207.3 823 523 | ctk_tuyenquang@gso.gov.vn
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 01 năm 2023 tỉnh Tuyên Quang
  •   05/11/2025 17:23

I. PHÁT TRIỂN KINH TẾ  1. Về sản xuất nông nghiệp (tính đến ngày 15/01/2023)1.1. Trồng trọt 1.1.1. Sản xuất vụ đôngĐến thời điểm báo cáo bà con nông dân trong tỉnh đang khẩn trương thu hoạch diện tích cây màu vụ đông, giải phóng đất phục vụ cho công tác gieo trồng các loại cây trồng vụ xuân năm 2023. Kết quả cụ thể như sau:Cây ngô đã thu hoạch được 3.280,7 ha, đạt 68,56%, cây khoai lang 808 ha đạt, 79,97%, cây rau đậu các loại 3.560 ha, đạt 79,29%.1.1.2. Sản xuất vụ xuân Theo kế hoạch, vụ xuân năm 2023 toàn tỉnh gieo cấy 18.488 ha lúa các loại. Để đáp ứng đầy đủ, kịp thời nhu cầu giống lúa các loại phục vụ sản xuất, các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh trên địa bàn tỉnh đã chuẩn bị đầy đủ số lượng các mặt hàng vật tư đáp ứng đầy đủ nhu cầu về giống sản xuất của người dân. - Làm đất: Đến ngày 15/01/2023 các địa phương trong tỉnh đã làm đất được 11.081 ha. - Gieo mạ: Toàn tỉnh gieo được 307.668 kg giống lúa các loại trong đó: Mạ Lúa lai gieo được 112.909 kg, mạ lúa thuần gieo được 194.759 kg.1.2. Tình hình sinh vật gây hại - Thời tiết diễn biến bất thường, tạo điều kiện thuận lợi để sâu bệnh phát triển gây hại đến cây trồng. Trong đó một số diện tích lúa – mạ xuân bị chuột, nấm mốc, thối nhũn, bệnh trắng lá gây hại rải rác. Diện tích ngô bị sâu đục bắp, đốm lá, khô vằn, châu chấu, chuột gây hại rải rác. Trên cây chè, cây cam bị nhiễm rầy xanh nhẹ, bọ trĩ, bọ xít, nhện đỏ, nhện trắng gây hại ở mức trung bình.- Trước tình hình sinh vật gây hại cây trồng nêu trên, ngành chức năng đã tập trung chỉ đạo, hướng dẫn bà con nông dân thực hiện việc gieo cấy đúng khung thời vụ, chăm sóc cây trồng; thường xuyên kiểm tra đồng ruộng, phát hiện sâu bệnh hại cây trồng, kịp thời hướng dẫn cách phòng trừ, giảm thiệt hại do sâu bệnh gây ra.1.3. Về chăn nuôi 1.3.1. Về số lượng đàn gia súc, gia cầm tháng 01/2023Đàn trâu tổng đàn là 90.050 con, giảm 1,82% (giảm 1.671 con) so với cùng kỳ năm 2022; đàn bò 39.307 con, tăng 5,85% (tăng 2.174 con); đàn lợn 549.704 con, tăng 1,46% (tăng 7.890 con); đàn gia cầm 7.198,74 nghìn con, tăng 3,78% (tăng 262,30 nghìn con).1.3.2. Về sản phẩm đàn gia súc, gia cầmĐàn trâu sản lượng thịt hơi xuất chuồng đạt 612,44 tấn, tăng 7% so với cùng kỳ năm 2022; đàn bò đạt 150,1 tấn, tăng 6%; đàn lợn 5.718,30 tấn, tăng 3,89%; đàn gia cầm 1.669,09 tấn, tăng 7,24%.1.3.3. Về công tác phòng chống dịch bệnh gia súc, gia cầmTrong tháng, trên địa bàn các huyện, thành phố xuất hiện một số gia súc, gia cầm ốm do mắc các bệnh Tụ huyết trùng; ký sinh trùng, chướng bụng đầy hơi, sán lá gan (đàn trâu,bò), tiêu chảy, lép tô, phân trắng lợn con (đàn lợn); Niucatson, THT, cầu trùng…(đối với đàn gia cầm), số gia súc mắc bệnh đã được nhân viên thú y xã phát hiện, điều trị khỏi 25/25 con, trong đó: Trâu, bò: 09/09 con; đàn lợn: 16/16 con. Về công tác phòng chống dịch lợn tả Châu phi: Trong tháng bệnh không phát sinh.1.3.4. Công tác kiểm dịch vận chuyển động vật, sản phẩm động vậtTại các trạm Kiểm dịch đã thực hiện kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ, ngăn chặn không cho vận chuyển động vật và sản phẩm động vật không rõ nguồn gốc vào địa bàn tỉnh, kết quả đã kiểm tra: 200 lượt phương tiện vận chuyển, trong đó: Số đủ thủ tục: 200 lượt, cụ thể: 55 chuyến vận chuyển 8.388 con lợn, 122 chuyến vận chuyển 122.502 con gia cầm.1.3.5. Công tác kiểm soát giết mổ, và kiểm tra vệ sinh thú yCông tác kiểm soát giết mổ, kiểm tra vệ sinh thú y được các trạm Chăn nuôi và Thú y phân công, bố trí cán bộ thường xuyên duy trì, kiểm tra, kiểm soát, bảo đảm sản phẩm gia súc trước khi đưa ra thị trường tiêu thụ được kiểm tra, kết quả đã kiểm soát giết mổ được: 181 con trâu, bò và 5.618 con lợn.1.4. Về sản xuất lâm nghiệp 1.4.1. Công tác trồng rừngVới quyết tâm hoàn thành kế hoạch trồng rừng năm 2023, tỉnh đã chỉ đạo các địa phương trong tỉnh, tích cực triển khai công tác trồng, chăm sóc rừng chính vụ và trồng cây phân tán; đã trồng được 4,6 ha rừng trồng tập trung; chuẩn bị điều kiện cho Tết trồng cây năm 2023.1.4.2. Khai thác gỗ rừng trồngToàn tỉnh khai thác được 42.640,12 m3 gỗ, tăng 4,69% so với cùng kỳ năm 2022. 1.4.3. Công tác quản lý bảo vệ rừng- Tỉnh đã xây dựng kế hoạch tổ chức Lễ phát động Tết trồng cây “Đời đời nhớ ơn Bác Hồ” Xuân Quý Mão 2023; thời gian từ 9 giờ 30 phút ngày 30/01/2023 (tức ngày mùng 9 tháng Giêng) với số lượng khoảng 3.000 cây trong đó 2.930 cây Keo (Lai mô hoặc Tai tượng hạt ngoại); 70 cây bản địa (cây Chò chỉ, Đinh, Lim... cao trên 1 m có đánh số thứ tự) đảm bảo tiêu chuẩn theo hướng dẫn của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.- Thường xuyên cảnh báo nguy cơ cháy rừng, đẩy mạnh tuyên truyền về công tác phòng cháy chữa cháy rừng; lực lượng chức năng đã tăng cường kiểm tra, kiểm soát, phát hiện kịp thời, xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật các hành vi xâm hại rừng. Theo báo cáo của Chi cục Kiểm lâm tỉnh, trong tháng trên địa bàn toàn tỉnh không có vụ cháy rừng nào xảy ra. Số vụ chặt phá rừng là 01 vụ diện tích chặt phá 0,75 ha, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng, đã kiểm tra, phát hiện và xử lý tịch thu 0,094 m3 gỗ các loại; phạt hành chính và bán thanh lý tài sản 21,37 triệu đồng (đã thu nộp ngân sách 9,37 triệu đồng).2. Sản xuất công nghiệp2.1. Chỉ số phát triển công nghiệp Chỉ số sản xuất công nghiệp trong tháng tăng 22,46% so với cùng kỳ, giảm 11,4% so với tháng trước, chủ yếu do đây là thời điểm các doanh nghiệp tập trung sản xuất các loại hàng hóa phục vụ Tết Nguyên đán, cụ thể như sau: Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 34,49%; giảm 14,39%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 26,09%, giảm 17,16%; khai khoáng giảm 11,82%, giảm 28,88%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí giảm 28,4%, tăng 48,99%.2.2. Sản phẩm công nghiệp chủ yếu Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng so với cùng kỳ năm trước như: Xi măng đạt 130.000 tấn, tăng 45,05%; hàng may mặc xuất khẩu đạt 3.030 nghìn sản phẩm, tăng 16,8%; giày da đạt 570 nghìn đôi, tăng 35,71%; gỗ tinh chế đạt 3.837 m3, tăng 17,72%. Tuy nhiên, cũng có một số sản phẩm công nghiệp giảm so với cùng kỳ như: Điện thương phẩm đạt 89 triệu Kwh, giảm 0,1%; điện sản xuất đạt 108 triệu Kwh, giảm 34,38%; đường kính đạt 2.500 tấn, giảm 24,67%; bột barit đạt 500 tấn, giảm 85,91%; bột Felspat đạt 11.200 tấn, giảm 30,23%; nước máy thương phẩm đạt 625nghìn m3, giảm 3,98%,...3. Kết quả thu ngân sách nhà nước tháng 01 năm 20233.1. Kết quả thu ngân sáchTổng thu nội địa tháng 01/2023 ước thực hiện là 180 tỷ đồng, đạt 6,2% dự toán, giảm 48,7% so với cùng kỳ.Số thu nội địa trừ tiền sử dụng đất và xổ số ước thực hiện tháng 01/2023 là 152,4 tỷ đồng, đạt 6,6% dự toán, giảm 41,9% so với cùng kỳ.3.2. Nguyên nhân ảnh hưởng đến kết quả thu - Thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất giảm so với cùng kỳ do đấu giá quyền sử dụng đất năm 2022 chuyển sang thu năm 2023 thấp hơn so với cùng kỳ.- Thu tiền cấp quyền khai thác tài nguyên khoáng sản, tài nguyên nước giảm so với cùng kỳ. 4. Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước thực hiện tháng 1 năm 2023 đạt 178.822 triệu đồng, tăng 28,57% so với cùng kỳ. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 162.104 triệu đồng, tăng 28,90%; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện đạt 13.585 triệu đồng, tăng 30,85%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã đạt 2.836 triệu đồng, tăng 4,38%.5. Thương mại và Dịch vụ5.1. Doanh thu bán lẻ hàng hóa, dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch và doanh thu dịch vụ khác5.1.1. Doanh thu bán lẻ hàng hóa Ước đạt 1.853.285 triệu đồng, tăng 18,55% so với cùng kỳ, tăng 6,37% so với tháng trước, cụ thể như sau: Lương thực thực phẩm đạt 769.405 triệu đồng, tăng 23,21%, tăng 6,06%; hàng may mặc đạt 113.702 triệu đồng, tăng 31,48%, tăng 6,76%; đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình đạt 155.046 triệu, tăng 18,24%, tăng 6,03%; gỗ và vật liệu xây dựng đạt 213.910 triệu đồng, tăng 12,99%, tăng 0,75%; phương tiện đi lại, trừ ô tô con (kể cả phụ tùng) đạt 79.234 triệu đồng, tăng 7,34%, tăng 7,33%; xăng, dầu các loại đạt 215.510 triệu đồng, tăng 11,43%, tăng 7,22%; hàng hoá khác đạt 129.255 triệu đồng, tăng 16,17%, tăng 15,44%; sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác đạt 72.156 triệu đồng, tăng 10,36%, tăng 9,68%,....5.1.2. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và doanh thu dịch vụ khác- Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 162.686 triệu đồng, tăng 39,10 % so với cùng kỳ, tăng 8,47% so với tháng trước. Trong đó: Doanh thu dịch vụ lưu trú ước đạt 11.935 triệu đồng, tăng 30,54%, tăng 17,52%; dịch vụ ăn uống ước đạt 150.751 triệu đồng, tăng 39,83%, tăng 7,81%.- Doanh thu nhóm dịch vụ khác trong tháng ước đạt 91.079 triệu đồng, tăng 55,32% so với cùng kỳ, tăng 4,13% so với tháng trước. Trong đó: Doanh thu Dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ đạt 15.203 triệu đồng, tăng 24,64%, tăng 0,05%; giáo dục và đào tạo đạt 2.911 triệu đồng, tăng 21,75%, tăng 0,38%; kinh doanh bất động sản đạt 2.520 triệu đồng, tăng 17,61%, tăng 0,28%; dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí đạt 19.655 triệu đồng, tăng 84,38%, tăng 4,83%, dịch vụ khác đạt 33.984 triệu đồng, tăng 56,76%, tăng 6,15%,...5.2. Giá cả- Tháng 01/2023, trùng với dịp Tết Nguyên đán nhu cầu tiêu dùng của người dân về các mặt hàng thiết yếu; đồ dùng gia đình tăng làm cho chỉ số giá tháng này có xu hướng tăng nhẹ so với tháng trước. Ước tính CPI tháng 01 năm 2023 tăng 0,58% so với tháng trước, tăng 6,04% so với cùng kỳ năm trước. Trong số 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính thì có 09/11 nhóm hàng tăng so với tháng trước, bao gồm những nhóm hàng sau: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,45% do nhu cầu ăn uống dịp tết Nguyên đán tăng; đồ uống, thuốc lá tăng 3,05% do nhu cầu mua sắm những đồ dùng, thực phẩm thiết yếu phục vụ cho dịp Tết của người dân; nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,29% do là trong tháng xảy ra các đợt rét nên nhu cầu mua sắm hàng may mặc, giầy dép của người dân tăng cao; thiết bị đồ dùng gia đình tăng 0,73% do đang bước vào các đợt rét, nhiệt độ xuống thấp khiến nhu cầu mua sắm, sử dụng các loại hàng hóa sưởi ấm của người dân tăng, làm giá một số mặt hàng này tăng nhẹ; thuốc và dịch vụ y tế tăng 1,28% do nhu cầu về thuốc và khám chữa bệnh thời điểm giao mùa tăng; bưu chính viễn thông tăng 0,01%; giáo dục tăng 0,13%; văn hoá, giải trí và du lịch tăng 0,45%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 2,44%… Có 02/11 nhóm hàng có mức giá giảm so với tháng trước là: Nhà ở và vật liệu xây dựng giảm 0,74%; giao thông giảm 1,22% do giá xăng, dầu điều chỉnh giảm.- Chỉ số giá vàng giảm 3,09% so với cùng tháng năm trước, tăng 0,91% so với tháng trước. - Chỉ số giá đô la Mỹ tăng 3,4% so với cùng tháng năm trước, giảm 1,18% so với tháng trước. 6. Vận tải hàng hóa và hành khách 6.1. Doanh thu vận tải tải kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải - Ước tính doanh thu vận tải kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải tháng 1 đạt 303.115 triệu đồng, tăng 59,47% so với cùng kỳ, tăng 3,47% so với tháng trước. Trong đó: Doanh thu từ vận tải hành khách ước đạt 52.601 triệu đồng, tăng 65,66% và tăng 5,61%; doanh thu từ vận tải hàng hóa đạt 249.989 triệu đồng, tăng 58,08% và tăng 3,03%; dịch vụ hỗ trợ vận tải kho bãi đạt 326 triệu đồng, tăng 75,09% và tăng 1,34%,..6.2. Vận tải hành khách và hàng hóa- Khối lượng hành khách vận chuyển ước đạt 822 nghìn hành khách, tăng 60,89% so với cùng kỳ và tăng 4,17% so với tháng trước; khối lượng hành khách luân chuyển ước đạt 66.042 nghìn lượt hành khách.km, tăng 26,56% và tăng 4,43%. - Khối lượng hàng hóa vận chuyển ước đạt 1.659 nghìn tấn, tăng 47,08% so với cùng kỳ và tăng 2,74% so với tháng trước; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 105.317 nghìn tấn.km, tăng 62,06% và tăng 2,5%. 7. Về du lịch   Trong tháng 01/2023, thu hút được 136.500 lượt khách du lịch; đạt 5% kế hoạch, tăng 98% so với cùng kỳ; tổng thu từ khách du lịch đạt 165 tỷ đồng; đạt 6% kế hoạch, tăng 175% so với cùng kỳ.II. LĨNH VỰC VĂN HÓA - XÃ HỘI 1. Công tác lao động, việc làm, giáo dục nghề nghiệp- Trong tháng tạo việc làm cho 592 người lao động, đạt 2,7% kế hoạch và tăng 120,9% so với cùng kỳ năm 2022, trong đó: Lao động được tạo việc làm tại tỉnh: 394 người, đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng: 10 người; làm việc tại các tỉnh, thành phố trong nước: 188 người.- Đã thực hiện tư vấn giới thiệu việc làm, học nghề cho 1.209 lao động; đăng tải 33 lượt thông tin tuyển lao động, tuyển sinh trên website, cổng thông tin điện tử Trung tâm Dịch vụ việc làm.2. Công tác đảm bảo chế độ chính sách và an sinh xã hội, phòng chống các tệ nạn và tình hình lương thưởng Tết của người lao động tại các doanh nghiệp2.1. Công tác đối với người có công với cách mạng Tỉnh đã triển khai các hoạt động tặng quà của Chủ tịch nước và quà của tỉnh đối với người có công với cách mạng trên địa bàn tỉnh nhân dịp Tết Nguyên đán Quý Mão năm 2023. Tổng số là 18.344 suất quà, với tổng trị giá trên 7,6 tỷ đồng. Trong đó: Quà của Chủ tịch nước: 8.011 suất, số tiền 2,5 tỷ đồng; Quà của tỉnh: 8.673 suất, số tiền 4,5 tỷ đồng; quà của cấp huyện, cấp xã: 552 suất, số tiền trên 0,2 tỷ đồng; quà do các tổ chức, cá nhân tặng: 1.108 suất, số tiền 0,4 tỷ đồng. Lãnh đạo tỉnh cũng đã tổ chức thăm, tặng quà đối với 36 người có công với cách mạng tiêu biểu nhân dịp Tết Nguyên đán Quỹ Mão.2.2. Công tác bảo trợ xã hội và phòng chống các tệ nạn xã hội- Công tác chăm lo cho các đối tượng chính sách xã hội cũng được tỉnh hết sức quan tâm, chú trọng, duy trì chi trả trợ cấp thường xuyên cho trên 38.000 đối tượng bảo trợ xã hội tại cộng đồng. Hỗ trợ lượng thực cho các hộ bị thiếu lương thực nhân dịp Tết Nguyên đán và dịp giáp hạt năm 2023, dự kiến là 257.340 kg gạo để hỗ trợ 5.624 hộ với 17.156 nhân khẩu. Các cơ quan, tổ chức, cá nhân cũng triển khai các hoạt động thăm, tặng quà các đối tượng hộ nghèo, cận nghèo, đối tượng bảo trợ xã hội, trẻ em, người cao tuổi có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn tỉnh. Đến ngày 13/01/2023 các đơn vị, tổ chức, cá nhân đã trao tặng 18.467 suất quà cho người khuyết tật, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, hộ nghèo, cận nghèo và các đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn khác, với tổng trị giá trên 10,7 đồng.- Duy trì công tác tiếp nhận, quản lý, điều trị và chuẩn bị các điều kiện tổ chức vui xuân, đón tết cho học viên đang cai nghiện tại Cơ sở trong dịp Tết nguyên đán Quý Mão năm. Trong tháng đã tiếp nhận 08 người nghiện ma túy vào cai nghiện bắt buộc tai cơ sở; cấp giấy chứng nhận hoàn thành cai nghiện cho 03 học viên; 01 người bị cơ quan chức năng khởi tố, bắt tạm giam do vi phạm pháp luật. Tiếp tục duy trì quản lý 144 học viên cai nghiện ma túy (trong đó số có mặt cai nghiện tại Cơ sở 133 học viên, trốn cai 10 học viên, 01 học viên đi chữa bệnh tại bệnh viện tỉnh).2.3. Về tình hình lương thưởng Tết của người lao động và việc quản lý lao động tại doanh nghiệp, khu công nghiệp- Tiền lương bình quân năm 2022 của người lao động tại các doanh nghiệp có báo cáo trên địa bàn tỉnh: 6.174.000 đồng/người/tháng (cao hơn năm 2021 là 436.000 đồng). Trong đó: Công ty TNHH Một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ: 8.855.000đồng/người/tháng; Công ty có cổ phần, vốn góp chi phối của Nhà nước, chi nhánh thuộc Tập đoàn kinh tế nhà nước, Tổng công ty Nhà nước trên địa bàn tỉnh: 8.911.000 đồng/người/tháng; Doanh nghiệp dân doanh: 5.010.000 đồng/người/tháng; Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài: 5.724.000 đồng/người/tháng.- Thưởng Tết Dương lịch 2023: Mức thưởng bình quân người lao động tại doanh nghiệp báo cáo có kế hoạch thưởng: 1.113.000 đồng/người (cao hơn năm 2022: 358.000 đồng). Trong đó: Công ty TNHH Một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ: 500.000 đồng/người; Công ty có cổ phần, vốn góp chi phối của Nhà nước; Chi nhánh thuộc Tập đoàn kinh tế nhà nước, Tổng công ty Nhà nước trên địa bàn tỉnh: 1.188.000 đồng/người; Doanh nghiệp dân doanh: 874.000 đồng/người; Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài: 350.000 đồng/người. - Thưởng Tết Nguyên đán 2023: Mức thưởng bình quân người lao động tại doanh nghiệp báo cáo có kế hoạch thưởng: 3.420.000 đồng/người (cao hơn năm 2022; 244.000 đồng). Trong đó: Công ty TNHH Một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ: 2.000.000 đồng/người; Công ty có cổ phần, vốn góp chi phối của Nhà nước; Chi nhánh thuộc Tập đoàn kinh tế nhà nước, Tổng công ty Nhà nước trên địa bàn tỉnh: 4.379.000 đồng/người; Doanh nghiệp dân doanh: 5.958.000 đồng/người; Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài: 2.857.000 đồng/người.- Tình hình nợ lương 2022: Tổng số doanh nghiệp nợ lương: 03 doanh nghiệp với tổng số lao động bị nợ lương: 270 người, tổng số tiền lương nợ: 2.860 triệu đồng. 3. Hoạt động giáo dục và đào tạoTrong tháng, các trường học trên địa bàn tỉnh đã tổ chức nhiều hoạt động kỷ niệm 73 năm Ngày truyền thống học sinh - sinh viên Việt Nam (09/01/1950 – 09/01/2023). Các hoạt động mít tinh, kỷ niệm Ngày truyền thống học sinh - sinh viên được tổ chức đã góp phần khơi dậy truyền thống tốt đẹp và tinh thần hiếu học trong học sinh, sinh viên. Các đơn vị, trường học đã tổ chức phân công lực lượng trực trong dịp Tết, phối hợp với lực lượng công an, chính quyền địa phương đảm bảo an toàn tuyệt đối về cơ sở vật chất, trang thiết bị của cơ quan, đơn vị; tổ chức ký cam kết với học sinh, cha mẹ học sinh về thực hiện nghiêm Luật Giao thông đường bộ; Luật phòng, chống tác hại của rượu, bia; quy định về quản lý, sử dụng pháo; tổ chức “Tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác Hồ” góp phần xây dựng trường học xanh, sạch đẹp, thân thiện, tích cực…4. Hoạt động y tế - Để đảm bảo công tác phòng chống dịch Covid-19, tỉnh đã thực hiện tăng cường công tác phòng, chống dịch dịp Tết Nguyên đán Quý Mão và mùa lề hội 2023. Các đơn vị trên địa bàn tỉnh tăng cường theo dõi, bám sát tình hình dịch bệnh và tổ chức triển khai hiệu quả các biện pháp phòng, chống dịch theo đúng chỉ đạo của Trung ương và của tỉnh; kiểm tra, giám sát công tác phòng, chống dịch đảm bảo chủ động, sẵn sàng và kịp thời ứng phó với các diễn biến có thể xảy ra của dịch bệnh; tăng cường kiểm tra dịch với các trường hợp nhập cảnh về từ các khu vực bùng phát dịch, từ các nơi xuất hiện các biến thể mới, nguy hiểm của SARS-CoV-2; đẩy mạnh giám sát tại cộng đồng, tại các cơ sở khám, chữa bệnh và giám sát phát hiện sớm các biến thể của SARS-CoV-2. Tập trung tiếp tục thúc đẩy công tác tiêm chủng vắc xin phòng COVID-19; thường xuyên rà soát để đảm bảo các nhóm nguy cơ, nhất là người cao tuổi, người có bệnh lý nền, người suy giảm miễn dịch,... được tiêm chủng đầy đủ, đúng lịch; đẩy mạnh tiêm chủng vắc xin cho trẻ em từ 05 tuổi đến dưới 12 tuổi.Về tình hình tiêm chủng vắc xin Covid-19 tính đến ngày 10/01/2023: Tiêm cho người từ 18 tuổi trở lên: Tỷ lệ tiêm mũi 1 là 100% (510.833 người còn 6.475 người chống chỉ định chưa tiêm); tiêm đủ 2 mũi là 99,6% (513.182 người); có 79.200 người được tiêm bổ sung để hoàn thành liều cơ bản; tỷ lệ tiêm mũi 3 là 90,5% (459.822 người); hoàn thành tiêm mũi 04 cho đối tượng ưu tiên, số người được tiêm mũi 04 là 248.934 người.+ Tiêm cho trẻ từ 12 đến dưới 18 tuổi: Tỷ lệ tiêm mũi 1 đạt trên 99,1%, tiêm đủ 02 mũi đạt 100%, tiêm mũi 3 là 77,6% (61.030 trẻ).+ Tiêm cho trẻ từ 05 đến dưới 12 tuổi: Tỷ lệ tiêm mũi 01 đạt 99,9% các huyện, thành phố đạt tỷ lệ trên 95%; tiêm 02 mũi là 84,6% (96.688 trẻ), hiện chưa có phản ứng phụ hoặc tai biến sẩy ra.- Để đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm (ATTP) dịp trước, trong và sau Tết Nguyên đán Quý Mão, các ngành chức năng và các địa phương trong tỉnh đã và đang kiểm soát chặt chẽ các cơ sở sản xuất, chế biến, kinh doanh thực phẩm, giúp nhân dân đón Tết an toàn. Theo đó, tập trung vào các nhóm sản phẩm tiêu thụ nhiều trong dịp Tết, các cơ sở chế biến thực phẩm. Đồng thời, chú trọng kiểm soát những đầu mối sản xuất, nhập khẩu, chợ đầu mối, trung tâm thương mại, siêu thị, cơ sở giết mổ, vận chuyển thực phẩm... tập trung kiểm tra việc thực hiện các quy định về đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm như: Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện ATTP, giấy cam kết sản xuất thực phẩm an toàn; giấy chứng nhận sức khỏe, xác nhận kiến thức ATTP của chủ cơ sở và người trực tiếp tham gia sản xuất, kinh doanh thực phẩm; quy trình sản xuất, chế biến, bảo quản thực phẩm; nguồn gốc nguyên liệu, phụ gia thực phẩm; giấy cam kết đảm bảo vệ sinh môi trường... Đồng thời lấy mẫu kiểm nghiệm các chỉ tiêu an toàn vệ sinh thực phẩm theo quy định khi cần thiết. Qua đó, kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm theo quy định.5. Hoạt động văn hoá - thể dục, thể thao- Lĩnh vực văn hoá: Tổ chức triển lãm tranh cổ động tấm lớn (80 mẫu tranh) kỷ niệm 93 năm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03/02/1930 - 03/02/2023), mừng xuân Quý Mão năm 2023 tại Quảng trường Nguyễn Tất Thành, thành phố Tuyên Quang. Tiếp tục đẩy mạnh phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” gắn với chương trình xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh được triển khai; tổ chức Hội báo Xuân Quý Mão 2023; tuyên truyền, tổ chức các hoạt động mừng Đảng, mừng Xuân Quý Mão, năm 2023; thực hiện công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và tuyên truyền, vận động đồng bào dân tộc thiểu số giai đoạn 2022-2025 trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang. Đón trên 110 đoàn khách; phục vụ trên 14.000 lượt khách thăm quan tại Khu di tích lịch sử Tân Trào, Khu di tích lịch sử Kim Quan, Khu di tích lịch sử quốc gia đặc biệt Đại hội II của Đảng tại Kim Bình, Quảng trường Nguyễn Tất Thành.Đẩy mạnh tuyên truyền, vận động nhân dân và các cơ quan, đơn vị ra quân vệ sinh môi trường, chỉnh trang đô thị nhân dịp đón Tết Dương lịch và Tết Nguyên đán Quý Mão năm 2023. Trong đó, chú trọng công tác tuyên truyền, cổ động, treo băng zôn, cờ rực rỡ ở các tuyến phố. Đồng thời, tuyên truyền vận động các hộ kinh doanh sửa sang cửa hàng, bật đèn chiếu sáng, đèn trang trí, đặc biệt các hộ kinh doanh ăn uống thực hiện nghiêm các quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm, phòng chống cháy nổ; tham gia tổng vệ sinh đường phố, khu dân cư... tạo cảnh quan sạch đẹp đón chào năm mới.- Về thể dục thể thao: Tổ chức các hoạt động thể thao mừng Đảng, mừng Xuân; tổ chức các giải thi đấu thể thao cấp tỉnh năm 2023, giải bóng chuyền hơi toàn tỉnh năm 2023.6. Một số hoạt động khácTrong tháng, tỉnh hoàn thành triển khai thực hiện đợt cao điểm “90 ngày, đêm” triển khai các giải pháp bảo đảm hoàn thành các chỉ tiêu phục vụ triển khai quy định của Luật Cư trú năm 2020 về việc Sổ hộ khẩu, Sổ tạm trú hết giá trị sử dụng sau ngày 31/12/2022 và tăng cường đẩy mạnh triển khai thực hiện Đề án 06 của Chính phủ. Theo đó, lực lượng Công an các cấp đảm bảo dữ liệu dân cư “Đúng, đủ, sạch, sống”, cấp Căn cước công dân, tài khoản định danh điện tử, “làm sạch” các dữ liệu chuyên ngành… Các chỉ tiêu được phân loại, rà soát, giao chỉ tiêu, tiến độ hoàn thành đến từng đơn vị cấp xã, phường, thị trấn; các tổ công tác cấp Căn cước công dân lưu động được thành lập; tăng cường, điều chuyển thiết bị, bố trí nhân lực cho các đơn vị còn nhiều chỉ tiêu đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ. Kết quả: Tổ chức thu nhận hồ sơ cấp Căn cước công dân cho 53.852 trường hợp, đạt 99,94% (còn lại 31 trường hợp do công dân già yếu, mắc bệnh hiểm nghèo, tai biến, bị tâm thần…); tổng số hồ sơ định danh điện tử mức 2 đã được thu nhận là 168.411 hồ sơ, tính đến ngày 28/12/2022 tổng kích hoạt mức 2 đạt 52,81%, kích hoạt mức 1 đạt 20,03%, xếp hạng thứ 5 trên toàn quốc về chỉ tiêu đăng ký, kích hoạt tài khoản định danh điện tử,…7. Tình hình an toàn giao thông và phòng chống cháy, nổ7.1. Về an toàn giao thôngTháng 01 năm 2023, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 10 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 02 người và làm bị thương 08 người.So với cùng kỳ năm trước: Số vụ tai nạn giao thông tăng 25%; số người bị thương tăng 14,29%; số người chết giảm 33,33%.7.2. Về cháy, nổTrong tháng trên địa bàn tỉnh không xảy ra vụ cháy, nổ nào.CỤC THỐNG KÊ TUYÊN QUANG

Tình hình kinh tế - xã hội tháng 10 năm 2022 tỉnh Tuyên Quang
  •   10/11/2025 22:15

I. PHÁT TRIỂN KINH TẾ  1. Về sản xuất nông nghiệp (tính đến ngày 15/8/2022)1.1. Trồng trọt 1.1.1. Sản xuất vụ mùa năm 2022Cây lúa: Toàn tỉnh đã thu hoạch được 20.720,4 ha, đạt 83,7% so với diện tích lúa đã cấy. Trong đó, một số địa phương có diện tích thu hoạch sớm như: Huyện Lâm Bình, Yên Sơn, Hàm Yên, Chiêm Hóa, Sơn Dương, Na Hang; cây ngô thu hoạch được 3.173,8 ha, đạt 66,3% so với diện tích đã trồng; cây đậu tương thu hoạch 240,8 ha, đạt 96,59%; cây lạc thu hoạch 666,8 ha, đạt 57,72%.1.1.2 Về sản xuất vụ đông Tiến độ đến ngày 15/10/2022 các địa phương trong tỉnh bà con nông dân đã gieo trồng được một số cây trồng vụ đông trên đất ruộng 2 vụ, kết quả cụ thể như sau:- Cây ngô đã trồng được 5.258 ha, đạt 109,9% kế hoạch;- Cây ngô thức ăn gia súc trồng được 1.880 ha;- Cây khoai lang trồng được 2.149,7 ha. 1.2. Về chăn nuôi 1.2.1. Về số lượng đàn gia súc, gia cầmĐàn trâu tổng đàn hiện có 90.356 con, giảm 2,0% (giảm 1.842 con) so với cùng kỳ năm 2021; đàn bò ước đạt 38.420 con, tăng 4,11% (tăng 1.518 con); đàn lợn ước đạt 556.298 con, tăng 2,24% (tăng 12.195 con); đàn gia cầm ước đạt 6.829,69 nghìn con, tăng 4,83% (tăng 314,52 nghìn con).1.2.2. Về sản phẩm đàn gia súc, gia cầm trong thángĐàn trâu sản lượng xuất chuồng ước đạt 534,25 tấn, giảm 2,06% (giảm 11,22 tấn) so với cùng kỳ năm 2021; đàn bò đạt 80,95 tấn, tăng 3,45% (tăng 2,7 tấn); đàn lợn đạt 4.943,47 tấn, tăng 6,35% (tăng 295,16 tấn); đàn gia cầm đạt 1.562,76 tấn, tăng 7,17% (tăng 104,49 tấn).1.2.3. Công tác phòng chống dịch bệnh gia súc, gia cầma. Công tác phòng chống và điều trị- Trong tháng, trên địa bàn các huyện, thành phố rải rác xuất hiện các bệnh Tụ huyết trùng; ký sinh trùng, chướng bụng đầy hơi, sán lá gan (đàn trâu ,bò, tiêu chảy, lép tô, phân trắng lợn con (đàn lợn); Niucatson, THT, cầu trùng…(đối với đàn gia cầm. Các Trạm Chăn nuôi và Thú y huyện, thành phố đã tiếp tục tăng cường công tác kiểm tra, theo dõi và giám sát chặt chẽ tình hình dịch bệnh, tăng cường công tác phòng, chống dịch bệnh; thường xuyên theo dõi công tác thú y trên địa bàn.  - Bệnh Dịch tả lợn Châu Phi xuất hiện rải rác trên địa bàn 04 thôn với 04 hộ với tổng số lợn mắc bệnh buộc tiêu hủy 56 con, tương đương trên 3.360 kg lợn hơi.b. Công tác tiêm phòngTrong tháng các huyện, thành phố trong tỉnh tiếp tục thực hiện công tác tiêm phòng bổ sung cho đàn gia súc, gia cầm, kết quả tiêm phòng như sau: Đàn trâu LMLM: 24.680 con, THT: 20.200 con; đàn bò LMLM: 8.200 con, THT: 27.957 con; đàn lợn LMLM: 9.000 con, THT: 116.000, Dịch tả: 116.000 con.1.2.4. Công tác kiểm dịch vận chuyển và công tác kiểm soát giết mổ- Các Trạm Kiểm dịch động vật: Đã kiểm tra 194 lượt phương tiện vận chuyển, trong đó: 194 chuyến vận chuyển 27.167 con, trong đó: 16.317 con lợn, 10.800 con gia cầm.- Công tác kiểm soát giết mổ và kiểm tra vệ sinh thú y: Trung tâm Dịch vụ nông nghiệp các huyện, thành phố duy trì công tác kiểm soát giết mổ trên địa bàn, đã kiểm tra, đóng dấu: 161 con trâu, bò 4.316 con lợn.1.3. Về sản xuất lâm nghiệp1.3.1. Công tác trồng rừng Trong tháng, trên địa bàn tỉnh liên tục có mưa, thời tiết thuận lợi cho việc trồng rừng; vì vậy, các địa phương trong tỉnh, đã tích cực triển khai công tác trồng rừng chính vụ và trồng cây phân tán, tiến độ trồng rừng đạt cao so với kế hoạch; đã trồng được 44,64 ha rừng trồng tập trung, nâng tổng số diện tích rừng trồng tập trung đạt 11.090,58 ha, tăng 0,76% so cùng kỳ năm 2021. Các huyện, thành phố tiếp tục tuyên truyền, vận động nhân dân tích cực tham gia thực hiện kế hoạch trồng rừng năm 2022; các ngành chức năng tăng cường công tác kiểm tra, kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm những trường hợp lấn chiếm, sử dụng đất lâm nghiệp sai mục đích trên địa bàn quản lý.1.3.2. Khai thác gỗ rừng trồngTrong tháng, đã khai thác được 75.383,1 m3 gỗ¬, nâng tổng số gỗ khai thác đạt 897.929,6 m3, tăng 8,89% so với cùng kỳ năm 2021.1.3.3. Công tác quản lý bảo vệ rừngTheo báo cáo của Chi cục Kiểm lâm tỉnh, trong tháng trên địa bàn tỉnh không xảy ra vụ cháy rừng nào; Số vụ chặt phá rừng 1 vụ, diện tích rừng bị chặt phá 0,14 ha. Đã xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng, đã kiểm tra, phát hiện và xử lý tịch thu 2 phương tiện và 1,51 m3 gỗ các loại; phạt hành chính và bán thanh lý tài sản 64,25 triệu đồng (đã thu nộp ngân sách 35,25 triệu đồng).2. Sản xuất công nghiệp2.1. Chỉ số phát triển công nghiệp - Chỉ số sản xuất công nghiệp trong tháng giảm 0,58% so với cùng kỳ, tăng 14,6% so với tháng trước, cụ thể như sau: Ngành khai khoáng tăng 17,65%, giảm 1,76%; công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 0,78%, tăng 19,2%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 32,91%, giảm 3,75%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí giảm 4%, giảm 1,2%.- Tính chung 10 tháng, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 9,02% so với cùng kỳ năm trước, chia theo từng ngành kinh tế cấp I như sau:+ Ngành khai khoáng tăng 25,97%, nguyên nhân: Sản lượng khai thác ba rít tăng cao so cùng kỳ, do các doanh nghiệp có hoạt động khai thác, chế biến đẩy mạnh phát triển quy mô sản xuất và nâng cao công suất khai thác.+ Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 8,11%, nguyên nhân: Do một số ngành chế biến tăng như: Sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 55,99%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế) tăng 26,57%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 41,11%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 36,88%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 55,28%,...+ Ngành sản xuất và phân phối điện tăng 9,99%, có tăng trưởng cao do lượng mưa từ đầu năm ổn định, các hồ thủy điện tích trữ nước tốt, đảm bảo cho hoạt động sản xuất và phân phối điện; bên cạnh đó, ngành điện đã triển khai và đưa vào vận hành các công trình đầu tư xây dựng theo đúng tiến độ, đảm bảo cung cấp điện liên tục, ổn định, an toàn, phục sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, hộ kinh doanh, các hoạt động chính trị - xã hội của tỉnh và sinh hoạt của nhân dân trên địa bàn tỉnh.+ Ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 19,02%, nguyên nhân: Do nhu cầu sử dụng nước sinh hoạt và sản xuất của các công ty ngày càng tăng, chất lượng nước, chất lượng dịch vụ cung ứng được nâng lên, đã cơ bản đáp ứng được nhu cầu của người dân và doanh nghiệp.2.2. Sản phẩm công nghiệp chủ yếu - Trong tháng, một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng so với cùng kỳ năm trước như: Điện thương phẩm đạt 96 triệu Kwh, tăng 1,06%; điện sản xuất đạt 99 triệu Kwh, tăng 3,7%; chè chế biến đạt 1.510 tấn, tăng 54,08%; bột ba rít đạt 1.800 tấn, tăng 41,34%; bột felspat đạt 25.600 tấn, tăng 66,93%; xi măng đạt 120.000 tấn, tăng 6,05%; gỗ tinh chế đạt 8.522 m3, tăng 114,36%,... Tuy nhiên, cũng có một số sản phẩm công nghiệp giảm so với cùng kỳ như: Giấy đế xuất khẩu đạt 850 tấn, giảm 47,57%; thép cây, thép cuộn đạt 7.000 tấn, giảm 79,99%;...3. Kết quả thu ngân sách nhà nước- Tổng thu nội địa trong tháng ước thực hiện là 280 tỷ đồng, lũy kế đạt 2.091,2 tỷ đồng, đạt 77,5% dự toán, tăng 7,6% so với cùng kỳ.- Số thu nội địa trừ tiền sử dụng đất và xổ số ước thực hiện là 248,3 tỷ đồng, lũy kế đạt 1.665,5 tỷ đồng, đạt 76,4% dự toán, tăng 4,1% so cùng kỳ.4. Vốn đầu tưNăm 2022, tỉnh được phê duyệt kế hoạch đầu tư vốn đầu tư công là 4.048,8 tỷ đồng, tăng 23,29% so với năm 2021, trong đó: vốn theo kế hoạch năm 2022 là 3.988,86 tỷ đồng; Vốn năm 2021 kéo dài sang năm 2022 là 59,94 tỷ đồng. Tính đến ngày 14/10/2022, tổng số vốn đã giải ngân được 2.141,55 tỷ đồng, đạt 52,89% kế hoạch, nằm trong nhóm những tỉnh có kết quả giải ngân cao của cả nước, trong đó: Nguồn vốn kế hoạch năm 2022 giải ngân được 2.105,46 tỷ đồng, đạt 52,78%; nguồn vốn năm 2021 kéo dài thời gian thực hiện và giải ngân sang năm 2022 giải ngân được 36,09 tỷ đồng, đạt 60,21%.5. Thương mại và Dịch vụ5.1. Doanh thu bán lẻ hàng hóa, dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch và dịch vụ khác5.1.1. Doanh thu bán lẻ hàng hóa - Tổng mức bán lẻ hàng hóa trong tháng ước đạt 2.174,2 tỷ đồng, tăng 2,46% so với tháng trước, tăng 21,64% so với cùng kỳ. Một số nhóm hàng hóa chính là: Hàng may mặc đạt 112,4 tỷ đồng, tăng 2,91%, tăng 6,11%; đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình đạt 283 tỷ đồng, tăng 5,76%, tăng 66,67%; gỗ và vật liệu xây dựng đạt 254,5 tỷ đồng, tăng 2,13%, tăng 49,39%; xăng, dầu các loại đạt 333,4 tỷ đồng, tăng 5,29%, tăng 127,94%,…- Tính chung 10 tháng, tổng mức bán lẻ hàng hóa đạt 17.899,5 tỷ đồng, tăng 15,15% so với cùng kỳ, trong đó một số nhóm hàng hóa tăng là: Hàng may mặc đạt 1.014,4 tỷ đồng, tăng 18,22%; đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình đạt 1.854,2 tỷ đồng, tăng 19,18%; gỗ và vật liệu xây dựng đạt 2.185,9 tỷ đồng, tăng 49,39%; xăng, dầu các loại đạt 2.512,6 tỷ đồng, tăng 101,3%,... Tuy nhiên, còn có một số nhóm hàng giảm như: Vật phẩm, văn hoá, giáo dục đạt 215,4 tỷ đồng, giảm 24,4%; ô tô con (dưới 9 chỗ ngồi) đạt 347,7 tỷ đồng, giảm 1,31%; phương tiện đi lại, trừ ô tô con (kể cả phụ tùng) đạt 495,5 tỷ đồng, giảm 14,22%,…5.1.2. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ khác- Trong tháng, doanh thu nhóm dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 180,2 tỷ đồng, tăng 2,06% so với tháng trước, tăng 25,24% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Doanh thu dịch vụ lưu trú ước đạt 16 tỷ đồng, giảm 0,83%, tăng 43,31%; dịch vụ ăn uống ước đạt 164,1 tỷ đồng, tăng 2,35%, tăng 23,72%. Tính chung 10 tháng, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 1.470 tỷ đồng, tăng 25,95%.- Doanh thu du lịch lữ hành trong tháng ước đạt 400 triệu đồng, giảm 11,11% so với tháng trước, tăng 336,68% so với cùng kỳ; tính chung 10 tháng, doanh thu du lịch lữ hành ước đạt 2.050 tỷ đồng, tăng 151,78% so với cùng kỳ năm trước.- Doanh thu nhóm dịch vụ khác trong tháng ước đạt 92,4 tỷ đồng, tăng 6,45% so với tháng trước, tăng 49,92% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Kinh doanh bất động sản đạt 5,1 tỷ đồng, giảm 0,43%, tăng 71,52%; dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ đạt 14,9 tỷ đồng, tăng 3,27%, giảm 1,96%; y tế và hoạt động trợ giúp xã hội đạt 3,7 tỷ đồng, tăng 5,52%, tăng 159,04%,... Tính chung 10 tháng, nhóm dịch vụ khác ước đạt 657 tỷ đồng, tăng 38,31%.5.2. Xuất, nhập khẩu hàng hóaTrong tháng Mười, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa ước đạt 14,9 triệu USD, giảm 52,24% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 10 tháng, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa ước đạt 209,3 triệu USD, giảm 9,86% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, xuất khẩu ước đạt 136,4 triệu USD; nhập khẩu ước đạt 72,9 triệu USD, cụ thể như sau:- Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu trong tháng ước đạt 8,9 triệu USD, giảm 57,82% so với tháng cùng kỳ năm trước, trong đó: Nhóm chè xuất khẩu đạt 250 tấn, giảm 16,94%; giấy đế xuất khẩu được 450 tấn, tăng 116,34%; hang dệt may đạt 390 nghìn sản phẩm, giảm 68,03%; đũa gỗ xuất khẩu đạt 2.200 nghìn đôi, giảm 60%,...Tính chung 10 tháng, ước đạt 136,4 triệu USD, giảm 4,68% so với cùng kỳ năm trước. Một số nhóm hàng có sản phẩm xuất khẩu 10 tháng đầu năm đạt mức tăng trưởng cao so với cùng kỳ như: Giấy in viết, photo thành phẩm đạt 2.440 tấn, tăng 336,4%; hàng dệt, may đạt 12.290 nghìn sản phẩm, tăng 2,9%; atimony thỏi đạt 143 tấn, tăng 40,1%;…. Bên cạnh đó, một số nhóm hàng có kim ngạch xuất khẩu giảm so với cùng kỳ: Chè xuất khẩu đạt 981 tấn, giảm 62,84%; bột barit đạt 374 tấn, giảm 94,41%; đũa gỗ xuất khẩu đạt 27.180 nghìn đôi, giảm 51,57%; giấy đế xuất khẩu đạt 3.238 tấn, giảm 2,38%,...- Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa trong tháng ước đạt 6 triệu USD, giảm 40,59% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 10 tháng, ước đạt 72,9 triệu USD, giảm 18,18%,...5.4. Giá cả thị trường trong tháng- Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trong tháng giảm 0,18% so với tháng trước, tăng 5,24% so với cùng kỳ năm trước và tăng 5,21% so với tháng 12 năm trước. Tính chung 10 tháng đầu năm, tăng 1,8% so với cùng kỳ.Trong tháng có 5/11 nhóm hàng có chỉ số CPI tăng so với tháng trước, trong đó: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,25%, (giá thực phẩm tăng 0,25%; giá lương thực tăng 0,25%; ăn uống ngoài gia đình giữ nguyên so với tháng trước), do nhu cầu tiêu thụ các mặt hàng lương thực, thực phẩm tăng do các hoạt động Lễ hội, cưới hỏi, ăn uống ngoài gia đình diễn ra bình thường sau khoảng thời gian bị hạn chế cũng là nguyên nhân làm mức tiêu thụ thực phẩm tăng cao; nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,16%, do nhu cầu tiêu thụ các mặt hàng nước khoáng, nước ngọt và thuốc lá tăng; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,12%, do trong tháng xuất hiện các đợt không khí lạnh đã khiến nhu cầu mua sắm quần áo ấm của người dân tăng; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,05%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,05%,… Có 3/11 nhóm hàng có chỉ số CPI giảm so với tháng trước: Nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 0,23%, do giá điện sinh hoạt giá điện sinh hoạt và giá gas và các loại chất đốt điều chỉnh giảm do ảnh hưởng của thị trường trong nước và thế giới; nhóm giao thông giảm mạnh 2,08%, do giá xăng, dầu tiếp tục điều chỉnh tăng - giảm đan xen vào 2 kỳ ngày 11/10 và ngày 21/10 (giá xăng giảm 6,13%, dầu diezen giảm 0,61%); văn hóa giải trí và du lịch giảm 0,1%.Có 3/11 nhóm giữ nguyên so với tháng trước là nhóm thuốc và dịch vụ y tế; giáo dục; bưu chính viễn thông.- CPI bình quân 10 tháng năm nay tăng 1,8% so với bình quân 10 tháng năm trước, trong đó một số nhóm hàng tăng cao: Nhóm giao thông tăng 11,56%; giáo dục tăng 8,32%; văn hóa giải trí và du lịch tăng 3,66%. Các nhóm có chỉ số CPI tăng nhẹ: May mặc, mũ nón, giày dép tăng 1,45%; nhà ở điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 1,8%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,24%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,3%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,49%. Có 2/11 nhóm hàng CPI bình quân 10 tháng giảm so với bình quân cùng kỳ: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 1,79%; bưu chính viễn thông giảm 0,2%. - Chỉ số giá vàng tháng Mười tăng 1,86% so với tháng trước, giảm 5,55% so với tháng 12 năm trước và giảm 4,1% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân 10 tháng năm 2022, chỉ số giá vàng giảm 0,85% so với bình quân cùng kỳ năm trước. - Chỉ số giá đô la Mỹ tháng Mười tăng 2,07% so với tháng trước, tăng 5,16% so với tháng 12 năm trước và tăng 5,89% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân 10 tháng năm 2022, chỉ số giá đô la Mỹ tăng 1,11% so với bình quân cùng kỳ năm trước.6. Vận tải hàng hóa và hành khách 6.1. Doanh thu vận tải tải kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải - Ước tính doanh thu từ vận tải kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải trong tháng đạt 282,9 tỷ đồng, giảm 0,15% so với tháng trước, tăng 19,93% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Doanh thu vận tải hành khách ước đạt 46,6 tỷ đồng, giảm 10,9% và tăng 10,34%; doanh thu vận tải hàng hóa đạt 235,7 tỷ đồng, tăng 2,28% và tăng 21,92%; dịch vụ hỗ trợ vận tải kho bãi đạt 0,29 tỷ đồng, tăng 6,45% và tăng 42,91%,...- Tính chung trong 10 tháng, doanh thu vận tải kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 2.423,7 tỷ đồng, tăng 19,11% so với cùng kỳ. Trong đó: Doanh thu vận tải hành khách đạt 409,5 tỷ đồng, tăng 4,62%; doanh thu vận tải hàng hóa đạt 2.010,8 tỷ đồng, tăng 22,49%; dịch vụ hỗ trợ vận tải kho bãi đạt 2,4 tỷ đồng, tăng 27,87%;… 6.2. Vận tải hành khách và hàng hóa- Khối lượng hành khách vận chuyển trong tháng ước đạt 735 nghìn hành khách, giảm 9,77% so với tháng trước và tăng 7,63% so với cùng kỳ; khối lượng hành khách luân chuyển ước đạt 61.512 nghìn lượt hành khách.km, giảm 7,99% và tăng 0,46%. Tính chung trong 10 tháng, khối lượng hành khách vận chuyển ước đạt 6.496 nghìn hành khách, tăng 2,21% so với cùng kỳ; khối lượng hành khách luân chuyển ước đạt 583.320 nghìn lượt hành khách.km, tăng 1,75%.- Khối lượng hàng hóa vận chuyển trong tháng ước đạt 1.525 nghìn tấn, tăng 3,45% so với tháng trước và tăng 8,09% so với cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 96.205 nghìn tấn.km, tăng 1,32% và tăng 10,02%. Tính chung 10 tháng, khối lượng hàng hóa vận chuyển ước đạt 12.376 nghìn tấn, tăng 6,17% so với cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 791.111 nghìn tấn.km, tăng 5,52%.7. Về du lịch Trong tháng, đã thu hút được 138.000 lượt khách du lịch; tổng thu từ khách du lịch đạt 134 tỷ đồng (nâng tổng số 10 tháng đầu năm 2022, thu hút 2.260.000 lượt, đạt 99% kế hoạch, tăng 20% so với cùng kỳ; tổng thu từ du lịch 2.306 tỷ đồng, đạt 98% kế hoạch, tăng 36,7% so với cùng kỳ).II. LĨNH VỰC VĂN HÓA - XÃ HỘI 1. Về lao động việc làm, giáo dục nghề nghiệpVới những yếu tố thuận lợi như: tình hình bệnh Covid -19 dần được kiểm soát, các hoạt động trong lĩnh vực du lịch được khôi phục, nhiều chương trình kết nối cung cầu, giao thương được tổ chức, hoạt động sản xuất, kinh doanh của người dân và doanh nghiệp đang dần phục hồi... đã tác động tích cực đến thị trường lao động việc làm trên địa bàn tỉnh tiếp tục trên đà phục hồi. Trong tháng toàn tỉnh tạo việc làm cho 1.656 lao động; lũy kế 10 tháng năm 2022, đã tạo việc làm cho 21.230 lao động; đạt 98,7% kế hoạch, tăng 5,1% so với cùng kỳ, trong đó, tạo việc làm trong các ngành kinh tế tại tỉnh 14.329 người, đạt 98,6%; lao động đi làm việc tại các tỉnh, thành phố trong nước 6.287 người, đạt 96,7%; lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng 614 người, đạt 130,6%.2. Công tác đảm bảo chế độ chính sách và an sinh xã hội2.1. Công tác đối với người có công với cách mạng - Duy trì thực hiện đầy đủ, kịp thời các chế độ, chính sách đối với người có công với cách mạng và thân nhân người có công; đẩy mạnh thực hiện các phong trào, hoạt động "đền ơn, đáp nghĩa", "uống nước nhớ nguồn", chú trọng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần đối với người có công.- Triển khai điều chỉnh trợ cấp đối với 91 người theo quy định về chế độ đối với cán bộ, chiến sĩ Công an tham gia kháng chiến chống Mỹ có dưới 20 năm công tác đã xuất ngũ về địa phương; thẩm định giải quyết chế độ cho 12 học sinh, sinh viên là con của người có công với cách mạng.2.2. Công tác giảm nghèo, bảo trợ xã hội và phòng chống các tệ nạn xã hội- Ban Chỉ đạo giảm nghèo các cấp đã triển khai công tác rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo và xác đinh hộ làm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp có mức sống trung bình năm 2022 trên địa bàn tỉnh. - Các huyện, thành phố thường xuyên rà soát, nắm chắc tình hình đời sống nhân dân, hỗ trợ kịp thời các hộ bị thiệt hại, gặp khó khăn do mưa lũ, hỏa hoạn, tai nạn rủi ro; duy trì chi trả trợ cấp thường xuyên cho trên 36.000 đối tượng bảo trợ xã hội tại cộng đồng. Nhân dịp Tháng hành động vì người cao tuổi và ngày Quốc tế người cao tuổi 01/10, các ngành thành viên Ban Công tác người cao tuổi tỉnh tỉnh đã thăm và trao tặng 67 suất quà người cao tuổi tiêu biểu.- Cơ sở cai nghiện ma túy tăng cường công tác quản lý đối tượng cai nghiện; tăng cường công tác điều trị, quản lý cai nghiện, tổ chức lao động sản xuất cho học viên phù hợp với điều kiện thực tế, kiên quyết xử lý nghiêm học viên lợi dụng tham gia lao động để sử dụng trái phép chất ma túy; tổ chức tiếp nhận 13 người nghiện ma tuý vào cai nghiện (cai nghiện bắt buộc 12 người, cai tự nguyện 01 người); cấp giấy chứng nhận hoàn thành cai nghiện cho 09 học viên; tiếp tục duy trì quản lý 125 học viên cai nghiện ma túy.3. Hoạt động giáo dục và đào tạoTỉnh đã tổ chức Lễ tuyên dương học sinh, sinh viên vượt khó tiêu biểu trên địa bàn tỉnh và trao 50 suất học bổng “Tân Trào tiếp sức đến trường”, mỗi suất trị giá 2 triệu đồng cho 50 tân sinh viên có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn tỉnh trúng tuyển đại học năm 2022; tuyên dương, khen thưởng 185 học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn vươn lên trong học tập năm học 2021-2022; trao sổ tiết kiệm cho 5 học sinh, sinh viên có hoàn cảnh đặc biệt.Tiếp tục thực hiện chương trình Giáo dục phổ thông 2018 đối với lớp 7, lớp 10 trong năm học mới 2022-2023. Các trường học đã chủ động triển khai hiệu quả các giải pháp nâng cao chất lượng dạy và học, thực hiện tốt công tác tuyên truyền, tập huấn cho cán bộ, giáo viên trong việc đổi mới phương pháp dạy học, đánh giá học sinh,..đẩy mạnh công tác tuyên truyền đến học sinh, phụ huynh và nhân dân để tạo sự đồng thuận khi thực hiện chương trình mới. Cùng với đó là tiếp tục triển khai, thực hiện nghiêm các quy định, hướng dẫn về công tác phòng, chống dịch Covid-19, đặc biệt là việc tiêm vắc-xin phòng Covid-19 đối với học sinh thuộc các lứa tuổi.4. Hoạt động y tế Về tình hình tiêm chủng vắc xin Covid-19 tính đến ngày 20/10/2022: Cộng dồn từ đợt 01 đến nay đã tiêm 2.163.424 mũi tiêm; trong đó: mũi 01: 699.069 người; mũi 02: 663.305 người; mũi 03: 510.478 người; mũi 04: 211.460 người.+ Tiêm cho người từ 18 tuổi trở lên tỷ lệ tiêm mũi 1 là 99,9%; tiêm đủ 2 mũi là 99,5%; tỷ lệ tiêm mũi 3 là 89,5%; hoàn thành tiêm mũi 4 cho các đối tượng ưu tiên, số người được tiêm mũi 04 là 211.460 người.+ Tiêm cho trẻ từ 12 đến dưới 18 tuổi: Tỷ lệ tiêm mũi 1 đạt trên 99,3%; tiêm đủ 02 mũi đạt 100%; tỷ lệ tiêm mũi 3 là 69,8%, tỷ lệ tiêm mũi 3 cao nhất là Yên Sơn (đạt 80,4%) thấp nhất là Chiêm Hóa (đạt 64,1%).+ Tiêm cho trẻ từ 05 đến dưới 12 tuổi: Tỷ lệ tiêm mũi 01 đạt 99,5%, tại các huyện, thành phố đạt tỷ lệ trên 85%; tiêm 02 mũi là 64,3%, hiện chưa có phản ứng phụ hoặc tai biến xảy ra.- Tình hình dịch bệnh Sốt xuất huyết trên địa bàn tỉnh có những diễn biến phức tạp. Tính từ cuối tháng 7 đến hết ngày 19 tháng 10, toàn tỉnh đã ghi nhận 909 ca mắc Sốt xuất huyết. Theo đánh giá của ngành Y tế, số ca mắc sốt xuất huyết trên địa bàn tỉnh đã tăng đột biến so với cùng kỳ năm 2021. Hiện dịch sốt xuất huyết tại vẫn diễn biến phức tạp, có nguy cơ bùng phát cao, đặc biệt trong thời tiết giao mùa. Đây là thời điểm thuận lợi để muỗi vằn truyền bệnh sinh sôi, tạo điều kiện cho dịch bùng phát. Tỉnh đã ban hành các văn bản chỉ đạo tăng cường công tác phòng, chống dịch bệnh. Đồng thời, tăng cường đào tạo, tập huấn, nâng cao năng lực giám sát, chẩn đoán, điều trị; phát hiện sớm, xử lý kịp thời các ca bệnh, ổ dịch; tiến hành truy vết, điều tra, quản lý ca bệnh, không để dịch bệnh lây lan ra cộng đồng; tổ chức tốt việc phân luồng, thu dung, cấp cứu, cách ly, chẩn đoán, chăm sóc và điều trị hiệu quả các ca bệnh, tránh lây nhiễm chéo; không để tình trạng thiếu thuốc, trang thiết bị, vật tư, sinh phẩm y tế ở các cơ sở khám chữa bệnh,...Triển khai công tác tuyên truyền bằng nhiều hình thức như: Đăng tải trên website, trên mạng xã hội, qua loa đài, và trên các phương tiện thông tin đại chúng và tại các cơ sở y tế,… khuyến cáo, người dân không chủ quan với bệnh Sốt xuất huyết, đặc biệt khi thấy các triệu chứng đau đầu, sốt, người mệt mỏi rũ rượi, đau họng, buồn nôn… cần đến ngay cơ sở y tế để được khám, tư vấn và điều trị kịp thời.5. Hoạt động văn hoá - thể dục, thể thao- Lĩnh vực văn hoá: Tiếp tục đẩy mạnh phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” gắn với chương trình xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh.- Về thể dục thể thao: Tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động ''Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại'' và các phong trào thể thao quần chúng và thể thao thành tích cao; chuẩn bị các điều kiện tổ chức giải Pencaksilat các Câu lạc bộ tỉnh Tuyên Quang năm 2022; tham gia thi đấu các môn thi thể thao trong Ngày hội văn hoá dân tộc Dao toàn quốc lần thứ II tại tỉnh Thái Nguyên, kết quả đạt: 01 huy chương Vàng và 05 huy chương Đồng môn Đẩy gậy, 01 huy chương Đồng môn kéo co nữ,...6. Hoạt động khácHưởng ứng Ngày Chuyển đổi số Quốc gia (10-10) tỉnh đã phát động phong trào thi đua chuyển đổi số tỉnh Tuyên Quang đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 và tổ chức lễ ký giao ước thi đua giữa các sở, ban, ngành về chuyển đổi số trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang năm 2022 với nhiệm vụ đẩy mạnh số hóa, góp phần nâng cao thứ hạng của tỉnh trên bảng xếp hạng chỉ số chuyển đổi số, hoàn thiện hệ thống hạ tầng thông tin, kết nối, chia sẻ thông tin, cung cấp dữ liệu phục vụ phát triển số, đổi mới, sáng tạo trong môi trường số, ưu tiên chuyển đổi số một số lĩnh vực như nông nghiệp, giao thông, vận tải và logistic, du lịch,…Tỉnh đã tổ chức Lễ ký kết Thỏa thuận hợp tác về chuyển đổi số với tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông Quân đội (Viettel) trên 6 lĩnh vực chủ yếu: Hợp tác triển khai các giải pháp tạo nền móng chuyển đổi số; Hợp tác phát triển hạ tầng số, nền tảng số; Tư vấn, hợp tác phát triển Chính quyền số; Tư vấn, hợp tác phát triển Kinh tế số; Tư vấn, hợp tác phát triển xã hội số; Tư vấn, hợp tác chuyển đổi số trong một số ngành, lĩnh vực ưu tiên.Nhân dịp kỷ niệm ngày Doanh nhân Việt Nam (13-10), tỉnh đã tổ chức lễ tôn vinh và trao tặng danh hiệu, giải thưởng doanh nhân, doanh nghiệp tiêu biểu lần thứ IV năm 2022. Tại buổi lễ, lãnh đạo tỉnh đã trao tặng danh hiệu và giải thưởng Doanh nhân, Doanh nghiệp tiêu biểu cho 6 doanh nhân và 9 doanh nghiệp.7. Tình hình trật tự, an toàn giao thôngTỉnh đã triển khai đợt cao điểm tuần tra, kiểm soát, xử lý lái xe vi phạm về nồng độ cồn. Theo đó, từ ngày 20-10 đến 14- 2- 2023, lực lượng chức năng sẽ tăng cường tuần tra, kiểm soát trên các tuyến quốc lộ, đường tỉnh, đường huyện, khu vực trung tâm thành phố, trung tâm huyện, tuyến đường thường xảy ra tai nạn giao thông. Qua đó, lực lượng sẽ tập trung kiểm tra, phát hiện, xử lý nghiêm những trường hợp lái xe ô tô chở khách, ô tô tải chở hàng hóa, xe container, xe ô tô kéo rơ moóc, ô tô con... vi phạm về nồng độ cồn và các vi phạm khác theo quy định pháp luật.  Trong tháng, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 08 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 05 người và làm bị thương 04 người. So với cùng kỳ năm trước: Số vụ tai nạn giao thông tăng 700%; số người bị thương tăng 300%.Tính chung 10 tháng, toàn tỉnh đã xảy ra 65 vụ tai nạn giao thông đường bộ, trong đó 64 vụ tai nạn giao thông đường bộ, 01 vụ vụ tai nạn giao thông đường thủy; làm chết 24 người và làm bị thương 52 người. So với cùng kỳ năm trước: Số vụ tai nạn giao thông tăng 3,17%; số người chết tăng 9,09%; số người bị thương giảm 5,45%.8. Thiệt hại do thiên tai, cháy, nổTrong tháng, trên địa bàn tỉnh không xảy ra các đợt thiệt hại do thiên tai và cháy, nổ.CỤC THỐNG KÊ TUYÊN QUANG

Tình hình kinh tế - xã hội tháng 9 và 9 tháng đầu năm 2022 tỉnh Tuyên Quang
  •   10/11/2025 22:11

I. PHÁT TRIỂN KINH TẾ  1. Tài chính, ngân hàng1.1. Tình hình thu, chi ngân sách nhà nước1.1.1. Thu ngân sách nhà nước: Tổng thu ngân sách nhà nước ước thực hiện là 1.898,11 tỷ đồng, đạt 68,18% dự toán năm, tăng 7,11% so với cùng kỳ. Trong đó thu nội địa ước thực hiện là 1.855,15 tỷ đồng, đạt 68,71% so với dự toán giao, tăng 8,73%. 1.1.2. Chi ngân sách nhà nước: Tổng chi ngân sách nhà nước là 8.537,18 tỷ đồng, đạt 78,09% dự toán, tăng 122,05% so với cùng kỳ. Trong đó: Chi đầu tư phát triển là 1.596,7 tỷ đồng, đạt 119,07%, giảm 26,83%; chi thường xuyên là 3.902,1 tỷ đồng, đạt 59,42%, tăng 10,84%,...1.2. Hoạt động tín dụng ngân hàng- Về hoạt động huy động vốn: Nguồn vốn huy động tại địa phương ước thực hiện đến 30/9/2022 là 25.390 tỷ đồng; so với 31/12/2021 tăng 1.475 tỷ đồng (+6,2%).- Về đầu tư tín dụng: Tổng dư nợ ước thực hiện đến 30/9/2022 là 24.610 tỷ đồng; so với 31/12/2021 tăng 2.375 tỷ đồng (+10,7%) cụ thể như sau:+ Dư nợ của các Ngân hàng thương mại là 21.010 tỷ đồng; so với 31/12/2021 tăng 2.014 tỷ đồng (+10,6%).+ Dư nợ của Ngân hàng Chính sách xã hội là 3.600 tỷ đồng; so với 31/12/2021 tăng 362 tỷ đồng (+11,2%).- Chất lượng tín dụng: Nợ xấu của các Ngân hàng đến 30/9/2022 khoảng 360 tỷ đồng, chiếm 1,46% trên tổng dư nợ; so với 31/12/2021 tăng 208 tỷ đồng (+136%).2. Giá cả- Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 9 năm 2022 tăng 1,55% so với tháng trước, tăng 4,06% so với cùng kỳ năm trước. Trong số 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính thì có 06 nhóm tăng giá so với tháng trước, 03 nhóm giảm giá, 02 nhóm giữ giá ổn định (thuốc và dịch vụ y tế; bưu chính viễn thông).Trong 7 nhóm hàng tăng giá, so với tháng trước, bao gồm những nhóm hàng sau: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,19% do thời gian nghỉ lễ Quốc Khánh 2/9 kéo dài 4 ngày và tỉnh đã tổ chức Lễ đón nhận Bằng ghi danh “Thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam" và Lễ hội Thành Tuyên năm 2022 đã thu hút đông đảo người dân và du khách thập phương nên nhu cầu về tiêu thụ lương thực, thực phẩm và ăn uống ngoài gia đình tăng theo; nhóm may mặc, mũ nón và giày dép tăng 0,13% do bước vào đầu năm học mới nên nhu cầu nhu cầu mua sắm quần áo may sẵn tăng; nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,09% do thời tiết nắng nóng nhu cầu sử dụng nước sinh hoạt tăng; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,04%; nhóm giáo dục có mức tăng cao nhất với mức tăng 44,56% do thực hiện tăng học phí năm học mới 2022-2023 đối với cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông công lập. Bên cạnh đó, chuẩn bị vào năm học mới nên nhu cầu mua sắm sách vở và các dụng cụ học tập tăng. Giá sách giáo khoa tăng 6,55%, văn phòng phẩm và đồ dùng học tập khác tăng 0,03% so với tháng trước; văn hóa giải trí và du lịch tăng 0,08% do nhu cầu đi lại, du lịch của người dân tăng khi dịch bệnh Covid-19 cơ bản đã được kiểm soát.Nhóm giao thông giảm 1,99% là nhóm có mức giảm mạnh nhất do tác động giảm thuế bảo vệ môi trường và giá xăng, dầu điều chỉnh giảm sau các kỳ điều chỉnh theo quyết định điều chỉnh của Tập đoàn xăng dầu Việt Nam về giá bán lẻ xăng, dầu; nhóm đồ uống và thuốc lá giảm 0,17%, nguyên nhân chính là do giá thuốc lá giảm 1,17% so với tháng trước; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác giảm 0,03%,…- CPI bình quân 9 tháng năm 2022 tăng 1,42% so với cùng kỳ năm 2021. Một số nguyên nhân cơ bản đã tác động tăng CPI là những nguyên nhân chủ yếu sau: Nhóm đồ uống, thuốc lá tăng 5,18%; nhóm giao thông tăng 12,93%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 1,94%; văn hóa, giải trí, du lịch tăng 3,55%,…- Chỉ số giá vàng giảm 6,38% so với cùng kỳ năm trước, giảm 7,28% so với tháng 12 năm trước, giảm 2,99% so với tháng trước. Tính chung 9 tháng chỉ số giá vàng giảm 0,49% so với cùng kỳ năm trước. - Chỉ số giá đô la Mỹ tăng 3,69% so với cùng kỳ năm trước, tăng 3,03% so với tháng 12 năm trước, tăng 0,78% so với tháng trước. Tính chung 9 tháng chỉ số giá đô la Mỹ tăng 0,59% so với cùng kỳ năm trước. 3. Vốn đầu tư và xây dựng 3.1. Tình hình thực hiện vốn đầu tư 3.1.1. Vốn đầu tư phát triển toàn xã hộiTính chung 9 tháng đầu năm 2022 ước đạt 9.691,8 tỷ đồng, tăng 25,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Nguồn vốn từ khu vực nhà nước chiếm 27,71% tổng nguồn vốn đầu tư phát triển toàn xã hội, tiếp tục giữ vai trò dẫn dắt tăng trưởng nguồn vốn đầu tư xã hội và là động lực chính cho phục hồi và phát triển kinh tế, do Chính phủ đã dùng nhiều biện pháp thúc đẩy tốc độ giải ngân vốn đầu tư công, tập trung vào cơ sở hạ tầng, đẩy nhanh tiến độ xây dựng các công trình trọng điểm, thu hút nguồn vốn đầu tư của các khu vực kinh tế khác và toàn xã hội; nguồn vốn đầu tư ngoài nhà nước chiếm tỷ trọng lớn nhất chiếm 71,61% tổng nguồn vốn, trong đó vốn của khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước chiếm 26,18%, chứng tỏ khu vực tư nhân sẽ là động lực tăng trưởng chính của tỉnh và đầu tư công có thể là chất xúc tác cho sự tăng trưởng của khu vực này. Hơn nữa, với nguồn lực ngân sách còn hạn chế, để có đủ nguồn lực thúc đẩy phục hồi và tăng trưởng, Chính phủ cần dựa vào sự tham gia của toàn dân, chứ không thể chỉ dựa vào nguồn lực của Chính phủ. Vì vậy, khuyến khích các hoạt động xã hội hóa, đóng góp của doanh nghiệp và người dân chung tay là rất cần thiết hiện nay; nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chiếm tỷ trọng tương đối nhỏ, chiếm 0,68% tổng nguồn vốn,…3.1.2. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước- Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước thực hiện tháng 9 đạt 426 tỷ đồng, tăng 28,6% so với tháng trước; tăng 54,01% so với tháng cùng kỳ năm trước, trong đó: Vốn ngân sách cấp tỉnh đạt 368,8 tỷ đồng, tăng 29,13%, tăng 56,22%; vốn ngân sách cấp huyện đạt 54,4 tỷ đồng, tăng 26,71%, tăng 44,2%; vốn ngân sách cấp xã đạt 2,81 tỷ đồng, tăng 2,36%, tăng 0,36%.- Ước thực hiện 9 tháng đạt 2.134,77 tỷ đồng, tăng 45,55% so với cùng kỳ, trong đó: Vốn ngân sách cấp tỉnh đạt 1.874,68 tỷ đồng, tăng 43,39%; vốn ngân sách cấp huyện đạt 239,22 tỷ đồng, tăng 69,56%; vốn ngân sách cấp xã đạt 20,86 tỷ đồng, tăng 15,02%.3.2. Xây dựng Năm 2022, tỉnh được phê duyệt kế hoạch đầu tư vốn đầu tư công là 4.048,8 tỷ đồng, trong đó: vốn theo kế hoạch năm 2022 là 3.988,86 tỷ đồng; Vốn năm 2021 kéo dài sang năm 2022 là 59,94 tỷ đồng. Tính đến ngày 18/9/2022, tổng số vốn đã giải ngân được 1.778,02 tỷ đồng, đạt 43,91% kế hoạch, nằm trong nhóm những tỉnh có kết quả giải ngân cao của cả nước, trong đó: Nguồn vốn kế hoạch năm 2022 giải ngân được 1.754,88 tỷ đồng, đạt 43,99%; nguồn vốn năm 2021 kéo dài thời gian thực hiện và giải ngân sang năm 2022 giải ngân được 23,14 tỷ đồng, đạt 38,6%.4. Hoạt động của doanh nghiệp4.1. Về tình hình hoạt động của doanh nghiệp- Tính đến ngày 20/9, toàn tỉnh có 8 doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký là 13,87 tỷ đồng, giảm 63,63% về số lượng, giảm 83,72% về tổng số vốn đăng ký so với cùng kỳ; vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp đạt 1,73 tỷ đồng, giảm 55,24% so với cùng kỳ.- Tính chung trong 9 tháng đầu năm 2022, có 211 doanh nghiệp thành lập mới với tổng số vốn đăng ký là 2.036,21 tỷ đồng, tăng 7,1% về số doanh nghiệp, số vốn đăng ký tăng 6,84% so với cùng kỳ, số vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới đạt 9,65 tỷ đồng. - Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp bắt đầu có sự phục hồi. Tính chung trong 9 tháng, số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động là 88 doanh nghiệp, tăng 12,82% so với cùng kỳ. Nâng tổng số doanh nghiệp đang hoạt động trên địa bàn tỉnh là 2.326 doanh nghiệp (bao gồm 11 doanh nghiệp nhà nước và 15 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài) với tổng số vốn đăng ký trên 25.430,25 tỷ đồng; số vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp đạt 10,93 tỷ đồng. - Số doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động là 139 doanh nghiệp, tăng 36,27% (tăng 37 doanh nghiệp so với cùng kỳ). Số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể là 20 doanh nghiệp (giảm 11 doanh nghiệp, giảm 35,48% so với cùng kỳ). 4.2. Điều tra xu hướng kinh doanh ngành công nghiệp chế biến chế tạo trong quý IIIKết quả điều tra về xu hướng kinh doanh của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo nghiệp chế biến, chế tạo trong quý III năm 2022 cho thấy: Số doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh quý III năm nay khả quan hơn quý trước đạt tỷ lệ 39,39%; doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh ổn định đạt tỷ 42,42% và có 18,18% số doanh nghiệp đánh giá gặp khó khăn trong sản xuất kinh doanh. Chỉ số cân bằng của quý III năm 2022 so với quý II là 21,21%. Dự kiến xu hướng kinh doanh quý tiếp theo so với quý hiện tại năm 2022 cho thấy: Có 54,55% số doanh nghiệp đánh giá xu hướng sẽ tốt lên (trong đó có ngành: Sản xuất trang phục; cưa, xẻ, bào gỗ và bảo quản gỗ; Sản xuất sản phẩm khác từ gỗ; sản xuất sắt, thép, gang); 30,30% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh sẽ ổn định (trong đó có ngành: Sản xuất chế biến thực phẩm; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan; sản xuất gỗ dán, gỗ lạng, ván ép và ván mỏng khác; sản xuất giấy và các sản phẩm từ giấy; sản xuất hóa chât và sản phẩm hóa chất; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học); có 15,15% số doanh nghiệp dự báo tiếp tục khó khăn hơn. Dự tính chỉ số cân bằng của quý tiếp theo so với quý hiện tại là 39,39%. 5. Kết quả tình hình sản xuất Nông, lâm nghiệp và thủy sản 9 tháng đầu năm và ước tính cả năm 20225.1. Trồng trọt5.1.1. Cây hàng năm (ước tính cả năm 2022) Diện tích gieo trồng các loại cây hàng năm cả năm 2022 ước tính toàn tỉnh gieo trồng được 90.101,67 ha, giảm 1,92% (giảm 1.763,09 ha) so với cả năm 2021 (Diện tích giảm chủ yếu ở vụ mùa).- Cây lúa: Diện tích gieo trồng được 43.869,43 ha, giảm 0,83% (giảm 365,04 ha). Trong đó: Vụ đông xuân gieo trồng 19.038,77 ha, giảm 0,31% (giảm 58,27 ha); diện tích thu hoạch được 18.988,32 ha, giảm 0,57% (do diện tích lúa tại huyện Chiêm Hóa bị mất trắng trong đợt mưa, ngập úng, nên diện tích thu hoạch giảm 50,45 ha so với diện tích gieo trồng). Vụ mùa gieo trồng được 24.830,66 ha, giảm 1,22% (giảm 306,77 ha); năng suất ước đạt 59,21 tạ/ha, tăng 0,1% (tăng 0,06 tạ/ha). Chia ra: Vụ đông xuân đạt 60,37 tạ/ha, giảm 0,21% (giảm 0,12 tạ/ha); vụ mùa ước đạt 58,44 tạ/ha, tăng 0,54%. Sản lượng ước đạt 259.736,88 tấn, đạt 99,28% (giảm 1.891,28 tấn). Chia ra: Vụ đông xuân đạt 114.633,36 tấn, giảm 0,77% (giảm 893,49 tấn); vụ mùa ước đạt 145.103,52 tấn, giảm 0,68 % (giảm 997,79 tấn).- Cây ngô trồng được 18.406,53 ha, giảm 0,33% (giảm 61,28 ha). Trong đó: Vụ đông xuân 13.622,81 ha, tăng 0,26% (tăng 35,36 ha); vụ mùa 4.783,72 ha, giảm 1,98% (giảm 96,64 ha); năng suất ước đạt 46,37 tạ/ha, tăng 1,79% (tăng 0,82 tạ/ha). Chia ra: Vụ đông xuân ước đạt 46,35 tạ/ha, giảm 0,31% (giảm 0,15 tạ/ha, Vụ mùa ước đạt 46,05 tạ/ha, tăng 0,02% (tăng 0,01 tạ/ha); sản lượng đạt 85.163,23 tấn, giảm 0,55% (giảm 473,03 tấn). Trong đó: Vụ đông xuân đạt 63.135,06 tấn, giảm 0,05% (giảm 33,52 tấn), Vụ mùa ước đạt 22.028,18 tấn, giảm 1,96% (giảm 439,51 tấn).- Cây khoai lang trồng được 2.026,84 ha, giảm 18,81% (giảm 469,65 ha); năng suất ước đạt 62,34 tạ/ha, tăng 1,75% (tăng 1,07 tạ/ha); sản lượng ước đạt 12.669,62 tấn, giảm 18,60% (giảm 2.894,33 tấn). Cây sắn đã trồng 1.757,84 ha, giảm 17,28% (giảm 367,14 ha); năng suất ước đạt 133,25 tạ/ha, giảm 2,38% (giảm 3,25 tạ/ha); sản lượng ước đạt 24.101,89 tấn, giảm 14,89% (giảm 4.215,75 tấn).- Cây mía trồng được 2.257,02 ha, giảm 21,72% (giảm 626,25 ha). Năng suất ước đạt 588,18 tạ/ha, tăng 0,94% (tăng 5,48 tạ/ha). Sản lượng đạt 132.753,26 tấn, giảm 3,24% (giảm 4.447,98 tấn)- Cây có hạt chứa dầu: Cây đậu tương 374,57 ha, tăng 2,25% (tăng 8,23 ha); năng suất đạt 20,33 tạ/ha, tăng 0,16% (tăng 0,03 tạ/ha); sản lượng đạt 761,48 tấn, tăng 2,41% (tăng 17,95 tấn). Cây lạc 4.463,56 ha, giảm 2,31% (giảm 105,43 ha); năng suất đạt 29,07 tạ/ha, giảm 1,29% (giảm 0,38 tạ/ha); sản lượng ước đạt 12.976,18 tấn, giảm 3,56% (giảm 479,03 tấn).5.1.2. Cây lâu nămƯớc 9 tháng năm 2022, tổng diện tích cây trồng lâu năm trên địa bàn tỉnh tăng nhẹ so với cùng kỳ năm trước. Toàn tỉnh hiện có 28.857,17 ha, tăng 0,3% (tăng 85,22 ha) so với cùng kỳ năm 2021. Trong đó: Nhóm cây ăn quả 20.032,87 ha tăng 0,88%; cây ăn quả chứa dầu 78,37 ha tăng 78,56%; cây chè 8.363,21 ha giảm nhẹ 1,22%,…. diện tích một số cây trồng chủ yếu như sau:- Cây ăn quả có múi diện tích hiện có 14.952,58 ha, tăng 0,01%. Trong đó: Cây quýt 148,29 ha, tăng 2,12%; cây chanh 1.170 ha, tăng 2,92%; cây bưởi 5.274,61 ha, tăng 1,71%. Nguyên nhân do một số diện tích cây đã già cỗi, nấm bệnh, 2 kém năng suất nên người dân chuyển đổi luân canh sang nhóm trồng cây khác có giá trị kinh tế cao hơn. Sản lượng các loại quả có múi thuộc họ cam, quýt đạt 9.473,67 tấn tăng hơn so kỳ trước 371,9 tấn.- Diện tích cây nhãn, vải diện tích hiện có 1.221,46 ha, giảm 1,75% (giảm 21,79 ha) so với cùng kỳ năm 2021. Trong đó: Cây nhãn 915,11 ha, giảm 1,51%; cây vải 306,35 ha, giảm 2,48%. Nguyên nhân giảm là do một số diện tích cây đã già cho năng suất thấp cùng với chất lượng quả không cao dẫn đến người dân chặt bỏ, thay vào trồng cây lâu năm khác có hiệu quả kinh tế cao. Cây nhãn sản lượng ước đạt 4.901,73 tấn, giảm 0,66%, cây vải ước đạt 1.769,81 tấn, tăng 2,17%.- Cây chè: Hiện có 8.363,21 ha, giảm 1,22% (giảm 103,64ha) so với cùng kỳ năm 2021. Nguyên nhân giảm là do một số diện tích nhà nước thu hồi để giải phóng mặt bằng chuyển sang mục đích sử dụng khác. Sản lượng ước đạt 60.993,53 tấn, giảm 0,14% so với cùng kỳ năm 2021.5.1.3. Sản xuất vụ đông năm 2022Đến 15/9/2022 toàn tỉnh đã trồng được 1.362,8 ha ngô đạt 28,5% KH. Trong đó: Huyện Sơn Dương trồng được 844,5 ha, đạt 76,5% kế hoạch; Chiêm Hoá 3,3 ha, đạt 0,3%KH; Thành phố Tuyên Quang 95 ha, đạt 44,2%; Hàm Yên 420 ha, đạt 43,3%KH.5.2. Về chăn nuôi 5.2.1. Về số lượng đàn gia súc, gia cầmĐàn trâu hiện có 90.356 con, giảm 2,0% (giảm 1.842 con) so với cùng kỳ năm 2021; đàn bòà 38.420 con, tăng 4,11% (tăng 1.518 con) so với cùng kỳ năm 2021. Trong đó: Bò sữa 5.897 con, tăng 32,49% (tăng 1.446 con); đàn lợn 556.298 con, tăng 2,24% (tăng 12.195 con); đàn gia cầm 6.829.69 nghìn con, tăng 4,83% (tăng 314.52 nghìn con).5.2.2. Về sản phẩm đàn gia súc, gia cầmĐàn trâu sản lượng ước đạt 5.365 tấn, tăng 6,03% so với cùng kỳ năm 2021 (tăng 305 tấn); đàn bò đạt 1.483 tấn, tăng 12,78% (tăng 168 tấn); đàn lợn đạt 45.943 tấn, tăng 8,55% (tăng 3.620 tấn); đàn gia cầm đạt 13.493,60 tấn, tăng 4,59% (tăng 592,46 tấn).5.3. Về sản xuất lâm nghiệp (ước tính có đến ngày 15/9/2022)5.3.1. Kết quả trồng rừng Tính chung 9 tháng toàn tỉnh đã trồng được 11.542,23 ha rừng, đạt 114,28% kế hoạch, trong đó: Trồng rừng tập trung 11.045,94 ha, trồng cây phân tán: 744.44 nghìn cây (quy ha là 496,29 ha).5.3.2. Kết quả khai thác rừng trồngTrong 9 tháng đầu năm 2022 toàn tỉnh đã khai thác được 8.401,93 ha gỗ (chủ yếu là rừng trồng), sản lượng ước đạt trên 822.546 nghìn m3, đạt 73% kế hoạch, sản lượng khai thác tre, nứa đạt 26.748 tấn.5.3.3. Công tác bảo vệ rừng: Công tác quản lý, bảo vệ rừng được các cấp, các ngành quan tâm, đồng thời tuyên truyền, vận động nhân dân tích cực tham gia thực hiện kế hoạch trồng rừng năm 2022. Trong 9 tháng năm 2022 trên địa bàn tỉnh đã không xảy ra vụ cháy rừng nào; số vụ phá rừng 54 vụ, với diện tích 18,84 ha.5.4. Về thuỷ sản Tổng diện tích nuôi trồng thủy sản ước tính là 3.392,56 ha, tăng 1,63% so với cùng kỳ năm 2021. Tổng sản lượng thủy sản ước đạt 8.721,74 tấn, tăng 8,22%, trong đó: Sản lượng khai thác thủy sản ước đạt 999,06 tấn, tăng 14,70%, sản lượng nuôi trồng thủy sản ước đạt 7.722,68 tấn, tăng 7,44%.5.5. Phát động Tết trồng cây “Đời đời nhớ ơn Bác Hồ” Xuân Nhâm Dần 2022Đã tổ chức Lễ phát động Tết trồng cây “Đời đời nhớ ơn Bác Hồ” tại 155 điểm; tổng số lượng cây trồng gồm 202.957 cây gồm các loại Keo, Mỡ, Lát hoa, Quế, Xoan ta và các loài cây bản địa khác, diện tích trồng được 161,406 ha, lực lượng tham gia là 19.622 người.5.6. Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới Tỉnh đã tổ chức Lễ công bố xã Thái Bình, huyện Yên Sơn đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu, đây cũng là xã đầu tiên của tỉnh đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu. Cùng với đó là tổ chức Lễ công bố Quyết định công nhận xã Vinh Quang (huyện Chiêm Hóa), xã Bình Xa (huyện Hàm Yên), xã Hoàng Khai (huyện Yên Sơn), xã Sơn Nam (huyện Sơn Dương), xã Tràng Đà và xã Lưỡng Vượng (thành phố Tuyên Quang) đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao năm 2021; tỉnh cũng ban hành quyết định công nhận 09 xã đạt chuẩn nông thôn mới, gồm: Xã Hợp Thành, Tú Thịnh (huyện Sơn Dương); xã Thái Sơn, Tân Thành (huyện Hàm Yên); Thổ Bình (huyện Lâm Bình); xã Phú Thịnh, Tân Long (huyện Yên Sơn); xã Kiên Đài, Tân An (huyện Chiêm Hóa) đạt chuẩn nông thôn mới năm 2021. Đến thời điểm hiện tại, toàn tỉnh có 54 xã đạt chuẩn nông thôn mới, 7 xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao; 1 xã đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu. Tiếp tục duy trì và giữ vững 19/19 tiêu chí tại các xã đã đạt chuẩn nông thôn mới theo bộ tiêu chí xã nông thôn mới nâng cao và xã nông thôn mới kiểu mẫu giai đoạn 2021 - 2025.Chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP) là chương trình phát triển kinh tế khu vực nông thôn theo hướng phát triển nội lực và gia tăng giá trị với trọng tâm là phát triển sản phẩm nông nghiệp, phi nông nghiệp, dịch vụ có lợi thế ở mỗi địa phương theo chuỗi giá trị, do các thành phần kinh tế tư nhân và kinh tế tập thể thực hiện. Đến nay, toàn tỉnh hiện có 128 sản phẩm được đánh giá, phân hạng, gắn sao. Trong đó, có 33 sản phẩm đạt 4 sao và 95 sản phẩm đạt 3 sao cấp tỉnh. Các sản phẩm OCOP không chỉ mở ra cơ hội phát triển nông nghiệp địa phương mà còn giúp phát triển kinh tế khu vực nông thôn theo hướng gia tăng giá trị nông sản.6. Sản xuất công nghiệp6.1. Về phát triển công nghiệp trong tháng - Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) trong tháng giảm 16,97% so với tháng trước và tăng 0,87% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Ngành khai khoáng tăng 5,48%, tăng 3,8%; công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 14,83%, tăng 5,82%; sản xuất và và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí giảm 29,6%, giảm 19,02%; cung cấp nước và hoạt động thu gom xử lý rác, nước thải giảm 2,39%, tăng 26,38%,...- Sản phẩm công nghiệp chủ yếu trong tháng của tỉnh đạt mức tăng trưởng khá, một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng so với cùng kỳ năm trước như: Điện sản xuất đạt 102 triệu Kw, tăng 13,72%; bột felspat nghiền đạt 26.500 tấn, tăng 27,33%; xi măng đạt 107.000 tấn, tăng 19,37%; giày da đạt 723 nghìn đôi, tăng 60,67%; gỗ tinh chế đạt 4.822 m3, tăng 6,5%;,...Tuy nhiên, cũng có một số sản phẩm công nghiệp giảm so với cùng kỳ như: Điện thương phẩm đạt 102 triệu Kw, giảm 1,02%; chè chế biến đạt 1.727 tấn, giảm 12,69%; thép cây, thép cuộn đạt 12.000 tấn, giảm 48,64%,…6.2. Về phát triển công nghiệp 9 tháng đầu năm 2022- Chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 10,13% so với cùng kỳ năm. Chia theo từng ngành kinh tế cấp I như sau:+ Ngành khai khoáng tăng 26,74% nguyên nhân chính là thị trường tiêu thụ ổn định và nhu cầu tiêu thụ cao, các doanh nghiệp hoạt động khai khoáng, chế biến và sản xuất nguyên vật liệu xây dựng đẩy mạnh khai thác sản lượng tăng cao so cùng kỳ.+ Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục duy trì đà tăng trưởng của toàn ngành với mức tăng 9,35% đây là ngành đóng vai trò chủ chốt, bệ đỡ thúc đẩy sự tăng trưởng chung của toàn ngành. Nguyên nhân chủ yếu do một số sản phẩm chế biến sản xuất tăng như: Giấy, xi măng, chế biến gỗ,... + Ngành sản xuất và phân phối điện khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 10,63%. Nguyên nhân chủ yếu là các tổ máy của nhà máy thủy điện Sông Lô 8A, 8B đã vận hành ổn định và cơ bản chạy hết công suất, nên sản lượng điện tăng cao hơn so với cùng kỳ; một nguyên nhân chính nữa là do lượng mưa từ đầu năm ổn định, các hồ thủy điện tích trữ nước tốt, đảm bảo cho hoạt động sản xuất và phân phối điện; bên cạnh đó, ngành điện đã triển khai và đưa vào vận hành các công trình đầu tư xây dựng theo đúng tiến độ, đảm bảo cấp điện đầy đủ để phục vụ nhu cầu sinh hoạt, sản xuất và tiêu dùng cho người dân và các hoạt động kinh doanh.+ Ngành cung cấp nước và hoạt động thu gom xử lý rác, nước thải tăng 16,64%. Nguyên nhân chính là nhu cầu sử dụng nước sinh hoạt ngày càng tăng cùng với đó là hoạt động thu gom xử lý rác thải không độc hại tăng.- Sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng so với cùng kỳ năm trước như: Điện thương phẩm đạt 901 triệu Kw, tăng 4,17%; điện sản xuất đạt 1.559 triệu Kw, tăng 46,4%; gỗ tinh chế đạt 34.583 m3, tăng 43,28%; may mặc xuất khẩu đạt 19.044 nghìn cái, tăng 22,8%,…Tuy nhiên, một số sản phẩm công nghiệp có chiều hướng giảm so với cùng kỳ như: Đường kính đạt 7.736 tấn, giảm 38,39%; giấy đế xuất khẩu đạt 6.462 tấn, giảm 8,48%; thép cây, thép cuộn đạt 154.135 tấn, giảm 30,22%,…7. Thương mại và Dịch vụ7.1. Doanh thu bán lẻ hàng hóa, dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch và dịch vụ khác7.1.1. Doanh thu bán lẻ hàng hóa - Tổng mức bán lẻ hàng hóa trong tháng ước đạt 2.068.611 triệu đồng, tăng 2,94% so với tháng trước, tăng 14,88% so với cùng kỳ. Một số nhóm hàng hóa chính là: Hàng may mặc đạt 111.789 triệu đồng, tăng 2,82%, tăng 8,1%; đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình đạt 233.040 triệu đồng, tăng 0,11%, tăng 25,04%; gỗ và vật liệu xây dựng đạt 241.863 triệu đồng, tăng 1,66%, tăng 41,69%,... - Tính chung 9 tháng đầu năm, tổng mức bán lẻ hàng hóa đạt 15.671.791 triệu đồng, tăng 13,29% so với cùng kỳ, trong đó một số nhóm hàng hóa tăng là: Lương thực, thực phẩm đạt 5.929.478 triệu đồng, tăng 1,12%; hàng may mặc đạt 904.560 triệu đồng, tăng 20,26%; gỗ và vật liệu xây dựng đạt 1.923.959 triệu đồng, tăng 48,2%; xăng, dầu các loại đạt 2.200.682 triệu đồng, tăng 99,71%,... Tuy nhiên, còn có một số nhóm hàng hóa giảm như: Vật phẩm, văn hoá, giáo dục đạt 176.203 triệu đồng, giảm 29,43%; nhiên liệu khác (trừ xăng dầu) đạt 310.141 triệu đồng, giảm 5,16%; hàng hoá khác đạt 1.128.310 triệu đồng, giảm 9,85%.7.1.2. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ khác- Trong tháng, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 179.990 triệu đồng, tăng 2,85% so với tháng trước, tăng 28,86% so với cùng kỳ, trong đó: Doanh thu dịch vụ lưu trú ước đạt 16.026 triệu đồng, tăng 5,36%, tăng 34,41%; dịch vụ ăn uống ước đạt 163.964 triệu đồng, tăng 2,61%, tăng 28,34%. Tính chung 9 tháng đầu năm doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 1.293.238 triệu đồng, tăng 26,38% so cùng kỳ.- Du lịch lữ hành trong tháng ước đạt 410 triệu đồng, giảm 1,2% so với tháng trước, tăng 381,22% so với cùng kỳ. Tính chung 9 tháng đầu năm doanh thu du lịch lữ hành ước đạt 1.610 triệu đồng, tăng 122,81%.- Doanh thu dịch vụ khác trong tháng ước đạt 83.885 triệu đồng, tăng 7,25% so với tháng trước, tăng 46,02% so với cùng kỳ, trong đó: Doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ đạt 14.815 triệu đồng, tăng 5,64%, tăng 6,87%; dịch vụ giáo dực đào tạo đạt 3.985 triệu đồng, tăng 7%, tăng 46,91%; dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội đạt 3.390 triệu đồng, tăng 3,05%, tăng 138,58%; dịch vụ khác ước đạt 29.537 triệu đồng, tăng 15,26%, tăng 89,24%,... Tính chung 9 tháng đầu năm doanh thu dịch vụ khác ước đạt 483.504 triệu đồng, tăng 16,95% so với quý cùng kỳ. 7.2. Xuất, nhập khẩu hàng hóa- Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu trong tháng 9 ước đạt 8,3 triệu USD, giảm 47,48% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Giấy đế xuất khẩu được 250 tấn, tăng 66,7%; hàng dệt may đạt 900 nghìn sản phẩm, tăng 8,2%; phong bì được 200 nghìn sản phẩm, tăng 189%,...Tính chung 9 tháng đầu năm, ước đạt 127,5 triệu USD, tăng 4,4% so với cùng kỳ năm trước. Một số nhóm hàng có sản phẩm xuất khẩu 8 tháng đầu năm đạt mức tăng trưởng cao so với cùng kỳ như: Hàng dệt, may đạt 12.439 nghìn sản phẩm, tăng 15,2%; Atimony thỏi đạt 124 tấn, tăng 133,8%,… Bên cạnh đó, một số nhóm hàng có kim ngạch xuất khẩu giảm so với cùng kỳ: Chè xuất khẩu đạt 800 tấn, giảm 65,8%; đũa gỗ xuất khẩu đạt 26.980 nghìn đôi, giảm 42,6%; giấy đế xuất khẩu đạt 2.569 tấn, giảm 17,4%,...- Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa trong tháng ước đạt 7 triệu USD, giảm 30% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng, ước đạt 68,9 triệu USD, đạt 81,1% kế hoạch, giảm 12,7% so với cùng kỳ.8. Vận tải hàng hóa và hành khách 8.1. Doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải- Doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải tháng 9 ước đạt 295.644 triệu đồng, tăng 7,33% so với tháng trước, tăng 36,94% so với cùng kỳ, trong đó: Vận tải hành khách đạt 53.445 triệu đồng, tăng 18,38%, tăng 38,24%; vận tải hàng hóa đạt 241.753 triệu đồng, tăng 5,17%, tăng 36,56%; kho bãi và các hoạt động hỗ trợ vận tải đạt 297 triệu đồng, tăng 4,62%, tăng 53,29%.- Doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải 9 tháng đầu năm 2022 ước đạt 2.153.104 triệu đồng, tăng 19,68% so với cùng kỳ. Trong đó: Doanh thu vận tải hành khách đạt 363.887 triệu đồng, tăng 4,23%; doanh thu vận tải hàng hóa đạt 1.785.313 triệu đồng, tăng 23,34%; doanh thu kho bãi và các hoạt động hỗ trợ vận tải đạt 2.170 triệu đồng, tăng 27,15%.8.2. Vận tải hành khách và hàng hóa8.2.1. Vận tải hành khách- Vận tải hành khách tháng 9 ước đạt 947 nghìn lượt khách vận chuyển, tăng 14,87% so với tháng trước, tăng 50,73% so cùng kỳ; luân chuyển hành khách đạt 73.857 nghìn lượt khách.km, tăng 12,05%, tăng 31,6%. - Tính chung 9 tháng đầu năm, vận tải hành khách ước đạt 5.893 nghìn lượt khách vận chuyển, tăng 3,88% so với cùng kỳ; luân chuyển ước đạt 528.813 nghìn lượt khách.km, tăng 3,27%,...8.2.2. Vận tải hàng hóa- Vận tải hàng hóa tháng 9 ước đạt 1.331 nghìn tấn, tăng 6,62% so với tháng trước, tăng 4,48% so với cùng kỳ; luân chuyển đạt 88.898 nghìn tấn.km, tăng 5,25%, tăng 9,27%. - Tính chung 9 tháng đầu năm, vận tải hàng hóa ước đạt 10.709 nghìn tấn, tăng 4,51% so với cùng kỳ; luân chuyển đạt 688.848 nghìn tấn.km, tăng 4,01%. 9. Về du lịch Trong tháng 9/2022, thu hút được 423.000 lượt khách du lịch; tổng thu từ khách du lịch đạt 480 tỷ đồng (nâng tổng số 9 tháng năm 2022, thu hút 2.122.000 lượt, đạt 93% kế hoạch, tăng 66,9% so với cùng kỳ; tổng thu từ du lịch 2.172 tỷ đồng, đạt 92% kế hoạch, tăng 77% so với cùng kỳ).II. LĨNH VỰC VĂN HÓA - XÃ HỘI 1. Về lao động việc làmTỉnh đã triển khai thực hiện các giải pháp, xây dựng kế hoạch giải quyết việc làm năm 2022. Kết quả trong 9 tháng năm 2022, toàn tỉnh đã tạo việc làm cho 19.574 người, đạt 91% kế hoạch, tăng 5,4% so với cùng kỳ năm 2021 (trong đó: Việc làm trong các ngành kinh tế tại tỉnh 13.310 người, đạt 91,6% kế hoạch; làm việc tại các tỉnh, thành phố trong nước 5.707 người, đạt 87,8%; đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng 557 người, đạt 118,5%).Về giáo dục nghề nghiệp: Tiếp tục triển khai thực hiện kế hoạch giáo dục nghề nghiệp năm 2022, ước tính đến hết tháng 9/2022, toàn tỉnh đã tuyển sinh và đào tạo nghề cho 6.122 người, đạt 76,52% kế hoạch (trong đó: Trình độ cao đẳng 90 người, trung cấp 861 người, sơ cấp và đào tạo dưới 3 tháng 5.171 người).2. Đời sống dân cư Tình hình đời sống dân cư trên địa bàn tỉnh 9 tháng đầu năm 2022 gặp rất nhiều khó khăn. Giá cả các mặt hàng thiết yếu như giá dầu tăng cao. Tuy nhiên với sự quan tâm và phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về tiêu dùng thực phẩm trong nước; trên địa bàn tỉnh đã xuất hiện nhiều mô hình chăn nuôi tiên tiến, theo hướng liên kết hiệu quả kinh tế cao. Đời sống dân cư trên địa bàn tiếp tục được ổn định, không có tình trạng thiếu đói trên diện rộng; tình hình tiền lương, thu nhập của đa số cán bộ, công nhân, công chức, viên chức tiếp tục ổn định. Các chế độ chính sách cho người lao động được đảm bảo thực hiện tốt. Tình hình tiền lương, thu nhập của đa số cán bộ công nhân, viên chức từng bước cải thiện, có việc làm ổn định; đời sống văn hóa, tinh thần của cán bộ, công nhân, viên chức được nâng lên, các cơ quan, đơn vị thực hiện trả lương cho người lao động đúng theo thời gian quy định; khu vực doanh nghiệp khắc phục khó khăn về tài chính để chi trả lương cho công nhân đảm bảo đời sống ổn định. Trong dịp Tết Nguyên đán Nhâm Dần 2022, các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp và các tổ chức đoàn thể... có người hưởng lương đã quan tâm đến việc thưởng Tết cho cán bộ, công nhân viên chức, người lao động. Phần nào giúp đời sống của những người hưởng lương trong dịp Tết được ổn định hơn. Mức thưởng bình quân cho người lao động trong các loại hình doanh nghiệp: Thưởng Tết Dương lịch 2022: Mức thưởng bình quân cho người lao động của doanh nghiệp có kế hoạch thưởng: 950.000/người; Thưởng Tết Nguyên đán Nhâm Dần 2022: Mức thưởng bình quân cho người lao động của doanh nghiệp có kế hoạch thưởng: 3.575.000đ/người. Nhìn chung đời sống của người dân trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang 9 tháng đầu năm 2022, cơ bản ổn định và từng bước được cải thiện hơn, sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp dần dần được phục hồi và đi vào ổn định, người lao động có tiền lương đảm bảo phần nào cho nhu cầu cuộc sống.3. Công tác người có công, giảm nghèo, bảo trợ xã hội và phòng chống tệ nạn xã hội 3.1. Công tác đối với người có công với cách mạngDuy trì thực hiện đầy đủ, kịp thời các chế độ, chính sách đối với người có công với cách mạng và thân nhân người có công; đẩy mạnh thực hiện các phong trào, hoạt động "đền ơn, đáp nghĩa", "uống nước nhớ nguồn", chú trọng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần đối với người có công.Công tác chăm lo đối với người có công với cách mạng được tỉnh thực hiện chu đáo vào các ngày lễ lớn của đất nước, đã tổ chức trao tặng 34.011 suất quà, với tổng giá trị trên 11,104 tỷ đồng, trong đó: Quà của Chủ tịch nước 16.146 suất, giá trị 5,01 tỷ đồng; quà của tỉnh 17.814 suất, giá trị 6,05 tỷ đồng, quà của tỉnh tặng 05 Trung tâm điều dưỡng và 07 thương binh nặng: 19,8 triệu đồng; quà tặng người có công tiêu biểu: 72 suất, kinh phí: 68,4 triệu đồng. Quỹ Thiện Tâm trao tặng quà 95 suất quà đối với thương binh, bệnh binh nặng, trị giá 1,425 tỷ đồng, 08 suất quà tặng Bà mẹ Việt Nam anh hùng, trị giá 40 triệu đồng.3.2. Công tác bảo trợ xã hội và phòng chống các tệ nạn xã hộiCông tác chăm lo cho các đối tượng chính sách xã hội cũng được tỉnh hết sức quan tâm, chú trọng, duy trì chi trả trợ cấp thường xuyên cho trên 36.000 đối tượng bảo trợ xã hội tại cộng đồng. Phân bổ, cấp phát gạo từ nguồn dự trữ quốc gia, với tổng số 601.905 kg gạo để hỗ trợ cho 12.438 hộ với 40.127 khẩu bị thiếu lương thực trong dịp Tết Nguyên đán và giáp hạt đầu năm 2022. Kịp thời tổ chức thăm hỏi, trao tặng quà cho các đối tượng trong dịp Tết Nguyên đán Nhâm Dần năm 2022, đã triển khai trao tặng 11.612 suất, tổng giá trị thành tiền là 6,16 tỷ đồng. Ngoài ra còn tổ chức trao tặng 200 suất quà trị giá 100 triệu đồng cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn; trao tặng 50 suất học bổng trị giá 50 triệu đồng cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt vươn lên học tốt. Hội Bảo trợ người khuyết tật và trẻ mồ côi tỉnh tổ chức triển khai 02 Đề án chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ sinh hoạt, sinh kế cho người khuyết tật tại các huyện trên địa bàn tỉnh, với tổng kinh phí và hiện vật quy ra tiền là 762,4 triệu đồng; triển khai chương trình giáo dục hòa nhập tại 03 Trường học, kinh phí 360 triệu đồngTăng cường công tác quản lý đối tượng cai nghiện; công tác điều trị, quản lý cai nghiện, tổ chức lao động sản xuất cho học viên phù hợp với điều kiện thực tế, kiên quyết xử lý nghiêm học viên lợi dụng tham gia lao động để sử dụng trái phép chất ma túy. Kết quả trong 9 tháng đầu năm 2022, Cơ sở cai nghiện đã tiếp nhận 59 người nghiện (cai nghiện bắt buộc 55 người, 04 người tự nguyện); cấp giấy chứng nhận hoàn thành cai nghiện cho 52 học viên, chuyển 01 học viên đi trại cải tạo; tiếp tục duy trì quản lý 123 học viên cai nghiện ma túy (trong đó số có mặt cai nghiện tại Cơ sở 109 học viên, trốn cai 147 học viên), trong 9 tháng đầu năm có 01 học viên chết do tai nạn lao động.4. Hoạt động giáo dục và đào tạoNgay sau Lễ khai giảng năm học mới 2022 – 2023, các trường học trên địa bàn tỉnh đã đã bắt đầu chương trình học tập chính thức của năm học mới 2022 - 2023. Việc ổn định nề nếp được các trường quan tâm thực hiện đồng thời đẩy mạnh phong trào thi đua dạy tốt, học tốt, phấn đấu hoàn thành các mục tiêu và nhiều nhiệm vụ mới đề ra.Tỉnh đã ban hành Quyết định công nhận 10 trường học đạt chuẩn quốc quốc gia mức độ 1 (trong đó, có 4 trường mầm non, phổ thông được công nhận mới). Toàn tỉnh phấn đấu đến năm 2025 có 53% số trường mầm non, trên 70% trường tiểu học, trên 70% trường THCS và trên 35% trường THPT đạt chuẩn quốc gia.Kết thúc năm học 2021 -2022, ngành Giáo dục tỉnh đã đạt được nhiều kết quả quan trọng. Kết quả giáo dục đại trà, giáo dục mũi nhọn từng bước được nâng lên. Nổi bật nhất là kết quả Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2022 của tỉnh đã có bước tiến vượt bậc với điểm trung bình các môn thi đạt 6,539, xếp thứ 18/63 tỉnh thành trong cả nước. Kết quả này tăng 13 bậc so với năm 2021 và tăng 22 bậc so với năm 2020. Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học tiếp tục được bổ sung; công tác xã hội hóa giáo dục được quan tâm, đẩy mạnh; giáo dục ngoài công lập bước đầu được khuyến khích phát triển, đặc biệt đối với cấp học mầm non.5. Hoạt động y tế Tình hình dịch bệnh Sốt xuất huyết trên địa bàn tỉnh có những diễn biến phức tạp. Tính từ cuối tháng 7 đến ngày 20 tháng 9, toàn tỉnh đã ghi nhận 407 ca mắc Sốt xuất huyết. Hiện nay công tác tuyên truyền về bệnh Sốt xuất huyết ở một số địa phương còn chưa tốt, chưa hiệu quả đặc biệt là trên địa bàn thành phố. Vì vậy, ý thức phòng bệnh của người dân chưa được nâng cao. Ngành Y tế đã phát động chiến dịch diệt muỗi, lăng quăng, bọ gậy, tổng vệ sinh đường làng, ngõ xóm, khơi thông cỗng rãnh; tăng cường công tác truyền thông trên các kênh thông tin bằng nhiều hình thức như: Đăng tải trên website, trên mạng xã hội, qua loa đài, và trên các phương tiện thông tin đại chúng và tại các cơ sở y tế,… Về tình hình dịch bệnh Covid-19: Tình hình dịch trên địa bàn tỉnh tuy cơ bản đã được kiểm soát, nhưng vẫn tiềm ẩn nguy cơ bùng phát. Do vậy, việc tiếp tục thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch, trong đó có tiêm vắc-xin tăng cường và tiêm mũi nhắc lại là rất cần thiết, đặc biệt là đối với người lớn tuổi và người có các bệnh mãn tính, bệnh nền, những người làm nhiệm vụ tuyến đầu.Tình hình tiêm vắc xin phòng Covid-19: Tổng số cộng dồn tiêm tại tỉnh từ đợt 1 đến nay: 2.078.716 mũi tiêm; trong đó: Mũi 01: 700.979 người; mũi 02: 663.407 người; mũi 03: 471.466 người; mũi 04: 163.832 người. Tiêm cho người từ 18 tuổi trở lên tỷ lệ tiêm mũi 1 là 100% (513.688 người còn 5.886 người chống chỉ định chưa tiêm); tiêm đủ 2 mũi là 99,5% (515.609 người); có 79.032 người được tiêm bổ sung để hoàn thành liều cơ bản; mũi 3 là 83,1% (422.160 người); mũi 4 là 96,0% (là 163.832 người/170.600 người). Tiêm cho trẻ từ 12 đến dưới 18 tuổi: Tỷ lệ tiêm mũi 1 đạt trên 99,5% (79.456 trẻ); tiêm đủ 02 mũi đạt 99,5% (79.416 trẻ); tiêm mũi 3 là 61,8% (49.306 trẻ), tỷ lệ tiêm mũi 3 cao nhất là Yên sơn (69,8%) thấp nhất là Chiêm Hóa (54,0%). Tiêm cho trẻ từ 05 đến dưới 12 tuổi: Tỷ lệ tiêm mũi 01 đạt 98,5% (107.835/109.418 trẻ); tiêm 02 mũi là 62,5% (68.382 trẻ), hiện chưa có phản ứng phụ hoặc tai biến xảy ra.Về công tác khám, chữa bệnh: Hoạt động khám bệnh, chữa bệnh thông thường đang dần hồi phục sau hơn 2 năm phòng chống dịch Covid-19. Tổng số lượt khám bệnh trong 9 tháng đạt 807.795 lượt người, trong đó: Bệnh viện tuyến tỉnh: 183.219 lượt, Trung tâm Y tế huyện: 281.149 lượt, Bệnh viện Đa khoa khu vực: 72.924 lượt, Trạm Y tế xã, phường, thị trấn: 270.503 lượt. Công suất sử dụng giường bệnh tại Bệnh viện tuyến tỉnh: 94,3%, Trung tâm Y tế huyện: 81,8% và Bệnh viện Đa khoa khu vực: 63,4%; ngày điều trị trung bình tại Bệnh viện tuyến tỉnh: 6,5 ngày, Trung tâm Y tế huyện: 5,7 ngày, Bệnh viện Đa khoa khu vực: 5,4 ngày. Công tác đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm (ATVSTP) đã được tỉnh triển khai bằng nhiều giải pháp, trong đó tăng cường công tác truyền thông về ATVSTP trên các phương tiện thông tin đại chúng; thực hiện thanh tra, kiểm tra, giám sát chất lượng ATVSTP trên địa bàn toàn tỉnh. Kết quả kiểm tra, giám sát tại 3.811 cơ sở đã xử lý 120 cơ sở vi phạm các quy định về ATVSTP; triển khai việc thẩm định và cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện ATVSTP cho 82 cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm tại các huyện, thành phố, đạt 63,1% kế hoạch. Trong 9 tháng ghi nhận 04 vụ ngộ độc thực phẩm với 27 người mắc, không ghi nhận trường hợp tử vong do ngộ độc thực phẩm.6. Hoạt động văn hoá - thể dục, thể thaoTổ chức thành công các hoạt động, sự kiện văn hóa, nghệ thuật chào mừng kỷ niệm các ngày lễ lớn của đất nước, sự kiện chính trị quan trọng của tỉnh, như: Chương trình chào Xuân, với chủ đề “Khát vọng Tuyên Quang - Chào năm 2022”; Lễ kỷ niệm 75 năm Ngày Bác Hồ trở lại Tuyên Quang lãnh đạo kháng chiến; Chương trình nghệ thuật chào mừng kỷ niệm 132 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh; Lễ đón nhận Bằng của UNESCO ghi danh di sản văn hóa phi vật thể "Thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam" vào danh sách di sản văn hoá phi vật thể đại diện của nhân loại và Lễ hội Thành Tuyên năm 2022 với nhiều hoạt động sôi nổi, thu hút đông đảo du khách trong nước và quốc tế tham dự; cùng với các hoạt động khác như: Hội nghị xúc tiến đầu tư du lịch 11 tỉnh có di sản Then; Liên hoan văn hoá các dân tộc tỉnh Tuyên Quang gắn với Vòng thi Chung khảo “Người đẹp xứ Tuyên” năm 2022; Trưng bày không gian văn hoá; tổ chức Triển lãm ảnh “Sắc màu văn hoá các dân tộc Tuyên Quang”; tiếp tục đẩy mạnh phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” gắn với chương trình xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh.- Lĩnh vực thể dục, thể thao: Tổ chức thành công Giải quần vợt Cúp Tân Trào mở rộng, có 160 vận động viên, đến từ 07 tỉnh Hà Giang, Bắc Kạn, Vĩnh Phúc, Lạng Sơn, Yên Bái, Bắc Giang, Tuyên Quang. Kết quả, Ban Tổ chức trao 7 giải nhất, 7 giải nhì và 14 giải ba. Tổ chức Giải Bóng bàn các Câu lạc bộ tỉnh Tuyên Quang mở rộng, có 150 vận động viên, đến từ 10 tỉnh Hà Giang, Sơn La, Bắc Kạn, Tuyên Quang, Cao Bằng, Vĩnh Phúc, Thái Nguyên, Hòa Bình, Phú Thọ, Hà Nội; kết quả, Ban tổ chức trao 4 giải đồng đội, 1 giải nhất, 1 giải nhì và 2 giải ba; tham gia thi đấu các môn thi thể thao trong Ngày hội văn hoá dân tộc Dao toàn quốc lần thứ II tại tỉnh Thái Nguyên; tham gia giải vô địch trẻ Jujitsu quốc gia năm 2022 tại tỉnh Hà Nam.7. Tình hình trật tự trị an, an toàn xã hội và an toàn giao thông7.1. Về trật tự an toàn xã hội - Trật tự trị an, an toàn xã hội trong tháng: Từ ngày 15/8/2022 đến ngày 14/9/2022, toàn tỉnh đã phát hiện 06 vụ phạm pháp kinh tế, với 12 đối tượng phạm tội; số vụ phạm pháp hình sự là 25 vụ và bắt giữ 58 đối tượng phạm tội; phát hiện 15 vụ tàng trữ, mua bán, vận chuyển trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy, bắt giữ 18 đối tượng phạm tội.- So với cùng kỳ năm trước: Số vụ phạm pháp kinh tế tăng 04 vụ; số vụ phạm pháp hình sự tăng 05 vụ, số đối tượng phạm tội tăng 09 đối tượng; số vụ tàng trữ, mua bán, vận chuyển trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy giảm 03 vụ và 06 đối tượng.- Trật tự trị an, an toàn xã hội 9 tháng đầu năm 2022: Từ ngày 15/12/2021 đến ngày 14/9/2022, toàn tỉnh đã phát hiện 40 vụ phạm pháp kinh tế với 60 đối tượng phạm tội; số vụ phạm pháp hình sự là 204 vụ và bắt giữ 413 đối tượng phạm tội; phát hiện 241 vụ tàng trữ, mua bán, vận chuyển trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy, bắt giữ 323 đối tượng phạm tội; phát hiện 14 vụ phạm pháp về chức vụ, với 19 đối tượng phạm tội; số vụ phạm pháp về môi trường là 21 vụ với 25 đối tượng phạm pháp. - So với cùng kỳ năm trước: Số vụ phạm pháp kinh tế tăng 13 vụ, số đối tượng phạm tội tăng 15 đối tượng; số vụ phạm pháp hình sự giảm 10 vụ, số đối tượng phạm tội giảm 19 đối tượng; số vụ tàng trữ, mua bán, vận chuyển trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy tăng 14 vụ, tăng 42 đối tượng phạm tội; số vụ phạm pháp về chức vụ tăng 10 vụ, tăng 14 đối tượng; số vụ phạm pháp về môi trường tăng 04 vụ, tăng 07 đối tượng phạm tội.7.2. Về an toàn giao thông- Trong tháng (từ 15/8 đến 14/9), trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 03 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm 02 người chết và làm bị thương 01 người. So với tháng cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông giảm 04 vụ; số người bị thương giảm 08 người.- Tính chung 9 tháng, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 57 vụ tai nạn giao thông, làm 19 người chết và làm 48 người bị thương, thiệt hại về tài sản ước tính 370 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước số vụ tai nạn giao thông giảm 05 vụ; số người chết giảm 03 người; số người bị thương giảm 06 người. 8. Thiệt hại do thiên tai, cháy nổ8.1. Về thiên taiTừ đầu năm đến nay, tình hình thiên tai tiếp tục diễn biến cực đoan, bất thường trên địa bàn toàn tỉnh đã liên tiếp xảy ra các đợt mưa rào và dông rải rác trên diện rộng đã gây ảnh hưởng lớn đến đời sống sản xuất, sinh hoạt của người dân.Theo số liệu tổng hợp báo cáo nhanh từ Chi cục Thống kê các huyện, thành phố, khu vực và của Ban chỉ huy phòng chống thiên tai tỉnh Tuyên Quang, các trận mưa rào và dông rải rác vừa qua đã có những thiệt hại về người, nhà ở, các công trình công cộng và hoa màu cụ thể như sau:- Thiệt hại về người và nhà ở: 05 người chết, 01 người mất tích, 06 người bị thương; trên 922 nhà bị hư hỏng, thiệt hại (trong đó 09 nhà hỏng hoàn toàn); 31 nhà phải di dời.- Thiệt hại về nông lâm nghiệp, thủy sản: 2.334,32 ha lúa; 1.146,39 ha ngô, rau màu; 38,05 ha cây trồng khác bị ảnh hưởng; 33 con trâu, 03 bò, 45 con lợn và 847 con gia cầm bị thiệt hại; 50,54 ha ao hồ bị tràn bờ; 86 lồng cá thiệt hại… - Thiệt hại khác: 12 tuyến giao thông bị ảnh hưởng; 4.771,1 m3 đất đá sạt lở gây hư hỏng đường giao thông; 210m kênh mương bị hư hỏng; 18 chiếc thuyền bị chìm, lật và nhiều thiệt hại khác.Ước tính tổng giá trị thiệt hại trên 48,17 tỷ đồng.Sau khi thiên tai xảy ra, chính quyền địa phương đã huy động lực lượng tại chỗ hỗ trợ các hộ dân bị ảnh hưởng nhanh chóng khắc phục hậu quả, sửa chữa tạm thời; triển khai những biện pháp giúp đỡ kịp thời để cuộc sống người dân sớm trở lại ổn định. 9.2. Về cháy nổTrong tháng, toàn tỉnh xảy ra 02 vụ cháy (địa bàn thành phố Tuyên Quang 01 vụ, huyện Yên Sơn 01 vụ); thiệt hại tài sản trị giá khoảng 30 triệu đồng. Tính chung 9 tháng đầu năm, trên địa bàn tỉnh xảy ra 04 vụ cháy, nổ, thiệt hại ước tính hơn 2.060 triệu đồng.Ngay sau khi xảy ra các vụ việc cháy, nổ, lãnh đạo Tỉnh uỷ, Uỷ ban nhân dân tỉnh đã chỉ đạo các cấp, các ngành nhanh chóng xuống địa bàn có thiệt hại, động viên người chịu thiệt hại và triển khai nhanh các giải pháp khắc phục thiệt hại nhằm sớm ổn định đời sống và sản xuất của nhân dân. 10. Đánh giá chungTrong 9 tháng đầu năm 2022 mặc dù vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức; tỉnh đã triển khai đồng bộ, quyết liệt các nhiệm vụ, giải pháp để thực hiện “mục tiêu kép”: vừa phòng chống dịch, vừa phục hồi và phát triển kinh tế-xã hội; tập trung tháo gỡ vướng mắc, hỗ trợ kịp thời các doanh nghiệp gặp khó khăn, bảo đảm an sinh xã hội và đời sống nhân dân: Thu ngân sách được đảm bảo; chỉ số giá trong tầm kiểm soát, các mặt hàng lương thực, thực phẩm thiết yếu nguồn cung vẫn đầy đủ; số người có việc làm tăng lên, cơ cấu lao động chuyển dịch theo hướng tích cực, thu nhập của người dân cải thiện, an sinh xã hội được quan tâm thực hiện;... Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được vẫn còn một số khó khăn, thách thức: Một số sản phẩm công nghiệp tăng thấp hơn cùng kỳ; tiến độ giải ngân vôn đầu tư công còn chậm; giá vật tư nông nghiệp đầu vào liên tục tăng cao đã khiến người nông dân còn gặp nhiều khó khăn; tình hình thiên tai và những diễn biến bất thường của thời tiết.CỤC THỐNG KÊ TUYÊN QUANG

Tình hình kinh tế - xã hội tháng 8 năm 2022 tỉnh Tuyên Quang
  •   10/11/2025 22:03

I. PHÁT TRIỂN KINH TẾ  1. Về sản xuất nông nghiệp (tính đến ngày 15/8/2022)1.1. Trồng trọt 1.1.1. Sản xuất vụ mùa năm 2022Sản xuất vụ mùa 2022, trên địa bàn tỉnh diễn ra trong điều kiện thời tiết nắng nóng kéo dài, ảnh hưởng đến tiến độ gieo cấy, song các huyện, thành phố đã chỉ đạo các địa phương đẩy mạnh tuyên truyền, đôn đốc nông dân huy động phương tiện, nhân công tranh thủ lúc trời mát xuống đồng làm đất, đẩy nhanh tiến độ gieo cấy. Tính đến ngày 15/8/2022, các địa phương trong tỉnh đã gieo trồng được một số cây chủ yếu sau như sau: - Cây lúa: Diện tích gieo cấy đạt 24.753,6 ha, đạt 100,1% kế hoạch, (trong đó: 9.252,8 ha lúa lai; 15.500,8 ha lúa thuần). Về cơ cấu giống lúa lai chiếm 37,38%, lúa thuần chiếm trên 62,62% trên tổng diện tích gieo trồng. Trong đó: Huyện Lâm Bình 2.165,5 ha, đạt 100%; Na Hang 1.463,8 ha, đạt 100,3%; Chiêm Hoá 4.741 ha, đạt 99,6%; Hàm Yên 3.366 ha, đạt 100%; Yên Sơn 4.806,6 ha, đạt 101,1%; thành phố Tuyên Quang 1.935,9 ha, đạt 99,3% và Sơn Dương 6.274,8 ha, đạt 100,1%. - Cây ngô trồng được 4.469,7 ha, đạt 100,2% kế hoạch. Trong đó: Huyện Lâm Bình 284,9 ha, đạt 135,7%; Na Hang 358 ha, đạt 79,6%; Chiêm Hoá 1.257 ha, đạt 103%; Hàm Yên 844,7 ha, đạt 105,6%; Yên Sơn 691,6 ha, đạt 92,52%; thành phố Tuyên Quang 61,5 ha, đạt 45,2% và Sơn Dương 972 ha, đạt 108,6%.- Cây đậu tương: Diện tích trồng 215,6 ha.- Cây lạc: Diện tích trồng 1.148,6 ha, đạt 96,11% kế hoạch.1.1.2. Cây lâu nămCây chuối diện tích đã trồng ước đạt 2.207,52 ha tăng 1,1%, sản lượng thu hoạch đạt trên 11.250,13 tấn, tăng 4,05% so với cùng kỳ; cây nhãn 915,11 ha, 4.412,05 tấn, tăng 1,07%; cây vải 306,35 ha, 1.719,59 tấn, tăng 3,31%; cây chè 8.362,19 ha, 45.896,45 tấn, giảm 0,04%. 1.2. Về chăn nuôi 1.2.1. Về số lượng đàn gia súc, gia cầmTổng đàn trâu hiện có 90.356 con, giảm 2,0% (giảm 1.842 con) so với cùng kỳ; đàn bò 38.420 con, tăng 4,11% (tăng 1.518 con); đàn lợn 556.298 con, tăng 2,24% (tăng 12.195 con); đàn gia cầm 6.829,69 nghìn con, tăng 4,83% (tăng 314,52 nghìn con).1.2.2. Về sản phẩm đàn gia súc, gia cầmĐàn trâu sản lượng thịt hơi xuất chuồng ước đạt 602,47 tấn, tăng 5,66% (tăng 33,22 tấn) so với cùng kỳ; đàn bò 103,17 tấn, tăng 5,93% (tăng 5,78 tấn); đàn lợn 4.751,23 tấn, tăng 1,93% (tăng 89.86 tấn); đàn gia cầm 1.494,14 tấn, tăng 2,41% (tăng 35,18 tấn).1.2.3. Công tác phòng chống dịch bệnh gia súc, gia cầma. Công tác phòng chống và điều trịTrong tháng, trên địa bàn các huyện, thành phố không xẩy ra dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm.b. Công tác tiêm phòngTại các địa phương trong tỉnh đã kết thúc tiêm phòng trên đàn gia súc, gia cầm vụ xuân hè năm 2022 theo đúng kế hoạch đề ra. Góp phần thực hiện tốt công tác phòng chống dịch, bảo vệ đàn vật nuôi, nâng cao thu nhập cho người nông dân.1.2.4. Công tác kiểm dịch vận chuyển và công tác kiểm soát giết mổ- Kiểm dịch vận chuyển ngoại tỉnh: Đã kiểm tra và cấp trên 244 giấy chứng nhận kiểm dịch vận chuyển, trong đó: 99 chuyến vận chuyển 6.276 con gia súc, gia cầm giết thịt và 14 chuyến chuyến vận chuyển 3.590 con gia súc nuôi thương phẩm;130 chuyến vận chuyển 2.018.000 kg nguyên liệu sữa tươi và 01 chuyến vận chuyển 850 kg sản phẩm động vật đi các tỉnh Bắc Ninh, Hà Nội, Hà Giang, Vĩnh Phúc,...- Tại các Trạm Kiểm dịch động vật: Ngành chức năng đã kiểm tra 111 lượt phương tiện vận chuyển đủ thủ tục (34 chuyến, vận chuyển 4.063 con gia súc; 77 chuyến, vận chuyển 79.300 con gia cầm).- Kiểm soát giết mổ và kiểm tra vệ sinh thú y: Tiếp tục thực hiện tốt công tác kiểm soát giết mổ trên địa bàn; đã kiểm tra, đóng dấu: 161 con trâu, bò; 4.316 con lợn.1.3. Về sản xuất lâm nghiệp 1.3.1. Công tác trồng rừngTrong tháng, toàn tỉnh đã trồng được 211,44 ha diện tích rừng trồng tập trung, tăng 145,01% so tháng cùng kỳ, nâng tổng số diện tích rừng trồng đạt 10.936,4 ha, tăng 11,53% so cùng kỳ năm trước (Do điều kiện thời tiết thuận lợi tiến độ trồng rừng trong tháng tăng mạnh so với cùng kỳ năm trước); các giống cây được trồng chủ yếu là giống chất lượng cao như: Keo lai mô, keo hạt ngoại và bạch đàn mô đem lại năng suất, chất lượng cao.1.3.2. Khai thác gỗ rừng trồngToàn tỉnh khai thác được 105.612,3 m3 gỗ¬, tăng 1,15% so với cùng kỳ, nâng tổng sản lượng khai thác gỗ từ đầu năm ước đạt 746.582,5 m3, tăng 10,85% so cùng kỳ năm trước (Do diện tích rừng đến tuổi khai thác tăng, các chủ rừng đẩy nhanh tiến độ khai thác, đảm bảo cung ứng sản lượng cho các nhà máy chế biến gỗ). 1.3.3. Công tác quản lý bảo vệ rừngTheo báo cáo của ngành chức năng, trong tháng toàn tỉnh không xảy ra vụ cháy rừng nào; số vụ chặt phá rừng là 01 vụ, diện tích rừng bị chặt phá 0,06 ha. Đã xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng; kiểm tra, phát hiện và xử lý tịch thu 0,444 m3 gỗ các loại; phạt hành chính và bán thanh lý tài sản 167 triệu đồng (đã thu nộp ngân sách 83,6 triệu đồng).2. Sản xuất công nghiệp2.1. Chỉ số phát triển công nghiệp - Chỉ số sản xuất công nghiệp trong tháng tăng 11,29% so với cùng kỳ, tăng 7,41% so với tháng trước, cụ thể như sau: Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 14,04%, tăng 10,66%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí tăng 3,26%, giảm 2,37%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 18,96%, tăng 2%; khai khoáng giảm 1,65%, giảm 0,82%.- Tính chung 8 tháng, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 11,61% so với cùng kỳ năm trước, chia theo từng ngành kinh tế cấp I như sau:+ Ngành khai khoáng tăng 29,21%, nguyên nhân: Sản lượng khai thác đá, cát, barit tăng cao so cùng kỳ. + Ngành sản xuất và phân phối điện tăng 16,64%, có tốc độ tăng trưởng cao do lượng mưa từ đầu năm ổn định, các hồ thủy điện tích trữ nước tốt, đảm bảo cho hoạt động sản xuất và phân phối điện; bên cạnh đó, ngành điện đã triển khai và đưa vào vận hành các công trình đầu tư xây dựng theo đúng tiến độ, đảm bảo cấp điện đầy đủ để phục vụ nhu cầu sinh hoạt, sản xuất và tiêu dùng cho người dân và các hoạt động kinh doanh, bảo đảm vận hành lưới điện an toàn, ổn định, phục vụ tốt nhiệm vụ chính trị và phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.+ Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,92%, nguyên nhân: Do một số ngành chế biến tăng như: Sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 68,84%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 28,17%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 17,73%; sản xuất hóa chất và các sản phẩm hóa chất tăng 20,30%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 39,65%,...- Ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 14,68%, nguyên nhân: Do nhu cầu sử dụng nước sinh hoạt ngày càng tăng, với mục tiêu đẩy mạnh hoạt động sản xuất, kinh doanh đáp ứng nhu cầu nước sạch cho khách hàng. 2.2. Sản phẩm công nghiệp chủ yếu - Trong tháng, một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng so với cùng kỳ năm trước như: Điện sản xuất đạt 175 triệu Kw, tăng 2,93%; bột felspat đạt 22.500 tấn, tăng 21,86%; xi măng đạt 107.000 tấn, tăng 7,78%; giầy da đạt 729 nghìn đôi, tăng 61,92%; gỗ tinh chế đạt 3.822 m3, tăng 23,59%,... Tuy nhiên, cũng có một số sản phẩm công nghiệp giảm so với cùng kỳ như: Điện thương phẩm đạt 112 triệu Kw, giảm 2,61%; Chè chế biến đạt 1.656 tấn, giảm 12,94%; bột ba rít đạt 3.000 tấn, giảm 3,66%; hàng may mặc xuất khẩu đạt 1.838 nghìn cái, giảm 16,17%; thép cây, thép cuộn đạt 17.000 tấn, giảm 46,87%;...- Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu trong 8 tháng đầu năm 2022 tăng so với cùng kỳ năm trước như: Điện thương phẩm đạt 799 triệu Kw, tăng 4,92%; điện sản xuất đạt 1.485 triệu Kw, tăng 52,24%; xi măng đạt 835.275 tấn, tăng 7,39%; hàng may mặc xuất khẩu đạt 15.565 nghìn sản phẩm, tăng 10,25%; giày da đạt 4.945 nghìn đôi, tăng 26,91%; gỗ tinh chế đạt 29.183 m3, tăng 48,83%,... Tuy nhiên, một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu giảm so với cùng kỳ năm trước như: Chè chế biến đạt 7.082 tấn, giảm 6,23%; bột ba rít đạt 14.913 tấn, giảm 11,41%; giấy đế xuất khẩu đạt 5.679 tấn, giảm 12,12%;…3. Kết quả thu ngân sách nhà nước- Tổng thu nội địa trong tháng ước thực hiện là 150 tỷ đồng, lũy kế đạt 1.686 tỷ đồng, đạt 62,4% dự toán, tăng 12,8% so với cùng kỳ.- Số thu nội địa trừ tiền sử dụng đất và xổ số ước thực hiện là 121,4 tỷ đồng, lũy kế đạt 1.300,8 tỷ đồng, đạt 59,7% dự toán, tăng 5,3% so cùng kỳ.4. Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước thực hiện tháng 8 đạt 321.336 triệu đồng, tăng 36,72% so với cùng kỳ, trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 280.383 triệu đồng, tăng 33,37%; cấp huyện ước đạt 38.704 triệu đồng, tăng 70,43%; cấp xã đạt 2.249 triệu đồng, tăng 7,35%.Tính chung 8 tháng đầu năm, vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước thực hiện đạt 1.698.840 triệu đồng, đạt 45,44% kế hoạch, tăng 42,75% so với cùng kỳ, trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 1.500.646 triệu đồng, đạt 48,33%, tăng 40,07%; cấp huyện đạt 180.652 triệu đồng, đạt 30,54%, tăng 70,43%; cấp xã đạt 17.542 triệu đồng, đạt 41,84%, tăng 14,41%.5. Thương mại và Dịch vụ5.1. Công tác quản lý nhà nước về thương mạiVới những yếu tố thuận lợi như: tình hình bệnh Covid -19 dần được kiểm soát, các hoạt động sản xuất, sinh hoạt của người dân được khôi phục, nhiều chương trình kết nối cung cầu, giao thương xúc tiến đầu tư, thương mại và du lịch nội địa được tổ chức,…đã tác động tích cực đến thị trường hàng hóa trong tỉnh. Tuy nhiên, thị trường hàng hóa cũng chịu nhiều biến động khi giá xăng dầu, giá nguyên, nhiên vật liệu trên thị trường thế giới vẫn diễn biến phức tạp và ở mặt bằng giá cao, đã đẩy giá các hàng hóa này tại thị trường trong nước tăng, nhưng nhìn chung mặt bằng giá vẫn cơ bản được kiểm soát tốt, đảm bảo nguồn cung các mặt hàng tiêu dùng thiết yếu, lương thực, thực phẩm dồi dào, đáp ứng nhu cầu phục vụ sản xuất, đời sống của người dân và doanh nghiệp.5.2. Doanh thu bán lẻ hàng hóa, dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch và dịch vụ khác5.2.1. Doanh thu bán lẻ hàng hóa Tổng mức bán lẻ hàng hóa trong tháng ước đạt 1.809.598 triệu đồng, tăng 1,43% so với tháng trước, tăng 2,41% so với cùng kỳ. Một số nhóm hàng hóa chính là: Hàng may mặc đạt 107.074 triệu đồng, tăng 1,91%, tăng 9,08%; đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình đạt 202.332 triệu đồng, tăng 2,93%, tăng 5,36%; gỗ và vật liệu xây dựng đạt 235.224 triệu đồng, tăng 2,54%, tăng 41,78%; xăng, dầu các loại đạt 253.948 triệu đồng, tăng 1,32%, tăng 99,61%,..Tính chung 8 tháng, tổng mức bán lẻ hàng hóa đạt 13.403.176 triệu đồng, tăng 12,18% so với cùng kỳ, trong đó một số nhóm hàng hóa tăng là: Lương thực, thực phẩm đạt 5.226.405 triệu đồng, tăng 2,12%; gỗ và vật liệu xây dựng đạt 1.679.396 triệu đồng, tăng 48,94%; xăng, dầu các loại đạt 1.818.218 triệu đồng, tăng 88,22%... Tuy nhiên, còn có một số nhóm hàng giảm như: Vật phẩm, văn hoá, giáo dục đạt 124.109 triệu đồng, giảm 39,66%; ô tô con (dưới 9 chỗ ngồi) đạt 246.128 triệu đồng, giảm 2,63%,…5.2.2. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ khác- Trong tháng, doanh thu nhóm dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 159.331 triệu đồng, tăng 28,06% so với tháng trước, tăng 22,26% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Doanh thu dịch vụ ăn uống ước đạt 145.367 triệu đồng, tăng 28,66%, tăng 22,32%; dịch vụ lưu trú ước đạt 13.964 triệu đồng, tăng 22,23%, tăng 21,66%. Tính chung 8 tháng, nhóm dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 1.097.569 triệu đồng, tăng 24,22%.- Doanh thu nhóm du lịch lữ hành trong tháng ước đạt 375 triệu đồng, tăng 307,17% so với cùng kỳ; tính chung 8 tháng, doanh thu du lịch lữ hành ước đạt 1.160 triệu đồng, tăng 81,99% so với cùng kỳ năm trước.- Doanh thu nhóm dịch vụ khác trong tháng ước đạt 71.076 triệu đồng, tăng 62,6% so với tháng trước, tăng 38,63% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Kinh doanh bất động sản đạt 3.477 triệu đồng, tăng 45,79%, tăng 38,53%; dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ đạt 14.333 triệu đồng, tăng 70,04%, tăng 16,18%; y tế và hoạt động trợ giúp xã hội đạt 2.590 triệu đồng, tăng 94,42%, tăng 90,98%; nghệ thuật, vui chơi và giải trí đạt 14.113 triệu đồng, tăng 48,59%, tăng 43,26%. Tính chung 8 tháng, nhóm dịch vụ khác ước đạt 470.695 triệu đồng, tăng 32,5%.5.3. Xuất, nhập khẩu hàng hóa- Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu trong tháng ước đạt 18,5 triệu USD, giảm 14,35% so với tháng cùng kỳ năm trước, trong đó: Nhóm giấy đế xuất khẩu được 300 tấn, tăng 38,6%, giấy in viết, photo thành phẩm 20 tấn, tăng 5,3%, phong bì 520 nghìn sản phẩm, tăng 43,8%,...Tính chung 8 tháng đầu năm, ước đạt 123,4 triệu USD, tăng 16,07% so với cùng kỳ năm trước. Một số nhóm hàng có sản phẩm xuất khẩu 8 tháng đầu năm đạt mức tăng trưởng cao so với cùng kỳ như: Hàng dệt, may đạt 11.909 nghìn sản phẩm, tăng 19,5%; Atimony thỏi đạt 103 tấn, tăng 170,6%; giấy in viết đạt 1.207 tấn, tăng 115,6%. Bên cạnh đó, một số nhóm hàng có kim ngạch xuất khẩu giảm so với cùng kỳ: Chè xuất khẩu đạt 1.076 tấn, giảm 43,9%; đũa gỗ xuất khẩu đạt 24.750 nghìn đôi, giảm 40,8%; giấy đế xuất khẩu đạt 2.331 tấn, giảm 21,2%,...- Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa trong tháng ước đạt 9 triệu USD, giảm 7,22% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 8 tháng, ước đạt 64,2 triệu USD, giảm 6,96%,...5.4. Giá cả thị trường- Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trong tháng giảm 0,08% so với tháng trước, tăng 2,19% so với cùng kỳ năm trước và tăng 3,79% so với tháng 12 năm trước. Tính chung 8 tháng đầu năm, tăng 1,09% so với cùng kỳ.Trong số 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính thì có 05 nhóm tăng giá so với tháng trước, 03 nhóm giảm giá, 03 nhóm giữ giá ổn định (đồ uống và thuốc lá; thuốc và dịch vụ y tế; bưu chính viễn thông).Trong 05 nhóm hàng tăng giá, so với tháng trước, bao gồm những nhóm hàng sau: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,43%, trong đó tăng cao ở nhóm thực phẩm tăng 1,93% chủ yếu do giá thức ăn chăn nuôi tăng cao, do giá nguyên vật liệu sản xuất đầu vào tăng cao, tạo áp lực buộc các hộ chăn nuôi phải tăng giá bán sản phẩm để bù đắp chi phí, vì thế giá các mặt hàng thực phẩm và sản phẩm liên quan đều tăng so với tháng trước; nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0,4% do giá điện, nước sinh hoạt tăng và giá các loại vật liệu như cát đá sỏi tăng; nhóm giáo dục tăng 0,38% do nhu cầu mua sắm các loại đồ dùng học tập, văn phòng phẩm đầu năm học mới tăng; văn hóa giải trí và du lịch tăng 0,12% do nhu cầu đi lại, du lịch và giá các tour du lịch tăng; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,08%,… - Chỉ số giá vàng giảm 3,43% so với cùng kỳ năm trước, giảm 4,42% so với tháng 12 năm trước, giảm 0,3% so với tháng trước, bình quân 8 tháng tăng 0,28% so với cùng kỳ. - Chỉ số giá đô la Mỹ tăng 2,44% so với cùng kỳ, tăng 2,23% so với tháng 12 năm trước, tăng 0,06% so với tháng trước, bình quân 8 tháng tăng 0,21% so với cùng kỳ. 6. Vận tải hàng hóa và hành khách 6.1. Doanh thu vận tải tải kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải - Ước tính doanh thu từ vận tải kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải trong tháng đạt 274.044 triệu đồng, tăng 0,83% so với tháng trước, tăng 38,94% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Doanh thu vận tải hành khách ước đạt 45.100 triệu đồng, tăng 2,45% và tăng 26,12%; doanh thu vận tải hàng hóa đạt 228.531 triệu đồng, tăng 0,52% và tăng 41,69%; dịch vụ hỗ trợ vận tải kho bãi đạt 263 triệu đồng, giảm 0,27% và tăng 42,71%,...- Tính chung trong 8 tháng, doanh thu vận tải kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 1.856.063 triệu đồng, tăng 17,24% so với cùng kỳ. Trong đó: Doanh thu vận tải hành khách đạt 310.397 triệu đồng, giảm 0,02%; doanh thu vận tải hàng hóa đạt 1.543.228 triệu đồng, tăng 21,4%; dịch vụ hỗ trợ vận tải kho bãi đạt 1.852 triệu đồng, tăng 22,5%;… 6.2. Vận tải hành khách và hàng hóa- Khối lượng hành khách vận chuyển trong tháng ước đạt 688 nghìn hành khách, tăng 5,68% so với tháng trước và tăng 17,66% so với cùng kỳ; khối lượng hành khách luân chuyển ước đạt 54.938 nghìn lượt hành khách.km, tăng 1,7% và tăng 5,54%. Tính chung trong 8 tháng, khối lượng hành khách vận chuyển ước đạt 4.809 nghìn hành khách, giảm 4,67% so với cùng kỳ; khối lượng hành khách luân chuyển ước đạt 443.979 nghìn lượt hành khách.km, giảm 2,62%.- Khối lượng hàng hóa vận chuyển trong tháng ước đạt 1.231 nghìn tấn, tăng 3,71% so với tháng trước và tăng 8,07% so với cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 80.439 nghìn tấn.km, tăng 10,31% và tăng 8,73%. Tính chung 8 tháng, khối lượng hàng hóa vận chuyển ước đạt 9.359 nghìn tấn, tăng 4,31% so với cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 595.927 nghìn tấn.km, tăng 2,58%.7. Về du lịch Trong tháng, đã thu hút được 244.000 lượt khách du lịch; tổng thu từ khách du lịch đạt 239 tỷ đồng (nâng tổng số 8 tháng đầu năm 2022, thu hút 1.699.000 lượt, đạt 75% kế hoạch, tăng 23% so với cùng kỳ; tổng thu từ du lịch 1.692 tỷ đồng, đạt 72% kế hoạch, tăng 45,5% so với cùng kỳ).II. LĨNH VỰC VĂN HÓA - XÃ HỘI 1. Về lao động việc làm, giáo dục nghề nghiệp- Trong tháng toàn tỉnh tạo việc làm cho 1.456 lao động; lũy kế 8 tháng đầu năm, đã tạo việc làm cho 17.712 lao động; đạt 82,4% kế hoạch, tăng 2,8% so với cùng kỳ, trong đó, tạo việc làm trong các ngành kinh tế tại tỉnh 11.996 người, đạt 82,6%; lao động đi làm việc tại các tỉnh, thành phố trong nước 5.224 người, đạt 80,4%; lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng 492 người, đạt 104,7%.- Tiếp tục thực hiện tốt công tác tư vấn giới thiệu việc làm cho 17.303 người lao động; đăng tải 269 lượt thông tin tuyển dụng, tuyển sinh trên website, cổng thông tin điện tử và fanpage của Trung tâm. Trong đó 654 người lao động có làm việc; 09 người lao động tham gia học nghề tại các đơn vị doanh nghiệp, cơ sở giáo dục nghề nghiệp trong và ngoài tỉnh.  2. Công tác đảm bảo chế độ chính sách và an sinh xã hội2.1. Công tác đối với người có công với cách mạng Duy trì thực hiện đầy đủ, kịp thời các chế độ, chính sách đối với người có công với cách mạng và thân nhân người có công; đẩy mạnh thực hiện các phong trào, hoạt động "đền ơn, đáp nghĩa", "uống nước nhớ nguồn", chú trọng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần đối với người có công.Nhân dịp kỷ niệm 75 năm Ngày Thương binh-Liệt sỹ (27/7/1947-27/7/2022) tỉnh đã tổ chức các đoàn công tác đi đã dâng hương viếng các anh hùng liệt sỹ tại các tỉnh Quảng Trị, Hà Giang và Điện Biên, cùng với đó là tổ chức Lễ dâng hương tại Đền thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nghĩa trang liệt sĩ tỉnh, Đài tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ tỉnh.Đã trao tặng 16.738 suất quà, với tổng giá trị trên 6,9822 tỷ đồng, trong đó: quà của Chủ tịch nước 8.030 suất, giá trị 2,4912 tỷ đồng; quà của tỉnh 8.708 suất, giá trị 4,491 tỷ đồng; tặng 72 suất quà, với tổng giá trị 43,2 triệu đồng đối với người có công tiêu biểu. Quỹ Thiện Tâm cũng trao tặng 8 suất quà, mỗi suất trị giá 5 triệu đồng cho 8 Bà Mẹ Việt Nam anh hùng trên địa bàn tỉnh.2.2. Công tác bảo trợ xã hội và phòng chống các tệ nạn xã hội- Các huyện, thành phố thường xuyên rà soát, nắm chắc tình hình đời sống nhân dân, hỗ trợ kịp thời các hộ bị thiệt hại, gặp khó khăn do mưa lũ, hỏa hoạn, tai nạn rủi ro; duy trì chi trả trợ cấp thường xuyên cho trên 36.000 đối tượng bảo trợ xã hội tại cộng đồng.- Cơ sở cai nghiện ma túy tăng cường công tác quản lý đối tượng cai nghiện; tăng cường công tác điều trị, quản lý cai nghiện, tổ chức lao động sản xuất cho học viên phù hợp với điều kiện thực tế, kiên quyết xử lý nghiêm học viên lợi dụng tham gia lao động để sử dụng trái phép chất ma túy; tiếp nhận 14 người nghiện ma tuý vào cai nghiện trong đó (cai nghiện bắt buộc 12 người, cai tự nguyện 02 người); cấp giấy chứng nhận hoàn thành cai nghiện cho 03 học viên; tiếp tục duy trì quản lý 121 học viên cai nghiện ma túy (trong đó số có mặt cai nghiện tại Cơ sở 104 học viên, trốn cai 07 học viên), trong tháng có 01 trường hợp chết do tai nạn lao động; 03 trường hợp bỏ trốn khỏi cơ sở.3. Hoạt động giáo dục và đào tạoChuẩn bị cho Lễ khai giảng năm học mới 2022 – 2023; hiện nay, các trường học trên địa bàn tỉnh đã tập trung rà soát, sắp xếp lại điểm trường, lớp học đảm bảo tinh gọn, phù hợp, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục. Đồng thời, tiến hành tu sửa, nâng cấp khuôn viên, trường, lớp, bổ sung đồ dùng, trang thiết bị dạy học theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Cùng với đó là tiếp tục triển khai, thực hiện nghiêm các quy định, hướng dẫn về công tác phòng, chống dịch Covid-19, đặc biệt là việc tiêm vắc-xin phòng Covid-19 đối với học sinh thuộc các lứa tuổi.Kết thúc năm học 2021 -2022, ngành Giáo dục tỉnh đã đạt được nhiều kết quả quan trọng. Kết quả giáo dục đại trà, giáo dục mũi nhọn từng bước được nâng lên. Nổi bật nhất là kết quả Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2022 của tỉnh đã có bước tiến vượt bậc với điểm trung bình các môn thi đạt 6,539, xếp thứ 18/63 tỉnh thành trong cả nước. Kết quả này tăng 13 bậc so với năm 2021 và tăng 22 bậc so với năm 2020. 4. Hoạt động y tế Về tình hình tiêm chủng vắc xin ngừa Covid-19: Cộng dồn từ đợt 01 đến nay đã tiêm 1.975.628 mũi tiêm; trong đó: mũi 01: 690.064 người; mũi 02: 646.764 người; mũi 03: 452.294 người; mũi 04: 107.474 người.+ Tiêm cho người từ 18 tuổi trở lên tỷ lệ tiêm mũi 1 là 99,9% (513.336 người còn 5.965 người chống chỉ định chưa tiêm); tiêm đủ 2 mũi là 99,4% (514.830 người); có 79.032 người được tiêm bổ sung để hoàn thành liều cơ bản; Tỷ lệ tiêm mũi 3 là 80,9% (414.471 người); tỷ lệ tiêm mũi 4 là 63,0% (là 107.474 người/170.600 người.+ Tiêm cho trẻ từ 12 đến dưới 18 tuổi: Tỷ lệ tiêm mũi 1 đạt trên 99,9% (78.986 trẻ; tiêm đủ 02 mũi đạt 99,1% (78.303 trẻ), tiêm mũi 3 là 47,9% (37.823 trẻ) tỷ lệ tiêm mũi 3 cao nhất là huyện Hàm Yên (51,4%) thấp nhất là huyện Chiêm Hóa (44,5%).+ Tiêm cho trẻ từ 05 đến dưới 12 tuổi: Tỷ lệ tiêm mũi 01 đạt 87,2% (97.742/112.057) các huyện Na Hang, Hàm Yên, Yên Sơn, Lâm Bình và thành phố Tuyên Quang đạt trên 85%; tiêm 02 mũi là 47,9% (53.631 trẻ), hiện chưa có phản ứng phụ hoặc tai biến sẩy ra.5. Hoạt động văn hoá - thể dục, thể thao- Lĩnh vực văn hoá: Thực hiện công tác chuẩn bị cho Lễ đón nhận Bằng ghi danh “Thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam” vào danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại và Lễ hội Thành Tuyên năm 2022; tổ chức vòng sơ khảo Cuộc thi Người đẹp xứ Tuyên năm 2022; chuẩn bị các điều kiện tham gia Ngày hội Văn hóa dân tộc Dao toàn quốc năm 2022 tịa tỉnh Thái Nguyên; tiếp tục đẩy mạnh phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” gắn với chương trình xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh.- Về thể dục thể thao: Tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động ''Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại'' và các phong trào thể thao quần chúng và thể thao thành tích cao; tổ chức thành công giải Vô địch trẻ Vật cổ điển, vật tự do quốc gia năm 2022; giải đua xe đạp Địa hình tỉnh Tuyên Quang mở rộng năm 2022 tại Quảng trường Tân Trào, xã Tân Trào, huyện Sơn Dương. 6. Tình hình trật tự trị an, an toàn xã hội và an toàn giao thông6.1. Về trật tự an toàn xã hội - Trật tự trị an, an toàn xã hội trong tháng: Từ ngày 15/7/2022 đến ngày 14/8/2022, toàn tỉnh đã phát hiện 05 vụ phạm pháp kinh tế, với 03 đối tượng phạm tội; số vụ phạm pháp hình sự là 19 vụ và bắt giữ 27 đối tượng phạm tội; phát hiện 12 vụ tàng trữ, mua bán, vận chuyển trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy, bắt giữ 16 đối tượng phạm tội.- So với cùng kỳ năm trước: Số vụ phạm pháp kinh tế tăng 04 vụ; số vụ phạm pháp hình sự giảm 09 vụ, số đối tượng phạm tội giảm 37 đối tượng; số vụ tàng trữ, mua bán, vận chuyển trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy giảm 03 vụ và 04 đối tượng.- Trật tự trị an, an toàn xã hội 8 tháng đầu năm 2022: Từ ngày 15/12/2021 đến ngày 14/8/2022, toàn tỉnh đã phát hiện 34 vụ phạm pháp kinh tế với 48 đối tượng phạm tội; số vụ phạm pháp hình sự là 179 vụ và bắt giữ 355 đối tượng phạm tội; phát hiện 226 vụ tàng trữ, mua bán, vận chuyển trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy, bắt giữ 305 đối tượng phạm tội; phát hiện 14 vụ phạm pháp về chức vụ, với 19 đối tượng phạm tội; số vụ phạm pháp về môi trường là 17 vụ với 24 đối tượng phạm pháp. - So với cùng kỳ năm trước: Số vụ phạm pháp kinh tế tăng 09 vụ, số đối tượng phạm tội tăng 09 đối tượng; số vụ phạm pháp hình sự giảm 15 vụ, số đối tượng phạm tội giảm 28 đối tượng; số vụ tàng trữ, mua bán, vận chuyển trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy tăng 17 vụ, tăng 48 đối tượng phạm tội; số vụ phạm pháp về chức vụ tăng 12 vụ, tăng 16 đối tượng; số vụ phạm pháp về môi trường tăng 01 vụ, tăng 08 đối tượng phạm tội.6.2. Về an toàn giao thôngTrong tháng, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 10 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 03 người và làm bị thương 09 người; với tổng giá trị thiệt hại là 34 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước: Số vụ tai nạn giao thông giảm 02 vụ; giảm 02 người bị thương; thiệt hại về tài sản tăng 5 triệu đồng.Tính chung 8 tháng, toàn tỉnh đã xảy ra 54 vụ tai nạn giao thông đường bộ, trong đó 53 vụ tai nạn giao thông đường bộ, 01 vụ vụ tai nạn giao thông đường thủy; làm chết 17 người và làm bị thương 47 người; với tổng giá trị thiệt hại là 360 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước: Số vụ tai nạn giao thông giảm 01 vụ, trong đó giảm 02 vụ tai nạn giao thông đường bộ, tăng 01 vụ vụ tai nạn giao thông đường thủy; số người bị thương tăng 01 người; thiệt hại về tài sản tăng 195 triệu đồng.7. Thiệt hại do thiên tai, cháy, nổ7.1. Thiệt hại do thiên taiTrong tháng, do ảnh hưởng của hoàn lưu bão; trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 3 đợt thiên tai (vào ngày 19/7; đêm ngày 04/8, rạng sáng ngày 05/8; đêm ngày 11/8, rạng sáng ngày 12/8). Mưa lớn kèm theo dông sét đã gây ngập lụt cục bộ tại các khu vực ven suối gây ra những thiệt hại về tài sản của người dân, ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống của nhân dân, cụ thể như sau: Thiệt hại về người: Mưa lũ đã cuốn trôi 01 cháu bé 06 tuổi khi đi qua cầu tràn; mưa lớn và giông lốc đã làm bị thương 01 cháu bé do bị cây đổ vào mái nhà xay sát của gia đình.Thiệt hại về nhà ở: 03 nhà bị hư hỏng hoàn toàn; 46 nhà bị tốc mái, hư hỏng tại các huyện Hàm Yên, Yên Sơn, thành phố Tuyên Quang và Sơn Dương.Thiệt hại về nông nghiệp: Giông lốc đã làm 28,1 ha lúa, 19,29 ha cây ngô, rau màu bị ảnh hưởng; 2,8 ha cây ăn quả bị thiệt hại; 2,3 ha cây lâm nghiệp bị gãy đổ và 02 con trâu bị sét đánh chết; sạt lở 500m3 đất đá gây hư hỏng đường giao thông nông thôn và 05 chiếc xe ô tô bị hư hỏng. Ước tính tổng giá trị thiệt hại các đợt thiên tai là 590 triệu đồng.Sau khi các đợt thiên tai xảy ra, chính quyền tại các địa phương đã huy động lực lượng tại chỗ, hỗ trợ kịp thời các hộ dân bị ảnh hưởng nhanh chóng khắc phục, sửa chữa tạm thời và có những biện pháp giúp đỡ để sớm ổn định đời sống của nhân dân và trở lại sản xuất.7.2. Về cháy, nổTrong tháng trên địa bàn tỉnh xảy ra 01 vụ cháy nhà để xe tại địa bàn huyện Sơn Dương; thiệt hại tài sản trị giá khoảng 30 triệu đồng. Nguyên nhân cháy do chập điện.CỤC THỐNG KÊ TUYÊN QUANG

Tình hình kinh tế - xã hội tháng 7 năm 2022 tỉnh Tuyên Quang
  •   10/11/2025 21:59

I. PHÁT TRIỂN KINH TẾ  1. Về sản xuất nông nghiệp (tính đến ngày 15/7/2022)1.1. Trồng trọt 1.1.1. Sản xuất vụ mùa năm 2022Sản xuất vụ mùa 2022, trên địa bàn tỉnh diễn ra trong điều kiện thời tiết tương đối thuận lợi, nguồn nước dồi dào đảm bảo cho các địa phương trong tỉnh thuận lợi đẩy nhanh tiến độ gieo cấy. Tính đến ngày 15/7/2022, các địa phương trong tỉnh đã gieo trồng được một số cây chủ yếu sau như sau: Cây lúa: Diện tích đã gieo cấy 23.212,9 ha, đạt 93,9% kế hoạch (trong đó: 8.726,2 ha lúa lai; 14.486,7 ha lúa thuần); cây ngô trồng được 1.950,3 ha, đạt 43,7%; cây đậu tương trồng 47,9 ha, đạt 15,7%; cây lạc trồng 293,7 ha, đạt 24,57%.1.1.2. Cây lâu nămDiện tích cây chuối hiện có trên địa bàn tỉnh 2.207,52 ha, tăng 1,23% so với cùng kỳ năm trước; cây nhãn 915,11 ha, sản lượng thu hoạch ước đạt 1.800,45 tấn, giảm 1,1%; cây vải 306,35 ha, đạt 1.719,59 tấn, tăng 3,31%; cây chè 8.362,19 ha, đạt 39.613,24 tấn, giảm 0,75%.1.2. Tình hình sinh vật gây hạia. Cây hàng năm vụ mùa- Cây lúa: Mạ mới gieo: Tập đoàn rầy gây hại rải rác 3-5 con/m2, cục bộ 15-20 con/m2; sâu đục thân 2 chấm, sâu quấn lá nhỏ lứa 5 gây hại rải rác. Cây lúa mới cấy: Ốc bươu vàng gây hại, mật độ trung bình 1-2con/m2, nơi cao 4-6 con/m2, cục bộ 8-10 con/m2.- Cây ngô: Sâu keo mùa thu gây hại phổ biến 1-2 con/m2, nơi cao 3-4 con/m2.b. Cây lâu năm: Cây chè: Rầy xanh, nhện đỏ, bọ trĩ gây hại, tỉ lệ hại nơi cao 5-15% số búp. Cây có múi (quả non): Nhện đỏ tỷ lệ hại trung bình 3-5%, nơi cao 13-15% số lá, quả, nhện trắng, nhện rám vàng tỷ lệ hại trung bình 4,5%, nơi cao 7% số quả, bệnh sẹo gây hại, tỷ lệ hại trung bình 3,5%, nơi cao 5-10% số lá, quả, bệnh loét lá, bệnh thán thư, bệnh vàng lá thối rễ hại rải rác.c. Cây lâm nghiệp (vườn ươm - 1-5 tuổi): Bệnh chết héo gây hại rải rác trên cây keo 1-3 tuổi, nơi cao 1-3 % số cây; bệnh sâu ăn lá, bệnh thán thư, phấn trắng, cháy lá, khô cành, gây hại tỷ lệ hại nơi cao 6-8% số cây.1.3. Về chăn nuôi 1.3.1. Về số lượng đàn gia súc, gia cầmTổng đàn trâu là 90.194 con, giảm 2,62% (giảm 2.430 con) so với cùng kỳ năm 2021; đàn bò là 37.704 con, tăng 2,41% (tăng 889 con); đàn lợn là 555.237 con, tăng 1,65% (tăng 9.022 con). 1.3.2. Về sản phẩm đàn gia súc, gia cầmĐàn trâu sản lượng thịt hơi xuất chuồng đạt 620,51 tấn, tăng 4,57% (tương ứng với 1.798 con xuất chuồng) so với cùng kỳ năm 2021; đàn bò đạt 126,70 tấn, tăng 5,35% (tương ứng với 530 con); đàn lợn đạt 4.695,73 tấn, tăng 6,69% (tương ứng với 61.320 con); đàn gia cầm đạt 1.506,48 tấn, tăng 6,32% (tăng 89,51 tấn).1.3.3. Công tác phòng chống dịch bệnh gia súc, gia cầma. Công tác phòng chống và điều trị- Bệnh Dịch tả lợn Châu Phi: Trong tháng bệnh Dịch tả lợn Châu Phi tái phát rải rác trên địa bàn 02 thôn/03 hộ/02 xã với tổng số lợn mắc bệnh buộc tiêu hủy 43 con, tương đương 2.030 kg lợn hơi.- Trạm Chăn nuôi và Thú y các huyện, thành phố tiếp tục tăng cường công tác kiểm tra, theo dõi và giám sát chặt chẽ tình hình dịch bệnh, tăng cường công tác phòng, chống dịch bệnh; thường xuyên theo dõi công tác thú y trên địa bàn.   b. Công tác tiêm phòng Trong tháng các huyện, thành phố trong tỉnh tiếp tục thực hiện công tác tiêm phòng bổ sung cho đàn gia súc, gia cầm, kết quả tiêm phòng cụ thể như sau: Đàn trâu LMLM: 46.668 con, THT: 49.958 con; đàn bò LMLM: 22.666 con, THT: 22.410 con; đàn lợn LMLM: 45.470 con, THT: 306.409 con, Dịch tả: 394.950 con.1.3.4. Công tác kiểm dịch vận chuyển và công tác kiểm soát giết mổ- Kiểm dịch vận chuyển ngoại tỉnh: Đã kiểm tra cấp 254 giấy chứng nhận kiểm dịch vận chuyển, trong đó: 125 chuyến vận chuyển 12.316 con gia súc, gia cầm; 129 chuyến vận chuyển 1.986.000 kg nguyên liệu sữa tươi và 01 chuyến vận chuyển 800 kg sản phẩm động vật đi các tỉnh Bắc Ninh, Hà Nội, Hà Giang, Vĩnh Phúc...- Các Trạm Kiểm dịch động vật: Duy trì thực nhiện, đã kiểm tra 129 lượt phương tiện vận chuyển đủ thủ tục (54 chuyến vận chuyển 6.190 con gia súc, 72 chuyến vận chuyển 100.360 con gia cầm, 03 chuyến vận chuyển 21.067 kg sản phẩm động vật). - Kiểm soát giết mổ và kiểm tra vệ sinh thú y: Trung tâm Dịch vụ nông nghiệp các huyện, thành phố duy trì công tác kiểm soát giết mổ trên địa bàn, đã kiểm tra, đóng dấu: 86 con trâu, bò; 5.252 con lợn.1.4. Về sản xuất lâm nghiệp 1.4.1. Công tác trồng rừngToàn tỉnh đã trồng được 859,56 ha, diện tích rừng trồng tập trung tăng 1.066,45% so cùng kỳ năm 2021 (do điều kiện thời tiết thuận lợi tiến độ trồng rừng trong tháng tăng mạnh so với cùng kỳ năm trước).1.4.2. Khai thác gỗ rừng trồngĐã khai thác được 96.745,6 m3 gỗ¬, tăng 0,03% so với cùng kỳ năm 2021.1.4.3. Công tác quản lý bảo vệ rừngTheo báo cáo của Chi cục Kiểm lâm tỉnh, trong tháng trên địa bàn toàn tỉnh không xảy ra vụ cháy rừng nào; số vụ chặt phá rừng 10 vụ, diện tích rừng bị chặt phá 1,79 ha. Đã xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng, đã kiểm tra, phát hiện và xử lý tịch thu 2 phương tiện và 2,85 m3 gỗ các loại; phạt hành chính và bán thanh lý tài sản 178 triệu đồng (thu nộp ngân sách 69,52 triệu đồng).2. Sản xuất công nghiệp2.1. Chỉ số phát triển công nghiệp - Chỉ số sản xuất công nghiệp trong tháng tăng 15,46% so với cùng kỳ, tăng 18,21% so với tháng trước, cụ thể như sau: Ngành khai khoáng tăng 9,44%, giảm 24,97%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 12,82%, tăng 21,67%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí tăng 26,96%, tăng 15,09%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 22,18%, tăng 4,99%.- Tính chung 7 tháng đầu năm, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 13,61% so với cùng kỳ năm trước, chia theo từng ngành kinh tế cấp I như sau:+ Ngành khai khoáng tăng 35,56%, nguyên nhân: Sản lượng khai thác đá, cát, barit tăng cao so cùng kỳ. + Ngành sản xuất và phân phối điện tăng 21,18%, nguyên nhân do lượng mưa từ đầu năm ổn định làm cho sản lượng điện đạt cao hơn so với cùng kỳ, đáp ứng được nhu cầu sản xuất, sinh hoạt của người dân và doanh nghiệp.+ Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 11,39%, nguyên nhân: Do một số ngành chế biến tăng như: Sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 27,5%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế) tăng 38,08%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 20,19%; sản xuất hóa chất và các sản phẩm hóa chất tăng 19,64%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc thiết bị) tăng 44,02%...+ Ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 13,82%, nguyên nhân: Do nhu cầu sử dụng nước sinh hoạt ngày càng tăng, với mục tiêu đẩy mạnh hoạt động sản xuất, kinh doanh đáp ứng nhu cầu nước sạch cho khách hàng. 2.2. Sản phẩm công nghiệp chủ yếu - Trong tháng, một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng so với cùng kỳ năm trước như: Điện thương phẩm đạt 116 triệu Kw, tăng 4,21%; điện sản xuất đạt 270 triệu Kw, tăng 48,74%; xi măng đạt 125.000 tấn, tăng 23,94%; fepromangan đạt 1.500 tấn, tăng 275%; hàng may mặc xuất khẩu đạt 1.657 nghìn cái, tăng 6,5%; gỗ tinh chế đạt 3.822 m3, tăng 32,23%,... Tuy nhiên, cũng có một số sản phẩm công nghiệp giảm so với cùng kỳ như: Chè chế biến đạt 1.800 tấn, giảm 5,8%; trang in đạt 16 triệu trang, giảm 11,11%; thép cây, thép cuộn đạt 22.360 tấn, giảm 23,54%;...- Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu trong 7 tháng đầu năm 2022 tăng so với cùng kỳ năm trước như: Điện thương phẩm đạt 692 triệu Kw, tăng 6,98%; điện sản xuất đạt 1.294 triệu Kw, tăng 60,52%; bột ba rít đạt 21.915 tấn, tăng 59,74%; fepromangan đạt 8.750 tấn, tăng 266,11%; hàng may mặc xuất khẩu đạt 13.240 nghìn cái, tăng 11,04%,.... Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu giảm so với cùng kỳ năm trước như: Đường kính đạt 7.736 tấn, giảm 38,39%; giấy đế xuất khẩu đạt 4.809 tấn, giảm 14,67%; thép cây, thép cuộn đạt 123.885 tấn, giảm 25,16%,...3. Kết quả thu ngân sách nhà nước3.1. Kết quả thu ngân sách- Tổng thu nội địa tháng 7 ước thực hiện là 190 tỷ đồng, lũy kế đạt 1.535 tỷ đồng, đạt 56,85% dự toán, tăng 13,83% so với cùng kỳ.- Số thu nội địa trừ tiền sử dụng đất và xổ số ước thực hiện là 124,2 tỷ đồng, lũy kế đạt 1.176,4 tỷ đồng, đạt 53,96% dự toán, tăng 6,09% so với cùng kỳ.3.2. Nguyên nhân ảnh hưởng đến kết quả thu 3.2.1. Tăng thu- Thu từ khu vực DNNN do trung ương quản lý ước thực hiện là 32 tỷ đồng, tăng 16,5 tỷ đồng so với cùng kỳ. Nguyên nhân: Sản lượng điện kê khai nộp thuế của Công ty Thủy điện Tuyên Quang - Chi nhánh tập đoàn điện lực Việt Nam tháng 7 tăng 168,8 triệu kwh so với cùng kỳ, số nộp NSNN tăng 18,2 tỷ đồng.- Thu tiền sử dụng đất ước thực hiện là 64,3 tỷ đồng, tăng 32,4 tỷ đồng so với cùng kỳ. 3.2.2. Giảm thu- Thu từ lệ phí trước bạ ước thực hiện là 10,7 tỷ đồng, giảm 4,6 tỷ đồng so với cùng kỳ; do số lượng phương tiện vận tải và tài sản thuộc đối tượng nộp lệ phí trước bạ giảm so với cùng kỳ.- Thu tiền thuê đất ước thực hiện là 2,3 tỷ đồng, giảm 4,5 tỷ đồng; số thu từ cấp quyền khai thác khoáng sản ước thực hiện là 1,7 tỷ đồng, giảm 3 tỷ đồng so với cùng kỳ.4. Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước thực hiện tháng 7 năm 2022 đạt 314.654 triệu đồng, tăng 33,87% so với cùng kỳ, trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 278.593 triệu đồng, tăng 32,52%; cấp huyện ước đạt 33.873 triệu đồng, tăng 49,16%; cấp xã đạt 2.188 triệu đồng, tăng 4,44%.Tính từ đầu năm, vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước thực hiện đạt 1.375.589 triệu đồng, đạt 36,8% kế hoạch, tăng 50,5% so với cùng kỳ, trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 1.218.952 triệu đồng, đạt 39,26%, tăng 47,48%; cấp huyện đạt 141.329 triệu đồng, đạt 23,89%, tăng 90,2%; cấp xã đạt 15.308 triệu đồng, đạt 36,51%, tăng 16,25%.Tính đến ngày 15/7/2022, tổng số vốn đã giải ngân được 1.420,91 tỷ đồng, đạt 35,35% kế hoạch, nằm trong nhóm những tỉnh có kết quả giải ngân cao của cả nước, trong đó: Nguồn vốn kế hoạch năm 2022 giải ngân được 1.406 tỷ đồng, đạt 35,5%; nguồn vốn năm 2021 kéo dài thời gian thực hiện và giải ngân sang năm 2022 giải ngân được 14,91 tỷ đồng, đạt 24,87%.5. Thương mại và Dịch vụ5.1. Doanh thu bán lẻ hàng hóa, dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch và dịch vụ khác5.1.1. Doanh thu bán lẻ hàng hóa Tổng mức bán lẻ hàng hóa trong tháng ước đạt 1.782.300 triệu đồng, tăng 1,98% so với tháng trước, tăng 6,32% so với cùng kỳ. Một số nhóm hàng hóa chính là: Lương thực thực phẩm đạt 675.198 triệu đồng, tăng 1,32%, giảm 0,72%; hàng may mặc đạt 108.169 triệu đồng, tăng 1,88%, tăng 13,29%; gỗ và vật liệu xây dựng đạt 222.575 triệu đồng, tăng 3,32%, tăng 42,58%; xăng, dầu các loại đạt 266.519 triệu đồng, tăng 1,31%, tăng 98,04%; Đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình đạt 183.986 triệu đồng, tăng 5,39%, tăng 0,95%,.... Tính chung 7 tháng, tổng mức bán lẻ hàng hóa đạt 11.591.755 triệu đồng, tăng 13,86% so với cùng kỳ, trong đó một số nhóm hàng hóa tăng là: Lương thực, thực phẩm đạt 4.540.987 triệu đồng, tăng 3,01%; gỗ và vật liệu xây dựng đạt 1.437.358 triệu đồng, tăng 49,47%; Ô tô con (dưới 9 chỗ ngồi) đạt 211.197 triệu đồng, tăng 7,37%; xăng, dầu các loại đạt 1.580.162 triệu đồng, tăng 88,39%... Tuy nhiên, còn có một số nhóm hàng giảm như: Vật phẩm, văn hoá, giáo dục đạt 106.702 triệu đồng, giảm 27,02%; hàng hoá khác đạt 788.536 triệu đồng, giảm 17,24%,...5.1.2. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ khác- Trong tháng, doanh thu nhóm dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 150.586 triệu đồng, tăng 21,04% so với cùng kỳ năm trước, tăng 3,54% so với tháng trước. Trong đó: Doanh thu dịch vụ ăn uống ước đạt 137.724 triệu đồng, tăng 21,89%, tăng 3,73%; dịch vụ lưu trú ước đạt 12.862 triệu đồng, tăng 12,58%, tăng 1,49%. Tính chung 7 tháng, nhóm dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 936.231 triệu đồng, tăng 24,29%.- Doanh thu nhóm du lịch lữ hành trong tháng ước đạt 500 triệu đồng, tăng 20,48% so với tháng trước; tính chung 7 tháng, nhóm du lịch lữ hành ước đạt 915 triệu đồng, tăng 67,8% so với cùng kỳ năm trước.- Doanh thu nhóm dịch vụ khác trong tháng ước đạt 60.779 triệu đồng, tăng 39,04% so với cùng kỳ năm trước, tăng 3,67% so với tháng trước, trong đó: Kinh doanh bất động sản đạt 3.109 triệu đồng, tăng 30,37%, tăng 0,03%; dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ đạt 13.901 triệu đồng, tăng 64,92%, tăng 0,83%; sửa chữa máy vi tính, đồ dùng cá nhân và gia đình đạt 9.610,20 triệu đồng, tăng 48,24%, tăng 1,2%. Tính chung 7 tháng, nhóm dịch vụ khác ước đạt 393.643,38 triệu đồng, tăng 29,49%.5.2. Xuất, nhập khẩu hàng hóa- Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu trong tháng ước đạt 13,3 triệu USD, giảm 44% so với cùng tháng năm trước, trong đó: Nhóm hàng dệt, may là sản phẩm xuất khẩu chính với 960 nghìn sản phẩm, giảm 13,8%,...Tính chung 7 tháng đầu năm, ước đạt 101 triệu USD, tăng 19,3% so với cùng kỳ năm trước. Một số nhóm hàng có sản phẩm xuất khẩu 7 tháng đầu năm nay tăng cao so với cùng kỳ: Hàng dệt, may đạt 10.117 nghìn sản phẩm, tăng 22,4%; Atimon thỏi đạt 94 tấn, tăng 147%; giấy in viết đạt 1.189 tấn, tăng 119,8%. Bên cạnh đó, một số nhóm hàng có kim ngạch xuất khẩu giảm so với cùng kỳ: Chè xuất khẩu đạt 1.213 tấn, giảm 7,6%; đũa gỗ xuất khẩu đạt 23.455 nghìn đôi, giảm 37,2%; giấy đế xuất khẩu đạt 2.069 tấn, giảm 24,6%,...- Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa ước tính đạt 8,2 triệu USD, giảm 29,1% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 7 tháng đầu năm, ước đạt 54,4 triệu USD, giảm 8,3%,...5.3. Giá cả- Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trong tháng tăng 0,41% so với tháng trước, tăng 1,91% so với cùng kỳ năm trước và tăng 3,87% so với tháng 12 năm trước. Tính chung 7 tháng đầu năm, tăng 0,94% so với cùng kỳ.Trong số 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính thì có 06 nhóm tăng giá so với tháng trước, 02 nhóm giảm giá, 03 nhóm giữ giá ổn định (thuốc và dịch vụ y tế; bưu chính viễn thông; giáo dục).Trong 06 nhóm hàng tăng giá, so với tháng trước, bao gồm những nhóm hàng sau: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,96% do giá thực phẩm tăng; nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,5% do dịp hè nhu cầu bia lon và các loại nước ép tăng tác động làm giá tăng theo; nhóm may mặc, mũ nón và giày dép tăng 0,03% do giá dép sandan mùa hè tăng giá; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0,46% do giá điện sinh hoạt và nước sinh hoạt tăng; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,18% do giá điều hoà, quạt tăng; văn hóa giải trí và du lịch tăng 0,96% do giá du lịch trọn gói nội địa tăng.Nhóm hàng hoá và dịch vụ khác giảm 0,04%, do giá đồ trang sức giảm; nhóm hàng giao thông giảm 2,85%, là do giá xăng dầu được điều chỉnh giảm.- Chỉ số giá vàng giảm 4,01% so với tháng trước; tăng 37,20% so với kỳ gốc 2019; giảm 3,63% so với cùng tháng năm trước. Trong tháng 7/2022, giá vàng 99,99% kiểu nhẫn tròn 1-2 chỉ có giá bình quân là 5,3 triệu đồng/chỉ. Giá vàng trong nước biến động cùng xu hướng với giá vàng thế giới, nên giá vàng trên địa bàn tỉnh giảm so với tháng trước. - Chỉ số giá đô la Mỹ tăng 0,73% so với tháng trước; tăng 0,97% so với kỳ gốc năm 2019 và tăng 1,77% so với cùng tháng năm trước. Giá đô la bình quân tháng 7/2022 dao động quanh mức là 23.518 đồng/1 đô la. 6. Vận tải hàng hóa và hành khách 6.1. Doanh thu vận tải tải kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải - Ước tính doanh thu vận tải kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải trong tháng đạt 295.058,82 triệu đồng, tăng 4,28% so với tháng trước, tăng 49,12% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Doanh thu từ vận tải hành khách ước đạt 52.743,23 triệu đồng, tăng 5,76% và tăng 40,05%; doanh thu từ vận tải hàng hóa đạt 241.880,66 triệu đồng, tăng 3,96% và tăng 51,16%; dịch vụ hỗ trợ vận tải kho bãi đạt 292,93 triệu đồng, tăng 7,75% và tăng 58,92%,...- Tính chung 7 tháng đầu năm, doanh thu vận tải kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 1.604.818,43 triệu đồng, tăng 15,79% so với cùng kỳ. Trong đó: Doanh thu từ vận tải hàng hóa đạt 1.329.224,97 triệu đồng, tăng 19,76%; dịch vụ hỗ trợ vận tải kho bãi đạt 1.618,64 triệu đồng, tăng 21,92%; doanh thu từ vận tải hành khách ước đạt 273.543,32 triệu đồng, giảm 0,42%.6.2. Vận tải hành khách và hàng hóa- Khối lượng hành khách vận chuyển trong tháng ước đạt 765,71 nghìn hành khách, tăng 3,93% so với tháng trước và tăng 24,81% so với cùng kỳ; khối lượng hành khách luân chuyển ước đạt 65.414,22 nghìn lượt hành khách.km, tăng 5,02% và tăng 19,15%. Tính chung 7 tháng, khối lượng hành khách vận chuyển ước đạt 4.236,59 nghìn hành khách, giảm 5,01% so với cùng kỳ; khối lượng hành khách luân chuyển ước đạt 400.432,43 nghìn lượt hành khách.km, giảm 0,85%.- Khối lượng hàng hóa vận chuyển trong tháng ước đạt 1.221,63 nghìn tấn, tăng 9,74% so với tháng trước và tăng 7,7% so với cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 82.376,10 nghìn tấn.km, tăng 3,64% và tăng 12,22%. Tính chung 7 tháng, khối lượng hàng hóa vận chuyển ước đạt 8.163,48 nghìn tấn, tăng 4,22% so với cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 524.945,30 nghìn tấn.km, tăng 3,55%.7. Về du lịch Tiếp tục thực hiện các giải pháp truyền thông, quảng bá văn hóa và du lịch tỉnh Tuyên Quang bằng nhiều hình thức; chuẩn bị các nội dung tham gia Chương trình du lịch “Qua những miền di sản Việt Bắc” lần thứ XIII tại Hà Giang năm 2022.Trong tháng 7/2022, thu hút được 190.000 lượt khách du lịch; tổng thu từ khách du lịch đạt 195 tỷ đồng (nâng tổng số 7 tháng đầu năm 2022, thu hút 1.455.000 lượt, đạt 64% kế hoạch, tăng 23% so với cùng kỳ; tổng thu từ du lịch 1.433 tỷ đồng, đạt 61% kế hoạch, tăng 24% so với cùng kỳ).II. LĨNH VỰC VĂN HÓA - XÃ HỘI 1. Về lao động việc làm, giáo dục nghề nghiệp- Kết quả trong tháng toàn tỉnh tạo việc làm được 2.505 lượt người lao động; lũy kế 7 tháng năm 2022 tạo việc làm được 16.256 lượt người lao động, đạt 75,6% kế hoạch và tăng 2,6% so với cùng kỳ, trong đó: Việc làm trong các ngành kinh tế tại tỉnh 10.020 người; làm việc tại các tỉnh, thành phố trong nước 4.880 người; đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng 356 người.- Thực hiện tốt công tác tư vấn giới thiệu việc làm cho 1.028 lao động (trong đó tư vấn tại các phiên giao dịch việc làm 201 người; tư vấn trực tiếp tại Trung tâm Dịch vụ việc làm cho 827 lao động là đối tượng hưởng chính sách bảo hiểm thất nghiệp). Lũy kế 7 tháng năm 2022, tư vấn việc làm cho 17.303 lượt người lao động; đăng tải 269 lượt thông tin tuyển lao động, tuyển sinh trên website, cổng thông tin điện tử Trung tâm Dịch vụ việc làm. Cấp phát trên 11.000 tờ rơi, tờ gấp tuyên truyền, thông báo tuyển dụng, tuyển sinh.2. Công tác đảm bảo chế độ chính sách và an sinh xã hội2.1. Công tác đối với người có công với cách mạng Trong tháng, tỉnh tổ chức tri ân, thăm hỏi, tặng quà người có công với cách mạng và gia đình người có công với cách mạng cùng với các hoạt động nhân dịp kỷ niệm 75 năm ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2022), trong đó:- Tổ chức các Đoàn đại biểu của tỉnh Tuyên Quang đi thăm viếng nghĩa trang liệt sĩ và một số điểm di tích lịch sử thuộc các tỉnh: Quảng Trị, Nghệ An, Hà Tĩnh, Điên Biên và tỉnh Hà Giang nhân dịp kỷ niệm 75 năm ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2022).- Thăm, tặng quà 36 người có công tiêu biểu, mức quà người có công tiêu biểu được lãnh đạo tỉnh tặng là 1.200.000 đồng/suất (trong đó: Bằng tiền mặt là 1.000.000 đồng, bằng hiện vật là 200.000 đồng). Trao quà của Quỹ Thiện Tâm - Tập đoàn Vingroup tặng Bà mẹ Việt Nam anh hùng đang hưởng trợ cấp hằng tháng trên địa bàn tỉnh (toàn tỉnh có 08 Mẹ được tặng quà, với mức quà tặng 5.000.000 đồng/Mẹ). Tặng quà cho Thương binh, bệnh binh nặng đang điều dưỡng tại các Trung tâm Điều dưỡng. Duy trì thực hiện đầy đủ, kịp thời các chế độ, chính sách đối với người có công; đẩy mạnh thực hiện các phong trào, hoạt động "đền ơn, đáp nghĩa", "uống nước nhớ nguồn", nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người có công.2.2. Công tác phòng chống các tệ nạn xã hộiTổ chức quản lý, điều trị, cai nghiện cho người nghiện ma túy. Tăng cường công tác quản lý cai nghiện ma túy tại Cơ sở cai nghiện ma túy; tổ chức tuyên truyền pháp luật về phòng chống ma tuý, giáo dục định hướng, kỹ năng tìm kiếm việc làm, kỹ năng tái hòa nhập cộng đồng cho học viên cai nghiện ma túy tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh. Tiếp tục tổ chức các hoạt động truyền thông về phòng chống mại dâm, phòng chống mua bán người, triển khai các hoạt động truyền thông nhân Ngày toàn dân phòng, chống mua bán người 30/7/2022.3. Hoạt động giáo dục và đào tạoTỉnh đã triển khai kỳ thi tốt nghiệp THPT theo đúng kế hoạch, bảo đảm an toàn, nghiêm túc, công bằng, đáp ứng yêu cầu đề ra, toàn tỉnh có 8.465 thí sinh đăng ký dự thi; tỷ lệ thí sinh đến dự thi tại các điểm thi đạt 99,69%. Công tác tổ chức thi tại 29/29 điểm thi diễn ra an toàn, nghiêm túc, không có giám thị, thí sinh vi phạm quy chế thi. Cùng với công tác tổ chức thi, công tác phòng, chống dịch bệnh Covid-19 được đẩy mạnh, công tác hỗ trợ các thí sinh được các cơ quan, đơn vị, các tổ chức chính trị - xã hội và toàn xã hội quan tâm, tham gia tích cực, tạo thuận lợi nhất cho các thí sinh tham dự kỳ thi. 4. Hoạt động y tế Tình hình dịch bệnh Covid-19 trên địa bàn tỉnh cơ bản đã được kiểm soát ổn định, việc triển khai tiêm vắc xin thực hiện khá tốt, số ca mắc mới đã giảm mạnh, số ca chuyển nặng, ca tử vong rất thấp và dần chuyển sang trạng thái bình thường mới, góp phần thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phục hồi kinh tế; đời sống nhân dân từng bước ổn định.Trong đợt dịch lần thứ tư, tính từ ngày 29/4/2021 đến 8h00 ngày 20/7/2022, trên địa bàn tỉnh ghi nhận 158.486 bệnh nhân, hiện đang điều trị là: 113, trong đó, tại cơ sở y tế 18 bệnh nhân và 95 bệnh nhân điều trị tại nhà, đã khỏi 158.354 người, số ca tử vong cộng dồn là 19.Về tình hình tiêm chủng vắc xin ngừa Covid-19: Cộng dồn từ đợt 01 đến nay đã tiêm 1.824.434 mũi tiêm; trong đó, mũi 01: 664.458 người; mũi 02: 614.936 người; mũi 03, mũi bổ sung, nhắc lại: 485.429 người; mũi 04: 59.611 người.+ Tiêm cho người từ 18 tuổi trở lên tỷ lệ tiêm mũi 01 là 100% (513.171 người, còn 6.100 người chống chỉ định chưa tiêm); tiêm đủ 2 mũi là 100% (515.022 người); số người được tiêm mũi 03, mũi nhắc lại là: 472.366 người (chiếm 88,6%); số người tiêm mũi 04: 59.611 người.+ Tiêm cho trẻ từ 12 đến dưới 18 tuổi, số tiêm 01 mũi: 78.058 trẻ (đạt 100%),số tiêm đủ 02 mũi: 77.219 trẻ (98,9%), trên tổng số trẻ cần phải tiêm 78.085 trẻ.+ Tiêm cho trẻ từ 05 đến dưới 12 tuổi mũi 01 cộng dồn được 73.229/112.057 trẻ được 64,3%, hiện chưa có phản ứng phụ hoặc tai biến xảy ra.5. Hoạt động văn hoá - thể dục, thể thao- Lĩnh vực văn hoá: Thực hiện công tác chuẩn bị cho Lễ đón nhận Bằng ghi danh “Thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam” vào danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại và Lễ hội Thành Tuyên năm 2022. Tiếp tục đẩy mạnh phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” gắn với chương trình xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh được triển khai.- Về thể dục thể thao: Chuẩn bị các điều kiện đăng cai giải Vô địch trẻ Vật cổ điển, vật tự do quốc gia năm 2022. Ban hành Điều lệ, kế hoạch tổ chưc giải đua xe đạp Địa hình tỉnh Tuyên Quang mở rộng “Hành trình về Tân Trào – Thủ đô kháng chiến” năm 2022; giải quần vợt các câu lạc bộ tỉnh Tuyên Quang mở rộng năm 2022; giải bóng bàn các câu lạc bộ tỉnh Tuyên Quang mở rộng năm 2022,…. 7. Tình hình trật tự trị an, an toàn xã hội và an toàn giao thông7.1. Về trật tự an toàn xã hội - Trật tự trị an, an toàn xã hội trong tháng: Từ ngày 15/6/2022 đến ngày 14/7/2022, toàn tỉnh đã phát hiện 05 vụ phạm pháp kinh tế, với 03 đối tượng phạm tội; số vụ phạm pháp hình sự là 23 vụ và bắt giữ 24 đối tượng phạm tội; phát hiện 35 vụ tàng trữ, mua bán, vận chuyển trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy, bắt giữ 43 đối tượng phạm tội.- So với cùng kỳ năm trước: Số vụ phạm pháp kinh tế giảm 01 vụ, số đối tượng phạm tội giảm 02 đối tượng; số vụ phạm pháp hình sự giảm 01 vụ, số đối tượng phạm tội giảm 19 đối tượng; số vụ tàng trữ, mua bán, vận chuyển trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy giảm 09 vụ, số đối tượng phạm tội giảm 07 đối tượng.7.2. Về an toàn giao thôngTrong tháng, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 07 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 01 người và làm bị thương 06 người; với tổng giá trị thiệt hại là 18 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước: Số vụ tai nạn giao thông không đổi; số người bị thương tăng 01 người; thiệt hại về tài sản giảm 07 triệu đồng.Tính chung 7 tháng, toàn tỉnh đã xảy ra 44 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 14 người và làm bị thương 38 người; với tổng giá trị thiệt hại là 326 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước: Số vụ tai nạn giao thông tăng 01 vụ; số người bị thương tăng 01 người; thiệt hại về tài sản tăng 190 triệu đồng.8. Thiệt hại do thiên tai, cháy, nổ8.1. Thiệt hại do thiên taiTrong tháng, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 4 đợt thiên tai (đêm ngày 22/6, rạng sáng ngày 23/6; đêm ngày 23/6, rạng sáng ngày 24/6; ngày 01/7; ngày 05/7). Do ảnh hưởng của vùng mây đối lưu và rãnh áp thấp kết hợp với hội tụ gió dẫn đến các khu vực trong tỉnh đã có mưa vừa, có nơi mưa to và dông. Thiên tai đã gây ra những thiệt hại về người và tài sản, ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống của nhân dân, cụ thể: - Thiệt hại về người: Số người chết: 02 người (do bị đất sạt lở vào nhà); bị thương: 01 người (tại xã Lực Hành, huyện Yên Sơn).- Thiệt hại về nhà ở: Nhà bị thiệt hại trên 70%: 01 nhà bị hư hỏng hoàn toàn (xã Thái Hòa, huyện Hàm Yên); nhà bị thiệt hại từ 30% - 50%: 51 nhà (01 nhà huyện Chiêm Hóa, 46 nhà huyện Hàm Yên, 04 nhà huyện Yên Sơn); nhà bị thiệt hại dưới 30%: 151 nhà (61 nhà huyện Na Hang, 21 nhà huyện Lâm Bình, 06 nhà huyện Chiêm Hóa, 57 nhà huyện Hàm Yên, 06 nhà huyện Yên Sơn).- Thiệt hại về nông, lâm nghiệp, thủy sản: Diện tích lúa bị ảnh hưởng: 10,46 ha; diện tích cây ngô, rau màu bị ảnh hưởng: 6,2 ha; diện tích cây ăn quả bị ảnh hưởng: 1,55 ha; diện tích cây lâm nghiệp bị ảnh hưởng: 20,5 ha; diện tích thủy sản bị thiệt hại: 1,59 ha; gia súc bị thiệt hại: 24 con (14 con trâu, 08 con lợn, 02 con dê); 148 con gia cầm bị thiệt hại.- Thiệt hại khác: 06 tuyến đường giao thông huyện bị ảnh hưởng (thuộc huyện Na Hang, Lâm Bình, Sơn Dương); 3.808,1 m3 đất đá sạt lở gây hư hỏng đường giao thông tuyến huyện; cột điện bị gãy, đổ: 23 cột điện 0,4 Kv; công trình thủy lợi bị sạt lở, hư hỏng: 01 công trình (huyện Chiêm Hóa); kênh mương thủy lợi bị hư hỏng, vùi lấp: 680,2 m (huyện Lâm Bình); số điểm trường bị ảnh hưởng: 09 điểm trường (thuộc các huyện Hàm Yên, Chiêm Hóa, Na Hang, Lâm Bình); tường rào bị đổ, sập: 80 m; phương tiện giao thông bị thiệt hại: 18 chiếc thuyền bị chìm, lật; chuồng trại bị hư hại: 04 chuồng; nhiều thiết bị, vật tư bị hư hỏng.- Ước tính tổng giá trị thiệt hại: 2.685,78 triệu đồng.Sau khi các đợt thiên tai xảy ra, chính quyền tại các địa phương đã huy động lực lượng tại chỗ, hỗ trợ kịp thời các hộ dân bị ảnh hưởng nhanh chóng khắc phục, sửa chữa tạm thời và có những biện pháp giúp đỡ để sớm ổn định đời sống của nhân dân và trở lại sản xuất./.CỤC THỐNG KÊ TUYÊN QUANG

Tình hình kinh tế - xã hội tháng 6 và 6 tháng đầu năm 2022 tỉnh Tuyên Quang
  •   10/11/2025 21:54

I. PHÁT TRIỂN KINH TẾ  1. Tăng trưởng kinh tế 6 tháng đầu năm 20221.1. Tổng sản phẩm trên địa bàn (theo giá so sánh 2010) 6 tháng đầu năm 2022- Về tốc độ tăng trưởng GRDPƯớc tính 6 tháng đầu năm 2022, tốc độ tăng trưởng GRDP (giá so sánh năm 2010) trên địa bàn tỉnh tăng 8,08% so với cùng kỳ năm 2021. Cụ thể như sau: 1.1.1. Khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 4,77%; đóng góp 1,31 điểm phần trăm trong mức tăng chung của GRDP. Ngành nông nghiệp mặc dù còn gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng của dịch tả lợn châu Phi nhưng cũng có mức tăng 3,45% tương đối ấn tượng đóng góp 0,71 điểm phần trăm; ngành lâm nghiệp tăng 8,74%, đóng góp 0,53 điểm phần trăm; ngành thủy sản tăng 7,38%, đóng góp 0,07 điểm phần trăm. 1.1.2. Khu vực Công nghiệp, xây dựng tiếp tục có nhiều tín hiệu khởi sắc và lấy lại đà tăng trưởng, tăng 12,03%, đóng góp 3,02 điểm phần trăm trong mức tăng chung. Trong đó: Ngành công nghiệp, tăng 14,17%, với mức đóng góp 2,38 điểm phần trăm; ngành xây dựng tăng 7,71%, đóng góp 0,64% điểm phần trăm trong khu vực. 1.1.3. Khu vực dịch vụ tăng 7,48%, đóng góp 3,24 điểm phần trăm. Trong khu vực dịch vụ, đóng góp của một số ngành có tỷ trọng lớn vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm như sau: Bán buôn, bán lẻ và sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy tăng 10,87%; lưu trú và ăn uống tăng 15,53%; hoạt động tài chính ngân hàng và bảo hiểm tăng 7,96%; nghệ thuật, vui chơi và giải trí tăng 27,58%,...1.1.4. Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 12,64%, đóng góp 0,51 điểm phần trăm. 1.2. Cơ cấu kinh tế Cơ cấu kinh tế tỉnh tiếp tục chuyển biến tích cực với chiều hướng tăng dần tỷ trọng khu vực công nghiệp - xây dựng, dịch vụ, giảm khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản. Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 25,43%; khu vực công nghiệp - xây dựng chiếm 29,12%; khu vực dịch vụ chiếm 41,27%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm 4,18%. 2. Tài chính, ngân hàng2.1. Tình hình thu, chi ngân sách nhà nước2.1.1. Thu ngân sách nhà nước: Tổng thu ngân sách nhà nước ước thực hiện là 1.399,7 tỷ đồng, đạt 50,28% dự toán năm, tăng 13,42% so với cùng kỳ. Trong đó thu nội địa ước thực hiện là 1.360 tỷ đồng, đạt 50,37% so với dự toán giao, tăng 13,86%.Một số khoản thu đạt khá là: Thu từ khu vực doanh nghiệp nhà nước (DNNN) do Trung ương quản lý ước đạt 140 tỷ đồng, đạt 43,08% dự toán, tăng 2,16% so với cùng kỳ; thu từ khu vực Doanh nghiệp nhà nước địa phương ước đạt 30 tỷ đồng, đạt 46,15% dự toán, tăng 16,71%; thuế thu nhập cá nhân ước đạt 68 tỷ đồng, đạt 68% dự toán, tăng 9,76%; thuế bảo vệ môi trường ước đạt 179 tỷ đồng, đạt 51,14%, tăng 32,6%; các khoản thu về nhà đất ước đạt 381,75 tỷ đồng, đạt 54,81%, tăng 55,07%; tiền cấp quyền khai thác khoáng sản 42 tỷ đồng, đạt 64,62% dự toán, tăng 2,47%,…Một số khoản thu thấp: Thu từ khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 12 tỷ đồng, đạt 30% dự toán, giảm 20,27% so với cùng kỳ; thu từ khu vực ngoài quốc doanh ước đạt 352,65 tỷ đồng, đạt 50,09%, giảm 2,9%; thu phí – lệ phí ước đạt 107 tỷ đồng, đạt 46,72%, giảm 10,44%,… 2.1.2. Chi ngân sách nhà nước: Tổng chi ngân sách nhà nước là 5.632,2 tỷ đồng, đạt 51,52% dự toán, tăng 20,69% so với cùng kỳ. Trong đó: Chi đầu tư phát triển là 1.167,9 tỷ đồng, đạt 87,1%, giảm 27,28%; chi thường xuyên là 2.517,6 tỷ đồng, đạt 38,34%, tăng 6,94%,...2.2. Hoạt động tín dụng ngân hàng- Về hoạt động huy động vốn: Nguồn vốn huy động tại địa phương ước thực hiện là 25.300, so với cùng kỳ tăng 3.472 tỷ đồng (+15,9%); so với 31/12/2021 tăng 1.385 tỷ đồng (+5,8%).- Về đầu tư tín dụng: Tổng dư nợ ước đạt 24.000 tỷ đồng, so với cùng kỳ tăng 3.455 tỷ đồng (+16,8%); so với 31/12/2021 tăng 1.765 tỷ đồng (+7,9%). - Chất lượng tín dụng: Nợ xấu của các Ngân hàng đến 30/6/2022 khoảng 165 tỷ đồng, chiếm 0,68% trên tổng dư nợ. 3. Giá cả- Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 6 năm 2022 tăng 0,49% so với tháng trước, tăng 1,99% so với cùng kỳ năm trước. CPI bình quân 6 tháng năm 2022 tăng 0,78% so với cùng kỳ năm 2021. Một số nguyên nhân cơ bản đã tác động tăng CPI là những nguyên nhân chủ yếu sau: Nhóm đồ uống, thuốc lá tăng 4,79%; nhóm giao thông tăng 15,75%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 2,68%; văn hóa, giải trí, du lịch tăng 2,9%,…- Chỉ số giá vàng giảm 1,24% so với cùng kỳ năm trước, giảm 0,13% so với tháng 12 năm trước, giảm 2,91% so với tháng trước. Tính chung 6 tháng chỉ số giá vàng tăng 1,58% so với cùng kỳ năm trước. - Chỉ số giá đô la Mỹ tăng 1,11% so với cùng kỳ năm trước, tăng 1,43% so với tháng 12 năm trước, tăng 0,7% so với tháng trước. Tính chung 6 tháng chỉ số giá vàng giảm 0,41% so với cùng kỳ năm trước. 4. Vốn đầu tư và xây dựng 4.1. Tình hình thực hiện vốn đầu tư 4.1.1. Vốn đầu tư phát triển toàn xã hộiTính chung 6 tháng đầu năm 2022 ước đạt 5.570,6 tỷ đồng, tăng 26,74% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Nguồn vốn từ khu vực nhà nước chiếm 25,04% tổng nguồn vốn đầu tư phát triển toàn xã hội; nguồn vốn đầu tư của dân cư và tư nhân chiếm tỷ trọng lớn nhất chiếm 74,02% tổng nguồn vốn.4.1.2. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước- Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước thực hiện tháng 6 đạt 248,95 tỷ đồng, tăng 14,82% so với tháng trước; tăng 37,17% so với tháng cùng kỳ năm trước, trong đó: Vốn ngân sách cấp tỉnh đạt 221,9 tỷ đồng, tăng 15,34%, tăng 31,02%; vốn ngân sách cấp huyện đạt 25,21 tỷ đồng, tăng 11,47%, tăng 135,07%; vốn ngân sách cấp xã đạt 1,84 tỷ đồng, tăng 1,21%, tăng 30,36%.- Ước thực hiện 6 tháng đạt 1.051,46 tỷ đồng, tăng 54,86% so với cùng kỳ, trong đó: Vốn ngân sách cấp tỉnh đạt 932,89 tỷ đồng, tăng 51,37%; vốn ngân sách cấp huyện đạt 105,61 tỷ đồng, tăng 104,68%; vốn ngân sách cấp xã đạt 12,96 tỷ đồng, tăng 17,04%.4.2. Xây dựng Năm 2022, tỉnh được giao kế hoạch vốn đầu tư công là 3.959,86 tỷ đồng, nguồn vốn năm 2021 kéo dài sang năm 2022 là 59,95 tỷ đồng. Tính đến thời điểm ngày 20/6 tổng số vốn đã giải ngân được 1.108,1 tỷ đồng, đạt 27,75% kế hoạch, trong đó: Nguồn vốn kế hoạch năm 2022 giải ngân được 1.096,63 tỷ đồng, đạt 27,69%; vốn năm 2021 kéo dài sang năm 2022 là 11,47 tỷ đồng, đạt 19,13%.5. Hoạt động của doanh nghiệp5.1. Về tình hình hoạt động của doanh nghiệp- Tính đến ngày 20/6, toàn tỉnh có 14 doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký là 409,4 tỷ đồng, giảm 44% về số lượng, tổng số vốn đăng ký tăng 188,1% so với cùng kỳ; vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp đạt 29,24 tỷ đồng, tăng 414,43% so với cùng kỳ.- Trong 6 tháng đầu năm 2022, có 149 doanh nghiệp thành lập mới với tổng số vốn đăng ký là 1.397,45 tỷ đồng, tăng 29,57% về số doanh nghiệp, số vốn đăng ký tăng 58,23% so với cùng kỳ, số vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới đạt 9,38 tỷ đồng. - Số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động là 76 doanh nghiệp, tăng 20,63% so với cùng kỳ. Tổng số doanh nghiệp đang hoạt động trên địa bàn tỉnh là 2.272 doanh nghiệp (bao gồm 11 doanh nghiệp nhà nước và 14 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài) với tổng số vốn đăng ký trên 24.840,13 tỷ đồng; số vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp đạt 10,93 tỷ đồng. - Số doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động là 120 doanh nghiệp, tăng 41,18% (tăng 35 doanh nghiệp so với cùng kỳ). Số doanh nghiệp giải thể là 12 doanh nghiệp (giảm 6 doanh nghiệp, giảm 33,33% so với cùng kỳ).5.2. Tình hình xu hướng kinh doanh ngành công nghiệp chế biến chế tạoKết quả điều tra về xu hướng kinh doanh của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong quý II năm 2022 cho thấy: Số doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh quý II năm nay khả quan hơn quý trước đạt tỷ lệ 34,48%; doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh ổn định đạt tỷ 37,93% và có 27,59% số doanh nghiệp đánh giá gặp khó khăn trong sản xuất kinh doanh. Chỉ số cân bằng của quý II năm 2022 so với quý I là 6,9%. Dự kiến xu hướng kinh doanh quý tiếp theo so với quý hiện tại năm 2022 cho thấy: Có 51,72% số doanh nghiệp đánh giá xu hướng sẽ tốt lên (trong đó có ngành: Cưa, xẻ, bào gỗ và bảo quản gỗ; Sản xuất bột giấy, giấy và bìa; Sản xuất các sản phẩm khác từ giấy và bìa chưa được phân vào đâu; Sản xuất sản phẩm hóa chất khác chưa được phân vào đâu; Sản xuất các cấu kiện kim loại); 41,38% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh sẽ ổn định (trong đó có ngành: Sản xuất gỗ dán, gỗ lạng, ván ép và ván mỏng khác; Sản xuất các sản phẩm khác từ gỗ, tre, nứa, rơm, rạ và vật liệu tết bện; Sản xuất vật liệu xây dựng từ đất sét; Sản xuất sắt, thép, gang; Rèn, dập, ép và cán kim loại, luyện bột kim loại; Gia công cơ khí, xử lý và tráng phủ kim loại); có 6,9% số doanh nghiệp dự báo tiếp tục khó khăn hơn. Dự tính chỉ số cân bằng của quý tiếp theo so với quý hiện tại là 44,83%. 6. Kết quả tình hình sản xuất Nông, lâm nghiệp và thủy sản 6 tháng đầu năm 20226.1. Trồng trọt 6.1.1. Sản xuất vụ đông xuân năm 2022Sơ bộ vụ đông xuân 2022 toàn tỉnh gieo trồng được 49.874,14 ha, tăng 0,22% (tăng 111,95 ha) so với năm 2021, tăng ở Vụ đông và chủ yếu tăng ở những cây trồng chính như: Ngô (ở vụ đông), lạc, đậu tương, nhóm cây hàng năm khác,... đậu tương, rau. Trong đó: Vụ xuân đạt 35.287,26 ha, giảm 0,37% (giảm 130,38 ha); vụ đông đạt 14.586,88 ha, tăng 1,69% (tăng 242,33 ha), cụ thể như sau:- Cây lúa: Diện tích gieo trồng được 19.038,77 ha, giảm 0,31% (giảm 58,27 ha) so với vụ đông xuân năm 2021. Trong đó: Lúa lai 8.820,70 ha, giảm 2,95% (giảm 268,06 ha); lúa thuần 10.218,07 ha, tăng 2,19% (tăng 219,07 ha); năng suất lúa bình quân chung 60,29 tạ/ha, giảm 0,34% (giảm 0,20 tạ/ha); sản lượng ước đạt 114.792,98 tấn, giảm 0,64% (giảm 733,87 tấn).- Cây ngô: Trồng được 13.622,81 ha, tăng 0,26% (tăng 35,36 ha) so với vụ đông xuân năm 2021. Trong đó: Vụ xuân 8.091,12 ha, giảm 1,86% (giảm 153,64 ha); vụ đông đạt 5.531,69 ha, đạt 122,38% kế hoạch, tăng 3,54%, tăng 189 ha; năng suất dự báo 46,37 tạ/ha, giảm 0,26% (giảm 0,12 tạ/ha (giảm ở vụ xuân). Trong đó: Vụ xuân 47,14 tạ/ha; vụ đông 45,25 tạ/ha; sản lượng ước đạt 63.170,59 tấn, bằng 100%. Trong đó: Vụ xuân đạt 38.138,69 tấn, giảm 2,67% (giảm trên 1.000 tấn); vụ đông đạt 25.030,9 tấn.- Cây khoai lang: Trồng được 1.750,95 ha, giảm 20,44% (giảm 449,71 ha) so với vụ đông xuân năm 2021; năng suất khoai lang 62,37 tạ/ha, tăng 0,08% (tăng 0,05 tạ/ha). Trong đó: Vụ xuân 64,27 tạ/ha, tăng 0,14%; vụ đông 61,42 tạ/ha; sản lượng đạt 10.919,91 tấn, giảm 20,37% (giảm 2.793,18 tấn). Trong đó: Vụ xuân đạt 3.727,10 tấn, giảm 20,40% (giảm 955,03 tấn); vụ đông đạt 7.192,81 tấn, giảm 20,35%, giảm 1.838,15 tấn.- Cây đậu tương: Trồng được 125,27 ha, tăng 14,16% (tăng 15,54 ha) so với vụ đông xuân năm 2021. Trong đó: Vụ xuân đạt 103,07 ha, tăng 1,97%; vụ đông đạt 22,20 ha; năng suất ước đạt 19,22 tạ/ha, giảm 1,27% (giảm 0,25 tạ/ha). Trong đó: Vụ xuân 19,64 tạ/ha; vụ đông 17,34 tạ/ha; sản lượng đạt 240,80 tấn, tăng 12% (tăng 55,83 tấn). Trong đó: Vụ xuân 202,42 tấn, tăng 1,91% (tăng 3,79 tấn); vụ đông đạt 38,38 tấn. - Cây lạc: Trồng được 3.308,48 ha, giảm 1,6% (giảm 53,79 ha) so với vụ đông xuân năm 2021; năng suất 29,50 tạ/ha, giảm 0,98% (giảm 0,29 tạ/ha) so với vụ đông xuân năm 2021; sản lượng đạt 9.761,14 tấn, giảm 2,56% (giảm 256,41 tấn).6.1.2. Sản xuất vụ mùa năm 2022Theo kế hoạch vụ mùa năm 2022, toàn tỉnh gieo cấy 24.719,8 ha lúa trong đó: Lúa lai 9.174 ha, lúa thuần 15.545,8 ha. Các địa phương trong tỉnh đang đẩy nhanh thu hoạch vụ xuân, thu hoạch đến đâu làm đất gieo cấy vụ mùa đến đó, đẩy nhanh tiến độ sản xuất vụ mùa, bảo đảm khung thời vụ cho vụ đông sắp tới; tính đến ngày 15/6/2022 toàn tỉnh đã gieo được 417.024 kg mạ, toàn tỉnh đã cấy được 148,7 ha.6.2. Về chăn nuôi 6.2.1. Về số lượng đàn gia súc, gia cầmĐàn trâu tổng đàn ước đạt 90.194 con, giảm 2,17% so với cùng kỳ năm 2021; đàn bò 37.704 con, tăng 2,17% (tăng 802 con); đàn lợn 555.237 con, tăng 2,05% (tăng 11.113 con). 6.2.2. Về sản phẩm đàn gia súc, gia cầmĐàn trâu sản lượng 3.484,51 tấn, tăng 5,31% (tăng 175,83 tấn) so với cùng kỳ năm 2021; đàn bò đạt 1.137,49 tấn, tăng 6,78% (tăng 72,18 tấn); đàn lợn đạt 31.196,65 tấn, tăng 7,15% (tăng 2.080,63 tấn); đàn gia cầm đạt 8.966,60 tấn, tăng 8,0%.6.3. Công tác phòng chống dịch bệnh gia súc, gia cầm6.3.1. Công tác phòng chống và điều trị - Bệnh Dịch tả lợn Châu Phi: Trong 6 tháng đầu năm 2022 đến nay, bệnh DTLCP đã xảy ra tại 41 hộ, 21 thôn, 14 xã, thị trấn của 7/7 huyện, thành phố; số lượng lợn mắc bệnh phải tiêu huỷ là: 998 con, tổng trọng lượng là: 44.910 kg. - Các bệnh truyền nhiễm khác: Hiện nay trên địa bàn chưa xuất hiện các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm như công tác theo dõi giám sát được tăng cường thường xuyên, đồng thời phối hợp chặt chẽ với các huyện thành phố để kịp thời xử lý ngay khi dịch bệnh xảy ra.- Trên địa bàn các huyện, thành phố rải rác xuất hiện các bệnh Tụ huyết trùng; ký sinh trùng, chướng bụng đầy hơi, sán lá gan (đàn trâu,bò,tiêu chảy, lép tô, phân trắng lợn con (đàn lợn); Newcastle, THT, cầu trùng…(đối với đàn gia cầm),đã được nhân viên thú y phát hiện, điều trị khỏi: 1.508/1.544 con, trong đó: Trâu, bò: 120/120 con; đàn lợn: 1.388/1.424 con.Tỉnh đã chỉ đạo các Trung tâm Dịch vụ Nông nghiệp huyện, thành phố tăng cường kiểm tra, theo dõi giám sát chặt chẽ tình hình dịch bệnh trên địa bàn quản lý, tăng cường công tác phòng, chống dịch bệnh; thường xuyên theo dõi công tác thú y trên địa bàn. 6.3.2. Công tác tiêm phòng: Đã thực hiện công tác tiêm phòng bổ sung cho đàn gia súc, gia cầm, cụ thể như sau: Đàn trâu LMLM: 46.668 con; THT: 49.958 con; đàn bò LMLM: 22.666 con; THT: 22.410 con; đàn lợn LMLM: 45.470 con; THT: 306.409 con; Dịch tả: 302.671 con; đàn gia cầm THT: 2.933.966 con; Niucatson: 3.122.675 con. 6.4. Công tác kiểm dịch vận chuyển và công tác kiểm soát giết mổ- Các Trạm Kiểm dịch vận chuyển ngoại tỉnh: Đã kiểm tra cấp 1.547 giấy chứng nhận kiểm dịch vận chuyển, trong đó: 797 chuyến vận chuyển 71.161 con gia súc, gia cầm; 749 chuyến vận chuyển 11.274.800 kg nguyên liệu sữa tươi và 01 chuyến vận chuyển 800 kg sản phẩm động vật đi các tỉnh Bắc Ninh, Hà Nội, Hà Giang, Vĩnh Phúc...- Tại các Trạm Kiểm dịch động vật: Duy trì thực nhiện, đã kiểm tra 969 lượt phương tiện vận chuyển đủ thủ tục (386 chuyến vận chuyển 72.095 con gia súc, 567 chuyến vận chuyển 709.057 con gia cầm, 16 chuyến vận chuyển 85.552 kg sản phẩm động vật). - Kiểm soát giết mổ và kiểm tra vệ sinh thú y: Trung tâm Dịch vụ nông nghiệp các huyện, thành phố duy trì công tác kiểm soát giết mổ trên địa bàn, đã kiểm tra, đóng dấu: 810 con trâu, bò; 25.313 con lợn.6.5. Về sản xuất lâm nghiệp 6.5.1. Công tác trồng rừngTổng diện tích rừng trồng tập trung toàn tỉnh đã trồng được 9.740,90 ha, tăng 1,06% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán là 733,28 nghìn cây.6.5.2. Khai thác gỗ rừng trồng  Toàn tỉnh khai thác được 518.500,18 m3 gỗ¬, tăng 9,77% so với cùng kỳ năm 2021. Gỗ khai thác chủ yếu là cây keo, bạch đàn phục vụ cho các công ty chế biến gỗ và sản xuất giấy trên địa bàn tỉnh.6.5.3. Công tác quản lý bảo vệ rừngCông tác quản lý, bảo vệ rừng được các cấp, các ngành quan tâm, đồng thời tuyên truyền, vận động nhân dân tích cực tham gia thực hiện kế hoạch trồng rừng năm 2022. Trong 6 tháng đầu năm 2022 trên địa bàn toàn tỉnh không xảy ra vụ cháy rừng nào; số vụ chặt phá rừng 37 vụ, diện tích rừng bị chặt phá 14,11 ha. Đã xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng, đã kiểm tra, phát hiện và xử lý tịch thu 14 phương tiện và 60,54 m3 gỗ các loại; phạt hành chính và bán thanh lý tài sản 824,2 triệu đồng (đã thu nộp ngân sách 535,9 triệu đồng).6.6. Về thuỷ sảnDiện tích nuôi trồng thuỷ sản 3.435,26 ha, tăng 2,36% (tăng 79,11 ha) so với cùng kỳ năm 2021. Sản lượng thuỷ sản 4.806,65 tấn, tăng 7,98% (tăng 355,17 tấn), trong đó: Sản lượng nuôi trồng 4.279,13 tấn, tăng 6,92%; sản lượng khai thác 527,52 tấn, tăng 17,45%; sản xuất giống được 74,56 triệu con tăng 3,17% (tăng 2,29 triệu con).6.7. Phát động Tết trồng cây “Đời đời nhớ ơn Bác Hồ” Xuân Nhâm Dần 2022Đã tổ chức Lễ phát động Tết trồng cây “Đời đời nhớ ơn Bác Hồ” tại 155 điểm; tổng số lượng cây trồng gồm 202.957 cây gồm các loại Keo, Mỡ, Lát hoa, Quế, Xoan ta và các loài cây bản địa khác, diện tích trồng được 161,406 ha, lực lượng tham gia là 19.622 người.6.8. Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới đã đem lại diện mạo mới, cuộc sống mới cho vùng nông thôn trong tỉnh. Tỉnh đã ban hành quyết định công nhận 7 xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao và 8 xã đạt chuẩn nông thôn mới. Toàn tỉnh hiện có 54 xã đạt chuẩn nông thôn mới, 8 xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao; 1 xã đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu. Tiếp tục duy trì và giữ vững 19/19 tiêu chí tại các xã đã đạt chuẩn nông thôn mới theo bộ tiêu chí xã nông thôn mới nâng cao và xã nông thôn mới kiểu mẫu giai đoạn 2021 - 2025.Chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP) là chương trình phát triển kinh tế khu vực nông thôn theo hướng phát triển nội lực và gia tăng giá trị với trọng tâm là phát triển sản phẩm nông nghiệp, phi nông nghiệp, dịch vụ có lợi thế ở mỗi địa phương theo chuỗi giá trị, do các thành phần kinh tế tư nhân và kinh tế tập thể thực hiện. Đến nay, toàn tỉnh có 128 sản phẩm của 64 xã được đánh giá, phân hạng, trong đó, có 33 sản phẩm 4 sao và 95 sản phẩm 3 sao. Đây đều là những sản phẩm nông nghiệp tiêu biểu, chất lượng sản phẩm an toàn, đảm bảo tiêu chuẩn cao. 7. Sản xuất công nghiệp7.1. Về phát triển công nghiệp trong tháng - Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) trong tháng tăng 4,44% so với tháng trước và tăng 21,01% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Ngành khai khoáng tăng 4,37%, tăng 17,8%; công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 3,08%, tăng 16,92%; sản xuất và và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 42,07%, tăng 37,9%; cung cấp nước và hoạt động thu gom xử lý rác, nước thải tăng 6,07%, tăng 22,26%,...- Sản phẩm công nghiệp chủ yếu trong tháng của tỉnh đạt mức tăng trưởng khá, một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng so với cùng kỳ năm trước như: Điện sản xuất đạt 281 triệu Kw, tăng 313,87%; xi măng đạt 125.000 tấn, tăng 30,77%; giày da đạt 700 nghìn đôi; gỗ tinh chế đạt 3.822 m3, tăng 54,27%; thép cây, thép cuộn đạt 25.000 tấn, tăng 27,91%,...Tuy nhiên, cũng có một số sản phẩm công nghiệp giảm so với cùng kỳ như: Điện thương phẩm đạt 108 triệu Kw, giảm 2,99%; chè chế biến đạt 1.658 tấn, giảm 8,31%; bột fenspat nghiền đạt 23.900 tấn, giảm 6,33%; may mặc xuất khẩu đạt 1.935 nghìn sản phẩm, giảm 8%,…7.2. Về phát triển công nghiệp 6 tháng đầu năm 2022- Chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 14,61% so với cùng kỳ năm. Chia theo từng ngành kinh tế cấp I như sau:+ Ngành khai khoáng tăng 29,68% nguyên nhân chính là thị trường tiêu thụ ổn định và nhu cầu tiêu thụ cao, các doanh nghiệp hoạt động khai khoáng, chế biến và sản xuất nguyên vật liệu xây dựng đẩy mạnh khai thác sản lượng tăng cao so cùng kỳ.+ Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục duy trì đà tăng trưởng của toàn ngành với mức tăng 12,69% đây là ngành đóng vai trò chủ chốt, bệ đỡ thúc đẩy sự tăng trưởng chung của toàn ngành. Nguyên nhân chủ yếu do một số sản phẩm chế biến sản xuất tăng như: Giấy, xi măng, chế biến gỗ,... + Ngành sản xuất và phân phối điện khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 22,43%. Nguyên nhân chủ yếu là do thời tiết mưa nhiều, dung tích trữ ở các hồ thủy điện lớn, các đơn vị thủy điện đã khai thác và điều tiết nước hợp lý, đảm bảo phát điện theo lịch điều độ của Trung tâm Điều độ Hệ thống điện Quốc gia, sản lượng điện đạt cao hơn so với cùng kỳ.+ Ngành cung cấp nước và hoạt động thu gom xử lý rác, nước thải tăng 12,88%. Nguyên nhân chính là nhu cầu sử dụng nước sinh hoạt ngày càng tăng cùng với đó là hoạt động thu gom xử lý rác thải không độc hại tăng.- Sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng so với cùng kỳ năm trước như: Điện thương phẩm đạt 572 triệu Kw, tăng 6,79%; điện sản xuất đạt 1.035 triệu Kw, tăng 65,64%; bột ba rít đạt 19.376 tấn, tăng 86,67%; xi măng đạt 657.601 tấn, tăng 13,83%; gỗ tinh chế đạt 21.507 m3, tăng 57,83%; may mặc xuất khẩu đạt 12.079 nghìn cái, tăng 16,5%,…Tuy nhiên, một số sản phẩm công nghiệp có chiều hướng giảm so với cùng kỳ như: Đường kính đạt 7.736 tấn, giảm 38,39%; giấy đế xuất khẩu đạt 3.949 tấn, giảm 20,06%; nước máy thương phẩm đạt 3.768 nghìn m3, giảm 1,36%,...8. Thương mại và Dịch vụ8.1. Doanh thu bán lẻ hàng hóa, dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch và dịch vụ khác8.1.1. Doanh thu bán lẻ hàng hóa Tổng mức bán lẻ hàng hóa trong tháng ước đạt 1.742.850 triệu đồng, tăng 2,25% so với tháng trước, tăng 14,88% so với cùng kỳ. Một số nhóm hàng hóa chính là: Lương thực thực phẩm đạt 679.102 triệu đồng, tăng 3,03%, tăng 5,13%; hàng may mặc đạt 108.301 triệu đồng, tăng 3,53%, tăng 10,72%; gỗ và vật liệu xây dựng đạt 225.819 triệu đồng, tăng 2,27%, tăng 56,85%; xăng, dầu các loại đạt 237.643 triệu đồng, tăng 1,71%, tăng 82,93%,...Tính chung 6 tháng đầu năm, tổng mức bán lẻ hàng hóa đạt 9.804.636 triệu đồng, tăng 15,29% so với cùng kỳ, trong đó một số nhóm hàng hóa tăng là: Lương thực, thực phẩm đạt 3.878.464 triệu đồng, tăng 4,03%; hàng may mặc đạt 581.099 triệu đồng, tăng 27,68%; gỗ và vật liệu xây dựng đạt 1.225.181 triệu đồng, tăng 52,09%; xăng, dầu các loại đạt 1.288.214 triệu đồng, tăng 82,93%,... Tuy nhiên, còn có một số nhóm hàng hóa giảm như: Vật phẩm, văn hoá, giáo dục đạt 91.399 triệu đồng, giảm 12,3%; nhiên liệu khác (trừ xăng dầu) đạt 172.127 triệu đồng, giảm 10,7%; hàng hoá khác đạt 696.114 triệu đồng, giảm 14,07%.8.1.2. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ khác- Trong tháng 6, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 141.589 triệu đồng, tăng 3,25% so với tháng trước, tăng 34,09% so với cùng kỳ, trong đó: Doanh thu dịch vụ lưu trú ước đạt 12.910 triệu đồng, tăng 4,48%, tăng 25,16%; dịch vụ ăn uống ước đạt 128.679 triệu đồng, tăng 3,13%, tăng 35,06%. Ước tính 6 tháng đầu năm doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 781.790 triệu đồng, tăng 24,32% so với cùng kỳ.- Doanh thu dịch vụ khác trong tháng ước đạt 60.683 triệu đồng, tăng 4,97% so với tháng trước, tăng 56,85% so với cùng kỳ, trong đó: Doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ đạt 13.040 triệu đồng, tăng 3,8%, tăng 64,26%; dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội đạt 1.967 triệu đồng, tăng 4,77%, tăng 52,86%; dịch vụ khác ước đạt 19.578 triệu đồng, tăng 9,82%, tăng 83,68%,… Ước tính 6 tháng đầu năm doanh thu dịch vụ khác ước đạt 334.923 triệu đồng, tăng 28,68% so với quý cùng kỳ. 8.2. Xuất, nhập khẩu hàng hóa- Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu 6 tháng đầu năm ước đạt trên 80,9 triệu USD, đạt 57,8% kế hoạch, tăng 32,7% so với cùng kỳ năm trước. Một số nhóm hàng có sản phẩm xuất khẩu tăng cao so với cùng kỳ: Bột giấy xuất khẩu 5.511 tấn, tăng 912,4%; giấy in viết, photo thành phẩm 1.551 tấn, tăng 186,7%; hàng dệt, may 9.938 nghìn sản phẩm, tăng 39%,…- Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa 6 tháng đầu năm, ước đạt 44,7 triệu USD, đạt 52,5% kế hoạch, giảm 6,5% so với cùng kỳ,...9. Vận tải hàng hóa và hành khách 9.1. Doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải- Doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải tháng 6 đạt 280.469 triệu đồng, tăng 15,06% so với tháng trước, tăng 40,02% so với cùng kỳ, trong đó: Vận tải hành khách ước đạt 48.856 triệu đồng, tăng 13,31%, tăng 24,56%; vận tải hàng hóa ước đạt 231.174 triệu đồng, tăng 15,44%, tăng 43,69%; kho bãi và các hoạt động hỗ trợ vận tải đạt 288 triệu đồng, tăng 8,84%, tăng 49,01%. - Doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 1.307.272 triệu đồng, tăng 10,03% so với cùng kỳ. Trong đó: Doanh thu vận tải hành khách đạt 219.785 triệu đồng, giảm 7,27%; doanh thu vận tải hàng hóa đạt 1.085.842 triệu đồng, tăng 14,31%; doanh thu kho bãi và các hoạt động hỗ trợ vận tải đạt 1.342 triệu đồng, tăng 17,4%.9.2. Vận tải hành khách và hàng hóa9.2.1. Vận tải hành khách- Vận tải hành khách tháng 6 ước đạt 688 nghìn lượt khách vận chuyển, tăng 7,71% so với tháng trước, tăng 7,66% cùng kỳ; luân chuyển hành khách đạt 50.106 nghìn lượt khách.km, tăng 2,55%, giảm 12,51%. - Tính chung 6 tháng đầu năm, vận tải hành khách ước đạt 3.422 nghìn lượt khách vận chuyển, giảm 11,04% so với cùng kỳ; luân chuyển ước đạt 310.476 nghìn lượt khách.km, giảm 11,03%,...9.2.2. Vận tải hàng hóa- Vận tải hàng hóa tháng 6 ước đạt 1.175 nghìn tấn, tăng 4,05% so với tháng trước, tăng 3,35% so với cùng kỳ; luân chuyển đạt 76.782 nghìn tấn.km, tăng 3,46%, tăng 4,32%. - Tính chung 6 tháng đầu năm, vận tải hàng hóa ước đạt 7.003 nghìn tấn, tăng 4,54% so với cùng kỳ; luân chuyển đạt 439.872 nghìn tấn.km, tăng 1,46%. 10. Về du lịch Đã thu hút được 1.265.000 lượt khách du lịch, đạt 55% kế hoạch, tăng 17,6% so với cùng kỳ; tổng thu từ du lịch đạt 1.238 tỷ đồng, đạt 53% kế hoạch, tăng 16,2%.II. LĨNH VỰC VĂN HÓA - XÃ HỘI 1. Về lao động việc làmTình hình lao động việc làm trên địa bàn tỉnh ổn định, số lượng việc làm gia tăng. Tỉnh triển khai, thực hiện chỉ tiêu kế hoạch lao động, việc làm - bảo hiểm xã hội năm 2022; triển khai kế hoạch thực hiện Chương trình hỗ trợ phục hồi và phát triển thị trường lao động. Xây dựng Kế hoạch và tổ chức các phiên giao dịch việc làm năm 2022; đẩy mạnh hoạt động tư vấn việc làm, định hướng nghề nghiệp, học nghề và thông tin thị trường lao động. Ước thực hiện 6 tháng đầu năm 2022, tạo việc làm cho 13.751 người, đạt 64% kế hoạch, trong đó: Tạo việc làm trong các ngành kinh tế tại tỉnh 9.515 người; đi làm việc tại các tỉnh, thành phố trong nước 4.022 người; đi làm việc ở nước ngoài 214 người.2. Đời sống dân cư Đời sống dân cư trên địa bàn tỉnh tiếp tục ổn định, tình hình dịch bệnh Covid-19 đã được kiểm soát, người dân được tiêm đủ các mũi vắc xin phòng bệnh. Tuy nhiên, giá các mặt hàng thiết yếu như xăng, dầu liên tục điều chỉnh tăng, giá các loại lương thực, thực phẩm tăng dẫn đến chi phí sinh hoạt tăng, đã ảnh hưởng đến đời sống của nhiều hộ gia đình, đặc biệt là nhiều hộ gia đình có thu nhập thấp và trung bình, người dân dần thắt chặt chi tiêu hơn cho tiêu dùng cá nhân. Tình hình tiền lương, thu nhập của đa số cán bộ, công nhân, công chức, viên chức về cơ bản tiếp tục ổn định. Các chế độ chính sách cho người lao động được đảm bảo thực hiện tốt. Trong dịp Tết Nguyên đán 2022, các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp và các tổ chức đoàn thể đã quan tâm đến việc thưởng Tết cho cán bộ, công nhân, viên chức và người lao động. Phần nào giúp đời sống của những người hưởng lương trong dịp Tết được ổn định hơn. Mức thưởng bình quân cho người lao động trong các loại hình doanh nghiệp có kế hoạch thưởng: 3.575.000đ/người (tăng 281.000 đồng/người so với năm 2021).3. Công tác người có công, giảm nghèo, bảo trợ xã hội và phòng chống tệ nạn xã hội 3.1. Công tác đối với người có công với cách mạngTiếp tục thực hiện đúng, đủ, kịp thời các chế độ, chính sách đối với người có công với cách mạng và thân nhân người có công; đẩy mạnh thực hiện các phong trào, hoạt động "Đền ơn, đáp nghĩa", "Uống nước nhớ nguồn", nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người có công,… Từ đầu năm đến nay đã giải quyết trợ cấp một lần cho 416 thân nhân người có công với cách mạng; ban hành quyết định trợ cấp đối với thanh niên xung phong hoàn thành nhiệm vụ trong kháng chiến; duy trì chi trả trợ cấp thường xuyên cho trên 7.000 người có công.Triển khai tặng quà của Chủ tịch nước và quà của tỉnh đối với người có công với cách mạng trên địa bàn tỉnh nhân dịp Tết Nguyên đán Nhâm Dần năm 2022. Triển khai tặng 17.261 suất quà, với tổng giá trị trên 4,12 tỷ đồng, trong đó: Quà của Chủ tịch nước 8.115 suất, giá trị trên 2,52 tỷ đồng; quà của tỉnh, huyện 9.105 suất, giá trị trên 1,56 tỷ đồng; quà của tỉnh tặng 05 Trung tâm điều dưỡng thương binh: 12,8 triệu đồng; quà tặng người có công tiêu biểu: 36 suất, trị giá 25,2 triệu đồng; quỹ Thiện Tâm trao tặng quà 95 suất quà, trị giá 1,42 tỷ đồng3.2. Công tác giảm nghèo bền vững, bảo trợ xã hội và phòng chống các tệ nạn xã hội- Tiếp tục thực hiện Đề án giảm nghèo bền vững gắn với Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025; triển khai thực hiện các chế độ, chính sách đối với hộ nghèo, cận nghèo và thực hiện các giải pháp giảm nghèo trên địa bàn tỉnh. Phân bổ, cấp phát gạo từ nguồn dự trữ quốc gia với tổng số 601.905 kg gạo để hỗ trợ cho 12.438 hộ với 40.127 khẩu bị thiếu lương thực trong dịp Tết Nguyên đán và giáp hạt đầu năm 2022.- Thường xuyên rà soát, nắm chắc tình hình đời sống nhân dân, hỗ trợ kịp thời các hộ bị thiệt hại, gặp khó khăn do mưa lũ, hỏa hoạn, tai nạn rủi ro; duy trì chi trả trợ cấp thường xuyên cho trên 35.000 đối tượng bảo trợ xã hội tại cộng đồng; nhân dịp Tết Nguyên đán Nhâm Dần năm 2022, tỉnh đã triển khai trao tặng 11.612 suất, tổng giá trị thành tiền là 6,16 tỷ đồng, bao gồm: Quà cho hộ nghèo, hộ cận nghèo: 10.173 suất, giá trị tiền 5,25 tỷ đồng; quà cho đối tượng bảo trợ xã hội: 263 suất, giá trị tiền 149 triệu đồng; quà cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt: 690 suất, giá trị tiền 307 triệu đồng; quà cho đối tượng khác: 486 suất, giá trị tiền 455 triệu đồng),...- Về điều trị cai nghiện và quản lý sau cai nghiện: Duy trì và thực hiện có hiệu quả công tác điều trị, quản lý cai nghiện ma túy tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh và triển khai các biện pháp hỗ trợ người sau cai nghiện tái hòa nhập cộng đồng. Trong 5 tháng đầu năm 2022, đã tiếp nhận 17 người nghiện vào cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở; cấp giấy chứng nhận hoàn thành cai nghiện cho 24 học viên, chuyển 01 học viên đi trại cải tạo; tiếp tục duy trì quản lý 112 học viên cai nghiện ma túy (trong đó số có mặt cai nghiện tại Cơ sở 106 học viên, đi viện 01 học viên, trốn cai 05 học viên).4. Hoạt động giáo dục và đào tạoTrước diễn biến phức tạp của dịch Covid-19 gây ra, ngành giáo dục đã tập trung thực hiện các phương án tổ chức dạy học thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch Covid-19, để hoàn thành mục tiêu kép, vừa hoàn thành kế hoạch nhiệm vụ năm học, bảo đảm chất lượng giáo dục, vừa làm tốt công tác phòng, chống dịch bệnh Covid-19.Tổ chức thành công Kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 các trường THPT và trường liên cấp có bậc THPT với gần 11.000 thí sinh dự thi không có trường hợp thí sinh, giám thị vi phạm quy chế. Kỳ thi diễn ra an toàn, nghiêm túc, công tác phòng chống dịch bệnh được đảm bảo. Đã hoàn thành Kỳ thi chọn học sinh giỏi lớp 11 THPT cấp tỉnh năm học 2021-2022. Theo đó, có 380 thí sinh đạt giải trên tổng số 764 thí sinh dự thi, tỷ lệ đạt giải 49,7%. 5. Hoạt động y tế Tình hình dịch bệnh Covid-19 trên địa bàn tỉnh cơ bản đã được kiểm soát ổn định, số ca mắc mới đã giảm mạnh, số ca chuyển nặng, ca tử vong rất thấp và dần chuyển sang trạng thái bình thường mới.Trong đợt dịch lần thứ tư, tính từ ngày 29/4/2021 đến ngày 21/6/2022, trên địa bàn tỉnh ghi nhận 158.095 bệnh nhân, hiện đang điều trị là 200, trong đó: 08 bệnh nhân điều trị tại các Cơ sở Y tế, 192 bệnh nhân điều trị tại nhà, đã khỏi 160.876 người, số tử vong cộng dồn 19 bệnh nhân.Về tình hình tiêm chủng vắc xin ngừa Covid-19: Cộng dồn từ đợt 01 đến nay đã tiêm 1.729.283 mũi tiêm, trong đó: Mũi 01: 642.916 người; Mũi 02: 609.700 người; Mũi 03, mũi bổ sung, nhắc lại: 461.871 người; mũi 04: 14.796 người.+ Tiêm cho người từ 18 tuổi trở lên tỷ lệ tiêm mũi 01 là 100% (512.929 người còn 6.151 người chống chỉ định chưa tiêm); tiêm đủ 2 mũi là 100% (514.507 người); số người được tiêm mũi 03, mũi nhắc lại là: 461.871 người (chiếm 87,1%); số người tiêm mũi 04: 14.796 người (chiếm 2,9%).+ Tiêm cho trẻ từ 12 đến dưới 18 tuổi, số tiêm 01 mũi: 77.635 trẻ (đạt 99,9 %), số tiêm đủ 02 mũi: 76.754 trẻ (98,6%), trên tổng số trẻ cần phải tiêm 77.665 trẻ.+ Tiêm cho trẻ từ 05 đến dưới 12 tuổi mũi 01 cộng dồn được 52.352 trẻ/112.057 trẻ được 46,7%, hiện chưa có phản ứng phụ hoặc tai biến xảy ra. - Về công tác khám chữa bệnh: Tiếp tục thực hiện đồng bộ các giải pháp để giảm quá tải, nâng cao chất lượng dịch vụ các tuyến. Tổ chức kiểm tra giám sát công tác khám chữa bệnh ở một số Bệnh viện, Trạm Y tế xã nhằm giải quyết kịp thời những vướng mắc trong công tác khám chữa bệnh, đặc biệt là khám chữa bệnh BHYT thanh toán theo giá dịch vụ y tế mới. Tổng số lượt khám bệnh trong 6 tháng đầu năm đạt 466.616 lượt người, trong đó: Bệnh viện tuyến tỉnh: 105.501 lượt, Trung tâm Y tế huyện: 172.034 lượt, Bệnh viện Đa khoa khu vực: 20.257 lượt, Trạm Y tế xã, phường, thị trấn: 168.824 lượt. Công suất sử dụng giường bệnh tại Bệnh viện tuyến tỉnh đạt 87%, Trung tâm Y tế huyện 65,4% và Bệnh viện Đa khoa khu vực 41,8%. Ngày điều trị trung bình tại Bệnh viện tuyến tỉnh đạt 6,9 ngày, Trung tâm Y tế huyện: 5,3 ngày, Bệnh viện Đa khoa khu vực: 5,4 ngày.- Công tác đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm (ATVSTP) cũng đã được tỉnh triển khai bằng nhiều giải pháp như: Tăng cường công tác truyền thông về an toàn vệ sinh thực phẩm trên các phương tiện thông tin đại chúng; triển khai công tác hậu kiểm chất lượng, giám sát các mối nguy cơ ô nhiễm thực phẩm; thực hiện thanh tra, kiểm tra, giám sát chất lượng ATVSTP trên địa bàn toàn tỉnh, qua đó kiểm tra, giám sát tại 1.322 cơ sở, đạt 54,6% kế hoạch; xử lý 101 cơ sở vi phạm các quy định về ATVSTP; triển khai việc thẩm định và cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện ATVSTP cho 67 cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm tại các huyện, thành phố, đạt 51,5% kế hoạch. Trong 6 tháng đầu năm không ghi nhận vụ ngộ độc thực phẩm nào trên địa bàn tỉnh.6. Hoạt động văn hoá, thể dục, thể thao- Lĩnh vực văn hoá: Xây dựng kế hoạch tổ chức Lễ đón nhận Bằng ghi danh của UNESCO di sản văn hóa phi vật thể "Thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam" và Lễ hội Thành Tuyên năm 2022. Tổ chức Lễ kỷ niệm 75 năm Ngày Bác Hồ trở lại Tuyên Quang lãnh đạo kháng chiến (02/4/1947-02/4/2022); thực hiện Chương trình nghệ thuật chào mừng kỷ niệm 132 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2022). Tiếp tục đẩy mạnh phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” gắn với chương trình xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh được triển khai; tuyên truyền công tác phòng, chống dịch Covid-19.- Lĩnh vực thể dục, thể thao: Tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động ''Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại'' và các phong trào thể thao quần chúng và thể thao thành tích cao có bước phát triển khá. Chuẩn bị các điều kiện tổ chức thành công Đại hội Thể dục thể thao tỉnh Tuyên Quang lần thứ IX, năm 2022. Các huyện, thành phố đã hoàn thành công tác tổ chức Đại hội thể dục thể thao các cấp; đến nay toàn tỉnh có 127/138 xã, phường, thị trấn hoàn thành tổ chức đại hội thể thao cấp xã, phường, thị trấn.7. Hoạt động khác- Về chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI): Theo đánh giá của Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) công bố; Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) năm 2021 tỉnh Tuyên Quang xếp thứ 29, tăng 2 bậc so với năm 2020, tăng 10 bậc so với năm 2017. Chỉ số điểm tổng hợp tăng từ 63,46 năm 2020 lên 64,76 năm 2021, cùng với đó các chỉ số thành phần như: tính năng động của chính quyền tỉnh, gia nhập thị trường, cạnh tranh bình đẳng, dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp, đào tạo lao động... đều tăng. - Về chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh (PAPI): Theo kết quả công bố, Tuyên Quang tiếp tục ghi tên trong nhóm trung bình cao với tổng điểm 43,402 (xếp thứ 20/63 tỉnh, thành phố trong cả nước). Cụ thể, chỉ số tham gia của người dân ở cấp cơ sở đạt 4,937 điểm; công khai trong việc ra quyết định ở địa phương 5,615 điểm; trách nhiệm giải trình với người dân đạt 4,388 điểm; kiểm soát tham nhũng trong khu vực công đạt 7,083 điểm; thủ tục hành chính công đạt 7,127 điểm; cung ứng dịch vụ công đạt 7,782 điểm; quản trị môi trường 3,729 điểm và quản trị điện tử 2,742 điểm...8. Tình hình trật tự trị an, an toàn xã hội và an toàn giao thông và phòng chống cháy, nổ8.1. Về trật tự an toàn xã hội - Trật tự trị an, an toàn xã hội trong tháng: Từ ngày 15/5/2022 đến ngày 14/6/2022, toàn tỉnh đã phát hiện 04 vụ phạm pháp kinh tế, với 04 đối tượng phạm tội; số vụ phạm pháp hình sự là 23 vụ và bắt giữ 42 đối tượng phạm tội; phát hiện 47 vụ tàng trữ, mua bán, vận chuyển trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy, bắt giữ 53 đối tượng phạm tội. So với cùng kỳ năm trước: Số vụ phạm pháp kinh tế tăng 02 vụ, tăng 02 đối tượng phạm tội; số vụ phạm pháp hình sự tăng 03 vụ, số đối tượng phạm tội tăng 04 đối tượng; số vụ tàng trữ, mua bán, vận chuyển trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy tăng 24 vụ và tăng 24 đối tượng phạm tội.- Trật tự trị an, an toàn xã hội 06 tháng đầu năm 2022: Từ ngày 15/12/2021 đến ngày 14/6/2022, toàn tỉnh đã phát hiện 24 vụ phạm pháp kinh tế, với 42 đối tượng phạm tội; số vụ phạm pháp hình sự là 137 vụ và bắt giữ 304 đối tượng phạm tội; phát hiện 179 vụ tàng trữ, mua bán, vận chuyển trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy, bắt giữ 246 đối tượng phạm tội; phát hiện 10 vụ phạm pháp về chức vụ, với 15 đối tượng phạm tội; số vụ phạm pháp về môi trường là 17 vụ với 24 đối tượng. So với cùng kỳ năm trước: Số vụ phạm pháp kinh tế tăng 06 vụ, số đối tượng phạm tội tăng 11 đối tượng; số vụ phạm pháp hình sự giảm 05 vụ, số đối tượng phạm tội tăng 28 đối tượng; số vụ tàng trữ, mua bán, vận chuyển trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy tăng 29 vụ, tăng 59 đối tượng phạm tội.8.2. Về an toàn giao thôngTrong tháng, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 07 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 02 người và làm bị thương 07 người; tổng giá trị thiệt hại về tài sản là 18 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước: số vụ tai nạn giao thông tăng 03 vụ; số người bị thương tăng 03 người; thiệt hại về tài sản giảm 22 triệu đồng.Tính chung 6 tháng, toàn tỉnh đã xảy ra 37 vụ tai nạn giao thông, làm chết 13 người và làm bị thương 32 người; tổng giá trị thiệt hại về tài sản là 308 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước: Số vụ tai nạn giao thông tăng 01 vụ; số người bị thương không thay đổi; thiệt hại về tài sản tăng 197 triệu đồng.8.3. Về cháy nổTháng 6/2022, toàn tỉnh không xảy ra vụ cháy, nổ nào. Tính chung 6 tháng đầu năm, trên địa bàn tỉnh xảy ra 01 vụ cháy nhà; thiệt hại ước tính khoảng 2 tỷ đồng.9. Thiệt hại do thiên taiTừ đầu năm đến nay, tình hình thiên tai tiếp tục diễn biến cực đoan, bất thường trên địa bàn toàn tỉnh đã liên tiếp xảy ra các đợt mưa rào và dông, mưa lũ đã gây ngập úng tại một số vùng thấp ven sông, suối và gây sạt lở tại các khu vực trên địa bàn tỉnh, ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống của nhân dân. Suối nhỏ nhiều ngầm tràn liên hiệp bị ngập gây ách tắc giao thông trên một số tuyến đường huyện, đường tỉnh, đường giao thông nông thôn.Thiên tai đã gây ra nhiều thiệt hại về người, về nhà ở và thiệt hại về sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản, cụ thể như sau:- Thiệt hại về người và nhà ở: Số người chết: 02 người do sạt lở đất tại xã Yên Lâm, huyện Hàm Yên và xã Bình Phú, huyện Chiêm Hóa. Số người bị thương: 04 người (02 người trú tại xã Phúc Ninh, huyện Yên Sơn; 02 người trú tại xã Yên lâm, huyện Hàm Yên); giông lốc đã làm thiệt hại 379 nhà bị hư hỏng (trong đó có 05 nhà bị sập đổ hoàn toàn), 31 nhà phải di dời ra khỏi nơi nguy hiểm, 267 nhà bị thiệt hại khác.- Thiệt hại về nông lâm nghiệp và cơ sở hạ tầng: Diện tích 1.506,56 ha lúa bị ngập và ảnh hưởng; 839,9 ha ngô, rau màu và 3,5 ha cây khác bị ảnh hưởng; 17 con trâu, 03 con bò, 25 con lợn, 699 con gà bị thiệt hại; 40,45 ha ao bị tràn bờ; 86 lồng cá bị thiệt hại do lũ cuốn trôi, ngoài ra 10 lồng cá đặc sản,... Ước tính tổng giá trị thiệt hại khoảng: 42,83 tỷ đồng.Sau khi thiên tai xảy ra, chính quyền địa phương đã huy động lực lượng tại chỗ hỗ trợ các hộ dân bị ảnh hưởng nhanh chóng khắc phục, sửa chữa tạm thời; nhanh chóng khắc phục và có những biện pháp giúp đỡ kịp thời để cuộc sống người dân sớm trở lại ổn định đời sống và sản xuất của nhân dân. 10. Đánh giá chungTrong 6 tháng đầu năm 2022, mặc dù vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức; tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh tiếp tục có sự phát triển, tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt khá cao so với các tỉnh trong khu vực: Tốc độ tăng GRDP ước tăng 8,08% (tăng 2,85% so với cùng kỳ năm 2021, đứng thứ 20 cả nước và thứ 03/11 tỉnh vùng Trung du miền núi phía Bắc); thu ngân sách được đảm bảo; môi trường đầu tư kinh doanh được cải thiện (chấp thuận chủ trương đầu tư cho 10 dự án, với tổng mức đầu tư trên 1.327,3 tỷ đồng); thu hút các nguồn lực phát triển kinh tế - xã hội; chỉ số giá trong tầm kiểm soát,... Bên cạnh những kết quả đạt được vẫn còn một số khó khăn, thách thức đối với phát triển kinh tế của tỉnh như: Một số sản phẩm công nghiệp và xuất khẩu tăng khá so với cùng kỳ nhưng còn đạt thấp so với kế hoạch; tiến độ giải ngân vốn đầu tư công còn chậm; bệnh dịch tả lợn châu Phi đã cơ bản được kiểm soát. Tuy nhiên, nguy cơ dịch bệnh tái phát trong thời gian tới rất cao khi người chăn nuôi đang đẩy mạnh tái đàn, tăng đàn; giá vật tư nông nghiệp đầu vào liên tục tăng; tình hình tiêu thụ một số sản phẩm nông sản còn gặp khó khăn ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp,…CỤC THỐNG KÊ TUYÊN QUANG

Tình hình kinh tế - xã hội tháng 5 năm 2022 tỉnh Tuyên Quang
  •   10/11/2025 21:50

I. PHÁT TRIỂN KINH TẾ  1. Về sản xuất nông nghiệp (tính đến ngày 15/5/2022)1.1. Trồng trọt 1.1.1. Sản xuất vụ xuân năm 2022- Toàn tỉnh đã cấy được 19.050,14 ha lúa, đạt 103,04% kế hoạch, giảm 0,25% (giảm 46,90 ha) so với vụ đông xuân năm 2021. Trong đó: Lúa lai 8.848,69 ha, giảm 2,73% (tăng 248,26 ha); lúa thuần 10.201,45 ha, tăng 2,01% (tăng 201,36 ha). Về cơ cấu giống lúa lai chiếm 46,45%, lúa thuần chiếm trên 53,55% trên tổng diện tích gieo trồng.- Cây ngô đã trồng 8.223,63 ha, đạt 102,49%, giảm 0,26% (giảm 21,13 ha); cây đậu tương 117,27 ha, tăng 16,02% (tăng 29,74 ha); cây lạc 3.247,61 ha, giảm 2,08% (giảm 69,03 ha); cây khoai lang 580,48 ha, giảm 20,43% (giảm 149,03 ha); cây mía trồng mới, trồng lại là 621,4 ha, tăng 173,48% (tăng 394,15 ha), trong đó: Diện tích trồng mới 275,9 ha, trồng lại 345,5 ha.1.1.2. Tình hình sinh vật gây hại a. Cây hàng năm vụ xuân: Cây lúa xuân (ngậm sữa – vào chắc): Rầy nâu, rầy lưng trắng, bọ xít gây hại rải rác; Cây ngô, cây lạc, đậu tương: Sâu đục thân, sâu cuốn lá, sâu khoang gây hại rải rác; Cây mía (đẻ nhánh) Bọ trĩ gây hại rải rác, tỷ lệ hại 2-4 %; Bọ hung gây hại rải rác tại một số ruộng đất soi bãi, mật độ nơi cao 1-2 con/hố; b. Cây lâu năm: Cây chè (ra búp): Rầy xanh, bọ trĩ, bọ xít gây hại, tỷ lệ hại trung bình 1-3%, nơi cao 5-6% số búp; Cây có múi; Nhện trắng, rám vàng gây hại rải rác, tỷ lệ hại nơi cao 3-5% số lá; Cây nhãn, vải (hoa – quả non); Bọ xít nâu gây hại, mật độ trung bình 1-2 con/cành, nơi cao 3-4 con/cành, non-trưởng thành; Bệnh chổi rồng, bệnh sương mai, nhện lông nhung gây hại rải rác, tỷ lệ hại nơi cao 5-7 % số cành.c. Cây lâm nghiệp (vườn ươm-1-5 tuổi): Sâu ăn lá gây hại rải rác, tỷ lệ hại nơi cao 1-2% số lá (sâu non); Bệnh chết héo gây hại rải rác trên cây keo 1-3 tuổi, nơi cao 3-5% số cây; Bệnh thán thư, bệnh vàng lá, khô cành, khô ngọn gây hại rải rác trên cây bạch đàn tuổi 1-2, tỷ lệ hại nơi cao 2-4 % số cây.1.2. Về chăn nuôi 1.2.1. Về số lượng đàn gia súc, gia cầmĐàn trâu: Tổng đàn là 91.690 con, giảm 1,1% (giảm 1.021 con) so với cùng kỳ năm 2021; đàn bò 37.571 con, tăng 2,52% (tăng 923 con), trong đó: Bò sữa 4.726 con, tăng 7,48% (tăng 329 con); đàn lợn: Tổng đàn là 544.292 con, tăng 2,17% (tăng 11.578 con); đàn gia cầm 6.953,14 nghìn con, tăng 3,34% (tăng 224,42 nghìn con), trong đó: Đàn gà là 6.160,17 nghìn con, tăng 3,82% (tăng 226,69 nghìn con).1.2.2. Về sản phẩm đàn gia súc, gia cầmSản lượng thịt trâu hơi xuất chuồng đạt 701,42 tấn, tăng 0.13% (tương ứng với 2.189 con xuất chuồng) so với cùng kỳ năm 2021; đàn bò đạt 209,34 tấn, tăng 9,52% (tương ứng với 975 con), sản lượng sữa đạt 3.123,50 tấn, giảm 0,28%; đàn lợn đạt 5.022,55 tấn, tăng 10,44% (tương ứng với 61.618 con); đàn gia cầm đạt 1.535,02 tấn, tăng 1,75% (tăng 28,06 tấn), trong đó sản lượng gà đạt 1.308,40 tấn, tăng 2,42% (tăng 30,9 tấn).1.3.3. Về công tác phòng chống dịch bệnh gia súc, gia cầm- Bệnh Dịch tả lợn Châu Phi: Trong tháng bệnh Dịch tả lợn Châu Phi đã phát sinh trong kỳ tăng 04 thôn/20hộ số lợn mắc bệnh phải tiêu hủy: 217 con, trọng lượng: 3.727 kg.- Các bệnh truyền nhiễm khác: Hiện nay trên địa bàn chưa xuất hiện các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm như công tác theo dõi giám sát được tăng cường thường xuyên, đồng thời phối hợp chặt chẽ với các huyện thành phố để kịp thời xử lý ngay khi dịch bệnh xảy ra.- Điều trị bệnh: Trên địa bàn các huyện, thành phố có một số gia súc, gia cầm ốm do mắc các bệnh Tụ huyết trùng; ký sinh trùng, chướng bụng đầy hơi, sán lá gan (đàn trâu,bò, tiêu chảy, lép tô, phân trắng lợn con (đàn lợn); Niucatson, THT, cầu trùng,…(đối với đàn gia cầm), số gia súc mắc bệnh đã được nhân viên thú y xã phát hiện, điều trị khỏi: 213/220 con, trong đó: Trâu, bò: 23/23 con; đàn lợn: 190/197 con.1.3.4. Công tác kiểm dịch vận chuyển và công tác kiểm soát giết mổ- Công tác kiểm dịch vận chuyển ngoại tỉnh: Thực hiện nghiêm theo cơ chế “Một cửa”, đã kiểm tra, cấp 162 giấy chứng nhận kiểm dịch vận chuyển động vật, sản phẩm động vật ngoại tỉnh, trong đó: 105 chuyến vận chuyển 37.766 con lợn giết thịt; 53 chuyến vận chuyển 79.820 con gia cầm giết thịt; 02 chuyến vận chuyển 9.100 kg sản phẩm động vật đã qua xử lý nhiệt làm thức ăn chăn nuôi. - Công tác kiểm soát giết mổ và kiểm tra vệ sinh thú y: Trong tháng, Trung tâm Dịch vụ nông nghiệp các huyện, thành phố duy trì công tác kiểm soát giết mổ trên địa bàn các huyện, thành phố: Tại huyện Yên Sơn đã kiểm tra, đóng dấu: 132 con trâu, bò và 4.611 con lợn.1.4. Về sản xuất lâm nghiệp 1.4.1. Công tác trồng rừng: Hiện nay, trên địa bàn tỉnh các đơn vị đang tiến hành triển khai rà soát các diện tích đất lâm nghiệp đủ điều kiện đưa vào thiết kế trồng rừng gỗ lớn, thâm canh rừng và chuyển hóa rừng trồng gỗ nhỏ sang rừng trồng gỗ lớn đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn. Ước tính diện tích rừng trồng tập trung toàn tỉnh được 7.298 ha, tăng 17,25% so với cùng kỳ năm 2021; số cây lâm nghiệp trồng phân tán là 733,28 nghìn cây.1.4.2. Khai thác gỗ rừng trồng: Toàn tỉnh đã khai thác được 382.056,1 m3 gỗ, tăng 24,26% so với cùng kỳ. Trong đó, của các tổ chức khác được 40.587,73 m3; của hộ gia đình là 341.468,35 m3. 1.4.3. Công tác quản lý bảo vệ rừng: Trong tháng trên địa bàn tỉnh không xảy ra vụ cháy rừng nào; Số vụ chặt phá rừng 1 vụ, diện tích rừng bị chặt phá 0,36 ha. Đã xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng, đã kiểm tra, phát hiện và xử lý 20 vụ, 4,405 m3 gỗ các loại; phạt hành chính và bán thanh lý tài sản 243 triệu đồng (đã thu nộp ngân sách 173 triệu đồng).2. Sản xuất công nghiệp2.1. Chỉ số phát triển công nghiệp - Chỉ số sản xuất công nghiệp trong tháng tăng 10,3% so với cùng kỳ, giảm 4,01% so với tháng trước, cụ thể như sau: Ngành khai khoáng tăng 34,69%, tăng 9,64%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 8,05%, giảm 5,46%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí tăng 20,1%, tăng 1,56%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải giảm 5,68%, giảm 2,43%.- Tính chung 05 tháng đầu năm, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 13,13% so với cùng kỳ năm trước, chia theo từng ngành kinh tế cấp I như sau:+ Ngành khai khoáng tăng 34,19%, nguyên nhân: Sản lượng đá, cát, barit tháng 5 tăng cao so cùng kỳ. + Ngành sản xuất và phân phối điện tăng 17,05%, nguyên nhân do lượng mưa từ đầu năm ổn định làm cho sản lượng điện đạt cao hơn so với cùng kỳ.+ Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 11,79%, nguyên nhân: Do một số ngành chế biến tăng như: Sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 22,64%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 25,73%; sản xuất hóa chất và các sản phẩm hóa chất tăng 8,39%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 59,43%...+ Ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 9,89%, nguyên nhân: Do nhu cầu sử dụng nước sinh hoạt ngày càng tăng, với mục tiêu đẩy mạnh hoạt động sản xuất, kinh doanh đáp ứng nhu cầu nước sạch cho khách hàng.2.2. Sản phẩm công nghiệp chủ yếu - Trong tháng, một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng so với cùng kỳ năm trước như: Điện thương phẩm đạt 106 triệu Kw, tăng 10,72%; điện sản xuất đạt 186 triệu Kw, tăng 43,02%; bột barit đạt 6.900 tấn, tăng 13,11%; xi măng đạt 125.000 tấn, tăng 16,27%; fepromangan đạt 1.400 tấn, tăng 250%; hàng may mặc xuất khẩu đạt 1.913 nghìn cái, tăng 44,97%; giày da đạt 750 nghìn cái, tăng 25%; gỗ tinh chế đạt 3.022 m3, tăng 34,96%,... Tuy nhiên, cũng có một số sản phẩm công nghiệp giảm so với cùng kỳ như: Chè chế biến đạt 1.137 tấn, giảm 8,04%; bột felspat đạt 22.682 tấn, giảm 4,55%; trang in đạt 16 triệu trang, giảm 11,11%; giấy in viết, photo thành phẩm đạt 9.091 tấn, giảm 19,41%;...- Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu trong 05 tháng đầu năm 2022 tăng so với cùng kỳ năm trước như: Điện thương phẩm đạt 466 triệu Kw, tăng 9,86%; bột ba rít đạt 16.900 tấn, tăng 113,82%; fepromangan đạt 5.720 tấn, tăng 259,75%; hàng may mặc xuất khẩu đạt 8.979 nghìn cái, tăng 8,64%; giày da đạt 2.790 nghìn cái, tăng 16,25%,.... Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu giảm so với cùng kỳ năm trước như: Đường kính đạt 7.736 tấn, giảm 38,39%; giấy đế xuất khẩu đạt 3.277 tấn, giảm 18,95%; nước máy thương phẩm đạt 3.059 nghìn m3, giảm 1,27%,...3. Kết quả thu ngân sách nhà nước- Tổng thu nội địa tháng 5/2022 ước thực hiện là 210 tỷ đồng, lũy kế đạt 1.159,2 tỷ đồng, đạt 42,9% dự toán, tăng 12,1% so với cùng kỳ.- Số thu nội địa trừ tiền sử dụng đất và xổ số ước thực hiện tháng 5/2022 là 183,3 tỷ đồng, lũy kế đạt 908,1 tỷ đồng, đạt 41,7% dự toán, tăng 7,7% so với cùng kỳ.4. Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước thực hiện tháng 5 năm 2022 đạt 190.180 triệu đồng, tăng 31,76% so với cùng kỳ, trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 166.004 triệu đồng, tăng 25,31%; cấp huyện đạt 22.356 triệu đồng, tăng 112,05%; cấp xã đạt 1.820 triệu đồng, tăng 37,57%.Tính từ đầu năm, vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước thực hiện đạt 775.869 triệu đồng, tăng 55,96% so với cùng kỳ, đạt 20,75% kế hoạch, trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 684.611 triệu đồng, tăng 53,18%, đạt 22,05%; cấp huyện đạt 80.140 triệu đồng, tăng 96,07%, đạt 13,55%; cấp xã đạt 11.118 triệu đồng, tăng 15,09%, đạt 26,52%.5. Thương mại và Dịch vụ5.1. Công tác quản lý nhà nước về thương mạiĐến nay, nhìn chung các hoạt động thương mại dịch vụ đã từng bước khôi phục, thị trường hàng hóa và đời sống của người dân dần ổn định, các điểm bán lẻ, hệ thống phân phối, nhà hàng, khách sạn, hàng quán kinh doanh ăn uống... đã mở cửa trở lại hoàn toàn; nguồn cung hàng hóa dồi dào cả về chủng loại lẫn số lượng, đáp ứng đầy đủ nhu cầu tiêu dùng, hàng hóa không có tình trạng khan hiếm; các cơ sở kinh doanh bán hàng song song cả hình thức trực tiếp và trực tuyến nên tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 5 tăng cao so với cùng kỳ.5.2. Doanh thu bán lẻ hàng hóa, dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch và dịch vụ khác5.2.1. Doanh thu bán lẻ hàng hóa Tổng mức bán lẻ hàng hóa trong tháng ước đạt 1.701.638 triệu đồng, tăng 1,66% so với tháng trước, tăng 19,66% so với cùng kỳ. Một số nhóm hàng hóa chính là: Lương thực thực phẩm đạt 670.396 triệu đồng, tăng 1,58%, tăng 7,51%; hàng may mặc đạt 103.951 triệu đồng, tăng 4,93%, tăng 55,07%; gỗ và vật liệu xây dựng đạt 224.029 triệu đồng, tăng 2,85%, tăng 65,74%; xăng, dầu các loại đạt 231.042 triệu đồng, tăng 0,95%, tăng 99,44%; hàng hoá khác đạt 118.817 triệu đồng, tăng 0,51%, giảm 10,29%,.... Tính chung 5 tháng, tổng mức bán lẻ hàng hóa đạt 8.058.941 triệu đồng, tăng 15,34% so với cùng kỳ, trong đó một số nhóm hàng hóa tăng là: Lương thực, thực phẩm đạt 3.210.649 triệu đồng, tăng 4,16%; gỗ và vật liệu xây dựng đạt 1.002.584 triệu đồng, tăng 51,55%; phương tiện đi lại, trừ ô tô con (kể cả phụ tùng) đạt 251.149 triệu đồng, tăng 8,64%; xăng, dầu các loại đạt 1.047.964 triệu đồng, tăng 80,3%... Tuy nhiên, còn có một số nhóm hàng giảm như: Vật phẩm, văn hoá, giáo dục đạt 76.094 triệu đồng, giảm 8,44%; hàng hoá khác đạt 572.988 triệu đồng, giảm 15,16%,...5.2.2. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ khác- Trong tháng, doanh thu nhóm dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 141.679 triệu đồng, tăng 27,57% so với cùng kỳ năm trước, tăng 1,29% so với tháng trước. Trong đó: Doanh thu dịch vụ ăn uống ước đạt 129.553 triệu đồng, tăng 30,39%, tăng 1,23%; dịch vụ lưu trú ước đạt 12.127 triệu đồng, tăng 3,67%, tăng 1,98%. Tính chung 5 tháng, nhóm dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 644.755 triệu đồng, tăng 23,22%.- Doanh thu nhóm dịch vụ khác trong tháng ước đạt 60.519 triệu đồng, tăng 88,38% so với cùng kỳ năm trước, tăng 1,1% so với tháng trước, trong đó: Kinh doanh bất động sản đạt 3.391 triệu đồng, tăng 88,9%, tăng 3,04%; dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ đạt 12.143 triệu đồng, tăng 58,87%, tăng 0,2%; giáo dục và đào tạo đạt 2.179 triệu đồng, tăng 82,04%, giảm 3,97%; sửa chữa máy vi tính, đồ dùng cá nhân và gia đình đạt 8.715 triệu đồng, tăng 55,77%, tăng 4,08%. Tính chung 5 tháng, nhóm dịch vụ khác ước đạt 291.240,34 triệu đồng, tăng 31,44%.5.3. Xuất, nhập khẩu hàng hóa- Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu trong tháng ước đạt trên 13,1 triệu USD, tăng 46,8% so với cùng kỳ năm 2021, trong đó: Nhóm hàng dệt, may là sản phẩm xuất khẩu chính với 1.720 nghìn sản phẩm, tăng 83%,...Tính chung 5 tháng đầu năm, ước đạt trên 67,7 triệu USD, tăng 49,2% so với cùng kỳ năm trước. Một số nhóm hàng có sản phẩm xuất khẩu 5 tháng đầu năm nay tăng cao so với cùng kỳ: Hàng dệt, may đạt 8.734 nghìn sản phẩm, tăng 59,1%; Atimony thỏi đạt 48 tấn, tăng 57,1%; bột giấy đạt 3.232 tấn, tăng 546,4%; Giấy in viết đạt 580 tấn, tăng 48,4%. Bên cạnh đó, một số nhóm hàng có kim ngạch xuất khẩu giảm so với cùng kỳ: Chè xuất khẩu đạt 249 tấn, giảm 67%; đũa gỗ xuất khẩu đạt 15.941 nghìn đôi, giảm 43,8%; Giấy đế xuất khẩu đạt 1.422 tấn, giảm 34,7%,...- Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa ước tính đạt 7,4 triệu USD, tăng 7,9% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 5 tháng đầu năm, ước đạt 37,3 triệu USD, tăng 17,2%,...5.4. Giá cả- Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trong tháng tăng 0,44% so với tháng trước, tăng 1,18% so với cùng kỳ năm trước và tăng 2,94% so với tháng 12 năm trước. Tính chung 5 tháng đầu năm, tăng 0,44% so với cùng kỳ.Trong số 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính thì có 7 nhóm tăng giá so với tháng trước, 01 nhóm giảm giá, 03 nhóm giữ giá ổn định (thuốc và dịch vụ y tế; bưu chính viễn thông; giáo dục).- Chỉ số giá vàng tăng 2,26% so với cùng kỳ năm trước, tăng 2,86% so với tháng 12 năm trước, giảm 1,47% so với tháng trước, bình quân 5 tháng tăng 2,15% so với cùng kỳ. - Chỉ số giá đô la Mỹ tăng 0,15% so với cùng kỳ, tăng 0,72% so với tháng 12 năm trước, tăng 0,71% so với tháng trước, bình quân 5 tháng giảm 0,71% so với cùng kỳ. 6. Vận tải hàng hóa và hành khách 6.1. Doanh thu vận tải tải kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải - Ước tính doanh thu vận tải kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải trong tháng đạt 226.021,39 triệu đồng, tăng 3,98% so với tháng trước, tăng 15,51% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Doanh thu từ vận tải hành khách ước đạt 39.141,19 triệu đồng, tăng 9,02% và tăng 0,69%; doanh thu từ vận tải hàng hóa đạt 186.630,79 triệu đồng, tăng 2,97% và tăng 19,17%; dịch vụ hỗ trợ vận tải kho bãi đạt 240,41 triệu đồng, tăng 11,29% và tăng 25,54%,...- Tính chung 5 tháng đầu năm, doanh thu vận tải kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 1.009.048,78 triệu đồng, tăng 2,16% so với cùng kỳ. Trong đó: Doanh thu từ vận tải hàng hóa đạt 841.044,33 triệu đồng, tăng 6,6%; dịch vụ hỗ trợ vận tải kho bãi đạt 1.009,16 triệu đồng, tăng 6,25%; doanh thu từ vận tải hành khách ước đạt 166.953,79 triệu đồng, giảm 15,6%; 6.2. Vận tải hành khách và hàng hóa- Khối lượng hành khách vận chuyển trong tháng ước đạt 652,18 nghìn hành khách, tăng 5,2% so với tháng trước và tăng 2,7% so với cùng kỳ; khối lượng hành khách luân chuyển ước đạt 64.215,54 nghìn lượt hành khách.km, tăng 6,64% và tăng 12,39%. Tính chung 5 tháng, khối lượng hành khách vận chuyển ước đạt 2.747,75 nghìn hành khách, giảm 14,34% so với cùng kỳ; khối lượng hành khách luân chuyển ước đạt 275.723,54 nghìn lượt hành khách.km, giảm 5,48%.- Khối lượng hàng hóa vận chuyển trong tháng ước đạt 1.358,91 nghìn tấn, tăng 2,73% so với tháng trước và tăng 22,92% so với cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 90.543,06 nghìn tấn.km, tăng 4,12% và tăng 25,69%. Tính chung 5 tháng, khối lượng hàng hóa vận chuyển ước đạt 6.058,57 nghìn tấn, tăng 8,92% so với cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 379.414,79 nghìn tấn.km, tăng 5,41%.7. Về du lịch Trong tháng 5/2022, thu hút được 255.000 lượt khách du lịch; tổng thu từ khách du lịch đạt 246 tỷ đồng (nâng tổng số 5 tháng đầu năm 2022, thu hút 978.000 lượt, đạt 43% kế hoạch, tăng 7,24% so với cùng kỳ; tổng thu từ du lịch 968 tỷ đồng, đạt 41%, tăng 7,6%).II. LĨNH VỰC VĂN HÓA - XÃ HỘI 1. Về lao động việc làm, giáo dục nghề nghiệp- Trong tháng, toàn tỉnh đã tạo việc làm cho 3.287 người lao động; lũy kế 05 tháng đầu năm được 11.358 lượt người lao động, đạt 52,8% kế hoạch, trong đó, tạo làm việc trong các ngành kinh tế tại tỉnh 7.612 người, đạt 52,4%; lao động đi làm việc tại các tỉnh, thành phố trong nước 3.086 người, đạt 47,5%; lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng 126 người, đạt 26,8%.- Thực hiện tốt công tác tư vấn giới thiệu việc làm cho 3.579 lao động (trong đó tư vấn tại các phiên giao dịch việc làm 2.289 người; tư vấn trực tiếp tại Trung tâm Dịch vụ việc làm cho 1.110 người là đối tượng hưởng chính sách bảo hiểm thất nghiệp; các hình thức tư vấn khác là 180 người). Lũy kế 5 tháng, tư vấn việc làm cho 11.689 lượt người lao động.2. Công tác đảm bảo chế độ chính sách và an sinh xã hội2.1. Công tác đối với người có công với cách mạng Duy trì thực hiện đầy đủ, kịp thời các chế độ, chính sách đối với người có công; đẩy mạnh thực hiện các phong trào, hoạt động "đền ơn, đáp nghĩa", "uống nước nhớ nguồn", chú trọng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần đối với người có công.2.2. Công tác phòng chống các tệ nạn xã hộiTổ chức quản lý, điều trị, cai nghiện cho người nghiện ma túy. Tăng cường công tác quản lý cai nghiện ma túy, duy trì quản lý cho 112 học viên cai nghiện ma túy. Tiếp tục phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan tổ chức các hoạt động truyền thông về phòng chống mại dâm, phòng chống mua bán người.3. Hoạt động giáo dục và đào tạoCông tác chuẩn bị cho kỳ thi tốt nghiệp THPT và tuyển sinh đại học, cao đẳng năm 2022 đã được tỉnh chuẩn bị chuẩn bị chu đáo các điều kiện cho kỳ thi như về cơ sở vật chất, trang thiết bị, nâng cao chất lượng ôn tập cho học sinh lớp 12. Toàn tỉnh hiện có 8.483 thí sinh đăng ký dự thi đăng ký dự thi theo hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo bằng hình thức trực tuyến và đăng ký trực tiếp. Tổ chức thành công Kỳ thi chọn học sinh giỏi lớp 11 THPT cấp tỉnh năm học 2021-2022. Theo đó, có 380 thí sinh đạt giải trên tổng số 764 thí sinh dự thi, tỷ lệ đạt giải 49,7%. 4. Hoạt động y tế Trong đợt dịch lần thứ tư, tính từ ngày 29/4/2021 đến 20h00 ngày 20/4/2022, trên địa bàn tỉnh ghi nhận 157.171 bệnh nhân, hiện đang điều trị là: 1.181 trong đó, tại Cơ sở Y tế 21 bệnh nhân và 1.160 bệnh nhân điều trị tại nhà, đã khỏi 155.971 người; số tử vong cộng dồn là 19 bệnh nhân.Về tình hình tiêm chủng vắc xin ngừa Covid-19: Cộng dồn từ đợt 01 đến nay đã tiêm 1.659.248 mũi tiêm; trong đó mũi 1: 619.783 người; Mũi 2: 589.492 người; Mũi bổ sung, nhắc lại: 449.973 người.+ Tiêm cho người từ 18 tuổi trở lên tỷ lệ tiêm mũi 1 là 100% (513.051 người còn 6.409 người chống chỉ định chưa tiêm); tiêm đủ 2 mũi là 100% (513.770 người); số người được tiêm mũi nhắc lại là: 435.810 người (chiếm 85,8%).+ Tiêm cho trẻ từ 12 đến dưới 18 tuổi, số tiêm 1 mũi: 77.103 trẻ (đạt 99,9 %),số tiêm đủ 2 mũi: 75.722 trẻ (98,1%), trên tổng số trẻ cần phải tiêm 77.165 trẻ.+ Tiêm cho trẻ từ 05 đến dưới 12 tuổi mũi 1 cộng dồn được 29.629 trẻ/112.057 trẻ được 26,4 %, hiện chưa có phản ứng phụ hoặc tai biến sẩy ra.5. Hoạt động văn hoá - thể dục, thể thao- Lĩnh vực văn hoá: Tổ chức thực hiện Chương trình nghệ thuật chào mừng kỷ niệm 132 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2022); phê duyệt chủ trương xây dựng phim tư liệu tái hiện lịch sử “Thủ đô Khu giải phóng”, “Thủ đô kháng chiến”. Tiếp tục đẩy mạnh phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” gắn với chương trình xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh được triển khai.- Về thể dục thể thao: Tỉnh đã thành lập Ban Tổ chức, phân công nhiệm vụ Ban Tổ chức và các văn bản liên quan công tác tổ chức Đại hội Thể dục thể thao tỉnh Tuyên Quang lần thứ IX, năm 2022. Ban hành điều lệ, kế hoạch chi tiết tổ chức Đại hội Thể dục thể thao tỉnh Tuyên Quang lần thứ IX, năm 2022; điều lệ tổ chức Lễ phát động toàn dân tập luyện môn bơi phòng, chống đuối nước và giải bơi Thiếu niên hưởng ứng Chương trình phòng, chống đuối nước trẻ em. Tổ chức thành công giải bóng đá thiếu niên nhi đồng tỉnh năm 2022, Ban Tổ chức đã trao 02 giải nhất, 02 giải Nhì, 04 giải Ba, 06 giải Khuyến khích và 02 giải cầu thủ xuất sắc nhất; giải Vật dân tộc tỉnh năm 2022, 11 giải nhất, 11 giải nhì, 11 giải ba.6. Hoạt động khác- Về chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI): Theo đánh giá của Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) công bố; Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) năm 2021 tỉnh Tuyên Quang xếp thứ 29, tăng 2 bậc so với năm 2020, tăng 10 bậc so với năm 2017. Chỉ số điểm tổng hợp tăng từ 63,46 năm 2020 lên 64,76 năm 2021, cùng với đó các chỉ số thành phần như: tính năng động của chính quyền tỉnh, gia nhập thị trường, cạnh tranh bình đẳng, dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp, đào tạo lao động... đều tăng. - Về Chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh (PAPI): Theo kết quả công bố, Tuyên Quang tiếp tục ghi tên trong nhóm trung bình cao với tổng điểm 43,402 (xếp thứ 20/63 tỉnh, thành phố trong cả nước). Cụ thể, chỉ số tham gia của người dân ở cấp cơ sở đạt 4,937 điểm; công khai trong việc ra quyết định ở địa phương 5,615 điểm; trách nhiệm giải trình với người dân đạt 4,388 điểm; kiểm soát tham nhũng trong khu vực công đạt 7,083 điểm; thủ tục hành chính công đạt 7,127 điểm; cung ứng dịch vụ công đạt 7,782 điểm; quản trị môi trường 3,729 điểm và quản trị điện tử 2,742 điểm...7. Tình hình trật tự trị an, an toàn xã hội và an toàn giao thông7.1. Về trật tự an toàn xã hội - Trật tự trị an, an toàn xã hội trong tháng: Từ ngày 15/4/2022 đến ngày 14/5/2022, toàn tỉnh đã phát hiện 03 vụ phạm pháp kinh tế, với 02 đối tượng phạm tội; số vụ phạm pháp hình sự là 17 vụ và bắt giữ 37 đối tượng phạm tội; phát hiện 21 vụ tàng trữ, mua bán, vận chuyển trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy, bắt giữ 24 đối tượng phạm tội.- Trật tự trị an, an toàn xã hội 05 tháng đầu năm 2022: Từ ngày 15/12/2021 đến ngày 14/5/2022, toàn tỉnh đã phát hiện 20 vụ phạm pháp kinh tế, với 38 đối tượng phạm tội; số vụ phạm pháp hình sự là 114 vụ và bắt giữ 262 đối tượng phạm tội; phát hiện 132 vụ tàng trữ, mua bán, vận chuyển trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy, bắt giữ 193 đối tượng phạm tội; phát hiện 07 vụ phạm pháp về chức vụ, với 12 đối tượng phạm tội; số vụ phạm pháp về môi trường là 09 vụ với 07 đối tượng phạm pháp. 7.2. Về an toàn giao thôngTrong tháng, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 04 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 02 người và làm bị thương 04 người; với tổng giá trị thiệt hại là 40 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước: Số vụ tai nạn giao thông tăng 03 vụ; số người bị thương tăng 03 người; thiệt hại về tài sản tăng 35 triệu đồng.Tính chung 5 tháng, toàn tỉnh đã xảy ra 30 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 11 người và làm bị thương 25 người; với tổng giá trị thiệt hại là 290 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước: Số vụ tai nạn giao thông giảm 05 vụ; số người bị thương giảm 07 người; thiệt hại về tài sản tăng 182 triệu đồng.8. Thiệt hại do thiên tai, cháy, nổ8.1. Thiệt hại do thiên taiTrong tháng, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 3 đợt thiên tai (vào đêm ngày 30/4, rạng sáng ngày 01/5; đêm ngày 7/5, rạng sáng ngày 8/5; ngày 12/5 đến ngày 14/5). Mưa lớn kèm theo dông sét đã gây ngập lụt cục bộ tại các khu vực ven suối gây ra những thiệt hại về tài sản của người dân, ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống của nhân dân, cụ thể: 01 nhà bị tốc mái hoàn toàn; 02 nhà bị tốc mái, hư hỏng; giông lốc đã làm 84,3 ha lúa, 142,6 ha cây ngô, rau màu bị ảnh hưởng; 0,2 ha ao nuôi trồng thủy sản bị tràn bờ; 7 con trâu của người dân thả rông trong rừng đã bị sét đánh chết tại xã Yên Phú, huyện Hàm Yên; mưa lớn cuốn trôi 70 con gà tại xã Yên Phú, huyện Hàm Yên; Sạt lở, vùi lấp trên 20m kè bờ suối, 30m kênh mương bị hư hỏng tại thị trấn Lăng Can. Giông lốc đã gây ngập lụt và làm hư hỏng nhiều trang thiết bị dạy học, phòng học, nhà ở công vụ, nhà bán trú học sinh của trường THPT Lâm Bình, trường Phổ thông dân tộc nội trú - trung học cơ sở Lâm Bình. Ước tính tổng giá trị thiệt hại các đợt thiên tai là 2.115 triệu đồng.Sau khi các đợt thiên tai xảy ra, chính quyền tại các địa phương đã huy động lực lượng tại chỗ, hỗ trợ kịp thời các hộ dân bị ảnh hưởng nhanh chóng khắc phục, sửa chữa tạm thời và có những biện pháp giúp đỡ để sớm ổn định đời sống của nhân dân và trở lại sản xuất.CỤC THỐNG KÊ TUYÊN QUANG

Tình hình kinh tế - xã hội tháng 4 năm 2022 tỉnh Tuyên Quang
  •   10/11/2025 21:45

I. PHÁT TRIỂN KINH TẾ  1. Về sản xuất nông nghiệp (tính đến ngày 15/4/2022)1.1. Trồng trọt 1.1.1. Sản xuất vụ đông năm 2022Vụ đông 2022 toàn tỉnh gieo trồng được 14.586,88 ha, tăng 1,69% (tăng 242,33 ha) so với năm 2021, chủ yếu tăng ở những cây trồng chính như: Ngô, lạc, đậu tương, nhóm cây hàng năm khác,...1.1.2. Tiến độ sản xuất vụ xuân năm 2022- Toàn tỉnh đã cấy được trên 19.036,20 ha lúa, trong đó: Lúa lai 8.716 ha, lúa thuần 10.320,2 ha, đạt 103% kế hoạch, tăng 0,11% (tăng 21,2 ha) so với cùng kỳ.- Cây ngô đã trồng 8.026,1 ha, đạt 100,03%, giảm 2,23% (giảm 183,4 ha); cây lạc đã trồng 3.329,9 ha, đạt 99,1%, giảm 0,61% (giảm 20,4 ha); cây đậu tương trồng được 107,9 ha đạt 93,8%, giảm 2,09% (giảm 2,3 ha); cây mía trồng mới, trồng lại là 737,8 ha, tăng 199,54% (tăng 491,47 ha), trong đó: Diện tích trồng mới là 275,9 ha, trồng lại là 345,5 ha.1.2. Về chăn nuôi 1.2.1. Về số lượng đàn gia súc, gia cầmĐàn trâu: Tổng đàn là 91.690 con, giảm 1,32% (giảm 1.226 con) so với cùng kỳ năm 2021; đàn bò 37.571 con, tăng 2,82% (tăng 1.029 con); đàn lợn 544.292 con, tăng 3,16% (tăng 16.657 con); đàn gia cầm 6.953,14 nghìn con, tăng 3,49%.1.2.2. Về sản phẩm đàn gia súc, gia cầmSản lượng thịt trâu hơi xuất chuồng ước đạt 494,4 tấn, tăng 7,74% so với cùng kỳ năm 2021; đàn bò đạt 184,34 tấn, tăng 4,37%, sản lượng sữa đạt 1.823,5 tấn, tăng 1,73%; đàn lợn đạt 4.680,24 tấn, tăng 3,09%; đàn gia cầm đạt 1.246,4 tấn, tăng 5,88%.1.3. Về sản xuất lâm nghiệp 1.3.1. Công tác trồng rừng- Tiến độ trồng rừng: Tính đến tháng 4, ước tổng diện tích rừng trồng tập trung toàn tỉnh đã trồng được 4.186,1 ha, tăng 27,18% so với cùng kỳ năm 2021; số cây lâm nghiệp trồng phân tán là 140,7 nghìn cây.1.3.2. Khai thác gỗ rừng trồng Toàn tỉnh đã khai thác được 238.495,5 m3 gỗ, tăng 15,88% so với cùng kỳ. Trong đó, của các tổ chức khác được 21.824,49 m3; của hộ gia đình là 216.671 m3. 2. Sản xuất công nghiệp2.1. Chỉ số phát triển công nghiệp - Chỉ số sản xuất công nghiệp trong tháng tăng 7,87% so với cùng kỳ, tăng 12,37% so với tháng trước, cụ thể như sau: Ngành khai khoáng tăng 53,66%, tăng 0,73%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 2,54%, tăng 9,87%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí tăng 45,77%, tăng 34,83%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải giảm 9,3%, tăng 7,99%.- Tính chung 04 tháng đầu năm, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 12,22% so với cùng kỳ năm trước, chia theo từng ngành kinh tế cấp I như sau:+ Ngành khai khoáng tăng 40,23%.+ Ngành sản xuất và phân phối điện tăng 9,95%.+ Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 11,59%.+ Ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 12,65%.2.2. Sản phẩm công nghiệp chủ yếu - Trong tháng, một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng so với cùng kỳ năm trước như: Điện sản xuất đạt 152 triệu Kw, tăng 163,02%; bột fenspat nghiền đạt 21.100 tấn, tăng 15,75%; xi măng đạt 115.000 tấn, tăng 12,25%; fepromangan đạt 820 tấn, tăng 156,25%; hàng may mặc xuất khẩu đạt 2.049 nghìn cái, tăng 19,32%; giày da đạt 750 nghìn cái, tăng 15,38%; gỗ tinh chế đạt 3.703 m3, tăng 26.97%,... Tuy nhiên, cũng có một số sản phẩm công nghiệp giảm so với cùng kỳ như: Trang in đạt 16 triệu trang, giảm 5,88%; giấy in viết, photo thành phẩm đạt 9.091 tấn, giảm 15,67%;...- Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu trong 04 tháng đầu năm 2022 tăng so với cùng kỳ năm trước như: Điện thương phẩm đạt 341 triệu Kw, tăng 4%; bột ba rít đạt 10.000 tấn, tăng 454,32%; fepromangan đạt 4.220 tấn, tăng 254,62%; chè chế biến đạt 747 tấn, tăng 7,48%; hàng may mặc xuất khẩu đạt 7.285 nghìn cái, tăng 4,89%;... Tuy nhiên, có một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu giảm so với cùng kỳ năm trước như: Đường kính đạt 7.736 tấn, giảm 38,39%; bột fenspat nghiền đạt 63.199 tấn, giảm 6,65%; bột giấy đạt 31.228 tấn, giảm 4,97%; giấy in viết, photo thành phẩm đạt 31.322 tấn, giảm 4,82%,...3. Kết quả thu ngân sách nhà nước3.1. Kết quả thu ngân sách- Tổng thu nội địa trong tháng ước thực hiện là 200 tỷ đồng, lũy kế đạt 964,9 tỷ đồng, đạt 35,7% dự toán, tăng 9,7% so với cùng kỳ.- Số thu nội địa trừ tiền sử dụng đất và xổ số ước thực hiện đạt 175,3 tỷ đồng, lũy kế đạt 735,1 tỷ đồng, đạt 33,7% dự toán, tăng 5,6% so với cùng kỳ.3.2. Nguyên nhân ảnh hưởng đến kết quả thu 3.2.1. Tăng thu- Thu từ khu vực DNNN do Trung ương quản lý ước thực hiện là 23 tỷ đồng, tăng 9,6 tỷ đồng so với cùng kỳ.- Thu từ thuế Bảo vệ môi trường ước thực hiện tháng 4/2022 là 30 tỷ đồng, tăng 7,1 tỷ đồng so với cùng kỳ.- Thu tiền sử dụng đất ước thực hiện tháng 4/2022 là 23 tỷ đồng, tăng 11 tỷ đồng so với cùng kỳ; Thu tiền thuê đất là 20,7 tỷ đồng, tăng 14,8 tỷ đồng so với cùng kỳ.3.2.2. Giảm thu- Thu từ khu vực Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ước thực hiện tháng 4/2022 là 0,6 tỷ đồng, giảm 9,5 tỷ đồng so với cùng kỳ. - Thu từ lệ phí trước bạ ước thực hiện tháng 4/2022 là 12,7 tỷ đồng, giảm 2,3 tỷ đồng so với cùng kỳ.4. Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước thực hiện tháng 4 năm 2022 đạt 181.411 triệu đồng, tăng 69,44% so với cùng kỳ, trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 159.376 triệu đồng, tăng 63,35%; cấp huyện đạt 20.435 triệu đồng, tăng 163,54%; cấp xã đạt 1.600 triệu đồng, giảm 8,2%.Tính từ đầu năm, vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước thực hiện đạt 581.032 triệu đồng, tăng 64,54% so với cùng kỳ, đạt 15,54% kế hoạch năm, trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 514.908 triệu đồng, tăng 63,74%, đạt 16,58%; cấp huyện đạt 57.520 triệu đồng, tăng 89,65%, đạt 9,72%; cấp xã đạt 8.604 triệu đồng, tăng 3,2%, đạt 20,52%.Tính đến ngày 15/4/2022, tổng số vốn đã giải ngân được 363,58 tỷ đồng, đạt 9,07% kế hoạch, trong đó: Nguồn vốn kế hoạch năm 2022 giải ngân được 353,7 tỷ đồng, đạt 8,93%; vốn năm 2021 kéo dài sang năm 2022 là 9,88 tỷ đồng, đạt 20,51%.5. Thương mại và Dịch vụ5.1. Công tác quản lý nhà nước về thương mại5.2. Doanh thu bán lẻ hàng hóa, dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch và dịch vụ khác5.2.1. Doanh thu bán lẻ hàng hóa Tổng mức bán lẻ hàng hóa trong tháng ước đạt 1.648.038 triệu đồng, tăng 2,66% so với tháng trước, tăng 19,11% so với cùng kỳ. Một số nhóm hàng hóa chính là: Lương thực thực phẩm đạt 671.751 triệu đồng, tăng 3,79%, tăng 6,79%; hàng may mặc đạt 97.391 triệu đồng, tăng 2,94%, tăng 45,27%; gỗ và vật liệu xây dựng đạt 193.528 triệu đồng, tăng 0,41%, tăng 54,58%; xăng, dầu các loại đạt 211.160 triệu đồng, tăng 6,12%, tăng 89,04%; hàng hoá khác đạt 119.432 triệu đồng, tăng 4,12%, giảm 8,82%,.... Tính chung 4 tháng, tổng mức bán lẻ hàng hóa đạt 6.331.473 triệu đồng, tăng 13,77% so với cùng kỳ năm 2021, trong đó một số nhóm hàng hóa tăng là: Lương thực, thực phẩm đạt 2.552.044 triệu đồng, tăng 3,8%; gỗ và vật liệu xây dựng đạt 754.258 triệu đồng, tăng 43,29%; phương tiện đi lại, trừ ô tô con (kể cả phụ tùng) đạt 210.611 triệu đồng, tăng 13,28%; xăng, dầu các loại đạt 799.204 triệu đồng, tăng 71,73%... Tuy nhiên, còn có một số nhóm hàng giảm như: Vật phẩm, văn hoá, giáo dục đạt 61.081 triệu đồng, giảm 7,21%; hàng hoá khác đạt 455.387 triệu đồng, giảm 16,13%,...5.2.2. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ khác- Trong tháng, doanh thu nhóm dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 138.714 triệu đồng, tăng 26,28% so với cùng kỳ năm trước, tăng 1,51% so với tháng trước. Trong đó: Doanh thu dịch vụ ăn uống ước đạt 127.775 triệu đồng, tăng 30,51%, tăng 1,6%; dịch vụ lưu trú ước đạt 10.938 triệu đồng, giảm 8,42%, tăng 0,37%. Tính chung 4 tháng, nhóm dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 501.914 triệu đồng, tăng 16,55%.- Doanh thu nhóm dịch vụ khác trong tháng ước đạt 57.987 triệu đồng, tăng 38,58% so với cùng kỳ năm trước, tăng 3,16% so với tháng trước, trong đó: Kinh doanh bất động sản đạt 2.545 triệu đồng, tăng 44,59%, tăng 0,63%; dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ đạt 12.638 triệu đồng, tăng 66,46%, tăng 2,95%; giáo dục và đào tạo đạt 2.486 triệu đồng, tăng 12,23%, tăng 2,35%; dịch vụ khác đạt 17.723 triệu đồng, tăng 42,86%, tăng 6,01%. Tính chung 4 tháng, nhóm dịch vụ khác ước đạt 228.847,97 triệu đồng, tăng 20,79%.5.3. Giá cả- Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trong tháng giảm 0,39% so với tháng trước, tăng 1% so với cùng kỳ năm trước và tăng 2,48% so với tháng 12 năm trước. Tính chung 04 tháng đầu năm, tăng 0,38% so với cùng kỳ.Trong số 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính thì có 04 nhóm tăng giá so với tháng trước, 04 nhóm giảm giá, 03 nhóm giữ giá ổn định (thuốc và dịch vụ y tế; bưu chính viễn thông; giáo dục).Trong 04 nhóm hàng tăng giá, so với tháng trước, bao gồm những nhóm hàng sau: Nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,06% do nhu cầu tiêu dùng đồ uống các loại nước giải khát có ga, rượu, bia và thuốc lá tăng và chi phí vận chuyển tăng; may mặc, mũ nón và giày dép tăng 0,51% do các trường học bắt đầu đi học trực tiếp trở lại bình thường nên nhu cầu tiêu dùng nhóm này tăng; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,06% do chuẩn bị vào thời tiết nắng nóng, nhu cầu mua sắm của người dân tăng nên giá các sản phẩm làm mát như tủ lạnh, máy điều hòa nhiệt độ, quạt điện tăng; văn hóa giải trí và du lịch tăng 0,63% do nhu cầu đi lại, du lịch của người dân trong dịp nghỉ lễ Giỗ Tổ Hùng Vương tăng khi dịch bệnh Covid-19 cơ bản đã được kiểm soát.Trong 04 nhóm hàng giảm giá, so với tháng trước, bao gồm: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 1,1% nguyên nhân chủ yếu là do giá thịt lợn, rau tươi trong tháng giảm đã làm nhóm thịt gia súc, nhóm dầu mỡ ăn và chất béo khác giảm theo; nhà ở và vật liệu xây dựng giảm 0,19% do giá điện, nước sinh hoạt giảm, do thời tiết chuyển mùa nên nhu cầu sử dụng điện, nước của người dân giảm; giao thông giảm 0,72% là do giá xăng điều chỉnh giảm theo quyết định điều chỉnh của Tập đoàn xăng dầu Việt Nam về giá bán lẻ xăng vào các ngày 01, 11, 21 hàng tháng; hàng hóa và dịch vụ khác giảm 0,01%,…- Chỉ số giá vàng tăng 5,08% so với cùng kỳ năm trước, tăng 4,4% so với tháng 12 năm trước, tăng 0,33% so với tháng trước, bình quân 04 tháng tăng 2,12% so với cùng kỳ. - Chỉ số giá đô la Mỹ giảm 0,62% so với cùng kỳ, tăng 0,01% so với tháng 12 năm trước, tăng 0,1% so với tháng trước, bình quân 04 tháng giảm 0,92% so với cùng kỳ. 6. Vận tải hàng hóa và hành khách 6.1. Doanh thu vận tải tải kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải - Ước tính doanh thu vận tải kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải trong tháng đạt 217.201,15 triệu đồng, tăng 14,56% so với tháng trước, tăng 8,13% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Doanh thu từ vận tải hành khách ước đạt 36.539,91 triệu đồng, tăng 22,57% và giảm 10,85%; doanh thu từ vận tải hàng hóa đạt 180.439,64 triệu đồng, tăng 13,06% và tăng 12,99%; dịch vụ hỗ trợ vận tải kho bãi đạt 121,98 triệu đồng, tăng 13,18% và tăng 9,28%,...- Tính chung 04 tháng đầu năm, doanh thu vận tải kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 782.903,74 triệu đồng, giảm 1,1% so với cùng kỳ. Trong đó: Doanh thu từ vận tải hành khách ước đạt 128.454,17 triệu đồng, giảm 19,18%; doanh thu từ vận tải hàng hóa đạt 653.651,76 triệu đồng, tăng 3,44%; dịch vụ hỗ trợ vận tải kho bãi đạt 766,11 triệu đồng, tăng 1,03%.6.2. Vận tải hành khách và hàng hóa- Khối lượng hành khách vận chuyển trong tháng ước đạt 575,83 nghìn hành khách, tăng 20,22% so với tháng trước và giảm 13,27% so với cùng kỳ; khối lượng hành khách luân chuyển ước đạt 59.131,43 nghìn lượt hành khách.km, tăng 20,03% và giảm 1,89%. Tính chung 04 tháng đầu năm, khối lượng hành khách vận chuyển ước đạt 2.055,31 nghìn hành khách, giảm 20,16% so với cùng kỳ; khối lượng hành khách luân chuyển ước đạt 210.648,05 nghìn lượt hành khách.km, giảm 10,12%.- Khối lượng hàng hóa vận chuyển trong tháng ước đạt 1.298,24 nghìn tấn, tăng 12,75% so với tháng trước và tăng 15,72% so với cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 86.688,71 nghìn tấn.km, tăng 19,22% và tăng 18,79%. Tính chung 04 tháng đầu năm, khối lượng hàng hóa vận chuyển ước đạt 4.678,13 nghìn tấn, tăng 5,56% so với cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 288.062,84 nghìn tấn.km, tăng 0,07%.7. Về du lịch Trong tháng 4/2022, toàn tỉnh thu hút được 299.000 lượt khách du lịch; tổng thu từ khách du lịch đạt 331 tỷ đồng (nâng tổng số 4 tháng đầu năm 2022, thu hút 723.900 lượt, đạt 32% kế hoạch năm, tăng 4,5% so với cùng kỳ; tổng thu từ du lịch 722 tỷ đồng, đạt 31%, tăng 2,8%).II. LĨNH VỰC VĂN HÓA - XÃ HỘI 1. Về lao động việc làm, giáo dục nghề nghiệpToàn tỉnh đã tạo việc làm cho 2.356 người, lũy kế 04 tháng đầu năm 2022, tạo việc làm cho 8.071 người, đạt 37,5% kế hoạch. Trong đó tạo làm việc trong các ngành kinh tế tại tỉnh 5.664 người, đạt 39%; lao động đi làm việc tại các tỉnh, thành phố trong nước 2.371 người, đạt 36,5%; lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng 36 người, đạt 7,7%.2. Công tác đảm bảo chế độ chính sách và an sinh xã hội2.1. Công tác đối với người có công với cách mạng - Tiếp nhận và thẩm định giải quyết chế độ ưu đãi đối với 112 thân nhân người có công với cách mạng; thực hiện chi trả trợ cấp cho thân nhân người có công với cách mạng đầy đủ, kịp thời và đúng đối tượng.- Trao tặng 95 suất quà, với tổng số tiền trên 1,425 tỷ đồng của Quỹ thiện Tâm thuộc tập đoàn Vingroup cho các thương binh hạng 1/4, bệnh binh hạng 1/3 đang hưởng trợ cấp ưu đãi hằng tháng trên địa bàn tỉnh.2.2. Công tác phòng chống các tệ nạn xã hộiTiếp tục tăng cường công tác quản lý cai nghiện ma túy tại cơ sở và điểm cai nghiện huyện Sơn Dương. Trong tháng 4, cơ sở đã tiếp nhận 06 người nghiện vào cai nghiện bắt buộc; cấp giấy chứng nhận hoàn thành cai nghiện cho 04 học viên; bán giao 01 trường hợp đi tù; tiếp tục duy trì quản lý 116 học viên cai nghiện ma túy (trong đó số có mặt cai nghiện tại cơ sở 110 học viên, đi viện 01 học viên, trốn cai 05 học viên).3. Hoạt động giáo dục và đào tạoTiếp tục thực hiện phương án tổ chức dạy học thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch Covid-19. Từ đầu tháng, học sinh phổ thông và giáo dục thường xuyên trên địa bàn tỉnh trở lại học trực tiếp sau thời gian dài nghỉ phòng dịch. Các trường học trên địa bàn tỉnh cũng đã nhanh chóng ổn định tổ chức, duy trì nề nếp học tập và triển khai hiệu quả các giải pháp nâng cao chất lượng dạy và học; chủ động phối hợp chặt chẽ với chính quyền, y tế ở địa phương và phụ huynh thường xuyên quản lý, theo dõi sức khỏe học sinh nhằm kịp thời hỗ trợ về y tế đối với trường hợp học sinh nghi mắc hoặc mắc Covid-19, chủ động kiểm soát không để dịch bệnh lan rộng trong trường học.Trong tháng, tỉnh đã tổ chức thành công kỳ thi chọn học sinh giỏi lớp 9 cấp tỉnh. Theo đó, có 310/623 thí sinh dự thi đạt giải, chiếm 49,7%, trong đó: 09 giải nhất, 45 giải nhì, 127 giải ba và 129 giải khuyến khích. 4. Hoạt động y tế Tình hình dịch bệnh Covid-19 trên địa bàn tỉnh cơ bản đã được kiểm soát ổn định, số ca mắc mới đã giảm mạnh, số ca chuyển nặng, ca tử vong rất thấp và dần chuyển sang trạng thái bình thường mới.Bắt đầu triển khai tiêm phòng vắc xin Covid-19 cho trẻ từ 5 đến dưới 12 tuổi. Theo thống kê, toàn tỉnh có trên 112 nghìn trẻ từ 5 đến dưới 12 tuổi. Tổng số vắc xin Moderna tỉnh được phân bổ đợt tiêm này là 9.400 liều về các huyện, thành phố. Trong đó: Thành phố Tuyên Quang 2.060 liều, huyện: Lâm Bình 500 liều, Na Hang 540 liều, Chiêm Hóa 1.100 liều, huyện Hàm Yên 1.200 liều, Yên Sơn 1.900 liều và Sơn Dương 2.100 liều; dự kiến số vắc xin này sẽ tiêm xong trước ngày 30/4/2022.Trong đợt dịch lần thứ tư, tính từ ngày 29/4/2021 đến 20h00 ngày 20/4/2022, trên địa bàn tỉnh ghi nhận 152.326 trường hợp mắc Covid-19, hiện đang điều trị 10.837, trong đó, tại Cơ sở Y tế 306 bệnh nhân, 10.531 bệnh nhân điều trị tại nhà, đã khỏi 141.470 người, tử vong 19 bệnh nhân.Về tình hình tiêm chủng vắc xin ngừa Covid-19: Cộng dồn từ đợt 01 đến nay đã tiêm 1.604.550 mũi tiêm; trong đó mũi 01: 589.282 người; mũi 02: 587.529 người; mũi bổ sung, nhắc lại: 427.739 người. Tỷ lệ tiêm cho người từ 18 tuổi trở lên đạt: 01 mũi là 100,6% (512.823 người, còn 6.499 người chống chỉ định chưa tiêm); tiêm đủ 2 mũi là 99,7% (512.636 người); số người được tiêm mũi nhắc lại là: 427.729 người (chiếm 83%). Tiêm cho trẻ từ 12 đến dưới 18: Số tiêm 01 mũi: 76.394 trẻ (đạt 99,5%), số tiêm đủ 02 mũi: 74.825 trẻ (97,5%). Bắt đầu triển khai tiêm cho trẻ từ 05 đến dưới 12 tuổi, cộng dồn đã tiêm được 655/112.057 trẻ từ 5-11 tuổi, hiện chưa có phản ứng phụ hoặc tai biến xảy ra.5. Hoạt động văn hoá - thể dục, thể thao- Lĩnh vực văn hoá: Xây dựng kế hoạch tổ chức Lễ đón nhận Bằng ghi danh của UNESCO di sản văn hóa phi vật thể "Thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam" và Lễ hội Thành Tuyên năm 2022. Tiếp tục đẩy mạnh phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” gắn với chương trình xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh được triển khai.- Về thể dục thể thao: Tổ chức thành công giải đua thuyền Kayak tỉnh Tuyên Quang mở rộng năm 2022; giải bóng bàn tỉnh năm 2022; giải bóng đá thiếu niên nhi đồng tỉnh năm 2022. 6. Tình hình trật tự trị an, an toàn xã hội và an toàn giao thông6.1. Về trật tự an toàn xã hội - Trật tự trị an, an toàn xã hội trong tháng: Từ ngày 15/3/2022 đến ngày 14/4/2022, toàn tỉnh đã phát hiện 03 vụ phạm pháp kinh tế, với 05 đối tượng phạm tội; số vụ phạm pháp hình sự là 25 vụ và bắt giữ 45 đối tượng phạm tội; phát hiện 14 vụ tàng trữ, mua bán, vận chuyển trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy, bắt giữ 31 đối tượng phạm tội; số vụ phạm pháp về chức vụ là 04 vụ, với 09 đối tượng phạm tội. 6.2. Về an toàn giao thôngTrong tháng, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 08 vụ tai nạn giao thông đường bộ và đường thủy, làm chết 03 người và làm bị thương 05 người; với tổng giá trị thiệt hại là 95 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước: Số vụ tai nạn giao thông tăng 05 vụ; số người bị thương tăng 04 người; thiệt hại về tài sản tăng 89 triệu đồng.7. Thiệt hại do thiên tai, cháy, nổ7.1. Thiệt hại do thiên taiTheo Báo cáo nhanh của Ban Chỉ huy Phòng chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn tỉnh. Trong tháng, vào đêm ngày 15/4, rạng sáng ngày 16/4, do ảnh hưởng của các đợt không khí lạnh nén rãnh áp thấp kết hợp với hội tụ gió trên mực 1500 m, tại các địa phương trong tỉnh đã xẩy ra mưa vừa, mưa to đến rất to, gây ra nhiều thiệt hại, cụ thể: 01 nhà bị sập đổ hoàn toàn tại xã Hùng Đức, huyện Hàm Yên; giông lốc đã làm 0,394 ha lúa bị ngập, ảnh hưởng; 2,4 ha cây ngô bị gẫy đổ tại huyện Chiêm Hóa; sạt lở, vùi lấp trên 30m công trình kênh mương thủy lợi tại các huyện Chiêm Hóa, Hàm Yên,... Ước tính thiệt hại trên 25,4 triệu đồng.CỤC THỐNG KÊ TUYÊN QUANG

Tình hình kinh tế - xã hội tháng 03 và quý I năm 2022 tỉnh Tuyên Quang
  •   07/11/2025 22:11

I. PHÁT TRIỂN KINH TẾ  1. Tài chính, ngân hàng1.1. Tình hình thu, chi ngân sách nhà nước1.1.1. Thu ngân sách nhà nước: Tổng thu ngân sách nhà nước ước thực hiện 03 tháng đầu năm 2022 đạt 740 tỷ đồng, đạt 26,6% dự toán năm, tăng 4,1% so với cùng kỳ. Trong đó, thu nội địa đạt 730 tỷ đồng, đạt 27%, tăng 4,4%. 6.2. Vận tải hành khách và hàng hóa- Khối lượng hành khách vận chuyển trong tháng ước đạt 479 nghìn hành khách, giảm 2,23% so với tháng trước và giảm 25,01% so với cùng kỳ; khối lượng hành khách luân chuyển ước đạt 49.123 nghìn lượt hành khách.km, giảm 1,7% và giảm 15,55%. Tính chung quý I, khối lượng hành khách vận chuyển ước đạt 1.480 nghìn hành khách, giảm 22,48% so với quý cùng kỳ; khối lượng hành khách luân chuyển ước đạt 151.278 nghìn lượt hành khách.km, giảm 13,15%.- Khối lượng hàng hóa vận chuyển trong tháng ước đạt 1.119 nghìn tấn, tăng 1,76% so với tháng trước, tăng 1,39% so với cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 65.335 nghìn tấn.km, tăng 2,6% và giảm 8,64%. Tính chung quý I, khối lượng hàng hóa vận chuyển ước đạt 3.347 nghìn tấn, tăng 0,92% so với quý cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 194.000 nghìn tấn.km, giảm 9,82%.7. Về du lịch Ước quý I năm 2022, toàn tỉnh thu hút được 424.900 lượt khách du lịch, đạt 18,6% kế hoạch, tăng 8% so với cùng kỳ; doanh thu từ du lịch đạt 411 tỷ đồng, đạt 17,4%, tăng 1,2%.II. LĨNH VỰC VĂN HÓA - XÃ HỘI 1. Lao động việc làm, giáo dục nghề nghiệp và hỗ trợ người lao động, người dân gặp khó khăn do ảnh hưởng bởi đại dịch Covid-191.1. Về lao động việc làm, giáo dục nghề nghiệpTrong quý toàn tỉnh tạo việc làm cho 5.447 người, đạt 25,3% kế hoạch, bằng 92,6% so với cùng quý năm trước (trong đó: làm việc trong các ngành kinh tế tại tỉnh 3.977 người; làm việc tại các tỉnh, thành phố trong nước 1.468 người; đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng 02 người).1.1.2. Chi ngân sách nhà nước: Tổng chi ngân sách nhà nước ước đạt 2.850,6 tỷ đồng, đạt 26,1% dự toán, tăng 7,6% so với cùng kỳ. Trong đó: Chi đầu tư phát triển ước đạt 414,1 tỷ đồng, đạt 30,9%, giảm 40,7%; chi thường xuyên ước đạt 1.142,1 tỷ đồng, đạt 17,4%, tăng 0,2%; chi dự phòng ngân sách ước đạt 36,68 tỷ đồng, đạt 23,6%, tăng 123,6%,...1.2. Hoạt động tín dụng ngân hàngNguồn vốn huy động tại địa phương ước ước đạt 24.580 tỷ đồng, tăng 12,4% so với cùng kỳ; tổng nợ tín dụng đạt 22.885 tỷ đồng, tăng 15,4%.Đã cơ cấu lại thời hạn trả nợ gốc với tổng giá trị nợ trên 511 tỷ đồng cho 1.192 khách hang; cơ cấu cho 34 khách hàng là doanh nghiệp với giá trị nợ 377 tỷ đồng, gốc là 94 tỷ đồng; miễn giảm lãi vay và giữ nguyên nhóm nợ 12 khách hàng với số dư nợ được miễn, giảm lãi 96 tỷ đồng, số tiền lãi được miễn giảm 250 triệu đồng; giải ngân cho 05 doanh nghiệp vay vốn để trả lương cho lao động với số tiền 615,4 triệu đồng.2. Giá- Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trong tháng tăng 1,29% so với tháng trước, tăng 1,04% so với cùng kỳ năm trước và tăng 2,89% so với tháng 12 năm trước. Tính chung quý I năm 2022, CPI tăng 0,18% so với cùng kỳ năm trước.Trong số 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính thì có 7 nhóm tăng giá so với tháng trước, 02 nhóm giảm giá, 02 nhóm giữ giá ổn định (đồ uống và thuốc lá; thuốc và dịch vụ y tế; bưu chính viễn thông).- Chỉ số giá vàng tăng 4,15% so với cùng tháng năm trước, tăng 4,05% so với tháng 12 năm trước, tăng 2,42% so với tháng trước, bình quân quý I năm 2022 tăng 1,16% so với quý cùng kỳ. - Chỉ số giá đô la Mỹ giảm 0,62% so với cùng tháng năm trước, giảm 0,09% so với tháng 12 năm trước, tăng 0,62% so với tháng trước, bình quân quý I năm 2022 giảm 1,02% so với quý cùng kỳ. 3. Đầu tư và xây dựng3.1. Vốn đầu tư3.1.1. Vốn đầu tư thực hiện trên địa bànVốn đầu tư phát triển trên địa bàn tỉnh ước thực hiện quý I đạt 2.131 tỷ đồng, tăng 12,91% so với quý cùng kỳ năm trước; trong đó: Nguồn vốn đầu tư từ khu vực nhà nước đạt 392 tỷ đồng, tiếp tục giữ vai trò chủ đạo chiếm 18,40% cơ cấu tổng nguồn vốn đầu tư phát triển, tăng 10,79% so với quý cùng kỳ. Nguyên nhân chính là do các công trình/dự án chuyển tiếp hoàn thành trong năm 2022 đang được đẩy nhanh tiến độ thi công để hoàn thành 70% kế hoạch của từng công trình trước ngày 30/6/2022 theo chỉ đạo của tỉnh; nguồn vốn đầu tư của dân cư và tư nhân đạt 1.706,1 tỷ đồng, tiếp tục chiếm tỷ trọng lớn nhất chiếm 80,06% tổng nguồn vốn, tăng 12,64% cùng kỳ, nguyên nhân là với môi trường đầu tư kinh doanh ổn định, năng lực cạnh tranh ngày càng được đẩy mạnh và những chính sách điều hành kinh tế của tỉnh ngày càng linh hoạt và hoàn thiện; các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh đã tận dụng cơ hội thúc đẩy quá trình phục hồi, nắm bắt phát triển hoạt động sản xuất, kinh doanh, đầu tư mở rộng nhà xưởng, kho bãi, mua sắm tài sản cố định phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 32.905 triệu đồng, chiếm 1,54% tổng nguồn vốn, tăng 74,65% cùng kỳ, nguyên nhân tăng là các doanh nghiệp FDI đã đầu tư xây dựng nhà xưởng và mua sắm tài sản cố định phục vụ sản xuất kinh doanh.3.1.2. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nướcVốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước thực hiện tháng 3 đạt 89,12 tỷ đồng, tăng 40,41% so với tháng cùng kỳ, trong đó: Vốn ngân sách cấp tỉnh đạt 78 tỷ đồng, tăng 42,67%; vốn ngân sách cấp huyện đạt 8,8 tỷ đồng, tăng 24,07%; vốn ngân sách cấp xã đạt 2,27 tỷ đồng, tăng 35,92%.Ước thực hiện quý I đạt 315,3 tỷ đồng, tăng 28,15% so với quý cùng kỳ, trong đó: Vốn ngân sách cấp tỉnh đạt 281,1 tỷ đồng, tăng 29,6%; vốn ngân sách cấp huyện đạt 27,24 tỷ đồng, tăng 20,66%; vốn ngân sách cấp xã đạt 6,9 tỷ đồng, tăng 5,98%.3.2. Xây dựng Xác định việc đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công là nhiệm vụ chính trị trọng tâm trong năm 2022, ngay từ những tháng đầu năm, tỉnh đã chỉ đạo thực hiện quyết liệt, đồng bộ các giải pháp nhằm kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, nhất là trong công tác giải phóng mặt bằng, đảm bảo giải ngân vốn đầu tư công theo đúng kế hoạch. Từ đó, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, phấn đấu thực hiện cao nhất các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội năm 2022 trong bối cảnh đại dịch Covid-19 diễn biến phức tạp.Năm 2022, Tuyên Quang được giao tổng kế hoạch vốn đầu tư công là 3.959,86 tỷ đồng, trong đó: Vốn ngân sách địa phương là 870,4 tỷ đồng; vốn ngân sách trung ương là 2.768 tỷ đồng; vốn ngân sách tỉnh bổ sung vốn đầu tư: 321,46 tỷ đồng. Tính đến ngày 18/03/2022 tổng số vốn giải ngân được 249,092 tỷ đồng, đạt 6,29% kế hoạch, trong đó: Vốn Trung ương giao giải ngân được 243,323 tỷ đồng, vốn địa phương bổ sung giải ngân được 5,769 tỷ đồng.4. Tình hình hoạt động của doanh nghiệp4.1. Tình hình đăng ký doanh nghiệpTính đến ngày 21/03/2022, toàn tỉnh đã cấp Giấy chứng nhận đăng ký thành lập mới cho 68 doanh nghiệp với số vốn đăng ký trên 394,19 tỷ đồng, số doanh nghiệp thành lập mới tăng 7,94%, giảm 3,46% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ. Tổng số doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh là 2.208 doanh nghiệp, tổng số vốn đăng ký đạt trên 23.917,09 tỷ đồng (bao gồm 14 doanh nghiệp có 100% vốn đầu tư nước ngoài); vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp đạt 10,83 tỷ đồng, tăng 0,74%. Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp bắt đầu có sự phục hồi. Trong 03 tháng đầu năm, số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động tăng 36,84% so với cùng kỳ. Dù vậy, dưới tác động của dịch bệnh, số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động và chờ làm thủ tục giải thể trong 03 tháng đầu năm 2022 tiếp tục có sự gia tăng với 88 doanh nghiệp, tăng 23,94% so với cùng kỳ năm 2020. Trong đó, có 85 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh, tăng 49,12%; 03 doanh nghiệp đã hoàn tất thủ tục giải thể.4.2. Xu hướng kinh doanh ngành công nghiệp chế biến chế tạoKết quả điều tra về xu hướng kinh doanh của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong quý I năm 2022 cho thấy: 6,67% số doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh quý I năm nay khả quan hơn quý trước; 43,33% doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh ổn định và có 50,0% số doanh nghiệp đánh giá gặp khó khăn trong sản xuất kinh doanh. Dự kiến xu hướng kinh doanh quý tiếp theo so với quý hiện tại năm 2022 cho thấy: Có 60,0% số doanh nghiệp đánh giá xu hướng sẽ tốt lên (trong đó có ngành: Sản xuất trang phục; chế biến gỗ lạng và sản phẩm tết bện; sản xuất giấy, bột giấy; in, sao chép bản ghi các loại; sản xuất xi măng và sản xuất kim loại từ vật liệu đúc sẵn); 23,33% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh sẽ ổn định (trong đó có ngành: Sản xuất chế biến thực phẩm; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất); 16,67% số doanh nghiệp dự báo tiếp tục khó khăn hơn. 5. Về sản xuất nông nghiệp (tính đến ngày 15/3/2022)5.1. Trồng trọt 5.1.1. Sản xuất vụ đông năm 2022Vụ đông 2022, ước tính toàn tỉnh gieo trồng được 14.567,55 ha, tăng 1,55% (tăng 223 ha) so với năm 2021, chủ yếu tăng ở những cây trồng chính như: Ngô, khoai lang, lạc, đậu tương,... Kết quả gieo trồng đối với từng loại cây như sau:- Cây ngô: Trồng được 5.531,69 ha, tăng 3,54% (tăng 189 ha); sản lượng ước đạt 24.837,28 tấn, tăng 3,56% (tăng 854,37 tấn).- Cây khoai lang: Trồng được 1.171,06 ha, giảm 20,4% (giảm 300,09 ha); sản lượng ước đạt 7.185,62 tấn, giảm 25,67% (giảm 1.845,34 tấn).- Cây đậu tương: Trồng được 22,2 ha, tăng 156,65% (tăng 13,55 ha); sản lượng ước đạt 38,49 tấn, tăng 156,62% (tăng 23,49 tấn).- Cây lạc: Trồng được 46 ha, tăng 0,81% (tăng 0,37 ha); sản lượng ước đạt 120,34 tấn, tăng 0,81% (tăng 0,97 tấn). 5.1.2. Sản xuất vụ xuân năm 2022Công tác chuẩn bị cho sản xuất vụ xuân được triển khai thống nhất trên phạm vi toàn tỉnh. Vụ xuân năm 2022, ước tính toàn tỉnh đã gieo cấy được 19.036,2 ha lúa (trong đó: Lúa lai 8.716 ha; lúa thuần 10.320,2 ha), đạt 102,97% kế hoạch, tăng 0,11% (tăng 21,2 ha) so với cùng kỳ; cây ngô trồng được 8.026,1 ha, đạt 100,02%, giảm 1,89% (giảm 154,5 ha); cây lạc đã trồng 3.329,9 ha, giảm 0,22% (giảm 7,4 ha); cây đậu tương đã trồng 107,9 ha, giảm 2,09% (giảm 2,3 ha); cây khoai lang đã trồng 1.900,1 ha, giảm 13,64% (giảm 300,09 ha); cây mía trồng mới, trồng lại là 473,5 ha, tăng 693,13% (tăng 413,8 ha), trong đó: trồng mới là 199,9 ha, trồng lại là 273,6 ha.5.1.3. Cây lâu năm- Diện tích cây chuối hiện có trên địa bàn tỉnh 2.221,57 ha tăng so với cùng kỳ năm trước 2,02%; sản lượng đạt trên 4.255,17 tấn, tăng 4,48%.- Diện tích cây chè trên địa bàn tỉnh hiện có 8.369,59 ha; sản lượng thu hoạch ước đạt trên 9.705,15 tấn, tăng 1,17% so với cùng kỳ.5.2. Về chăn nuôi 5.2.1. Về số lượng đàn gia súc, gia cầmĐàn trâu tổng đàn ước đạt 91.690 con, giảm 1,31% (giảm 1.219 con) so với cùng kỳ năm 2021; đàn bò đạt 37.571 con, tăng 2,85% (tăng 1.040 con). Trong đó: Bò ta 32.845 con, bò sữa 4.726 con, bò cái sữa 3.285 con; đàn lợn là 544.292 con, tăng 2,91% (giảm 15.367 con); đàn gia cầm đạt 6.953,14 nghìn con, tăng 5,26% (tăng 347,24 nghìn con).5.2.2. Về sản phẩm đàn gia súc, gia cầmĐàn trâu sản lượng thịt hơi xuất chuồng ước đạt 1.618,96 tấn, tăng 6,99% (tương ứng với 5.714 con xuất chuồng) so với cùng kỳ năm 2021; đàn bò đạt 457,11 tấn, tăng 1,54% (tương ứng với 2.086 con); đàn lợn đạt 16.015,97 tấn, tăng 2,66% (tương ứng với 218.810 con); đàn gia cầm đạt 4.528,70 tấn, tăng 5.34% (tăng 351 tấn).5.2.3. Công tác phòng chống dịch bệnh gia súc, gia cầm5.2.3.1. Công tác phòng chống và điều trịCông tác kiểm tra giám sát dịch bệnh được nhân viên chăn nuôi thú y các xã, phường, thị trấn thực hiện chặt chẽ, thường xuyên đảm bảo phát hiện kịp thời, có biện pháp xử lý hiệu quả khi có gia súc, gia cầm mắc bệnh. + Bệnh Dịch tả lợn Châu Phi: Đến thời điểm hiện tại, tỉnh đã cơ bản thành công trong việc khống chế được dịch tả lợn châu Phi. Toàn tỉnh đã 21 ngày không ghi nhận địa phương phát dịch; tại 8 xã, phường, thị trấn còn lại gồm: Thị trấn Yên Sơn, xã Chân Sơn (huyện Yên Sơn); xã Năng Khả, thị trấn Na Hang, xã Hồng Thái (huyện Na Hang); xã Quyết Thắng (huyện Sơn Dương); phường An Tường (thành phố Tuyên Quang); xã Hồng Quang (huyện Lâm Bình) đã công bố hết dịch tả lợn châu Phi. Bên cạnh đó, tỉnh cũng tăng cường công tác tuyên truyền người chăn nuôi chấp hành tốt các quy định trong chăn nuôi, thực hiện nghiêm túc các biện pháp phòng, chống dịch để hạn chế thấp nhất nguy cơ dịch có thể tái phát trở lại.- Đàn gia súc, gia cầm trên địa bàn phát triển ổn định không có dịch bệnh truyền nhiễm xảy ra.- Điều trị bệnh: Trên địa bàn các huyện, thành phố có một số gia súc, gia cầm ốm do mắc các bệnh Tụ huyết trùng; ký sinh trùng, chướng bụng đầy hơi, sán lá gan (đàn trâu,bò), tiêu chảy, lép tô, phân trắng lợn con (đàn lợn); Niucatson, THT, cầu trùng…(đối với đàn gia cầm), số gia súc, gia cầm mắc bệnh đã được nhân viên chăn nuôi thú y xã phát hiện, điều trị khỏi 801/846 con, trong đó: - Đàn trâu, bò: 58 con, điều trị khỏi 58 con; - Đàn lợn: 788 con, điều trị khỏi 743 con, chết 45 con. 5.2.3.2. Công tác tiêm phòng Các huyện, thành phố đã triển khai thực hiện tiêm phòng vụ Thu - Đông cho đàn gia súc, gia cầm trên địa bàn, kết quả cụ thể như sau: Đàn trâu tiêm 38 con (tại huyện Chiêm Hoá); đàn lợn 3.010 con (huyện Chiêm Hoá 640 con, huyện Yên Sơn 2.370 con); đàn gia cầm 33.260 con (huyện Chiêm Hoá 14.000 con, huyện Yên Sơn 19.260 con).5.2.4. Công tác kiểm dịch vận chuyển và công tác kiểm soát giết mổ+ Kiểm dịch vận chuyển ngoại tỉnh: Đã kiểm tra và cấp trên 558 giấy chứng nhận kiểm dịch vận chuyển 31.643 con gia súc, gia cầm; 4.164.000 kg sữa đi các tỉnh Hưng Yên, Bắc Ninh, Hà Nội,...+ Tại các Trạm Kiểm dịch động vật: Đã kiểm tra trên 485 lượt phương tiện vận chuyển đủ thủ tục (148 chuyến vận chuyển 16.776 con gia súc, 337 chuyến vận chuyển 398.710 con gia cầm và 05 chuyến vận chuyển 21.449 sản phẩm động vật). + Công tác kiểm soát giết mổ và kiểm tra vệ sinh thú y: Tiếp tục duy trì công tác kiểm soát giết mổ trên địa bàn, đã kiểm tra, đóng dấu: 474 con trâu, bò; 9.377 con lợn. 5.3. Về sản xuất lâm nghiệp 5.3.1. Công tác trồng rừngTrong quý, toàn tỉnh đã trồng được 2.290,9 ha, đạt 22,7% kế hoạch, tăng 4% so với cùng kỳ (trong đó trồng rừng tập trung 1.928,4 ha, trồng cây phân tán 362,5 ha); số cây giống đã sản xuất được 11,15 triệu cây, đạt 61,6%.5.3.2. Khai thác gỗ rừng trồngĐã khai thác 1.316,9 ha gỗ rừng trồng, sản lượng ước đạt 169.179,2 m3, đạt 16,4% kế hoạch; khai thác tre, nứa ước đạt 4.028 tấn, đạt 13,4%. 5.3.3. Công tác quản lý bảo vệ rừngTrong quý, trên địa bàn toàn tỉnh không xảy ra vụ cháy rừng, ngành chức năng đã kiểm tra, phát hiện và xử lý 65 vụ vi phạm (trong đó: xử phạt vi phạm hành chính 55 vụ, xử lý hình sự 10 vụ), tịch thu 49,24 m3 gỗ các loại, thu nộp ngân sách 218,9 triệu đồng.5.4. Về thuỷ sảnDự ước quý I năm 2022, diện tích nuôi trồng thuỷ sản 3.418,70 ha, tăng 2,03%; sản lượng thuỷ sản ước đạt 2.013,13 tấn, tăng 5,97% (tăng 113,37 tấn), trong đó: Sản lượng nuôi trồng 1.970,63 tấn, tăng 5,99%; sản lượng khai thác có 147,04 tấn, tăng 4,51%; sản xuất giống được 56,37 triệu con tăng 0,95% (tăng 0,33 triệu con).5.5. Phát động Tết trồng cây “Đời đời nhớ ơn Bác Hồ” Xuân Nhâm Dần 2022Đã tổ chức Lễ phát động Tết trồng cây “Đời đời nhớ ơn Bác Hồ” tại 155 điểm; tổng số lượng cây trồng gồm 202.957 cây gồm các loại Keo, Mỡ, Lát hoa, Quế, Xoan ta và các loài cây bản địa khác, diện tích trồng được 161,406 ha, lực lượng tham gia là 19.622 người.5.6. Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới Tập trung hướng dẫn, đôn đốc các xã hoàn thiện hồ sơ và tổ chức thẩm định, xét công nhận xã đạt chuẩn nông thôn mới đối với các xã đạt chuẩn năm 2021. Tiếp tục duy trì và giữ vững 19/19 tiêu chí tại các xã đã đạt chuẩn nông thôn mới theo bộ tiêu chí xã nông thôn mới nâng cao và xã nông thôn mới kiểu mẫu giai đoạn 2021 - 2025.2. Sản xuất công nghiệp2.1. Về phát triển công nghiệp trong tháng - Chỉ số sản xuất công nghiệp trong tháng tăng 9,85% so với cùng kỳ, tăng 53,54% so với tháng trước, cụ thể của các ngành như sau: Ngành khai khoáng tăng 41,64%, tăng 5,85%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 4,54%, tăng 55,52%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí tăng 47,9%, tăng 66,49%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 14,46%, giảm 14,12%.Một số ngành công nghiệp cấp II có chỉ số sản xuất tăng so với cùng kỳ năm trước như: Khai khoáng khác tăng 41,64%; sản xuất trang phục tăng 12,58%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 43,76%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 21,5%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 79,19%,...- Sản phẩm công nghiệp chủ yếu trong tháng của tỉnh đạt mức tăng trưởng khá, một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng so với cùng kỳ năm trước như: Điện thương phẩm đạt 85 triệu Kw, tăng 10,65%; điện sản xuất đạt 146 triệu Kw, tăng 53,61%; bột ba rít đạt 3.000 tấn, tăng 106,33%; bột giấy đạt 8.000 tấn, tăng 10,56%; fepromangan đạt 800 tấn, tăng 166,67%; giấy viết đạt 10.000 tấn, tăng 5%; may mặc xuất khẩu đạt 1.557 nghìn cái, tăng 33,97%; gỗ tinh chế đạt 3.703 m3, tăng 137,04%,.... Tuy nhiên, cũng có một số sản phẩm công nghiệp giảm so với cùng kỳ như: Đường kính đạt 3.000 tấn, giảm 30,8%; bột fenspat nghiền đạt 15.617 tấn, giảm 6,75%; xi măng đạt 100.000 tấn, giảm 4,34%; nước máy thương phẩm đạt 634 nghìn m3, giảm 0,08%,...2.2. Về phát triển công nghiệp quý I năm 2022- Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 12,24% so với cùng quý năm trước, Chia theo từng ngành kinh tế cấp I như sau:+ Ngành khai khoáng tăng 32,84%, nguyên nhân từ đầu năm đến nay, sản lượng khai thác của các doanh nghiệp khai khoáng, chế biến khoáng sản và sản xuất nguyên vật liệu xây dựng tăng cao so cùng kỳ, và công ty cổ phần khoáng sản Tuyên Quang đã bắt đầu quay lại sản xuất quặng barit.+ Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 13,05%: Do hoạt động sản xuất các mặt hàng công nghiệp như da giày, dệt may khởi sắc, nhận được nhiều đơn hàng từ các đối tác.+ Ngành sản xuất và phân phối điện tăng 3,04%, do từ đầu năm đến nay lượng mưa cao hơn so với cùng kỳ, các lòng hồ thủy điện đã khai thác hợp lý để tích lượng nước đến mức tối đa trong các hồ chứa trên lưu vực sông nhằm đáp ứng các nhu cầu sử dụng nước cho vùng hạ du và nhu cầu phụ tải mùa khô năm 2022, đảm bảo phát điện theo lịch điều độ của Trung tâm Điều độ Hệ thống điện Quốc gia; đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, nhà máy và sinh hoạt của nhân dân trên địa bàn tỉnh.+ Ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 22,63%, do nhu cầu sử dụng nước sinh hoạt ngày càng tăng, với mục tiêu đẩy mạnh hoạt động sản xuất, kinh doanh đáp ứng nhu cầu nước sạch cho khách hàng.2.3. Sản phẩm công nghiệp chủ yếu quý I năm 2022- Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu trong quý I tăng so với cùng quý năm trước như: Điện thương phẩm đạt 253 triệu Kw, tăng 5,48%; điện sản xuất đạt 397 triệu Kw, tăng 7,59%; chè chế biến đạt 347 tấn, tăng 17,63%; bột ba rít đạt 7.000 tấn, tăng 288,03%; xi măng đạt 309.907 tấn, tăng 13,88%; fepromangan đạt 3.400 tấn, tăng 290,8%; quần áo may xuất khẩu đạt 5.911 nghìn cái, tăng 13,04%; gỗ tinh chế đạt 10.140 tấn, tăng 69,2%,.... Tuy nhiên, có một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu giảm so với cùng kỳ năm trước như: Đường kính đạt 8.216 tấn, giảm 34,57%; bột Pen pát đạt 40.501 tấn, giảm 18,13%,..5. Thương mại và Dịch vụ5.1. Công tác quản lý nhà nước về thương mạiHoạt động thương mại, dịch vụ của tỉnh ổn định và tiếp tục xu hướng tăng dần nhờ các chính sách kích cầu tiêu dùng, cùng với các gói gói hỗ trợ phục hồi kinh tế của Chính phủ giúp người dân giảm bớt gánh nặng chi tiêu.Tại các chợ, siêu thị, nguồn cung hàng hóa dồi dào cả về chủng loại lẫn số lượng, đáp ứng đầy đủ nhu cầu tiêu dùng, không có tình trạng khan hiếm hàng hóa và tăng giá đột biến, hàng hóa được tổ chức lưu thông thông suốt. Tuy nhiên, hiện nay thị trường xăng, dầu trên thế giới và trong nước đang có những biến động rất lớn ảnh hưởng đến nguồn cung, khi nhu cầu trên thị trường đang có xu hướng tăng lên; mặt hàng giá xăng dầu tăng do điều chỉnh theo tình hình giá dầu thế giới tăng mạnh. Tỉnh đã đề nghị các doanh nghiệp đầu mối thực hiện các phương án, nỗ lực cung ứng phục vụ nhu cầu của nhân dân, doanh nghiệp, ngăn chặn tình trạng đầu cơ, tích trữ gây nguy hiểm và làm lũng đoạn thị trường.5.2. Doanh thu bán lẻ hàng hóa, dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch và dịch vụ khác5.2.1. Doanh thu bán lẻ hàng hóa Tổng mức bán lẻ hàng hóa trong tháng ước đạt 1.547.461 triệu đồng, tăng 2,16% so với tháng trước, tăng 15,19% so với cùng kỳ. Một số nhóm hàng hóa chính là: Lương thực thực phẩm đạt 628.074 triệu đồng, tăng 3,2%, tăng 3,88%; đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình đạt 133.731 triệu đồng, tăng 1,19%, tăng 8,52%; vật phẩm, văn hoá, giáo dục đạt 15.421 triệu đồng tăng 2,38%, tăng 8,16%; gỗ và vật liệu xây dựng đạt 183.647 triệu đồng, tăng 2,78%, tăng 40,21%; xăng, dầu các loại đạt 200.345 triệu đồng, tăng 2,39%, tăng 80,18%,....Tính từ đầu năm, tổng mức bán lẻ hàng hóa đạt 4.625.484 triệu đồng, tăng 10,62% so với cùng quý năm 2021, trong đó một số nhóm hàng hóa tăng là: Lương thực, thực phẩm đạt 1.861.121 triệu đồng, tăng 1,72%; hàng may mặc đạt 260.713 triệu đồng, tăng 12,7%; gỗ và vật liệu xây dựng đạt 551.647 triệu đồng, tăng 37,5%; xăng, dầu các loại đạt 589.407 triệu đồng, tăng 66,65%... Tuy nhiên còn có một số nhóm hàng hóa giảm như: Vật phẩm, văn hoá, giáo dục đạt 46.253 triệu đồng, giảm 8,61%; nhiên liệu khác (trừ xăng dầu) đạt 75.483 triệu đồng, giảm 16,6%; hàng hoá khác đạt 332.921 triệu đồng, giảm 19,19%.5.2.2. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ khác- Trong tháng, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 110.246 triệu đồng, tăng 0,6% so với tháng trước, tăng 19,85% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Doanh thu dịch vụ lưu trú ước đạt 7.430 triệu đồng, giảm 7,63%, tăng 7,1%; dịch vụ ăn uống ước đạt 102.816 triệu đồng, tăng 1,25%, tăng 19,21%. Ước tính quý I doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 336.790 triệu đồng, tăng 4,99% so với quý cùng kỳ.- Doanh thu dịch vụ khác trong tháng ước đạt 52.847 triệu đồng, tăng 2,02% so với tháng trước, tăng 28,85% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Doanh thu dịch vụ giáo dục và đào tạo đạt 2.193 triệu đồng, tăng 1,53%, tăng 37,84%; dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội đạt 2.192 triệu đồng, tăng 0,11%, tăng 99,3%; doanh thu nhóm dịch vụ khác ước đạt 15.708 triệu đồng, tăng 7,78%, tăng 26,94%,… Ước tính quý I doanh thu dịch vụ khác ước đạt 167.498 triệu đồng, tăng 13,47% so với quý cùng kỳ.6. Vận tải hàng hóa và hành khách 6.1. Doanh thu vận tải tải kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải - Doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải ước tháng 03 đạt 188.790 triệu đồng, tăng 1,52% so với tháng trước, giảm 4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Vận tải hành khách ước đạt 29.705 triệu đồng, giảm 2,13%, giảm 24,89%; vận tải hàng hóa ước đạt 158.903 triệu đồng, tăng 2,23%, tăng 1,27%; kho bãi và các hoạt động hỗ trợ vận tải đạt 183 triệu đồng, tăng 2,27%, giảm 3,14%.- Ước thực hiện trong quý I doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 564.828 triệu đồng, giảm 4,39% so với quý cùng kỳ năm trước. Trong đó: Doanh thu vận tải hành khách đạt 91.808 triệu đồng, giảm 22,16%; doanh thu vận tải hàng hóa đạt 472.472 triệu đồng, tăng 0,05%; doanh thu kho bãi và các hoạt động hỗ trợ vận tải đạt 548 triệu đồng, giảm 2,74%.6.2. Vận tải hành khách và hàng hóa- Khối lượng hành khách vận chuyển trong tháng ước đạt 479 nghìn hành khách, giảm 2,23% so với tháng trước và giảm 25,01% so với cùng kỳ; khối lượng hành khách luân chuyển ước đạt 49.123 nghìn lượt hành khách.km, giảm 1,7% và giảm 15,55%. Tính chung quý I, khối lượng hành khách vận chuyển ước đạt 1.480 nghìn hành khách, giảm 22,48% so với quý cùng kỳ; khối lượng hành khách luân chuyển ước đạt 151.278 nghìn lượt hành khách.km, giảm 13,15%.- Khối lượng hàng hóa vận chuyển trong tháng ước đạt 1.119 nghìn tấn, tăng 1,76% so với tháng trước, tăng 1,39% so với cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 65.335 nghìn tấn.km, tăng 2,6% và giảm 8,64%. Tính chung quý I, khối lượng hàng hóa vận chuyển ước đạt 3.347 nghìn tấn, tăng 0,92% so với quý cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 194.000 nghìn tấn.km, giảm 9,82%.7. Về du lịch Ước quý I năm 2022, toàn tỉnh thu hút được 424.900 lượt khách du lịch, đạt 18,6% kế hoạch, tăng 8% so với cùng kỳ; doanh thu từ du lịch đạt 411 tỷ đồng, đạt 17,4%, tăng 1,2%.II. LĨNH VỰC VĂN HÓA - XÃ HỘI 1. Lao động việc làm, giáo dục nghề nghiệp và hỗ trợ người lao động, người dân gặp khó khăn do ảnh hưởng bởi đại dịch Covid-191.1. Về lao động việc làm, giáo dục nghề nghiệpTrong quý toàn tỉnh tạo việc làm cho 5.447 người, đạt 25,3% kế hoạch, bằng 92,6% so với cùng quý năm trước (trong đó: làm việc trong các ngành kinh tế tại tỉnh 3.977 người; làm việc tại các tỉnh, thành phố trong nước 1.468 người; đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng 02 người).1.2. Về hỗ trợ người lao động, người dân gặp khó khăn do ảnh hưởng bởi đại dịch Covid-19Tiếp tục thực hiện các chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động gặp khó khăn do đại dịch Covid-19. Tính đến ngày 21/3/2022, đã phê duyệt hỗ trợ cho 42.563 đối tượng, với tổng số tiền phê duyệt hỗ trợ là trên 22,987 tỷ đồng.Thực hiện Nghị quyết số 116/NQ-CP của Chính phủ, đã thực hiện giảm mức đóng từ 1% xuống bằng 0% quỹ tiền lương tháng của những người lao động thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp vào quỹ bảo hiểm thất nghiệp cho 1.664 đơn vị sử dụng lao động tương ứng với 35.223 người lao động, số tiền giảm đóng là 7,75 tỷ đồng.2. Công tác đảm bảo chế độ chính sách và an sinh xã hội chuẩn bị cho tổ chức đón tết Nguyên đán Nhâm Dần năm 20222.1. Công tác đối với người có công với cách mạng Nhân dịp Tết Nguyên đán Nhâm Dần 2022, tỉnh đã triển khai các hoạt động tặng quà của Chủ tịch nước và quà của tỉnh đối với người có công với cách mạng trên địa bàn tỉnh nhân dịp Tết Nguyên đán Nhâm Dần năm 2022. Tổng số: 17.220 suất quà tặng, với tổng số tiền là 4.083,4 triệu đồng. Trong đó: Quà của Chủ tịch nước: 8.115 suất quà, số tiền 2.522,1 triệu đồng; quà của tỉnh: 8.766 suất quà, số tiền trên 1.358,7 triệu đồng; quà của huyện: 339 suất quà, số tiền 202,6 triệu đồng; lãnh đạo tỉnh cũng đã trao tặng 36 suất quà đối với những đối tượng là người có công với cách mạng tiêu biểu; Tổ chức thăm hỏi tặng quà cho 05 Trung tâm điều dưỡng người có công với cách mạng và 07 thương binh, bệnh binh. Tiếp nhận và trao tặng 95 suất quà, trị giá 1,425 triệu đồng của Quỹ Thiện Tâm (Tập đoàn Vingroup) tặng cho thương binh, bệnh binh nặng trên địa bàn tỉnh.2.2. Công tác bảo trợ xã hội và phòng chống các tệ nạn xã hội- Công tác chăm lo cho các đối tượng chính sách xã hội cũng được tỉnh hết sức quan tâm, chú trọng, duy trì chi trả trợ cấp thường xuyên cho trên 32.000 đối tượng bảo trợ xã hội tại cộng đồng. Hỗ trợ lượng thực cho các hộ hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, thiếu lương thực trong trong dịp Tết Nguyên đán Nhâm Dần năm 2022 trên địa bàn để hỗ trợ, với tổng 6.145 hộ, 19.407 khẩu, với trên 291.105 kg gạo (mỗi nhân khẩu 15kg, số tháng hỗ trợ 01 tháng), trong đó: Dân tộc thiểu số: 4.338 hộ, 14.885 khẩu, với 210.150 kg gạo. Đến ngày 15/02/20-22 các huyện, thành phố, một số cơ quan, đơn vị đã tiếp nhận, phân phối và cấp phát 13.552 suất quà, trị giá trên 7.060 triệu đồng cho các đối tượng hộ nghèo, cận nghèo, đối tượng bảo trợ xã hội, trẻ em, người có hoàn cảnh đặc biệt trên địa bàn tỉnh. Bên cạnh đó, các cơ quan, tổ chức, cá nhân cũng triển khai các hoạt động thăm, tặng quà cho các đối tượng chính sách có hoàn cảnh khó khăn. - Tăng cường quản lý chặt chẽ số người nghiện ma túy, tổ chức tốt công tác cai nghiện ma túy tại gia đình và cộng đồng và người sau cai nghiện tại nơi cư trú, hạn chế tái nghiện, sử dụng lại ma túy tại cộng đồng. Thực hiện tiếp nhận, quản lý người cai nghiện tại cơ sở, triển khai các biện pháp phòng chống dịch Covid-19 tại Cơ sở. Trong quý, đã tiếp nhận 07 người nghiện vào cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở; cấp giấy chứng nhận hoàn thành cai nghiện cho 15 học viên; tiếp tục duy trì quản lý 113 học viên cai nghiện ma túy.3. Hoạt động giáo dục và đào tạoThực hiện chỉ đạo của UBND tỉnh về việc thực hiện phương án tổ chức dạy học thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch Covid-19, từ ngày 21/3, trẻ em mầm non tiếp tục nghỉ học cho đến khi có thông báo mới; học sinh từ lớp 1 đến lớp 6 triển khai học trực tuyến; học sinh từ lớp 7 đến lớp 12, học viên giáo dục thường xuyên tiếp tục tổ chức dạy học trực tiếp, trực tuyến linh hoạt theo Phương án đã được ban hành. Cùng với việc đón học sinh đến trường học trực tiếp, các cơ sở giáo dục đã tăng cường các biện pháp phòng, chống dịch Covid-19 theo quy định như yêu cầu 100% giáo viên, học sinh đeo khẩu trang khi đến trường; theo dõi sức khỏe giáo viên, học sinh, thực hiện xét nghiệm đối với những trường hợp nghi nhiễm; đẩy mạnh công tác tuyên truyền phòng, chống dịch, triển khai Sổ tay bảo đảm an toàn phòng, chống dịch Covid-19 trong trường học, quy trình xử trí khi phát hiện F0 trong trường học,…4. Hoạt động y tế - Trong đợt dịch lần thứ tư, tính từ ngày 29/4/2021 đến ngày 20/3/2022, toàn tỉnh đã ghi nhận 94.098 trường hợp mắc Covid-19, hiện đang điều trị là 60.168 trong đó, tại cơ sở Y tế 1.434 bệnh nhân và 58.734 bệnh nhân điều trị tại nhà. Số bệnh nhân tử vong 17 bệnh nhân.- Về tình hình tiêm chủng vắc xin ngừa Covid-19: Cộng dồn tiêm tại tỉnh từ đợt 1 đến nay: 1.451.348 mũi tiêm; trong đó mũi 1 là 559.459 người; mũi 2 là 559.977 người; mũi bổ sung, nhắc lại là 331.912 người.+ Tỷ lệ tiêm cho người từ 18 tuổi trở lên 1 mũi là 99,9% (486.640 người có 5.735 người chống chỉ định chưa tiêm); tiêm đủ 2 mũi là 99,8% (488.504 người tăng hơn số người tiêm 01 mũi do ở nơi khác về địa phương); số người được tiêm mũi bổ sung, nhắc lại là: 331.912 người (chiếm 68,3%).+ Tiêm cho trẻ từ 15 đến dưới 18 tuổi; số tiêm đủ 2 mũi là 30.784 trẻ, đạt 97,3%; số tiêm 1 mũi là 31.488 trẻ, đạt 99,5% trên tổng số trẻ cần phải tiêm.+ Tiêm cho trẻ từ 12 đến dưới 15 tuổi; số tiêm đủ 2 mũi là 40.689 trẻ, đạt 98,3%; số tiêm 1 mũi là 41.331 trẻ, đạt 99,8% trên tổng số trẻ cần phải tiêm.5. Hoạt động văn hoá - thể dục, thể thao- Lĩnh vực văn hoá: Triển khai Dự án Bảo quản, tu bổ, phục hồi và phát huy giá trị di tích lịch sử quốc gia đặc biệt Tân Trào, tỉnh Tuyên Quang gắn với phát triển du lịch đến năm 2025; tiếp tục xây dựng kế hoạch kỷ niệm 75 năm Ngày Bác Hồ trở lại Tuyên Quang lãnh đạo kháng chiến (02/4/1947-02/4/2022). Tổ chức triển lãm tranh cổ động tấm lớn (96 mẫu tranh) kỷ niệm 92 năm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, mừng Xuân Nhâm Dần - 2022 tại Quảng trường Nguyễn Tất Thành. Tiếp tục đẩy mạnh phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” gắn với chương trình xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh được triển khai.- Về thể dục thể thao: Đã tổ chức thành công giải bóng chuyền hơi cấp tỉnh năm 2022; Lễ phát động ngày chạy Olympic vì sức khỏe toàn dân và Giải Việt dã Tiền Phong tỉnh Tuyên Quang năm 2022. Ban hành điều lệ, kế hoạch tổ chức giải đua thuyền Kayak tỉnh Tuyên Quang mở rộng. 6. Tình hình trật tự trị an, an toàn xã hội an toàn giao thông và phòng chống cháy, nổ6.1. Về trật tự an toàn xã hội - Trật tự trị an, an toàn xã hội 03 tháng đầu năm 2022: Từ ngày 15/12/2021 đến ngày 14/3/2022, toàn tỉnh đã phát hiện 14 vụ phạm pháp kinh tế, với 31 đối tượng phạm tội; số vụ phạm pháp hình sự là 72 vụ và 180 đối tượng phạm tội; phát hiện 97 vụ tàng trữ, mua bán, vận chuyển trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy, và 138 đối tượng phạm tội; phát hiện 03 vụ phạm pháp về chức vụ, với 03 đối tượng phạm tội; số vụ phạm pháp về môi trường là 09 vụ với 07 đối tượng phạm pháp. So với cùng kỳ năm trước: Số vụ phạm pháp kinh tế tăng 03 vụ, số đối tượng phạm tội tăng 13 đối tượng; số vụ tàng trữ, mua bán, vận chuyển trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy tăng 11 vụ, tăng 29 đối tượng phạm tội; số vụ phạm pháp về chức vụ tăng 02 vụ, số đối tượng phạm tội tăng 01; số vụ phạm pháp về môi trường tăng 03 vụ, số đối tượng phạm pháp tăng 02 đối tượng.6.2. Về an toàn giao thôngTính chung 03 tháng đầu năm, toàn tỉnh đã xảy ra 18 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 06 người và làm bị thương 16 người; với tổng giá trị thiệt hại là 155 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước: Số vụ tai nạn giao thông giảm 13 vụ; số người chết giảm 03 người; số người bị thương giảm 14 người; thiệt hại về tài sản tăng 57,5 triệu đồng.6.3. Về cháy, nổTừ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh xảy ra 01 vụ cháy nhà tại địa bàn huyện Na Hang; thiệt hại ước tính khoảng 2 tỷ đồng; giảm 50% số vụ so với cùng kỳ; thiệt hại về tài sản tăng 566,67%.7. Thiệt hại do thiên taiDo ảnh hưởng của các đợt mưa lớn kèm theo giông lốc (từ đêm ngày 22-3 đến đêm 23-3) trên địa bàn toàn tỉnh đã làm 47 nhà bị thiệt hại (trong đó: 02 nhà bị sập hoàn toàn, 45 nhà bị tốc mái, hư hỏng); trong tháng 2 thời tiết rét đậm, rét hại kéo dài với nền nhiệt thấp đã làm 10 con trâu tại huyện Na Hang bị chết rét, trong đó (xã Sinh Long: 3 con, Hồng Thái: 5 con, Thượng Nông: 1 con, Sơn Phú: 1 con); toàn tỉnh cũng ghi nhận trên 126 ha lúa bị ảnh hưởng (26,2 ha lúa bị ngập tại huyện Yên Sơn; 99,8 ha lúa tại huyện Sơn Dương bị ảnh hưởng do lũ tràn qua và chết do rét; diện tích cây ngô, rau màu bị ngập, ảnh hưởng là 14 ha; cây lâm nghiệp thiệt hại 10 ha). Ước tính thiệt hại 985,5 triệu đồng.CỤC THỐNG KÊ TUYÊN QUANG

Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 02 năm 2022 tỉnh Tuyên Quang
  •   07/11/2025 22:04

I. PHÁT TRIỂN KINH TẾ  1. Về sản xuất nông nghiệp (tính đến ngày 15/02/2022)1.1. Trồng trọt 1.1.1. Sản xuất vụ đôngKết quả: Cây ngô đã thu hoạch được 5.650 ha, đạt 100% tiến độ gieo trồng; Cây khoai lang thu hoạch được 1.000,3 ha, đạt 100%; Cây rau đậu các loại thu hoạch 5.189 ha đạt 100%.1.1.2. Sản xuất vụ xuân Cây lúa toàn tỉnh đã cấy được 17.420,2 ha (trong đó: Lúa lai 7.733,6 ha; lúa thuần 9.250,6 ha), đạt 92,69% kế hoạch; cây ngô đã trồng 3.341,2 ha, đạt 41,70%; Cây lạc đã trồng 2.499,8 ha, đạt 74,40 %; cây đậu tương trồng được 51 ha đạt 44,3%.1.2. Tình hình sinh vật gây hại - Thời tiết diễn biến bất thường, tạo điều kiện thuận lợi để sâu bệnh phát triển gây hại đến cây trồng. Trong đó, một số diện tích mạ xuân bị chuột, nấm mốc, thối nhũn, bệnh trắng lá gây hại rải rác. Diện tích ngô bị sâu đục bắp, đốm lá, khô vằn, châu chấu, chuột gây hại. Trên cây chè, cây cam bị nhiễm rầy xanh nhẹ, bọ trĩ, bọ xít, nhện đỏ, nhện trắng gây hại ở mức trung bình.- Trước tình hình sinh vật gây hại cây trồng nêu trên. Các cơ quan chức năng đã phối hợp, hướng dẫn bà con nông dân thực hiện việc gieo cấy đúng thời vụ, chăm sóc cây trồng; thường xuyên kiểm tra đồng ruộng, phát hiện sâu bệnh hại cây trồng, kịp thời hướng dẫn cách phòng trừ, giảm thiệt hại do sâu bệnh gây ra.1.3. Về chăn nuôi 1.3.1. Về số lượng đàn gia súc, gia cầmĐàn trâu: Tổng đàn là 91.721 con, giảm 0,86% (giảm 795 con) so với cùng kỳ năm 2021; đàn bò 37.133 con, tăng 1,68% (tăng 614 con); Đàn lợn 541.814 con, tăng 2,3% (tăng 12.177 con); Đàn gia cầm 6.936,44 nghìn con, tăng 7,14%.1.3.2. Về sản phẩm đàn gia súc, gia cầmĐàn trâu sản lượng thịt hơi xuất chuồng đạt 578,17 tấn, tăng 114,67% so với cùng kỳ năm 2021; đàn bò đạt 153,54 tấn, tăng 6,09%, sản lượng sữa đạt 1.289,53 tấn, tăng 111,28%; đàn lợn đạt 5.722,98 tấn, tăng 17,63%; đàn gia cầm đạt 1.594,81 tấn, tăng 11,71%.1.3.3. Về công tác phòng chống dịch bệnh gia súc, gia cầm- Trong tháng, trên địa bàn các huyện, thành phố rải rác xuất hiện các bệnh Tụ huyết trùng; ký sinh trùng, chướng bụng đầy hơi, sán lá gan; đàn trâu, bò bị tiêu chảy, lép tô; đàn lợn con nhiễm phân trắng; bệnh Niucatson, THT, cầu trùng xuất hiện đối với đàn gia cầm. Tuy nhiên, đã được nhân viên thú y phát hiện, điều trị khỏi: 249/264 con, trong đó: Trâu, bò: 18/18 con; đàn lợn: 231/246 con.- Bệnh Dịch tả lợn Châu Phi tiếp tục tái phát rải rác trên địa bàn 05 thôn/13 hộ/ 06 xã/6 huyện, thành phố với tổng số lợn tiêu hủy 261 con/13.097 kg lợn hơi. 1.3.4. Công tác kiểm dịch vận chuyển động vật, sản phẩm động vật- Kiểm dịch vận chuyển ngoại tỉnh: Thực hiện nghiêm theo cơ chế “Một cửa”, đã kiểm tra,cấp 229 giấy chứng nhận kiểm dịch vận chuyển 11.761 con gia súc, gia cầm, 2.002.000 kg sản phẩm động vật đi các tỉnh Bắc Ninh, Hà Nội, Hà Giang, Vĩnh Phúc...- Tại các Trạm Kiểm dịch động vật: Duy trì kiểm tra thực hiện với 139 lượt phương tiện vận chuyển đủ thủ tục (36 chuyến vận chuyển 2.091 con gia súc, 98 chuyến vận chuyển 124.738 con gia cầm).1.3.5. Công tác kiểm soát giết mổ, và kiểm tra vệ sinh thú yCông tác kiểm soát giết mổ, kiểm tra vệ sinh thú y được các Trạm Chăn nuôi và Thú y phân công, bố trí cán bộ thường xuyên duy trì, kiểm tra, kiểm soát, bảo đảm sản phẩm gia súc trước khi đưa ra thị trường tiêu thụ được kiểm tra, kết quả đã kiểm soát giết mổ được: 280 con trâu, bò; 4.383 con lợn.1.4. Về sản xuất lâm nghiệp 1.4.1. Công tác trồng rừngTriển khai kế hoạch trồng rừng năm 2022, toàn tỉnh có kế hoạch trồng mới 10.100 ha rừng, trong đó rừng sản xuất là 9.700 ha; tỉnh đã đôn đốc UBND cấp huyện, các ban quản lý dự án cơ sở rà soát, đăng ký nhu cầu hỗ trợ cây giống chất lượng cao theo đúng cơ chế chính sách đã ban hành; quản lý chặt chẽ việc sản xuất cây giống lâm nghiệp tại từng vườn ươm trên địa bàn, đảm bảo cung ứng đủ, kịp thời cây giống đạt tiêu chuẩn phục vụ cho Tết trồng cây Nhâm Dần và diện tích trồng rừng năm 2022.1.4.2. Khai thác gỗ rừng trồng Trong tháng, toàn tỉnh khai thác được 38.823,50 m3 gỗ, giảm 0,02% so với cùng kỳ. Trong đó, khai thác gỗ của các tổ chức khác được 1.641,2 m3; khai thác gỗ hộ gia đình được 37.182,30 m3. 1.4.3. Công tác quản lý bảo vệ rừngTheo báo cáo của Chi cục Kiểm lâm tỉnh, trong tháng trên địa bàn toàn tỉnh không có vụ cháy rừng nào xảy ra. Số vụ chặt phá rừng là 5 vụ, tổng diện tích bị chặt phá 1,22 ha. Xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng, đã kiểm tra, phát hiện và xử lý tịch thu 3 phương tiện và 14,6 m3 gỗ các loại; phạt hành chính và bán thanh lý tài sản 79,25 triệu đồng (đã thu nộp ngân sách 56,75 triệu đồng).2. Sản xuất công nghiệp2.1. Chỉ số phát triển công nghiệp - Chỉ số sản xuất công nghiệp trong tháng tăng 15,25% so với cùng kỳ, giảm 25,46% so với tháng trước, cụ thể của các ngành như sau: Ngành khai khoáng tăng 43,78%, giảm 21,26%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 12,27%, giảm 25,28%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí tăng 25,06%, giảm 28,18%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 9,15%, giảm 7,08%.Một số ngành công nghiệp cấp II có chỉ số sản xuất tăng so với cùng kỳ năm trước như: Khai khoáng khác tăng 43,78%; sản xuất trang phục tăng 12,58%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 12,29%; in, sao chép bản ghi các loại tăng 23,53%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 15,38%; ngành sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 62,94%; ngành sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 73,13%,...- Tính chung 02 tháng đầu năm, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 16,09% so với cùng kỳ năm trước, Chia theo từng ngành kinh tế cấp I như sau:+ Ngành khai khoáng tăng 27,85%, nguyên nhân từ đầu năm đến nay, sản lượng khai thác đá, cát, barit tăng cao so cùng kỳ.+ Ngành sản xuất và phân phối điện giảm 0,9%, do lượng mưa từ đầu năm thấp hơn so với năm trước làm cho sản lượng điện đạt thấp.+ Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 19,92%; do hoạt động sản xuất các mặt hàng công nghiệp như da giày, dệt may khởi sắc, nhận được nhiều đơn hang từ các đối tác.+ Ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,27%, do nhu cầu sử dụng nước sinh hoạt ngày càng tăng, với mục tiêu đẩy mạnh hoạt động sản xuất, kinh doanh đáp ứng nhu cầu nước sạch cho khách hàng.2.2. Sản phẩm công nghiệp chủ yếu - Trong tháng, một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng so với cùng kỳ năm trước như: Điện sản xuất đạt 111 triệu Kw, tăng 23,12%; điện thương phẩm đạt 90 triệu Kw, tăng 17,53%; đường kính đạt 2.700 tấn, tăng 45,01%; fepromangan đạt 1.300 tấn, tăng 381,48%; trang in đạt 20 tấn, tăng 11,11%; may mặc xuất khẩu đạt 2.149 nghìn cái, tăng 33,65%; gỗ tinh chế đạt 3.522 m3, tăng 137,04%,... Tuy nhiên, cũng có một số sản phẩm công nghiệp giảm so với cùng kỳ như: Bột giấy đạt 6.054 tấn, giảm 23,36%; giấy viết đạt 5.051 tấn, giảm 0,14%,...- Sản phẩm công nghiệp chủ yếu trong 02 tháng đầu năm 2022 tăng so với cùng kỳ năm trước như: Điện thương phẩm đạt 179 triệu Kw, tăng 9,66%; fepromangan đạt 2.600 tấn, tăng 356,1%; chè chế biến đạt 347 tấn, tăng 17,64%; quần áo may xuất khẩu đạt 4.294 nghìn cái, tăng 20,83%; giấy hàng mã xuất khẩu đạt 1.516 tấn, tăng 6,91%,.... Tuy nhiên, có một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu giảm so với cùng kỳ năm trước như: Đường kính đạt 6.019 tấn, giảm 26,79%, điện sản xuất đạt 275 triệu Kw, giảm 0,15%; bột Pen pát đạt 24.851 tấn, giảm 22,83%,...3. Kết quả thu ngân sách nhà nước tháng 02 năm 2022- Tổng thu nội địa trong tháng ước thực hiện là 220 tỷ đồng, đạt 21,2% dự toán, tăng 14,8% so với cùng kỳ.- Số thu nội địa trừ tiền sử dụng đất và xổ số ước thực hiện là 150 tỷ đồng, đạt 19% dự toán, giảm 13,4% so với cùng kỳ.4. Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước thực hiện tháng 02 năm 2022 đạt 65.916 triệu đồng, tăng 15,31% so với cùng kỳ. Chia ra: - Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 56.069 triệu đồng, tăng 16,55%.- Vốn ngân sách nhà nước cấp huyện đạt 7.892 triệu đồng, tăng 18,48%.- Vốn ngân sách nhà nước cấp xã đạt 1.955 triệu đồng, giảm 18,37%.5. Thương mại và Dịch vụ5.1. Công tác quản lý nhà nước về thương mạiSau Tết Nguyên đán Nhâm Dần 2022, trên địa bàn tỉnh, thị trường hàng hóa không xảy ra tình trạng khan hiếm, sốt giá. Tại các chợ, siêu thị, nguồn cung hàng hóa dồi dào cả về chủng loại lẫn số lượng, đáp ứng đầy đủ nhu cầu tiêu dùng, không có tình trạng khan hiếm hàng hóa và tăng giá đột biến, hàng hóa được tổ chức lưu thông thông suốt. Tuy nhiên, hiện nay thị trường xăng, dầu trên thế giới và trong nước đang có những biến động rất lớn ảnh hưởng đến nguồn cung, khi nhu cầu trên thị trường đang có xu hướng tăng lên. Tỉnh đã đề nghị các doanh nghiệp đầu mối thực hiện các phương án, nỗ lực cung ứng phục vụ nhu cầu của nhân dân, doanh nghiệp, ngăn chặn tình trạng đầu cơ, tích trữ gây nguy hiểm và làm lũng đoạn thị trường.5.2. Doanh thu bán lẻ hàng hóa, dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch và dịch vụ khác5.2.1. Doanh thu bán lẻ hàng hóa Tổng mức bán lẻ hàng hóa trong tháng ước đạt 1.627.685 triệu đồng, tăng 0,69% so với tháng trước, tăng 17,84% so với cùng kỳ. Một số nhóm hàng hóa chính là: Lương thực thực phẩm đạt 668.405 triệu đồng, tăng 2,64%, tăng 8,19%; hàng may mặc đạt 88.702 triệu đồng, tăng 2,57%, tăng 7,31%; đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình đạt 133.046 triệu đồng, tăng 1,47%, tăng 4,82%; phương tiện đi lại (trừ ô tô, kể cả phụ tùng) đạt 62.734 triệu đồng, giảm 15,01%, tăng 40,46%; xăng, dầu các loại đạt 200.510 triệu đồng, tăng 3,68%, tăng 103,49%; hàng hoá khác đạt 132.255 triệu đồng, tăng 1,86%, giảm 2,89%,....Tính từ đầu năm, tổng mức bán lẻ hàng hóa đạt 3.244.207 triệu đồng, tăng 14,31% so với cùng kỳ năm 2021, trong đó một số nhóm hàng hóa tăng là: Lương thực, thực phẩm đạt 1.319.609 triệu đồng, tăng 7,71%; gỗ và vật liệu xây dựng đạt 363.676 triệu đồng, tăng 34,58%; phương tiện đi lại, trừ ô tô con (kể cả phụ tùng) đạt 136.551 triệu đồng, tăng 33,56%; xăng, dầu các loại đạt 393.909 triệu đồng, tăng 62,44%... Tuy nhiên còn có một số nhóm hàng hóa giảm như: Vật phẩm, văn hoá, giáo dục đạt 31.786 triệu đồng, giảm 12,57%; hàng hoá khác đạt 262.092 triệu đồng, giảm 6,37%.5.2.2. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ khác- Trong tháng, doanh thu nhóm dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 117.334 triệu đồng, tăng 35,34% so với cùng kỳ năm trước, tăng 0,29% so với tháng trước. Trong đó: Doanh thu dịch vụ lưu trú ước đạt 9.150 triệu đồng, tăng 57,07%, tăng 0,22%; dịch vụ ăn uống ước đạt 108.184 triệu đồng, tăng 33,78%, tăng 0,29%.- Doanh thu nhóm dịch vụ khác trong tháng ước đạt 64.391 triệu đồng, tăng 34,18% so với cùng kỳ năm trước, tăng 2,64% so với tháng trước, trong đó: Doanh thu Dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ đạt 15.203 triệu đồng, tăng 50,95%, tăng 0,08%; giáo dục và đào tạo đạt 2.081 triệu đồng, tăng 96,88%, giảm 12,97%; kinh doanh bất động sản đạt 2.062 triệu đồng, giảm 9,14%, tăng 1,85%; dịch vụ khác đạt 22.984 triệu đồng, tăng 58,82%, tăng 6,15%.- Tính từ đầu năm đến cuối tháng, doanh thu nhóm dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 234.335 triệu đồng, tăng 2,41% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu nhóm dịch vụ khác ước đạt 127.128 triệu đồng, tăng 19,26%.5.3. Giá cả- Ước tính CPI tháng 02 năm 2022 tăng 1,43% so với tháng trước, do nhu cầu mua sắm của người dân tăng cao, giá hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng thiết yếu tăng, giảm 0,05% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 02 tháng đầu năm, giảm 0,25% so với cùng kỳ năm trước.Trong số 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính thì có 05/11 nhóm hàng tăng so với tháng trước, bao gồm những nhóm hàng sau: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 3,64% do các mặt hàng lương thực, thực phẩm tăng nhẹ trong dịp Tết; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0,49% do trong tháng người dân lắp đặt các thiết bị chiếu sáng, trang trí nhà cửa… cùng với nhu cầu sử dụng bình nóng lạnh, thiết bị sưởi ấm do nhiệt độ giảm sâu dẫn đến lượng tiêu thụ điện của người dân tăng; giao thông tăng 1,96% là do giá xăng dầu điều chỉnh tăng theo quyết định điều chỉnh của Tập đoàn xăng dầu Việt Nam về giá bán lẻ xăng vào các ngày 01, 11, 21 hàng tháng; nhóm văn hóa, giải trí, du lịch tăng 0,02%,… Tuy nhiên, có một số nhóm giảm so với tháng trước: Đồ uống và thuốc lá giảm 0,02% do nhu cầu mua sắm những đồ dùng, thực phẩm thiết yếu giảm so với dip trước Tết; may mặc, mũ nón và giày dép giảm 0,11%; thiết bị và đồ dùng gia đình giảm 0,01%,... Có 3/11 nhóm hàng duy trì ở mức giá ổn định và giữ nguyên so với tháng trước là: Nhóm thuốc và dịch vụ y tế; bưu chính viễn thông; giáo dục.- Chỉ số giá vàng giảm 0,38% so với cùng tháng năm trước, tăng 0,63% so với tháng trước, giảm 0,30% so với bình quân cùng kỳ. - Chỉ số giá đô la Mỹ giảm 1,07% so với cùng tháng năm trước, giảm 0,01% so với tháng trước, giảm 1,22% so với bình quân cùng kỳ. 6. Vận tải hàng hóa và hành khách 6.1. Doanh thu vận tải tải kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải - Ước tính doanh thu vận tải kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải trong tháng đạt 173.855 triệu đồng, tăng 5,67% so với tháng trước, giảm 10,22% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Doanh thu từ vận tải hành khách ước đạt 29.965 triệu đồng, tăng 0,03% và giảm 22,1%; doanh thu từ vận tải hàng hóa đạt 143.583 triệu đồng, tăng 6,92% và giảm 7,36%; dịch vụ hỗ trợ vận tải kho bãi đạt 307 triệu đồng, tăng 8,75% và tăng 70,4%,...- Tính từ đầu năm, ước tính doanh thu vận tải kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 338.381 triệu đồng, giảm 14,14% so với cùng kỳ. Trong đó: Doanh thu từ vận tải hành khách ước đạt 59.920 triệu đồng, giảm 23,56%; doanh thu từ vận tải hàng hóa đạt 277.872 triệu đồng, giảm 11,88%; dịch vụ hỗ trợ vận tải kho bãi đạt 588 triệu đồng, tăng 57,17%.6.2. Vận tải hành khách và hàng hóa- Khối lượng hành khách vận chuyển trong tháng ước đạt 353 nghìn hành khách, giảm 9,56% so với tháng trước và giảm 43,54% so với cùng kỳ; khối lượng hành khách luân chuyển ước đạt 54.806 nghìn lượt hành khách.km, giảm 7,14% và giảm 3,93%. Tính chung 02 tháng đầu năm, khối lượng hành khách vận chuyển ước đạt 743 nghìn hành khách, giảm 43,77% so với cùng kỳ; khối lượng hành khách luân chuyển ước đạt 113.825 nghìn lượt hành khách.km, giảm 4,68%.- Khối lượng hàng hóa vận chuyển trong tháng ước đạt 865 nghìn tấn, tăng 6,51% so với tháng trước và giảm 20,69% so với cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 41.012 nghìn tấn.km, tăng 2,71% và giảm 41,85%. Tính chung 02 tháng đầu năm, khối lượng hàng hóa vận chuyển ước đạt 1.676 nghìn tấn, giảm 24,46% so với cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 80.940 nghìn tấn.km, giảm 43,21%.7. Về du lịch Trong tháng 02/2022, toàn tỉnh thu hút được 168.000 lượt khách du lịch; tổng thu từ khách du lịch đạt 156 tỷ đồng (nâng tổng số 2 tháng đầu năm 2022, thu hút 236.900 lượt, đạt 10,3% kế hoạch, tăng 19,9% so với cùng kỳ; tổng thu từ du lịch 216 tỷ đồng, đạt 9,1% kế hoạch, tăng 7,5%).II. LĨNH VỰC VĂN HÓA - XÃ HỘI 1. Lao động việc làm, giáo dục nghề nghiệp và hỗ trợ người lao động, người dân gặp khó khăn do ảnh hưởng bởi đại dịch Covid-191.1. Về lao động việc làm, giáo dục nghề nghiệp- Trong tháng toàn tỉnh tạo việc làm được 2.760 người lao động, đạt 12,8% kế hoạch; lũy kế 02 tháng đầu năm 2022, tạo việc làm được 3.028 người, đạt 14,1% kế hoạch.- Thực hiện tư vấn về việc làm, học nghề và định hướng nghề nghiệp cho 1.877 người, trong đó: 387 người đề nghị hưởng bảo hiểm thất nghiệp; 65 người qua điện thoại, qua mạng xã hội và fanpage,...1.2. Về hỗ trợ người lao động, người dân gặp khó khăn do ảnh hưởng bởi đại dịch Covid-19Tỉnh đã ban hành các Quyết định hỗ trợ người lao động và người lao động gặp khó khăn do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19, cụ thể: theo Nghị quyết 68/NQ-CP: cho 5.134 người, số tiền trên 7,559 tỷ đồng; theo Nghị quyết số 116/NQ-CP: Hỗ trợ giảm mức đóng từ 1% xuống bằng 0% quỹ tiền lương tháng của những người lao động: 84 đơn vị sử dụng lao động, với 5.134 người lao động, số tiền giảm đóng là 3,434 tỷ đồng.2. Công tác đảm bảo chế độ chính sách và an sinh xã hội chuẩn bị cho tổ chức đón tết Nguyên đán Nhâm Dần năm 20222.1. Công tác đối với người có công với cách mạng Nhân dịp Tết Nguyên đán Nhâm Dần 2022, tỉnh đã triển khai các hoạt động tặng quà của Chủ tịch nước và quà của tỉnh đối với người có công với cách mạng trên địa bàn tỉnh nhân dịp Tết Nguyên đán Nhâm Dần năm 2022. Tổng số: 17.220 suất quà tặng, với tổng số tiền là 4.083,4 triệu đồng. Trong đó: Quà của Chủ tịch nước: 8.115 suất quà, số tiền 2.522,1 triệu đồng; quà của tỉnh: 8.766 suất quà, số tiền trên 1.358,7 triệu đồng; quà của huyện: 339 suất quà, số tiền 202,6 triệu đồng; lãnh đạo tỉnh cũng đã trao tặng 36 suất quà đối với những đối tượng là người có công với cách mạng tiêu biểu; Tổ chức thăm hỏi tặng quà cho 05 Trung tâm điều dưỡng người có công với cách mạng và 07 thương binh, bệnh binh.2.2. Công tác bảo trợ xã hội và phòng chống các tệ nạn xã hội- Công tác chăm lo cho các đối tượng chính sách xã hội cũng được tỉnh hết sức quan tâm, chú trọng, duy trì chi trả trợ cấp thường xuyên cho trên 27.000 đối tượng bảo trợ xã hội tại cộng đồng. Hỗ trợ lượng thực cho các hộ hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, thiếu lương thực trong trong dịp Tết Nguyên đán Nhâm Dần năm 2022 trên địa bàn để hỗ trợ, với tổng 6.145 hộ, 19.407 khẩu, với trên 291.105 kg gạo (mỗi nhân khẩu 15kg, số tháng hỗ trợ 01 tháng), trong đó: Dân tộc thiểu số: 4.338 hộ, 14.885 khẩu, với 210.150 kg gạo. Đến ngày 15/02/20-22 các huyện, thành phố, một số cơ quan, đơn vị đã tiếp nhận, phân phối và cấp phát 13.552 suất quà, trị giá trên 7.060 triệu đồng cho các đối tượng hộ nghèo, cận nghèo, đối tượng bảo trợ xã hội, trẻ em, người có hoàn cảnh đặc biệt trên địa bàn tỉnh. Bên cạnh đó, các cơ quan, tổ chức, cá nhân cũng triển khai các hoạt động thăm, tặng quà cho các đối tượng chính sách có hoàn cảnh khó khăn. - Tăng cường quản lý chặt chẽ số người nghiện ma túy, tổ chức tốt công tác cai nghiện ma túy tại gia đình và cộng đồng và người sau cai nghiện tại nơi cư trú, hạn chế tái nghiện, sử dụng lại ma túy tại cộng đồng. Thực hiện tiếp nhận, quản lý người cai nghiện tại cơ sở, triển khai các biện pháp phòng chống dịch Covid-19 tại Cơ sở. Trong tháng, đã tiếp nhận 06 người nghiện vào cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở; cấp giấy chứng nhận hoàn thành cai nghiện cho 07 học viên; tại thời điểm báo cáo duy trì quản lý 118 học viên cai nghiện ma túy.3. Hoạt động giáo dục và đào tạo- Trong tháng, học sinh đi học trở lại sau kỳ nghỉ Tết, số ca phát hiện mắc Covid-19 trong giáo viên, học sinh tăng cao. Điều này đã được lường trước bởi trong thời gian nghỉ Tết, học sinh đã tiếp xúc với nhiều người, trong đó có cả những người từ ngoài tỉnh trở về. Do đó, tỉnh đã thường xuyên chỉ đạo, tăng cường các biện pháp chống dịch, hạn chế dịch lây lan. - Tỉnh thực hiện phương án tổ chức dạy học và điều chỉnh phương án trong điều kiện dịch Covid-19 trên địa bàn tỉnh có diễn biến phức tạp. Theo đó, đối với các cơ sở giáo dục trên địa bàn huyện Lâm Bình, Na Hang, Chiêm Hóa, Hàm Yên tiếp tục tổ chức dạy học trực tiếp, trực tuyến. Đối với các cơ sở giáo dục trên địa bàn huyện Sơn Dương, Yên Sơn và thành phố Tuyên Quang cho trẻ em mầm non nghỉ học từ ngày 21/2/2022 cho đến khi có thông báo mới; học sinh phổ thông, giáo dục thường xuyên học trực tuyến, (iêng học sinh lớp 9 và lớp 12 tiếp tục tổ chức dạy học theo Phương án riêng đối với học sinh lớp 9 và lớp 12 tiếp tục tổ chức dạy học theo phương án đã được ban hành.4. Hoạt động y tế - Trong đợt dịch lần thứ tư, tính từ ngày 29/4/2021 đến 8h00 ngày 21/02/2022, trên địa bàn tỉnh ghi nhận 10.253 trường hợp mắc Covid-19. Tổng số mẫu xét nghiệm là 312.946 mẫu; số mẫu âm tính là 300.944 mẫu; số mẫu đang chờ là 1.749 mẫu.- Tổng số trường hợp nghi ngờ đang được cách ly, theo dõi tại Cơ sở Y tế, Khu cách ly tập trung và cách ly tại nhà (có Quyết định) là: 18.467 người, trong đó: Số trường hợp cách ly tại Cơ sở y tế: Số F0 đang điều trị, cách ly tại cơ sở y tế: 3.073 người; số F1 cách ly tại cơ sở y tế: 53 người; số trường hợp cách ly tại Khu cách ly tập trung: Số F1 cách ly tập trung: 0 người; số F2 cách ly tập trung: 17 người; về số trường hợp cách ly tại nhà (có Quyết định): Số F0 cách ly tại nhà: 2.493 người; số F1 cách ly tại nhà: 13.460 người; số F2 cách ly tại nhà: 1.864 người.- Về tình hình tiêm chủng vắc xin ngừa Covid-19: Cộng dồn từ đợt 1 đến nay đã tiêm 1.333.246 mũi tiêm; trong đó mũi 1: 554.896 người; mũi 2: 552.388 người; mũi bổ sung, nhắc lại: 231.580 người. Tỷ lệ tiêm cho người từ 18 tuổi trở lên đạt: 1 mũi là 99,5% (482.473/484.772 người đủ điều kiện tiêm và 6.418 người chưa tiêm); tiêm đủ 2 mũi là 99,4% (482.030 người); số người được tiêm mũi bổ sung, nhắc lại là: 231.580 người (chiếm 47,8%). Tiêm cho trẻ từ 12 đến dưới 18 tuổi, tỷ lệ tiêm đủ 2 mũi: 97,9% (71.473 trẻ), số tiêm 1 mũi: 99,6 % (72.750 trẻ) trên tổng số trẻ cần phải tiêm 72.981.5. Hoạt động văn hoá - thể dục, thể thao- Lĩnh vực văn hoá: Triển khai Dự án Bảo quản, tu bổ, phục hồi và phát huy giá trị di tích lịch sử quốc gia đặc biệt Tân Trào, tỉnh Tuyên Quang gắn với phát triển du lịch đến năm 2025; tiếp tục xây dựng kế hoạch kỷ niệm 75 năm Ngày Bác Hồ trở lại Tuyên Quang lãnh đạo kháng chiến (02/4/1947-02/4/2022). Tổ chức triển lãm tranh cổ động tấm lớn (96 mẫu tranh) kỷ niệm 92 năm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, mừng Xuân Nhâm Dần - 2022 tại Quảng trường Nguyễn Tất Thành. Tiếp tục đẩy mạnh phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” gắn với chương trình xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh được triển khai.- Về thể dục thể thao: Xây dựng kế hoạch tổ chức Lễ phát động Ngày chạy Olympic, giải Việt dã Tiền phong tỉnh Tuyên Quang. Chỉ đạo các huyện, thành phố tiếp tục tổ chức Đại hội Thể dục thể thao cấp cơ sở.6. Tình hình trật tự trị an, an toàn xã hội an toàn giao thông và phòng chống cháy, nổ6.1. Về trật tự an toàn xã hội - Trật tự trị an, an toàn xã hội trong tháng: Từ ngày 15/01/2022 đến ngày 14/02/2022, toàn tỉnh đã phát hiện 03 vụ phạm pháp kinh tế, với 06 đối tượng phạm tội; số vụ phạm pháp hình sự là 29 vụ và bắt giữ 89 đối tượng phạm tội; phát hiện 19 vụ tàng trữ, mua bán, vận chuyển trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy, bắt giữ 25 đối tượng phạm tội; phát hiện 02 vụ phạm pháp về chức vụ, với 02 đối tượng phạm tội; số vụ phạm pháp về môi trường là 03 vụ với 03 đối tượng phạm pháp. So với cùng kỳ năm trước: Số vụ phạm pháp kinh tế giảm 04 vụ, số đối tượng phạm tội giảm 07 đối tượng; số vụ phạm pháp hình sự tăng 05 vụ, số đối tượng phạm tội tăng 40 đối tượng; số vụ tàng trữ, mua bán, vận chuyển trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy giảm 09 vụ, giảm 18 đối tượng phạm tội.- Trật tự trị an, an toàn xã hội 02 tháng đầu năm 2022: Từ ngày 15/12/2021 đến ngày 14/02/2022, toàn tỉnh đã phát hiện 11 vụ phạm pháp kinh tế, với 25 đối tượng phạm tội; số vụ phạm pháp hình sự là 58 vụ và bắt giữ 155 đối tượng phạm tội; phát hiện 85 vụ tàng trữ, mua bán, vận chuyển trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy, bắt giữ 123 đối tượng phạm tội; phát hiện 03 vụ phạm pháp về chức vụ, với 03 đối tượng phạm tội; số vụ phạm pháp về môi trường là 09 vụ với 07 đối tượng phạm pháp. So với cùng kỳ năm trước: Số vụ phạm pháp kinh tế không đổi, số đối tượng phạm tội tăng 07 đối tượng; số vụ phạm pháp hình sự tăng 03 vụ, số đối tượng phạm tội tăng 44 đối tượng; số vụ tàng trữ, mua bán, vận chuyển trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy tăng 06 vụ, tăng 26 đối tượng phạm tội.6.2. Về cháy, nổTrong tháng trên địa bàn tỉnh xảy ra 01 vụ cháy nhà tại địa bàn huyện Na Hang; thiệt hại ước tính khoảng 2 tỷ đồng. Các đơn vị chức năng đang thực hiện điều tra, xác minh làm rõ nguyên nhân cháy.6.3. Về an toàn giao thôngDịp Tết Nguyên đán Nhâm Dần 2022, toàn tỉnh đã phát hiện, xử lý 188 trường hợp vi phạm an toàn giao thông (9 trường hợp lái xe ô tô còn lại 179 trường hợp lái xe mô tô). Trong đó, có 53 lỗi vi phạm nồng độ cồn, 47 trường hợp không có giấy phép lái xe, 43 trường hợp không đội mũ bảo hiểm, những trường hợp còn lại vi phạm các lỗi khác.Trong tháng, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 05 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 02 người và làm bị thương 03 người; với tổng giá trị thiệt hại là 30 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước: Số vụ tai nạn giao thông giảm 07 vụ; số người bị thương giảm 08 người; thiệt hại về tài sản giảm 07 triệu đồng.Tính chung 02 tháng đầu năm, toàn tỉnh đã xảy ra 13 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 05 người và làm bị thương 10 người; với tổng giá trị thiệt hại là 71 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước: Số vụ tai nạn giao thông giảm 14 vụ; số người bị thương giảm 18 người; thiệt hại về tài sản giảm 18 triệu đồng.7. Thiệt hại do thiên taiTheo Báo cáo nhanh của Ban Chỉ huy Phòng chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn tỉnh. Trong những ngày qua, thời tiết rét đậm, rét hại kéo dài nhiều ngày kèm theo mưa phùn, mưa rào và dông đã làm 08 con trâu tại huyện Na Hang bị chết, trong đó (xã Hồng Thái 4 con, Sinh Long 2 con, xã Sơn Phú và Thượng Nông mỗi xã 1 con). Ước tính tổng giá trị thiệt hại khoảng: 320 triệu đồng.Ngoài ra, còn ghi nhận trên 97,8 ha lúa của huyện Sơn Dương bị ảnh hưởng do lũ tràn qua và chết do rét. Ban Chỉ huy phòng chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn tỉnh đề nghị các huyện, thành phố đã triển khai ngay các biện pháp để ứng phó, trập trung các biện pháp chống rét bảo vệ an toàn đàn vật nuôi, đặc biệt là bê, nghé; chuẩn bị giống, vật tư để gieo cấy lại diện tích lúa bị thiệt hại đảm bảo khung thời vụ.CỤC THỐNG KÊ TUYÊN QUANG