm 0,65% so với tháng trước, tăng 14,25% so với cùng kỳ. Tính chung trong 10 tháng doanh thu du lịch lữ hành ước đạt 3 tỷ đồng, tăng 24,2%.- Doanh thu nhóm dịch vụ khác trong tháng ước đạt 119 tỷ đồng, giảm 7,14% so với tháng trước, tăng 34,56% so với cùng kỳ. Trong đó: Dịch vụ kinh doanh bất động sản tăng 1,1%, tăng 284,38%; hành chính và dịch vụ hỗ trợ tăng 3,57%, tăng 23,19%; dịch vụ khác tăng 1,78%, tăng 11,32%,…. Tuy nhiên, cũng có một số nhóm hàng giảm so với tháng trước và tăng so với cùng kỳ cùng kỳ như: Dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội giảm 1,05%, tăng 5,43%; nghệ thuật, vui chơi và giải trí giảm 28,5%, tăng 70,21%,... Tính chung trong 10 tháng, doanh thu dịch vụ khác ước đạt 919 tỷ đồng, tăng 40,7%.5.3. Giá cả- Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trong tháng tăng 3,91% so với cùng kỳ năm trước, tăng 3,55% so với tháng 12 năm trước và giảm 0,51% so với tháng trước. Tính chung trong 10 tháng, CPI bình quân tăng 4,4% so với cùng kỳ.Trong số 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính thì có 05 nhóm tăng giá so với tháng trước, 05 nhóm giảm giá, 01 nhóm giữ giá ổn định (nhóm bưu chính viễn thông). Trong 05 nhóm hàng tăng so với tháng trước, bao gồm những nhóm hàng sau: Nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,7%, do giá các loại rượu, bia và nước giải khát tăng nhẹ do nhu cầu tiêu thụ của người dân tăng; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,35%, chủ yếu là do giá gas trong nước tăng do giá gas thế giới biến động mạnh; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng nhẹ 0,09%; thuốc và dịch vụ y tế tăng nhẹ 0,02%; giáo dục tăng 0,02%.Có 05 nhóm hàng giảm thì nhóm giao thông giảm 1,26% là do giá xăng, dầu điều chỉnh tăng, giảm theo giá nhiên liệu thế giới tại các kỳ điều hành giá của Tập đoàn xăng dầu Việt Nam (xăng giảm 4,62%, dầu diesel giảm 0,74%); hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 1,05%, giảm chủ yếu ở nhóm thịt lơn hơi, nguyên nhân chính khiến giá heo thịt giảm trong những ngày qua là do dịch tả lợn Châu Phi ở các tỉnh miền Bắc sau một thời gian lắng xuống và một vài địa phương đã công bố hết dịch thì bất ngờ có dấu hiệu bùng phát trở lại và có tốc độ lây lan nhanh; may mặc, mũ nón, giày dép giảm 0,49% do nhu cầu mua sắm các loại vải và quần áo may sẵn của người dân giảm; văn hóa, giải trí và du lịch giảm 1,5%.- Chỉ số giá vàng tăng 9,3% so với cùng kỳ năm trước, tăng 6,47% so với tháng 12 năm trước, tăng 0,35% so với tháng trước. Tính chung trong 10 tháng, tăng 1,72% so với cùng kỳ.- Chỉ số giá đô la Mỹ tăng 1,67% so với cùng kỳ năm trước, tăng 2,9% so với tháng 12 năm trước, tăng 1,13% so với tháng trước. Tính chung trong 10 tháng, tăng 2,43% so với cùng kỳ.5.4. Tình hình xuất, nhập khẩu hàng hóa Một trong những điểm tích cực về hoạt động xuất, nhập khẩu trong tháng là giá trị xuất, nhập khẩu hàng hóa tiếp tục có xu hướng tăng, kim ngạch xuất, nhập khẩu ước đạt 22,47 triệu USD, tăng 22,29% so với tháng cùng kỳ năm trước. Tính chung trong 10 tháng, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa ước đạt 204 triệu USD, đạt 85,01% kế hoạch, giảm 4,85% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, xuất khẩu ước đạt 130 triệu USD, đạt 86,57%, giảm 9,03%, nhập khẩu ước đạt 74,2 triệu USD, đạt 82,4%, tăng 3,48%, cụ thể như sau:- Giá trị xuất khẩu hàng hóa trong tháng ước đạt 16 triệu USD, tăng 17% so với cùng kỳ, một số mặt hàng xuất khẩu chủ yếu tăng so với tháng cùng kỳ như: Hàng dệt, may đạt 1.200 nghìn sản phẩm, tăng 79,72%; phong bì đạt 380 nghìn sản phẩm, tăng 17,2%; antimony thỏi đạt 38 tấn, tăng 5,56%,… Một số nhóm hàng có kim ngạch xuất khẩu giảm so với cùng kỳ: Chè xuất khẩu ước đạt 680 tấn, giảm 70,73%; giấy đế xuất khẩu đạt 350 tấn, giảm 39,45%; đũa gỗ xuất khẩu đạt 2.600 nghìn đôi, giảm 41,07%,… Tính chung trong 10 tháng, một số nhóm hàng xuất khẩu đạt mức tăng trưởng cao so với cùng kỳ như: Chè xuất khẩu tăng 30,55%; bột barit tăng 166,74%; đũa gỗ xuất khẩu tăng 7,04%; phong bì tăng 16,05%; atimony thỏi tăng 139,56%,… - Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa trong tháng ước đạt 6,5 triệu USD, tăng 37,42% so với tháng cùng kỳ.Đánh giá chung, Hoạt động xuất nhập khẩu được dự báo sẽ tiếp tục khởi sắc trong những tháng cuối năm do được hỗ trợ bởi các yếu tố như lạm phát có xu hướng hạ nhiệt tại các nền kinh tế lớn như Mỹ, châu Âu, kinh tế toàn cầu đã có những dấu hiệu tích cực, đặc biệt là tín hiệu phục hồi kinh tế tích cực đã xuất hiện ở hai nền kinh tế lớn nhất thế giới là Mỹ và Trung Quốc,… tồn kho tại các nước đang giảm dần. Trong khi đó, nhu cầu tiêu thụ hàng hóa cũng thường tăng cao vào dịp lễ hội cuối năm. Tuy nhiên, các doanh nghiệp vẫn còn gặp nhiều khó khăn trong phục hồi sản xuất kinh doanh, áp lực cạnh tranh và sự gia tăng các rào cản kỹ thuật tại các thị trường xuất khẩu nên kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng chủ lực của tỉnh còn đạt thấp so với cùng kỳ như: Dệt may, da giày, đồ gỗ, giấy in giảm trong khi đó giá các mặt hàng nhập khẩu nguyên, nhiên, vật liệu tăng, thị trường trong nước sức mua không lớn, chi phí đầu vào vẫn ở mức cao đã tác động đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.6. Vận tải hàng hóa và hành khách Trong tháng, sản lượng vận chuyển hành khách, hàng hóa cũng như doanh thu từ hoạt động vận tải trên địa bàn tiếp tục tăng trưởng, nhu cầu đi du lịch, lễ hội và vận chuyển hàng hóa của người dân tăng khá. Các đơn vị vận tải đã tăng cường các phương tiện, bảo đảm việc vận chuyển hàng hóa được thông suốt, đầy đủ và an toàn. Ngoài ra, ngành chức năng đã chú trọng, tăng cường xử lý các hành vi vi phạm quy định pháp luật về bảo đảm trật tự, an toàn giao thông, vi phạm nồng độ cồn, chở quá khổ, quá tải, quá số người quy định, phương tiện không bảo đảm an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường,...6.1. Doanh thu vận tải tải kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải - Doanh thu vận tải trong tháng ước đạt 367 tỷ đồng, tăng 2,5% so với tháng trước, tăng 29,7% so với cùng kỳ. Trong đó, doanh thu vận tải hành khách ước đạt 61 tỷ đồng, giảm 8,72%, tăng 29,37%; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 306 tỷ đồng, tăng 5,06%, tăng 29,75%; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 0,37 tỷ đồng, giảm 0,84%, tăng 24,93%,…- Tính chung trong 10 tháng, doanh thu vận tải kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 3.070 tỷ đồng, tăng 26,69% so với cùng kỳ. Trong đó: Doanh thu vận tải hành khách đạt 535 tỷ đồng, tăng 30,91%; doanh thu vận tải hàng hóa đạt 2.529 tỷ đồng, tăng 25,8%; dịch vụ hỗ trợ vận tải kho bãi đạt 3 tỷ đồng, tăng 43,9%,… 6.2. Vận tải hành khách và hàng hóa- Khối lượng hành khách vận chuyển ước đạt 1 triệu lượt hành khách, giảm 8,43% so với tháng trước, tăng 48,24% so với cùng kỳ; khối lượng hành khách luân chuyển ước đạt 76 triệu lượt hành khách.km, giảm 8,15%, tăng 26,27%. Tính chung trong 10 tháng, khối lượng hành khách vận chuyển ước đạt 10 triệu lượt hành khách, tăng 47,12% so với cùng kỳ; khối lượng hành khách luân chuyển ước đạt 689 triệu lượt hành khách.km, tăng 18,64%.- Khối lượng hàng hóa vận chuyển ước đạt 2 triệu tấn, tăng 9,74% so với tháng trước, tăng 31,73% so với cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 126 triệu tấn.km, tăng 6,26%, tăng 28,76%. Tính chung trong 10 tháng, khối lượng hàng hóa vận chuyển ước đạt 17 triệu tấn, tăng 24,93% so với cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 1.061 triệu tấn.km, tăng 20,44%.7. Về du lịch Tiếp tục triển khai các bước thực hiện quảng bá văn hóa và du lịch tỉnh Tuyên Quang trên nhãn tem và phong bì phổ thông và truyền thông Poster tại các điểm bưu cục, bưu điện văn hóa xã tại các huyện, thành phố; triển khai thực hiện Đề án “Xây dựng hệ thống Du lịch thông minh” tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 2019-2020, tầm nhìn đến 2025”; đẩy mạnh công tác tuyên truyền xúc tiến quảng bá du lịch trên trang: https://mytuyenquang.vn.Trong tháng, các khu, điểm du lịch trên địa bàn tỉnh đã thu hút 228.000 lượt khách du lịch; tổng thu từ khách du lịch đạt 343 tỷ đồng (nâng tổng số 10 tháng năm 2023, thu hút được 2.514.000 lượt khách du lịch đạt 101% kế hoạch, tăng 11% so với cùng kỳ; tổng thu từ khách du lịch đạt 3.030 tỷ đồng, đạt 101% kế hoạch, tăng 31% so với cùng kỳ).II. LĨNH VỰC VĂN HÓA - XÃ HỘI 1. Công tác lao động, việc làm, giáo dục nghề nghiệpGiải quyết việc làm cho người lao động là mục tiêu hàng đầu trong công tác giảm nghèo, nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân, phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Do đó, trong thời gian qua, các cấp, các ngành, các địa phương của tỉnh đã triển khai nhiều giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác tạo việc làm cho người lao động bằng nhiều hình thức như: Đẩy mạnh công tác tư vấn, giới thiệu việc làm, thông tin thị trường lao động; chủ động kết nối thông tin, nhu cầu tuyển dụng lao động của doanh nghiệp với nhu cầu tìm việc của người lao động; khuyến khích tạo việc làm tại chỗ bằng việc hỗ trợ cho vay vốn để chăn nuôi sản xuất, phát triển kinh tế theo hướng phát triển nông, lâm, thủy sản hàng hóa, bảo đảm chất lượng, gắn với xây dựng nông thôn mới, tạo cơ hội việc làm cho người lao động nông thôn, góp phần nâng cao thu nhập và làm giàu từ nông nghiệp của người dân nông thôn.Trong tháng, toàn tỉnh đã tạo việc làm cho 690 lao động; ước thực hiện 10 tháng có 21.430 lượt lao động được tạo việc làm, đạt 96,5% kế hoạch, tăng 9% so với cùng kỳ. Trong đó: Lao động làm việc trong các ngành kinh tế tại tỉnh là 13.327 người; lao động đi làm việc các tỉnh, thành phố 7.188 người; lao động đi làm việc nước ngoài theo hợp đồng 915 người.Thực hiện kịp thời, đúng quy định các chế độ, chính sách bảo hiểm thất nghiệp đối với người lao động. Duy trì thực hiện công tác công tác quản lý người lao động là người nước ngoài đang làm việc tại các đơn vị, doanh nghiệp sử dụng lao động là người nước ngoài trên địa bàn tỉnh.2. Công tác đảm bảo chế độ người có công với cách mạng, bảo trợ, an sinh xã hội và phòng chống các tệ nạn - Duy trì thực hiện đầy đủ, kịp thời các chế độ, chính sách đối với người có công với cách mạng và thân nhân người có công; đẩy mạnh thực hiện các phong trào, hoạt động "đền ơn, đáp nghĩa", "uống nước nhớ nguồn". Tiếp tục thực hiện tốt các chính sách trợ giúp xã hội, thường xuyên rà soát nắm chắc tình hình đời sống nhân dân, kịp thời hỗ trợ các hộ gia đình, cá nhân gặp khó khăn do tai nạn rủi ro; duy trì chi trả trợ cấp thường xuyên cho trên 38.000 đối tượng bảo trợ xã hội với kinh phí trợ cấp xã hội hàng tháng trên 20 tỷ đồng.- Trong tháng Cơ sở cai nghiện ma tuý tỉnh đã tiếp nhận 10 học viên (Cai nghiện bắt buộc 07 học viên, 03 học viên đang trong thời gian chờ thủ tục vào cai nghiện bắt buộc); cấp giấy chứng nhận hoàn thành cai nghiện cho 09 học viên. Luỹ kế từ đầu năm đến nay Cơ sở cai nghiện ma tuý tỉnh đã tiếp nhận nhận 100 học viên (Cai nghiện bắt buộc 98 học viên, cai nghiện tự nguyện 04 học viên); cấp giấy chứng nhận hoàn thành cai nghiện cho 66 học viên; thanh lý hợp đồng cai nghiện tự nguyện 03 học viên. Tại thời điểm báo cáo Cơ sở đang quản lý 170 học viên (có mặt 164 học viên; trốn cai 05 học viên; đi viện 01 học viên).3. Hoạt động giáo dục và đào tạoTrong tháng, tỉnh đã tổ chức Hội nghị tổng kết năm học 2022-2023 và triển khai nhiệm vụ năm học 2023-2024 với nhiều thành tích nổi bật như: tỷ lệ huy động trẻ đi nhà trẻ tăng nhanh và cao hơn bình quân của cả nước; duy trì vững chắc kết quả phổ cập giáo dục các bậc học; mạng lưới trường, lớp học tiếp tục được sắp xếp theo hướng tinh gọn, hiệu quả; chất lượng giáo dục đại trà và giáo dục mũi nhọn từng bước được nâng lên; chất lượng giải và số lượng học sinh tham dự và đoạt giải tại các cuộc thi, kỳ thi cấp khu vực và quốc gia ngày càng tăng. Trong đó, dự án khoa học kỹ thuật của học sinh Trường THPT Chuyên Tuyên Quang xuất sắc được Bộ Giáo dục và Đào tạo lựa chọn tham gia thi quốc tế. Kết quả điểm trung bình tại Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2023 tiếp tục tăng so với kỳ thi năm trước, xếp thứ 03/14 tỉnh khu vực miền núi phía Bắc. Công tác chuyển đổi số, cải cách hành chính trong ngành Giáo dục tiếp tục được quan tâm.Cũng tại hội nghị, đã có 8 tập thể và 32 cá nhân được nhận Bằng khen của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo; 9 tập thể được nhận danh hiệu Tập thể lao động xuất sắc và Bằng khen của Chủ tịch UBND tỉnh và 23 cá nhân được nhận Bằng khen của Chủ tịch UBND tỉnh có thành tích xuất sắc trong năm học 2022-2023. 4. Hoạt động y tế Hiện nay, tình hình dịch sốt xuất huyết trên địa bàn tỉnh đang có nhiều diễn biến phức tạp. Bệnh sốt xuất huyết chưa có thuốc điều trị đặc hiệu và vắc-xin phòng bệnh. Biện pháp phòng bệnh chủ yếu là diệt muỗi, diệt lăng quăng (bọ gậy). Cùng với sự gia tăng của dịch bệnh sốt xuất huyết, một số bệnh khác như cúm mùa, tay chân miệng cũng đang vào thời điểm tăng theo mùa.Để chủ động kiểm soát, phòng, chống các dịch bệnh truyền nhiễm, trong đó tập trung tăng cường phòng, chống dịch sốt xuất huyết, không để xảy ra dịch chồng dịch, tỉnh đã tập trung công tác phòng, chống sốt xuất huyết và các dịch bệnh truyền nhiễm khác; theo đó, tăng cường tuyên truyền để người dân chủ động tham gia thu dọn vật dụng phế thải chứa nước đọng, nơi bọ gậy, muỗi phát triển; chủ động dự phòng, bố trí đủ phương tiện, vật tư, kinh phí cho công tác phòng, chống dịch bệnh; giám sát chặt chẽ tình hình, phát hiện sớm và cấp cứu điều trị kịp thời người bệnh, hạn chế thấp nhất trường hợp tử vong, xử lý triệt để ổ dịch ngay khi phát hiện.5. Hoạt động văn hoá - thể dục, thể thao- Lĩnh vực văn hoá: Tổ chức Hội nghị tổng kết đánh giá công tác tổ chức Chương trình Du lịch “Qua những miền di sản Việt Bắc” và Lễ hội Thành Tuyên năm 2023. Tiếp tục đẩy mạnh phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” gắn với chương trình xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh được triển khai sâu rộng.- Về thể dục thể thao: Tổ chức thành công giải Pencak Silat các Câu lạc bộ tỉnh Tuyên Quang năm 2023 với gần 200 vận động viên đến từ 11 Câu lạc bộ trên địa bàn tỉnh. Kết quả: Ban Tổ chức trao 30 bộ huy chương cho các vận động viên; tham gia giải Vô địch Wushu các đội mạnh quốc gia năm 2023 tại tỉnh Quảng Nam. Chuẩn bị các điều kiện tham gia giải Vô địch trẻ và Thiếu niên Vật dân tộc toàn quốc lần thứ XXIV năm 2023 tại tỉnh Vĩnh Phúc; giải Vô địch Võ cổ truyền quốc gia năm 2023 tại tỉnh Nam Định,... Duy trì hoạt động 6 lớp đội tuyển năng khiếu với 30 vận động viên; 07 lớp đội tuyển trẻ với 68 vận động viên; 03 lớp đội tuyển tỉnh với 20 vận động viên.6. Tình hình an toàn giao thông và phòng chống cháy, nổ6.1. Về an toàn giao thôngTiếp tục tăng cường triển khai công tác đảm bảo trật tự, an toàn giao thông trên phạm vi toàn tỉnh; xử lý nghiêm các hành vi vi phạm trật tự, an toàn giao thông, nhất là vi phạm về nồng độ cồn khi lái xe; vi phạm tốc độ, tránh, vượt sai quy định; vi phạm chở hàng quá tải trọng; không đội mũ bảo hiểm khi đi mô tô, xe máy, xe đạp điện và hiện tượng thanh thiếu niên chưa đủ tuổi, chưa có giấy phép lái xe; tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát trên các tuyến quốc lộ, đường tỉnh, đường huyện, khu vực trung tâm thành phố, trung tâm huyện, tuyến đường thường xảy ra tai nạn giao thông. Trong tháng, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 9 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 03 người và làm bị thương 10 người. So với tháng trước tăng 12,5% về số vụ tai nạn, số người chết giữ nguyên, số người bị thương tăng 25%. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn tăng 12,5%, số người chết giảm 40%, số người bị thương tăng 150%.Tính chung trong 10 tháng, toàn tỉnh đã xảy ra 70 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 23 người và làm bị thương 58 người. So với cùng kỳ năm trước, tăng 7,69% số vụ tai nạn giao thông, giảm 4,17% về số người chết, tăng 11,54% số người bị thương.6.2. Thiệt hại do thiên taiTrong tháng, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 01 đợt mưa lớn (vào đêm ngày 06/10 rạng sáng ngày 07/10) gây thiệt hại về tài sản và hoa màu của người dân tại các huyện Hàm Yên và Yên Sơn, cụ thể như sau: Thiệt hại về người: Không có.Nhà bị thiệt hại một phần từ 30% - 50%: 06 nhà bị ngập.Thiệt hại về nông nghiệp và công trình giao thông: 1,96 ha lúa bị ảnh hưởng, 30,9 ha ngô, rau màu bị thiệt hại, 2,50 ha cây ăn quả bị gãy đổ và 0,48 ha ao bị tràn bờ; cuốn trôi và hư hỏng 01 cầu tràn khiến việc đi lại của người dân gặp nhiều khó khăn. Ước giá trị thiệt hại trên 444,8 triệu đồng.6.3. Thiệt hại do cháy, nổTrong tháng trên địa bàn tỉnh không xảy ra vụ cháy, nổ nào.CỤC THỐNG KÊ TUYÊN QUANG