207.3 823 523 | ctk_tuyenquang@gso.gov.vn
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 9 và 9 tháng đầu năm 2023 tỉnh Tuyên Quang
  •   10/11/2025 22:11

Năm 2023, là năm giữa nhiệm kỳ, năm bản lề triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII, nhiệm kỳ 2020- 2025; Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021 - 2025. Ngay từ đầu năm, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo sát sao của Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân tỉnh, sự điều hành tập trung, linh hoạt, sáng tạo của Ủy ban nhân dân tỉnh, sự nỗ lực, quyết tâm cao của các cấp, các ngành, địa phương, sự chung sức, đồng lòng của người dân và cộng đồng doanh nghiệp; tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh đã đạt được nhiều kết quả tích cực; hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp đã ổn định và khởi sắc ở hầu hết các ngành, lĩnh vực nhất là ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, dịch vụ lưu trú, ăn uống, vận tải và du lịch; tỉnh cũng tập trung đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính, môi trường đầu tư kinh doanh được cải thiện, công tác chuyển đổi số được chú trọng; hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông, đô thị động lực, công nghệ thông tin được phát triển đồng bộ. Công tác triển khai các chính sách giảm nghèo, bảo trợ xã hội tiếp tục được thực hiện hiệu quả. Các lĩnh vực giáo dục, văn hóa, thể thao, du lịch được quan tâm, đẩy mạnh; an sinh xã hội được bảo đảm, đời sống nhân dân ổn định; quốc phòng, an ninh được giữ vững.Bên cạnh những thời cơ, thuận lợi, kinh tế của tỉnh vẫn còn những tồn tại, hạn chế như: Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tuy tăng so với cùng kỳ nhưng còn đạt thấp so với kế hoạch; kim ngạch xuất, nhập khẩu các mặt hàng chủ lực của tỉnh giảm so với cùng kỳ; việc tiếp cận vốn của các doanh nghiệp còn khó khăn; chi phí nguyên, nhiên vật liệu đầu vào phục vụ sản xuất liên tục tăng, ảnh hưởng lớn đến việc đầu tư và hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp; tiến độ thi công các công trình trọng điểm còn chậm, tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư còn thấp,... nhu cầu đầu tư các chương trình phục hồi, phát triển kinh tế trong tỉnh lớn nhưng nguồn lực còn hạn hẹp. Kết quả đạt được cụ thể ở các ngành, lĩnh vực như sau:I. PHÁT TRIỂN KINH TẾ  1. Tình hình tài chính, ngân hàng 9 tháng năm 20231.1. Thu, chi ngân sách nhà nước1.1.1. Thu ngân sách nhà nước: Tổng thu ngân sách nhà nước ước thực hiện là 1.855 tỷ đồng, đạt 57,97% dự toán năm, tăng 0,27% so với cùng kỳ. Trong đó thu nội địa ước thực hiện là 1.759 tỷ đồng, đạt 55,66% so với dự toán giao, giảm 2,79%. Một số khoản thu đạt khá là: - Thu từ khu vực Doanh nghiệp nhà nước địa phương ước thực hiện là 336 tỷ đồng, đạt 51,4%, tăng 3,86%; thu từ khu vực Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là 44,7 tỷ đồng, đạt 111,71%, tăng 161,48%.- Thu từ thuế Thu nhập cá nhân ước thực hiện 99 tỷ đồng, đạt 76,13%, tăng 4,05%; thu từ hoạt động xổ số kiến thiết ước thực hiện 17 tỷ đồng, đạt 84,57%, tăng 23,13%; thu khác của ngân sách ước thực hiện 72 tỷ đồng, đạt 72,46%, tăng 26,63%.Một số khoản thu thấp: - Thu từ khu vực Doanh nghiệp nhà nước trung ương 195 tỷ đồng, đạt 55,74%, giảm 15,58%; thu từ khu vực kinh tế ngoài quốc doanh 443 tỷ đồng, đạt 54%, giảm 2,03%; thu từ thuế bảo vệ môi trường 153 tỷ đồng, đạt 38,21%, giảm 30,93%.- Một số nguyên nhân cơ bản làm ảnh hưởng đến tiến độ dự toán:+ Do ảnh hưởng của các chính sách giảm thuế để hỗ trợ doanh nghiệp, người dân chịu tác động của đại dịch Covid-19 dẫn đến một số khoản thu thấp hơn so với cùng kỳ.+ Sản lượng của Công ty Thủy điện Tuyên Quang - Chi nhánh Tập đoàn Điện lực Việt Nam kê khai nộp thuế trong 9 tháng đầu năm 2023 ước giảm 391,7 triệu Kwh so với cùng kỳ. - Một số dự án tại tại Khu công nghiệp Long Bình An bị chậm tiến độ đã dự toán ghi thu, ghi chi tiền đền bù giải phóng mặt bằng nhà đầu tư ứng trước được trừ vào tiền thuê đất phải nộp, ảnh hưởng đến số tiền thuê đất ghi thu, ghi chi thực hiện trong 9 tháng năm 2023.- Một số địa bàn huyện, thành phố chậm triển khai công tác đấu giá quyền sử dụng đất, dẫn đến kết quả thu tiền sử dụng đất tại một số địa bàn còn thấp so với dự toán được giao.1.1.2. Chi ngân sách nhà nước: Tổng chi ngân sách nhà nước là 7.778 tỷ đồng, đạt 58,21% dự toán, giảm 0,69% so với cùng kỳ. Trong đó: Chi đầu tư phát triển là 1.447 tỷ đồng, đạt 97,86%, giảm 10,39%; chi thường xuyên là 4.083 tỷ đồng, đạt 58,92%, tăng 6,56%,...Trong 9 tháng năm 2023, tỉnh đã tập trung điều hành dự toán ngân sách nhà nước chủ động, chặt chẽ, bảo đảm kỷ luật tài chính, ngân sách, an sinh xã hội, bảo đảm đúng dự toán được duyệt, các nhiệm vụ chi ngân sách địa phương được thực hiện theo dự toán, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng, an sinh xã hội trên địa bàn; chủ động rà soát sắp xếp các nhiệm vụ chi chưa thực sự cấp thiết, tiết kiệm, cắt giảm những khoản chi thường xuyên, xây dựng kế hoạch, lộ trình thực hiện các nhiệm vụ chi đã giao trong dự toán đảm bảo tiến độ, không để tình trạng thực hiện chậm, dồn vào cuối năm.1.2. Hoạt động tín dụng ngân hàngTừ đầu năm đến nay, các ngân hàng thương mại trên địa bàn tỉnh đã triển khai các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp và người dân trong hoạt động sản xuất và kinh doanh, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp các gói vay với lãi suất ưu đãi để phục vụ sản xuất, đáp ứng nhu cầu vay vốn phục vụ sản xuất và tiêu dùng trong những tháng cuối năm, góp phần hỗ trợ doanh nghiệp và nền kinh tế phục hồi khả quan trong các tháng qua. Trong bối cảnh tình hình giải ngân vốn đầu tư công gặp nhiều khó khăn thì mức tăng trưởng tín dụng thời gian qua đã góp phần đáp ứng yêu cầu tăng trưởng kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội.- Về hoạt động huy động vốn: Nguồn vốn huy động tại địa phương ước thực hiện đến 30/9/2023 là 29.500 tỷ đồng; so với 31/12/2022 tăng 2.183 tỷ đồng (+8%).- Về hoạt động tín dụng: Dư nợ ước thực hiện đến 30/9/2023 là 27.850 tỷ đồng; so với 31/12/2022 tăng 1.573 tỷ đồng (+6%), cụ thể như sau:+ Dư nợ của các Ngân hàng thương mại là 23.890 tỷ đồng; so với 31/12/2022 tăng 1.326 tỷ đồng (+5,9%).+ Dư nợ của Ngân hàng Chính sách xã hội là 3.960 tỷ đồng; so với 31/12/2022 tăng 247 tỷ đồng (+6,7%).- Chất lượng tín dụng: Nợ xấu của các Ngân hàng đến 30/9/2023 khoảng 192 tỷ đồng, chiếm 0,69% trên tổng dư nợ; so với 31/12/2022 giảm 0,09 điểm phần trăm (+136%).2. Giá cả- Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 9 năm 2023 tăng 0,75% so với tháng trước, tăng 4,25% so với cùng kỳ năm trước. Trong số 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính thì có 08 nhóm tăng giá so với tháng trước, 01 nhóm giảm giá, 02 nhóm giữ giá ổn định (giáo dục, bưu chính viễn thông). Trong 8 nhóm hàng tăng giá, so với tháng trước, bao gồm những nhóm hàng sau: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,27% do thời gian nghỉ lễ Quốc Khánh 2/9 kéo dài 4 ngày và tỉnh đã tổ chức Khai mạc Du lịch “Qua những miền di sản Việt Bắc” lần thứ XIV và Lễ hội Thành Tuyên năm 2023 đã thu hút đông đảo người dân và du khách trong nước, quốc tế về tham gia lễ hội nên nhu cầu về tiêu thụ lương thực, thực phẩm và ăn uống ngoài gia đình tăng theo; đồ uống và thuốc lá tăng 0,21%, do nhu cầu tiêu thụ các loại rượu, bia và nước uống tăng lực của người dân tăng; nhóm may mặc, mũ nón và giày dép tăng 0,18% do bước vào đầu năm học mới nên nhu cầu nhu cầu mua sắm quần áo may sẵn tăng; nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,73% do thời tiết nắng nóng do nhu cầu tiêu dùng điện, nước sinh hoạt trong tháng tăng; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,36% do bước vào thời điểm giao mùa xuất hiện các bệnh liên quan đến đường hô hấp, nhiễm khuẩn, cúm,… có chiều hướng gia tăng khiến nhu cầu sử dụng thuốc và dịch vụ y tế tăng; giao thông tăng 1,48% là do giá xăng, dầu điều chỉnh tăng tại các kỳ điều hành giá của Tập đoàn xăng dầu Việt Nam về mức giá bán lẻ xăng, dầu (xăng tăng 3,55%, dầu diesel tăng 5,97%); văn hóa giải trí và du lịch tăng 0,48%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,24%,…Có 01 nhóm hàng giảm giá là thiết bị và đồ dùng gia đình giảm 0,14%, do bước sang mùa thu thời tiết mát mẻ, dễ chịu nên nhu cầu mua sắm các thiết bị làm mát của của người dân giảm. - CPI bình quân quý III tăng 1,98% so với cùng quý năm trước. Một số nguyên nhân cơ bản tác động làm CPI trong quý tăng là những nhóm hàng chủ yếu sau: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng có mức tăng cao nhất với mức tăng 3,95%; nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 3,08%; giao thông tăng 1,59%,…- CPI bình quân 9 tháng năm 2023 tăng 4,45% so với cùng kỳ năm 2022. Một số nguyên nhân cơ bản đã tác động tăng CPI là những nguyên nhân chủ yếu sau: Nhóm giáo dục có mức tăng cao nhất với mức tăng 40,63% do thực hiện tăng học phí năm học mới 2022-2023 đối với cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông công lập; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 5,96%; đồ uống và thuốc lá tăng 4,62%; nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 2,86%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 2,8%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 7,44%,…- Chỉ số giá vàng tăng 0,86% so với tháng trước, tăng 10,94% so với cùng kỳ năm trước và tăng 6,09% so với tháng 12 năm trước. Bình quân quý III tăng 0,29% so với quý cùng kỳ. Tính chung 9 tháng chỉ số giá vàng tăng 0,91% so với cùng kỳ năm trước. - Chỉ số giá đô la Mỹ tăng 1,62% so với tháng trước, tăng 2,62% so với cùng kỳ năm trước và tăng 1,75% so với tháng 12 năm trước. Bình quân quý III tăng 1,64% so với quý cùng kỳ. Tính chung 9 tháng chỉ số giá đô la Mỹ tăng 2,51% so với cùng kỳ năm trước. 3. Vốn đầu tư và xây dựng 3.1. Tình hình thực hiện vốn đầu tư Với mục tiêu “Lấy đầu tư công dẫn dắt đầu tư tư”; tỉnh đã tập trung ưu tiên bố trí, sử dụng vốn ngân sách nhà nước như là vốn mồi để kích thích, khai thác tối đa nguồn vốn của các thành phần kinh tế khác cho hoàn thiện kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, nhất là hạ tầng giao thông, đô thị, du lịch, dịch vụ,…đây được coi là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt, trong bối cảnh nguồn ngân sách nhà nước còn hạn hẹp. Bên cạnh đó, tỉnh đã chú trọng đầu tư cho các dự án trọng điểm, quan trọng có tính kết nối liên vùng, có tác động lan toả lớn, từng công trình, dự án được hoàn thành và đưa vào sử dụng không chỉ nâng cao đời sống của nhân dân, mà còn là động lực chính để thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. 3.1.1. Vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn phân theo mục đích đầu tư theo giá hiện hànhƯớc thực hiện quý III đạt 4.109 tỷ đồng, tăng 17,59% so với quý cùng kỳ năm trước; tính chung trong 9 tháng năm 2023 ước đạt 10.679 tỷ đồng, tăng 18,52% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Nguồn vốn từ khu vực nhà nước chiếm 29,19% tổng nguồn vốn đầu tư phát triển toàn xã hội, tiếp tục giữ vai trò đầu tầu dẫn dắt tăng trưởng nguồn vốn đầu tư xã hội và là động lực chính cho phục hồi và phát triển kinh tế, do tỉnh đã triển khai nhiều biện pháp thúc đẩy tốc độ giải ngân vốn đầu tư công, tập trung vào cơ sở hạ tầng, đẩy nhanh tiến độ xây dựng các công trình trọng điểm, thu hút nguồn vốn đầu tư của các khu vực kinh tế khác và toàn xã hội; nguồn vốn đầu tư ngoài nhà nước chiếm tỷ trọng lớn nhất chiếm 70,2% tổng nguồn vốn, trong đó vốn của khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước chiếm 36,9%, chứng tỏ khu vực tư nhân sẽ là động lực tăng trưởng chính của tỉnh và đầu tư công có thể là chất xúc tác cho sự tăng trưởng của khu vực này; nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chiếm tỷ trọng tương đối nhỏ, chiếm 0,61% tổng nguồn vốn,…3.1.2. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước- Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước thực hiện tháng 9 đạt 476 tỷ đồng, tăng 10,7% so với tháng trước; tăng 15,43% so với tháng cùng kỳ năm trước, trong đó: Vốn ngân sách cấp tỉnh đạt 408 tỷ đồng, tăng 8,77%, tăng 15,37%; vốn ngân sách cấp huyện đạt 64 tỷ đồng, tăng 24,61%, tăng 15,42%; vốn ngân sách cấp xã đạt 3 tỷ đồng, tăng 12,55%, tăng 22,98%.- Ước thực hiện quý III đạt 1.262 tỷ đồng, tăng 19,03% so với quý cùng kỳ, trong đó: Vốn ngân sách cấp tỉnh đạt 1.100 tỷ đồng, tăng 19,58%; vốn ngân sách cấp huyện đạt 154 tỷ đồng, tăng 15,91%; vốn ngân sách cấp xã đạt 8 tỷ đồng, tăng 7,06%.- Ước thực hiện 9 tháng đạt 2.754 tỷ đồng, đạt 52,14% kế hoạch, tăng 29,81% so với cùng kỳ, trong đó: Vốn ngân sách cấp tỉnh đạt 2.417 tỷ đồng, tăng 29,96%; vốn ngân sách cấp huyện đạt 314 tỷ đồng, tăng 30,6%; vốn ngân sách cấp xã đạt 22 tỷ đồng, tăng 7,46%.3.2. Xây dựng Xác định giải ngân vốn đầu tư công là một trong những nhiệm vụ trọng tâm là động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, thu hút đầu tư vào địa bàn; do vậy, tỉnh đã tập trung cao độ, giải quyết dứt điểm những vướng mắc trong công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, xây dựng khu tái định cư để bàn giao mặt bằng thi công cho các nhà thầu thi công, kiểm tra, đôn đốc các nhà thầu tập trung nhân lực, vật tư, máy thi công, tăng ca để đẩy nhanh tiến độ thi công; kịp thời nghiệm thu, thanh toán khối lượng hoàn thành; tăng cường kiểm tra, giám sát chặt chẽ chất lượng xây dựng công trình điều chuyển vốn từ công trình, dự án không có khả năng giải ngân, giải ngân chậm sang công trình, dự án giải ngân nhanh còn thiếu vốn thanh toán theo đúng quy định; kịp thời giải quyết các khó khăn, vướng mắc về thủ tục đầu tư,…. phấn đấu đến trước ngày 31/12/2023 giải ngân được 98% kế hoạch vốn đầu tư công năm 2023; đối với vốn năm 2022 kéo dài sang năm 2023 giải ngân 100% trước ngày 31/12/2023.Năm 2023, Tuyên Quang được giao tổng kế hoạch vốn đầu tư công là 6.954,57 tỷ đồng, trong đó vốn năm 2022 kéo dài sang năm 2023 là 1.302,89 tỷ đồng; vốn được phân bổ, giao theo kế hoạch năm 2023 là 5.651,68 tỷ đồng. Tính đến ngày 19/9/2023, tổng số vốn vốn đầu tư công đã giải ngân được là trên 2.062,16 tỷ đồng, đạt 29,65% kế hoạch, trong đó: Nguồn vốn kế hoạch năm 2023 giải ngân được 1.613,86 tỷ đồng, đạt 28,56%; nguồn vốn năm 2022 kéo dài thời gian thực hiện và giải ngân sang năm 2023 giải ngân được 448,3 tỷ đồng, đạt 34,4%.4. Hoạt động của doanh nghiệp4.1. Về tình hình hoạt động của doanh nghiệp- Tính đến ngày 20/9, toàn tỉnh có 13 doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký là 136 tỷ đồng, giảm 18,75% về số lượng; tuy nhiên, số vốn đăng ký tăng 110,35% so với cùng kỳ; vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp đạt 10,48 tỷ đồng, tăng gấp 2,59 lần so với cùng kỳ.- Tính chung trong quý III, toàn tỉnh có 65 doanh nghiệp thành lập mới với tổng số vốn đăng ký là 2.060 tỷ đồng, tăng 4,83% về số doanh nghiệp, tăng 217,87% về số vốn đăng ký so với quý cùng kỳ năm trước. Tính chung trong 9 tháng năm 2023, có 192 doanh nghiệp thành lập mới với tổng số vốn đăng ký là 2.989 tỷ đồng, giảm 9% về số doanh nghiệp, số vốn đăng ký tăng 46,8% so với cùng kỳ, số vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới đạt 15,57 tỷ đồng, tăng gấp 1,61 lần.- Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp bắt đầu có sự phục hồi, những tín hiệu tích cực trong tình hình sản xuất, kinh doanh cho thấy các doanh nghiệp đã quay trở lại hoạt động bình thường, đã tác động tích cực đến việc phục hồi kinh tế ở tỉnh. Tính chung trong 9 tháng, số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động là 82 doanh nghiệp. Nâng tổng số doanh nghiệp đang hoạt động trên địa bàn tỉnh là 2.567 doanh nghiệp (bao gồm 11 doanh nghiệp nhà nước và 16 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài) với tổng số vốn đăng ký trên 30.381 tỷ đồng; số vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp đạt 11,84 tỷ đồng. - Số doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động là 155 doanh nghiệp, tăng 11,51% (tăng 16 doanh nghiệp so với cùng kỳ). Số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể là 18 doanh nghiệp (giảm 02 doanh nghiệp, giảm 10% so với cùng kỳ). Nhìn chung, phần lớn những doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động và giải thể là những doanh nghiệp nhỏ và vừa có sức chống chọi với khó khăn thấp hơn so với những doanh nghiệp có quy mô lớn và một nguyên nhân chủ yếu nữa là do làm ăn thua lỗ kéo dài, doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn trong quá trình hoạt động vì không huy động được vốn, tài chính để tiếp tục hoạt động, trong khi đó năng lực quản lý, điều hành thiếu kinh nghiệm làm cho tình hình kinh doanh của doanh nghiệp ngày càng đi xuống và không thể phát triển, thiếu vốn sản xuất kinh doanh, không tìm kiếm được thị trường, nên nhiều doanh nghiệp phải thu hẹp lại, không thể tiếp tục hoạt động dẫn đến phải giải thể doanh nghiệp. 4.2. Điều tra xu hướng kinh doanh ngành công nghiệp chế biến chế tạo trong quý IIIKết quả điều tra về xu hướng kinh doanh của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong quý III năm 2023 cho thấy: Có 35,48% số doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh quý III năm nay khả quan hơn quý trước; 48,39% doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh ổn định và có 16,13% số doanh nghiệp đánh giá gặp khó khăn trong sản xuất kinh doanh. Chỉ số cân bằng của quý III năm 2023 so với quý II là 19,35%. Dự kiến xu hướng kinh doanh quý tiếp theo so với quý hiện tại năm 2023 cho thấy: Có 48,39% số doanh nghiệp đánh giá xu hướng sẽ tốt lên (trong đó có ngành: Sản xuất trang phục; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa; sản xuất sản phẩm từ caosu và plastic; sản xuất vật liệu xây dựng từ đất sét; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn); 38,71% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh sẽ ổn định (trong đó có ngành: Sản xuất da và các sản phẩm có liên quan; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất; sản xuất kim loại; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế); có 12,9% số doanh nghiệp dự báo tiếp tục khó khăn hơn. Dự tính chỉ số cân bằng của quý tiếp theo so với quý hiện tại là 35,48%. 5. Sản xuất Nông, lâm nghiệp và thủy sản 9 tháng đầu năm và ước tính cả năm 2023Chín tháng đầu năm 2023, sản xuất nông nghiệp còn gặp một số khó khăn do thời tiết khô hạn kéo dài, cây trồng bị thiếu nước trong thời kỳ sinh trưởng, diện tích gieo trồng một số cây trồng chính giảm; sản xuất chăn nuôi cầm chừng do giá bán các sản phẩm chăn nuôi không ổn định (đặc biệt giá lợn và giá trứng gia cầm ở mức thấp kéo dài trong nhiều tháng) trong khi chi phí đầu vào tăng do giá thức ăn chăn nuôi giữ ở mức cao. Tuy nhiên, với nỗ lực của các cấp, các ngành và bà con nông dân, sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản của tỉnh nhìn chung đạt kết quả khá, năng suất, sản lượng các loại cây trồng chính ổn định và phát triển, góp phần đảm bảo an sinh xã hội và đời sống của nhân dân trên địa bàn tỉnh.5.1. Trồng trọt5.1.1. Cây hàng năm (ước tính cả năm 2023)Diện tích gieo trồng các loại cây hàng năm cả năm 2023 ước tính toàn tỉnh gieo trồng được 89.620 ha, giảm 0,56% (giảm 507,04 ha) so với cả năm 2022 (Diện tích giảm chủ yếu ở vụ mùa).- Cây lúa: Diện tích gieo trồng 42.929 ha, giảm 2,08% (giảm 909,86 ha) so với cả năm 2022, trong đó (lúa lai 18.128 ha, tăng 0,45%, tăng 83 ha; lúa thuần 24.801 ha, giảm 3,85%, giảm 993 ha); năng suất ước đạt 59,56 tạ/ha, tăng 0,31% (tăng 0,18 tạ/ha), trong đó (lúa lai đạt 63,28 tạ/ha, giảm 0,33%; lúa thuần đạt 56,84 tạ/ha, tăng 0,09%, tăng 0,05 tạ/ha); sản lượng ước đạt 255.682 tấn, giảm 1,77% (giảm 4.619,85 tấn), trong đó (lúa lai đạt 114.712,28 tấn, tăng 0,78%, tăng 892,08 tấn; lúa thuần đạt 140.969,42 tấn, giảm 3,76% (giảm 5.511,93 tấn). Diện tích gieo trồng giảm, kéo theo sản lượng cả năm có giảm so với cùng kỳ.- Cây ngô đã trồng 18.732 ha, tăng 1,21% (tăng 224,75 ha) so với cả năm 2022; năng suất đạt 46,27 tạ/ha, giảm 0,12% (giảm 0,06 tạ/ha); sản lượng đạt 86.668 tấn, tăng 1,09% (tăng 935,17 tấn). Diện tích ngô cả năm, tăng so với cùng kỳ, tăng chủ yếu ở vụ mùa, do người dân mở rộng diện tích gieo trồng, thay diện tích các loại cây trồng có hiệu quả kinh tế thấp.- Cây khoai lang đã trồng 1.975 ha, giảm 4,02% (giảm 82,60 ha); năng suất đạt 62,68 tạ/ha, tăng 0,28% (tăng 0,18 tạ/ha); đạt 12.376 tấn, giảm 3,75% (giảm 481,58 tấn). Cây sắn 1.610 ha, giảm 2,93% (giảm 48,55 ha); năng suất đạt 138,21 tạ/ha, tăng 0,5% (tăng 0,68 tạ/ha); sản lượng đạt 22.248 tấn, giảm 2,44% (giảm 557,49 tấn).- Cây mía đã trồng 1.998 ha, giảm 7,04% (giảm 151,38 ha) so với cả năm 2022; năng suất đạt 577,76 tạ/ha, giảm 1,07 % (giảm 6,24 tạ/ha); sản lượng đạt 115.421 tấn, giảm 8,04% (giảm 10.086,28 tấn).- Cây đậu tương đã trồng 324 ha, giảm 13,56% (giảm 50,82 ha); năng suất đạt 19,7 tạ/ha, giảm 3,12% (tăng 0,64 tạ/ha); sản lượng đạt 638 tấn, giảm 16,26% (giảm 123,95 tấn). Cây lạc 4.296 ha, giảm 3,68% (giảm 164,29 ha); năng suất đạt 29,43 tạ/ha, tăng 1,04%; sản lượng đạt 12.643 tấn, giảm 2,68% (giảm 347,74 tấn).5.1.2. Cây lâu năm (ước tính 9 tháng năm 2023)Ước 9 tháng năm 2023, tổng diện tích cây trồng lâu năm trên địa bàn tỉnh có xu hướng giảm nhẹ so với cùng kỳ năm trước. Toàn tỉnh hiện có 28.574 ha, giảm 0,98% (giảm 283,44 ha). Trong đó: Nhóm cây ăn quả 19.748 ha, giảm 1,42% (giảm 285,19 ha), nguyên nhân giảm là do một số diện tích cây ăn quả lâu năm đã già cỗi, năng suất thấp và sản lượng thu hoạch kém nên người dân đã chuyển đổi luân canh sang trồng các loại cây khác có giá trị kinh tế cao; cây ăn quả chứa dầu có 74 ha giảm 5,58%; cây chè 8.289 ha, giảm nhẹ 0,89% (giảm 74,17 ha),... cụ thể một số cây trồng chính như sau:- Cây ăn quả có múi diện tích hiện có 14.622 ha, giảm 2,21% (330,89 ha), diện tích giảm chủ yếu ở cây cam; cây quýt 154 ha, tăng 3,73%; cây chanh 1.319 ha, tăng 12,69%; cây bưởi 5.358 ha, tăng 1,59%; sản lượng các loại quả có múi thuộc họ cam, quýt ước đạt 9.824 tấn, tăng 3,71%.- Diện tích cây nhãn, vải diện tích hiện có 1.216 ha, giảm 0,47% (giảm 5,69 ha), so với cùng kỳ năm 2022, trong đó: Cây nhãn là 899 ha, giảm 1,74%; cây vải là 317 ha, tăng 3,34%, diện tích giảm chủ yếu là do một số diện tích cây đã già cho năng suất thấp cùng với chất lượng quả không cao dẫn đến người dân chặt bỏ, thay vào trồng cây các loại cây khác; sản lượng nhãn ước đạt 5.235 tấn, tăng 6,8%; cây vải 1.808 tấn, tăng 3,6%.- Cây chè: Hiện có 8.289 ha, giảm 0,89% (giảm 74,17 ha) so với cùng kỳ năm 2022. Diện tích giảm chủ yếu là do giá bán chè búp tươi giảm thấp và bấp bênh, cùng với đó giá phân bón tăng cao, đặc biệt là địa phương đang thiếu nguồn nhân lực lao động cho thu hái chè nên người trồng chè đã chuyển đổi cây trồng khác. Sản lượng ước đạt 61.004 tấn, tăng 0,02% so với cùng kỳ năm 2022.5.1.3. Tình hình sinh vật gây hại Trong 9 tháng năm 2023, thời tiết, khí hậu ngày nắng, xen kẽ các đợt mưa dông khá thuận lợi để sâu bệnh phát triển gây hại. Lúa bị rầy nâu, rầy lưng trắng gây hại, sâu đục thân, sâu cuốn lá nhỏ, bọ xít dài gây hại, bọ xít đen, chuột,... Trên cây chè bị nhiễm rầy xanh nhẹ, bọ trĩ, bọ xít, nhện đỏ; trên cây cam: Nhện đỏ, nhện trắng gây hại trung bình, nhện rám vàng; cây lâm nghiệp bệnh phấn trắng, bệnh lở cổ rễ, sâu ăn lá,... các ngành chức năng đã hướng dẫn và chỉ đạo bà con nông dân phòng trừ kịp thời, có hiệu quả, không để dịch bệnh hại nặng cây trồng.5.1.4. Sản xuất vụ đông năm 2023Tính đến 15/9/2023 toàn tỉnh đã trồng được 1.175 ha ngô lấy hạt, đạt 25,8% kế hoạch. Trong đó: Huyện Sơn Dương trồng được 283 ha, đạt 25,7%; Yên Sơn 459 ha, đạt 64,2%; Hàm Yên 397 ha, đạt 40,9%; Chiêm Hóa 22 ha, đạt 2,1%.5.2. Về chăn nuôi 5.2.1. Về số lượng đàn gia súc, gia cầmĐàn trâu tổng đàn hiện có 88.899 con, giảm 1,61% (giảm 1.457 con) so với cùng kỳ năm 2022; đàn bò 39.004 con, tăng 1,52% (tăng 584 con); đàn lợn 564.364 con, tăng 1,45% (tăng 8.066 con); đàn gia cầm 7.067,11 nghìn con, tăng 3,48% (tăng 237.42 nghìn con).5.2.2. Về sản phẩm đàn gia súc, gia cầmĐàn trâu sản lượng thịt hơi xuất chuồng ước đạt 5.756 tấn, tăng 7,16% (tăng 391 tấn) so với cùng kỳ năm 2022; đàn bò đạt 1.529 tấn, tăng 3,8% (tăng 56,04 tấn); đàn lợn đạt 48.183 tấn, tăng 4,88% (tăng 2.239 tấn); đàn gia cầm đạt 14.318 tấn, tăng 6,11% (tăng 824,36 tấn).Đánh giá chung, tình hình chăn nuôi trong 9 tháng trên địa bàn tỉnh cơ bản ổn định, đàn vật nuôi phát triển tốt không có biến động lớn về dịch bệnh, đảm bảo nguồn cung cho thị trường, giá thịt lợn hơi có xu hướng tăng nhẹ và giữ ổn định, đây là động lực quan trọng để các cơ sở chăn nuôi đẩy mạnh tái đàn, đáp ứng nhu cầu hiện tại và chuẩn bị cho nguồn cung các dịp lễ, Tết sắp tới. Tuy nhiên, giá nguyên liệu đầu vào (thức ăn chăn nuôi, các chi phí khác…) vẫn còn ở mức cao, người chăn nuôi không có lãi, gây ảnh hưởng không nhỏ đến việc duy trì, phát triển và mở rộng đàn của các cơ sở chăn nuôi trên địa bàn tỉnh.5.3. Về công tác phòng chống dịch bệnh gia súc, gia cầm, kiểm dịch vận chuyển và kiểm soát giết mổ 9 tháng năm 20235.3.1. Công tác phòng chống dịch bệnh gia súc, gia cầm- Trên địa bàn các huyện, thành phố rải rác xuất hiện các bệnh Tụ huyết trùng; ký sinh trùng, chướng bụng đầy hơi, sán lá gan (đàn trâu,bò,tiêu chảy, lép tô, phân trắng lợn con (đàn lợn); Newcastle, THT, cầu trùng…(đối với đàn gia cầm), đã được nhân viên thú y phát hiện, điều trị khỏi là: 4.558/8.596 con, trong đó: Trâu, bò: 583/583 con; đàn lợn: 3.975/4.113 con. Số con chết: 4.038 con, trong đó: 138 con lợn, 3.900 con gà.- Các huyện, thành phố tiếp tục triển khai công tác tiêm phòng bổ sung cho đàn gia súc, gia cầm, kết quả tiêm phòng 9 tháng như sau: Đàn trâu LMLM: 51.367 con, THT: 54.116 con; đàn bò LMLM: 25.674 con, THT: 26.054 con; đàn lợn LMLM: 24.543 con; THT: 329.660 con, Dịch tả: 324.392 con; đàn gia cầm THT: 3.009.436 con, Niucatson: 3.231.671 con; đàn chó tiêm phòng dại: 51.802 con;- Bệnh Dịch tả lợn Châu Phi (DTLCP): Từ đầu năm đến nay, dịch bệnh xuất hiện rải rác xảy ra tại 05 xã với 19 thôn và 94 hộ trên địa bàn tỉnh; số lợn tiêu hủy 299 con, trọng lượng 9.222 kg, trong đó: 01 xã chưa 21 ngày, 04 xã đã qua 21 ngày chưa công bố hết dịch; tổng số mẫu đã lấy 08 mẫu (01 mẫu âm tính; 07 mẫu dương tính). 5.3.2. Công tác kiểm dịch vận chuyển và công tác kiểm soát giết mổ - Kiểm dịch vận chuyển ngoại tỉnh: Đã kiểm tra, cấp trên 2.405 giấy chứng nhận kiểm dịch vận chuyển 432.702 con gia súc, gia cầm; 25.069 tấn sữa tươi nguyên liệu và 40,5 tấn sản phẩm động vật chế biến làm thực phẩm và thức ăn chăn nuôi đi các tỉnh Bắc Ninh, Hà Nội, Hà Nam, Hà Giang, Nam Định,...- Các Trạm Kiểm dịch động vật: Duy trì thực hiện kiểm tra trên 1.351 phương tiện vận chuyển đủ thủ tục, trong đó: 536 chuyến vận chuyển 82.708 con gia súc, 801 chuyến vận chuyển 829.528 con gia cầm và 14 chuyến vận chuyển 84.817 kg sản phẩm động vật.- Công tác kiểm soát giết mổ và kiểm tra vệ sinh thú y được kiểm soát tốt, đã kiểm tra và thu phí 1.580 con trâu, bò và 45.357 con lợn.5.4. Về sản xuất lâm nghiệp (ước tính có đến ngày 15/9/2023)5.3.1. Kết quả trồng rừng Tính chung 9 tháng, toàn tỉnh đã trồng được 11.559 ha rừng, đạt 113,93% kế hoạch, trong đó: Trồng rừng tập trung 11.052 ha, giảm 1,02% (giảm 114,26 ha) so với cùng kỳ, trồng cây phân tán trên 744 nghìn cây (quy ha là 507,14 ha).5.3.2. Kết quả khai thác rừng trồngToàn tỉnh đã khai thác được 8.190 ha gỗ (chủ yếu là rừng trồng), sản lượng trên 951.235 m3, đạt 76,43% kế hoạch, tăng 15,65% (tăng 128.688 m3) so với cùng kỳ, sản lượng củi khai thác đạt 670.988 ster, tăng 4,67% (tăng 29.963 ster), tre, nứa đạt 26.887 tấn, tăng 0,52% (tăng 139 tấn).Với mục tiêu đưa Tuyên Quang trở thành Khu lâm nghiệp ứng dụng công nghệ cao và trung tâm sản xuất và chế biến gỗ trong vùng và của cả nước. Tỉnh đã triển khai thực hiện tốt các nhiệm vụ, giải pháp phát triển lâm nghiệp, đi liền với đẩy mạnh sản xuất, nâng cao thu nhập và đời sống cho người trồng rừng và bảo vệ rừng, hướng tới phát triển lâm nghiệp xanh, tuần hoàn; xây dựng nhiều cơ chế chính sách, thu hút được các nhà đầu tư sản xuất chế biến lâm sản với dây chuyền công nghiệp hiện đại như: Công ty cổ phần giấy An Hòa; nhà máy sản xuất đũa xuất khẩu; Công ty cổ phần chế biến gỗ Woodsland Tuyên Quang đã thu mua nguyên liệu tạo điều kiện cho các chủ rừng thực hiện việc khai thác lâm sản mặt khác việc khai thác gỗ nguyên liệu.Tuy nhiên, kết quả khai thác gỗ vẫn đạt thấp so với kế hoạch đề ra. Nguyên nhân là do: Việc giao chỉ tiêu kế hoạch sản xuất, khai thác rừng ở một số địa phương chưa hợp lý; cùng với khó khăn của đầu ra các doanh nghiệp chế biến gỗ đang phải dừng, giãn kế hoạch sản xuất khiến nhiều diện tích rừng được thiết kế để khai thác trong thời điểm này phải dừng lại), từ đầu năm đến hết tháng 5, thời tiết có diễn biến phức tạp, nắng nóng, khô hạn kéo dài dẫn đến công tác khai thác gỗ tiến độ đạt chưa cao. 5.3.3. Công tác bảo vệ rừng: Công tác quản lý, bảo vệ rừng được các cấp, các ngành quan tâm, đồng thời tuyên truyền, vận động nhân dân tích cực tham gia thực hiện kế hoạch trồng rừng năm 2023. Công tác phòng cháy, chữa cháy rừng được quan tâm, ngành chức năng và các địa phương cùng các chủ rừng đã tập trung tăng cường lực lượng bám, nắm địa bàn, thường xuyên tuần tra, kiểm tra tại các khu vực có nguy cơ cháy cao, các khu vực đông người qua lại; sẵn sàng phương châm "bốn tại chỗ" khi có cháy rừng xảy ra, nhằm hạn chế tối đa thiệt hại về người và tài sản.Trong 9 tháng năm 2023 trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 8 vụ cháy rừng, diện tích rừng bị cháy 10,79 ha; số vụ phá rừng 36 vụ, với diện tích 14,82 ha.5.4. Về thuỷ sản Sản xuất thủy sản trong 9 tháng phát triển khá. Công tác phòng chống dịch bệnh trong nuôi trồng thủy sản được thực hiện hiệu quả nên không có dịch bệnh xảy ra, các loại thủy sản nuôi trồng đều phát triển tốt; các ao, hồ thả cá lưu tiếp tục được đánh tỉa, thả bù và chăm sóc.- Diện tích nuôi trồng thủy sản ước tính là 3.364 ha, tăng 0,23% so với cùng kỳ năm 2022. Diện tích nuôi trồng tăng do ở một số địa phương các hộ nuôi trồng thủy sản đã mở rộng diện tích nuôi trồng như: huyện Yên Sơn, Sơn Dương và thành phố Tuyên Quang.- Sản lượng thủy sản ước đạt 9.420 tấn, tăng 8,18% so với cùng kỳ năm 2022, trong đó: Cá đạt 9.271 tấn, tăng 8,26%; tôm đạt 138 tấn, tăng 2,65%; thủy sản khác đạt 11 tấn, tăng 12,35%.Sản lượng nuôi trồng toàn tỉnh tăng do diện tích ao hồ tăng và số lồng cá trên toàn tỉnh tăng đồng thời người dân nuôi cá ngày càng chú trọng đầu tư vào thức ăn, và lựa chọn những loại giống tốt nuôi nên cho năng suất và hiệu quả kinh tế cao.5.5. Phát động Tết trồng cây “Đời đời nhớ ơn Bác Hồ” Xuân Quý Mão 2023Tỉnh đã tổ chức Lễ phát động Tết trồng cây “Đời đời nhớ ơn Bác Hồ” Xuân Quý Mão 2023; với số lượng khoảng 3.000 cây trong đó 2.930 cây Keo (Lai mô hoặc Tai tượng hạt ngoại); 70 cây bản địa (cây Chò chỉ, Đinh, Lim... cao trên 1 m có đánh số thứ tự) đảm bảo tiêu chuẩn theo hướng dẫn của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.5.6. Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới Năm 2023, toàn tỉnh có 12 xã đăng ký về đích nông thôn mới; đến nay, các địa phương đều đang phấn đấu hoàn thành các tiêu chí, đảm bảo về đích đúng kế hoạch. Tính đến hết năm 2022 toàn tỉnh có 62/122 xã đạt chuẩn xã nông thôn mới (chiếm 50,82%); 08 xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao; 01 xã đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu; tiêu chí bình quân trên xã sau khi rà soát theo Bộ tiêu chí quốc gia giai đoạn 2021-2025 là 15,12 tiêu chí/xã (trước rà soát là 15,87 tiêu chí/xã); thành phố Tuyên Quang đã hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới theo Quyết định số 320/QĐ-TTg ngày 08/3/2022 của Thủ tướng Chính phủ.Chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP) đã góp phần chuyển đổi từ sản xuất nông nghiệp nhỏ lẻ sang sản xuất theo hướng liên kết chuỗi giá trị, theo tiêu chuẩn, quy chuẩn, có truy suất nguồn gốc và theo nhu cầu thị trường; khơi dậy tiềm năng đất đai, sản vật, lợi thế so sánh, các giá trị văn hóa vùng miền, gắn kết giữa phát triển nông nghiệp với dịch vụ, du lịch. Đến nay Tuyên Quang có 191 sản phẩm OCOP đạt từ 3 sao trở lên, cụ thể: Nhóm thực phẩm 171 sản phẩm; nhóm đồ uống 13 sản phẩm; nhóm dược liệu và sản phẩm từ dược liệu 03 sản phẩm; nhóm hàng thủ công mỹ nghệ 01 sản phẩm; nhóm dịch vụ du lịch cộng đồng, du lịch sinh thái và điểm du lịch 03 sản phẩm, trên địa bàn 94 xã, phường, thị trấn của 134 chủ thể.6. Sản xuất công nghiệpSản xuất công nghiệp trong 9 tháng năm 2023 tiếp tục duy trì được đà phục hồi và duy trì đà tăng trưởng, với kết quả tháng sau tốt hơn tháng trước, quý sau tăng trưởng hơn quý trước; các doanh nghiệp đã vượt qua những khó khăn, thách thức tập trung sản xuất, kinh doanh, các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu như thép, da giày, gỗ tinh chế và các doanh nghiệp về thương mại, dịch vụ đã có sự tăng trưởng khá, góp phần giữ được mức tăng trưởng cho toàn ngành công nghiệp. Hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trong các khu, cụm công nghiệp khá ổn định, công tác chuẩn bị đầu tư tiếp tục được đẩy mạnh, tiến độ đầu tư xây dựng hạ tầng các khu công nghiệp được quan tâm triển khai thực hiện, nhiều dự án thứ cấp hoàn thành thủ tục đầu tư, đẩy nhanh tiến độ thi công xây dựng và đi vào hoạt động. Tuy nhiên, do những khó khăn từ suy giảm kinh tế toàn cầu trong thời gian qua nên một số ngành sản xuất, chế biến do thị trường bị thu hẹp, thiếu đơn hàng, chi phí nguyên, nhiên vật liệu đầu vào cho sản xuất, sinh hoạt, vận tải còn ở mức cao, áp lực cạnh tranh và sự gia tăng các rào cản kỹ thuật tại các thị trường xuất khẩu đã tác động tiêu cực đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.6.1. Về phát triển công nghiệp trong tháng - Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) trong tháng giảm 9,16% so với tháng trước và tăng 3,46% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 4,91%, tăng 8,43%; cung cấp nước và hoạt động thu gom xử lý rác, nước thải tăng 3,52%, giảm 4,17%; khai khoáng giảm 1,47%, giảm 4,27%; sản xuất và và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí giảm 29,2%, giảm 16,39%,...- Sản phẩm công nghiệp chủ yếu trong tháng của tỉnh đạt mức tăng trưởng khá, một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng so với cùng kỳ năm trước như: Điện thương phẩm đạt 112 triệu Kwh, tăng 4,25%; bột ba rít đạt 5.000 tấn, tăng 400%; xi măng đạt 125.000 tấn, tăng 16,49%; giấy in viết, photo thành phẩm đạt 9.293 tấn, tăng 6,83%; may mặc xuất khẩu đạt 1.354 nghìn sản phẩm, tăng 13,64%; giày da đạt 830 nghìn đôi, tăng 14,8%; gỗ tinh chế đạt 3.908 m3, tăng 8,67%; thép cây, thép cuộn đạt 24.207 tấn, tăng 607,08%,… Tuy nhiên, cũng có một số sản phẩm công nghiệp giảm so với cùng kỳ như: Điện sản xuất đạt 152 triệu Kwh, giảm 24,84%; giấy đế xuất khẩu đạt 750 tấn, giảm 26,62%; bột giấy đạt 4.479 tấn, giảm 49,26%; nước máy thương phẩm đạt 660 nghìn m3, giảm 8,15%,... - Chỉ số sử dụng lao động của các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn tháng 9/2023 tăng 2,6% so với tháng trước và tăng 2,59% so với cùng kỳ. Trong đó: khu vực doanh nghiệp Nhà nước giữ nguyên so với tháng trước và giảm 0,53% so với cùng kỳ; doanh nghiệp ngoài quốc doanh tăng 0,07% so với tháng trước và tăng 2,18% so với cùng kỳ; doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng 5,12% so với tháng trước và tăng 3,79% so với cùng kỳ. Mặc dù còn gặp nhiều khó khăn về thị trường tiêu thụ, song các doanh nghiệp đã nỗ lực thực hiện các giải pháp để ổn định sản xuất, tìm kiếm đơn hàng, đảm bảo việc làm và thu nhập cho người lao động.- Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 9 giảm 22,52% so với tháng trước và giảm 12,88% so với cùng kỳ. So với tháng trước, một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng khá là: Ngành sản xuất chế biến thực phẩm tăng 14,21%; sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất tăng 11,64%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 11,85%,... một số ngành có chỉ số tiêu thụ giảm là: Sản xuất trang phục giảm 55,39%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế) và sản phẩm từ rơm, rạ và vật liệu tết bện giảm 2,36%; giấy và sản phẩm từ giấy giảm 17,37%; sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác giảm 34,32%.- Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 9 giảm 1,18% so với tháng trước và tăng 68,87% so với cùng kỳ. Trong đó, một số ngành có chỉ số tồn kho tăng cao so với tháng trước là: Ngành sản xuất trang phục tăng 7,37%; sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất tăng 81,17%, theo chiều ngược lại, một số ngành có chỉ số tồn kho giảm đáng kể là ngành sản xuất chế biến thực phẩm giảm 29,96%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế) và sản phẩm từ rơm, rạ và vật liệu tết bện giảm 12,79%; giấy và sản phẩm từ giấy giảm 0,09%,…6.2. Về phát triển công nghiệp trong quý III- Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) quý III ước tính tăng 7,6% so với quý trước, giảm 1,19% so với quý cùng kỳ, trong đó: Ngành khai khoáng tăng 13%, giảm 1,16%; công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 2,16%, tăng 3,5%; sản xuất và phân phối điện tăng 111,41%, giảm 19,34%; cung cấp nước và xử lý rác, nước thải tăng 2,78%, giảm 3,67%. - Trong quý một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu của tỉnh đạt mức tăng trưởng khá so với quý cùng kỳ như: Điện thương phẩm đạt 348 triệu Kwh, tăng 5,53%; bột ba rít đạt 13.375 tấn, tăng 234,36%; giày da đạt 2.571 nghìn đôi, tăng 18,02%; gỗ tinh chế đạt 12.164 m3, tăng 13,07%; thép cây, thép cuộn đạt 67.263 tấn, tăng 52,75%,… Tuy nhiên, cũng có một số sản phẩm công nghiệp giảm so với quý cùng kỳ như: Điện sản xuất đạt 557 triệu Kwh, giảm 8,9%; xi măng đạt 218.519 tấn, giảm 27,3%; giấy đế xuất khẩu đạt 2.835 tấn, giảm 0,62%; bột giấy đạt 19.336 tấn, giảm 22,3%; may mặc xuất khẩu đạt 3.590 nghìn sản phẩm, giảm 35,2%,…6.3. Về phát triển công nghiệp 9 tháng năm 2023- Chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 3,26% so với cùng kỳ năm. Chia theo từng ngành kinh tế cấp I như sau:+ Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục duy trì đà tăng trưởng của toàn ngành với mức tăng 11,15% đây là ngành đóng vai trò chủ chốt, bệ đỡ thúc đẩy sự tăng trưởng chung của toàn ngành. Nguyên nhân chủ yếu do một số sản phẩm chế biến sản xuất tăng như: Giấy, thép, bột ba rít, chế biến gỗ,... + Ngành cung cấp nước và hoạt động thu gom xử lý rác, nước thải tăng 5,55%. Nguyên nhân chính là nhu cầu sử dụng nước sinh hoạt ngày càng tăng cùng với đó là hoạt động thu gom xử lý rác thải không độc hại tăng.+ Ngành khai khoáng giảm 4,2%. Nguyên nhân từ đầu năm đến nay, sản lượng khai thác khoáng hóa chất và khoáng phân bón giảm so với cùng kỳ. Do lượng hàng tồn kho còn nhiều, trong khi đó nhu cầu tiêu thụ ở mức thấp dẫn đến sản lượng của một số công ty khai thác giảm so với cùng kỳ.+ Ngành sản xuất và phân phối điện giảm 31,7%, do thời tiết khô hạn kéo dài, lưu lượng nước về hồ thuỷ điện rất thấp, tại các hồ thủy điện nước chủ yếu để tích trữ phục vụ tưới cho cây trồng, nên sản lượng điện từ nhà máy thủy điện giảm sâu làm tổng lượng điện sản xuất giảm 34,52% so cùng kỳ. Tính chung trong 9 tháng, một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu của tỉnh tăng khá so với cùng kỳ năm trước: Điện thương phẩm tăng 4,16%; bột ba rít tăng 108,63%; giấy đế xuất khẩu tăng 16,6%; nước máy thương phẩm tăng 2,09%; giấy in viết, photo thành phẩm tăng 14,38%; giày da tăng 12,17%; gỗ tinh chế tăng 8,96%; thép cây, thép cuộn đạt tăng 25,88%,… Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu giảm so với cùng kỳ năm trước như: Điện sản xuất giảm 34,52%; đường kính giảm 18,35%; chè chế biến giảm 3,77%; xi măng giảm 23,53%; hàng may mặc xuất khẩu giảm 29,82%,... - Chỉ số sử dụng lao động của các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn 9 tháng năm 2023 tăng 35,42% so với cùng kỳ. Trong đó: khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 4,2%; doanh nghiệp ngoài quốc doanh tăng 34,59%; doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng 49,16%,...- Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo 9 tháng giảm 10,86% so với cùng kỳ; một số ngành có chỉ số tiêu thụ giảm là: Chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế) giảm 18,66%; giấy và sản phẩm từ giấy giảm 18,28%; sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác giảm 13,9%; giường, tủ, bàn, ghế giảm 24,51%,… một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng khá là: Ngành sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 81,34%; chế biến thực phẩm tăng 14,21%; sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất tăng 25,52%; trang phục tăng 8,69%; hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 2,15%,…7. Thương mại và Dịch vụHoạt động thương mại, dịch vụ và vận tải trên địa bàn tỉnh 9 tháng diễn ra sôi động, tăng trưởng khá so với cùng kỳ; nguồn cung hàng hóa bảo đảm, nhất là các mặt hàng lương thực, thực phẩm, nguyên nhiên liệu thiết yếu phục vụ sản xuất (xăng dầu, phân bón, thức ăn chăn nuôi…) luôn được bảo đảm, đáp ứng tốt nhu cầu phục vụ sản xuất của doanh nghiệp và đời sống của người dân xuất, nhập khẩu ổn định, chỉ số giá được kiềm chế ở mức thấp. Tại các chợ, siêu thị, nguồn cung hàng hóa dồi dào cả về chủng loại lẫn số lượng, đáp ứng đầy đủ nhu cầu tiêu dùng, không có tình trạng khan hiếm hàng hóa và tăng giá đột biến, hàng hóa được tổ chức lưu thông thông suốt. Các nhà sản xuất đã đã chuân bị lượng hàng hóa đầy đủ, mẫu mã phong phú, đa dạng, đáp ứng đủ nhu cầu của nhân dân. Du lịch của tỉnh đã đạt được nhiều tín hiệu khởi sắc, từ đầu năm đến nay, tỉnh đã tổ chức nhiều sự kiện văn hóa, thể thao, du lịch nhằm tuyên truyền, giới thiệu, quảng bá về miền đất, văn hóa, con người và mang đậm nét văn hóa truyền thống của đồng bào các dân tộc trong tỉnh, bao gồm: Lễ Khai mạc năm du lịch tỉnh Tuyên Quang năm 2023 và trao "Giải thưởng phong cảnh thành phố Châu Á" cho "Quảng trường Nguyễn Tất Thành - Tinh hoa của núi rừng"; Lễ hội Khinh khí cầu quốc tế lần thứ II - năm 2023; giải đua thuyền Kayak mở rộng năm 2023; Lễ hội đền Hạ, đền Thượng, đền Ỷ La với chủ đề “Về miền đất mẫu” và Liên hoan trình diễn Thực hành nghi lễ tín ngưỡng thờ mẫu Tam phủ của người Việt; Lễ hội Hương sắc Na Hang (Lễ hội Hoa Lê); Lễ hội Nhảy lửa của người Pà Thẻn; Chương trình du lịch "Qua những miền di sản Việt Bắc" lần thứ XIV (có sự tham gia của 6 tỉnh Việt Bắc, gồm: Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Hà Giang và Tuyên Quang); Liên hoan các Làng văn hóa du lịch cộng đồng 6 tỉnh Việt Bắc; Chương trình “Điện ảnh - Kết nối di sản và du lịch Tuyên Quang”; Hội chợ Thương mại - Du lịch tỉnh Tuyên Quang năm 2023; Chương trình “Trưng bày, giới thiệu tinh hoa ẩm thực Việt” năm 2023 và điểm nhấn nhất và không nơi đâu có là Lễ hội thành Tuyên năm 2023 có quy mô lớn nhất đến nay và đang hướng tới trở thành Lễ hội festival quốc tế với nhiều hoạt động đặc sắc, hấp dẫn sẽ diễn ra từ ngày 20-27/9, các lễ hội trên đã thu hút đông đảo nhân dân, du khách trong nước và quốc tế đến tham quan và trẩy hội, góp phần thúc đẩy du lịch của tỉnh ngày càng phát triển.Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 9 ước đạt 2.751 tỷ đồng, tăng 3,92% so với tháng trước, tăng 15,32% so với cùng kỳ. Tính chung trong 9 tháng, tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 21.277 tỷ đồng, tăng 33,06% so với cùng kỳ.7.1. Doanh thu bán lẻ hàng hóa, dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch và dịch vụ khác7.1.1. Doanh thu bán lẻ hàng hóa Tổng mức bán lẻ hàng hóa trong tháng 9 ước đạt 2.428 tỷ đồng, tăng 3,18% so với tháng trước, tăng 14,4% so với cùng kỳ, cụ thể như sau: Lương thực, thực phẩm tăng 1,37%, tăng 33,61%; hàng may mặc tăng 2,08%, tăng 36,22%; đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình tăng 4,19%, tăng 0,2%; Ô tô con (dưới 9 chỗ ngồi) tăng 9,44%, tăng 7,38%; phương tiện đi lại, trừ ô tô con (kể cả phụ tùng) tăng 3,06%, tăng 11,73%,…Tuy nhiên, cũng có một số nhóm hàng tăng so với tháng trước và giảm so với cùng kỳ cùng kỳ như: Vật phẩm, văn hoá, giáo dục tăng 8,36%, giảm 32,07%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 0,43%, giảm 13,14%; nhiên liệu khác (trừ xăng dầu) tăng 5,54%, giảm 35,08%,… Ước tính quý III tổng mức bán lẻ hàng hóa đạt 6.964 tỷ đồng, tăng 17,71% so với cùng quý năm trước. Tính chung trong 9 tháng, tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 18.796 tỷ đồng, tăng 19,53% so với cùng kỳ.7.1.2. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ khác- Trong tháng, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 214 tỷ đồng, tăng 10,9% so với tháng trước, tăng 21,3% so với cùng kỳ. Trong đó: Doanh thu dịch vụ lưu trú đạt 21 tỷ đồng, tăng 11,26%, tăng 30,35%; dịch vụ ăn uống đạt 193 tỷ đồng, tăng 10,86%, tăng 20,39%. Ước tính quý III doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống đạt 618 tỷ đồng, tăng 22,62%. Tính chung trong 9 tháng ước đạt 1.699 tỷ đồng, tăng 31,68%.- Doanh thu du lịch, lữ hành trong tháng ước đạt 0,46 tỷ đồng, tăng 30% so với tháng trước, tăng 1,11% so với cùng kỳ. Ước tính quý III doanh thu du lịch, lữ hành đạt 1 tỷ đồng, tăng 81,38%. Tính chung trong 9 tháng ước đạt 2 tỷ đồng, tăng 26,3%.- Doanh thu nhóm dịch vụ khác trong tháng ước đạt 109 tỷ đồng, tăng 7,72% so với tháng trước, tăng 25,69% so với cùng kỳ. Trong đó: Dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ đạt 19 tỷ đồng, tăng 4,05%, tăng 30,6%; y tế và hoạt động trợ giúp xã hội đạt 4 tỷ đồng, tăng 8,93%, tăng 11,07%; nghệ thuật, vui chơi và giải trí đạt 32 tỷ đồng, tăng 21,1%, tăng 91,82%,…. Tuy nhiên, cũng có một số nhóm hàng giảm so với cùng kỳ cùng kỳ như: Dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 04 tỷ đồng, giảm 25,43%; giáo dục và đào tạo đạt 03 tỷ đồng, giảm 18,58%; sửa chữa máy vi tính, đồ dùng cá nhân và gia đình đạt 13 tỷ đồng giảm 0,41%,... Ước tính quý III doanh thu nhóm dịch vụ khác đạt 296 tỷ đồng, tăng 27,9%. Tính chung trong 9 tháng, ước đạt 780 tỷ đồng, tăng 38,21%. 7.2. Xuất, nhập khẩu hàng hóaHiện đã vào tháng cuối cùng của quý 3, các doanh nghiệp đang nỗ lực bước vào mùa sản xuất cuối năm. Nhưng dưới tác động của tình hình thế giới và những biến động thị trường, dự báo tình hình hoạt động xuất, nhập khẩu những tháng cuối năm 2023 vẫn còn nhiều khó khăn vẫn tiếp diễn; tình trạng thiếu đơn hàng xuất khẩu cộng thêm xu hướng giảm của giá hàng hóa đã tác động đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, tình hình việc làm và đời sống của người lao động. Trong tháng, kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa ước đạt 19,03 triệu USD, giảm 0,17% so với tháng trước, tăng 41,89% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung trong 9 tháng, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu ước đạt 176,89 triệu USD, đạt 73,71% kế hoạch, giảm 9,77% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, xuất khẩu ước đạt 108,51 triệu USD, đạt 72,34%, giảm 15,95%, nhập khẩu ước đạt 68,38 triệu USD, đạt 75,98%, tăng 2,16%, cụ thể như sau:- Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu trong tháng 9 ước đạt 12,03 triệu USD, tăng 43,59% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Chè xuất khẩu đạt 445 tấn, tăng 215,6%; hàng dệt may đạt 1.220 nghìn sản phẩm, tăng 237,5%,… Tính chung 9 tháng, ước đạt 108,51 triệu USD, giảm 15,95% so với cùng kỳ năm trước. Một số nhóm hàng có sản phẩm xuất khẩu 9 tháng đầu năm đạt mức tăng trưởng cao so với cùng kỳ như: Chè xuất khẩu tăng 296,84%; bột ba rít tăng 144,8%; đũa gỗ xuất khẩu tăng 18,73%; Atimony thỏi tăng 178,64%,… Bên cạnh đó, một số nhóm hàng có kim ngạch xuất khẩu giảm so với cùng kỳ: Hàng dệt, may giảm 28,31%; giấy đế xuất khẩu giảm 17,91%; bột giấy giảm 69,06%; giấy in viết, photo thành phẩm giảm 95,7%,... - Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa trong tháng ước đạt 7 triệu USD, tăng 39,05% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng, ước đạt 68,38 triệu USD, đạt 75,98% kế hoạch, tăng 2,16% so với cùng kỳ.8. Vận tải hàng hóa và hành kháchHoạt động vận tải ghi nhận sự phục hồi khá tích cực, do tình hình sản xuất của các doanh nghiệp trong tỉnh đã phục hồi trở lại, hoạt động xây dựng đã có xu hướng tăng trưởng trở lại nên nhu cầu vận chuyển hàng hóa, dịch vụ logistics, kê khai hải quan và nhu cầu đi du lịch, lễ hội của người dân tăng khá, đặc biệt trong các kỳ nghỉ lễ vừa qua hoạt động vận tải đã dần khởi sắc trở lại. Tuy nhiên, giá các mặt hàng xăng, dầu tăng cao làm chi phí đầu vào tăng theo, đã ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, hộ kinh doanh hoạt động vận tải trên địa bàn tỉnh.8.1. Doanh thu vận tải tải kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải - Doanh thu vận tải tháng 9 ước đạt 357 tỷ đồng, tăng 15,71% so với tháng trước, tăng 25,68% so với cùng kỳ. Trong đó, doanh thu vận tải hành khách ước đạt 66 tỷ đồng, tăng 25,99%, tăng 25,77%; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 291 tỷ đồng, tăng 13,61%, tăng 25,64%; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 0,37 tỷ đồng, tăng 13,86%, tăng 33,18%,…- Tính chung trong quý III, doanh thu vận tải kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 963 tỷ đồng, tăng 15,96% so với quý cùng kỳ. Trong đó: Doanh thu vận tải hành khách đạt 171 tỷ đồng, tăng 20,63%; doanh thu vận tải hàng hóa đạt 791 tỷ đồng, tăng 14,98%; dịch vụ hỗ trợ vận tải kho bãi đạt 1 tỷ đồng, tăng 21,04%,… - Tính chung trong 9 tháng, doanh thu vận tải kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 2.702 tỷ đồng, tăng 26,26% so với cùng kỳ. Trong đó: Doanh thu vận tải hành khách đạt 475 tỷ đồng, tăng 30,99%; doanh thu vận tải hàng hóa đạt 2.223 tỷ đồng, tăng 25,26%; dịch vụ hỗ trợ vận tải kho bãi đạt 3 tỷ đồng, tăng 47,67%,… 8.2. Vận tải hành khách- Khối lượng hành khách vận chuyển trong tháng ước đạt 1 triệu lượt hành khách, tăng 23,22% so với tháng trước, tăng 48,71% so với cùng kỳ; khối lượng hành khách luân chuyển ước đạt 84 triệu lượt hành khách.km, tăng 25,64%, tăng 26,17%.- Khối lượng hành khách vận chuyển ước thực hiện quý III đạt 3 triệu lượt hành khách, tăng 37,35% so với quý cùng kỳ; khối lượng hành khách luân chuyển ước đạt 219 triệu lượt hành khách.km, tăng 22,61%.- Tính chung 9 tháng khối lượng hành khách vận chuyển ước đạt 9 triệu lượt hành khách, tăng 47,38% so với cùng kỳ; khối lượng hành khách luân chuyển ước đạt 614 triệu lượt hành khách.km, tăng 18,02%.8.3. Vận tải hàng hóa- Khối lượng hàng hóa vận chuyển ước đạt 2 triệu tấn, tăng 17,07% so với tháng trước, tăng 28,56% so với cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 118 triệu tấn.km, tăng 14,53%, tăng 21,79%.- Khối lượng hàng hóa vận chuyển ước thực hiện quý III đạt 3 triệu tấn, tăng 37,35% so với quý cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 219 triệu tấn.km, tăng 22,61%.- Tính chung trong 9 tháng, khối lượng hàng hóa vận chuyển ước đạt 15 triệu tấn, tăng 24,39% so với cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 934 triệu tấn.km, tăng 19,35%.9. Công tác chuyển đổi số và bưu chính, viễn thông9.1. Lĩnh vực chuyển đổi sốVới mục tiêu Chuyển đổi số trên địa bàn tỉnh phải lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm, chủ thể, làm mục tiêu, động lực nhằm cung cấp dịch vụ chất lượng hơn, phục vụ tốt hơn cho người dân, doanh nghiệp một cách thực chất và hiệu quả; hướng tới việc hình thành công dân số, xã hội số. Đến nay, công tác chuyển đổi số trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang đã đạt được một số kết quả nổi bật sau:- Tỉnh đã tổ chức Lễ phát động thi đua chuyển đổi số - Năm dữ liệu số Tuyên Quang năm 2023, nhằm phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội trong việc tuyên truyền, nâng cao nhận thức, trách nhiệm tổ chức triển khai thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ chuyển đổi số trên địa bàn tỉnh, thực hiện xây dựng Chính quyền số, phát triển Kinh tế số và Xã hội số.- Đã ban hành Quyết định phê duyệt kết quả đánh giá, xếp hạng mức độ chuyển đổi số năm 2022 của các cơ quan nhà nước và Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố; các xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh năm 2022. Kết quả thực hiện đánh giá, xếp hạng mức độ chuyển đổi số đối với các cơ quan chuyên môn, cơ quan quản lý nhà nước thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh được xác định trên 06 chỉ số chính (Nhận thức số; Thể chế số; Hạ tầng số; Nhân lực số; An toàn thông tin mạng; Hoạt động chuyển đổi số); cấp huyện được đánh giá trên 09 chỉ số chính chia làm 2 nhóm: Nhóm chỉ số nền tảng (Nhận thức số; Thể chế số; Hạ tầng số; Nhân lực số; An toàn thông tin mạng; Đô thị thông minh) và nhóm chỉ số hoạt động (Hoạt động chính quyền số; Hoạt động kinh tế số; Hoạt động xã hội số); cấp xã được đánh giá trên 06 chỉ số chính (Nhận thức số; Thể chế số; Hạ tầng số; Hoạt động chuyển đổi số; An toàn, an ninh mạng; Nhân lực số).- Ra mắt nền tảng Chính quyền số tỉnh Tuyên Quang (Tuyên Quang ID) nhằm nâng cao năng lực hoạt động, cung cấp dịch vụ nghiệp vụ của các cơ quan Nhà nước trên địa bàn tỉnh đối với công dân, doanh nghiệp; thiết lập kênh tương tác đa chiều giữa chính quyền và người dân, doanh nghiệp một cách kịp thời, hiệu quả.- Đến thời điểm hiện tại toàn tỉnh có 169 điểm cầu của Hệ thống Hội nghị truyền hình trực tuyến của tỉnh đã kết nối thông suốt từ trung ương đến cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã phục vụ công tác chỉ đạo điều hành được thông suốt. Hiện nay, có trên 20 sở, ban, ngành, 7 huyện, thành phố và 138 xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh thực hiện cung cấp dịch vụ công trực tuyến từ mức độ 2 đến mức độ 4 và có 1.876 dịch vụ hành chính công trên hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính tỉnh Tuyên Quang phục vụ người dân và doanh nghiệp, 582 dịch vụ công mức độ 3, mức độ 4 đã được tích hợp trên Cổng dịch vụ công Quốc gia. Qua đó đã tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan và người dân và doanh nghiệp giải quyết các thủ tục hành chính.- Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính tỉnh Tuyên Quang hiện đang cung cấp 1.823 dịch vụ hành chính công trên Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính tỉnh Tuyên Quang phục vụ người dân và doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh. Trong đó, số DVCTT một phần: 703 dịch vụ, đạt 38,57%; DVCTT toàn trình: 1.120 dịch vụ, đạt 61,43%.9.2. Về Lĩnh vực Bưu chính - Viễn thông- Toàn tỉnh hiện có hơn 20 doanh nghiệp bưu chính, chuyển phát hoạt động theo nhiều mô hình khác nhau. Có 314 điểm cung cấp dịch vụ bưu chính của các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực bưu chính, chuyển phát trên địa bàn tỉnh tiếp tục được duy trì hoạt động phục vụ người dân và doanh nghiệp. 100% các xã có thư báo đến trong ngày. - Các dịch vụ bưu chính phát triển mạnh như bưu phẩm, bưu kiện. Việc triển khai chuyển trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính qua dịch vụ bưu chính công ích đã đem lại việc làm cho doanh nghiệp bưu chính trên địa bàn. - Đến tháng 9 năm 2023, trên toàn tỉnh có 1.323 vị trí lắp đặt trạm thu phát sóng BTS (1 vị trí lắp đặt nhiều loại trạm 2G, 3G, 4G). Đảm bảo gần 100% số thôn, bản, tổ nhân dân được phủ sóng điện thoại di động, tạo điều kiện cho người dân tiếp cận thông tin, phục vụ phát triển kinh tế, xã hội tại địa phương.- Các doanh nghiệp bưu chính, viễn thông trên địa bàn tỉnh tăng cường, đảm bảo an toàn, an ninh thông tin trong các dịp kỷ niệm các ngày lễ lớn của đất nước, sự kiện chính trị quan trọng của tỉnh.10. Về du lịch Tỉnh đã tổ chức thành công các sự kiện quảng bá, thu hút khách du lịch đến với tỉnh như: Khai mạc năm du lịch tỉnh Tuyên Quang năm 2023 và trao "Giải thưởng phong cảnh thành phố Châu Á" cho "Quảng trường Nguyễn Tất Thành - Tinh hoa của núi rừng" và Lễ hội Khinh khí cầu quốc tế lần thứ II - năm 2023; tham gia chương trình giới thiệu xúc tiến điểm đến du lịch 8 tỉnh Đông Bắc tại Thành phố Hồ Chí Minh năm 2023, xúc tiến điểm đến tại Hội nghị 8 tỉnh Tây Bắc mở rộng tại Cần Thơ; hội nghị truyền thông về Khai mạc năm du lịch tỉnh Tuyên Quang và Lễ hội Khinh khí cầu quốc tế lần thứ II - năm 2023 tại thành phố Hồ Chí Minh; chương trình Du lịch “Qua những miền di sản Việt Bắc” lần thứ XIV và Lễ hội Thành Tuyên năm 2023; liên hoan các Làng Văn hoá du lịch cộng đồng 6 tỉnh Việt Bắc,… với nhiều hoạt động quảng bá điểm đến của tỉnh. Bên cạnh đó, tỉnh cũng tập trung phát triển các sản phẩm du lịch, đặc biệt là các sản phẩm mới lạ, độc đáo. thu hút đầu tư của doanh nghiệp du lịch và phát triển các sản phẩm du lịch đặc thù trong thời gian tới. Từ đó tạo ra những tour du lịch hấp dẫn, dịch vụ tối ưu, điểm đến mới lạ cho du khách. Trong tháng 9, các khu, điểm du lịch trên địa bàn tỉnh đã thu hút được 325.000 lượt khách du lịch; tổng thu từ khách du lịch đạt 445 tỷ đồng (nâng tổng số 9 tháng năm 2023, thu hút được 2.286.000 lượt khách du lịch đạt 91% kế hoạch, tăng 7,7% so với cùng kỳ; tổng thu từ khách du lịch đạt 2.687 tỷ đồng, đạt 90% kế hoạch, tăng 24% so với cùng kỳ).II. LĨNH VỰC VĂN HÓA - XÃ HỘI 1. Về lao động việc làm- Giải quyết việc làm cho người lao động là mục tiêu hàng đầu trong công tác giảm nghèo, nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân, phát triển kinh tế - xã hội địa phương. Do đó, trong thời gian qua, các cấp, các ngành, các địa phương của tỉnh đã triển khai nhiều giải pháp có hiệu quả nhằm khuyến khích, hỗ trợ tạo sinh kế, việc làm cho người lao động, cụ thể: Hỗ trợ về vốn, khoa học kỹ thuật cho người dân phát triển sản xuất, kinh tế gia đình; chú trọng xây dựng hợp tác xã, mở rộng các mô hình doanh nghiệp vừa và nhỏ; duy trì xuất khẩu lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, giúp người lao động tăng thu nhập và nâng cao chất lượng cuộc sống, đời sống của nhân dân từng bước được cải thiện.Trong 9 tháng năm 2023, toàn tỉnh đã tạo việc làm cho 20.740 người, đạt 93,4% kế hoạch, tăng 6% so với cùng kỳ năm 2022 (trong đó: Lao động làm việc trong các ngành kinh tế tại tỉnh 12.920 người; lao động đi làm việc tại các tỉnh, thành phố trong nước 6.925 người; đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng 895 người). Thực hiện kịp thời, đúng quy định các chế độ, chính sách bảo hiểm thất nghiệp đối với người lao động. Duy trì thực hiện công tác công tác quản lý người lao động là người nước ngoài trên địa bàn tỉnh.- Về giáo dục nghề nghiệp: Tiếp tục triển khai thực hiện kế hoạch giáo dục nghề nghiệp năm 2023, từ đầu năm đến nay các cơ sở giáo dục nghề nghiệp đã tuyển sinh đào tạo 7.882 học viên, đạt 98,52% kế hoạch, trong đó: Trình độ cao đẳng 119 người, trung cấp 935 người, trình độ sơ cấp và đạo tạo dưới 3 tháng 6.828 người.  2. Đời sống dân cư Trong 9 tháng năm 2023, tình hình đời sống dân cư trên địa bàn tỉnh tiếp tục ổn định. Tuy nhiên, giá các mặt hàng thiết yếu như: Giá bán lẻ điện điều chỉnh tăng, giá sách giáo khoa, mức thu học phí và các khoản thu dịch vụ tăng; giá các loại lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng tăng, dẫn đến chi phí sinh hoạt tăng, đã ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống của nhiều hộ gia đình, đặc biệt là nhiều hộ gia đình có thu nhập thấp và trung bình, người dân dần thắt chặt chi tiêu, cắt giảm những khoản tiêu dùng không cần thiết.Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong các khu, cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh cơ bản ổn định và sản xuất đạt kế hoạch đề ra, đa số doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả và phát triển ổn định, không xảy ra tình trạng cắt giảm giờ làm, nghỉ việc, nghỉ luân phiên và chấm dứt hợp đồng với người lao động, đời sống của người lao động trong các công ty tiếp tục ổn định.Các doanh nghiệp và các tổ chức đoàn thể đã quan tâm chăm lo Tết cho người lao động, đã phần nào giúp đời sống của những người hưởng lương trong dịp Tết được ổn định hơn. Mức thưởng bình quân cho người lao động trong các loại hình doanh nghiệp: Thưởng Tết Dương lịch 2023: Mức thưởng bình quân cho người lao động của doanh nghiệp có kế hoạch thưởng: 1.000.000/người; Thưởng Tết Nguyên đán Quý Mão 2023: Mức thưởng bình quân cho người lao động của doanh nghiệp có kế hoạch thưởng: 3.780.000đ/người.Tình hình tiền lương, thu nhập của đa số cán bộ, công nhân, công chức, viên chức về cơ bản tiếp tục ổn định. Từ ngày 1/7/2023, mức lương cơ sở đã chính thức tăng từ 1,49 triệu đồng lên 1,8 triệu đồng. Mức tăng lương cơ sở kỳ này được đánh giá là khá cao so với các đợt tăng trước. Nhìn chung, đời sống của người dân trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang 9 tháng năm 2023, cơ bản ổn định và từng bước được cải thiện hơn, sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp dần dần được phục hồi và đi vào ổn định, người lao động có việc làm và thu nhập ổn định đã đảm bảo phần nào cho nhu cầu cuộc sống.3. Công tác người có công, giảm nghèo, bảo trợ xã hội và phòng chống tệ nạn xã hội 3.1. Công tác đối với người có công với cách mạngDuy trì thực hiện đầy đủ, kịp thời các chế độ, chính sách đối với người có công với cách mạng và thân nhân người có công; đẩy mạnh thực hiện các phong trào, hoạt động "đền ơn, đáp nghĩa", "uống nước nhớ nguồn", chú trọng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần đối với người có công; hỗ trợ, giúp đỡ gia đình người có công với cách mạng có khó khăn về nhà ở, từ đầu năm đến nay, các tổ chức cá nhân đã hỗ trợ làm mới và sửa chữa nhà ở cho 36 gia đình người có công với cách mạng, số tiền hỗ trợ 1.068 triệu đồng.3.2. Công tác bảo trợ xã hội và phòng chống các tệ nạn xã hội- Duy trì thực hiện đầy đủ, kịp thời các chế độ, chính sách đối với người có công với cách mạng và thân nhân người có công; đẩy mạnh thực hiện các phong trào, hoạt động "đền ơn, đáp nghĩa", "uống nước nhớ nguồn". Tiếp tục thực hiện tốt các chính sách trợ giúp xã hội, thường xuyên rà soát năm chắc tình hình đời sống nhân dân, kịp thời hỗ trợ các hộ gia đình, cá nhân gặp khó khăn do tai nạn rủi ro; duy trì chi trả trợ cấp thường xuyên cho trên 38.000 đối tượng bảo trợ xã hội với kinh phí trợ cấp xã hội hàng tháng trên 20 tỷ đồng. Trong thời gian giáp hạt năm 2023, các huyện đã hỗ trợ 5.240 hộ, 16.653 khẩu, 249.795kg gạo, kinh phí trên 3,7 tỷ đồng.- Tăng cường công tác quản lý đối tượng cai nghiện; công tác điều trị, quản lý cai nghiện, tổ chức lao động sản xuất cho học viên phù hợp với điều kiện thực tế, kiên quyết xử lý nghiêm học viên lợi dụng tham gia lao động để sử dụng trái phép chất ma túy. Kết quả trong 9 tháng, Cơ sở cai nghiện đã tiếp nhận 90 học viên (Cai nghiện bắt buộc 84 học viên, cai nghiện tự nguyện 06 học viên); cấp giấy chứng nhận hoàn thành cai nghiện cho 58 học viên; thanh lý hợp đồng cai nghiện tự nguyên 02 học viên. Tại thời điểm báo cáo Cơ sở đang quản lý 169 học viên (có mặt 161 học viên; trốn cai 06 học viên; đi viện điều trị bệnh 02 học viên).  4. Hoạt động giáo dục và đào tạoNăm học 2023 - 2024 là năm thứ 4 triển khai thực hiện Chương trình Giáo dục phổ thông năm 2018 với nhiều khó khăn, thách thức. Song với quyết tâm thực hiện thắng lợi các mục tiêu đã đề ra, tỉnh đang triển khai các giải pháp nhằm đổi mới căn bản, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện giáo dục đào tạo trên địa bàn tỉnh. Thời gian qua, chất lượng giáo dục đại trà có bước phát triển đáng khích lệ; điểm trung bình kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 trung học phổ thông năm học 2023 - 2024 cao hơn so với năm học trước; điểm trung bình kỳ thi tốt nghiệp THPT của tỉnh năm 2023 xếp thứ 21/63 tỉnh, thành phố, xếp thứ 3/14 tỉnh khu vực miền núi phía Bắc. Chất lượng giáo dục mũi nhọn của tỉnh từng bước được nâng lên, năm 2023, tỉnh Tuyên Quang xếp thứ 23/63 tỉnh, thành phố về chất lượng giải học sinh giỏi quốc gia; có 01 dự án Khoa học kỹ thuật được Bộ Giáo dục và Đào tạo lựa chọn tham dự Hội thi Khoa học kỹ thuật quốc tế tại Hoa Kỳ và tại Kỳ thi Olympic Toán học quốc tế HKIMO (Hong Kong International Mathematical Olympiad), có 5 học sinh Trường THPT Chuyên Tuyên Quang đã xuất sắc đoạt được giải cao tại vòng quốc tế kỳ thi trên.Ngay sau Lễ khai giảng năm học mới 2023 - 2024, các trường học trên địa bàn tỉnh đã đã bắt đầu chương trình học tập chính thức của năm học mới. Năm học 2023 - 2024 toàn tỉnh có 152 trường mầm non, 124 trường tiểu học, 149 trường THCS và 35 trường THPT với trên 228.000 học sinh các cấp. Việc ổn định nề nếp được các trường quan tâm thực hiện đồng thời đẩy mạnh phong trào thi đua dạy tốt, học tốt, phấn đấu hoàn thành các mục tiêu và nhiều nhiệm vụ mới đề ra.5. Hoạt động y tế Từ đầu năm đến nay, tình hình dịch Covid-19 trong nước và trong tỉnh cơ bản đã ổn định, đời sống nhân dân đã trở lại bình thường; tỉnh tiếp tục thực hiện nghiêm các chỉ đạo của Chính phủ và các hướng dẫn của BộY tế trong phòng chống dịch Covid-19 và các dịch bệnh truyền nhiễm khác như: Sốt xuất huyết, tay chân miệng,... không để dịch bùng phát trở lại và hạn chế tối đa xảy ra nguy cơ dịch chồng dịch; chủ động giám sát, theo dõi chặt chẽ tình hình dịch bệnh trên địa bàn, sẵn sàng ứng phó với các tình huống có thể xảy ra của dịch bệnh. Tiếp tục đảm bảo thuốc, vắc xin, sinh phẩm, vật tư, hóa chất, trang thiết bị, nhân lực phục vụ công tác phòng, chống dịch.- Trong 9 tháng trên địa bàn toàn tỉnh đã ghi nhận 1.597 ca mắc Covid-19 mới (số ca tháng 9 tính đến 15/9 là 22 ca), số ca tái dương tính là 2.212 bệnh nhân. Hiện đang điều trị 09 người tại cơ sở y tế và tại nhà, không có bệnh nhân nặng; tổng số bệnh nhân cộng dồn là: 162.822 người; số người tử vong 19 người. Tổng số mẫu đã lấy cộng dồn là: 508.762 mẫu.- Về tình hình tiêm chủng vắc xin phòng Covid-19: Tổng số cộng dồn tiêm tại tỉnh từ đợt 1 đến nay: 2.262.588 mũi tiêm; trong đó: mũi 01: 706.372 người; mũi 02: 695.987 người; mũi 03: 522.484 người; mũi 04: 258.545 người.+ Tiêm cho người từ 18 tuổi trở lên tỷ lệ tiêm mũi 1 là100% (510.995 người còn 6.471 người chống chỉ định chưa tiêm); tiêm đủ 2 mũi là 99,7% (513.502người); có 79.200 người được tiêm bổ sung để hoàn thành liều cơ bản; Tỷ lệ tiêm mũi 3 là 90,8% (461.431 người); hoàn thành tiêm mũi 04 cho đối tượng ưu tiên, số người được tiêm mũi 04 là 258.545 người.+ Tiêm cho trẻ từ 12 đến dưới 18 tuổi: Tỷ lệ tiêm mũi 1 đạt trên 99,1% (77.991 trẻ; tiêm đủ 02 mũi đạt 100% (78.799 trẻ), tiêm mũi 3 là 77,6% (61.053 trẻ) tỷ lệ tiêm mũi 3 cao nhất là Yên Sơn (97,7%) thấp nhất là Sơn Dương (69,6%).+ Tiêm cho trẻ từ 05 đến dưới 12 tuổi: Tỷ lệ tiêm mũi 01 đạt 99,9% (117.386/117.461) các huyện, thành phố đạt trên 99%; tiêm 02 mũi là 88,3% (103.686 trẻ), hiện chưa có phản ứng phụ hoặc tai biến sẩy ra.Về công tác khám, chữa bệnh: Tiếp tục thực hiện tốt công tác khám, chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe cho nhân dân, tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước về y tế; đổi mới, phát triển các kỹ thuật cao, kỹ thuật chuyên sâu trong khám, chữa bệnh; nâng cao chất lượng các dịch vụ y tế; tinh thần, thái độ phục vụ của cán bộ y tế chuyển biến rõ nét. Tổng số lượt khám bệnh trong 9 tháng đạt 839.347 lượt người. Trong đó: Bệnh viện tuyến tỉnh: 210.554 lượt, Trung tâm Y tế huyện: 312.483 lượt, Bệnh viện Đa khoa khu vực: 36.372 lượt, Trạm Y tế xã, phường, thị trấn: 279.938 lượt. Công suất sử dụng giường bệnh tại Bệnh viện tuyến tỉnh: 118,5%, Trung tâm Y tế huyện: 93% và Bệnh viện Đa khoa khu vực: 67,2%. Ngày điều trị trung bình tại Bệnh viện tuyến tỉnh: 7,8 ngày, Trung tâm Y tế huyện: 5,8 ngày, Bệnh viện Đa khoa khu vực: 5,8 ngày.- Công tác đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm (ATVSTP) cũng đã được tỉnh triển khai bằng nhiều giải pháp như: Tăng cường công tác truyền thông về an toàn vệ sinh thực phẩm trên các phương tiện thông tin đại chúng; triển khai công tác hậu kiểm chất lượng, giám sát các mối nguy cơ ô nhiễm thực phẩm; thực hiện thanh tra, kiểm tra, giám sát chất lượng ATVSTP trên địa bàn toàn tỉnh, qua đó kiểm tra, giám sát tại tại 3.760 lượt, đạt 77,2% kế hoạch; số cơ sở được kiểm tra: 1.954, xử lý 62 cơ sở vi phạm các quy định về ATVSTP; thẩm định và cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện ATVSTP cho 111 cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm tại các huyện, thành phố, đạt 86%.Từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh đã ghi nhận 06 vụ ngộ độc thực phẩm với 30 người mắc; 02 trường hợp tử vong qua điều tra nghĩ đến tử vong do uống cùng một loại rượu ngâm với rễ cây. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã lấy mẫu gửi Viện Khoa học hình sự - Bộ Công an, hiện tại chưa có kết quả xét nghiệm.6. Hoạt động văn hoá - thể dục, thể thaoTổ chức thành công các hoạt động, sự kiện văn hóa, nghệ thuật chào mừng kỷ niệm các ngày lễ lớn của đất nước, sự kiện chính trị quan trọng của tỉnh, như: Chương trình Chào Xuân Quý Mão năm 2023; các hoạt động Khai mạc Không gian văn hóa Hồ Chí Minh kỷ niệm 80 năm Đề cương về văn hóa Việt Nam (1943 – 2023); khai mạc Hội báo Xuân Quý Mão và phát động Giải báo chí toàn quốc về Xây dựng Đảng (Giải Búa liềm vàng) lần thứ VIII năm 2023; Khai mạc năm du lịch tỉnh Tuyên Quang và Lễ hội Khinh khí cầu quốc tế lần thứ II - năm 2023; Chương trình du lịch "Qua những miền di sản Việt Bắc" lần thứ XIV và Lễ hội thành Tuyên năm 2023; tiếp tục đẩy mạnh phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” gắn với chương trình xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh.- Lĩnh vực thể dục, thể thao: Tổ chức thành công 11 giải thể thao cấp tỉnh; đăng cai tổ chức thành công Giải Vô địch Pencak Silat trẻ quốc gia năm 2023, Ban Tổ chức trao 72 bộ huy chương ở các nội dung cho các vận động viên10; đăng cai giải Vô địch các lứa tuổi trẻ Vật cổ điển, vật tự do quốc gia năm 2023, BTC đã trao 63 bộ huy chương cho các vận động viên có thành tích thi đấu xuất sắc ở các nội dung và các hạng cân; tham gia 14 giải thể thao toàn quốc, đạt 68 huy chương các loại (trong đó: 14 HCV, 25 HCB; 29 HCĐ); 13 vận động viên đạt cấp kiện tướng, 16 vận động viên đạt cấp I; phối hợp với Liên đoàn Quần vợt tổ chức Đại hội Liên đoàn Quần vợt tỉnh Tuyên Quang lần thứ III, nhiệm kỳ 2023 – 2028. Duy trì hoạt động 6 lớp đội tuyển năng khiếu với 30 vận động viên; 7 lớp đội tuyển trẻ với 68 vận động viên; 03 lớp đội tuyển tỉnh với 20 vận động viên.7. Tình hình an toàn giao thông Thực hiện đợt cao điểm bảo đảm trật tự an toàn giao thông, trật tự xã hội trong dịp nghỉ lễ 2-9, khai giảng năm học mới. Trong 4 ngày nghỉ, lực lượng cảnh sát giao thông, cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội trên địa bàn tỉnh đã tăng cường tuần tra, kiểm soát phát hiện, xử lý nghiêm những lỗi vi phạm là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến tai nạn giao thông như: Lái xe khi trong cơ thể có chất ma túy, vi phạm nồng độ cồn, chạy quá tốc độ. Kết quả đã phát hiện, xử lý 277 trường hợp vi phạm (tạm giữ 11 xe ô tô, 144 xe mô tô, 234 bộ giấy tờ). Các lỗi vi phạm chủ yếu gồm: 97 trường hợp vi phạm nồng độ cồn, 66 trường hợp không có giấy phép lái xe, 5 trường hợp chở quá tải trọng, 42 trường hợp chạy quá tốc độ quy định, còn lại là các vi phạm khác. Tổng số tiền phạt ước tính gần 540 triệu đồng.- Trong tháng, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 8 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 03 người và làm bị thương 08 người. Số vụ tai nạn và số người chết giữ nguyên so với tháng trước, số người bị thương giảm 33,33%. So với cùng kỳ năm trước, tăng 166,67% số vụ, tăng 50% số người chết, số người bị thương tăng 700%.- Trong quý III, toàn tỉnh đã ghi nhận 25 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 08 người và làm bị thương 21 người. So với quý cùng kỳ năm trước, tăng 25% số vụ, tăng 33,33% số người chết, số người bị thương tăng 31,25%.- Tính chung 9 tháng, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 61 vụ tai nạn giao thông, làm 20 người chết và làm 48 người bị thương. So với cùng kỳ năm trước tăng 7,02% số vụ, tăng 5,26% số người chết, số người bị thương giữ nguyên.8. Thiệt hại do thiên tai, phòng chống cháy, nổ8.1. Về thiên taiTừ đầu năm đến nay, tình hình thiên tai tiếp tục diễn biến cực đoan, bất thường trên địa bàn toàn tỉnh đã xảy ra 11 đợt thiên tai. Mưa lớn kèm theo dông lốc trên diện rộng đã gây ra những thiệt hại về người và tài sản, làm ảnh hưởng đến tình hình sản xuất và đời sống của nhân dân, cụ thể như sau:- Thiệt hại về người và nhà ở: 01 người bị thương; trên 380 nhà bị hư hỏng, thiệt hại (trong đó 01 nhà hỏng hoàn toàn).- Thiệt hại về nông lâm nghiệp, thủy sản: trên 84 ha lúa, 642,88 ha ngô, rau màu bị ảnh hưởng, 2,15 ha cây ăn quả bị gãy đổ, 27,6 ha cây lâm nghiệp bị ảnh hưởng; 06 con bò, 05 con lợn và 1.060 con gia cầm bị thiệt hại; 7,08 ha ao hồ bị tràn bờ,…- Thiệt hại khác: 02 công trình thuỷ lợi bị hư hỏng, 137 m kênh mương bị sạt, trôi, hư hỏng, 9.336 m3 đất đá sạt lở gây hư hỏng đường giao thông, 01 tuyến đường dây 35 Kv và 15 cột điện bị hư hỏng; 04 điểm trường bị hư hỏng, tốc mái và nhiều thiệt hại khác,…Ước tính tổng giá trị thiệt hại trên 3.248,9 triệu đồng.Sau khi thiên tai xảy ra, chính quyền địa phương đã huy động lực lượng tại chỗ hỗ trợ các hộ dân bị ảnh hưởng nhanh chóng khắc phục hậu quả, sửa chữa tạm thời; triển khai những biện pháp giúp đỡ kịp thời để cuộc sống người dân sớm trở lại ổn định. 8.2. Về cháy nổTrong tháng, toàn tình không xảy ra vụ cháy, nổ nào. Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh xảy ra 04 vụ cháy làm 05 người bị thương, thiệt hại ước tính hơn 2.390 triệu đồng. Ngay sau khi xảy ra các vụ việc cháy, lãnh đạo Tỉnh uỷ, Uỷ ban nhân dân tỉnh đã chỉ đạo các cấp, các ngành nhanh chóng xuống địa bàn có thiệt hại, động viên người chịu thiệt hại và triển khai nhanh các giải pháp khắc phục thiệt hại nhằm sớm ổn định đời sống và sản xuất của nhân dân. 9. Đánh giá chungTrong 9 tháng năm 2023, mặc dù vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức; tuy nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh vẫn duy trì đà tăng trưởng và đạt được nhiều kết quả tích cực: Kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, chỉ số giá trong tầm kiểm soát, các cân đối lớn được bảo đảm, mặt bằng lãi suất tiếp tục xu hướng giảm, thanh toán không dùng tiền mặt đạt kết quả tích cực, các mặt hàng lương thực, thực phẩm thiết yếu nguồn cung vẫn đầy đủ; số người có việc làm tăng lên, cơ cấu lao động chuyển dịch theo hướng tích cực, thu nhập của người dân cải thiện, an sinh xã hội được quan tâm thực hiện;... Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được vẫn còn một số khó khăn, thách thức: Một số sản phẩm công nghiệp tăng thấp hơn cùng kỳ; tiến độ giải ngân vôn đầu tư công còn chậm, giá vật liệu xây dựng tăng mạnh đã ảnh hưởng đến chi phí đầu tư của nhiều dự án, công trình và thị trường bất động sản; tình hình thiên tai và những diễn biến bất thường của thời tiết.10. Một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm 3 tháng cuối năm 2023Một là, tập trung tháo gỡ vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ triển khai các dự án, công trình trọng điểm trên địa bàn tỉnh; thực hiện quyết liệt, đồng bộ các giải pháp, tháo gỡ kịp thời các khó khăn để đẩy nhanh tiến độ thực hiện, giải ngân vốn đầu tư công, phấn đấu đạt mục tiêu giải ngân 98% kế hoạch vốn đầu tư công năm 2023 đảm bảo đóng góp vào tốc độ tăng trưởng của tỉnh; triển khai thi công giai đoạn 2 dự án đường cao tốc Tuyên Quang - Phú Thọ kết nối với cao tốc Nội Bài - Lào Cai và hoàn thành toàn bộ dự án trong năm 2023; hoàn thiện các thủ tục công tác chuẩn bị đầu tư để khởi công cao tốc Tuyên Quang - Hà Giang đẩy nhanh dự án đường trục phát triển đô thị từ thành phố Tuyên Quang đi trung tâm huyện Yên Sơn, đường từ thành phố Tuyên Quang đi suối khoáng Mỹ Lâm, Dự án cầu Xuân Vân, cầu Bạch Xa, dự án Flamingo Tân Trào, xây dựng Bệnh viện Đa khoa tỉnh, Trường Trung học phổ thông Chuyên tại địa điểm mới... và nhiều công trình, dự án quan trọng khác,... và các dự án thuộc 03 Chương trình mục tiêu quốc gia; chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội; các công trình thuộc Dự án di dân, tái định cư thủy điện Tuyên Quang,... nhằm kết nối liên vùng, đồng bộ, theo hướng hiện đại, tạo động lực thúc đẩy kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh.Hai là, triển khai thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 11/NQ-CP của Chính phủ về Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế- xã hội, đẩy mạnh cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư, nâng cao năng lực cạnh tranh; triển khai hiệu quả các giải pháp hỗ trợ phục hồi, phát triển kinh tế, hỗ trợ tạo điều kiện cho người dân, doanh nghiệp được tiếp cận thuận lợi nguồn vốn để duy trì và phát triển sản xuất kinh doanh.Ba là, triển khai thực hiện có hiệu quả Quy hoạch tỉnh Tuyên Quang thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, tập trung phát triển ba trụ cột kinh tế và hình thành 4 cực tăng trưởng gắn với tiềm năng thế mạnh vùng; tiếp tục tập trung thực hiện các giải pháp phát triển công nghiệp, xây dựng với trọng tâm vào các ngành mà tỉnh có tiềm năng, lợi thế như: Công nghiệp chế biến gỗ, sản xuất vật liệu xây dựng, công nghiệp dệt may, da giày, điện tử,… đôn đốc tiến độ và kịp thời giải quyết khó khăn, vướng mắc nhằm đẩy nhanh tiến độ dự án công nghiệp trọng điểm, để các dự án sớm hoàn thành đầu tư đưa vào sản xuất, nhằm gia tăng sản lượng và đóng góp thêm các sản phẩm công nghiệp mới và có phương án bù đắp các sản phẩm thiếu hụt, đảm bảo hoàn thành chỉ tiêu sản xuất công nghiệp theo kế hoạch; đẩy mạnh xuất khẩu các sản phẩm hàng hóa chủ lực của địa phương.Bốn là, tăng cường các biện pháp siết chặt kỷ luật tài chính - ngân sách, đẩy mạnh công tác chống thất thu, trốn thuế, chống gian lận thương mại, rà soát, những nguồn thu còn tiềm năng, nguồn thu chưa khai thác hết, còn dư địa để tổ chức thực hiện, khai thác tăng thu, bù đắp các khoản hụt thu; khẩn trương triển khai thực hiện đấu giá quyền sử dụng đất theo kế hoạch được giao, phấn đấu hoàn thành dự toán thu ngân sách nhà nước trên địa bàn. Thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ chi đã bố trí trong dự toán ngân sách tỉnh giao.Năm là, triển khai đầy đủ các chính sách hỗ trợ của Chính phủ về các gói hỗ trợ hồi phục kinh tế như: Hỗ trợ lãi suất 2%/năm thuế giá trị gia tăng đối với tất cả nhóm hàng hóa, dịch vụ đang áp dụng mức thuế suất giá trị gia tăng 10% xuống còn 8%, cho vay hỗ trợ tạo việc làm, duy trì và mở rộng việc làm; giảm thuế và gia hạn thời gian nộp thuế; thực hiện tốt công tác hoàn thuế giá trị gia tăng cho doanh nghiệp,... Đây là những giải pháp rất cần thiết, là nguồn lực đáng kể để tháo gỡ khó khăn cho người dân, doanh nghiệp, nhằm nhanh chóng khôi phục hoạt động sản xuất, kinh doanh, phát triển ổn định, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo nguồn thu bền vững cho ngân sách nhà nước.Sáu là, tiếp tục theo dõi chặt chẽ tình hình thời tiết, chủ động xây dựng các phương án phòng chống thiên tai, cảnh báo mưa lũ nhắm hạn chế tối thiểu thiệt hại về người và tài sản do thiên tai gây ra. Thực hiện tốt các chính sách về an sinh xã hội, lao động, việc làm, công tác trợ giúp đột xuất, bảo đảm người dân khi gặp rủi ro, thiên tai được hỗ trợ kịp thời, khắc phục khó khăn ổn định cuộc sống. Tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát bảo đảm an ninh trật tự, an toàn giao thông và phòng chống cháy nổ.CỤC THỐNG KÊ TUYÊN QUANG

Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 8 năm 2023 tỉnh Tuyên Quang
  •   10/11/2025 22:04

I. PHÁT TRIỂN KINH TẾ  1. Về sản xuất nông nghiệp (tính đến ngày 15/8/2023)1.1. Trồng trọt 1.1.1. Sản xuất vụ mùa năm 2023Vụ mùa năm nay, toàn tỉnh phấn đấu gieo trồng trên 33.012 ha cây trồng các loại, trong đó: Cây lúa 24.568 ha, trong đó (lúa lai 9.022 ha, lúa thuần 15.546 ha); ngô 4.694 ha; lạc 1.195; đậu tương 295 ha,… tính đến ngày 15/8/2023, toàn tỉnh đã gieo cấy được 24.353 ha lúa, giảm 1,62% (giảm 401 ha) so với cùng kỳ, đạt 99,13% kế hoạch (trong đó: diện tích lúa lai 9.096 ha, giảm 1,7% (giảm 157 ha) đạt 100,82%, lúa thuần 15.258 ha, giảm 1,57% (giảm 243 ha) đạt 98,15%); cây ngô đã trồng 4.863 ha, tăng 8,79% (tăng 393 ha) đạt 103,59%; cây đậu tương 120 ha, giảm 44,29% (giảm 96 ha) đạt 47,81%; cây lạc 1.021 ha, giảm 11,09% (giảm 128 ha) đạt 85,46%.Nhằm đảm bảo việc sinh trưởng, phát triển của cây trồng vụ mùa, tỉnh đã chỉ đạo các địa phương tuyên truyền, khuyến cáo bà con nông dân tập trung chăm sóc tốt diện tích lúa đã gieo cấy: chủ động các biện pháp chống hạn và tiêu úng cho lúa; tăng cường công tác kiểm tra đồng ruộng để phát hiện sớm và chỉ đạo, hướng dẫn nông dân phòng trừ kịp thời, có hiệu quả với các đối tượng sâu bệnh hại. sâu bệnh kịp thời nhằm bảo đảm năng suất, sản lượng các loại cây trồng; phấn đấu đạt sản xuất vụ mùa đạt thắng lợi.1.1.2. Cây lâu năm- Diện tích cây chuối hiện có trên địa bàn tỉnh 2.232 ha, tăng 1,11% so với cùng kỳ năm trước, sản lượng ước đạt trên 11.852 tấn, tăng 2,06%; cây nhãn 899 ha, sản lượng ước đạt 4.602 tấn, tăng 4,31%; cây vải 317 ha, sản lượng 1.773 tấn tăng 3,11%,… - Cây chè hiện có 8.289 ha, sản lượng thu hoạch ước đạt 45.946 tấn, tăng 0,11% so với cùng kỳ.Đánh giá chung, là vụ sản xuất lúa quan trọng trong năm. Vì vậy, để sản xuất đạt kết quả tốt, ngành chức năng và chính quyền các cấp đã tập trung chỉ đạo sản xuất, đảm bảo theo kế hoạch đã đề ra. Tuy nhiên, sản xuất vụ mùa thường gặp điều kiện thời tiết, khí hậu diễn biến phức tạp và khó lường, dự báo trong thời gian tới tiếp tục có những diễn biến phức tạp về thời tiết, nắng gắt xen kẽ những trận mưa to đến rất to, kèm theo giông lốc; vì vậy, các địa phương cần chủ động các phương án phòng chống thiên tai, dịch bệnh ngay từ đầu vụ để hạn chế tối đa thiệt hại cho sản xuất.1.2. Tình hình sinh vật gây hại 1.2.1. Cây hàng năm vụ mùa- Cây lúa: Rầy lứa 5 gây hại rải rác, mật phổ biến 180 -200 con con/m2; nơi cao 600 -8.000 con con/m2 , tuổi 4 -5 - TT. Sâu cuốn lá nhỏ gây hại rải rác, mật độ phổ biến 5 -7 con con/m2, nơi cao 10 - 15 con con/m2, trưởng thành lứa 6 bắt đầu vũ hóa rải rác, mật độ nơi cao 1-2 con con/m2, sâu đục thân 2 chấm lứa 3 gây hại rải rác, tỷ lệ hại nơi cao 1-2% số dảnh, Trưởng thành lứa 4 vũ hóa rải rác, mật độ nơi cao 1-2 con con/m2.- Cây ngô: Sâu keo mùa thu gây hại rải rác, mật độ nơi cao 2-3 con con/m2, cục bộ 8-10 con con/m2 tuổi 4-5, Diện tích nhiễm nhẹ 18,8 ha tại huyện Na Hang, Sơn Dương, Hàm Yên, Lâm Bình. Sâu cắn nõn gây hại rải rác, mật độ nơi cao 2-3 con/ con/m2, bệnh đốm lá, khô vằn gây hại rải rác, tỷ lệ hại nơi cao 3-5% số lá, cây; cấp 1-3. - Cây lạc, đậu tương: Sâu xám, sâu cuốn lá, rầy xanh lá mạ, bệnh lở cổ rễ gây hại rải rác.- Cây mía : Sâu đục thân gây hại phổ biến 1-2%, tỷ lệ hại nơi cao 4-6% số cây, cục bộ 8-10% số cây. Bọ hung, gây hại cục bộ, mật độ nơi cao 1-2 con/hố.1.2.2. Cây lâu năm- Cây chè (ra búp): Rầy xanh, nhện đỏ, bọ trĩ gây hại vẫn tiếp tục gây hại tăng, tỷ lệ hại phổ biến 4-6%, nơi cao 10-12% số búp.- Cây có múi (quả non): Nhóm nhện nhỏ (nhện đỏ, nhện trắng, nhện rám vàng gây hại tăng, tỷ lệ hại nơi cao 20-25% số lá, quả). Bệnh sẹo, bệnh loét lá, bệnh thán thư, bệnh vàng lá thối rễ hại rải rác.- Cây nhãn, vải (quả chín-lộc bánh tẻ): Sâu đục cuống, quả, bọ xít nâu, bệnh thán thư, chổi rồng gây hại rải rác.1.2.3. Cây lâm nghiệp (vườn ươm-1-5 tuổi): Sâu nâu ăn lá gây hại rải rác, bệnh chết héo tiếp tục gây hại phổ biến tỷ lệ hại 1-2% số cây bị hại.1.2.3. Cây lâm nghiệp (vườn ươm - 1-5 tuổi): Bệnh chết héo gây hại rải rác trên cây keo 1-3 tuổi, nơi cao 1-3% số cây; Bệnh sâu ăn lá,bệnh than hư, phấn trắng,cháy lá, khô cành, gây hại tỷ lệ hại nơi cao 6-8% số cây.1.3. Về chăn nuôi 1.3.1. Về số lượng đàn gia súc, gia cầmĐàn trâu 88.899 con, giảm 1,61% (giảm 1.457 con) so với cùng kỳ năm 2022; đàn bò 39.004 con, tăng 1,52% (tăng 584 con); đàn lợn 564.364 con, tăng 1,45% (tăng 8.066 con); đàn gia cầm 7.067 nghìn con, tăng 3,48% (tăng 237.42 nghìn con).1.3.2. Về sản phẩm đàn gia súc, gia cầmĐàn trâu sản lượng thịt hơi xuất chuồng ước đạt 653 tấn, tăng 5,24% (tăng 32,53 tấn) so với cùng kỳ năm 2022; đàn bò đạt 110 tấn, tăng 6,33% (tăng 6,53 tấn); đàn lợn đạt 4.918 tấn, tăng 3,51% (tăng 166,8 tấn); đàn gia cầm 1.590 tấn, tăng 6,42% (tăng 95,94 tấn).Đánh giá chung, tình hình chăn nuôi trong tháng trên địa bàn tỉnh cơ bản ổn định, thời tiết tương đối thuận lợi, đàn vật nuôi phát triển tốt do tình hình dịch bệnh được kiểm soát, đàn gia súc, gia cầm vẫn ở mức ổn định, đảm bảo nguồn cung cho thị trường, giá thịt lợn hơi trong tháng có xu hướng tăng nhẹ và giữ ổn định, đây là động lực quan trọng để các cơ sở chăn nuôi đẩy mạnh tái đàn, đáp ứng nhu cầu hiện tại và chuẩn bị cho nguồn cung các dịp lễ, Tết sắp tới. Tuy nhiên, giá nguyên liệu đầu vào (thức ăn chăn nuôi, các chi phí khác…) vẫn còn ở mức cao, nhưng giá xuất bán sản phẩm đầu ra không ổn định, lợi nhuận của người chăn nuôi bị giảm mạnh, đã tác động đến tình hình chăn nuôi của tỉnh. 1.4. Công tác phòng chống dịch bệnh gia súc, gia cầm trong tháng1.4.1. Công tác phòng chống và điều trị bệnh - Bệnh Dịch tả lợn Châu Phi: Trong tháng, trên địa bàn tỉnh không có phát sinh ổ dịch mới.- Các huyện, thành phố trong toàn tỉnh đã xuất hiện rải rác các bệnh Tụ huyết trùng; ký sinh trùng, chướng bụng đầy hơi, sán lá gan (đàn trâu,bò,tiêu chảy, lép tô, phân trắng lợn con (đàn lợn); Niucatson, THT, cầu trùng…(đối với đàn gia cầm),đã được nhân viên thú y phát hiện, điều trị khỏi: 746/771 con, trong đó: Trâu, bò: 47/47 con; đàn lợn 687 con mắc bệnh, chữa khỏi 662 con, chết 25 con.1.4.2. Công tác tiêm phòng: Các huyện, thành phố trong tỉnh đã đã kết thúc lịch tiêm phòng vụ xuân hè.1.5. Công tác kiểm dịch vận chuyển và công tác kiểm soát giết mổ- Kiểm dịch vận chuyển ngoại tỉnh: Đã kiểm tra và cấp trên 199 giấy chứng nhận kiểm dịch vận chuyển, trong đó: 46 chuyến vận chuyển 8.601 con gia súc, gia cầm; 46 chuyến vận chuyển 5.200 con gia súc nuôi thương phẩm và 153 chuyến vận chuyển 2.865.000 kg nguyên liệu sữa tươi. - Các Trạm Kiểm dịch động vật: Đã duy trì thực hiện kiểm tra trên 142 lượt phương tiện vận chuyển đủ thủ tục (55 chuyến vận chuyển 8.694 con gia súc, 84 chuyến vận chuyển 72.510 con gia cầm, 03 chuyến vận chuyển 26.924 kg sản phẩm động vật). - Kiểm soát giết mổ và kiểm tra vệ sinh thú y: Trung tâm Dịch vụ nông nghiệp các huyện, thành phố duy trì công tác kiểm soát giết mổ trên địa bàn, đã kiểm tra, đóng dấu cho trên 134 con trâu, bò; 5.199 con lợn.1.4. Về sản xuất lâm nghiệp 1.4.1. Công tác trồng rừngTrong tháng, toàn tỉnh đã trồng được 718 ha rừng trồng tập trung, tăng 210,11% so cùng kỳ (nguyên nhân chủ yếu do điều kiện thời tiết thuận lợi, mưa nhiều tiến độ trồng rừng trong tháng tăng cao so với cùng kỳ).1.4.2. Khai thác gỗ rừng trồngTrong tháng, dự ước toàn tỉnh khai thác được trên 106.872 m3 gỗ¬, tăng 1,19% so với cùng kỳ. Sản lượng khai thác chủ yếu là gỗ rừng trồng nguyên liệu (Do diện tích rừng đến tuổi khai thác tăng, các chủ rừng đẩy nhanh tiến độ khai thác, đảm bảo cung ứng sản lượng gỗ phục vụ thị trường tiêu thụ). 1.4.3. Công tác quản lý bảo vệ rừngHiện nay, tình trạng nắng nóng kéo dài thời gian qua cộng với thời tiết khô hanh, nhiều diện tích rừng trên địa bàn tỉnh có nguy cơ cháy rất cao, đặc biệt là ở một số huyện trọng điểm về cháy rừng. Để chủ động phòng cháy, chữa cháy rừng mùa hanh khô, ngành chức năng và các địa phương cùng các chủ rừng đang tăng cường lực lượng bám nắm địa bàn, thường xuyên tuần tra, kiểm tra tại các khu vực có nguy cơ cháy cao, các khu vực đông người qua lại; sẵn sàng phương châm "bốn tại chỗ" khi có cháy rừng xảy ra, nhằm hạn chế tối đa thiệt hại về người và tài sản.Trong tháng, trên địa bàn toàn tỉnh xảy ra 02 vụ cháy rừng với diện tích rừng bị cháy 3,8 ha; số vụ chặt phá rừng 7 vụ, diện tích rừng bị chặt phá 0,51 ha. Đã xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng, đã kiểm tra, phát hiện và xử lý tịch thu 9,856 m3 gỗ các loại; phạt hành chính và bán thanh lý tài sản 91,69 triệu đồng (đã thu nộp ngân sách 36,5 triệu đồng).2. Sản xuất công nghiệp        2.1. Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP)Chỉ số sản xuất công nghiệp trong tháng tăng 4,64% so với tháng trước, giảm 4,52% so với cùng kỳ, cụ thể như sau: Ngành khai khoáng tăng 6,68%, giảm 6,68%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 2,15%, giảm 2,04%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí tăng 17,71%, giảm 13,97%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải giảm 0,84%, giảm 8,55%.Một số ngành công nghiệp cấp II có chỉ số sản xuất tăng so với tháng trước, tăng so với cùng kỳ, cụ thể như sau: Sản xuất chế biến thực phẩm tăng 9,91%, tăng 22,48%; kim loại tăng 32,79%, tăng 0,83%; sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 1,25%, tăng 9,8%; giường, tủ, bàn, ghế tăng 14,99%, tăng 73,76%,… Tuy nhiên, cũng có chỉ số sản xuất giảm so với tháng trước và so với cùng kỳ như: Sản xuất trang phục giảm 20,21%, giảm 24,9%; da và các sản phẩm có liên quan giảm 18,02%, giảm 28,93%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế) giảm 1,58%, giảm 2,84%; sản phẩm từ cao su và plastic giảm 23,86%, giảm 51,23%,,...- Tính chung trong 8 tháng, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 3,06% so với cùng kỳ năm trước, chia theo từng ngành kinh tế cấp I như sau:+ Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 11,55%, nguyên nhân do một số ngành chế biến tăng như: Sản xuất chế biến thực phẩm tăng 19,28%; da và các sản phẩm có liên quan tăng 45,47%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa tăng 21,2%; sản phẩm từ cao su và plastic tăng 73,32%; giấy và sản phẩm từ giấy tăng 10,71%; sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 10,36%; sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 5,88%,...+ Ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 6,45%, nguyên nhân: Do nhu cầu sử dụng nước sinh hoạt và sản xuất kinh doanh của hộ gia đình và doanh nghiệp ngày càng tăng.+ Ngành khai khoáng giảm 5,77%. Nguyên nhân từ đầu năm đến nay, sản lượng khai thác khoáng hóa chất và khoáng phân bón giảm so với cùng kỳ. Do lượng hàng tồn kho còn nhiều, trong khi đó nhu cầu tiêu thụ ở mức thấp dẫn đến sản lượng của một số công ty khai thác giảm so với cùng kỳ.+ Ngành sản xuất và phân phối điện giảm 34,71%, do thời tiết khô hạn kéo dài, lưu lượng nước về hồ thuỷ điện rất thấp, tại các hồ thủy điện nước chủ yếu để tích trữ phục vụ tưới cho cây trồng, nên sản lượng điện từ nhà máy thủy điện giảm sâu làm tổng lượng điện sản xuất giảm 38,25% so cùng kỳ. 2.2. Sản phẩm công nghiệp chủ yếu Trong tháng, một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng so với tháng cùng kỳ năm trước như: Điện thương phẩm đạt 117 triệu Kwh, tăng 4,42%; điện sản xuất đạt 197 triệu Kwh, tăng 41,73%; bột ba rít đạt 5.000 tấn, tăng 400%; xi măng đạt 125.000 tấn, tăng 29,26%; giầy da đạt 1.000 nghìn đôi, tăng 37,24%; gỗ tinh chế đạt 3.908 m3, tăng 14,96%; thép cây, thép cuộn đạt 24.207 tấn, tăng 58,24%,.... Tuy nhiên, cũng có một số sản phẩm công nghiệp giảm so với tháng cùng kỳ như: Bột Felspat nghiền đạt 16.500 tấn, giảm 38,82%; bột giấy đạt 8.635 tấn, giảm 2,59%; nước máy thương phẩm đạt 660 nghìn m3, giảm 7,81%; hàng may mặc xuất khẩu đạt 1.313 nghìn sản phẩm, giảm 36,18%,… Tính chung trong 8 tháng, một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu của tỉnh tăng khá so với cùng kỳ năm trước: Điện thương phẩm tăng 4,01%; bột ba rít tăng 101,17%; giấy đế xuất khẩu tăng 23,64%; nước máy thương phẩm tăng 3,51%; giấy in viết, photo thành phẩm tăng 15,39%; giầy da tăng 11,79%; gỗ tinh chế tăng 7,81%; thép cây, thép cuộn đạt tăng 11,43%,… Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu giảm so với cùng kỳ năm trước như: Điện sản xuất giảm 38,25%; đường kính giảm 18,35%; chè chế biến giảm 4,69%; xi măng giảm 20,84%; hàng may mặc xuất khẩu giảm 32,12%,... Đánh giá chung, tình hình sản xuất công nghiệp tỉnh tiếp tục xu hướng phục hồi và duy trì đà tăng trưởng tháng sau tích cực hơn tháng trước; triển khai đôn đốc, đẩy nhanh tiến độ triển khai thực hiện các công trình, sớm hoàn thành, đưa các dự án vào sản xuất, kinh doanh; xử lý dứt điểm các dự án chậm tiến độ kéo dài, không có khả năng thực hiện. Nắm chắc tình hình, chủ động tháo gỡ kịp thời những khó khăn, vướng mắc cho các cơ sở sản xuất, kinh doanh,....triển khai các hoạt động xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm và tăng quy mô sản xuất, được triển khai mạnh mẽ nên sản xuất công nghiệp đã có những tín hiệu tích cực. Tuy nhiên, đối với các nhóm hàng chủ lực của tỉnh như: May mặc xuất khẩu, gỗ, bột giấy,… còn gặp nhiều khó khăn do thiếu đơn hàng, trong khi đó giá nguyên, nhiên liệu, chi phí logistics, lãi vay mặc dù đang giảm dần nhưng còn ở mức cao đã tác động đến chi phí sản xuất của doanh nghiệp. Một số doanh nghiệp đã phải cắt giảm nhân công do sản lượng và số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu mới giảm.3. Kết quả thu ngân sách nhà nước trong tháng 3.1. Kết quả thu ngân sách- Tổng thu nội địa trong tháng 8 ước thực hiện là 210 tỷ đồng, lũy kế đạt 1.504,6 tỷ đồng, đạt 47,6% dự toán, giảm 10,2% so với cùng kỳ.- Số thu nội địa trừ tiền sử dụng đất và xổ số ước thực hiện là 144,3 tỷ đồng, lũy kế đạt 1.208,1 tỷ đồng, đạt 48,2% dự toán, giảm 7,1% so với cùng kỳ.3.2. Các nguyên nhân ảnh hưởng đến kết quả thu 3.2.1. Tăng thu- Ngành thuế đã tích cực đôn đốc các khoản thu từ khu vực kinh tế ngoài quốc doanh ước thực hiện là 46,3 tỷ đồng, tăng 8,2 tỷ đồng so với cùng kỳ. - Một số khoản thu tăng so với cùng kỳ như: Thu tiền sử dụng đất ước thực hiện là 64 tỷ đồng, tăng 47,4 tỷ đồng; thuế bảo vệ môi trường ước thực hiện 22 tỷ đồng, tăng 9,4 tỷ đồng; thu lệ phí trước bạ ước thực hiện 13 tỷ đồng, tăng 2,2 tỷ đồng,…3.2.2. Giảm thuThu từ khu vực DNNN do Trung ương quản lý ước thực hiện là 27 tỷ đồng, giảm 2,2 tỷ đồng so với cùng kỳ. Nguyên nhân: Sản lượng điện kê khai nộp thuế của Công ty Thủy điện Tuyên Quang - Chi nhánh tập đoàn điện lực Việt Nam giảm 65,7 triệu kwh so với cùng kỳ, số nộp NSNN giảm 4,3 tỷ đồng.4. Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý 4.1. Tình hình thực hiện Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước- Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước thực hiện tháng 8 đạt 424 tỷ đồng, tăng 6,45% so với tháng trước, tăng 28,09% so với cùng kỳ, trong đó: Vốn ngân sách cấp tỉnh đạt 371 tỷ đồng, tăng 5,95%, tăng 29,99%; vốn ngân sách cấp huyện đạt 50 tỷ đồng, tăng 8,44%, tăng 16,74%; vốn ngân sách cấp xã đạt 3 tỷ đồng, tăng 48,74%, tăng 7,31%.- Tính chung, trong 8 tháng nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 2.272 tỷ đồng, đạt 43,02% kế hoạch, tăng 32,94% so với cùng kỳ. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 2.004 tỷ đồng, đạt 43,54%, tăng 33,1%; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện đạt 248 tỷ đồng, đạt 39,35%, tăng 34,37%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã đạt 19 tỷ đồng, đạt 41,39%, tăng 5,04%.4.2. Về giải ngân vốn đầu tư côngNăm 2023, Tuyên Quang được giao tổng kế hoạch vốn đầu tư công là 6.954,57 tỷ đồng, trong đó vốn năm 2022 kéo dài sang năm 2023 là 1.302,89 tỷ đồng; vốn được phân bổ, giao theo kế hoạch năm 2023 là 5.651,68 tỷ đồng. Tính đến ngày 18/8/2023, tổng số vốn vốn đầu tư công đã giải ngân được là trên 1.584,29 tỷ đồng, đạt 22,78% kế hoạch, trong đó: Nguồn vốn kế hoạch năm 2023 giải ngân được 1.113,7 tỷ đồng, đạt 20%; nguồn vốn năm 2022 kéo dài thời gian thực hiện và giải ngân sang năm 2023 giải ngân được 470,59 tỷ đồng, đạt 36,12%.Tỉnh đã tập trung tháo gỡ, giải quyết các khó khăn, vướng mắc cho từng công trình dự án. Chỉ đạo hoàn thành công tác chuẩn bị đầu tư các công trình, dự án khởi công năm mới năm 2023 trong tháng 8/2023; chậm nhất trong tháng 9/2023 phải hoàn thành lựa chọn nhà thầu thi công các công trình trong kế hoạch năm 2023. Tiếp tục đẩy nhanh tiến độ xây dựng và tiến độ giải ngân kế hoạch các công trình, dự án trọng điểm của tỉnh, nguồn vốn thuộc Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội và các chương trình mục tiêu Quốc gia,…5. Hoạt động thương mại, dịch vụ, giá cả và tình hình xuất, nhập khẩu hàng hóa trong thángThị trường các mặt hàng thiết yếu trong tháng 8 và 8 tháng không có biến động bất thường. Nguồn cung hàng hóa, nhất là các mặt hàng lương thực, thực phẩm, nguyên nhiên liệu thiết yếu phục vụ sản xuất (xăng dầu, phân bón, thức ăn chăn nuôi…) luôn được bảo đảm, đáp ứng tốt nhu cầu phục vụ sản xuất của doanh nghiệp và đời sống của người dân. Do ảnh hưởng của giá thế giới nên một số mặt hàng có xu hướng giảm giá như: thép xây dựng, khí hóa lỏng LPG; một số mặt hàng tăng giá như: đường, gạo; mặt hàng xăng dầu, thịt lợn có xu hướng tăng, giảm đan xen; mặt hàng phân bón, giá tương đối ổn định. Đây cũng là tháng cao điểm của mùa du lịch hè nên hoạt động thương mại dịch vụ sôi động, doanh thu các ngành tăng, nhất là doanh thu du lịch lữ hành.Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 8 ước đạt 2.494 tỷ đồng, tăng 0,45% so với tháng trước, tăng 9,04% so với cùng kỳ. Tính chung trong 8 tháng, tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước ước đạt 18.352 tỷ đồng, tăng 20,77% so với cùng kỳ.5.1. Doanh thu bán lẻ hàng hóa Doanh thu bán lẻ hàng hóa trong tháng 8 ước đạt 2.215 tỷ đồng, tăng 0,39% so với tháng trước, tăng 10,2% so với cùng kỳ. Trong đó, một số nhóm hàng hóa một số nhóm hàng tăng so với tháng trước, tăng so với cùng kỳ, cụ thể như sau: Đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình tăng 0,06%, tăng 11,16%; phương tiện đi lại, trừ ô tô con (kể cả phụ tùng) tăng 0,74%, tăng 45,78%; hàng hoá khác tăng 0,74%, tăng 45,78%; hàng hoá khác tăng 3,55%, tăng 18,53%,…Tuy nhiên, cũng có một số nhóm hàng giảm so với tháng trước và so với cùng kỳ cùng kỳ như: Lương thực, thực phẩm giảm 1,24%, tăng 26,63%; hàng may mặc giảm 0,31%, tăng 26,83%; gỗ và vật liệu xây dựng, giảm 0,48%, giảm 12,37%; nhiên liệu khác (trừ xăng dầu) giảm 2,72%, giảm 5,98%,…Tính chung trong 8 tháng, tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 16.211 tỷ đồng, tăng 19,17% so với cùng kỳ.5.2. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ khác- Trong tháng, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 187 tỷ đồng, tăng 0,89% so với tháng trước, tăng 7% so với cùng kỳ. Trong đó: Doanh thu dịch vụ lưu trú đạt 18 tỷ đồng, tăng 1,18%, tăng 17,59%; dịch vụ ăn uống đạt 169 tỷ đồng, tăng 0,86%, tăng 6%. Tính chung trong 8 tháng, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 1.478 tỷ đồng, tăng 32,8%.- Doanh thu du lịch lữ hành trong tháng ước đạt 0,32 tỷ đồng, tăng 8,47% so với tháng trước, giảm 22,89% so với cùng kỳ. Tính chung trong 8 tháng doanh thu du lịch lữ hành ước đạt 2 tỷ đồng, tăng 33,25%.- Doanh thu nhóm dịch vụ khác trong tháng ước đạt 91 tỷ đồng, tăng 1,04% so với tháng trước, tăng 16,88% so với cùng kỳ. Trong đó: Dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ đạt 18 tỷ đồng, tăng 1,71%, tăng 28,3%; dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí đạt 23 tỷ đồng, tăng 11,46%, tăng 64,37%,…. Tuy nhiên, cũng có một số nhóm hàng tăng so với tháng trước và giảm so với cùng kỳ cùng kỳ như: Dịch vụ kinh doanh bất động sản tăng 6,95%, giảm 22,71%; giáo dục và đào tạo đạt 3 tỷ đồng, tăng 0,45%, giảm 18,33%; y tế và hoạt động trợ giúp xã hội đạt 3 tỷ đồng, giảm 2,59%, giảm 0,79%; sửa chữa máy vi tính, đồ dùng cá nhân và gia đình giảm 3,33%, giảm 12,65%,... Tính chung trong 8 tháng, doanh thu dịch vụ khác ước đạt 661 tỷ đồng, tăng 38,42%.5.3. Giá cả- Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trong tháng tăng 5,09% so với cùng kỳ năm trước, tăng 3,3% so với tháng 12 năm trước và tăng 0,87% so với tháng trước. Tính chung trong 8 tháng, CPI bình quân tăng 4,48% so với cùng kỳ.- Trong tháng có 7/11 nhóm hàng có chỉ số CPI tăng so với tháng trước, trong đó: Nhóm giao thông là nhóm có mức tăng cao nhất với mức tăng 2,16% là do giá xăng, dầu điều chỉnh tăng tại các kỳ điều hành giá của Tập đoàn xăng dầu Việt Nam về mức giá bán lẻ xăng, dầu (xăng tăng 9,98%, dầu diesel tăng 15,89%); hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,59%. Trong đó, lương thực tăng nhẹ 0,97%; thực phẩm tăng 1,93% do giá lợn hơi có xu hướng tăng do nhu cầu tiêu thụ thịt lợn trong mùa du lịch bắt đầu; ăn uống ngoài gia đình tăng 0,25%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 1,29%, do giá gas trong nước tăng trở lại do giá gas thế giới tăng cao; thuốc và dịch vụ y tế tăng nhẹ 0,06%; bưu chính viễn thông tăng 0,12%; giáo dục tăng 0,53%.Có 04 nhóm hàng giảm giá là nhóm đồ uống và thuốc lá giảm 1,76%, do giá các loại rượu và nước giải khát tăng lực giảm do nhu cầu tiêu thụ của người dân giảm; may mặc, mũ nón, giày dép giảm 0,25% do nhu cầu mua sắm các loại vải và quần áo may sẵn của người dân giảm; thiết bị và đồ dùng gia đình giảm nhẹ 0,19%; văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,61%.- Chỉ số giá vàng tăng 6,7% so với cùng kỳ năm trước, tăng 5,18% so với tháng 12 năm trước, tăng 0,66% so với tháng trước. Tính chung trong 8 tháng, giảm 0,28% so với cùng kỳ.- Chỉ số giá đô la Mỹ tăng 1,76% so với cùng kỳ năm trước, tăng 0,13% so với tháng 12 năm trước, tăng 0,52% so với tháng trước. Tính chung trong 8 tháng, tăng 2,5% so với cùng kỳ.5.4. Tình hình xuất, nhập khẩu hàng hóa Trong tháng, kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa ước đạt 19 triệu USD, giảm 11,27% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung trong 8 tháng, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa ước đạt 154,25 triệu USD, đạt 64,27% kế hoạch, giảm 15,54% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, xuất khẩu ước đạt 95,55 triệu USD, đạt 63,7%, giảm 20,86%, nhập khẩu ước đạt 58,7 triệu USD, đạt 65,22%, giảm 5,18%, cụ thể như sau:- Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa trong tháng ước đạt 12 triệu USD, giảm 18,44% so với cùng kỳ, một số mặt hàng xuất khẩu chủ yếu tăng so với tháng cùng kỳ như: Chè xuất khẩu ước đạt 445 tấn, tăng 300,9%; giấy đế xuất khẩu đạt 300 tấn, tăng 4,17%; bột giấy đạt 330 tấn, tăng 9,35%; hàng dệt, may đạt 1.220 nghìn sản phẩm, tăng 18,45%; antimony thỏi đạt 38 tấn, tăng 137,7%; đũa gỗ xuất khẩu đạt 2.600 nghìn đôi, tăng 28,08%,… Một số nhóm hàng có kim ngạch xuất khẩu giảm so với cùng kỳ: Bột barit đạt 2.000 tấn, giảm 32,21%; phong bì đạt 250 nghìn sản phẩm, giảm 1,64%,…. Tính chung trong 8 tháng, một số nhóm hàng xuất khẩu đạt mức tăng trưởng cao so với cùng kỳ như: Chè xuất khẩu tăng 317,79%; bột barit tăng 92,58%; đũa gỗ xuất khẩu tăng 10,33%; phong bì tăng 8,97%; atimony thỏi, tăng 192,94%,…Một số nhóm hàng có kim ngạch xuất khẩu giảm so với cùng kỳ: Hàng dệt, may giảm 28,43%; giấy đế xuất khẩu giảm 12,95%; bột giấy giảm 69,62%; giấy in viết, photo thành phẩm giảm 93,42%,… - Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa trong tháng ước đạt 7 triệu USD, tăng 4,48% so tháng cùng kỳ. Nhìn chung, Mặc dù tình hình xuất, nhập khẩu trong tháng đã có những tín hiệu tích cực, tuy nhiên do những khó khăn về thị trường xuất khẩu chủ lực bị thu hẹp, thiếu đơn hàng xuất khẩu mới , cùng với đó là áp lực cạnh tranh và sự gia tăng các rào cản kỹ thuật tại các thị trường xuất khẩu nên kim ngạch xuất, nhập khẩu các mặt hàng chủ lực của tỉnh đều đạt thấp so với cùng kỳ. Nguyên nhân chủ yếu kinh tế thế giới hồi phục chậm, nhất là tại một số thị trường truyền thống tiêu thụ lớn các mặt hàng như: Dệt may, da giày, đồ gỗ nhu cầu nhập khẩu giảm trong khi đó giá các mặt hàng nhập khẩu nguyên, nhiên, vật liệu tăng, thị trường trong nước sức mua không lớn, chi phí đầu vào vẫn ở mức cao đã tác động đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, tình hình việc làm và đời sống của người lao động.6. Vận tải hàng hóa và hành khách Hoạt động vận tải ghi nhận sự phục hồi khá tích cực, do sản xuất, kinh doanh đã phục hồi trở lại, nhu cầu đi du lịch, lễ hội và vận chuyển hàng hóa của người dân tăng khá. Các đơn vị vận tải đã tăng cường các phương tiện, phục vụ nhu cầu đi lại của người dân. Ngoài ra, ngành chức năng đã chú trọng, tăng cường xử lý các hành vi vi phạm quy định pháp luật về bảo đảm trật tự, an toàn giao thông, vi phạm nồng độ cồn, chở quá khổ, quá tải, quá số người quy định, phương tiện không bảo đảm an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường...6.1. Doanh thu vận tải tải kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải - Doanh thu vận tải tháng 8 ước đạt 298 tỷ đồng, tăng 0,27% so với tháng trước, tăng 9,53% so với cùng kỳ. Trong đó, doanh thu vận tải hành khách ước đạt 52 tỷ đồng, giảm 1,31%, tăng 11,85%; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 245 tỷ đồng, tăng 0,62%, tăng 7,91%; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 0,28 tỷ đồng, giảm 7,61%, tăng 6,41%,…- Tính chung trong 8 tháng, doanh thu vận tải kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 2.334 tỷ đồng, tăng 25,75% so với cùng kỳ. Trong đó: Doanh thu vận tải hành khách đạt 408 tỷ đồng, tăng 31,75%; doanh thu vận tải hàng hóa đạt 1.921 tỷ đồng, tăng 24,5%; dịch vụ hỗ trợ vận tải kho bãi đạt 3 tỷ đồng, tăng 46,31%,… 6.2. Vận tải hành khách và hàng hóa- Khối lượng hành khách vận chuyển ước đạt 1 triệu lượt hành khách, giảm 1,03% so với tháng trước, tăng 30,14% so với cùng kỳ; khối lượng hành khách luân chuyển ước đạt 67 triệu lượt hành khách.km, giảm 0,77%, tăng 18,52%. Tính chung trong 8 tháng, khối lượng hành khách vận chuyển ước đạt 8 triệu lượt hành khách, tăng 47,26% so với cùng kỳ; khối lượng hành khách luân chuyển ước đạt 530 triệu lượt hành khách.km, tăng 16,87%.- Khối lượng hàng hóa vận chuyển ước đạt 2 triệu tấn, tăng 1,2% so với tháng trước, tăng 12,97% so với cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 100 triệu tấn.km, tăng 2,06%, tăng 3,69%. Tính chung trong 8 tháng, khối lượng hàng hóa vận chuyển ước đạt 13 triệu tấn, tăng 23,44% so với cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 813 triệu tấn.km, tăng 18,58%.7. Về du lịch Tiếp tục triển khai các bước thực hiện quảng bá văn hóa và du lịch tỉnh Tuyên Quang trên nhãn tem và phong bì phổ thông và truyền thông Poster tại các điểm bưu cục, bưu điện văn hóa xã tại các huyện, thành phố; triển khai thực hiện Đề án “Xây dựng hệ thống Du lịch thông minh” tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 2019-2020, tầm nhìn đến 2025”; đẩy mạnh công tác tuyên truyền xúc tiến quảng bá du lịch trên trang: https://mytuyenquang.vn.Trong tháng, các khu, điểm du lịch trên địa bàn tỉnh đã thu hút 62.500 lượt khách du lịch; tổng thu từ khách du lịch đạt 70 tỷ đồng (nâng tổng số 8 tháng năm 2023, thu hút được 1.961.000 lượt khách du lịch đạt 78% kế hoạch, tăng 15% so với cùng kỳ; tổng thu từ khách du lịch đạt 2.242 tỷ đồng, đạt 75% kế hoạch, tăng 33% so với cùng kỳ).II. LĨNH VỰC VĂN HÓA - XÃ HỘI 1. Công tác lao động, việc làm, giáo dục nghề nghiệpTỉnh đã triển khai nhiều giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác tạo việc làm cho người lao động bằng nhiều hình thức như: Khuyến khích tạo việc làm tại chỗ bằng việc hỗ trợ các điều kiện để người dân phát triển sản xuất, chăn nuôi, kinh doanh dịch vụ; phát triển du lịch gắn với các lễ hội và nghỉ dưỡng; chú trọng nâng cao trình độ, tay nghề cho người lao động, từng bước gắn với nhu cầu của thị trường lao động trong và ngoài nước; tăng cường liên kết, đẩy mạnh xuất khẩu lao động, góp phần giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập và đời sống cho người dân.Trong tháng, toàn tỉnh đã tạo việc làm mới cho 1.152 lao động; ước thực hiện 8 tháng 2023 có 18.406 lượt lao động được tạo việc làm, đạt 82,9% kế hoạch, tăng 3,9% so với cùng kỳ năm 2022. Trong đó: Lao động làm việc trong các ngành kinh tế tại tỉnh là 11.251 người; lao động đi làm việc các tỉnh, thành phố 6.382 người; lao động đi làm việc nước ngoài theo hợp đồng 773 người.Thực hiện kịp thời, đúng quy định các chế độ, chính sách bảo hiểm thất nghiệp đối với người lao động. Duy trì thực hiện công tác công tác quản lý người lao động là người nước ngoài đang làm việc tại các đơn vị, doanh nghiệp sử dụng lao động là người nước ngoài trên địa bàn tỉnh.2. Công tác đảm bảo chế độ người có công với cách mạng, bảo trợ, an sinh xã hội và phòng chống các tệ nạn - Duy trì thực hiện đầy đủ, kịp thời các chế độ, chính sách đối với người có công với cách mạng và thân nhân người có công; đẩy mạnh thực hiện các phong trào, hoạt động "đền ơn, đáp nghĩa", "uống nước nhớ nguồn". Tiếp tục thực hiện tốt các chính sách trợ giúp xã hội, thường xuyên rà soát năm chắc tình hình đời sống nhân dân, kịp thời hỗ trợ các hộ gia đình, cá nhân gặp khó khăn do tai nạn rủi ro; duy trì chi trả trợ cấp thường xuyên cho trên 38.000 đối tượng bảo trợ xã hội với kinh phí trợ cấp xã hội hàng tháng trên 20 tỷ đồng.Trong tháng, Cơ sở cai nghiện ma tuý tỉnh đã tiếp nhận 21 học viên (Cai nghiện bắt buộc); cấp giấy chứng nhận hoàn thành cai nghiện cho 7 học viên. Luỹ kế từ đầu năm đến nay Cơ sở cai nghiện ma tuý tỉnh đã tiếp nhận nhận 78 học viên (Cai nghiện bắt buộc 74 học viên, cai nghiện tự nguyện 04 học viên); cấp giấy chứng nhận hoàn thành cai nghiện cho 49 học viên; thanh lý hợp đồng cai nghiện tự nguyên 02 học viên. Tại thời điểm báo cáo Cơ sở đang quản lý 166 học viên (có mặt 160 học viên; trốn cai 06 học viên).3. Hoạt động giáo dục và đào tạo- Trong tháng, các trường học trên địa bàn tỉnh đã tích cực chuẩn bị sẵn sàng các điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học rất quan trọng, đặc biệt là chuẩn bị về sách giáo khoa cho năm học mới với quyết tâm đạt kết quả cao nhất. Tỉnh cũng chỉ đạo các cơ sở giáo dục tiến hành rà soát số lượng học sinh, nhu cầu về sách giáo khoa trên địa bàn tỉnh, tuyệt đối không để xảy ra tình trạng chậm, thiếu sách hoặc tăng giá bất hợp lý trước khai giảng năm học mới, có phương án hỗ trợ sách giáo khoa cho các đối tượng học sinh hộ nghèo, cận nghèo, học sinh thuộc đối tượng chính sách, học sinh có hoàn cảnh khó khăn, yếu thế, vùng sâu, vùng xa, đồng bào dân tộc thiểu số, bảo đảm đầy đủ, thuận lợi trước thềm năm học mới.- Tỉnh cũng đã chú trọng công tác bồi dưỡng, nâng cao chất lượng cán bộ, giáo viên trên địa bàn, nhất là trong dịp hè đã tạo môi trường học tập, bồi dưỡng thiết thực nâng cao trình độ kiến thức cho nhiều giáo viên các bậc học, đặc biệt là tập huấn cho giáo viên về Chương trình Giáo dục phổ thông năm 2018. Từ đó giúp cán bộ quản lý, giáo viên nâng cao trình độ, đáp ứng yêu cầu dạy học trong tình hình mới.4. Hoạt động y tế - Tỉnh tiếp tục thực hiện nghiêm các chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trong công tác phòng chống dịch Covid-19 và các dịch bệnh truyền nhiễm khác; tăng cường theo dõi, bám sát tình hình dịch bệnh và tổ chức triển khai hiệu quả các biện pháp phòng, chống dịch; chỉ đạo, kiểm tra, giám sát công tác phòng, chống dịch đảm bảo chủ động, sẵn sàng và kịp thời ứng phó với các diễn biến có thể xảy ra của dịch bệnh. - Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn toàn tỉnh đã ghi nhận 1.561 ca mắc Covid-19, hiện đang điều trị là 11 người tại cơ sở y tế và tại nhà.- Về tình hình tiêm chủng vắc xin Covid-19 tính đến 16h ngày 19/8/2023: Tổng số cộng dồn tiêm tại tỉnh từ đợt 1 đến nay: 2.262.588 mũi tiêm; trong đó: mũi 01: 706.372 người; mũi 02: 695.987 người; mũi 03: 522.484 người; mũi 04: 258.545 người.+ Tiêm cho người từ 18 tuổi trở lên tỷ lệ tiêm mũi 1 là 100% (510.995 người còn 6.471 người chống chỉ định chưa tiêm); tiêm đủ 2 mũi là 99,7% (513.502 người); có 79.200 người được tiêm bổ sung để hoàn thành liều cơ bản; Tỷ lệ tiêm mũi 3 là 90,8% (461.431 người); hoàn thành tiêm mũi 04 cho đối tượng ưu tiên, số người được tiêm mũi 04 là258.545 người.+ Tiêm cho trẻ từ 12 đến dưới 18 tuổi: Tỷ lệ tiêm mũi 1 đạt trên 99,1% (77.991 trẻ; tiêm đủ 02 mũi đạt 100% (78.799 trẻ), tiêm mũi 3 là 77,6% (61.053 trẻ) tỷ lệ tiêm mũi 3 cao nhất là Yên Sơn (97,7%) thấp nhất là Sơn Dương (69,6%).+ Tiêm cho trẻ từ 05 đến dưới 12 tuổi: Tỷ lệ tiêm mũi 01 đạt 99,9% (117.386/117.461) các huyện, thành phố đạt trên 99%; tiêm 02 mũi là 88,3% (103.686 trẻ), hiện chưa có phản ứng phụ hoặc tai biến sẩy ra. 5. Hoạt động văn hoá - thể dục, thể thao- Lĩnh vực văn hoá: Tổ chức thành công Hội nghị truyền thông về Chương trình hợp tác phát triển du lịch “Qua những miền di sản Việt Bắc” lần thứ XIV và Lễ hội Thành Tuyên năm 2023. Đẩy nhanh tiến độ nghiên cứu, đề xuất xây dựng Làng văn hóa dân tộc cấp tỉnh. Tiếp tục đẩy mạnh phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” gắn với chương trình xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh được triển khai sâu rộng.- Về thể dục thể thao: Chuẩn bị các điều kiện tổ chức Giải Vật dân tộc tỉnh Tuyên Quang năm 2023 tại thành phố Tuyên Quang; giải cầu lông công nhân viên chức, lao động và lực lượng vũ trang tỉnh năm 2023; tham gia thi đấu Giải Vô địch các Câu lạc bộ Võ cổ truyền Quốc gia năm 2023 tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu,... Duy trì hoạt động 6 lớp đội tuyển năng khiếu với 30 vận động viên; 07 lớp đội tuyển trẻ với 68 vận động viên; 03 lớp đội tuyển tỉnh với 20 vận động viên tham gia tập luyện.6. Tình hình an toàn giao thông và phòng chống cháy, nổ6.1. Về an toàn giao thôngTỉnh tiếp tục tăng cường triển khai công tác đảm bảo trật tự, an toàn giao thông trong dịp nghỉ Lễ Quốc khánh 2/9 và tháng cao điểm an toàn giao thông cho học sinh đến trường; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát các xe ô tô đưa đón học sinh; xử lý nghiêm các hành vi vi phạm trật tự, an toàn giao thông, nhất là vi phạm về nồng độ cồn khi lái xe; vi phạm tốc độ, tránh, vượt sai quy định; vi phạm chở hàng quá tải trọng; không đội mũ bảo hiểm khi đi mô tô, xe máy, xe đạp điện; tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát trên các tuyến quốc lộ, đường tỉnh, đường huyện, khu vực trung tâm thành phố, trung tâm huyện, tuyến đường thường xảy ra tai nạn giao thông. Trong tháng, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 8 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 03 người và làm bị thương 06 người. So với tháng trước giảm 11,11% về số vụ tai nạn, giảm 14,29% về số người bị thương. So với cùng kỳ năm trước, giảm 20% số vụ, số người chết giữ nguyên, giảm 33,33% về số người bị thương.Tính chung trong 8 tháng, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 53 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 17 người và làm bị thương 40 người. So với cùng kỳ năm trước, giảm 1,85% số vụ tai nạn giao thông, số người chết giữ nguyên, giảm 14,89% về số người bị thương.6.2. Thiệt hại do thiên taiTrong tháng, do ảnh hưởng của các đợt mưa lớn kèm theo giông, lốc, sét và gió giật mạnh trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 3 đợt thiên tai (vào các đêm ngày 28/7; rạng sáng ngày 09/8 và đêm ngày 10/8) đã gây ra những thiệt hại về tài sản hòa màu của người dân, làm ảnh hưởng đến tình hình sản xuất và đời sống của nhân dân, cụ thể như sau: Thiệt hại về người: Không có.Thiệt hại về nhà ở: 71 nhà bị bị thiệt hại một phần từ 30% - 50%.Thiệt hại về nông nghiệp và công trình giao thông: Giông lốc đã làm 21,12 ha lúa bị ảnh hưởng, 21,27 ha ngô, rau màu bị thiệt hại, 1,50 ha cây ăn quả và 1,8 ha cây lâm nghiệp trên 2 năm tuổi bị thiệt hại; diện tích ao bị tràn bờ là 6,8 ha và thiệt hại 980 con gia cầm; giông, lốc đã gây sạt lở đường giao thông, đập tràn và công trình giao thông khiến việc đi lại của người dân gặp nhiều khó khăn. Ước giá trị thiệt hại trên 1.148,2 triệu đồng.6.3. Thiệt hại do cháy, nổTrong tháng trên địa bàn tỉnh không xảy ra vụ cháy, nổ nào.CỤC THỐNG KÊ TUYÊN QUANG

Tình hình kinh tế - xã hội tháng 7 năm 2023 tỉnh Tuyên Quang
  •   10/11/2025 22:00

I. PHÁT TRIỂN KINH TẾ  1. Về sản xuất nông nghiệp (tính đến ngày 15/7/2023)1.1. Trồng trọt 1.1.1. Sản xuất vụ mùa năm 2023Trong tháng, bà con nông dân tại các địa phương trong tỉnh đang tập trung nhân lực, máy móc đẩy nhanh tiến độ gieo cấy lúa vụ mùa trong khung thời vụ; ngành chức năng đã chủ động kết nối với các công ty giống cây trồng uy tín nhập nguồn giống, phân bón đảm bảo chất lượng về cung ứng cho bà con nông dân sản xuất. Đồng thời, tăng cường giám sát các hộ kinh doanh vật tư nông nghiệp trên địa bàn để đảm bảo chất lượng theo đúng danh mục phục vụ sản xuất, kiên quyết không để xảy ra tình trạng các cửa hàng, đại lý cung ứng vật tư nông nghiệp bán hàng giả, hàng kém chất lượng làm ảnh hưởng đến năng suất cây trồng. Chủ động hướng dẫn kỹ thuật gieo trồng, chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh, giúp người nông dân nâng cao tính chủ động trong quá trình sản xuất. Tính đến ngày 15/7/2023, toàn tỉnh đã gieo trồng được một số cây chủ yếu sau như sau: Cây lúa diện tích đã gieo cấy 22.705 ha, giảm 2,19% (giảm 508 ha) so với cùng kỳ, đạt 92,42% kế hoạch; trong đó: diện tích lúa lai 8.504 ha, giảm 2,54% (giảm 222 ha) đạt 94,26%, lúa thuần 14.201 ha, giảm 1,97% (giảm 286 ha) đạt 91,35%; cây ngô đã trồng 3.086 ha, tăng 58,25% (tăng 1.136 ha) đạt 65,8%; cây đậu tương 87 ha, tăng 81,84% (tăng 39 ha) đạt 29,5%; cây lạc 772 ha, tăng 162,68% (tăng 478 ha) đạt 64,6%.1.1.2. Cây lâu năm- Diện tích cây chuối hiện có trên địa bàn tỉnh 2.232 ha, tăng 1,11% so với cùng kỳ năm trước, sản lượng ước đạt trên 9.742 tấn, tăng 2,76%; sản lượng chuối chủ yếu được tiêu thụ cho các thành phố lớn như Hà Nội, Bắc Ninh, Hưng Yên, Thanh Hóa và các địa phương khác trong cả nước,… cây vải 316,59 ha, sản lượng ước đạt 1.773 tấn, tăng 1,57%; cây xoài 204 ha, sản lượng đạt 907,62 tấn, tăng 2,76%; cây thanh long 303 ha, sản lượng 242,12 tấn, tăng 10,96%; cây nhãn 899 ha, sản lượng 1.813 tấn, tăng 0,71%; cây vải 317 ha, sản lượng 1.773 tấn tăng 3,11%. - Cây chè có 8.289 ha, sản lượng thu hoạch ước đạt 40.153 tấn, tăng 1,36% so với cùng kỳ.Đánh giá chung, là vụ sản xuất lúa quan trọng trong năm. Vì vậy, để sản xuất đạt kết quả tốt, ngành chức năng và chính quyền các cấp đã tập trung chỉ đạo sản xuất, đảm bảo theo kế hoạch đã đề ra, phấn đấu thắng lợi sản xuất vụ mùa. Tuy nhiên, thời tiết nắng nóng với cường độ cao và xảy ra trên diện rộng, nền nhiệt độ trung bình ghi được trong các đợt nắng nóng lên đến 37 - 38°C, có nơi trên 39 - 40°C, cao hơn trung bình nhiều năm 0,5 - 1,5°C, đã khiến nhiều diện tích đất sản xuất lúa bị khô hạn, thiếu nước, ảnh hưởng đến tiến độ gieo cấy và năng suất cây trồng.1.2. Tình hình sinh vật gây hại 1.2.1. Cây hàng năm vụ mùa- Cây lúa: Mạ mới gieo: Tập đoàn rầy gây hại rải rác 3-4 con/m2, cục bộ 15-20 con/m2; sâu đục thân 2 chấm, sâu quấn lá nhỏ lứa 5 gây hại rải rác. Trên cây lúa mới cấy: Ốc bươu vàng gây hại, mật độ trung bình 1-2con/m2, nơi cao 3-5 con/ m2, cục bộ 6-8 con/m2.- Cây ngô: Sâu keo mùa thu gây hại phổ biến 1-2 con/m2, nơi cao 3-4 con/m2.1.2.2. Cây lâu năm: Cây chè: Rầy xanh, nhện đỏ, bọ trĩ gây hại, tỉ lệ hại nơi cao 5-15% số búp. Cây có múi (quả non): Nhện đỏ tỷ lệ hại trung bình 3-5%, nơi cao 13-15% số lá, quả, nhện trắng, nhện rám vàng tỷ lệ hại trung bình 4,5%, nơi cao 7% số quả, bệnh sẹo gây hại, tỷ lệ hại trung bình 3,5%, nơi cao 5-10% số lá, quả, bệnh loét lá, bệnh thán thư, bệnh vàng lá thối rễ hại rải rác.1.2.3. Cây lâm nghiệp (vườn ươm - 1-5 tuổi): Bệnh chết héo gây hại rải rác trên cây keo 1-3 tuổi, nơi cao 1-3% số cây; Bệnh sâu ăn lá,bệnh than hư, phấn trắng,cháy lá, khô cành, gây hại tỷ lệ hại nơi cao 6-8% số cây.1.3. Về chăn nuôi 1.3.1. Về số lượng đàn gia súc, gia cầmĐàn trâu 90.124 con, giảm 0,26% (giảm 323 con) so với cùng kỳ năm 2022; đàn bò 39.646 con, tăng 3,19% (tăng 1.226 con); đàn lợn 562.448 con, tăng 1,11% (tăng 6.150 con); đàn gia cầm 7.023 nghìn con, tăng 2,83% (tăng 193,19 nghìn con).1.3.2. Về sản phẩm đàn gia súc, gia cầmĐàn trâu sản lượng thịt hơi xuất chuồng đạt 660 tấn, tăng 6,36% (tương ứng với 1.912 con xuất chuồng) so với cùng kỳ năm 2022; đàn bò đạt 135 tấn, tăng 6,24% (tương ứng với 560 con); đàn lợn đạt 4.935 tấn, tăng 5,1% (tương ứng với 64.311 con); đàn gia cầm 1.610 tấn, tăng 6,88% (tăng 103,6 tấn).Đánh giá chung, tình hình chăn nuôi trong tháng trên địa bàn tỉnh cơ bản ổn định, thời tiết tương đối thuận lợi, đàn vật nuôi phát triển tốt do tình hình dịch bệnh được kiểm soát, các sản phẩm chăn nuôi chủ yếu tăng khá so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, tình hình chăn nuôi lợn còn gặp khó khăn do giá nguyên liệu đầu vào (thức ăn chăn nuôi, các chi phí khác…) vẫn còn ở mức cao, nhưng giá xuất bán sản phẩm đầu ra không ổn định, lợi nhuận của người chăn nuôi bị giảm mạnh, nên nhiều hộ chăn nuôi nhỏ lẻ không thể bù lỗ nên đã phải dừng nuôi. 1.4. Công tác phòng chống dịch bệnh gia súc, gia cầm trong tháng1.4.1. Công tác phòng chống và điều trị bệnh - Bệnh Dịch tả lợn Châu Phi: Trong tháng, bệnh DTLCP đã tái phát rải rác trên địa bàn 01 thôn với 02 hộ trong 01 xã trong toàn tỉnh, tổng số lợn mắc bệnh buộc tiêu hủy là 03 con, tương đương 257 kg lợn hơi.- Các huyện, thành phố trong toàn tỉnh đã xuất hiện rải rác các bệnh Tụ huyết trùng; ký sinh trùng, chướng bụng đầy hơi, sán lá gan (đàn trâu,bò,tiêu chảy, lép tô, phân trắng lợn con (đàn lợn); Niucatson, THT, cầu trùng…(đối với đàn gia cầm),đã được nhân viên thú y phát hiện, điều trị khỏi: 826/855 con, trong đó: Trâu, bò: 98/98con; đàn lợn: 691/720 con.1.4.2. Công tác tiêm phòng: Các huyện, thành phố trong tỉnh tiếp tục thực hiện công tác tiêm phòng bổ sung cho đàn gia súc, gia cầm, kết quả tiêm phòng như sau: Đàn trâu LMLM: 51.367 con, THT: 54.116 con; đàn bò LMLM: 25.674 con, THT: 26.045 con; đàn lợn LMLM: 24.543 con, THT: 329.660 con, Dịch tả: 324.392 con.1.5. Công tác kiểm dịch vận chuyển và công tác kiểm soát giết mổ- Kiểm dịch vận chuyển ngoại tỉnh: Đã kiểm tra và cấp trên 254 giấy chứng nhận kiểm dịch vận chuyển, trong đó: 108 chuyến vận chuyển 42.653 con gia súc, gia cầm; 145 chuyến vận chuyển 2.745.000 kg nguyên liệu sữa tươi. - Các Trạm Kiểm dịch động vật: Đã duy trì thực hiện kiểm tra trên 123 lượt phương tiện vận chuyển đủ thủ tục (51 chuyến vận chuyển 4.201 con gia súc, 69 chuyến vận chuyển 63.910 con gia cầm, 03 chuyến vận chuyển 15.100 kg sản phẩm động vật). - Kiểm soát giết mổ và kiểm tra vệ sinh thú y: Trung tâm Dịch vụ nông nghiệp các huyện, thành phố duy trì công tác kiểm soát giết mổ trên địa bàn, đã kiểm tra, đóng dấu cho trên166 con trâu, bò; 5.229 con lợn.1.4. Về sản xuất lâm nghiệp 1.4.1. Công tác trồng rừngTrong tháng, toàn tỉnh đã trồng được 93 ha rừng trồng tập trung, giảm 89,71% so cùng kỳ (nguyên nhân chủ yếu do những diện tích trên mới được khai thác và đang trong quá trình chuẩn bị thực bì để trồng lại).Tiếp tục tuyên truyền, vận động nhân dân tích cực tham gia thực hiện kế hoạch trồng rừng năm 2023; ngành chức năng tăng cường công tác kiểm tra, kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm những trường hợp lấn chiếm, sử dụng đất lâm nghiệp sai mục đích trên địa bàn quản lý.1.4.2. Khai thác gỗ rừng trồngTrong tháng, dự ước toàn tỉnh khai thác được 99.016 m3 gỗ¬, tăng 2,35% so với cùng kỳ. Sản lượng khai thác chủ yếu là gỗ rừng trồng nguyên liệu.1.4.3. Công tác quản lý bảo vệ rừngHiện nay, tình trạng nắng nóng kéo dài thời gian qua cộng với thời tiết khô hanh, nhiều diện tích rừng trên địa bàn tỉnh có nguy cơ cháy rất cao, đặc biệt là ở một số huyện trọng điểm về cháy rừng. Để chủ động phòng cháy, chữa cháy rừng mùa hanh khô, ngành chức năng và các địa phương cùng các chủ rừng đang tăng cường lực lượng bám nắm địa bàn, thường xuyên tuần tra, kiểm tra tại các khu vực có nguy cơ cháy cao, các khu vực đông người qua lại; sẵn sàng phương châm "bốn tại chỗ" khi có cháy rừng xảy ra, nhằm hạn chế tối đa thiệt hại về người và tài sản.Đồng thời chủ động tuyên truyền, vận động nhân dân nâng cao ý thức khi sử dụng lửa, nhất là việc đốt thực bì, đốt ong trong rừng hoặc ven rừng, phát dọn đường băng cản lửa ở các khu vực rừng dễ cháy, có nguy cơ cháy cao và tăng cường tuần tra, kiểm soát nhằm giảm thiểu nguy cơ cháy rừng.Trong tháng, trên địa bàn toàn tỉnh xảy ra 02 vụ cháy rừng, diện tích bị cháy 0,42 ha; số vụ chặt phá rừng 5 vụ, diện tích rừng bị chặt phá 0,40 ha; đã kiểm tra, phát hiện và xử lý tịch thu 01 máy cưa xăng và 14,18 m3 gỗ các loại (trong đó gỗ quý hiếm là 2 m3); phạt hành chính và bán tang vật tịch thu trên 73,7 triệu đồng (đã thu nộp ngân sách nhà nước 62,7 triệu đồng).1.5. Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới- Trong tháng, xã Thái Bình (huyện Yên Sơn) được chọn xây dựng nông thôn mới thông minh. Đây cũng là xã đầu tiên của tỉnh được chọn để xây dựng mô hình nông thôn mới thông minh.  - Theo đánh giá của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn là cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, toàn tỉnh hiện còn 7 xã đạt ở nhóm mức thấp (chỉ đạt từ 7-9 tiêu chí/1 xã); tại những xã này, các tiêu chí quan trọng như: Giao thông, cơ sở vật chất văn hóa, nhà ở dân cư, thu nhập, nghèo đa chiều, lao động, môi trường và an toàn thực phẩm... đều không đạt. Đây cũng là các xã nằm trong vùng đặc biệt khó khăn của tỉnh. Nguyên nhân chủ yếu là do điều kiện đặc thù của địa phương còn nhiều khó khăn, điểm xuất phát khi bắt đầu triển khai chương trình phần lớn của các xã là thấp; nguồn vốn đầu tư cho chương trình hạn chế; đa số hộ dân kinh tế khó khăn nên việc huy động nhân dân đóng góp để xây dựng nông thôn mới còn rất ít. Cùng với đó, không ít hộ đồng bào dân tộc thiểu số còn thụ động, trông chờ vào nguồn lực hỗ trợ của nhà nước, thiếu sự phấn đấu vươn lên thoát nghèo dẫn đến kết quả giảm nghèo chưa bền vững.      2. Sản xuất công nghiệp        2.1. Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP)Chỉ số sản xuất công nghiệp trong tháng tăng 24,27% so với tháng trước, giảm 0,16% so với cùng kỳ, cụ thể như sau: Ngành khai khoáng tăng 37,6%, tăng 30,16%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 10,62%, tăng 8,21%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí tăng 267,38%, giảm 33,05%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 9,98%, tăng 13,78%.Một số ngành công nghiệp cấp II có chỉ số sản xuất tăng so với tháng trước, tăng so với cùng kỳ, cụ thể như sau: Sản xuất chế biến thực phẩm tăng 45,99%, tăng 65,85%; trang phục tăng 23,36%, tăng 36,33%; hoá chất và sản phẩm hoá chất tăng 7,76%, tăng 10,34%; sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 36,89%, tăng 31,94%; sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 9,67%, tăng 30,91%; giường, tủ, bàn, ghế tăng 49,53%, tăng 71,25%; da và các sản phẩm có liên quan giảm 1,74%, tăng 1,07%; giấy và sản phẩm từ giấy giảm 4,95%, tăng 7,24%,...- Tính chung trong 7 tháng, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 4,61% so với cùng kỳ năm trước, chia theo từng ngành kinh tế cấp I như sau:+ Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 14,17%, nguyên nhân do một số ngành chế biến tăng như: Sản xuất chế biến thực phẩm tăng 24,46%; trang phục tăng 11%; da và các sản phẩm có liên quan tăng 45,47%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa tăng 28,23%; sản phẩm từ cao su và plastic tăng 151,4%; giấy và sản phẩm từ giấy tăng 11,37%; sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 12,56%; sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 9,47%,...+ Ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 11,67%, nguyên nhân: Do nhu cầu sử dụng nước sinh hoạt và sản xuất kinh doanh của hộ gia đình và doanh nghiệp ngày càng tăng.+ Ngành khai khoáng giảm 0,73%. Nguyên nhân từ đầu năm đến nay, sản lượng khai thác khoáng hóa chất và khoáng phân bón giảm so với cùng kỳ. Do lượng hàng tồn kho còn nhiều, trong khi đó nhu cầu tiêu thụ ở mức thấp dẫn đến sản lượng của một số công ty khai thác giảm so với cùng kỳ.+ Ngành sản xuất và phân phối điện giảm 40,12%, do từ đầu năm đến nay không xuất hiện mưa lớn trên địa bàn tỉnh, lượng mưa ít hơn so với mức trung bình hằng năm; thời tiết khô hạn kéo dài, lưu lượng nước về hồ thuỷ điện rất thấp, gây khó khăn trong việc bảo đảm cung ứng điện trong thời gian qua vàtác động tiêu cực tới tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, hộ kinh doanh và nhu cầu sinh hoạt của nhân dân trong tỉnh.2.2. Sản phẩm công nghiệp chủ yếu Trong tháng, một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng so với cùng kỳ năm trước như: Điện thương phẩm đạt 119 triệu Kwh, tăng 7,26%; bột ba rít đạt 3.000 tấn, tăng 50%; xi măng đạt 125.000 tấn, tăng 29,44%; bột giấy đạt 8.519 tấn, tăng 18,42%; nước máy thương phẩm đạt 781 nghìn m3, tăng 13,79%; giầy da đạt 810 nghìn đôi, tăng 11,45%; gỗ tinh chế đạt 4.608 m3, tăng 22,16%,....Tuy nhiên, cũng có một số sản phẩm công nghiệp giảm so với tháng cùng kỳ như: Điện sản xuất đạt 120 triệu Kwh, giảm 55,65%; bột Felspat nghiền đạt 22.100 tấn, giảm 15,53%; giấy đế xuất khẩu đạt 900 tấn, giảm 6,61%; hàng may mặc xuất khẩu đạt 1.854 nghìn sản phẩm, giảm 19,14%; thép cây, thép cuộn đạt 23.400 tấn, giảm 7,55%,.... Tính chung trong 7 tháng, một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu của tỉnh tăng khá so với cùng kỳ năm trước: Điện thương phẩm tăng 4,01%; bột ba rít tăng 33,7%; bột Felspat tăng 8,7%; giấy đế xuất khẩu tăng 21,93%; nước máy thương phẩm tăng 5,33%; gỗ tinh chế tăng 7,69%; thép cây, thép cuộn tăng 9,87%,.... Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu giảm so với cùng kỳ năm trước như: Điện sản xuất giảm 49,35%; chè chế biến giảm 4,28%; xi măng giảm 14,95%; bột giấy giảm 7,37%; hàng may mặc xuất khẩu giảm 26,24%,... Đánh giá chung, tình hình sản xuất công nghiệp tỉnh đang dần phục hồi và duy trì đà tăng trưởng, tỉnh đã ban hành các chính sách hỗ trợ, nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các doanh nghiệp sản xuất và đẩy nhanh tiến độ triển khai xây dựng các dự án tại các khu, cụm công nghiệp để sớm hoàn thành đưa vào sản xuất như: Nhà máy gạch tuynel công nghệ cao; Nhà máy Sao Việt Wood và hoàn thành hồ sơ, thủ tục phê duyệt quy hoạch Khu công nghiệp Nhữ Khê - Đội Cấn; cùng với đó là thu hút các dự án công nghiệp có giá trị gia tăng cao, các sản phẩm mới với công nghệ hiện đại, thân thiện với môi trường, đã góp phần tăng khối lượng sản phẩm công nghiệp trên địa bàn tỉnh. Tuy nhiên, đối với các nhóm hàng chủ lực của tỉnh như: May mặc xuất khẩu, gỗ, bột giấy,… còn gặp nhiều khó khăn do thiếu đơn hàng, trong khi đó giá nguyên, nhiên liệu, chi phí logistics, lãi vay mặc dù đang giảm dần nhưng còn ở mức cao đã tác động đến chi phí sản xuất của doanh nghiệp. Một số doanh nghiệp đã phải cắt giảm nhân công do sản lượng và số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu mới giảm.3. Kết quả thu ngân sách nhà nước trong tháng 3.1. Kết quả thu ngân sách- Tổng thu nội địa trong tháng 7 ước thực hiện là 160 tỷ đồng, lũy kế đạt 1.312,8 tỷ đồng, đạt 41,5% dự toán, giảm 14,5% so với cùng kỳ.- Số thu nội địa trừ tiền sử dụng đất và xổ số ước thực hiện là 131 tỷ đồng, lũy kế đạt 1.086,9 tỷ đồng, đạt 43,4% dự toán, giảm 7,8% so với cùng kỳ.3.2. Các nguyên nhân ảnh hưởng đến kết quả thu 3.2.1. Tăng thu- Thu từ khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ước tăng 4,5 tỷ đồng, tăng 4,3 tỷ đồng so với cùng kỳ. Nguyên nhân chủ yếu: Phát sinh thuế giá trị gia tăng của Công ty TNHH sản xuất giày Chung Jye Tuyên Quang - Việt Nam tăng 3 tỷ đồng; công ty TNHH Vinh Thịnh Tuyên Quang nộp thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) tăng 600 triệu đồng; công ty TNHH Tam Cửu nộp thuế TNDN tăng 300 triệu so với cùng kỳ.- Ngành thuế đã tích cực đôn đốc các khoản thu từ khu vực kinh tế ngoài quốc doanh ước thực hiện là 46,3 tỷ đồng, tăng 8,7 tỷ đồng so với cùng kỳ. - Một số khoản thu tăng so với cùng kỳ như: Thu lệ phí trước bạ, phí, lệ phí và thu khác ngân sách tăng.3.2.2. Giảm thu- Thu từ khu vực DNNN do Trung ương quản lý ước thực hiện là 8 tỷ đồng, giảm 25,5 tỷ đồng so với cùng kỳ. Nguyên nhân: Sản lượng điện kê khai nộp thuế của Công ty Thủy điện Tuyên Quang - Chi nhánh tập đoàn điện lực Việt Nam giảm 191 triệu kwh so với cùng kỳ, số nộp NSNN giảm 22,3 tỷ đồng.- Thu tiền sử dung đất ước thực hiện 27,5 tỷ đồng, giảm 34,6 tỷ đồng so với cùng kỳ, nguyên nhân chủ yếu là một số huyện chưa tổ chức đấu giá quyền sử dụng đất năm 2023 và tỷ lệ trúng đấu giá quyền sử dụng đất tại các huyện, thành phố thấp hơn so với cùng kỳ, dẫn đến số nộp vào NSNN giảm.4. Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý 4.1. Tình hình thực hiện Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước- Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước thực hiện tháng 7 đạt 395 tỷ đồng, tăng 11,09% so với tháng trước, tăng 24,91% so với cùng kỳ, trong đó: Vốn ngân sách cấp tỉnh đạt 349 tỷ đồng, tăng 10,62%, tăng 24,75%; vốn ngân sách cấp huyện đạt 44 tỷ đồng, tăng 14,59%, tăng 27,62%; vốn ngân sách cấp xã đạt 2 tỷ đồng, tăng 19,38%, tăng 2,9%.- Tính chung, trong 7 tháng nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 1.844 tỷ đồng, đạt 34,93% kế hoạch, tăng 33,88% so với cùng kỳ. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 1.632 tỷ đồng, đạt 35,45%, tăng 33,73%; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện đạt 196 tỷ đồng, đạt 31,07%, tăng 38,16%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã đạt 16 tỷ đồng, đạt 35,49%, tăng 6,26%.4.2. Về giải ngân vốn đầu tư côngNăm 2023, Tuyên Quang được giao tổng kế hoạch vốn đầu tư công là 5.280,56 tỷ đồng; vốn năm 2022 kéo dài sang năm 2023 là 1.314,48 tỷ đồng; vốn được phân bổ, giao theo kế hoạch năm 2023 là 5.605,85 tỷ đồng; trong đó, vốn ngân sách nhà nước đã giao đến đến hết ngày 15/7/2023 là 3.175,85 tỷ đồng; chưa phân bổ 2.430 tỷ đồng (Vốn Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội, chưa được Thủ tướng Chính phủ giao kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2021-2025 cho dự án Cao tốc Tuyên Quang - Hà Giang (giai đoạn 1) đoạn qua tỉnh Tuyên Quang.Tính đến ngày 16/7/2023, tổng số vốn vốn đầu tư công đã giải ngân được là trên 1.135,73/4.490,33 tỷ đồng, đạt 25,3% kế hoạch, trong đó: Nguồn vốn kế hoạch năm 2023 giải ngân được 846,41/3.175,85 tỷ đồng, đạt 26,65%; nguồn vốn năm 2022 kéo dài thời gian thực hiện và giải ngân sang năm 2023 giải ngân được 306,15/1.314,48 tỷ đồng, đạt 23,29%.Tỉnh đã tập trung tháo gõ, giải quyết các khó khăn, vướng mắc cho từng công trình dự án. Chỉ đạo hoàn thành công tác chuẩn bị đàu tư các công trình, dự án khởi công năm mới năm 2023 trong tháng 8/2023; chậm nhất trong tháng 9/2023 phải hoàn thành lựa chọn nhà thầu thi công các công trình trong kế hoạch năm 2023. Tiếp tục đẩy nhanh tiến độ xây dựng và tiến độ giải ngân kế hoạch các công trình, dự án trọng điểm của tỉnh, nguồn vốn thuộc Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội và các chương trình mục tiêu Quốc gia,…5. Hoạt động thương mại, dịch vụ, giá cả và tình hình xuất, nhập khẩu hàng hóa trong thángThị trường các mặt hàng thiết yếu trong tháng 7 và 7 tháng không có biến động bất thường. Nguồn cung hàng hóa, nhất là các mặt hàng lương thực, thực phẩm, nguyên nhiên liệu thiết yếu phục vụ sản xuất (xăng dầu, phân bón, thức ăn chăn nuôi…) luôn được bảo đảm, đáp ứng tốt nhu cầu phục vụ sản xuất của doanh nghiệp và đời sống của người dân. Hoạt động kinh doanh thương mại, dịch vụ và vận tải trên địa bàn tỉnh tăng trưởng khá so với cùng kỳ năm trước; du lịch, lữ hành được phục hồi và khởi sắc; xuất, nhập khẩu ổn định, chỉ số giá được kiềm chế ở mức thấp. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 7 ước đạt 2.681 tỷ đồng, tăng 1,51% so với tháng trước, tăng 23,8% so với cùng kỳ. Tính chung trong 7 tháng, tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước ước đạt 15.857 tỷ đồng, tăng 22,61% so với cùng kỳ.5.1. Doanh thu bán lẻ hàng hóa Doanh thu bán lẻ hàng hóa trong tháng 7 ước đạt 2.184 tỷ đồng, tăng 1,4% so với tháng trước, tăng 22,39% so với cùng kỳ. Trong đó, một số nhóm hàng hóa một số nhóm hàng có tỷ trọng cao trong doanh thu bán lẻ hàng hóa tăng cao, như: Lương thực, thực phẩm tăng 0,44%, tăng 29,45%; hàng may mặc tăng 4,27%, tăng 27,87%; đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình tăng 1,45%, tăng 37,54%; vật phẩm, văn hoá, giáo dục tăng 1,14%, tăng 25,86%; xăng, dầu các loại tăng 2,99%, tăng 1,52%; gỗ và vật liệu xây dựng, tăng 1,67%, giảm 1,89%; nhiên liệu khác (trừ xăng dầu) giảm 2,72%, giảm 5,98%; đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 1,66%, giảm 6,25%,…Tính chung trong 7 tháng, tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 13.973 tỷ đồng, tăng 20,53% so với cùng kỳ.5.2. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ khác- Trong tháng, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 211 tỷ đồng, tăng 2,65% so với tháng trước, tăng 38,2% so với cùng kỳ. Trong đó: Doanh thu dịch vụ lưu trú đạt 18 tỷ đồng, tăng 4,62%, tăng 38,6%; dịch vụ ăn uống đạt 192 tỷ đồng, tăng 2,47%, tăng 38,16%. Tính chung trong 7 tháng, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 1.316 tỷ đồng, tăng 39,21%.- Doanh thu du lịch lữ hành trong tháng ước đạt 0,2 tỷ đồng, tăng 1,01% so với tháng trước, tăng 54,05% so với cùng kỳ. Tính chung trong 7 tháng doanh thu du lịch lữ hành ước đạt 1,2 tỷ đồng, tăng 50,83%.- Doanh thu nhóm dịch vụ khác trong tháng ước đạt 86 tỷ đồng, tăng 1,55% so với tháng trước, tăng 28,88% so với cùng kỳ. Trong đó: Dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ đạt 18 tỷ đồng, tăng 0,91%, tăng 28,02%; giáo dục và đào tạo đạt 3 tỷ đồng, tăng 4,13%, tăng 40,76%; y tế và hoạt động trợ giúp xã hội đạt 3 tỷ đồng, tăng 1,41%, tăng 33,53%; kinh doanh bất động sản đạt 3 tỷ đồng, tăng 1,96%, giảm 17,18%,... Tính chung trong 7 tháng, doanh thu dịch vụ khác ước đạt 566 tỷ đồng, tăng 34,22%.5.3. Giá cả- Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trong tháng tăng 4,09% so với cùng kỳ năm trước, tăng 2,4% so với tháng 12 năm trước và tăng 0,72% so với tháng trước. Tính chung trong 7 tháng, CPI bình quân tăng 4,39% so với cùng kỳ.- Trong tháng có 9/11 nhóm hàng có chỉ số CPI tăng so với tháng trước, trong đó: Nhóm hàng hóa và dịch vụ khác là nhóm có mức tăng cao nhất với mức tăng 3,04%, nguyên nhân tăng chủ yếu là bắt đầu từ 1/7, lương cơ sở tăng lên 1,8 triệu đồng nên mức đóng bảo hiểm y tế của một số nhóm đối tượng sẽ được điều chỉnh tăng; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,09%. Trong đó, lương thực tăng 1,21%; thực phẩm tăng 1,42%; ăn uống ngoài gia đình giảm 1,09%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,29% do nhu cầu mua sắm các loại quần áo may sẵn và giày dép đi du lịch của người dân tăng; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 1,32%, do nhu cầu tiêu dùng điện, nước sinh hoạt trong tháng tăng làm cho giá bình quân các nhóm hàng trên tăng; do giá bán lẻ điện bình quân được điều chỉnh tăng từ ngày 4/5 và do thời tiết nắng nóng cao điểm nên nhu cầu sử dụng của người dân cao hơn; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,14%; thuốc và dịch vụ y tế tăng nhẹ 0,02%; giao thông tăng 0,38% là do giá xăng, dầu điều chỉnh tăng tại các kỳ điều hành giá của Tập đoàn xăng dầu Việt Nam về mức giá bán lẻ xăng, dầu (xăng giảm 0,12%, dầu diesel tăng 3,93%); giáo dục tăng 0,16%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,14%.Có 02 nhóm hàng giảm giá là nhóm đồ uống và thuốc lá giảm 0,03%, do giá các loại nước khoáng và nước giải khát có gas giảm do nhu cầu tiêu thụ của người dân giảm; bưu chính viễn thông giảm 0,06%.- Chỉ số giá vàng tăng 5,68% so với cùng kỳ năm trước, tăng 4,49% so với tháng 12 năm trước, giảm 0,04% so với tháng trước. Tính chung trong 7 tháng, giảm 1,24% so với cùng kỳ.- Chỉ số giá đô la Mỹ tăng 1,3% so với cùng kỳ năm trước, giảm 0,39% so với tháng 12 năm trước, tăng 0,65% so với tháng trước. Tính chung trong 7 tháng, tăng 2,6% so với cùng kỳ.5.4. Tình hình xuất, nhập khẩu hàng hóa Trong tháng, kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa ước đạt 19,52 triệu USD, giảm 25,35% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung trong 7 tháng, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa ước đạt 135,25 triệu USD, đạt 56,36% kế hoạch, giảm 16,11% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, xuất khẩu ước đạt 83,55 triệu USD, đạt 55,7%, giảm 21,19%, nhập khẩu ước đạt 51,7 triệu USD, đạt 57,4%, giảm 6,35%, cụ thể như sau:- Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa trong tháng ước đạt 13,02 triệu USD, giảm 24,11% so với cùng kỳ, một số mặt hàng xuất khẩu chủ yếu tăng so với tháng cùng kỳ như: Chè xuất khẩu ước đạt 435 tấn, tăng 136,41%; bột barit đạt 1000 tấn, tăng 208,64%; hàng dệt, may đạt 1.620 nghìn sản phẩm, tăng 19,79%; antimony thỏi đạt 35 tấn, tăng 150%; đũa gỗ xuất khẩu đạt 2.500 nghìn đôi, tăng 39,28%,… Một số nhóm hàng có kim ngạch xuất khẩu giảm so với cùng kỳ: Giấy đế xuất khẩu đạt 250 tấn, giảm 19,87%; phong bì đạt 200 nghìn sản phẩm, giảm 61,48%,…. Tính chung trong 7 tháng, một số nhóm hàng xuất khẩu đạt mức tăng trưởng cao so với cùng kỳ như: Chè xuất khẩu tăng 321,7%; bột barit tăng 136,18%; đũa gỗ xuất khẩu tăng 8,76%; atimony thỏi, tăng 202,93%,…Một số nhóm hàng có kim ngạch xuất khẩu giảm so với cùng kỳ: Hàng dệt, may giảm 33,03%; giấy đế xuất khẩu giảm 15,38%; bột giấy giảm 74,33%; giấy in viết, photo thành phẩm giảm 93,32%,… - Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa trong tháng ước đạt 6,5 triệu USD, giảm 27,71% so tháng cùng kỳ. Nhìn chung, do những khó khăn về thiếu đơn hàng xuất khẩu mới giảm nên kim ngạch xuất, nhập khẩu các mặt hàng chủ lực của tỉnh đều giảm so với cùng kỳ. Nguyên nhân chủ yếu kinh tế thế giới hồi phục chậm, nhất là tại một số thị trường truyền thống tiêu thụ lớn các mặt hàng như: Dệt may, chè, da giày, đồ gỗ nhu cầu nhập khẩu giảm trong khi đó giá các mặt hàng nhập khẩu nguyên, nhiên, vật liệu tăng và sự gia tăng cạnh tranh từ việc Trung Quốc đã mở cửa trở lại trong thời gian gần đây. Một số doanh nghiệp đã phải cắt giảm nhân công do sản lượng và số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu mới giảm.6. Vận tải hàng hóa và hành khách Hoạt động vận tải ghi nhận sự phục hồi khá tích cực, nhu cầu đi du lịch, lễ hội và vận chuyển hàng hóa của người dân tăng khá. Các đơn vị vận tải đã tăng cường các phương tiện, phục vụ nhu cầu đi lại của người dân. Ngoài ra, ngành chức năng đã chú trọng, tăng cường xử lý các hành vi vi phạm quy định pháp luật về bảo đảm trật tự, an toàn giao thông, vi phạm nồng độ cồn, chở quá khổ, quá tải, quá số người quy định, phương tiện không bảo đảm an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường...6.1. Doanh thu vận tải tải kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải - Doanh thu vận tải tháng 7 ước đạt 291 tỷ đồng, giảm 2,69% so với tháng trước, tăng 7,07% so với cùng kỳ. Trong đó, doanh thu vận tải hành khách ước đạt 49 tỷ đồng, giảm 8,07%, tăng 11,8%; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 241 tỷ đồng, giảm 1,51%, tăng 6,12%; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 0,31 tỷ đồng, giảm 10,23%, tăng 16,05%,…- Tính chung trong 7 tháng, doanh thu vận tải kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 2.030 tỷ đồng, tăng 28,4% so với cùng kỳ. Trong đó: Doanh thu vận tải hành khách đạt 353 tỷ đồng, tăng 34,27%; doanh thu vận tải hàng hóa đạt 1.673 tỷ đồng, tăng 27,16%; dịch vụ hỗ trợ vận tải kho bãi đạt 2 tỷ đồng, tăng 61,5%,… 6.2. Vận tải hành khách và hàng hóa- Khối lượng hành khách vận chuyển ước đạt 1 triệu lượt hành khách, giảm 10,3% so với tháng trước, tăng 14,23% so với cùng kỳ; khối lượng hành khách luân chuyển ước đạt 63 triệu lượt hành khách.km, giảm 10,05%, tăng 23,09%. Tính chung trong 7 tháng, khối lượng hành khách vận chuyển ước đạt 6 triệu lượt hành khách, tăng 28,16% so với cùng kỳ; khối lượng hành khách luân chuyển ước đạt 457 triệu lượt hành khách.km, tăng 19,66%.- Khối lượng hàng hóa vận chuyển ước đạt 2 triệu tấn, giảm 1,06% so với tháng trước, tăng 17,14% so với cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 105 triệu tấn.km, giảm 0,34%, tăng 7,27%. Tính chung trong 7 tháng, khối lượng hàng hóa vận chuyển ước đạt 11 triệu tấn, tăng 38,71% so với cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 718 triệu tấn.km, tăng 40,9%.7. Về du lịch Tiếp tục triển khai các bước thực hiện quảng bá văn hóa và du lịch tỉnh Tuyên Quang trên nhãn tem và phong bì phổ thông và truyền thông Poster tại các điểm bưu cục, bưu điện văn hóa xã tại các huyện, thành phố; triển khai thực hiện Đề án “Xây dựng hệ thống Du lịch thông minh” tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 2019-2020, tầm nhìn đến 2025”; đẩy mạnh công tác tuyên truyền xúc tiến quảng bá du lịch trên trang: https://mytuyenquang.vn.Trong tháng, các khu, điểm du lịch trên địa bàn tỉnh đã thu hút 75.000 lượt khách du lịch; tổng thu từ khách du lịch đạt 87 tỷ đồng (nâng tổng số 7 tháng năm 2023, thu hút được 1.898.500 lượt khách du lịch đạt 76% kế hoạch, tăng 30% so với cùng kỳ; tổng thu từ khách du lịch đạt 2.172 tỷ đồng, đạt 72% kế hoạch, tăng 51% so với cùng kỳ).II. LĨNH VỰC VĂN HÓA - XÃ HỘI 1. Công tác lao động, việc làm, giáo dục nghề nghiệpTỉnh đã triển khai nhiều giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác tạo việc làm cho người lao động bằng nhiều hình thức như: Khuyến khích tạo việc làm tại chỗ bằng việc hỗ trợ các điều kiện để người dân phát triển sản xuất, chăn nuôi, kinh doanh dịch vụ; phát triển du lịch gắn với các lễ hội và nghỉ dưỡng; tăng cường hoạt động tìm kiếm, hỗ trợ thông tin việc làm, giới thiệu lao động đi làm việc tại các khu công nghiệp trong nước và xuất khẩu lao động; nâng cao chất lượng công tác đào tạo nghề để học viên, sinh viên học xong đáp ứng yêu cầu nhà tuyển dụng.Trong tháng, toàn tỉnh đã tạo việc làm mới cho 2.207 lao động được tạo việc làm; ước thực hiện 7 tháng có 17.254 người lao động được tạo việc làm, đạt 77,7% kế hoạch. Trong đó: Lao động làm việc trong các ngành kinh tế tại tỉnh là 10.536 người; lao động đi làm việc các tỉnh, thành phố 5.960 người; lao động đi làm việc nước ngoài theo hợp đồng 758 người.2. Công tác đảm bảo chế độ người có công với cách mạng, bảo trợ, an sinh xã hội và phòng chống các tệ nạn - Duy trì thực hiện đầy đủ, kịp thời các chế độ, chính sách đối với người có công với cách mạng và thân nhân người có công; đẩy mạnh thực hiện các phong trào, hoạt động "đền ơn, đáp nghĩa", "uống nước nhớ nguồn", chú trọng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần đối với người có công, hỗ trợ, giúp đỡ gia đình người có công với cách mạng có khó khăn về nhà ở; từ đầu năm đến nay, các tổ chức cá nhân đã hỗ trợ làm mới và sửa chữa nhà ở cho 30 gia đình người có công với cách mạng, với tổng số tiền hỗ trợ là trên 810 triệu đồng.  Nhân dịp kỷ niệm 76 năm Ngày Thương binh-Liệt sỹ (27/7/1947-27/7/2023), tỉnh đã triển khai tặng quà của Chủ tịch nước, quà của tỉnh đối với người có công với cách mạng trên địa bàn tỉnh, tổng số là 16.544 suất quà, với tổng giá trị trên 6,89 tỷ đồng, trong đó: Quà của Chủ tịch nước 7.934 suất, giá trị 2,46 tỷ đồng; quà của tỉnh 8.610 suất, giá trị 4,438 tỷ đồng.  - Tiếp tục thực hiện tốt các chính sách trợ giúp xã hội, thường xuyên rà soát năm chắc tình hình đời sống nhân dân, kịp thời hỗ trợ các hộ gia đình, cá nhân gặp khó khăn do tai nạn rủi ro; duy trì chi trả trợ cấp thường xuyên cho trên 38.000 đối tượng bảo trợ xã hội với kinh phí trợ cấp xã hội hàng tháng trên 20 tỷ đồng.- Trong tháng, Cơ sở cai nghiện ma tuý tỉnh đã tiếp nhận 6 học viên (Cai nghiện bắt buộc 05 học viên, cai nghiện tự nguyện 01 học viên); cấp giấy chứng nhận hoàn thành cai nghiện cho 6 học viên; thanh lý hợp đồng cai nghiện tự nguyên 01 học viên. Luỹ kế từ đầu năm đến nay đã tiếp nhận nhận 57 học viên (Cai nghiện bắt buộc 53 học viên, cai nghiện tự nguyện 04 học viên); cấp giấy chứng nhận hoàn thành cai nghiện cho 42 học viên; thanh lý hợp đồng cai nghiện tự nguyên 02 học viên. Tại thời điểm báo cáo Cơ sở đang quản lý 152 học viên (có mặt 144 học viên; trốn cai 07 học viên; đi viện 01 học viên). 3. Hoạt động giáo dục và đào tạo- Theo kết quả xét tốt nghiệp THPT năm 2023 đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo công bố, năm học 2022-2023 toàn tỉnh có 8.057 thí sinh đủ điều kiện công nhận tốt nghiệp THPT trên tổng số 8.117 thí sinh dự thi, tỷ lệ đỗ tốt nghiệp đạt 99,26%; điểm trung bình các môn thi tốt nghiệp đạt 6,559 điểm, xếp thứ 21/63 tỉnh, thành phố trong cả nước, cao hơn so với điểm trung bình toàn quốc (điểm trung bình toàn quốc là 6,557). Hiện các thí sinh đang làm thủ tục đăng ký, điều chỉnh nguyện vọng xét tuyển đại học trên hệ thống của Bộ Giáo dục và Đào tạo, dự kiến thời gian kéo dài đến hết ngày 30-7.- Trong tháng, Trường THPT Chuyên của tỉnh đã tham gia cuộc thi chọn học sinh giỏi các trường THPT chuyên khu vực duyên hải và đồng bằng Bắc bộ lần thứ XIV được tổ chức tại tỉnh Thái Nguyên, với sự tham gia của hơn 2.000 thí sinh đến từ 42 trường THPT chuyên trong cả nước tham dự; kết quả có 50/54 học sinh của trường tham gia và đạt giải, đạt tỷ lệ 92,6%.- Tại vòng chung kết cuộc thi STEM Olympiad quốc tế năm 2023 vừa diễn ra tại thủ đô Paris (Pháp) từ ngày 18 đến 23-7 với 440 thí sinh đến từ 22 quốc gia tham dự, toàn tỉnh có 01 học sinh tham dự và đoạt được giải Khuyến khích môn lập trình.4. Hoạt động y tế - Tỉnh tiếp tục thực hiện nghiêm các chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trong công tác phòng chống dịch Covid-19 và các dịch bệnh truyền nhiễm khác; tăng cường theo dõi, bám sát tình hình dịch bệnh và tổ chức triển khai hiệu quả các biện pháp phòng, chống dịch; chỉ đạo, kiểm tra, giám sát công tác phòng, chống dịch đảm bảo chủ động, sẵn sàng và kịp thời ứng phó với các diễn biến có thể xảy ra của dịch bệnh. - Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn toàn tỉnh đã ghi nhận 1.539 ca mắc Covid-19, hiện đang điều trị là 06 người tại cơ sở y tế và tại nhà.- Về tình hình tiêm chủng vắc xin Covid-19 tính đến 16h ngày 23/7/2023: Tổng số cộng dồn tiêm tại tỉnh từ đợt 1 đến nay: 2.262.588 mũi tiêm; trong đó: mũi 01: 706.372 người; mũi 02: 695.987 người; mũi 03: 522.484 người; mũi 04: 258.545 người.+ Tiêm cho người từ 18 tuổi trở lên tỷ lệ tiêm mũi 1 là 100% (510.995 người còn 6.471 người chống chỉ định chưa tiêm); tiêm đủ 2 mũi là 99,7% (513.502 người); có 79.200 người được tiêm bổ sung để hoàn thành liều cơ bản; Tỷ lệ tiêm mũi 3 là 90,8% (461.431 người); hoàn thành tiêm mũi 04 cho đối tượng ưu tiên, số người được tiêm mũi 04 là 258.545 người.+ Tiêm cho trẻ từ 12 đến dưới 18 tuổi: Tỷ lệ tiêm mũi 1 đạt trên 99,1% (77.991 trẻ); tiêm đủ 02 mũi đạt 100% (78.799 trẻ), tiêm mũi 3 là 77,6% (61.053 trẻ) tỷ lệ tiêm mũi 3 cao nhất là huyện Yên Sơn đạt 97,7%, thấp nhất là huyện Sơn Dương đạt 69,6%.+ Tiêm cho trẻ từ 05 đến dưới 12 tuổi: Tỷ lệ tiêm mũi 01 đạt 99,9% (117.386/117.461) các huyện, thành phố đạt trên 99%; tiêm 02 mũi là 88,3% (103.686 trẻ), hiện chưa có phản ứng phụ hoặc tai biến sẩy ra.- Trong tháng, tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh đã phối hợp Bệnh viện E Trung ương, Quỹ Tấm lòng Việt - Đài Truyền hình Việt Nam, Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông Quân đội (Viettel) tổ chức chương trình thiện nguyện “Trái tim cho em”. chương trình đã khám sàng lọc cho trên 1.000 trẻ dưới 16 tuổi. Qua khám sàng lọc đã phát hiện 40 trẻ mắc bệnh tim có chỉ định can thiệp/phẫu thuật. Dự kiến số tiền chi phí hỗ trợ cho những trường hợp này lên tới gần 2 tỷ đồng. 5. Hoạt động văn hoá - thể dục, thể thao- Lĩnh vực văn hoá: Chuẩn bị tốt các điều kiện để tổ chức Chương trình du lịch “Qua những miền di sản Việt Bắc” lần thứ XIV và Lễ hội Thành Tuyên năm 2023 với quy mô cấp tỉnh. Đẩy nhanh tiến độ nghiên cứu, đề xuất xây dựng Làng văn hóa dân tộc cấp tỉnh. Tiếp tục đẩy mạnh phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” gắn với chương trình xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh được triển khai sâu rộng.- Về thể dục thể thao: Đăng cai tổ chức thành công Giải Vô địch Pencak Silat trẻ quốc gia năm 2023, tham dự giải có trên 700 vận động viên, huấn luyện viên, trọng tài đến từ 27 tỉnh, thành, ngành trong cả nước, trong đó có 560 vận động viên tranh tài ở 3 lứa tuổi. Kết quả: Ban Tổ chức trao 72 bộ huy chương ở các nội dung cho các vận động viên; tham gia giải Vô địch trẻ Jujitsu quốc gia năm 2023 được tổ chức tại tỉnh Thanh Hoá, đạt 5 Huy chương Vàng, 5 Huy chương Bạc, 7 Huy chương Đồng,.... Duy trì hoạt động 6 lớp đội tuyển năng khiếu với 30 vận động viên; 7 lớp đội tuyển trẻ với 68 vận động viên; 03 lớp đội tuyển tỉnh với 20 vận động viên.6. Tình hình an toàn giao thông và phòng chống cháy, nổ6.1. Về an toàn giao thôngTỉnh tiếp tục triển khai công tác tuần tra, kiểm soát và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm trật tự, an toàn giao thông, nhất là vi phạm về nồng độ cồn khi lái xe; vi phạm tốc độ, tránh, vượt sai quy định; vi phạm chở hàng quá tải trọng; phương tiện không đảm bảo an toàn kỹ thuật; không đội mũ bảo hiểm khi đi mô tô, xe máy, xe đạp điện; tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát trên các tuyến quốc lộ, đường tỉnh, đường huyện, khu vực trung tâm thành phố, trung tâm huyện, tuyến đường thường xảy ra tai nạn giao thông. Trong tháng, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 9 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 02 người và làm bị thương 07 người. So với tháng trước tăng 50% về số vụ tai nạn, tăng 16,67% về số người bị thương. So với cùng kỳ năm trước, tăng 28,57% số vụ, tăng 100% số người chết, tăng 16,67% về số người bị thương.Tính chung trong 7 tháng, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 45 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 14 người và làm bị thương 34 người. So với cùng kỳ năm trước, tăng 2,27% số vụ tai nạn giao thông, số người chết giữ nguyên, giảm 10,53% về số người bị thương.6.2. Thiệt hại do thiên taiTrong tháng, do ảnh hưởng của các đợt mưa lớn kèm theo giông, lốc và gió mạnh xảy trên địa bàn huyện Hàm Yên đã gây ra những thiệt hại về tài sản hòa màu của người dân, làm ảnh hưởng đến tình hình sản xuất và đời sống của nhân dân, cụ thể như sau: Thiệt hại về người: Không có.Thiệt hại về nông nghiệp: Giông lốc đã làm 720m2 đất lúa bị sạt lở hoàn toàn, vùi lấp trên 1.080 m2 ruộng đã cấy (70%),... và gây sạt lở đường giao thông khiến việc đi lại của người dân gặp nhiều khó khăn. Ước giá trị thiệt hại trên 226,8 triệu đồng.6.3. Thiệt hại do cháy, nổTrong tháng trên địa bàn tỉnh xảy ra 02 vụ cháy, nâng tổng số vụ cháy từ đầu năm là 04 vụ, tăng 300% so với cùng kỳ; thiệt hại về tài sản ước tính 590 triệu đồng, lũy kế từ đâu năm là 2.390 triệu đồng, tăng 19,5%.CỤC THỐNG KÊ TUYÊN QUANG

Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 6 và 6 tháng đầu năm 2023 tỉnh Tuyên Quang
  •   10/11/2025 21:55

Năm 2023, là năm giữa nhiệm kỳ, có ý nghĩa quan trọng trong việc đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII và Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021-2025.Với quyết tâm cao trong lãnh chỉ đạo và điều hành, căn cứ vào các Kết luận, Nghị quyết của Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ. Ngay từ đầu năm, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo sát sao của Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân tỉnh, sự điều hành tập trung, linh hoạt của Ủy ban nhân dân tỉnh đã tập trung chỉ đạo các cấp, các ngành thực hiện đồng bộ, quyết liệt các giải pháp của Chính phủ về chỉ đạo, điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2023; thực hiện các giải pháp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng xanh và bền vững; cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, đẩy mạnh cải cách hành chính, tập trung tháo gỡ các khó khăn, điểm nghẽn, khơi thông mọi nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội, thúc đẩy sản xuất kinh doanh, môi trường đầu tư được củng cố. Bên cạnh những thời cơ, thuận lợi, kinh tế của tỉnh vẫn còn những tồn tại, hạn chế như: Công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng thực hiện các dự án đầu tư trên địa bàn còn chậm; hoạt động doanh nghiệp còn gặp nhiều khó khăn thách thức, số lượng doanh nghiệp thành lập mới giảm, tiến độ giải ngân vốn đầu tư công còn đạt thấp; các nền kinh tế lớn trên thế giới suy giảm tăng trưởng làm cho các sản phẩm xuất khẩu hàng hóa chủ lực của tỉnh giảm, ảnh hưởng lớn đến tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp dẫn đến tình trạng lao động bị giãn việc, giảm giờ làm, mất việc làm do doanh nghiệp bị cắt giảm đơn hàng, thu hẹp sản xuất; việc tăng giá điện gần đây cũng gây ra rất nhiều khó khăn cho đời sống người dân và hoạt động doanh nghiệp. Bên cạnh đó, giá thức ăn chăn nuôi diễn biến bất thường, trong khi đó giá gia súc liên tục giảm mạnh, đầu ra bấp bênh khiến người chăn nuôi trên địa bàn tỉnh gặp không ít khó khăn trong việc tái đàn đã ảnh hưởng lớn đến việc phát triển chăn nuôi của người dân,...nhu cầu đầu tư phát triển trong tỉnh lớn nhưng nguồn lực còn hạn hẹp.Kết quả đạt được cụ thể ở các ngành, lĩnh vực như sau:I. PHÁT TRIỂN KINH TẾ  1. Tăng trưởng kinh tế 6 tháng đầu năm 20231.1. Tốc độ tăng trưởng GRDP trên địa bàn (giá so sánh 2010) 6 tháng đầu năm 2023Tốc độ tăng trưởng GRDP (giá so sánh năm 2010) trên địa bàn tỉnh tăng 7,55% so với cùng kỳ năm 2022, đây cũng là mức tăng trưởng tương đối ấn tượng trong bối cảnh kinh tế cả nước còn gặp nhiều khó khăn, thách thức, cụ thể như sau:1.1.1. Khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 4,64%; đóng góp 1,22 điểm phần trăm trong mức tăng chung của GRDP. Ngành nông nghiệp mặc dù còn gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng của thời tiết nắng nóng, khô hạn kéo dài; giá các vật tư đầu vào liên tục tăng cao trong khi đó giá sản phẩm nông nghiệp, chăn nuôi lại rất bấp bênh, sản phẩm tiêu thụ chậm nhưng cũng đã vượt mọi khó khăn đạt mức tăng trưởng tương đối ấn tượng. Ngành chăn nuôi tăng 3,53%, đóng góp 0,68 điểm phần trăm; ngành lâm nghiệp tăng 7,81%, đóng góp 0,47 điểm phần trăm; ngành thủy sản tăng 7,49%, đóng góp 0,07 điểm phần trăm. Để đạt được kết quả đó tỉnh đã triển khai các giải pháp chuyển đổi tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, nâng cao giá trị gia tăng và bền vững, đáp ứng theo nhu cầu của thị trường, thích ứng với biến đổi khí hậu,... nâng cao thu nhập và đời sống cho dân cư nông thôn, xây dựng nông nghiệp, nông thôn phát triển. Với trọng tâm là lấy phát triển kinh tế nông nghiệp là động lực tăng trưởng quan trọng, thúc đẩy phát triển công nghiệp, thương mại và dịch vụ, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô.Sản lượng lương thực đạt trên 175.604 tấn, giảm 1,22% (giảm 2.164 tấn) so với cùng kỳ, trong đó: Lúa 113.634 tấn, giảm 0,87% (giảm 999 tấn); ngô 61.970 tấn, giảm 1,84% (giảm 1.164 tấn); khoai lang 10.347 tấn, giảm 5,27% (giảm 576 tấn); lạc 9.680 tấn, giảm 0,06% (giảm 6 tấn),… chuối 8.731 tấn, tăng 2,5% (tăng 212 tấn); xoài 907 tấn, tăng 2,76% (tăng 24 tấn); bưởi 5.362 tấn, tăng 1,67% (tăng 88 tấn); chè đạt 33.338 tấn, tăng 2,71% (tăng 880 tấn),… sản lượng thịt hơi xuất chuồng ước đạt 47.758 tấn, tăng 5,48% (tăng 2.480 tấn); thủy sản ước đạt 5.189 tấn, tăng 8,1% (tăng 389 tấn); gỗ khai thác đạt 581.989 m3, tăng 6,94% (tăng 37.765 m3).1.1.2. Khu vực Công nghiệp, xây dựng tiếp tục có nhiều tín hiệu khởi sắc và lấy lại đà tăng trưởng, tăng 10,87%, đóng góp vào tốc độ tăng trưởng chung là 2,92% điểm phần trăm. Trong đó:- Ngành công nghiệp, tăng 9,7%, với mức đóng góp 1,83 điểm phần trăm (trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 2,44%, đóng góp 0,02 điểm phần trăm; chế biến, chế tạo tăng 22,9%, đóng góp 2,66 điểm phần trăm; cung cấp nước tăng 14,96%, đóng góp 0,04 điểm phần trăm; sản xuất và phân phối điện giảm 14,93%, tăng trưởng âm 0,9 điểm phần trăm). Một số sản phẩm chủ yếu tăng khá so với cùng kỳ như: Bột Felspat nghiền tăng 16,95%; giấy đế xuất khẩu tăng 22,46%; giấy in viết, photo thành phẩm tăng 23,42%; giày da tăng 6,12%; gỗ tinh chế tăng 5,96%; thép cây, thép cuộn tăng 28,64%,… - Ngành xây dựng tăng 13,63%, đóng góp 1,09% điểm phần trăm trong khu vực. Với mục tiêu “lấy đầu tư công dẫn dắt đầu tư tư”, tỉnh đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ đầu tư các công trình, dự án trọng điểm có tác động liên vùng có ý nghĩa thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nhanh, bền vững, an sinh xã hội như đường cao tốc Tuyên Quang - Phú Thọ, đường trục phát triển đô thị từ thành phố Tuyên Quang đến trung tâm huyện Yên Sơn, hoàn thành và đưa vào sử dụng trong năm 2023; đẩy nhanh tiến độ xây dựng đường Chiêm Hóa – Na Hang, Trường THPT Tuyên Quang chuyên tại địa điểm mới. Hoàn thiện các thủ tục đầu tư, khởi công dự án đường cao tốc Tuyên Quang -Hà Giang (giai đoạn 1) đoạn qua tỉnh Tuyên Quang; xây dựng đường từ khu du lịch suối khoáng Mỹ Lâm đến Quốc lộ 2D và đường cao tốc Tuyên Quang - Phú Thọ; dự án Đầu tư xây dựng Bệnh viện Đa khoa tỉnh; dự án Flamingo Tân Trào; dự án điều chỉnh bổ sung quy hoạch di dân, tái định cư dự án thủy điện Tuyên Quang trên địa bàn tỉnh; dự án thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021- 2030 và các dự án thuộc Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội,...1.1.3. Khu vực dịch vụ tăng 7,35%, đóng góp 3,14 điểm phần trăm. Trong khu vực dịch vụ, đóng góp của một số ngành có tỷ trọng lớn vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm như sau: Bán buôn, bán lẻ và sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy tăng 9,32%, đóng góp 0,44 điểm phần trăm; vận tải kho bãi tăng 16,07%, đóng góp 0,54 điểm phần trăm; lưu trú và ăn uống tăng 19,18%, đóng góp 0,29 điểm phần trăm; hoạt động tài chính ngân hàng và bảo hiểm tăng 10,6% , đóng góp 0,36 điểm phần trăm,…Trong 6 tháng đầu năm tỉnh đã tổ chức các hoạt động xúc tiến, quảng bá du lịch có tiềm năng phát triển như du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, du lịch cộng đồng; tổ chức thành công các hoạt động khai mạc Năm du lịch và Lễ hội Khinh khí cầu quốc tế lần thứ II năm 2023 và giải đua thuyền Kayak tỉnh Tuyên Quang mở rộng năm 2023,…1.1.4. Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm đạt 424 tỷ đồng tăng 6,6% (đóng góp 0,27 điểm phần trăm vào tốc độ tăng trưởng chung của nền kinh tế. Trong bối cảnh dịch Covid-19 đã ảnh hưởng đến tình hình kinh tế - xã hội, tỉnh đã tập trung thực hiện có hiệu quả các chính sách về thuế như: Giảm thuế giá trị gia tăng, giảm thuế bảo vệ môi trường đối với các mặt hàng xăng, dầu; gia hạn thời hạn nộp thuế và miễn giảm tiền thuế, tiền thuê đất, tiền sử dụng đất nhằm hỗ trợ người dân, doanh nghiệp bị ảnh hưởng của dịch Covid -19, thúc đẩy sản xuất kinh doanh và tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động. Đồng thời, góp phần kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và bảo đảm an sinh xã hội. Cùng với đó là tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra chống thất thu thuế, nhất là với các lĩnh vực như quản lý xây dựng cơ bản, quản lý hộ kinh doanh cá thể, giao dịch chuyển nhượng bất động sản và kinh doanh xăng dầu,...1.2. Quy mô và cơ cấu kinh tế 1.2.1. Quy mô tổng sản phẩmQuy mô tổng sản phẩm trên địa bàn 6 tháng đầu năm 2023 (giá hiện hành) ước đạt 20.180 tỷ đồng. 1.2.2. Cơ cấu kinh tếCơ cấu kinh tế tỉnh tiếp tục chuyển biến tích cực với chiều hướng tăng dần tỷ trọng khu vực dịch vụ, cụ thể như sau: Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản ước đạt 5.020,1 tỷ đồng chiếm 24,88% (năm 2022 chiếm 26,68%); khu vực công nghiệp và xây dựng ước đạt 5.841 tỷ đồng, chiếm 28,94%, (năm 2022 chiếm 27,23%), trong cơ cấu nội hàm ngành công nghiệp đã có sự chuyển dịch theo hướng, giảm dần tỷ trọng công nghiệp khai thác, tăng dần tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo; khu vực dịch vụ ước đạt 8.491,6 tỷ đồng, chiếm 42,08% (năm 2022 chiếm 41,96%); thuế sản phầm trừ trợ cấp sản phẩm ước đạt 827,2 tỷ đồng chiếm 4,1% (năm 2022 chiếm 4,13%).Nhìn chung, trong 6 tháng đầu năm 2023 các ngành: Công nghiệp, xây dựng và dịch vụ tiếp tục đóng góp chủ yếu vào mức tăng trưởng GRDP của toàn tỉnh, chứng tỏ cơ cấu kinh tế của tỉnh đã có sự chuyển dịch đúng hướng và tái cơ cấu kinh tế đang mang lại hiệu quả rõ rệt. Đây là sự chuyển dịch cơ cấu tích cực phù hợp với yêu cầu thúc đẩy nhanh sự tăng trưởng kinh tế theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa và tăng dần tỷ trọng dịch vụ góp phần nâng cao chất lượng tăng trưởng và củng cố tiềm lực kinh tế của tỉnh.2. Tài chính, ngân hàng2.1. Tình hình thu, chi ngân sách nhà nước2.1.1. Thu ngân sách nhà nước: Tổng thu ngân sách nhà nước ước thực hiện là 1.344 tỷ đồng, đạt 42% dự toán năm, giảm 1,86% so với cùng kỳ. Trong đó thu nội địa ước thực hiện là 1.295 tỷ đồng, đạt 40,98%, giảm 3,58%.Một số khoản thu đạt khá là: Thu từ khu vực Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, đạt 97,5%, tăng 230,47%; thuế Thu nhập cá nhân, đạt 61,54%, tăng 15,65%; Thu từ phí, lệ phí đạt 48,05%, tăng 14,14%; các khoản thu về nhà đất đạt 45,25%, tăng 14,28%; hoạt động xổ số kiến thiết đạt 52,27%, tăng 10,42%; thu khác của ngân sách đạt 42%, tăng 25,37%; thu cố định tại xã tính cân đối đạt 70%, tăng 32,78%,…Một số khoản thu thấp: Thu từ khu vực Doanh nghiệp nhà nước trung ương, đạt 32,29%, giảm 22,28%; Thu từ khu vực Doanh nghiệp nhà nước địa phương, đạt 31,43%, giảm 25,58%; Thu từ khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đạt 39,63%, giảm 7,55%; Thu từ thuế Bảo vệ môi trường đạt 22,38%, giảm 51,68%; Thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản đạt 57,14%, giảm 4,78%,...- Một số nguyên nhân cơ bản làm ảnh hưởng đến tiến độ dự toán:+ Do tác động của các chính sách miễn giảm tiền thuế, tiền thuê đất nhằm hỗ trợ người dân, doanh nghiệp dẫn đến một số khoản thu thấp hơn so với cùng kỳ; ước giảm thu 6 tháng đầu năm 2023 trên 263 tỷ đồng,...- Một số doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh gặp khó khăn, dẫn đến số nộp ngân sách giảm so với cùng kỳ,...  + Tiến độ thực hiện triển khai đấu giá quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất thuê còn chậm dẫn đến tiến độ thu tiền sử dụng đất, thu tiền thuê đất còn đạt thấp chưa đảm bảo theo dự toán.2.1.2. Chi ngân sách nhà nước: Tổng chi ngân sách nhà nước là 5.350 tỷ đồng, đạt 40,04% dự toán, giảm 4,56% so với cùng kỳ. Trong đó: Chi đầu tư phát triển 1.042 tỷ đồng, đạt 70,47%, giảm 18,05%; chi thường xuyên 2.736 tỷ đồng, đạt 39,48%, tăng 8,16%; chi dự phòng ngân sách 65 tỷ đồng, đạt 38,67%, tăng 8,49%;...Tỉnh đã tập trung điều hành dự toán ngân sách nhà nước chủ động, chặt chẽ, bảo đảm kỷ luật tài chính, ngân sách, an sinh xã hội, bảo đảm đúng dự toán được duyệt. Tăng cường công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách nhà nước; tiếp tục thực hiện các chính sách, chế độ về đảm bảo an sinh xã hội. Triển khai kịp thời các chế độ, chính sách mới khi có văn bản hướng dẫn của các bộ ngành trung ương; chú trọng công tác thanh tra, kiểm tra tài chính để nâng cao một bước công tác quản lý tài chính trong lĩnh vực hành chính sự nghiệp nhằm quản lý kinh phí, tài sản công chặt chẽ, tiết kiệm, hiệu lực, hiệu quả.2.2. Hoạt động tín dụng ngân hàngCác ngân hàng thương mại trên địa bàn tỉnh đã tạo điều kiện thuận lợi cho dòng tiền tập trung vào các dự án trọng điểm, lĩnh vực ưu tiên, lĩnh vực cần thiết, đặc biệt là nhanh chóng khôi phục kinh tế, trong đó thúc đẩy cho vay phát triển lĩnh vực nông nghiệp nông thôn, cơ sở hạ tầng, cho vay hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp, đảm bảo an sinh xã hội,...- Về hoạt động huy động vốn: Nguồn vốn huy động tại địa phương ước thực hiện là 28.500, so với cùng kỳ tăng 3.570 tỷ đồng (+14,3%); so với 31/12/2022 tăng 1.183 tỷ đồng (+4,3%).- Về đầu tư tín dụng: Tổng dư nợ ước đạt 27.400 tỷ đồng, so với cùng kỳ tăng 3.162 tỷ đồng (+13%); so với 31/12/2022 tăng 1.123 tỷ đồng (+4,3%). Trong đó: Dư nợ tín dụng thương mại 23.490 tỷ đồng, so với 31/12/2022 tăng 926 tỷ đồng (+4,1%); dư nợ tín dụng chính sách 3.910 tỷ đồng so với 31/12/2022 tăng 197 tỷ đồng (+5,3%).- Chất lượng tín dụng: Nợ xấu của các Ngân hàng đến 30/6/2023 khoảng 200 tỷ đồng, chiếm 0,7% trên tổng dư nợ. Các giải pháp tín dụng về tháo gỡ khó khăn cho khách hàng: Tính đến 31/5/2023, các ngân hàng thương mại trên địa bàn tỉnh đã hỗ trợ được 14 lượt khách hàng với số doanh số được hỗ trợ lãi suất đạt 2.144 tỷ đồng, số tiền lãi đã hỗ trợ cho khách hàng là 11,05 tỷ đồng.3. Giá cả- Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 6 năm 2023 tăng 0,49% so với tháng trước, tăng 3,76% so với cùng kỳ năm trước.- Trong tháng có 6/11 nhóm hàng có chỉ số CPI tăng so với tháng trước, trong đó: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,53%. Trong đó, lương thực tăng 0,03%; thực phẩm tăng 2,1%; ăn uống ngoài gia đình giảm 0,27%; đồ uống và thuốc lá tăng 0,75%, do thời tiết nắng nóng gay gắt với nhiệt độ cao, nhu cầu sử dụng các loại nước quả ép và nước uống tăng lực để bổ sung sức khỏe của người dân tăng đồng thời giá nguyên liệu đầu vào và giá vận chuyển tăng; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng nhẹ 0,21%; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,21% do thời tiết nắng nóng gay gắt nên nhu cầu mua sắm các loại thiết bị làm mát như quạt điện, điều hòa của người dân tăng; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,03%; giao thông tăng 0,17% là do giá xăng, dầu điều chỉnh tăng theo quyết định điều chỉnh của Tập đoàn xăng dầu Việt Nam về giá bán lẻ xăng, dầu; văn hóa giải trí và du lịch tăng 0,27% do nhu cầu đi lại, du lịch của người dân tăng.Có 5/11 nhóm hàng giảm giá, cụ thể như sau: Nhóm may mặc, mũ nón, giày dép giảm nhẹ 0,31% do thời tiết nắng nóng nhu cầu mua sắm các loại vải, giầy dép và quần áo may sẵn của người dân giảm; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 0,12%, do nhu cầu sử dụng nước sinh hoạt giảm, giá gas và các loại chất đốt giảm do nhu cầu tiêu thụ giảm xuống và lượng hàng tồn kho dồi dào, giá gas thế giới hạ nhiệt; bưu chính viễn thông giảm 0,02%; giáo dục giảm 0,02% do nhu cầu mua các loại văn phòng phẩm và đồ dùng giảm do học sinh các cấp đang bước vào kỳ nghỉ hè.- Chỉ số giá vàng giảm 1,19% so với tháng trước, tăng 1,49% so với cùng kỳ năm trước và tăng 4,54% so với tháng 12 năm trước. Tính chung 6 tháng đầu năm 2023 chỉ số giá vàng giảm 2,35% so với cùng kỳ năm trước. - Chỉ số giá đô la Mỹ tăng 0,15% so với tháng trước, tăng 1,37% so với cùng kỳ và giảm 1,04% so với tháng 12 năm trước. Tính chung 6 tháng đầu năm 2023, chỉ số giá đô la Mỹ tăng 2,82% so với cùng kỳ năm trước. - CPI bình quân 6 tháng đầu năm 2023 tăng 4,44% so với cùng kỳ năm 2022. Một số nguyên nhân cơ bản đã tác động tăng CPI là những nguyên nhân chủ yếu sau: Nhóm giáo dục là nhóm tăng mạnh nhất với mức tăng 46,31% nguyên nhân chủ yếu là do thực hiện tăng học phí theo Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh về việc tăng mức thu học phí, các khoản thu dịch vụ phục vụ và hỗ trợ hoạt động giáo dục từ năm học 2022-2023 trở đi tại các cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông và giáo dục thường xuyên công lập trên địa bàn; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 6,21%, chủ yếu do nhóm hàng lương thực tăng 6% (do giá gạo tăng), thực phẩm tăng 7,7%, ăn uống ngoài gia đình giảm 2,42%; đồ uống và thuốc lá tăng 5,37%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,97%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 1,88%; thiết bị đồ dùng gia đình tăng 1,34%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 2,6%; văn hóa, giải trí, du lịch tăng 3,11%,…4. Vốn đầu tư và xây dựng 4.1. Tình hình thực hiện vốn đầu tư Để phục hồi và phát triển kinh tế sau dịch Covid-19, Chính phủ xác định thúc đẩy đầu tư công là một trong những trụ cột chính, là động lực phát triển, có tác động lan tỏa tới các ngành, nghề lĩnh vực trong nền kinh tế. Việc đẩy mạnh đầu tư công vừa kích thích chi tiêu đầu tư công trong ngắn hạn để tạo động lực thúc đẩy công nghiệp hoá, thúc đẩy tăng trưởng nhanh và là công cụ chủ yếu điều hành kinh tế vĩ mô và tạo ra các kết cấu hạ tầng phục vụ hiệu quả, lâu dài cho nền kinh tế.4.1.1. Vốn đầu tư phát triển toàn xã hộiTrong 6 tháng đầu năm 2023, nguồn vốn đầu tư phát triển toàn xã hội ước đạt 6.502 tỷ đồng, tăng 17,87% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Nguồn vốn từ khu vực nhà nước chiếm tỷ trọng 21,91% trong tổng nguồn vốn đầu tư phát triển toàn xã hội, chứng tỏ nguồn vốn từ khu vực nhà nước tiếp tục giữ vai trò chủ đạo trong tăng trưởng nguồn vốn đầu tư xã hội và là động lực chínhcho phục hồi và phát triển kinh tế, do Chính phủ đã dùng nhiều biện pháp thúc đẩy tốc độ giải ngân vốn đầu tư công, tập trung vào cơ sở hạ tầng, đẩy nhanh tiến độ xây dựng các công trình trọng điểm; nguồn vốn đầu tư của dân cư và tư nhân chiếm tỷ trọng lớn nhất chiếm 74,78% tổng nguồn vốn, chứng tỏ tình hình tình hình sản xuất kinh doanh của khu vực tư nhân có xu hướng chậm lại do tác động tiêu cực của dịch Covid-19 đến hoạt động của doanh nghiệp; dù vậy, với nguồn lực ngân sách còn hạn hẹp, để có đủ nguồn lực thúc đẩy phục hồi và tăng trưởng ổn định, Chính phủ đã tăng cường thu hút các nguồn vốn đầu tư từ các khu vực kinh tế ngoài nhà nước, nhằm thúc đẩy tăng trưởng và bảo đảm an sinh xã hội; nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chiếm tỷ trọng nhỏ, chiếm 0,73% trên tổng nguồn vốn,...4.1.2. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước- Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước thực hiện tháng 6 đạt 320 tỷ đồng, tăng 15,99% so với tháng trước; tăng 23,9% so với tháng cùng kỳ năm trước, trong đó: Vốn ngân sách cấp tỉnh đạt 283 tỷ đồng, tăng 16,66%, tăng 23,57%; vốn ngân sách cấp huyện đạt 35 tỷ đồng, tăng 11,53%, tăng 28,83%; vốn ngân sách cấp xã đạt 2 tỷ đồng, tăng 3,38%, giảm 5,29%.- Ước thực hiện 6 tháng đạt 1.413 tỷ đồng, tăng 33,19% so với cùng kỳ, trong đó: Vốn ngân sách cấp tỉnh đạt 1.250 tỷ đồng, tăng 32,98%; vốn ngân sách cấp huyện đạt 149 tỷ đồng, tăng 38,23%; vốn ngân sách cấp xã đạt 14 tỷ đồng, tăng 7%.4.2. Xây dựng Năm 2023, Tuyên Quang được giao tổng kế hoạch vốn đầu tư công là trên 4.490 tỷ đồng, trong đó: Vốn kế hoạch năm 2022 kéo dài sang năm 2023 là 1.314 tỷ đồng; nguồn vốn đã giao đến ngày 19/5/2023 là 3.176 tỷ đồng là nguồn vốn của 03 chương trình mục tiêu quốc gia; 2.430 tỷ đồng vốn thuộc Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội, theo kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2021-2025 cho dự án cao tốc Tuyên Quang - Hà Giang (giai đoạn 1) đoạn qua tỉnh Tuyên Quang.Tính đến ngày 19/5/2023, tổng số vốn đã giải ngân được trên 770 tỷ đồng, đạt 17,16% kế hoạch, nằm trong nhóm những tỉnh có kết quả giải ngân thấp của cả nước (ước giải ngân trung bình cả nước đến hết tháng 5/2023, đạt 22,2%), trong đó: Nguồn vốn kế hoạch năm 2023 giải ngân được 598 tỷ đồng; nguồn vốn năm 2022 kéo dài thời gian thực hiện và giải ngân sang năm 2023 giải ngân được 172 tỷ đồng.5. Hoạt động của doanh nghiệp5.1. Về tình hình hoạt động của doanh nghiệp- Tính đến thời điểm ngày 20/6 trong tháng toàn tỉnh có 19 doanh nghiệp thành lập mới trong tháng với số vốn đăng ký đạt trên 879 tỷ đồng, giảm 13,64% về số lượng, tổng số vốn đăng ký giảm 46,98% so với cùng kỳ; vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp trên 13 tỷ đồng.- Tính chung trong 6 tháng đầu năm 2023, ước tính toàn tỉnh có 113 doanh nghiệp thành lập mới với tổng số vốn đăng ký là 879 tỷ đồng, giảm 28,02% về số doanh nghiệp, số vốn đăng ký giảm 38,89% so với cùng kỳ, số vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới đạt 7,8 tỷ đồng, giảm 15,09% so với cùng kỳ. - Số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trong 6 tháng là 67 doanh nghiệp, giảm 26,37% so với cùng kỳ. Tổng số doanh nghiệp đang hoạt động trên địa bàn tỉnh là 2.494 doanh nghiệp (bao gồm 11 doanh nghiệp nhà nước và 15 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài) với tổng số vốn đăng ký trên 28.347 tỷ đồng; số vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp đạt trên 11 tỷ đồng. - Số doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động là 127 doanh nghiệp, tăng 2,42% (tăng 03 doanh nghiệp so với cùng kỳ). Số doanh nghiệp đã hoàn tất thủ tục giải thể là 12 doanh nghiệp, giảm 01 doanh nghiệp so với cùng kỳ.Nhìn chung, hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp còn nhiều khó khăn, số lượng doanh nghiệp thành lập mới giảm, trong khi số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường lại tăng so với cùng kỳ. Nguyên nhân các doanh nghiệp ngừng hoạt động và giải thể là sản xuất - kinh doanh còn gặp nhiều khó khăn; sản lượng và số lượng đơn đặt hàng mới tiếp tục giảm; giá xăng dầu liên tục biến động, chi phí logistics quá cao; lãi suất ngân hàng điều chỉnh tăng khiến chi phí sản xuất của doanh nghiệp tăng từ 5 – 10%; sức chống chọi của các doanh nghiệp kém và đặc biệt là những khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn của các doanh nghiệp,…5.2. Tình hình xu hướng kinh doanh của các doanh nghiệp ngành chế biến chế tạo quý II năm 2023Kết quả điều tra về xu hướng kinh doanh của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong quý II năm 2023 cho thấy: 19,35% số doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh quý II năm nay khả quan hơn quý trước; 58,06% doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh ổn định và có 22,58% doanh nghiệp đánh giá gặp khó khăn trong sản xuất kinh doanh. Chỉ số cân bằng của quý II năm 2023 so với quý I là -3,23%. Dự kiến xu hướng kinh doanh quý tiếp theo so với quý hiện tại năm 2023 cho thấy: Có 45,16% doanh nghiệp đánh giá xu hướng sẽ tốt lên (trong đó có ngành: Sản xuất đường; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa; sản xuất bột giấy, giấy và bìa; in, sao chép bản ghi các loại; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất; sản xuất xi măng, vôi, thạch cao; gia công cơ khí); 41,94% doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh sẽ ổn định (trong đó có ngành: Sản xuất thực phẩm khác chưa được phân vào đâu; sản xuất trang phục; sản xuất giày dép; sản xuất các sản phẩm khác từ giấy, bìa chưa được phân vào đâu; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học); 12,9% số doanh nghiệp dự báo tiếp tục khó khăn hơn. Dự tính chỉ số cân bằng của quý tiếp theo so với quý hiện tại là 32,26%. 6. Kết quả tình hình sản xuất Nông, lâm nghiệp và thủy sản 6 tháng đầu năm 20236.1. Trồng trọt 6.1.1. Sản xuất vụ đông xuân năm 2023Sản xuất Đông Xuân 2022-2023 thời tiết diễn biến phức tạp và khó lường, những đợt mưa lớn kèm theo rét lạnh xảy ra trên diện rộng ở thời điểm trước và trong tết Nguyên Đán đã ảnh hưởng lớn đến sản xuất đầu vụ, nhiều loại cây trồng bị hư hại và chậm phát triển do mưa lạnh, tiến độ gieo trồng vụ Đông Xuân bị chậm lại. Ngành chức năng và chính quyền các cấp đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo sản xuất, diện tích gieo cấy lúa được đảm bảo theo kế hoạch đề ra và theo đúng khung lịch thời vụ. Tuy nhiên, việc đảm bảo nguồn nước để phục vụ sản xuất còn gặp khá nhiều khó khăn, từ đầu vụ Đông đến nay, lượng mưa thấp hơn trung bình nhiều năm; nhiều hồ chứa thủy lợi mực nước đã tụt xuống mức thấp hơn trung bình nhiều năm đây là những điều kiện bất lợi cho sản xuất nông nghiệp.Sơ bộ vụ đông xuân 2023 toàn tỉnh gieo trồng được 49.826 ha, tăng nhẹ 0,01% (tăng 3,51 ha) so với năm 2022, trong đó: Vụ xuân đạt 35.247 ha, tăng 0,03% (tăng 10 ha); vụ đông đạt 14.579 ha, giảm nhẹ 0,05% (giảm 7,29 ha). Cụ thể diện tích một số cây trồng chủ yếu như sau:- Cây lúa: Diện tích gieo trồng được 18.699 ha, giảm 1,52% (giảm 288,91 ha) so với vụ đông xuân năm 2022; năng suất lúa bình quân chung ước đạt 60,77 tạ/ha, tăng 0,66% (tăng 0,4 tạ/ha); sản lượng ước đạt 113.634 tấn, giảm 0,87% (giảm 999 tấn).- Cây ngô: Trồng được 13.435 ha, giảm 1,38% (giảm 187,6 ha), giảm so với vụ đông xuân năm 2022, trong đó: Vụ xuân 8.043 ha, giảm 0,59% (giảm 48,08 ha); vụ đông 5.392 ha, giảm 2,52% (giảm 139,52 ha); năng suất ước đạt 46,13 tạ/ha, giảm 0,47% (giảm 0,22 tạ/ha) giảm chủ yếu ở vụ xuân), trong đó: Vụ xuân 46,5 tạ/ha, giảm 1,27% (giảm 0,6 tạ/ha); vụ đông 45,57 tạ/ha, tăng 0,7% (tăng 0,32 tạ/ha); sản lượng ước đạt 61.970 tấn, giảm 1,84% (giảm 1.164,77 tấn), trong đó: Vụ xuân đạt 37.399 tấn, giảm 1,85% (giảm 705,59 tấn); vụ đông đạt 24.571 tấn, giảm 1,84% (giảm 459,58 tấn).- Cây khoai lang: Trồng được 1.654 ha, giảm 5,54% (giảm 97,06 ha) so với vụ đông xuân năm 2022, trong đó: vụ xuân 528 ha, giảm 9,01% (giảm 52,25 ha); vụ đông 1.126 ha, giảm 3,83% (giảm 44,81 ha); năng suất ước đạt 62,56 tạ/ha, tăng 0,29% (tăng 0,18 tạ/ha), trong đó: Vụ xuân 64,51 tạ/ha, tăng 0,3% (tăng 0,19 tạ/ha); vụ đông 61,65 tạ/ha, tăng 0,35% (tăng 0,21 tạ/ha); sản lượng ước đạt 10.347 tấn, giảm 5,27% (giảm 575,23 tấn), trong đó: Vụ xuân 3.404 tấn, giảm 8,74% (giảm 325,91 tấn); vụ đông đạt 6.943 tấn, giảm 3,49% (giảm 251,19 tấn).- Cây đậu tương: Trồng được 150 ha, tăng 19,93% (tăng 24,97 ha), trong đó: Vụ xuân 93 ha, giảm 9,93%; vụ đông 57 ha; năng suất ước đạt 18,76 tạ/ha, giảm 2,75% (giảm 0,53 tạ/ha), trong đó: Vụ xuân 20,17 tạ/ha, tăng 2,25% (tăng 0,44 tạ/ha); vụ đông 16,49 tạ/ha; sản lượng đạt 282 tấn, tăng 16,64% (tăng 40,21 tấn), trong đó: Vụ xuân 187 tấn, giảm 7,6% (giảm 15 tấn), vụ đông đạt 95 tấn, tăng 146,66 % (tăng 56,29 tấn).- Cây lạc: Trồng được 3.275 ha, giảm 1,03% (giảm 33,93 ha); năng suất ước đạt 29,56 tạ/ha, tăng 0,97% (tăng 0,28 tạ/ha); sản lượng đạt 9.680 tấn, giảm 0,06% (giảm 6,29 tấn). 6.1.2 Cây lâu nămDiện tích cây chuối hiện có trên địa bàn tỉnh 2.232 ha tăng 1,11% so với cùng kỳ năm trước, sản lượng ước đạt trên 8.731 tấn, tăng 2,5%; sản lượng chuối chủ yếu được tiêu thụ cho các thành phố lớn như Hà Nội, Bắc Ninh, Hưng Yên, Thanh Hóa và các địa phương khác trong cả nước,… cây vải hiện có 316,59 ha, sản lượng thu hoạch ước đạt 1.773 tấn, tăng 1,57%. Diện tích cây chè trên địa bàn tỉnh hiện có 8.289 ha, sản lượng thu hoạch đến ngày 15/5/2023 ước đạt 33.338 tấn, tăng 2,71% so với cùng kỳ.Nhìn chung, mặc dù sản xuất cây trồng chính vụ đông xuân 2023 ở các địa phương trong tỉnh đã được triển khai gieo trồng trong khung thời vụ tốt nhất nhưng do ảnh hưởng cực đoan của thời tiết, thời tiết khô hạn kéo dài, diện tích gieo trồng giảm nên năng suất và sản lượng một số cây trồng chính giảm so với vụ đông xuân trước. Hơn nữa, do giá vật tư đầu vào cho sản xuất tăng cao, nhất là phân bón dẫn đến tăng giá thành sản xuất và giảm lợi nhuận của người nông dân. 6.1.3. Sản xuất vụ mùa năm 2023Vụ mùa năm 2023, toàn tỉnh gieo cấy 24.568 ha lúa trong đó: Lúa lai 9.022 ha, lúa thuần 15.546 ha. Hiện nay, các địa phương trong tỉnh đang tập trung nhân lực, huy động máy móc, đẩy nhanh thu hoạch vụ xuân, với phương châm thu hoạch đến đâu làm đất gieo cấy vụ mùa đến đó, đẩy nhanh tiến độ sản xuất vụ mùa, bảo đảm khung thời vụ cho vụ đông sắp tới; tính đến ngày 15/6/2023 toàn tỉnh đã gieo được 324.970 kg mạ, toàn tỉnh đã cấy được 148,7 ha, tương đương 8.197,5 ha.6.2. Về chăn nuôi 6.2.1. Về số lượng đàn gia súc, gia cầmĐàn trâu tổng đàn ước đạt 90.124 con, giảm 0,26% (giảm 323 con) so với cùng kỳ năm 2022; đàn bò 39.646 con, tăng 3,19% (tăng 1.226 con); đàn lợn 562.448 con, tăng 1,11% (tăng 6.150 con); đàn gia cầm 7.022,88 nghìn con, tăng 2,83% (tăng 193,19 nghìn con).6.2.2. Về sản phẩm đàn gia súc, gia cầmĐàn trâu sản lượng đạt 3.787 tấn, tăng 6,21% (tăng 221,36 tấn) so với cùng kỳ năm 2022; đàn bò 1.239 tấn, tăng 7,83% (tăng 90,72 tấn); đàn lợn 32.755 tấn, tăng 5,23% (tăng 1.628,36 tấn); đàn gia cầm 9.533 tấn, tăng 5,89% (tăng 525,55 tấn).Đánh giá chung, tình hình chăn nuôi trong 6 tháng đầu năm trên địa bàn tỉnh nhìn chung ổn định, không có biến động lớn về dịch bệnh. Các địa phương chủ động triển khai các hoạt động phòng, chống và giám sát chặt chẽ tình hình dịch bệnh; đàn trâu tiếp tục xu hướng giảm do hiệu quả kinh tế không cao, diện tích chăn thả bị thu hẹp; đàn bò giữ ổn định, có xu hướng tăng do có thị trường tiêu thụ tốt, giá bán thịt bò hơi ở mức khá, người chăn nuôi có lãi ổn định, đồng thời có được sự hỗ trợ nguồn vốn, hướng dẫn kỹ thuật chăn nuôi của các ngành, các cấp và chính quyền địa phương; chăn nuôi gia cầm luôn được quan tâm và phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng. Tuy nhiên, do giá thức ăn chăn nuôi vẫn còn ở mức cao và diễn biến bất thường, giá bán các loại sản phẩm dao động quanh vùng giá thấp, sức tiêu thụ của thị trường giảm, nhất là tại các bếp ăn tập thể của các khu công nghiệp, trong khi đó giá con giống tăng, khiến người nuôi gà công nghiệp thua lỗ, khiến người chăn nuôi gặp nhiều khó khăn trong việc duy trì, mở rộng và phát triển đàn.6.3. Công tác phòng chống dịch bệnh gia súc, gia cầm6.3.1. Công tác phòng chống và điều trị - Bệnh Dịch tả lợn Châu Phi: Trong 6 tháng đầu năm 2023 đến nay, bệnh DTLCP đã xảy ra tại 49 hộ với 12 thôn tại 4 xã, thị trấn của huyện Lâm Bình; số lượng lợn mắc bệnh phải tiêu huỷ là: 178 con, tổng trọng lượng là: 5.192 kg. - Các bệnh truyền nhiễm khác: Hiện nay trên địa bàn chưa xuất hiện các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm như công tác theo dõi giám sát được tăng cường thường xuyên, đồng thời phối hợp chặt chẽ với các huyện thành phố để kịp thời xử lý ngay khi dịch bệnh xảy ra.- Trên địa bàn các huyện, thành phố rải rác xuất hiện các bệnh Tụ huyết trùng; ký sinh trùng, chướng bụng đầy hơi, sán lá gan (đàn trâu, bò,tiêu chảy, lép tô, phân trắng lợn con (đàn lợn); Newcastle, THT, cầu trùng…(đối với đàn gia cầm),đã được nhân viên thú y phát hiện, điều trị khỏi: 3.060/7.045 con, trong đó: Trâu, bò: 438/439 con; đàn lợn: 2.622/2.706 con.6.3.2. Công tác tiêm phòng: Đã thực hiện công tác tiêm phòng bổ sung cho đàn gia súc, gia cầm, cụ thể như sau: Đàn trâu LMLM: 51.218 con; THT: 53.966 con; đàn bò LMLM: 25.418 con; THT: 25.750 con; đàn lợn LMLM: 20.581 con; THT: 322.860 con; Dịch tả: 317.592 con; đàn gia cầm THT: 2.960.856 con; Niucatson: 3.189.291 con. 6.4. Công tác kiểm dịch vận chuyển và công tác kiểm soát giết mổ- Trong 6 tháng đầu năm 2023 các Trạm Kiểm dịch vận chuyển ngoại tỉnh: Đã kiểm tra cấp 1.742 giấy chứng nhận kiểm dịch vận chuyển, trong đó: 1.680 chuyến vận chuyển 153.455 con gia súc, gia cầm; Vận chuyển 16.556.000 kg nguyên liệu sữa tươi và vận chuyển 40.500 kg sản phẩm động vật đi các tỉnh Bắc Ninh, Hà Nội, Hà Nam, Nam Định, Hà Giang...- Tại các Trạm Kiểm dịch động vật: Duy trì thực nhiện, đã kiểm tra 958 lượt phương tiện vận chuyển đủ thủ tục (397 chuyến vận chuyển 63.951 con gia súc, 554 chuyến vận chuyển 560.023 con gia cầm, 6 chuyến vận chuyển 35.283 kg sản phẩm động vật). - Kiểm soát giết mổ và kiểm tra vệ sinh thú y: Trung tâm Dịch vụ nông nghiệp các huyện, thành phố duy trì công tác kiểm soát giết mổ trên địa bàn, đã kiểm tra, đóng dấu: 1.149 con trâu, bò; 30.007 con lợn.6.5. Về sản xuất lâm nghiệp Năm 2023, toàn tỉnh phấn đấu trồng mới trên 10.100 ha, trong đó: Rừng sản xuất là 9.700 ha, rừng phân tán 400 ha. Ngay từ đầu năm các địa phương trong tỉnh đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động, người dân tham gia trồng, chăm sóc, bảo vệ và phát triển rừng. 6.5.1. Công tác trồng rừngTrong 6 tháng đầu năm, toàn tỉnh đã trồng được 9.940 ha, tăng 0,75% (tăng 74,17 ha) so với cùng kỳ; số cây lâm nghiệp trồng phân tán là 736,65 nghìn cây.6.5.2. Khai thác gỗ rừng trồng  Toàn tỉnh khai thác được 581.989 m3 gỗ¬, tăng 6,94% (tăng 37.765 m3) so với cùng kỳ năm 2022. Gỗ khai thác chủ yếu là gỗ rừng trồng nguyên liệu như keo, bạch đàn phục vụ cho các công ty chế biến gỗ và sản xuất giấy trên địa bàn tỉnh.6.5.3. Công tác quản lý bảo vệ rừngHiện nay, thời tiết đã bước vào thời kỳ cao điểm hanh khô, nhiều diện tích rừng trên địa bàn tỉnh có nguy cơ cháy rất cao, đặc biệt là ở một số huyện trọng điểm về cháy rừng. Để chủ động phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR) mùa hanh khô, ngành chức năng của tỉnh đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục cho người dân nâng cao kiến thức về phòng cháy, chữa cháy rừng; triển khai nhiều phương án thiết thực, hiệu quả nhằm hạn chế thấp nhất các vụ cháy rừng xảy ra.Trong 6 tháng đầu năm 2023, trên địa bàn toàn tỉnh đã xảy ra 04 vụ, diện tích rừng bị cháy trên 6,57 ha; số vụ chặt phá rừng 18 vụ, diện tích rừng bị chặt phá 12,93 ha. Đã xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng, đã kiểm tra, phát hiện và xử lý tịch thu 11 phương tiện và 39,53 m3 gỗ các loại; phạt hành chính và bán thanh lý tài sản 356,55 triệu đồng (đã thu nộp ngân sách 233,8 triệu đồng).6.6. Về thuỷ sảnƯớc tính, diện tích nuôi trồng thuỷ sản 6 tháng đầu năm đạt 3.369 ha, giảm 0,57% (giảm 65,83 ha) so với cùng kỳ năm 2022. Tổng sản lượng thuỷ sản ước đạt 5.189 tấn, tăng 8,1% (tăng 388,89 tấn), trong đó: Sản lượng nuôi trồng 4.589 tấn, tăng 7,51% (tăng 320,65 tấn); sản lượng khai thác 600 tấn, tăng 12,84% (tăng 68,24 tấn); sản xuất giống được 75 triệu con, giảm 0,08% (giảm 0,06 triệu con).6.7. Phát động Tết trồng cây “Đời đời nhớ ơn Bác Hồ” Xuân Quý Mão 2023Tỉnh đã tổ chức Lễ phát động Tết trồng cây “Đời đời nhớ ơn Bác Hồ” Xuân Quý Mão 2023; với số lượng khoảng 3.000 cây trong đó 2.930 cây Keo (Lai mô hoặc Tai tượng hạt ngoại); 70 cây bản địa (cây Chò chỉ, Đinh, Lim... cao trên 1 m có đánh số thứ tự) đảm bảo tiêu chuẩn theo hướng dẫn của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.6.8. Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới Năm 2023, toàn tỉnh phấn đấu 12 xã đăng ký hoàn thành xây dựng nông thôn mới, 09 xã xây dựng đạt chuẩn xã nông thôn mới nâng cao, trong đó 05 xã trong kế hoạch đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao năm 2022 chuyển sang thực hiện năm 2023 và thêm 04 xã xây dựng đạt chuẩn xã nông thôn mới kiểu mẫu, trong đó: 01 xã trong kế hoạch đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu năm 2022 chuyển sang thực hiện năm 2023. Toàn tỉnh hiện có 62/122 xã đạt chuẩn nông thôn mới (chiếm 50,82%) tiêu chí bình quân trên xã đạt 15,87 tiêu chí/xã.Tổ chức Hội nghị công bố kết quả đánh giá, xếp hạng sản phẩm OCOP năm 2022 và triển khai nhiệm vụ, giải pháp thực hiện Chương trình OCOP năm 2023. Theo đó, năm 2022, tỉnh đã đánh giá, xếp hạng 66 sản phẩm OCOP. Trong đó, 6 sản phẩm đạt hạng 4 sao, 57 sản phẩm đạt hạng 3 sao, 3 sản phẩm được công nhận nâng hạng từ 3 sao lên 4 sao. Riêng sản phẩm chè Shan tuyết Hồng Thái (Na Hang) loại 1 tôm, 1 lá đang hoàn thiện hồ sơ đề nghị Hội đồng OCOP cấp quốc gia nâng hạng từ 4 sao lên 5 sao. Năm 2023, tỉnh tiếp tục hỗ trợ nâng cao chất lượng, tiêu chuẩn hoá, nâng hạng các sản phẩm OCOP. Trong đó, phấn đấu, đánh giá, phân hạng trên 40 sản phẩm OCOP mới đạt từ 3 sao trở lên; nâng hạng trên 10 sản phẩm OCOP từ 3 sao lên hạng 4 sao; hỗ trợ tiêu chuẩn hoá 3 sản phẩm OCOP tiềm năng 5 sao,…- Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới đã có sức ảnh hưởng rất lớn và tác động tích cực đến đời sống vật chất, tinh thần của người dân nông thôn, đẩy mạnh sự phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội, quốc phòng - an ninh khu vực nông thôn, giúp rút ngắn khoảng cách giữa nông thôn và thành thị. Bộ mặt nông thôn được cải thiện, đời sống của nhân dân được nâng lên, tỷ lệ hộ nghèo, cận nghèo giảm đáng kể tại các xã. 7. Sản xuất công nghiệp- Trong tháng, một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng so với tháng cùng kỳ năm trước như: Bột ba rít đạt 3.500 tấn, tăng 1.027,21%; bột Felspat nghiền tăng 8,74%; xi măng tăng 26,13%; bột giấy tăng 25,18%; may mặc xuất khẩu tăng 44,08%; giày da tăng 37,14%; thép cây, thép cuộn tăng 6,2%,… Tuy nhiên, cũng có một số sản phẩm công nghiệp chính giảm so với cùng kỳ như: Điện thương phẩm giảm 8,2%; điện sản xuất giảm 61,2%; nước máy thương phẩm giảm 4,39%,...- Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu 6 tháng đầu năm 2023 tăng so với cùng kỳ năm trước như: Điện thương phẩm tăng 1,57%; bột ba rít tăng 40,49%; bột Felspat nghiền tăng 16,95%; giấy đế xuất khẩu tăng 22,46%; giấy in viết, photo thành phẩm tăng 23,42%; giày da tăng 6,12%; gỗ tinh chế tăng 5,96%; thép cây, thép cuộn tăng 28,64%,… Tuy nhiên, một số sản phẩm công nghiệp có chiều hướng giảm so với cùng kỳ như: Điện sản xuất giảm 43,54%; đường kính giảm 18,35%; chè chế biến giảm 6,07%; xi măng giảm 13,44%; bột giấy giảm 10,87%; may mặc xuất khẩu giảm 20,17%,...Nhìn chung, tình hình sản xuất công nghiệp tỉnh đang dần phục hồi và phát triển sản xuất hiệu quả, tỉnh đã ban hành các chính sách hỗ trợ, nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các doanh nghiệp sản xuất và đẩy nhanh tiến độ triển khai xây dựng các dự án tại các khu, cụm công nghiệp để sớm hoàn thành đưa vào sản xuất như: Nhà máy gạch tuynel công nghệ cao; Nhà máy Sao Việt Wood và hoàn thành hồ sơ, thủ tục phê duyệt quy hoạch Khu công nghiệp Nhữ Khê - Đội Cấn,… đã góp phần tăng khối lượng sản phẩm công nghiệp trên địa bàn tỉnh. Cùng với đó là sự chủ động thích ứng của các doanh nghiệp trong sản xuất, đẩy mạnh kết nối giữa doanh nghiệp sản xuất trên địa bàn tỉnh với đối tác có nhu cầu nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp trong tiêu thụ hàng hóa, giữ vững chất lượng và thương hiệu, nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường, tạo thu nhập ổn định cho người lao động, đóng góp ngân sách lớn thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương. Tuy nhiên, đối với các nhóm hàng may mặc xuất khẩu, gỗ, đường, bột giấy,… do nhu cầu tiêu dùng giảm của các đối tác thương mại truyền thống lớn như: Trung Quốc, Mỹ và EU giảm dẫn đến đơn hàng sản xuất giảm, kim ngạch xuất khẩu giảm, phải cắt giảm bớt công nhân do thừa nguồn lao động. Để phục hồi sản xuất, bắt buộc các doanh nghiệp, cùng với đó là chuyển hướng đa dạng sản phẩm và tìm kiếm thị trường mới. Đây là thách thức rất lớn đối với doanh nghiệp trong bối cảnh kinh tế thế giới vẫn đang bất ổn.8. Thương mại và Dịch vụThị trường hàng hóa 6 tháng đầu năm 2023 trên địa bàn tỉnh không có biến động bất thường. Mặc dù chịu ảnh hưởng từ các yếu tố như giá nguyên, nhiên liệu thế giới, áp lực lạm phát và sự đứt gãy chuỗi cung ứng nhiều hàng hóa cơ bản,… nhưng cơ bản, cung cầu các mặt hàng được bảo đảm, giá có sự tăng, giảm đan xen đối với từng nhóm hàng. Nguồn cung các mặt hàng xăng, dầu đầy đủ, giá trong nước diễn biến và chịu tác động của giá nhiên liệu thế giới. Hoạt động kinh doanh thương mại, dịch vụ và vận tải trên địa bàn tỉnh tăng trưởng khá so với cùng kỳ; du lịch, lữ hành được phục hồi và khởi sắc; xuất, nhập khẩu ổn định, chỉ số giá được kiềm chế ở mức thấp. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 6 tháng đầu năm 2023 ước đạt 13.350 tỷ đồng, tăng 1,22% (tăng 2.410,51 tỷ đồng) so với cùng kỳ,…8.1. Doanh thu bán lẻ hàng hóa - Doanh thu bán lẻ hàng hóa trong tháng 6 ước đạt 2.123 tỷ đồng, tăng 2,11% so với tháng trước, tăng 21,48% so với tháng cùng kỳ. Một số nhóm hàng hóa chính là: Lương thực, thực phẩm tăng 1,09%, tăng 32,47%; hàng may mặc tăng 0,74%, tăng 9,2%; đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình tăng 2,46%, tăng 28,35%; vật phẩm, văn hoá, giáo dục tăng 3,26%, tăng 26,8%; gỗ và vật liệu xây dựng, tăng 2,27%, giảm 6,07%; nhiên liệu khác (trừ xăng dầu) tăng 2,46%, giảm 3,44%; sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác tăng 1,83%, giảm 6,31%,… - Tính chung trong 6 tháng, tổng mức bán lẻ hàng hóa đạt 11.760 tỷ đồng, tăng 19,88% so với cùng kỳ. Một số nhóm hàng hóa chính là: Lương thực, thực phẩm tăng 3,93%; hàng may mặc tăng 4,8%, tăng 9,2%; đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình tăng 62,45%; vật phẩm, văn hoá, giáo dục tăng 70,9%; gỗ và vật liệu xây dựng, tăng 9,19%,…8.2. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống,- Trong tháng, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 214 tỷ đồng, tăng 2,77% so với tháng trước, tăng 46,85% so với cùng kỳ. Trong đó: Doanh thu dịch vụ lưu trú đạt 18 tỷ đồng, tăng 3,54%, tăng 42,91%; dịch vụ ăn uống đạt 195 tỷ đồng, tăng 2,7%, tăng 47,23%.- Tính chung trong 6 tháng, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 1.114 tỷ đồng, tăng 41,75% so với cùng kỳ. Trong đó: Doanh thu dịch vụ lưu trú đạt 90 tỷ đồng, tăng 37,88%; dịch vụ ăn uống đạt 1.024 tỷ đồng, tăng 42,1%.8.3. Doanh thu du lịch lữ hành và dịch vụ khác- Trong tháng, doanh thu du lịch lữ hành ước đạt 0,17 tỷ đồng, tăng 2,38% so với tháng trước. Tính chung trong 6 tháng doanh thu du lịch lữ hành ước đạt 0,96 tỷ đồng, tăng 130,84%.- Doanh thu dịch vụ khác trong tháng ước đạt 81 tỷ đồng, tăng 0,57% so với tháng trước, tăng 37,6% so với cùng kỳ, trong đó: Dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ giảm 6,2%, tăng 13,02%; giáo dục và đào tạo giảm 4,54%, tăng 34,66%; y tế và hoạt động trợ giúp xã hội giảm 0,14%, tăng 10,51%,…- Tính chung trong 6 tháng doanh thu dịch vụ khác ước đạt 475 tỷ đồng, tăng 38,35% so với cùng kỳ. 8.4. Xuất, nhập khẩu hàng hóaNhững khó khăn trong sản xuất và sự sụt giảm đơn hàng xuất khẩu tiếp tục ảnh hưởng đến xuất khẩu hàng hóa trong tháng 6, kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa ước đạt 17,5 triệu USD, giảm 39,44% so với tháng cùng kỳ năm trước, trong đó: Xuất khẩu ước đạt 10,4 triệu USD, giảm 48%; nhập khẩu ước đạt 7,1 triệu USD, giảm 20,22%. Tính chung trong 6 tháng đầu năm 2023, kim ngạch xuất, nhập khẩu ước đạt 112,3 triệu USD, đạt 46,79% kế hoạch, giảm 16,88% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Xuất khẩu ước đạt 67,2 triệu USD, 44,8% kế hoạch, giảm 24,41%; nhập khẩu ước đạt 45,1 triệu USD, đạt 50,1% kế hoạch, giảm 2,5%.Bên cạnh sự sụt giảm đơn hàng xuất khẩu, giá trị hàng hoá xuất khẩu giảm cũng là một trong những yếu tố làm giảm kim ngạch xuất khẩu của tỉnh trong 6 tháng đầu năm nay. Trong đó, giá xuất khẩu bình quân nhiều mặt hàng giảm so với cùng kỳ năm trước, như: Bột ba rít giảm 49,6%, bột giấy giảm 73,3%, giấy in viết, photo thành phẩm giảm 88,5%, hàng dệt may giảm 34,3%, giấy đế xuất khẩu giảm 15,1%… Chỉ có một số ít mặt hàng có giá xuất khẩu tăng như: Chè tăng 437,3%, antimony thỏi tăng 208,8%,... 9. Vận tải hàng hóa và hành khách Sau một thời gian bị ảnh hưởng vì đại dịch Covid-19, hoạt động vận tải của tỉnh đã phục hồi và có sự tăng trưởng; từ đầu năm đến nay, nhu cầu đi du lịch, lễ hội và vận chuyển hàng hóa của người dân tăng cao. Các đơn vị vận tải đang tích cực tăng cường phương tiện, nhân lực phục vụ nhu cầu đi lại của người dân, hàng hóa vận chuyển được thông suốt, tiết kiệm chi phí xã hội; ngành chức năng đã chú trọng, tăng cường xử lý các hành vi vi phạm quy định pháp luật về bảo đảm trật tự, an toàn giao thông, vi phạm nồng độ cồn, chở quá khổ, quá tải, quá số người quy định, phương tiện không bảo đảm an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường...9.1. Doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải- Doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải tháng 6 ước đạt 298 tỷ đồng, tăng 0,64% so với tháng trước, tăng 5,17% so với cùng kỳ. Trong đó, vận tải hành khách ước đạt 54 tỷ đồng, tăng 3,05%, tăng 8,54%; vận tải hàng hóa ước đạt 243 tỷ đồng, tăng 0,1%, tăng 4,39%; kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 0,37 tỷ đồng, tăng 11,87%, tăng 35,05%,…- Tính chung, trong 6 tháng đầu năm 2023, doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 1.738 tỷ đồng, tăng 32,76% so với cùng kỳ. Trong đó, doanh thu vận tải hành khách ước đạt 304 tỷ đồng, tăng 37,91%; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 1.430 tỷ đồng, tăng 31,61%; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 2 tỷ đồng, tăng 57,62%,…9.2. Vận tải hành khách và hàng hóa9.2.1. Vận tải hành khách- Khối lượng hành khách vận chuyển ước đạt 1 triệu lượt hành khách, tăng 1,06% so với tháng trước, tăng 38,97% so với cùng kỳ; khối lượng hành khách luân chuyển ước đạt 73 triệu lượt hành khách.km, tăng 5,6%, tăng 16,76%.- Tính chung trong 6 tháng, khối lượng hành khách vận chuyển ước đạt 5 triệu lượt hành khách, tăng 48,35% so với cùng kỳ; khối lượng hành khách luân chuyển ước đạt 398 triệu lượt hành khách.km, tăng 18,62%.9.2.2. Vận tải hàng hóa- Khối lượng hàng hóa vận chuyển ước đạt 2 triệu tấn, tăng 2,15% so với tháng trước, tăng 49,93% so với cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 104 triệu tấn.km, tăng 1,82%, tăng 31,27%.- Tính chung trong 6 tháng, khối lượng hàng hóa vận chuyển ước đạt 10 triệu tấn, tăng 39,93% so với cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 613 triệu tấn.km, tăng 38,67%.10. Về du lịch Tỉnh đã tổ chức thành công các hoạt động Chương trình Khai mạc năm du lịch tỉnh Tuyên Quang năm 2023 và trao "Giải thưởng phong cảnh thành phố Châu Á" cho "Quảng trường Nguyễn Tất Thành - Tinh hoa của núi rừng"; Lễ hội Khinh khí cầu quốc tế lần thứ II - năm 2023 và giải đua thuyền Kayak tỉnh Tuyên Quang mở rộng năm 2023, được đánh giá sáng tạo, phát huy hiệu quả rất tích cực và rõ nét trong việc tuyên truyền, quảng bá, giới thiệu hình ảnh miền đất, văn hóa, con người và các sản phẩm du lịch hấp dẫn của Tuyên Quang đến với đông đảo nhân dân, du khách trong nước và quốc tế, góp phần thúc đẩy du lịch của tỉnh ngày càng phát triển. Trong thời gian diễn ra các hoạt động, toàn tỉnh đã thu hút gần 145 nghìn lượt du khách đến tham quan, trải nghiệm và để lại nhiều ấn tượng tốt đẹp trong lòng nhân dân và du khách.Tổng số cơ sở lưu trú toàn tỉnh hiện có 421 cơ sở lưu trú, 4.341 phòng, 6.208 giường, trong đó có 33 khách sạn từ 1 đến 4 sao; trên 250 nhà hàng ẩm thực; 13 công ty, văn phòng và đại lý lữ hành đang hoạt động đưa, đón phục vụ khách du lịch đến Tuyên Quang.Đón trên 1.823.500 lượt khách du lịch đạt 73 % kế hoạch, tăng 44% so với cùng kỳ; tổng thu từ khách du lịch đạt 2.085 tỷ đồng, đạt 70% kế hoạch, tăng 68% so với cùng kỳ.II. LĨNH VỰC VĂN HÓA - XÃ HỘI 1. Về lao động việc làmTỉnh tiếp tục triển khai thực hiện đồng bộ các giải pháp tạo việc làm cho người lao động, tổ chức các phiên giao dịch việc làm, các hoạt động tư vấn, giới thiệu việc làm, thông tin thị trường lao động, đào tạo nghề, kết nối thông tin, nhu cầu tuyển dụng lao động của doanh nghiệp với nhu cầu tìm việc của người lao động để đưa lao động đi làm việc tại các doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh, đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.Trong 6 tháng đầu năm 2023, tạo việc làm cho 15.047 người, đạt 67,8% kế hoạch, tăng 9,4% so cùng kỳ, trong đó: Lao động làm việc trong các ngành kinh tế tại tỉnh 9.254 người; đi làm việc tại các tỉnh, thành phố trong nước 5.142 người; đi làm việc ở nước ngoài 651 người.2. Đời sống dân cư Trong 6 tháng đầu năm 2023, tình hình đời sống dân cư trên địa bàn tỉnh tiếp tục ổn định. Tuy nhiên, giá các mặt hàng thiết yếu như giá điện điều chỉnh tăng, giá các loại lương thực, thực phẩm tăng, dẫn đến chi phí sinh hoạt tăng, đã ảnh hưởng đến đời sống của nhiều hộ gia đình, đặc biệt là nhiều hộ gia đình có thu nhập thấp và trung bình, người dân dần thắt chặt chi tiêu hơn cho tiêu dùng cá nhân. Tinh hình hoạt động của nhiều doanh nghiệp còn gặp nhiếu khó khăn, dẫn đến số lượng lao động bị tạm ngừng việc, thiếu, mất việc làm do thiếu đơn hàng sản xuất có chiều hướng tăng nhẹ. Tuy nhiên, tỉnh đã triển khai đầy đủ, kịp thời các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong thực hiện các chế độ, chính sách đối với người lao động, tăng cường hoạt động cung cấp thông tin, kết nối cung – cầu lao động, tư vấn giới thiệu việc làm đối với những người lao động bị mất việc làm để họ sớm tìm được việc làm mới phù hợp, các doanh nghiệp đã khắc phục khó khăn về tài chính để chi trả lương cho người lao động đảm bảo đời sống ổn định,... Tình hình tiền lương, thu nhập của đa số cán bộ, công nhân, công chức, viên chức về cơ bản tiếp tục ổn định. Dù vây, tiền lương trong khu vực doanh nghiệp vẫn chưa theo kịp sự phát triển của thị trường lao động; chế độ tiền lương và chính sách đãi ngộ trong khu vực công vẫn còn thấp so với khu vực tư nhân và yêu cầu phát triển của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức.Nhìn chung, tình hình đời sống dân cư trên địa bàn tỉnh cơ bản ổn định và từng bước được cải thiện hơn; không xảy ra tình trạng thiếu đói; hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp tiếp tục duy trì ổn định, người lao động có tiền lương đảm bảo phần nào cho nhu cầu cuộc sống.3. Công tác người có công, giảm nghèo, bảo trợ xã hội và phòng chống tệ nạn xã hội 3.1. Công tác đối với người có công với cách mạngTiếp tục thực hiện đúng, đủ, kịp thời các chế độ, chính sách đối với người có công với cách mạng và thân nhân người có công; đẩy mạnh thực hiện các phong trào, hoạt động "Đền ơn, đáp nghĩa", "Uống nước nhớ nguồn", nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người có công,… Triển khai các hoạt động tặng quà của Chủ tịch nước và quà của tỉnh đối với người có công với cách mạng trên địa bàn tỉnh nhân dịp Tết Nguyên đán Quý Mão năm 2023. Tổng số là 18.344 suất quà, với tổng trị giá gần 7,6 tỷ đồng. Trong đó: Quà của Chủ tịch nước: 8.011 suất, số tiền 2,48 tỷ đồng; Quà của tỉnh: 8.673 suất, số tiền gần 4,5 tỷ đồng, huyện, xã là 552 suất với tổng giá trị trên 0,2 tỷ đồng; quà do các tổ chức, cá nhân tặng: 1.108 suất, kinh phí 0,4 tỷ đồng; lãnh đạo tỉnh cũng đã tổ chức thăm hỏi, tặng quà đối với các gia đình người có công với cách mạng tiêu biểu trên địa bàn tỉnh.3.2. Công tác giảm nghèo bền vững, bảo trợ xã hội và phòng chống các tệ nạn xã hội- Công tác chăm lo cho các đối tượng chính sách xã hội cũng được tỉnh hết sức quan tâm, chú trọng, duy trì chi trả trợ cấp thường xuyên cho trên 38.000 đối tượng bảo trợ xã hội tại cộng đồng với kinh phí hỗ trợ trên 20 tỷ đồng/tháng. Kịp thời hỗ trợ lượng thực cho các hộ bị thiếu lương thực nhân dịp Tết Nguyên đán và dịp giáp hạt năm 2023 tại các huyện, thành phố là 257.340 kg gạo với 5.624 hộ và 17.156 nhân khẩu. Các cơ quan, tổ chức, cá nhân cũng triển khai các hoạt động thăm, tặng quà các đối tượng hộ nghèo, cận nghèo, đối tượng bảo trợ xã hội, trẻ em, người cao tuổi có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn tỉnh. - Về điều trị cai nghiện và quản lý sau cai nghiện: Duy trì và thực hiện có hiệu quả công tác điều trị, quản lý cai nghiện ma túy tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh và triển khai các biện pháp hỗ trợ người sau cai nghiện tái hòa nhập cộng đồng. Trong 6 tháng đầu năm 2023, đã tiếp nhận 51 học viên (Cai nghiện bắt buộc 47 học viên, cai nghiện tự nguyện 03 học viên); cấp giấy chứng nhận hoàn thành cai nghiện cho 36 học viên. Tại thời điểm báo cáo Cơ sở đang quản lý 152 học viên (có mặt 144 học viên; trốn cai 07 học viên; đi viện 01 học viên).  4. Hoạt động giáo dục và đào tạoThời gian qua, ngành gió dục tiếp tục đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho học sinh, sinh viên, tăng cường các giải pháp đảm bảo an ninh trật tự, an toàn trường học; giáo dục kỹ năng sống, kỹ năng ứng xử; phòng, chống dịch bệnh, bạo lực học đường, phòng, chống tai nạn thương tích; phòng, chống các tệ nạn xã hội; bảo vệ trẻ em,... góp phần xây dựng trường học an toàn, thân thiện, lành mạnh. Mạng lưới trường, lớp tiếp tục được sắp xếp theo hướng tinh gọn, hiệu quả.Tỷ lệ trường chuẩn quốc gia đạt chỉ tiêu đề ra. Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học tiếp tục được bổ sung. Công tác xã hội hóa giáo dục được quan tâm, đẩy mạnh; giáo dục ngoài công lập bước đầu được khuyến khích phát triển.Tỉnh đã tổ chức Lễ tuyên dương 190 học sinh, sinh viên đạt giải cao và giáo viên, giảng viên có học sinh đạt giải trong các kỳ thi cấp tỉnh, cấp quốc gia năm học 2022-2023. Đặc biệt, đây là cũng là năm học đầu tiên tỉnh Tuyên Quang vinh dự có một dự án của nhóm học sinh trường Trung học phổ thông Chuyên được Bộ Giáo dục và Đào tạo lựa chọn tham dự Hội thi Khoa học Kỹ thuật quốc tế tại Hoa Kỳ.Tổ chức thành công Kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 các trường THPT và trường liên cấp có bậc THPT trên địa bàn tỉnh, Kỳ thi tuyển sinh vào lớp 8 Trường THPT Chuyên Tuyên Quang với hơn 10.600 thí sinh dự thi không có trường hợp thí sinh, giám thị vi phạm quy chế, kỳ thi diễn ra an toàn, nghiêm túc, đúng kế hoạch đề ra.Nhằm chuẩn bị tốt nhất cho Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2023, hiện nay, các trường THPT trên địa bàn tỉnh đã xây dựng kế hoạch tổ chức công tác ôn tập, trong quá trình ôn tập các trường đã thường xuyên kiểm tra, đánh giá, phân loại học sinh để điều chỉnh phương pháp ôn tập cho hiệu quả chất lượng học sinh để điều chỉnh phương án ôn tập cho phù hợp, đạt hiệu quả cao.5. Hoạt động y tế Tỉnh tiếp tục thực hiện nghiêm các chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trong công tác phòng chống dịch Covid-19 và các dịch bệnh truyền nhiễm khác; tăng cường theo dõi, bám sát tình hình dịch bệnh và tổ chức triển khai hiệu quả các biện pháp phòng, chống dịch; chỉ đạo, kiểm tra, giám sát công tác phòng, chống dịch đảm bảo chủ động, sẵn sàng và kịp thời ứng phó với các diễn biến có thể xảy ra của dịch bệnh.- Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn toàn tỉnh đã ghi nhận 1.427 ca mắc Covid-19, hiện đang điều trị là 215 người tại cơ sở y tế và tại nhà.Về tình hình tiêm chủng vắc xin ngừa Covid-19: Cộng dồn từ đợt 01 đến nay đã tiêm 2.262.389 mũi tiêm, trong đó: Mũi 01: 706.350 người; mũi 02: 695.824 người; mũi 03: 522.484 người; mũi 04: 258.531 người.+ Tiêm cho người từ 18 tuổi trở lên tỷ lệ tiêm mũi 01 là 100% (510.995 người còn 6.471 người chống chỉ định chưa tiêm); tiêm đủ 2 mũi là 99,7% (513.502 người), 79.200 người được tiêm bổ sung để hoàn thành liều cơ bản; tỷ lệ tiêm mũi 03 là 90,8% (461.431 người); hoàn thành tiêm mũi 04 cho đối tượng ưu tiên, số người được tiêm mũi 04: 258.531 người.+ Tiêm cho trẻ từ 12 đến dưới 18 tuổi: Tỷ lệ tiêm mũi 1 đạt trên 99,1% (77.991 trẻ; tiêm đủ 02 mũi đạt 100% (78.799 trẻ), tiêm mũi 3 là 77,6% (61.053 trẻ) tỷ lệ tiêm mũi 3 cao nhất là Yên Sơn (97,7%) thấp nhất là Sơn Dương (69,6%).+ Tiêm cho trẻ từ 05 đến dưới 12 tuổi: Tỷ lệ tiêm mũi 01 đạt 99,9% (117.364/117.439) các huyện, thành phố đạt trên 99%; tiêm 02 mũi là 88,2% (103.523 trẻ), hiện chưa có phản ứng phụ hoặc tai biến xảy ra.- Về công tác khám chữa bệnh: Tiếp tục thực hiện đồng bộ các giải pháp để giảm quá tải, nâng cao chất lượng dịch vụ các tuyến. Tổ chức kiểm tra giám sát công tác khám chữa bệnh ở một số Bệnh viện, Trạm Y tế xã nhằm giải quyết kịp thời những vướng mắc trong công tác khám chữa bệnh, đặc biệt là khám chữa bệnh BHYT thanh toán theo giá dịch vụ y tế mới. Tổng số lượt khám bệnh trong 6 tháng đầu năm đạt 453.379 lượt người, trong đó: Bệnh viện tuyến tỉnh: 110.387 lượt, Trung tâm Y tế huyện: 166.094 lượt, Bệnh viện Đa khoa khu vực: 20.094 lượt, Trạm Y tế xã, phường, thị trấn: 156.804 lượt. Công suất sử dụng giường bệnh tại Bệnh viện tuyến tỉnh đạt 112,8%, Trung tâm Y tế huyện 90,8% và Bệnh viện Đa khoa khu vực 68,3%. Ngày điều trị trung bình tại Bệnh viện tuyến tỉnh đạt 7,3 ngày, Trung tâm Y tế huyện: 5,6 ngày, Bệnh viện Đa khoa khu vực: 5,9 ngày.- Công tác đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm (ATVSTP) cũng đã được tỉnh triển khai bằng nhiều giải pháp như: Tăng cường công tác truyền thông về an toàn vệ sinh thực phẩm trên các phương tiện thông tin đại chúng; triển khai công tác hậu kiểm chất lượng, giám sát các mối nguy cơ ô nhiễm thực phẩm; thực hiện thanh tra, kiểm tra, giám sát chất lượng ATVSTP trên địa bàn toàn tỉnh, qua đó kiểm tra, giám sát tại 1.530 cơ sở, đạt 60,9% kế hoạch; xử lý 66 cơ sở vi phạm các quy định về ATVSTP; triển khai việc thẩm định và cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện ATVSTP cho 88 cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm tại các huyện, thành phố, đạt 68,2% kế hoạch. Trong 6 tháng đầu năm toàn tỉnh đã ghi nhận 04 vụ ngộ độc thực phẩm với 12 người mắc; 02 trường hợp đã tử vong.6. Hoạt động văn hoá, thể dục, thể thao- Lĩnh vực văn hoá: Nhiều hoạt động văn hóa được tổ chức tại các địa phương trong tỉnh với quy mô và nhiều hoạt động, đáp ứng nhu cầu của người dân và du khách tham quan trong và ngoài tỉnh; tổ chức các hoạt động tuyên truyền Kỷ niệm các ngày lễ lớn và sự kiện lịch sử quan trọng của đất nước. Xây dựng dự thảo Kế hoạch tổ chức Chương trình du lịch “Qua những miền di sản Việt Bắc” lần thứ XIV do tỉnh Tuyên Quang đăng cai tổ chức có sự tham gia của các tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Hà Giang và Lễ hội Thành Tuyên năm 2023 được tổ chức quy mô cấp tỉnh, ngoài sự tham gia của các tỉnh Việt Bắc, dự kiến có thêm 2 địa phương của Hàn Quốc và Lào có quan hệ hợp tác với tỉnh Tuyên Quang tham gia. Tiếp tục đẩy mạnh phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” gắn với chương trình xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh được triển khai.- Lĩnh vực thể dục, thể thao: Tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động ''Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại''. Tổ chức thành công 7 giải thể thao cấp tỉnh; 16 giải thể thao cấp huyện, thành phố; 172 giải thể thao cơ sở. Duy trì hoạt động 6 lớp đội tuyển năng khiếu với 30 vận động viên; 7 lớp đội tuyển trẻ với 68 vận động viên; 03 lớp đội tuyển tỉnh với 20 vận động viên, tham gia 08 giải thể thao toàn quốc, đoạt 08 HCV, 5 HCB; 14 HCĐ. Chuẩn bị các điểu kiện tổ chức đăng cai giải Vô địch các lứa tuổi trẻ Vật cổ điển, vật tự do quốc gia năm 2023.7. Một số hoạt động khác- Tỉnh đã tổ chức Lễ ra quân huấn luyện năm 2023 và phát động đợt thi đua cao điểm, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao. Trong đợt giao quân năm nay, toàn tỉnh có 1.275 công dân nhập ngũ. Trong đó, có 1.050 công dân nhập ngũ vào các đơn vị quân đội, 225 công dân tham gia nghĩa vụ công an, có 02 tân binh là đảng viên; 8 tân binh có trình độ chuyên môn đại học, cao đẳng, trung cấp; tân binh là dân tộc thiểu số chiếm gần 70%; độ tuổi trung bình 19 tuổi.- Đã tổ chức Hội nghị tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; xây dựng kế hoạch các xã điển hình về Phong trào Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc tại 10 xã trên địa bàn toàn tỉnh và kế hoạch xây dựng 01 Công an phường điển hình, kiểu mẫu về an ninh trật tự và văn minh đô thị năm 2023. - Tỉnh đã tổ chức thành công Hội nghị công bố Quy hoạch tỉnh Tuyên Quang thời kỳ 2021-2030 tầm nhìn đến năm 2050 theo Quyết định số 325/QĐ-TTg ngày 30/3/2023 của Thủ tướng Chính phủ. Theo định hướng đến năm 2050, Tuyên Quang là tỉnh phát triển, thu nhập cao của vùng Trung du và miền núi Bắc bộ, có môi trường xã hội văn minh, hiện đại, sáng tạo, dân chủ. Các khu công nghiệp, cụm công nghiệp phát triển xanh, công nghiệp sinh thái, thông minh; dịch vụ phát triển đa dạng, hiện đại; sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, thích ứng với biến đổi khí hậu.- Tổ chức Lễ phát động thi đua chuyển đổi số - Năm dữ liệu số Tuyên Quang năm 2023 và ra mắt ứng dụng Chính quyền số tỉnh Tuyên Quang (Tuyên Quang ID) nhằm nâng cao năng lực hoạt động, cung cấp dịch vụ nghiệp vụ của các cơ quan Nhà nước trên địa bàn tỉnh đối với công dân, doanh nghiệp và đẩy mạnh quá trình sử dụng dịch vụ công của tỉnh; triển khai nhiều giải pháp trọng tâm trong việc đẩy mạnh công tác chuyển đổi số và phát triển chính quyền điện tử, chính quyền số, kinh tế số, xã hội số trên địa bàn tỉnh, phấn đấu xếp hạng trong top 35 của cả nước về chuyển đổi số; cùng với đó là phấn đấu nâng Chỉ số đánh giá chuyển đổi số tỉnh Tuyên Quang xếp trong tốp 45 tỉnh với những việc cụ thể sau: Xây dựng Trung tâm giám sát, điều hành đô thị thông minh (IOC); duy trì hệ thống giám sát an toàn an ninh thông tin 4 cấp cho các hệ thống dùng chung của tỉnh; giải pháp phòng chống mã độc cho máy vi tính của các cơ quan nhà nước trên địa bàn tỉnh. - Ban Chỉ đạo Cải cách hành chính và nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh tỉnh đã tổ chức công bố Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp sở, ban, ngành, huyện, thành phố (DDCI) năm 2022 và đối thoại doanh nghiệp quý II-2023, hội nghị nhằm tháo gỡ các vướng mắc, rào cản, “điểm nghẽn” gây cản trở hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.8. Tình hình an toàn giao thông, thiên tai và phòng chống cháy, nổ8.1. Về an toàn giao thôngTiếp tục triển khai các đợt cao điểm tuần tra, kiểm soát, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm trật tự, an toàn giao thông, nhất là vi phạm về nồng độ cồn khi lái xe; vi phạm tốc độ, tránh, vượt sai quy định; vi phạm chở hàng quá tải trọng; phương tiện không đảm bảo an toàn kỹ thuật; không đội mũ bảo hiểm khi đi mô tô, xe máy, xe đạp điện; tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát trên các tuyến quốc lộ, đường tỉnh, đường huyện, khu vực trung tâm thành phố, trung tâm huyện, tuyến đường thường xảy ra tai nạn giao thông. Trong tháng, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 06 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm bị thương 06 người. So với tháng trước tăng 50% về số vụ tai nạn, số người bị thương tăng 200%. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông giảm 14,29%, số người bị thương giảm 14,29%.Tình hình tai nạn giao thông toàn tỉnh trong 6 tháng đầu năm 2023 giảm cả 3 tiêu chí; số vụ tai nạn giao thông 36 vụ, số người chết 12 người và làm bị thương 27 người. So với cùng kỳ năm trước: Số vụ tai nạn giao thông giảm 2,7% (giảm 01 vụ); số người chết giảm 7,69% (giảm 01 người); số người bị thương giảm 15,62% (giảm 05 người).8.2. Về cháy nổTháng 6/2023, toàn tỉnh không xảy ra vụ cháy, nổ nào. Tính chung 6 tháng đầu năm, trên địa bàn tỉnh xảy ra 02 vụ cháy, làm bị thương 05 người, thiệt hại ước tính khoảng 1,8 tỷ đồng.8.3. Thiệt hại do thiên taiTừ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 3 đợt thiên tai (vào các ngày 24/4; ngày 29/4 và ngày 8/5). Mưa lớn kèm theo dông lốc trên diện rộng đã gây ra những thiệt hại về tài sản của người dân, làm ảnh hưởng đến tình hình sản xuất và đời sống của nhân dân, cụ thể như sau: Thiệt hại về người: Mưa lớn đã làm bị thương 01 người tại huyện Na Hang; thiệt hại về nhà ở: 01 nhà bị hư hỏng hoàn toàn; 241 nhà bị tốc mái, hư hỏng tại các huyện Lâm Bình, Na Hang, Hàm Yên và Sơn Dương.Thiệt hại về nông nghiệp: Giông lốc đã làm 33,45 ha lúa bị ngập; 500,67 ha ngô và 81,5 ha rau màu bị ảnh hưởng; 31,5 ha cây lâm nghiệp bị gãy đổ và nhiều tuyến đường giao thông liên xã bị sạt lở khiến việc đi lại của người dân gặp nhiều khó khăn. Ước giá trị thiệt hại các đợt thiên tai là 1.060 triệu đồng.Sau khi các đợt thiên tai xảy ra, chính quyền tại các địa phương đã huy động lực lượng tại chỗ, hỗ trợ người dân dọn dẹp nhà cửa; thu dọn tài sản, lợp lại nhà cho các hộ bị thiệt hại, khẩn trương khắc phục các các tuyến giao thông bị sạt lở; đồng thời, sẵn sàng triển khai các biện pháp ứng phó và hướng dẫn người dân chủ động thực hiện các biện pháp phòng, chống, bảo đảm an toàn tuyệt đối tài sản và tính mạng của người dân.Theo dự báo từ nay đến hết năm, trên địa bàn tỉnh sẽ còn xuất hiện nhiều đợt thiên tai xảy ra; nguy cơ xảy ra lũ quét, sạt lở đất và ngập úng, đặc biệt là nơi có địa hình dốc, khu vực có kết cấu đất đá kém ổn định, vùng trũng thấp, ven sông suối. Để chủ động ứng phó với các điều kiện thời tiết cực đoan, tỉnh đã yêu cầu các ngành chức năng, địa phương tập trung theo dõi chặt chẽ diễn biến thời tiết để chủ động tổ chức di dời, sơ tán người dân khi có tình huống xảy ra; đồng thời, kiểm tra rà soát và thực hiện các biện pháp đảm bảo an toàn công trình giao thông, thủy lợi, chủ động các biện pháp ứng phó nhằm hạn chế thấp nhất thiệt hại có thể xảy ra.9. Đánh giá chungĐánh giá chung, Tình hình kinh tế - xã hội của cả nước 6 tháng đầu năm 2023 chịu nhiều áp lực do kinh tế thế giới diễn biến phức tạp, khó lường; sự suy suy giảm của các nền kinh tế lớn cũng như các đối tác thương mại lớn của Việt Nam và cuộc xung đột Nga – Ukraine vẫn tiếp diễn cùng với hàng loạt vấn đề phát sinh khác như gián đoạn chuỗi cung ứng, đà tăng giá của nhiều mặt hàng nguyên vật liệu sản xuất,...gây ảnh hưởng tiêu cực tới kinh tế, thương mại, tài chính, tới chuỗi sản xuất và cung ứng toàn cầu của thế giới. Tuy nhiên, trong bối cảnh đó kinh tế - xã hội của tỉnh vẫn duy trì đà tăng trưởng và đạt được nhiều kết quả tích cực so với các tỉnh trong khu vực: Tốc độ tăng trưởng GRDP quý I tăng 8,42%, quý II tăng 7,26% và 6 tháng đầu năm 2023 tăng 7,55%; lạm phát được kiểm soát; các cân đối lớn của nền kinh tế được bảo đảm; môi trường đầu tư kinh doanh được cải thiện; tập trung thu hút được các nguồn lực phát triển kinh tế - xã hội,...Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được vẫn còn một số khó khăn, thách thức: Một số sản phẩm công nghiệp và sản phẩm xuất khẩu chủ yếu của tỉnh còn đạt thấp so với kế hoạch; biến động tăng của giá nguyên liệu, vật liệu đầu vào trong những tháng đầu năm (sắt, thép, vật liệu xây dựng,...); sản lượng và số lượng đơn đặt hàng mới tiếp tục giảm ở một số ngành có thế mạnh của tỉnh như: Dệt, may, da giày, sản xuất giường, tủ, bàn, ghế, sản xuất kim loại; mức độ rủi ro với doanh nghiệp vẫn gia tăng trong bối cảnh cầu nhu cầu thị trường giảm, dòng tiền dần cạn kiệt sau hơn 2 năm dịch bệnh trong khi doanh nghiệp khó tiếp cận nguồn vốn; các thị trường xuất, nhập khẩu lớn, truyền thống bị thu hẹp đã ảnh hưởng đến tình hình sản xuất của doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh, một số khoản thu ngân sách còn đạt thấp; tình hình giải ngân vốn đầu tư công, tiến độ triển khai thực hiện Chương trình phục hồi phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội và 03 Chương trình mục tiêu quốc gia còn chậm,...10. Một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm 6 tháng cuối năm 2023Với quyết tâm hoàn thành cao nhất các mục tiêu, chỉ tiêu kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh đã đề ra trong năm 2023. Để phấn đấu hoàn thành các mục tiêu theo kế hoạch cần phải tiếp tục thực hiện tốt một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm sau:Một là, chủ động, tập trung tháo gỡ vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ triển khai các dự án trên địa bàn tỉnh; tập trung thực hiện quyết liệt, đồng bộ các giải pháp, tháo gỡ kịp thời các khó khăn để đẩy nhanh tiến độ thực hiện, giải ngân vốn đầu tư công, phấn đấu đạt mục tiêu giải ngân hết số vốn đầu tư công được giao theo kế hoạch; phấn đấu trong 6 tháng đầu năm, giải ngân tối thiểu 50%, cả năm giải ngân 98% nguồn vốn, đảm bảo đóng góp vào tăng trưởng của tỉnh 1%; đẩy nhanh tiến xây dựng đường cao tốc Tuyên Quang - Phú Thọ kết nối với cao tốc Nội Bài - Lào Cai; hoàn thiện các thủ tục công tác chuẩn bị đầu tư để khởi công cao tốc Tuyên Quang - Hà Giang; đẩy nhanh dự án đường trục phát triển đô thị từ thành phố Tuyên Quang đi trung tâm huyện Yên Sơn, đường từ thành phố Tuyên Quang đi suối khoáng Mỹ Lâm, Dự án cầu Xuân Vân, dự án Flamingo Tân Trào... Các dự án thuộc 03 Chương trình mục tiêu quốc gia; chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội; các công trình thuộc Dự án di dân, tái định cư thủy điện Tuyên Quang,... nhằm tạo động lực thúc đẩy kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh.Hai là, tiếp tục thực hiện đồng bộ, triển khai thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 11/NQ-CP của Chính phủ về Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế- xã hội, đẩy mạnh cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư, nâng cao năng lực cạnh tranh; chú trọng công tác chuyển đổi số đẩy mạnh phát triển các thành phần kinh tế; kịp thời hỗ trợ người dân và doanh nghiệp phục hồi sản xuất kinh doanh.Ba là, triển khai thực hiện có hiệu quả Quy hoạch tỉnh Tuyên Quang thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; tiếp tục tập trung thực hiện các giải pháp phát triển công nghiệp, xây dựng với trọng tâm vào các ngành mà tỉnh có tiềm năng, lợi thế như: Công nghiệp chế biến gỗ, sản xuất vật liệu xây dựng, công nghiệp dệt may, da giày, điện tử,… đôn đốc tiến độ và kịp thời giải quyết khó khăn, vướng mắc nhằm đẩy nhanh tiến độ dự án công nghiệp trọng điểm, để các dự án sớm hoàn thành đầu tư đưa vào sản xuất, nhằm gia tăng sản lượng và đóng góp thêm các sản phẩm công nghiệp mới và có phương án bù đắp các sản phẩm thiếu hụt, đảm bảo hoàn thành chỉ tiêu sản xuất công nghiệp theo kế hoạch.Bốn là, tập trung triển khai có hiệu quả các nhiệm vụ tài chính - ngân sách nhà nước năm 2023; tăng cường quản lý thu, chi ngân sách nhà nước; rà soát, xác định chính xác những nguồn thu còn tiềm năng, nguồn thu chưa khai thác hết, còn dư địa để tổ chức thực hiện, khai thác tăng thu, bù đắp các khoản hụt thu; phấn đấu hoàn thành dự toán thu ngân sách nhà nước trên địa bàn. Năm là, triển khai đầy đủ các chính sách hỗ trợ của Chính phủ về các gói hỗ trợ hồi phục kinh tế như: Hỗ trợ lãi suất 2%/năm thuế giá trị gia tăng đối với tất cả nhóm hàng hóa, dịch vụ đang áp dụng mức thuế suất giá trị gia tăng 10% xuống còn 8%, gia hạn nộp thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân và tiền thuê đất trong năm 2023; thực hiện tốt công tác hoàn thuế giá trị gia tăng cho doanh nghiệp,... Đây là những giải pháp rất cần thiết, là nguồn lực đáng kể để tháo gỡ khó khăn cho người dân, doanh nghiệp, nhằm nhanh chóng khôi phục hoạt động sản xuất, kinh doanh, phát triển ổn định, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo nguồn thu bền vững cho ngân sách nhà nước.CỤC THỐNG KÊ TUYÊN QUANG

Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 5 năm 2023 tỉnh Tuyên Quang
  •   10/11/2025 21:51

I. PHÁT TRIỂN KINH TẾ  1. Về sản xuất nông nghiệp (tính đến ngày 15/5/2023)1.1. Trồng trọt 1.1.1. Sản xuất vụ xuân năm 2023Trong tháng, do ảnh hưởng của vùng áp thấp nóng phía Tây phát triển và mở rộng về phía Đông Nam, trên địa bàn tỉnh xuất hiện các đợt nắng nóng gay gắt và kéo dài từ đầu năm đến nay; đã ảnh hưởng tới sinh trưởng của các loại cây trồng vụ xuân. Để sản xuất vụ xuân đạt kết quả tốt, hạn chế thấp nhất ảnh hưởng của thời tiết bất thuận gây ra; ngành chức năng của tỉnh đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền, khuyến cao bà con nông dân tuân thủ nghiêm lịch thời vụ, hướng dẫn người dân chuyển đổi cây trồng không hiệu quả sang cây trồng khác cho giá trị kinh tế cao hơn; chủ động công tác theo dõi, dự báo tình hình dịch bệnh, hướng dẫn người dân phòng trừ hiệu quả, với quyết tâm giành vụ xuân thắng lợi cả về diện tích, năng suất, sản lượng.Kết quả: Cây lúa đã cấy được 18.519,19 ha, giảm 2,47% (giảm 469,13 ha) so với vụ đông xuân năm 2022. Trong đó: Lúa lai 8.870,8 ha, lúa thuần 9.648,39 ha; cây ngô đã trồng 8.238,1 ha, tăng 1,82% (tăng 146,98 ha); cây khoai lang 560,91 ha, giảm 3,27% (giảm 18,98 ha); cây đậu tương 108,18 ha, giảm 7,89% (giảm 9,27 ha); cây lạc 3.220,3 ha, giảm 2,23% (giảm 73,31 ha); cây mía diện tích hiện có là 2.130,89 ha.Theo thống kê của Công ty cổ phần Mía đường Sơn Dương, tính đến ngày 8/5/2023, trên địa bàn toàn tỉnh đã có trên 320 ha bị chết, trong đó 120 ha có nguy cơ mất trắng. Diện tích này chủ yếu là mía trồng trên đồi, tập trung ở các xã Hào Phú, Tam Đa, Phú Lương, Lương Thiện, Bình Yên (Sơn Dương). Nguyên nhân là do từ đầu năm đến nay thời tiết ít mưa, khô hạn kéo dài. Hiện Công ty cổ phần Mía đường Sơn Dương đã cung ứng trên 1.000 tấn mía giống cho các hộ dân trồng lại, trồng dặm trên diện tích mía bị chết từ 50% trở lên, ưu tiên hộ trồng mới năm 2023. Theo ước tính của Công ty cổ phần Mía đường Sơn Dương, đến thời điểm này đơn vị đã hỗ trợ hơn 2 tỷ đồng trợ giá mía giống cho người dân. 1.1.2. Cây lâu nămDiện tích cây chuối hiện có trên địa bàn tỉnh 2.232,05 ha tăng 1,11% so với cùng kỳ năm trước, sản lượng ước đạt trên 7.467,11 tấn, tăng 10,34%; sản lượng chuối chủ yếu được tiêu thụ cho các thành phố lớn như Hà Nội, Bắc Ninh, Hưng Yên, Thanh Hóa và các địa phương khác trong cả nước,…diện tích cây vải hiện có 316,59 ha, sản lượng thu hoạch ước đạt 1.773,05 tấn, tăng 3,18%. Diện tích cây chè trên địa bàn tỉnh hiện có 8.289,04 ha, sản lượng thu hoạch đến ngày 15/5/2023 ước đạt 28.632,54 tấn, giảm 3,24% so với cùng kỳ.Đánh giá chung, các loại cây trồng sinh trưởng và phát triển ổn định, tình hình sâu bệnh được phòng trừ kịp thời và được kiểm soát; giá vật tư phân bón đầu vào đã giảm hơn so với năm trước; bên cạnh đó, người dân đã tập trung chăm sóc các loại cây trồng theo đúng quy trình và phát triển tốt; ngành chức năng và chính quyền các cấp đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo sản xuất, diện tích gieo cấy lúa được đảm bảo theo kế hoạch đề ra và theo đúng khung lịch thời vụ. Tuy nhiên, việc đảm bảo nguồn nước để phục vụ sản xuất còn gặp khá nhiều khó khăn, từ đầu vụ Đông đến nay, lượng mưa thấp hơn trung bình nhiều năm; nhiều hồ chứa thủy lợi mực nước đã tụt xuống mức thấp hơn trung bình nhiều năm đây là những điều kiện bất lợi cho sản xuất nông nghiệp. 1.1.3. Tình hình sinh vật gây hại a. Cây hàng năm vụ xuân: Cây lúa xuân (ngậm sữa – vào chắc): Rầy nâu, rầy lưng trắng, bọ xít gây hại rải rác; cây ngô, cây lạc, đậu tương. Sâu đục thân, sâu cuốn lá, sâu khoang gây hại rải rác; cây mía (đẻ nhánh) Bọ trĩ gây hại rải rác, tỷ lệ hại 2-4%; bọ hung gây hại rải rác tại một số ruộng đất soi bãi, mật độ nơi cao 1-2 con/hố; b. Cây lâu năm: Cây chè (ra búp): Rầy xanh, bọ trĩ, bọ xít gây hại, tỷ lệ hại trung bình 1-3%, nơi cao 5-6% số búp. Cây có múi: Nhện trắng, rám vàng gây hại rải rác, tỷ lệ hại nơi cao 3-5% số lá; cây nhãn, vải (hoa – quả non); bọ xít nâu gây hại, mật độ trung bình 1-2 con/cành, nơi cao 3-4 con/cành, non - trưởng thành. Bệnh chổi rồng, bệnh sương mai, nhện lông nhung gây hại rải rác, tỷ lệ hại nơi cao 5-7% số cành.c. Cây lâm nghiệp (vườn ươm-1-5 tuổi): Sâu ăn lá gây hại rải rác, tỷ lệ hại nơi cao 1-2% số lá (sâu non). Bệnh chết héo gây hại rải rác trên cây keo 1-3 tuổi, nơi cao 3-5% số cây. Bệnh thán thư, bệnh vàng lá, khô cành, khô ngọn gây hại rải rác trên cây bạch đàn tuổi 1-2, tỷ lệ hại nơi cao 2-4% số cây.1.2. Về chăn nuôi 1.2.1. Về số lượng đàn gia súc, gia cầmĐàn trâu tổng đàn 90.124 con, giảm 1,71% (giảm 1.566 con) so với cùng kỳ năm 2022; đàn bò 39.646 con, tăng 5,52% (tăng 2.075 con); đàn lợn 562.448 con, tăng 2,97% (tăng 16.206 con); đàn gia cầm 7.022,88 nghìn con, tăng 4,23% (tăng 285,09 nghìn con). 1.2.2. Về sản phẩm đàn gia súc, gia cầmĐàn trâu sản lượng thịt hơi đạt 745,04 tấn, tăng 6,22% (tương ứng với 2.321 con xuất chuồng) so với cùng kỳ năm 2022; đàn bò ước đạt 223,17 tấn, tăng 6,61% (tương ứng với 1.038 con); đàn lợn đạt 5.304,07 tấn, tăng 5,95% (tương ứng với 64.797 con); đàn gia cầm đạt 1.731,52 tấn, tăng 6,39%. Đánh giá chung, tình hình chăn nuôi trong tháng trên địa bàn tỉnh cơ bản ổn định, ngành chức năng luôn quan tâm, giám sát tình hình dịch bệnh trên đàn vật nuôi và thực hiện tiêm phòng cho đàn vật nuôi theo đúng định kỳ, đồng thời, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho các hộ chăn nuôi các biện pháp phòng, chống dịch bệnh. Tuy nhiên, do giá nguyên liệu đầu vào vẫn tiếp tục tăng, giá bán các loại sản phẩm không ổn định, lợi nhuận của người chăn nuôi đang bị giảm mạnh, khiến người chăn nuôi gặp nhiều khó khăn trong việc duy trì, mở rộng và phát triển đàn.1.2.3. Công tác phòng chống dịch bệnh gia súc, gia cầm- Bệnh Dịch tả lợn Châu Phi: Trong tháng bệnh Dịch tả lợn Châu Phi đã phát sinh tại 02 thôn với tổng số 22 hộ, số lợn mắc bệnh phải tiêu hủy là 63 con, tổng trọng lượng trên 1.984 kg.- Trên địa bàn các huyện, thành phố có một số gia súc, gia cầm ốm do mắc các bệnh Tụ huyết trùng; ký sinh trùng, chướng bụng đầy hơi, sán lá gan (đàn trâu,bò, tiêu chảy, lép tô, phân trắng lợn con (đàn lợn); Niucatson, THT, cầu trùng…(đối với đàn gia cầm), số gia súc mắc bệnh đã được nhân viên thú y xã phát hiện, điều trị khỏi: 532/556 con, trong đó: Trâu, bò: 114/114 con; đàn lợn: 418/442 con.1.2.4. Công tác tiêm phòngTrong tháng, các huyện, thành phố đã triển khai thực hiện công tác tiêm phòng bổ sung cho đàn gia súc, gia cầm, kết quả tiêm phòng như sau: Đàn trâu 100.081 con, trong đó tiêm vắc xin LMLM: 48.967 con, THT: 51.114 con; đàn bò: 48.167 con, trong đó tiêm vắc xin LMLM: 23.841 con, THT: 24.326 con; đàn lợn: 578.220 con, trong đó tiêm vắc xin LMLM: 20.450 con, THT: 281.137 con, Dịch tả: 276.633 con; đàn gia cầm: 6.358.413 con trong đó tiêm vắc xin THT: 2.769.976 con, Niucatson 3.019.616 con, dịch tả vịt 72.830 con; đàn chó: tiêm phòng dại 45.640 con.1.2.5. Công tác kiểm dịch vận chuyển và công tác kiểm soát giết mổ- Tại các Trạm Kiểm dịch: Đã kiểm tra, cấp trên 167 giấy chứng nhận kiểm dịch vận chuyển động vật, sản phẩm động vật ngoại tỉnh, trong đó: 89 chuyến vận chuyển 13.180 con lợn giết thịt; 77 chuyến vận chuyển 66.970 con gia cầm giết thịt; 01 chuyến vận chuyển 7.500 kg sản phẩm động vật đã qua xử lý nhiệt làm thức ăn chăn nuôi. - Trung tâm Dịch vụ nông nghiệp các huyện, thành phố duy trì công tác kiểm soát giết mổ trên địa bàn các huyện, thành phố: Tại TP Tuyên Quang, huyện Yên Sơn, Sơn Dương, Hàm yên, Chiêm Hóa, Na Hang đã kiểm tra, đóng dấu: 195 con trâu, bò và 4.989 con lợn.1.3. Về sản xuất lâm nghiệp 1.3.1. Công tác trồng rừngTrong tháng, tiến độ trồng rừng tập trung toàn tỉnh ước tính trồng được 2.555,96 ha, tăng 15,55% so với tháng cùng kỳ. Trong 5 tháng đầu năm, toàn tỉnh đã trồng được 7.346,87 ha, tăng 0,77% so với cùng kỳ năm 2022; số cây lâm nghiệp trồng phân tán trồng được là 709,76 nghìn cây.1.3.2. Khai thác gỗ rừng trồngToàn tỉnh khai thác được 109.643,2 m3 gỗ¬, tăng 5,88% so với tháng cùng kỳ. Tính chung trong 5 tháng đầu năm, toàn tỉnh đã khai thác được trên 349.059,75 m3, tăng 4,49% so với cùng kỳ năm 2022. Sản lượng khai thác chủ yếu là gỗ rừng trồng nguyên liệu.1.3.3. Công tác quản lý bảo vệ rừngHiện nay, thời tiết đã bước vào thời kỳ cao điểm hanh khô, nhiều diện tích rừng trên địa bàn tỉnh có nguy cơ cháy rất cao, đặc biệt là ở một số huyện trọng điểm về cháy rừng. Để chủ động phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR) mùa hanh khô, ngành chức năng của tỉnh đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục cho người dân nâng cao kiến thức về phòng cháy, chữa cháy rừng; triển khai nhiều phương án thiết thực, hiệu quả nhằm hạn chế thấp nhất các vụ cháy rừng xảy ra.Trong tháng trên địa bàn tỉnh không xảy ra vụ cháy rừng nào; số vụ chặt phá rừng là 05 vụ, diện tích rừng bị chặt phá 1,44 ha. Đã kiểm tra, phát hiện và xử lý 18 vụ và 2,87 m3 gỗ các loại; phạt hành chính và bán thanh lý tài sản 48,5 triệu đồng (đã thu nộp ngân sách 12,5 triệu đồng).1.4. Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mớiTrong tháng, tỉnh đã tổ chức Hội nghị công bố kết quả đánh giá, xếp hạng sản phẩm OCOP năm 2022 và triển khai nhiệm vụ, giải pháp thực hiện Chương trình OCOP năm 2023. Theo đó, năm 2022, tỉnh đã đánh giá, xếp hạng 66 sản phẩm OCOP. Trong đó, 6 sản phẩm đạt hạng 4 sao, 57 sản phẩm đạt hạng 3 sao, 3 sản phẩm được công nhận nâng hạng từ 3 sao lên 4 sao. Riêng sản phẩm chè Shan tuyết Hồng Thái (Na Hang) loại 1 tôm, 1 lá đang hoàn thiện hồ sơ đề nghị Hội đồng OCOP cấp quốc gia nâng hạng từ 4 sao lên 5 sao. Năm 2023, tỉnh tiếp tục hỗ trợ nâng cao chất lượng, tiêu chuẩn hoá, nâng hạng các sản phẩm OCOP. Trong đó, phấn đấu, đánh giá, phân hạng trên 40 sản phẩm OCOP mới đạt từ 3 sao trở lên; nâng hạng trên 10 sản phẩm OCOP từ 3 sao lên hạng 4 sao; hỗ trợ tiêu chuẩn hoá 3 sản phẩm OCOP tiềm năng 5 sao,…2. Sản xuất công nghiệp2.1. Chỉ số phát triển công nghiệp Chỉ số sản xuất công nghiệp trong tháng giảm 2,92% so với tháng trước, tăng 4,67% so với cùng kỳ, cụ thể như sau: Ngành khai khoáng tăng 3,9%, tăng 17,11%; công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 5,09%, tăng 9,17%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí tăng 12,61%, giảm 19,39%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải giảm 1,93%, tăng 1,29%.Một số ngành công nghiệp cấp II có chỉ số sản xuất tăng so với tháng trước, tăng so với cùng kỳ như: Sản xuất trang phục tăng 12,78%, tăng 80,33%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế) tăng 7,27%, tăng 33,43%; sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 8,41%, tăng 7,77%; chế biến thực phẩm tăng 1,77%, tăng 13,43%; giường, tủ, bàn, ghế tăng 3,72%, tăng 40,12%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy giảm 1,29%, tăng 8,86%; hoá chất và sản phẩm hoá chất giảm 14,47%, giảm 5,51%,...- Tính chung trong 5 tháng đầu năm, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 12,55% so với cùng kỳ năm trước, chia theo từng ngành kinh tế cấp I như sau:+ Ngành khai khoáng tăng 0,69%, nguyên nhân từ đầu năm đến nay, sản lượng khai thác đá, cát, sỏi tăng so cùng kỳ. Nguyên nhân là từ sau Tết Nguyên đán đến nay, tỉnh đã tập trung thực hiện quyết liệt, đồng bộ các giải pháp, tháo gỡ kịp thời các khó khăn để đẩy nhanh tiến độ thực hiện, các dự án, công trình trọng điểm, các dự án thuộc 03 Chương trình mục tiêu quốc gia; chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội; các công trình thuộc Dự án di dân, tái định cư thủy điện Tuyên Quang,... nhằm tạo động lực thúc đẩy kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh; đã khiến nhu cầu xây dựng, sửa chữa nhà tăng trưởng khá, sức tiêu thụ vật liệu xây dựng tăng đã thúc đẩy đến sản lượng khai thác đá, cát sỏi một số công ty tăng so với cùng kỳ.+ Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 18,5%, nguyên nhân do một số ngành chế biến tăng như: Sản xuất chế biến thực phẩm tăng 17,48%; sản xuất trang phục tăng 2,72%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 43,44%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa tăng 24,38%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 10,71%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 150,54%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 17,51%; sản xuất kim loại tăng 36,77%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 6,14%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 202,49%; sản xuất giường, tủ, bàn ghế tăng 40,38%,...+ Ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 10,7%, nguyên nhân: Do nhu cầu sử dụng nước sinh hoạt và sản xuất kinh doanh của hộ gia đình và doanh nghiệp ngày càng tăng.+ Ngành sản xuất và phân phối điện giảm 18,72%, do từ đầu năm đến nay không xuất hiện mưa lớn trên địa bàn tỉnh, lượng mưa ít hơn so với mức trung bình hằng năm; các hồ thủy điện hiện đang ở mức trữ nước thấp; dự báo nùa khô năm nay tình hình nắng hạn có thể kéo dài, lượng mưa ít, các nhà máy thủy điện sẽ đối diện với tình trạng thiếu nước để phát điện và điều tiết nước cho vùng hạ du; ngành điện đã chủ động xây dựng và triển khai thực hiện các phương án tăng cường sử dụng các nguồn điện, đảm bảo cung cấp điện ổn định, phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, hộ kinh doanh, nhu cầu sinh hoạt của nhân dân và tổ chức các hoạt động chính trị - xã hội trên địa bàn tỉnh.2.2. Sản phẩm công nghiệp chủ yếu Trong tháng, một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng so với cùng kỳ năm trước như: Điện thương phẩm tăng 2,7%; chè chế biến tăng 1,1%; bột ba rít tăng 49,86%; bột Felspat nghiền tăng 3,34%; giấy đế xuất khẩu tăng 140,08%; nước máy thương phẩm tăng 1,11% gỗ tinh chế, tăng 2,72%; thép cây, thép cuộn tăng 2,27%,.... Tuy nhiên, cũng có một số sản phẩm công nghiệp chính giảm so với cùng kỳ như: Điện sản xuất giảm 38,42%; xi măng giảm 2,16%; may mặc xuất khẩu giảm 12,1%,.... Tính chung trong 5 tháng đầu năm 2023, một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu của tỉnh tăng khá so với cùng kỳ năm trước: Điện thương phẩm tăng 3,85%; bột ba rít tăng 9,4%; bột Felspat tăng 15,18%; nước máy thương phẩm tăng 4,68%; giấy in viết, photo thành phẩm tăng 26,45%; gỗ tinh chế tăng 6,54%; thép cây, thép cuộn đạt tăng 40,02%,... Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu giảm so với cùng kỳ năm trước như: Điện sản xuất giảm 31,31%; chè chế biến giảm 4,72%; xi măng giảm 15,36%; hàng may mặc xuất khẩu giảm 29,43%; giầy da giảm 1,67%,... Đánh giá chung, tình hình sản xuất công nghiệp tỉnh đang dần phục hồi và phát triển sản xuất hiệu quả, tỉnh đã ban hành các chính sách hỗ trợ, nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các doanh nghiệp sản xuất và đẩy nhanh tiến độ triển khai xây dựng các dự án tại các khu, cụm công nghiệp để sớm hoàn thành đưa vào sản xuất như: Nhà máy gạch tuynel công nghệ cao; Nhà máy Sao Việt Wood… đã góp phần tăng khối lượng sản phẩm công nghiệp trên địa bàn tỉnh. Cùng với đó là sự chủ động thích ứng của các doanh nghiệp trong sản xuất, đẩy mạnh kết nối giữa doanh nghiệp sản xuất trên địa bàn tỉnh với đối tác có nhu cầu nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp trong tiêu thụ hàng hóa, giữ vững chất lượng và thương hiệu, nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường, tạo thu nhập ổn định cho người lao động, đóng góp ngân sách lớn thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương. Tuy nhiên, đối với các nhóm hàng may mặc xuất khẩu, gỗ, bột giấy,… do nhu cầu tiêu dùng giảm của các đối tác thương mại truyền thống lớn như: Trung Quốc, Mỹ và EU giảm dẫn đến đơn hàng sản xuất giảm và kim ngạch xuất khẩu giảm. Để phục hồi sản xuất, bắt buộc các doanh nghiệp phải chuyển hướng đa dạng sản phẩm và tìm kiếm thị trường mới. Đây là thách thức đối với doanh nghiệp trong bối cảnh kinh tế thế giới vẫn đang bất ổn.3. Kết quả thu ngân sách nhà nước tháng 4 năm 20233.1. Kết quả thu ngân sáchTổng thu nội địa trong tháng 5 ước thực hiện là 200 tỷ đồng, lũy kế đạt 879,2 tỷ đồng, đạt 27,8% dự toán, giảm 25% so với cùng kỳ.Số thu nội địa trừ tiền sử dụng đất và xổ số ước thực hiện là 175,8 tỷ đồng, lũy kế đạt 743,6 tỷ đồng, đạt 29,7% dự toán, giảm 19,2% so với cùng kỳ.3.2. Các nguyên nhân ảnh hưởng đến kết quả thu 3.2.1. Tăng thu- Thu từ khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng tăng 5,5 tỷ đồng, tăng 5,3 tỷ đồng so với cùng kỳ. Nguyên nhân chủ yếu: Phát sinh thuế giá trị gia tăng của Công ty TNHH sản xuất giày Chung Jye Tuyên Quang - Việt Nam tăng 2,7 tỷ đồng; công ty TNHH Vinh Thịnh Tuyên Quang nộp thuế tăng 1,8 tỷ đồng; công ty TNHH Sữa cho tương lai nộp thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) tăng 300 triệu;… so với cùng kỳ.- Thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản, tài nguyên nước ước thực hiện là 26 tỷ đồng, tăng 2,4 tỷ đồng so với cùng kỳ. Nguyên nhân: Cơ quan Thuế đã tích cực đôn đốc các đơn vị nộp số tiền phát sinh kỳ 1 năm 2023 vào NSNN.- Thu thuế bảo vệ môi trường ước thực hiện là 21 tỷ đồng, tăng 1,9 tỷ đồng so với cùng kỳ. Nguyên nhân do đôn đốc thu nợ của Công ty TNHH một thành viên dầu khí Hải Linh Hà Tuyên 2 tỷ đồng.3.2.2. Giảm thu- Thu từ khu vực DNNN do Trung ương quản lý ước thực hiện là 22 tỷ đồng, giảm 4,4 tỷ đồng so với cùng kỳ. Nguyên nhân: Sản lượng điện kê khai nộp thuế của Công ty Thủy điện Tuyên Quang - Chi nhánh tập đoàn điện lực Việt Nam giảm 61,9 triệu kwh so với cùng kỳ, số nộp NSNN giảm 4,3 tỷ đồng.- Thu từ khu vực kinh tế ngoài quốc doanh ước thực hiện là 36,4 tỷ đồng, giảm 16,3 tỷ đồng so với cùng kỳ. Nguyên nhân: Thực hiện Nghị định số 12/2023/NĐ-CP ngày 14/4/2023 của Chính phủ gia hạn thời hạn nộp thuế GTGT, thuế TNDN, thuế thu nhập cá nhân và tiền thuê đất năm 2023.- Thu tiền thuê đất ước thực hiện 28 tỷ đồng, giảm 6,8 tỷ đồng so với cùng kỳ, nguyên nhân chủ yếu do chính sách giảm tiền thuê đất, thuê mặt nước và gia hạn tiền thuê đất của năm 2022 của Chính phủ làm giảm số nộp năm 2023.4. Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý 4.1. Tình hình thực hiện Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước- Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước thực hiện tháng 5 năm 2023 đạt 273,78 tỷ đồng, tăng 20,07% so với tháng trước, tăng 26,27% so với cùng kỳ, trong đó: Vốn ngân sách cấp tỉnh đạt 241,82 tỷ đồng, tăng 23,28%, tăng 25,7%; vốn ngân sách cấp huyện đạt 30,11 tỷ đồng, tăng 1,95%, tăng 33,12%; vốn ngân sách cấp xã đạt 1,86 tỷ đồng, giảm 20,43%, tăng 2,09%.- Tính chung, trong 5 tháng đầu năm nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 1.090,6 tỷ đồng, đạt 20,65% kế hoạch, tăng 35,9% so với cùng kỳ. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 965,9 tỷ đồng, đạt 20,98%, tăng 35,85%; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện đạt 112,54 tỷ đồng, đạt 17,83%, tăng 39,98%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã đạt 12,17 tỷ đồng, đạt 26,57%, tăng 9,43%.4.2. Về giải ngân vốn đầu tư côngNăm 2023, Tuyên Quang được giao tổng kế hoạch vốn đầu tư công là 5.719,53 tỷ đồng, trong đó: Vốn năm 2022 kéo dài sang năm 2023 là 113,68 tỷ đồng; vốn theo kế hoạch năm 2023 là 5.605,85 tỷ đồng, nguồn vốn địa phương phân bổ đến ngày 19/5/2023 là 3.175, 85 tỷ đồng; chưa phân bổ 2.430 tỷ đồng (Vốn Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội, chưa được Thủ tướng Chính phủ giao kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2021-2025 cho dự án Cao tốc Tuyên Quang - Hà Giang (giai đoạn 1) đoạn qua tỉnh Tuyên Quang.Tính đến ngày 19/5/2023, tổng số vốn đã giải ngân được 440,91 tỷ đồng, đạt 13,4% kế hoạch, nằm trong nhóm những tỉnh có kết quả giải ngân trung bình của cả nước (cả nước 15,65%), trong đó: Nguồn vốn kế hoạch năm 2023 giải ngân được 433,31 tỷ đồng, đạt 13,64%; nguồn vốn năm 2022 kéo dài thời gian thực hiện và giải ngân sang năm 2023 giải ngân được 7,6 tỷ đồng, đạt 6,69%.Với quyết tâm thực hiện mục tiêu giải ngân vốn đầu tư công, 6 tháng đầu năm giải ngân tối thiểu 50%, cả năm giải ngân 98% nguồn vốn, đảm bảo đóng góp 1% vào tăng trưởng 9% của tỉnh. Tỉnh đã triển khai các giải pháp đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công, nhất là những chương trình, dự án hạ tầng trọng điểm; thực hiện quyết liệt, đồng bộ các giải pháp nhằm kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, nhất là trong công tác giải phóng mặt bằng, tạo quỹ đất sạch, xây dựng khu tái định cư, đất đắp, vật liệu xây dựng. Các ngành, các huyện cùng tập trung xây dựng phương án nhằm thúc đầy giải ngân vốn hiệu quả, nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu, không né tránh khi giải quyết các khó khăn, đẩy nhanh tiến độ thi công sớm hoàn thành các công trình, dự án.5. Hoạt động thương mại, dịch vụ, giá cả và tình hình xuất, nhập khẩu hàng hóaThị trường các mặt hàng thiết yếu trong tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2023 không có biến động bất thường. Mặc dù chịu ảnh hưởng từ các yếu tố như giá nguyên liệu trên thị trường thế giới, dịch bệnh, mùa vụ… nhưng cơ bản, cung cầu các mặt hàng được bảo đảm, giá có sự tăng, giảm đan xen đối với từng nhóm hàng. Nguồn cung mặt hàng xăng dầu đầy đủ, giá trong nước có xu hướng tăng/giảm đan xen do chịu tác động của giá thế giới. Hoạt động kinh doanh thương mại, dịch vụ và vận tải trên địa bàn tỉnh tăng trưởng khá so với cùng kỳ năm trước; du lịch, lữ hành được phục hồi và khởi sắc; xuất, nhập khẩu ổn định, chỉ số giá được kiềm chế ở mức thấp. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 5/2023 ước đạt 2.356,76 tỷ đồng, tăng 1,72% so với tháng trước, tăng 24,08% so với cùng kỳ. Tính chung 5 tháng đầu năm 2023, tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước ước đạt 10.921,71 tỷ đồng, tăng 21,53% so với cùng kỳ.5.1. Doanh thu bán lẻ hàng hóa Doanh thu bán lẻ hàng hóa trong tháng 5 ước đạt 2.067,79 tỷ đồng, tăng 2% so với tháng trước, tăng 21,32% so với cùng kỳ. Một số nhóm hàng hóa chính là: Đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình tăng 7,6%, tăng 84,19%; vật phẩm, văn hoá, giáo dục giảm 0,5%, tăng 87,49%; gỗ và vật liệu xây dựng, tăng 0,01%, tăng 2,77%; xăng, dầu các loại tăng 3,47%, tăng 55,58%; phương tiện đi lại, trừ ô tô con (kể cả phụ tùng) tăng 2,32%, giảm 10,11%; sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác tăng 8,51%, tăng 77,3%; lương thực, thực phẩm tăng 2,03%, giảm 3,18%; hàng may mặc tăng 1,29%, giảm 5,67%; lương thực, thực phẩm giảm 1,05%, giảm 8,8%,…Tính chung trong 5 tháng, tổng mức bán lẻ hàng hóa đạt 9.625,22 tỷ đồng, tăng 27,36% so với cùng kỳ.5.2. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ khác- Trong tháng, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 207,8 tỷ đồng, tăng 1,3% so với tháng trước, tăng 51,54% so với cùng kỳ. Trong đó: Doanh thu dịch vụ lưu trú đạt 17,43 tỷ đồng, tăng 2,1%, tăng 41,07%; dịch vụ ăn uống đạt 190,37 tỷ đồng, tăng 1,23%, tăng 52,57%. Tính chung trong 5 tháng, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 900,07 tỷ đồng, tăng 51,54%.- Doanh thu du lịch lữ hành trong tháng ước đạt 0,2 tỷ đồng, tăng 2,6% so với tháng trước. Tính chung trong 5 tháng doanh thu du lịch lữ hành ước đạt 0,84 tỷ đồng.- Doanh thu nhóm dịch vụ khác trong tháng ước đạt 80,98 tỷ đồng, giảm 3,89% so với tháng trước, tăng 40,08% so với cùng kỳ. Trong đó: Dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 2,45 tỷ đồng, tăng 3,35%, giảm 29,59%; hành chính và dịch vụ hỗ trợ đạt 16,54 tỷ đồng, tăng 2,48%, tăng 31,64%; y tế và hoạt động trợ giúp xã hội đạt 2,25 tỷ đồng, tăng 5,49%, tăng 19,6%; sửa chữa máy vi tính, đồ dùng cá nhân và gia đình đạt 9,93 tỷ đồng, tăng 0,78%, tăng 27,73%; nghệ thuật, vui chơi và giải trí đạt 20,44 tỷ đồng, giảm 16,68%, tăng 66,13%,... Tính chung trong 5 tháng, doanh thu dịch vụ khác ước đạt 395,57 tỷ đồng, tăng 38,77%.5.3. Giá cả- Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trong tháng tăng 0,28% so với tháng trước, tăng 3,77% so với cùng kỳ năm trước và tăng 1,17% so với tháng 12 năm trước. Tính chung trong 5 tháng đầu năm, CPI tăng 4,57% so với cùng kỳ.- Trong tháng có 06/11 nhóm hàng có chỉ số CPI tăng so với tháng trước, trong đó: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,9%. Trong đó, lương thực tăng 0,31%; thực phẩm tăng 0,79%; ăn uống ngoài gia đình tăng 2,29%; đồ uống và thuốc lá tăng 0,18%, do thời tiết nắng nóng gay gắt với nhiệt độ cao, nhu cầu sử dụng các loại nước quả ép và nước uống tăng lực để bổ sung sức khỏe của người dân tăng; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 2,15%, do giá giá bán lẻ điện bình quân được điều chỉnh tăng từ ngày 4/5 và do thời tiết nắng nóng cao điểm nên nhu cầu sử dụng của người dân cao hơn; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng nhẹ 0,07%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,35%; bưu chính viễn thông tăng 0,09%.Trong 05 nhóm hàng giảm giá, nhóm giao thông giảm mạnh nhất với mức giảm 2,47% là do giá xăng, dầu điều chỉnh tại các kỳ điều hành giá của Tập đoàn xăng dầu Việt Nam về mức giá bán lẻ xăng, dầu (xăng giảm 7,84%, dầu diesel giảm 7,86%); may mặc, mũ nón, giày dép giảm nhẹ 0,17% do thời tiết nắng nóng nhu cầu mua sắm các loại vải và quần áo may sẵn của người dân giảm; giáo dục giảm 0,12% do nhu cầu mua các loại văn phòng phẩm và đồ dùng giảm do học sinh các cấp hoàn tất chương trình năm học và chuẩn bị bước vào kỳ nghỉ hè; văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,91%; hàng hóa và dịch vụ khác giảm 0,24%.- Chỉ số giá vàng tăng 1,21% so với tháng trước, giảm 0,28% so với cùng kỳ năm trước và tăng 5,79% so với tháng 12 năm trước. Tính chung trong 5 tháng, giảm 3,1% so với cùng kỳ.- Chỉ số giá đô la Mỹ giảm 0,01% so với tháng trước, tăng 1,93% so với cùng kỳ năm trước và giảm 1,19% so với tháng 12 năm trước. Tính chung trong 5 tháng, tăng 3,11% so với cùng kỳ.5.4. Tình hình xuất, nhập khẩu hàng hóa tháng 5Những khó khăn trong sản xuất và sự sụt giảm đơn hàng xuất khẩu trong 4 tháng đầu năm 2023 tiếp tục ảnh hưởng đến xuất khẩu hàng hóa trong tháng 5. Trong tháng, kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa ước đạt 14,63 triệu USD, giảm 28,87% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung trong 5 tháng, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa ước đạt 87,34 triệu USD, đạt 36,39% kế hoạch, giảm 17,75% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, xuất khẩu ước đạt 51,18 triệu USD, đạt 34,12%, giảm 25,75%, nhập khẩu ước đạt 36,16 triệu USD, đạt 40,18%, giảm 2,95%, cụ thể như sau:- Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa trong tháng ước đạt 9,63 triệu USD, giảm 26,88% so với cùng kỳ, một số mặt hàng xuất khẩu chủ yếu tăng so với tháng cùng kỳ như: Chè xuất khẩu ước đạt 350 tấn, tăng 891,64%; giấy đế đạt 300 tấn, tăng 127,27%; Antimony thỏi đạt 35 tấn, tăng 250%,… Một số nhóm hàng có kim ngạch xuất khẩu giảm so với cùng kỳ: Bột giấy đạt 300 tấn, giảm 88,37%; giấy in viết, photo thành phẩm đạt 50 tấn, giảm 91,47%; hàng dệt, may đạt 1.120 nghìn sản phẩm, giảm 11,11%; phong bì đạt 120 nghìn cái, giảm 43,7%. Tính chung trong 5 tháng, một số nhóm hàng xuất khẩu đạt mức tăng trưởng cao so với cùng kỳ như: Chè xuất khẩu tăng 297,84%; atimony thỏi, tăng 257,21%,… Bên cạnh đó, một số nhóm hàng có kim ngạch xuất khẩu giảm so với cùng kỳ: Bột barit, giảm 52,09%; giấy đế, giảm 12,45%; bột giấy giảm 84,19%; hàng dệt, may, giảm 41,64%,… - Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa trong tháng ước đạt 5 triệu USD, giảm 32,43% so tháng cùng kỳ. Tính chung trong 5 tháng ước đạt 36,16 triệu USD, giảm 2,95% so với cùng kỳ.6. Vận tải hàng hóa và hành khách Hoạt động vận tải ghi nhận sự phục hồi khá tích cực. Từ đầu năm đến nay, nhu cầu đi du lịch, lễ hội và vận chuyển hàng hóa của người dân tăng cao. Các đơn vị vận tải đang tích cực tăng cường phương tiện, nhân lực phục vụ nhu cầu đi lại của người dân phục vụ tối đa nhu cầu đi lại của người dân; ngành chức năng đã chú trọng, tăng cường xử lý các hành vi vi phạm quy định pháp luật về bảo đảm trật tự, an toàn giao thông, vi phạm nồng độ cồn, chở quá khổ, quá tải, quá số người quy định, phương tiện không bảo đảm an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường...6.1. Doanh thu vận tải tải kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải - Doanh thu vận tải tháng 5/2023 ước đạt 300,14 tỷ đồng, tăng 2,45% so với tháng trước, tăng 23,13% so với cùng kỳ. Trong đó, doanh thu vận tải hành khách ước đạt 53,44 tỷ đồng, tăng 3,83%, tăng 23,94%; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 246,1 tỷ đồng, tăng 2,15%, tăng 22,89%; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 0,38 tỷ đồng, tăng 4,69%, tăng 60,38%,…- Tính chung trong 5 tháng, doanh thu vận tải kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 1.444,57 tỷ đồng, tăng 40,36% so với cùng kỳ. Trong đó: Doanh thu vận tải hành khách đạt 251,13 tỷ đồng, tăng 46,83%; doanh thu vận tải hàng hóa đạt 1.190,67 tỷ đồng, tăng 38,93%; dịch vụ hỗ trợ vận tải kho bãi đạt 1,74 tỷ đồng, tăng 73,3%,… 6.2. Vận tải hành khách và hàng hóa- Khối lượng hành khách vận chuyển ước đạt 0,85 triệu lượt hành khách, tăng 4,24% so với tháng trước, tăng 33% so với cùng kỳ; khối lượng hành khách luân chuyển ước đạt 70,56 triệu lượt hành khách.km, tăng 3,53%, tăng 15,25%. Tính chung trong 5 tháng, khối lượng hành khách vận chuyển ước đạt 3,97 triệu lượt hành khách, tăng 44,89% so với cùng kỳ; khối lượng hành khách luân chuyển ước đạt 326,5 triệu lượt hành khách.km, tăng 19,66%.- Khối lượng hàng hóa vận chuyển ước đạt 1,68 triệu tấn, tăng 3,16% so với tháng trước, tăng 48,39% so với cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 105,63 triệu tấn.km, tăng 2,23%, tăng 42,33%. Tính chung trong 5 tháng, khối lượng hàng hóa vận chuyển ước đạt 8,09 triệu tấn, tăng 38,71% so với cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 511,79 triệu tấn.km, tăng 40,9%.7. Về du lịch Tỉnh đã tổ chức các hoạt động khai mạc Năm du lịch và Lễ hội Khinh khí cầu quốc tế lần thứ II năm 2023 được đánh giá sáng tạo, phát huy hiệu quả rất tích cực và rõ nét trong việc tuyên truyền, quảng bá, giới thiệu hình ảnh miền đất, văn hóa, con người và các sản phẩm du lịch hấp dẫn của Tuyên Quang đến với đông đảo nhân dân, du khách trong nước và quốc tế, góp phần thúc đẩy du lịch của tỉnh ngày càng phát triển. Trong thời gian diễn ra các hoạt động, toàn tỉnh đã thu hút gần 145 nghìn lượt du khách đến tham quan, trải nghiệm và để lại nhiều ấn tượng tốt đẹp trong lòng nhân dân và du khách.Trong tháng 5/2023, đã thu hút được trên 312.000 lượt khách du lịch, tổng thu từ khách du lịch đạt 380 tỷ đồng. Tính chung trong 5 tháng, thu hút được 1.542.000 lượt khách đạt 62% kế hoạch, tăng 57,5% so với cùng kỳ; tổng thu đạt 1.542 tỷ đồng; đạt 60% kế hoạch, tăng 44% so với cùng kỳ).II. LĨNH VỰC VĂN HÓA - XÃ HỘI 1. Công tác lao động, việc làm, giáo dục nghề nghiệpTổ chức thành công phiên giao dịch việc làm tại huyện Lâm Bình và đưa vào thử nghiệm sàn giao dịch việc làm online nhằm kết nối trực tuyến giữa người lao động và các đơn vị tuyển dụng một cách nhanh chóng thuận tiện; nhằm mục đích kết nối giữa doanh nghiệp tuyển dụng và người lao động, tạo cơ hội tìm kiếm việc làm cho người lao động địa phương. Qua đây, các doanh nghiệp tiếp cận được nguồn nhân lực tại chỗ của địa phương để tuyển dụng vào làm việc tại đơn vị, doanh nghiệp.Trong tháng, đã tạo việc làm mới cho 2.460 lao động; ước tính trong 5 tháng đầu năm 2023, toàn tỉnh có 12.521 lao động được tạo việc làm, đạt 56,4% kế hoạch, tăng 10,2% so với cùng kỳ. Trong đó: Lao động làm việc trong các ngành kinh tế tại tỉnh là 7.514 người; lao động đi làm việc các tỉnh, thành phố là 4.403 người; lao động đi làm việc nước ngoài theo hợp đồng là 604 người.2. Công tác đảm bảo chế độ người có công với cách mạng, bảo trợ, an sinh xã hội và phòng chống các tệ nạn - Tiếp tục đẩy mạnh các phong trào, hoạt động "đền ơn, đáp nghĩa", "uống nước nhớ nguồn", và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người có công; hỗ trợ, giúp đỡ gia đình người có công với cách mạng có khó khăn về nhà ở. Tính chung trong 5 tháng, các tổ chức, cá nhân đã hỗ trợ làm mới và sửa chữa nhà ở cho 28 gia đình người có công với cách mạng, số tiền hỗ trợ trên 900 triệu đồng.- Tiếp tục thực hiện tốt các chính sách trợ giúp xã hội, thường xuyên rà soát năm chắc tình hình đời sống ngân dân, kịp thời hỗ trợ các hộ gia đình, cá nhân gặp khó khăn do tai nạn rủi ro, duy trì chi trả trợ cấp thường xuyên cho trên 37.145 đối tượng bảo trợ xã hội với kinh phí trợ cấp xã hội hàng tháng trên 20 tỷ đồng.- Trong tháng Cơ sở cai nghiện ma tuý tỉnh đã tiếp nhận 07 học viên (06 người cai nghiện bắt buộc; 01 người cai nghiện tự nguyện); cấp giấy chứng nhận hoàn thành cai nghiện cho 06 học viên. Luỹ kế từ đầu năm đến nay Cơ sở cai nghiện ma tuý tỉnh đã tiếp nhận 32 học viên (Cai nghiện bắt buộc 30 học viên, cai nghiện tự nguyện 02 học viên); cấp giấy chứng nhận hoàn thành cai nghiện cho 30 học viên; phối hợp tổ chức truy tìm đưa trở lại Cơ sở 01 học viên trốn cai. Tại thời điểm báo cáo Cơ sở đang quản lý 148 học viên.3. Hoạt động giáo dục và đào tạoTỉnh đã tổ chức Lễ tuyên dương 190 học sinh, sinh viên đạt giải cao và giáo viên, giảng viên có học sinh đạt giải trong các kỳ thi cấp tỉnh, cấp quốc gia năm học 2022-2023. Đặc biệt, đây là cũng là năm học đầu tiên tỉnh Tuyên Quang vinh dự có một dự án của nhóm học sinh trường Trung học phổ thông Chuyên được Bộ Giáo dục và Đào tạo lựa chọn tham dự Hội thi Khoa học Kỹ thuật quốc tế tại Hoa Kỳ.Để chuẩn bị cho Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2023 dự kiến sẽ diễn ra trong hai ngày 28 và 29/6 đạt kết quả cao; hiện nay, các trường THPT trên địa bàn tỉnh đang tập trung triển khai cho học sinh khối 12 ôn thi tốt nghiệp và xây dựng nội dung chương trình bám theo chuẩn kiến thức kỹ năng để tổ chức ôn tập. Trong quá trình ôn tập thường xuyên đánh giá, phân loại học sinh theo trình độ và có phương án ôn tập thích hợp với năng lực, kiến thức của các em để điều chỉnh phương pháp ôn tập cho phù hợp, đạt hiệu quả cao.4. Hoạt động y tế Tỉnh tiếp tục thực hiện nghiêm các chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trong công tác phòng chống dịch Covid-19 và các dịch bệnh truyền nhiễm khác; tăng cường theo dõi, bám sát tình hình dịch bệnh và tổ chức triển khai hiệu quả các biện pháp phòng, chống dịch; chỉ đạo, kiểm tra, giám sát công tác phòng, chống dịch đảm bảo chủ động, sẵn sàng và kịp thời ứng phó với các diễn biến có thể xảy ra của dịch bệnh. Tập trung chỉ đạo và tiếp tục thúc đẩy công tác tiêm chủng vắc xin phòng Covid-19; thường xuyên rà soát để đảm bảo các nhóm nguy cơ, nhất là người cao tuổi, người có bệnh lý nền, người suy giảm miễn dịch,... được tiêm chủng đầy đủ, đúng lịch; đẩy mạnh tiêm chủng vắc xin cho trẻ em từ 5 tuổi đến dưới 12 tuổi.- Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn toàn tỉnh đã ghi nhận 1.290 ca mắc Covid-19, hiện đang điều trị là 487 người tại cơ sở y tế và tại nhà, không có bệnh nhân tử vong.- Về tình hình tiêm chủng vắc xin Covid-19 tính đến ngày 21/5/2023: Tổng số cộng dồn tiêm tại tỉnh từ đợt 1 đến nay: 2.262.220 mũi tiêm; trong đó: mũi 01: 706.303 người; mũi 02: 695.747 người; mũi 03: 522.483 người; mũi 04: 258.487 người.+ Tiêm cho người từ 18 tuổi trở lên tỷ lệ tiêm mũi 1 là 100% (510.995 người còn 6.471 người chống chỉ định chưa tiêm); tiêm đủ 2 mũi là 99,7% (513.501 người); có 79.200 người được tiêm bổ sung để hoàn thành liều cơ bản; Tỷ lệ tiêm mũi 3 là 90,8% (461.430 người); hoàn thành tiêm mũi 04 cho đối tượng ưu tiên, số người được tiêm mũi 04 là 258.4987 người.+ Tiêm cho trẻ từ 12 đến dưới 18 tuổi: Tỷ lệ tiêm mũi 1 đạt trên 99,1% (77.991 trẻ; tiêm đủ02 mũi đạt 100% (78.799 trẻ), tiêm mũi 3 là 77,6% (61.053 trẻ) tỷ lệ tiêm mũi 3 cao nhất là Yên Sơn (97,7%) thấp nhất là Sơn Dương (69,6%).+ Tiêm cho trẻ từ 05 đến dưới 12 tuổi: Tỷ lệ tiêm mũi 01 đạt 99,9% (117.317/117.392) các huyện, thành phố đạt trên 99%; tiêm 02 mũi là 88,1% (103.447 trẻ), hiện chưa có phản ứng phụ hoặc tai biến sẩy ra. 5. Hoạt động văn hoá - thể dục, thể thao- Lĩnh vực văn hoá: Xây dựng dự thảo Kế hoạch tổ chức Chương trình du lịch “Qua những miền di sản Việt Bắc” lần thứ XIV do tỉnh Tuyên Quang đăng cai tổ chức có sự tham gia của các tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Hà Giang và Lễ hội Thành Tuyên năm 2023 được tổ chức quy mô cấp tỉnh, ngoài sự tham gia của các tỉnh Việt Bắc, dự kiến có thêm 2 địa phương của Hàn Quốc và Lào có quan hệ hợp tác với tỉnh Tuyên Quang tham gia. Tiếp tục đẩy mạnh phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” gắn với chương trình xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh được triển khai.- Về thể dục thể thao: Tổ chức thành công giải đua thuyền Kayak mở rộng và giải bóng đá nữ tỉnh năm 2023 tại huyện Lâm Bình; giải thể thao đoàn thể Khối các cơ quan và doanh nghiệp tỉnh với 4 nội dung tham gia thi đấu: Bóng bàn, cầu lông, kéo co và cờ tướng; tổ chức giải Quần vợt các Câu lạc bộ tỉnh Tuyên Quang năm 2023; tham gia giải bóng chuyền hơi trung cao tuổi toàn quốc tại tỉnh Bắc Kạn. Duy trì hoạt động 6 lớp đội tuyển năng khiếu với 30 vận động viên; 7 lớp đội tuyển trẻ với 68 vận động viên; 03 lớp đội tuyển tỉnh với 20 vận động viên. 6. Một số hoạt động khác- Trong tháng, tỉnh đã tổ chức gặp mặt, khen thưởng các tập thể, cá nhân tiêu biểu điển hình trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh giai đoạn 2021 – 2023 và 86 tập thể, cá nhân tiêu biểu điển hình trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.- Ban Chỉ đạo Cải cách hành chính và nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh tỉnh đã tổ chức công bố Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp sở, ban, ngành, huyện, thành phố (DDCI) năm 2022 và đối thoại doanh nghiệp quý II-2023, hội nghị nhằm tháo gỡ các vướng mắc, rào cản, “điểm nghẽn” gây cản trở hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.7. Tình hình an toàn giao thông, thiên tai và phòng chống cháy, nổ7.1. Về an toàn giao thôngTỉnh tiếp tục triển khai đợt cao điểm tuần tra, kiểm soát, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm trật tự, an toàn giao thông, nhất là vi phạm về nồng độ cồn khi lái xe; vi phạm tốc độ, tránh, vượt sai quy định; vi phạm chở hàng quá tải trọng; phương tiện không đảm bảo an toàn kỹ thuật; không đội mũ bảo hiểm khi đi mô tô, xe máy, xe đạp điện; tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát trên các tuyến quốc lộ, đường tỉnh, đường huyện, khu vực trung tâm thành phố, trung tâm huyện, tuyến đường thường xảy ra tai nạn giao thông. Trong tháng, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 04 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 03 người và làm bị thương 02 người. So với tháng trước tăng 33,33% về số vụ tai nạn, tăng 50% về số người chết, số người bị thương giữ nguyên. So với cùng kỳ năm trước, tăng 50% số người chết, giảm 50% về số người bị thương.Tính chung trong 5 tháng đầu năm, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 30 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 12 người và làm bị thương 21 người. So với cùng kỳ năm trước, tăng 3,45% số vụ tai nạn giao thông đường bộ, tăng 9,09% về số người chết, giảm 16% về số người bị thương.7.2. Thiệt hại do thiên taiTrong tháng, do ảnh hưởng của không khí lạnh kết hợp với hội tụ gió trên cao, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 3 đợt thiên tai (vào các ngày 24/4; ngày 29/4 và ngày 8/5). Mưa lớn kèm theo dông lốc trên diện rộng đã gây ra những thiệt hại về tài sản của người dân, làm ảnh hưởng đến tình hình sản xuất và đời sống của nhân dân, cụ thể như sau: Thiệt hại về người: Mưa lớn đã làm bị thương 01 người tại huyện Na Hang; thiệt hại về nhà ở: 01 nhà bị hư hỏng hoàn toàn; 241 nhà bị tốc mái, hư hỏng tại các huyện Lâm Bình, Na Hang, Hàm Yên và Sơn Dương.Thiệt hại về nông nghiệp: Giông lốc đã làm 33,45 ha lúa bị ngập; 500,67 ha ngô và 81,5 ha rau màu bị ảnh hưởng; 31,5 ha cây lâm nghiệp bị gãy đổ và nhiều tuyến đường giao thông liên xã bị sạt lở khiến việc đi lại của người dân gặp nhiều khó khăn. Ước giá trị thiệt hại các đợt thiên tai là 1.060 triệu đồng.Sau khi các đợt thiên tai xảy ra, chính quyền tại các địa phương đã huy động lực lượng tại chỗ, hỗ trợ người dân dọn dẹp nhà cửa; thu dọn tài sản, lợp lại nhà cho các hộ bị thiệt hại, khẩn trương khắc phục các các tuyến giao thông bị sạt lở; đồng thời, sẵn sàng triển khai các biện pháp ứng phó và hướng dẫn người dân chủ động thực hiện các biện pháp phòng, chống, bảo đảm an toàn tuyệt đối tài sản và tính mạng của người dân.Theo dự báo từ nay đến hết năm, trên địa bàn tỉnh sẽ còn xuất hiện nhiều đợt thiên tai xảy ra; nguy cơ xảy ra lũ quét, sạt lở đất và ngập úng, đặc biệt là nơi có địa hình dốc, khu vực có kết cấu đất đá kém ổn định, vùng trũng thấp, ven sông suối. Để chủ động ứng phó với các điều kiện thời tiết cực đoan, tỉnh đã yêu cầu các ngành chức năng, địa phương tập trung theo dõi chặt chẽ diễn biến thời tiết để chủ động tổ chức di dời, sơ tán người dân khi có tình huống xảy ra; đồng thời, kiểm tra rà soát và thực hiện các biện pháp đảm bảo an toàn công trình giao thông, thủy lợi, chủ động các biện pháp ứng phó nhằm hạn chế thấp nhất thiệt hại có thể xảy ra.7.3. Thiệt hại do thiên tai, cháy, nổTrong tháng trên địa bàn tỉnh xảy ra 02 vụ cháy, làm bị thương 5 người, hiện chưa có đánh giá về giá trị thiệt hại tài sản.CỤC THỐNG KÊ TUYÊN QUANG

Tình hình kinh tế - xã hội tháng 4 năm 2023 tỉnh Tuyên Quang
  •   10/11/2025 21:46

I. PHÁT TRIỂN KINH TẾ  1. Về sản xuất nông nghiệp (tính đến ngày 15/4/2023)1.1. Trồng trọt 1.1.1. Sản xuất vụ xuân năm 2023Cây lúa đã cấy được 18.504,3 ha, đạt 100,89% kế hoạch, giảm 2,79% (giảm 531,9 ha) so với cùng kỳ (trong đó: Lúa lai 8.870,8 ha; lúa thuần 9.633,5 ha); cây ngô đã trồng 8.286,2 ha, đạt 102,54%, tăng 3,24% (tăng 260,1 ha); cây lạc đã trồng 3.220,3 ha, đạt 95,56%, giảm 3,29% (giảm 109,6 ha); cây đậu tương đã trồng 108 ha, đạt 84,44%; tăng 0,09% (tăng 0,1 ha); cây mía đã trồng 578,4 ha, đạt 84,44%, giảm 6,91% (giảm 42,95 ha).1.1.2. Cây lâu nămDiện tích cây chuối hiện có trên địa bàn tỉnh 2.233,09 ha tăng 0,52% so với cùng kỳ năm trước, sản lượng ước đạt trên 5.782,13 tấn, tăng 1,05%; sản lượng chuối chủ yếu được tiêu thụ cho các thị trường như Hà Nội, Vĩnh Phúc và các địa phương khác trong cả nước,…Diện tích cây chè trên địa bàn tỉnh hiện có 8.331,77 ha, sản lượng thu hoạch đến ngày 15/4/2022 ước đạt 18.748,15 tấn, tăng 0,02% so với cùng kỳ.1.1.3. Tình hình sinh vật gây hại a. Cây hàng năm vụ xuân: Cây lúa xuân bị rầy nâu, rầy lưng trắng, sâu quấn lá nhỏ, bọ xít gây hại rải rác; Cây ngô, cây lạc, đậu tương bị sâu keo, sâu đục thân, sâu cắn nõn gây hại rải rác; Cây mía (thu hoạch-nảy mầm) bị bọ trĩ, bệnh trắng lá, thối ngọn gây hại rải rác, tỷ lệ hại nơi cao 2-5 % số cây.b. Cây lâu năm: Cây chè bị rầy xanh, bọ trĩ, bọ xít gây hại, tỷ lệ hại trung bình 2-3 %, nơi cao 5-10% số búp; Cây có múi; Nhện trắng, nhện đỏ, rám vàng gây hại rải rác, tỷ lệ hại nơi cao 3-5 % số lá; Cây nhãn, vải (hoa – quả non); Bọ xít nâu gây hại, mật độ trung bình 1-2 con/cành, nơi cao 2-3 con/cành, non-trưởng thành; Bệnh chổi rồng, bệnh sương mai gây hại rải rác, tỷ lệ hại nơi cao 2-4 % số cành.c. Cây lâm nghiệp (vườn ươm-1-5 tuổi): Sâu ăn lá gây hại rải rác, tỷ lệ hại nơi cao 1-2% số lá (sâu non); Bệnh chết héo gây hại rải rác trên cây keo 1-3 tuổi, nơi cao 1-3% số cây; Bệnh thán thư, bệnh phấn trắng gây hại rải rác; Bệnh cháy lá, khô cành gây hại rải rác, tỷ lệ hại nơi cao 5-10% số cây; Bệnh lở cổ rễ vườn ươm gây hại, tỷ lệ hại nơi cao 1-3% số cây.1.2. Về chăn nuôi 1.2.1. Về số lượng đàn gia súc, gia cầmĐàn trâu tổng đàn là 90.124 con, giảm 1,71% (giảm 1.566 con) so với cùng kỳ năm 2022; đàn bò 39.646 con, tăng 5,52% (tăng 2.075 con); đàn lợn 577.446 con, tăng 2,42% (tăng 13.154 con); đàn gia cầm 7.225,66 nghìn con, tăng 3,92% (tăng 272,52 nghìn con).1.2.2. Về sản phẩm đàn gia súc, gia cầmĐàn trâu sản lượng thịt hơi xuất chuồng đạt 506,93 tấn, tăng 2,53% (tương ứng với 1.253 con xuất chuồng) so với cùng kỳ năm 2022; đàn bò đạt 195,21 tấn, tăng 5,90% (tương ứng với 1.087 con); đàn lợn đạt 5.014,07 tấn, tăng 7,13% (tương ứng với 78.215 con); đàn gia cầm đạt 1.341,52 tấn tăng 7,63% (tăng 95,12 tấn).1.2.3. Công tác phòng chống dịch bệnh gia súc, gia cầmTrong tháng, trên địa bàn các huyện, thành phố có một số gia súc, gia cầm ốm do mắc các bệnh Tụ huyết trùng; ký sinh trùng, chướng bụng đầy hơi, sán lá gan (đàn trâu,bò, tiêu chảy, lép tô, phân trắng lợn con (đàn lợn); Niucatson, THT, cầu trùng…(đối với đàn gia cầm), số gia súc mắc bệnh đã được nhân viên thú y xã phát hiện, điều trị khỏi: 779/797 con, trong đó: Trâu, bò: 99/99 con; đàn lợn: 680/698 con.1.2.4. Công tác kiểm dịch vận chuyển và công tác kiểm soát giết mổTại các Trạm Kiểm dịch: Đã kiểm tra, cấp trên 312 giấy chứng nhận kiểm dịch vận chuyển động vật, sản phẩm động vật ngoại tỉnh. Duy trì công tác kiểm tra trên 145 lượt phương tiện với đầy đủ thủ tục vận chuyển gia súc, gia cầm theo quy định, trong đó (vận chuyển trên 7.004 con gia súc, 2.700 con gia cầm) và 134 chuyến vận chuyển 2.116.000 kg sữa đi các tỉnh Hưng Yên, Bắc Ninh, Hà Nội,...2. Về sản xuất lâm nghiệp 2.1. Công tác trồng rừngTrong tháng, tiến độ trồng rừng tập trung toàn tỉnh ước tính trồng được 2.183,27 ha, tăng 17,02% so với cùng kỳ năm 2022; số cây lâm nghiệp trồng phân tán trồng được là 189,16 nghìn cây.2.2. Khai thác gỗ rừng trồngToàn tỉnh khai thác được 109.416,55 m3 gỗ¬, tăng 2,41% so với cùng kỳ năm 2022. Cộng dồn 4 tháng toàn tỉnh đã khai thác được trên 239.416,55 m3. Sản lượng khai thác là gỗ rừng trồng nguyên liệu.2.3. Công tác quản lý bảo vệ rừngCác ngành chức năng của tỉnh đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục cho người dân nâng cao kiến thức về phòng cháy, chữa cháy rừng, đồng thời bố trí các điểm chốt chặn, tuần tra canh gác ở những khu vực trọng điểm dễ xảy ra cháy rừng, kiểm soát chặt chẽ người ra vào những khu vực rừng có nguy cơ cháy rừng cao; xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân thiếu trách nhiệm để xảy ra cháy rừng theo quy định của pháp luật.Trong tháng trên địa bàn tỉnh không xảy ra vụ cháy rừng nào; số vụ chặt phá rừng là 05 vụ, diện tích rừng bị chặt phá 0,45 ha. Đã kiểm tra, phát hiện và xử lý 19 vụ, tịch thu 3 máy cưa xăng và 3,07 m3 gỗ các loại; phạt hành chính và bán thanh lý tài sản 86,25 triệu đồng (đã thu nộp ngân sách 31,5 triệu đồng).3. Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mớiTrong tháng, tỉnh đã ban hành Kế hoạch thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới tỉnh Tuyên Quang năm 2023. Với mục tiêu cụ thể là có thêm 12 xã hoàn thành đạt chuẩn xã nông thôn mới; 09 xã xây dựng đạt chuẩn xã nông thôn mới nâng cao, trong đó 05 xã trong kế hoạch đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao năm 2022 chuyển sang thực hiện năm 2023 và thêm 04 xã xây dựng đạt chuẩn xã nông thôn mới kiểu mẫu, trong đó: 01 xã trong kế hoạch đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu năm 2022 chuyển sang thực hiện năm 2023. Tiếp tục duy trì, giữ vững và nâng cao chất lượng các tiêu chí đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu tại xã Thái Bình, huyện Yên Sơn theo Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới các cấp (huyện, xã, thôn) giai đoạn 2021-2025 đã được phê duyệt. Số tiêu chí bình quân chung toàn tỉnh đạt 15,7 tiêu chí/xã. 2. Sản xuất công nghiệp2.1. Chỉ số phát triển công nghiệp Chỉ số sản xuất công nghiệp trong tháng tăng 6,56% so với tháng trước, tăng 4,45% so với cùng kỳ, cụ thể như sau: Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 1,46%, tăng 9,44%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí tăng 81,44%, giảm 24,15%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 5,2%, giảm 0,82%; khai khoáng giảm 3,5%, tăng 19,37%.Một số ngành công nghiệp cấp II có chỉ số sản xuất tăng so với tháng trước, tăng so với cùng kỳ như: Sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 7,22%, tăng 43,75%; chế biến thực phẩm giảm 7%, tăng 8,11%; sản xuất trang phục tăng 16,68%, giảm 2,75%; giấy và sản phẩm từ giấy giảm 3,62%, tăng 4,06%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 2,67%, giảm 8,36%,...- Tính chung trong 4 tháng đầu năm, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 14,8% so với cùng kỳ năm trước, Chia theo từng ngành kinh tế cấp I như sau:+ Ngành khai khoáng giảm 1,82%, nguyên nhân từ đầu năm đến nay, sản lượng khai thác đá, cát, sỏi giảm so cùng kỳ. Nguyên nhân là từ sau Tết Nguyên đán đến nay, nhu cầu xây dựng, sửa chữa nhà diễn ra khá chậm do những khó khăn, tác động của thị trường bất động sản, giá vật liệu xây dựng có nhiều biến động theo chiều hướng tăng, nhiều công trình thi công rơi vào tình trạng thi công cầm chừng, thậm chí dừng thi công để chờ giá nguyên, vật liệu giảm xuống gây ảnh hưởng tới tiến độ công trình, sức tiêu thụ giảm đã ảnh hưởng lớn đến sản lượng khai thác đá, cát sỏi một số công ty giảm so với cùng kỳ.+ Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 20,96%, do một số ngành chế biến tăng như: Sản xuất chế biến thực phẩm tăng 17,84%; da và các sản phẩm có liên quan tăng 17,25%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa tăng 29,84%; giấy và sản phẩm từ giấy tăng 9,18%; sản phẩm từ cao su và plastic tăng 107,2%; sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 7,58%; sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 90,48%; sản xuất giường, tủ, bàn ghế tăng 40,43%,...+ Ngành sản xuất và phân phối điện giảm 17,74%, do từ đầu năm đến nay không xuất hiện mưa lớn trên địa bàn tỉnh, lượng mưa ít hơn so với mức trung bình hằng năm; các hồ thủy điện hiện đang ở mức trữ nước thấp; dự báo nùa khô năm nay tình hình nắng hạn có thể kéo dài, lượng mưa ít, các nhà máy thủy điện sẽ đối diện với tình trạng thiếu nước để phát điện và điều tiết nước cho vùng hạ du; ngành điện đã chủ động xây dựng và triển khai thực hiện các phương án tăng cường sử dụng các nguồn điện, đảm bảo cung cấp điện ổn định, phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, hộ kinh doanh, nhu cầu sinh hoạt của nhân dân và tổ chức các hoạt động chính trị - xã hội trên địa bàn tỉnh.+ Ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 11,49%, do nhu cầu sử dụng nước sinh hoạt và sản xuất kinh doanh của hộ gia đình và doanh nghiệp ngày càng tăng.2.2. Sản phẩm công nghiệp chủ yếu Trong tháng, một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng so với cùng kỳ năm trước như: Bột Felspat nghiền tăng 25,49%; giấy đế xuất khẩu tăng 61,89%; nước máy thương phẩm tăng 1,82%; giấy in viết, photo thành phẩm tăng 9,3%; giầy da tăng 1,33%; gỗ tinh chế, tăng 6,47%,.... Tuy nhiên, cũng có một số sản phẩm công nghiệp chính giảm so với cùng kỳ như: Điện thương phẩm giảm 1,11%; điện sản xuất giảm 27,77%; chè chế biến giảm 14,55%; xi măng giảm 8,28%; thép cây, thép cuộn giảm 7,18%,.... Tính chung trong 4 tháng đầu năm 2023, một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng khá so với cùng kỳ năm trước: Điện thương phẩm tăng 4,63%; bột Felspat tăng 19,75%; giấy in viết, photo thành phẩm tăng 24,83%; gỗ tinh chế tăng 8,33%; thép cây, thép cuộn đạt tăng 52,08%,... Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu giảm so với cùng kỳ năm trước như: Điện sản xuất giảm 25,24%; đường kính giảm 18,35%; chè chế biến giảm 11,79%; bột ba rít giảm 2,94%; xi măng giảm 9,27%; hàng may mặc xuất khẩu giảm 30,97%; giầy da giảm 2,53%,... 3. Kết quả thu ngân sách nhà nước tháng 4 năm 20233.1. Kết quả thu ngân sáchTổng thu nội địa tháng 01/2023 ước thực hiện là 200 tỷ đồng, lũy kế đạt 735,5 tỷ đồng, đạt 23,3% dự toán, giảm 22,5% so với cùng kỳ.Số thu nội địa trừ tiền sử dụng đất và xổ số ước thực hiện là 162,95 tỷ đồng, lũy kế đạt 596 tỷ đồng, đạt 23,8% dự toán, giảm 17,8% so với cùng kỳ.3.2. Các nguyên nhân ảnh hưởng đến kết quả thu 3.2.1. Tăng thu- Thu từ khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng tăng 5,9 tỷ đồng so với cùng kỳ so với cùng kỳ. Nguyên nhân chủ yếu: Phát sinh thuế giá trị gia tăng của Công ty TNHH sản xuất giày Chung Jye Tuyên Quang - Việt Nam.- Thu tiền thuê đất ước thực hiện 20 tỷ đồng, tăng 13,3 tỷ đồng so với cùng kỳ so với cùng kỳ. Nguyên nhân chủ yếu: Tăng 16 tỷ đồng do thực hiện ghi thu, ghi chi tiền bồi thường, giải phóng mặt bằng mà người được Nhà nước cho thuê đất đã tự nguyện ứng trước được trừ vào tiền thuê đất phải nộp của địa bàn huyện Yên Sơn và huyện Sơn Dương,... giảm 4,5 tỷ đồng do không phát sinh cá nhân nộp tiền thuê đất trúng đấu giá so với cùng kỳ- Thu tiền sử dụng đất ước thực hiện là 35 tỷ đồng, tăng 17,4 tỷ đồng so với cùng kỳ. Nguyên nhân: Cơ quan Thuế tiếp tục đôn đốc các cá nhân trúng đấu giá quyền sử dụng đất nhưng chưa nộp tiền vào NSNN và dự kiến thu phát sinh từ cá nhân trúng giá, thu tiền sử dụng đất khi công nhận Quyền sử dụng đất (cấp Giấy chứng nhận). 3.2.2. Giảm thu- Thu từ khu vực DNNN do Trung ương quản lý ước thực hiện là 20 tỷ đồng, giảm 9,9 tỷ đồng so với cùng kỳ. Nguyên nhân: Sản lượng điện kê khai nộp thuế của Công ty Thủy điện Tuyên Quang - Chi nhánh tập đoàn điện lực Việt Nam giảm 39,3 triệu kwh so với cùng kỳ, số nộp NSNN giảm 2,5 tỷ đồng; Công ty TNHH Một thành viên cơ khí hóa chất 13 nộp thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) giảm 5,2 tỷ đồng; Công ty TNHH Một thành viên cơ khí chính xác 29 nộp thuế TNDN giảm 0,9 tỷ đồng;...- Thu từ khu vực kinh tế ngoài quốc doanh ước thực hiện là 48,1 tỷ đồng, giảm 4,7 tỷ đồng so với cùng kỳ. Nguyên nhân: Thực hiện Nghị định số 12/2023/NĐ-CP ngày 14/4/2023 của Chính phủ gia hạn thời hạn nộp thuế GTGT, thuế TNDN, thuế thu nhập cá nhân và tiền thuê đất năm 2023 (gia hạn từ kỳ tính thuế tháng 3 và quý I/2023).- Thu thuế bảo vệ môi trường ước thực hiện là 21 tỷ đồng, giảm 8,9 tỷ đồng so với cùng kỳ. Nguyên nhân do thực hiện chính sách giảm theo Nghị quyết số 30/2022/UBTVQH15 ngày 30/12/2022 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thuế bảo vệ môi trường đối với xăng, dầu, mỡ nhờn.4. Hoạt động thương mại, dịch vụ, giá cả và tình hình xuất, nhập khẩu hàng hóaTrong tháng, hoạt động kinh doanh thương mại, dịch vụ và vận tải trên địa bàn tỉnh tăng trưởng khá so với cùng kỳ năm trước; du lịch, lữ hành được phục hồi và khởi sắc; xuất, nhập khẩu ổn định, chỉ số giá được kiềm chế ở mức thấp. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 4/2023 ước đạt 2.307,86 tỷ đồng, tăng 4,04% so với tháng trước, tăng 23,41% so với cùng kỳ. Tính chung 4 tháng đầu năm 2023, tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước tăng 20,88% so với cùng kỳ.4.1. Doanh thu bán lẻ hàng hóa Doanh thu bán lẻ ước đạt 2.021,64 tỷ đồng, tăng 2,35% so với tháng trước, tăng 20,78% so với cùng kỳ; Một số nhóm hàng hóa chính là: Đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình tăng 15,26%, tăng 85,08%; vật phẩm, văn hoá, giáo dục tăng 3,94%, tăng 67,43%; xăng, dầu các loại tăng 3,17%, tăng 51,94%; hàng hoá khác; tăng 8,51%, tăng 77,3%; lương thực, thực phẩm tăng 7,15%, giảm 8,88%; gỗ và vật liệu xây dựng, giảm 19,98%, tăng 6,92%; hàng may mặc giảm 0,42%, giảm 1,72%,…- Tính chung trong 4 tháng, tổng mức bán lẻ hàng hóa đạt 7.567,02 tỷ đồng, tăng 19,03% so với cùng kỳ, trong đó một số nhóm hàng hóa tăng là: Hàng may mặc tăng 2,03%; đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình tăng 79,38%; vật phẩm, văn hoá, giáo dục tăng 88,29%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 19,74%; xăng, dầu các loại tăng 38,29%; lương thực, thực phẩm giảm 10,58%,…4.2. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ khác- Trong tháng, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 206,19 tỷ đồng, tăng 24,09% so với tháng trước, tăng 47,41% so với cùng kỳ. Trong đó: Doanh thu dịch vụ lưu trú tăng 25,74%, tăng 43,74%; dịch vụ ăn uống tăng 23,94%, tăng 47,75%. Tính chung trong 4 tháng, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 693,35 tỷ đồng, tăng 37,82%.- Doanh thu du lịch lữ hành trong tháng ước đạt 0,17 tỷ đồng, tăng 5,1% so với tháng trước. Tính chung trong 4 tháng doanh thu du lịch lữ hành ước đạt 0,62 tỷ đồng.- Doanh thu nhóm dịch vụ khác trong tháng ước đạt 79,86 tỷ đồng, tăng 4,25% so với tháng trước, tăng 41,66% so với cùng kỳ. Trong đó: Dịch vụ kinh doanh bất động sản tăng 5,58%, tăng 0,76%; hành chính và dịch vụ hỗ trợ tăng 4,11%, tăng 40,05%; giáo dục và đào tạo tăng 4,08%, tăng 39,59%; y tế và hoạt động trợ giúp xã hội giảm 6,94%, tăng 12,65%; sửa chữa máy vi tính, đồ dùng cá nhân và gia đình giảm 0,23%, tăng 1,88%,... Tính chung trong 4 tháng, nhóm dịch vụ khác ước đạt 306,38 tỷ đồng, tăng 34,83%.4.3. Giá cả- Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trong tháng giảm 0,27% so với tháng trước, tăng 3,94% so với cùng kỳ năm trước và tăng 0,9% so với tháng 12 năm trước. Tính chung trong 4 tháng đầu năm, CPI tăng 4,78% so với cùng kỳ.- Trong tháng có 8/11 nhóm hàng có chỉ số CPI tăng so với tháng trước, trong đó: Nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,18%, do bước vào thời điểm mùa hè Thời tiết chuyển sang oi nóng, nhu cầu tiêu thụ các loại đồ uống nước giải khát có ga và rượu, bia tăng tăng nhiệt ngay đầu hè; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,05% do thời tiết bắt đầu chuyển sang mùa hè nhu cầu tiêu dùng của người dân mua sắm các loại vải và quần áo may sẵn tăng; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,19% do bước vào thời điểm giao mùa vẫn còn xuất hiện những đợt lạnh cuối, kèm theo không khí ẩm nồm xuất hiện các bệnh liên quan đến đường hô hấp, nhiễm khuẩn, cúm,… có chiều hướng gia tăng khiến nhu cầu sử dụng thuốc và dịch vụ y tế tăng; giao thông tăng 0,5% là do giá xăng, dầu điều chỉnh tại các kỳ điều hành giá của Tập đoàn xăng dầu Việt Nam về mức giá bán lẻ xăng, dầu (xăng tăng 1,11%, dầu mỡ nhờn tăng 1,04%); bưu chính viễn thông tăng 0,04% do nhu cầu sửa chữa điện thoại của người dân tăng cao (tăng 8,42%); giáo dục tăng 0,12% do nhu cầu mua sắm các loại sách giáo khoa và văn phòng phẩm của học sinh các cấp tăng; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 1,06% do nhu cầu mua sắm các các sản phẩm dụng cụ thể dục thể thao của người dân tăng; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,8%.Có 03 nhóm hàng có chỉ số CPI giảm so với tháng trước: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,61%, chủ yếu do nhóm hàng thực phẩm giảm 0,91%, nguyên nhân là do giá thịt lợn hơi giảm làm giá thịt lợn giảm 3,64%, nhóm trứng các loại tiếp tục chiều hướng giảm (giảm 1,57%) do nguồn cung dồi dào; nhóm; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 1,56%, do nhu cầu tiêu dùng điện, nước sinh hoạt giảm làm cho giá bình quân giảm, giá gas và các loại chất đốt giảm do nhu cầu tiêu thụ giảm xuống và lượng hàng tồn kho dồi dào, giá gas thế giới hạ nhiệt. - Chỉ số giá vàng tăng 3,3% so với tháng trước, giảm 2,93% so với cùng kỳ năm trước và tăng 4,53% so với tháng 12 năm trước. Tính chung trong 4 tháng đầu năm, giảm 3,79% so với cùng kỳ.- Chỉ số giá đô la Mỹ giảm 0,76% so với tháng trước, tăng 2,67% so với cùng kỳ năm trước và giảm 1,18% so với tháng 12 năm trước. Tính chung trong 4 tháng, tăng 3,41% so với cùng kỳ.5. Xuất, nhập khẩu hàng hóaTrong tháng, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa ước đạt 9,63 triệu USD, giảm 38,72% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung trong 4 tháng, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa ước đạt 59,23 triệu USD, đạt 24,68% kế hoạch, giảm 30,82% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, xuất khẩu ước đạt 42,98 triệu USD, đạt 28,65%, giảm 22,92%, nhập khẩu ước đạt 16,25 triệu USD, đạt 18,05%, giảm 45,58%, cụ thể như sau:- Kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng xuất khẩu chủ yếu tăng so với tháng cùng kỳ như: Giấy đế ước đạt 300 tấn, tăng 47,78%; giấy in viết, photo thành phẩm đạt 50 tấn, tăng 178,71%; đũa gỗ xuất khẩu đạt 3.000 nghìn đôi, tăng 27,39%,… Một số nhóm hàng có kim ngạch xuất khẩu giảm so với cùng kỳ: Bột barit đạt 1.500 tấn, giảm 58,98%; bột giấy đạt 300 tấn, giảm 61,74%; phong bì đạt 120 nghìn cái, giảm 9,9%. Tính chung trong 4 tháng, một số nhóm hàng xuất khẩu đạt mức tăng trưởng cao so với cùng kỳ như: Chè xuất khẩu tăng 216,67%; phong bì tăng 6,24%; atimony thỏi, tăng 141,55%,… Bên cạnh đó, một số nhóm hàng có kim ngạch xuất khẩu giảm so với cùng kỳ: Bột barit, giảm 52,09%; giấy đế, giảm 28,27%; bột giấy giảm 67,77%; hàng dệt, may, giảm 54,08%,… - Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa trong 4 tháng ước đạt 16,25 triệu USD, giảm 45,58% so với cùng kỳ.6. Vận tải hàng hóa và hành khách 6.1. Doanh thu vận tải tải kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải - Tổng doanh thu vận tải tháng 4/2023 ước đạt 290,11 tỷ đồng, tăng 4,33% so với tháng trước, tăng 33,45% so với cùng kỳ. Trong đó, doanh thu vận tải hành khách ước đạt 51,81 tỷ đồng, tăng 9,76%, tăng 43,87%; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 237,73 tỷ đồng, tăng 3,22%, tăng 31,23%; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 0,36 tỷ đồng, tăng 4,38%, tăng 65,12%,…- Tính chung trong 4 tháng, doanh thu vận tải kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 1.141,57 tỷ đồng, tăng 45,34% so với cùng kỳ. Trong đó: Doanh thu vận tải hành khách đạt 198,04 tỷ đồng, tăng 54,81%; doanh thu vận tải hàng hóa đạt 941,36 tỷ đồng, tăng 43,34%; dịch vụ hỗ trợ vận tải kho bãi đạt 1,36 tỷ đồng, tăng 76,96%,… 6.2. Vận tải hành khách và hàng hóa- Khối lượng hành khách vận chuyển ước đạt 0,81 triệu lượt hành khách, tăng 9,03% so với tháng trước, tăng 29,47% so với cùng kỳ; khối lượng hành khách luân chuyển ước đạt 67,95 triệu lượt hành khách.km, tăng 9,03%, tăng 12,78%. Tính chung trong 4 tháng, khối lượng hành khách vận chuyển ước đạt 3,11 triệu lượt hành khách, tăng 48,15% so với cùng kỳ; khối lượng hành khách luân chuyển ước đạt 255,74 triệu lượt hành khách.km, tăng 20,83%.- Khối lượng hàng hóa vận chuyển ước đạt 1,63 triệu tấn, tăng 3,22% so với tháng trước, tăng 23,25% so với cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 103,43 triệu tấn.km, tăng 3,73%, tăng 18,98%. Tính chung trong 4 tháng, khối lượng hàng hóa vận chuyển ước đạt 6,42 triệu tấn, tăng 36,42% so với cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 406,25 triệu tấn.km, tăng 40,56%.7. Về du lịch Trong tháng, tỉnh đã tham gia Hội nghị Xúc tiến liên kết điểm đến du lịch 08 tỉnh Đông Bắc gồm: Tuyên Quang, Bắc Kạn, Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Bắc Giang, Vĩnh Phúc, Quảng Ninh được tổ chức tại Thành phố Hồ Chí Minh đã thu hút sự tham gia của trên 30 doanh nghiệp, công ty lữ hành của TP. Hồ Chí Minh, 20 doanh nghiệp, công ty lữ hành các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long và các doanh nghiệp, công ty lữ hành của 08 tỉnh Đông Bắc. Đây là sự kiện thúc đẩy hoạt động liên kết phát triển chuỗi tour, tuyến du lịch để quảng bá thế mạnh, sản phẩm du lịch hấp dẫn của các tỉnh.Trong tháng 4/2023, đã thu hút được trên 350.000 lượt khách du lịch, tổng thu từ khách du lịch ước đạt 420 tỷ đồng. Tính chung trong 4 tháng, thu hút được 1.230.000 lượt khách du lịch đạt 49% kế hoạch, tăng 70% so với cùng kỳ; tổng thu từ khách du lịch đạt 1.425 tỷ đồng; đạt 48% kế hoạch, tăng 97,4% so với cùng kỳ).II. LĨNH VỰC VĂN HÓA - XÃ HỘI 1. Công tác lao động, việc làm, giáo dục nghề nghiệpTrong tháng, đã tạo việc làm mới cho 2.882 lao động; ước tính trong 4 tháng đầu năm 2023, toàn tỉnh có 10.061 lao động được tạo việc làm, đạt 45,3% kế hoạch, tăng 24,7% so với cùng kỳ. Trong đó: Lao động làm việc trong các ngành kinh tế tại tỉnh là 6.073 người; lao động đi làm việc các tỉnh, thành phố là 3.453 người; lao động đi làm việc nước ngoài theo hợp đồng là 535 người.2. Công tác đảm bảo chế độ người có công với cách mạng, bảo trợ, an sinh xã hội và phòng chống các tệ nạn - Đã tiếp nhận và thẩm định giải quyết chế độ ưu đãi đối với 205 thân nhân người có công với cách mạng; ban hành 07 quyết định trợ cấp đối với thanh niên xung phong đã hoàn thành nhiệm vụ trong kháng chiến; ban hành quyết định hưởng trợ cấp hàng tháng đối với 23 đối tượng theo quy định; sửa đổi thông tin đối với 03 người có công với cách mạng; thực hiện chi trả trợ cấp cho thân nhân, người có công với cách mạng đầy đủ, kịp thời và đúng đối tượng.- Tiếp tục thực hiện tốt các chính sách trợ giúp xã hội, thường xuyên rà soát năm chắc tình hình đời sống ngân dân, kịp thời hỗ trơ các hộ gia đình, cá nhân gặp khó khăn do tai nạn rủi ro, duy trì chi trả trợ cấp thường xuyên cho trên 38.000 đối tượng bảo trợ xã hội tại cộng đồng. - Trong tháng Cơ sở cai nghiện ma tuý tỉnh đã tiếp nhận 11 học viên (Cai nghiện bắt buộc); cấp giấy chứng nhận hoàn thành cai nghiện cho 8 học viên. Luỹ kế từ đầu năm đến nay Cơ sở cai nghiện ma tuý tỉnh đã tiếp nhận 25 học viên (Cai nghiện bắt buộc 24 học viên, cai nghiện tự nguyện 01 học viên); cấp giấy chứng nhận hoàn thành cai nghiện cho 24 học viên; phối hợp với Công an huyện Sơn Dương tổ chức truy tìm đưa trở lại Cơ sở 01 học viên. Tại thời điểm báo cáo Cơ sở đang quản lý 147 học viên (có mặt 139 học viên; trốn cai 06 học viên; đi viện 01 học viên).  3. Hoạt động giáo dục và đào tạoĐể chuẩn bị cho Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2023 đạt kết quả cao, hiện nay, các trường THPT trên địa bàn tỉnh đã triển khai nhiều giải pháp nhằm nâng cao chất lượng ôn tập cho học sinh lớp 12. Trong quá trình ôn tập thường xuyên đánh giá học sinh, qua các bài kiểm tra, thi thử để điều chỉnh phương pháp ôn tập cho phù hợp, đạt hiệu quả cao.Công tác tư vấn, hướng nghiệp để học sinh lựa chọn được ngành nghề phù hợp cho tương lai cũng được các trường THPT trên địa bàn tỉnh tổ chức tư vấn, hướng nghiệp cho học sinh. Tùy điều kiện, hoàn cảnh và lực học của từng em, giáo viên nhà trường sẽ đưa ra những tư vấn để các em có sự lựa chọn phù hợp cho tương lai của mình.4. Hoạt động y tế - Để đảm bảo công tác, tỉnh tiếp tục thực hiện nghiêm các chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trong công tác phòng chống dịch Covid-19 và các dịch bệnh truyền nhiễm khác; tuyệt đối không được chủ quan, lơ là, mất cảnh giác và thực hiện hiệu quả các biện pháp phòng chống dịch theo đúng chỉ đạo của Trung ương và của tỉnh; kiểm tra, giám sát công tác phòng, chống dịch đảm bảo chủ động, sẵn sàng và kịp thời ứng phó với các diễn biến có thể xảy ra của dịch bệnh.- Trong đợt dịch lần thứ tư, tính từ ngày 29/4/2021 đến ngày 18/4/2023, trên địa bàn toàn tỉnh đã ghi nhận 161.401 ca mắc Covid-19, đã khỏi 161.027 người và 19 bệnh nhân tử vong. Số ca mắc trên địa bản tỉnh cộng dồn năm 2023 là 176 bệnh nhân. Hiện các bệnh nhân đang điều trị tại các cơ sở y tế và tại nhà.- Về tình hình tiêm chủng vắc xin Covid-19 tính đến ngày 18/4/2023: Tổng số cộng dồn tiêm tại tỉnh từ đợt 1 đến nay: 2.256.123 mũi tiêm; trong đó: mũi 01: 705.449 người; mũi 02: 694.106 người; mũi 03: 521.981 người; mũi 04: 255.387 người.+ Tiêm cho người từ 18 tuổi trở lên tỷ lệ tiêm mũi 1 là 100% (510.951 người còn 6.471 người chống chỉ định chưa tiêm); tiêm đủ 2 mũi là 99,7% (513.410 người); có 79.200 người được tiêm bổ sung để hoàn thành liều cơ bản; Tỷ lệ tiêm mũi 3 là 90,7% (460.928 người); hoàn thành tiêm mũi 04 cho đối tượng ưu tiên, số người được tiêm mũi 04 là 254.387 người.+ Tiêm cho trẻ từ 12 đến dưới 18 tuổi: Tỷ lệ tiêm mũi 1 đạt trên 99,1% (77.991 trẻ; tiêm đủ 02 mũi đạt 100% (78.799 trẻ), tiêm mũi 3 là 77,6% (61.053 trẻ) tỷ lệ tiêm mũi 3 cao nhất là Yên Sơn (97,7%) thấp nhất là Sơn Dương (69,6%).+ Tiêm cho trẻ từ 05 đến dưới 12 tuổi: Tỷ lệ tiêm mũi 01 đạt 99,9% (116.507/116.582) các huyện, thành phố đạt trên 95%; tiêm 02 mũi là 87,4% (101.897 trẻ), hiện chưa có phản ứng phụ hoặc tai biến sẩy ra. 5. Hoạt động văn hoá - thể dục, thể thao- Lĩnh vực văn hoá: Tổ chức các hoạt động tuyên truyền Kỷ niệm 48 năm Ngày Giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2023) và Ngày Quốc tế Lao động (1/5); tổ chức các hoạt động khai mạc Năm du lịch tỉnh Tuyên Quang năm 2023 và trao "Giải thưởng phong cảnh thành phố Châu Á" năm 2022 cho "Công trình Quảng trường Nguyễn Tất Thành - Tinh hoa của núi rừng", tổ chức Lễ hội Khinh khí cầu quốc tế lần thứ II năm 2023; trưng bày, giới thiệu sản phẩm du lịch, làng nghề Tuyên Quang năm 2023 theo đúng kế hoạch. Tiếp tục đẩy mạnh phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” gắn với chương trình xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh được triển khai.- Về thể dục thể thao: Chuẩn bị các điều kiện tổ chức giải bóng đá nữ các dân tộc tỉnh; giải đua thuyền Kayak mở rộng năm 2023 tại huyện Lâm Bình. Duy trì hoạt động 6 lớp đội tuyển năng khiếu với 30 vận động viên; 7 lớp đội tuyển trẻ với 68 vận động viên; 03 lớp đội tuyển tỉnh với 20 vận động viên. 6. Một số hoạt động khác- Trong tháng, tỉnh đã tổ chức thành công Hội nghị công bố Quy hoạch tỉnh Tuyên Quang thời kỳ 2021-2030 tầm nhìn đến năm 2050 theo Quyết định số 325/QĐ-TTg ngày 30/3/2023 của Thủ tướng Chính phủ. Theo định đến năm 2050, Tuyên Quang là tỉnh phát triển, thu nhập cao của vùng Trung du và miền núi Bắc bộ, có môi trường xã hội văn minh, hiện đại, sáng tạo, dân chủ. Các khu công nghiệp, cụm công nghiệp phát triển xanh, công nghiệp sinh thái, thông minh; dịch vụ phát triển đa dạng, hiện đại; sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, thích ứng với biến đổi khí hậu.- Với mục tiêu đẩy nhanh công tác giải ngân vốn đầu tư công và các chương trình mục tiêu Quốc gia, tỉnh đã tổ chức Hội nghị chuyên đề về nhiệm vụ và giải pháp tháo gỡ vướng mắc, khó khăn để đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư. Phấn đấu trong 6 tháng đầu năm, toàn tỉnh giải ngân tối thiểu 50%, cả năm giải ngân 98% nguồn vốn theo kế hoạch.- Tỉnh đã tổ chức Lễ phát động thi đua chuyển đổi số - Năm dữ liệu số Tuyên Quang năm 2023 và ra mắt ứng dụng Chính quyền số tỉnh Tuyên Quang (Tuyên Quang ID) nhằm nâng cao năng lực hoạt động, cung cấp dịch vụ nghiệp vụ của các cơ quan Nhà nước trên địa bàn tỉnh đối với công dân, doanh nghiệp và đẩy mạnh quá trình sử dụng dịch vụ công của tỉnh.7. Tình hình an toàn giao thông và phòng chống cháy, nổ7.1. Về an toàn giao thôngTỉnh tiếp tục triển khai đợt cao điểm tuần tra, kiểm soát, xử lý lái xe vi phạm về nồng độ cồn và đi quá tốc độ. Lực lượng chức năng đã tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát trên các tuyến quốc lộ, đường tỉnh, đường huyện, khu vực trung tâm thành phố, trung tâm huyện, tuyến đường thường xảy ra tai nạn giao thông.  Trong tháng, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 03 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 02 người và làm bị thương 02 người. So với tháng trước giảm 62,5% về số vụ tai nạn, giảm 33,33% về số người chết, giảm 66,67% về số người bị thương. So với cùng kỳ năm trước, giảm 62,5% số vụ tai nạn, giảm 33,33% về số người chết, giảm 60% về số người bị thương.Tính chung trong 4 tháng đầu năm, toàn tỉnh đã xảy ra 26 vụ tai nạn giao thông; làm chết 9 người và làm bị thương 19 người. So với cùng kỳ năm trước: Số vụ tai nạn giao thông, số người chết giữ nguyên; số người bị thương giảm 9,52%.CỤC THỐNG KÊ TUYÊN QUANG

Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 3 và quý I năm 2023 tỉnh Tuyên Quang
  •   10/11/2025 21:40

I. PHÁT TRIỂN KINH TẾ  1. Tài chính, ngân hàng1.1. Tình hình thu, chi ngân sách nhà nước1.1.1. Thu ngân sách nhà nước: Tổng thu ngân sách nhà nước ước thực hiện 03 tháng đầu năm 2023 đạt 590,61 tỷ đồng, đạt 18,45% dự toán năm, giảm 23,98% so với cùng kỳ. Trong đó, thu nội địa đạt 573,11 tỷ đồng, đạt 18,14%, giảm 25,07%. - Một số khoản thu đạt khá là: Thu từ khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 15,84 tỷ đồng, đạt 39,59% dự toán, tăng 55,96% so với cùng kỳ; thuế thu thuế thu nhập cá nhân ước đạt 46,28 tỷ đồng, đạt 35,6%, tăng 25,71%; thu phí - lệ phí ước đạt 61,11 tỷ đồng, đạt 23,87%, tăng 6,17%; thu khác của ngân sách đạt 15,48 tỷ đồng, đạt 15,48%, tăng 2,03%,…1.1.2. Chi ngân sách nhà nước: Tổng chi ngân sách nhà nước ước đạt 3.011,87 tỷ đồng, đạt 22,54% dự toán, giảm 8,22% so với cùng kỳ. Trong đó: Chi đầu tư phát triển ước đạt 477,4 tỷ đồng, đạt 32,28%, giảm 39,56%; chi thường xuyên ước đạt 1.373,99 tỷ đồng, đạt 19,83%, tăng 15,5%; chi từ nguồn bổ sung có mục tiêu từ ngân sách trung ương cho ngân sách địa phương ước đạt 1.158,12,68 tỷ đồng, đạt 24,21%, giảm 8,11%,...1.2. Hoạt động tín dụng ngân hàng- Nguồn vốn huy động tại địa phương đến 31/3/2023 ước đạt 27.800 tỷ đồng, tăng 12,62% cùng kỳ; so với 31/12/2022 tăng 483 tỷ đồng, tăng 1,8%.     - Dư nợ tín dụng đến 31/3/2023 ước đạt 26.600 tỷ đồng, tăng 16,63% cùng kỳ; so với 31/12/2022 tăng 483 tỷ đồng, tăng 1,8%.     - Nợ xấu của các Ngân hàng thương mại đến 31/3/2023 khoảng 230 tỷ đồng, chiếm 0,86% trên tổng dư nợ. 2. Giá- Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trong tháng giảm 0,16% so với tháng trước, tăng 3,81% so với cùng kỳ năm trước và tăng 1,17% so với tháng 12 năm trước. Tính chung trong quý I năm 2023, CPI bình quân tăng 1,16% so với quý cùng kỳ năm trước.Trong số 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính thì có 08 nhóm tăng giá so với tháng trước, 03 nhóm giảm giá.Trong số 08 nhóm hàng tăng giá, so với tháng trước, bao gồm những nhóm hàng sau: Nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,14% do thời tiết bắt đầu chuyển sang mùa hè nhu cầu tiêu dùng của người dân mua sắm các loại vải và quần áo may sẵn tăng; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0,03% do giá vật liệu xây dựng tăng từ đầu năm và giá điện, nước sinh hoạt tăng so với tháng trước do nhu cầu sử dụng của người dân tăng; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,19% do bước vào thời điểm giao mùa xuất hiện các bệnh liên quan đến đường hô hấp, nhiễm khuẩn, cúm,… có chiều hướng gia tăng khiến nhu cầu sử dụng thuốc và dịch vụ y tế tăng; giao thông tăng 0,4% là do giá xăng, dầu điều chỉnh theo quyết định điều chỉnh của Tập đoàn xăng dầu Việt Nam về mức giá bán lẻ, tính chung từ đầu năm đến nay giá xăng, dầu đã có 4 lần tăng, 3 lần giảm và 1 lần giữ nguyên; bưu chính viễn thông tăng 0,01%; giáo dục tăng 0,07% do bước sang học kỳ 2 nhu cầu mua sắm các loại văn phòng phẩm của học sinh các cấp tăng; văn hóa, giải trí, du lịch tăng 1,03%, do nhu cầu sử dụng các thiết bị giải trí gia đình như dàn âm thanh nghe nhạc của người dân tăng; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 1,01%,…Trong 03 nhóm hàng giảm giá so với tháng trước; Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,92%, do quy luật tiêu dùng giảm sau Tết Nguyên đán, tập trung ở một số mặt hàng như thịt lợn,thịt bò, gia cầm, trứng các loại va một nguyên nhân nữa là lượng tiêu thụ tại các nhà hàng, quán ăn giảm do đã hết giai đoạn lễ hội trong khi nguồn cung thịt và trứng gia cầm ở mức cao; nhóm đồ uống và thuốc lá giảm 0,6%, do nhu cầu tiêu thụ các mặt hàng nước khoáng, nước ngọt, rượu bia và thuốc lá giảm; thiết bị và đồ dùng gia đình giảm 0,05%.- Chỉ số giá vàng giảm 0,04% so với tháng trước, giảm 5,71% so với cùng kỳ năm trước và tăng 1,19% so với tháng 12 năm trước. Bình quân trong quý I tăng 2,17% so với quý cùng kỳ.- Chỉ số giá đô la Mỹ tăng 0,17% so với tháng trước, tăng 3,56% so với cùng kỳ năm trước và giảm 0,43% so với tháng 12 năm trước. Bình quân trong quý I giảm 2,4% so với quý cùng kỳ.3. Hoạt động Xây dựng Năm 2023, Tuyên Quang được giao tổng kế hoạch vốn đầu tư công là 5.280,56 tỷ đồng, trong đó: Vốn ngân sách địa phương là 1.158,74 tỷ đồng; vốn ngân sách trung ương là 4.121,82 tỷ đồng. Tính đến ngày 10/3/2023 tổng số vốn giải ngân được 189,44 tỷ đồng, đạt 5,96% dự toán UBND tỉnh giao (kế hoạch là 3.175,85 tỷ đồng), trong đó: Vốn ngân sách địa phương giải ngân được 187,89 tỷ đồng, vốn ngân sách trung ương giải ngân được 1,55 tỷ đồng.Trong thời gian tới, tỉnh tập trung vào các công trình, dự án trọng điểm có tác động liên vùng có ý nghĩa thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nhanh, bền vững, an sinh xã hội như đường cao tốc Tuyên Quang - Phú Thọ, cao tốc Tuyên Quang - Hà Giang (giai đoạn 1); xây dựng Trường THPT Tuyên Quang chuyên tại địa điểm mới; đường trục giao thông phát triển đô thị từ thành phố Tuyên Quang đi trung tâm huyện Yên Sơn; xây dựng đường từ khu du lịch suối khoáng Mỹ Lâm đến Quốc lộ 2D và đường cao tốc Tuyên Quang - Phú Thọ; dự án Đầu tư xây dựng Bệnh viện Đa khoa tỉnh; dự án Flamingo Tân Trào; dự án điều chỉnh bổ sung quy hoạch di dân, tái định cư dự án thủy điện Tuyên Quang trên địa bàn tỉnh; và các dự án sử dụng nguồn vốn phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội, các chương trình mục tiêu quốc gia.4. Tình hình hoạt động của doanh nghiệp4.1. Tình hình đăng ký doanh nghiệp- Trong tháng, toàn tỉnh có 09 doanh nghiệp (DN) thành lập mới, giảm 62,5% so với tháng trước, giảm 81,25% so với tháng cùng kỳ; tổng số vốn đăng ký là 88,05 tỷ đồng, giảm 9,21%, giảm 64,4%; vốn đăng ký bình quân một DN đạt trên 9,78 tỷ đồng, tăng 142,11%, tăng 73,85%.- Tính chung trong quý I, toàn tỉnh đã cấp Giấy chứng nhận đăng ký thành lập mới cho 39 doanh nghiệp với số vốn đăng ký trên 197,7 tỷ đồng, số doanh nghiệp thành lập mới giảm 58,06%, giảm 65,25% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ. Có 41 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, giảm 24,07% so với quý cùng kỳ năm 2022. Nâng tổng số doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh là 2.429 doanh nghiệp, tổng số vốn đăng ký đạt trên 28.056,93 tỷ đồng (bao gồm 15 doanh nghiệp có 100% vốn đầu tư nước ngoài); vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp đạt 11,55 tỷ đồng, tăng 0,74%. Trong quý I, có 95 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động, tăng 9,19% so với quý cùng kỳ; có 03 doanh nghiệp đã hoàn tất thủ tục giải thể.Nhìn chung, hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp còn nhiều khó khăn, số lượng doanh nghiệp thành lập mới giảm, trong khi số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường lại tăng so với cùng kỳ.4.2. Xu hướng kinh doanh ngành công nghiệp chế biến chế tạoKết quả điều tra về xu hướng kinh doanh của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong quý I năm 2023 cho thấy: Số doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh quý I năm nay khả quan hơn quý trước đạt tỷ lệ 32,26%; doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh ổn định đạt tỷ 51,61% và có 16,13% số doanh nghiệp đánh giá gặp khó khăn trong sản xuất kinh doanh. Dự kiến xu hướng kinh doanh quý tiếp theo so với quý hiện tại năm 2023 cho thấy: Có 41,94% số doanh nghiệp đánh giá xu hướng sẽ tốt lên (trong đó có ngành: Chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa; sản xuất bột giấy, giấy và bìa; sản xuất vật liệu xây dựng từ đất sét; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn); 45,16% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh sẽ ổn định (trong đó có ngành: Sản xuất chế biến thực phẩm; sản xuất trang phục; sản xuất hóa chât và sản phẩm hóa chất; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học); có 12,90% số doanh nghiệp dự báo tiếp tục khó khăn hơn. 5. Về sản xuất nông nghiệp (tính đến ngày 15/3/2023)5.1. Trồng trọt 5.1.1. Sản xuất vụ Đông năm 2023Vụ đông 2023, toàn tỉnh gieo trồng được 14.579,59 ha, giảm 0,05% (giảm 7,29 ha) so với năm 2022,... Kết quả cụ thể đối với từng loại cây trồng như sau:- Cây ngô: Trồng được 5.392,17 ha, giảm 2,52%, giảm 139,52 ha; sản lượng ước đạt 24.571,71 tấn, giảm 1,84%, giảm 459,58 tấn.- Cây khoai lang: Trồng được 1.126,25 ha, giảm 3,83% (giảm 44,81 ha); sản lượng ước đạt 6.943,49 tấn, giảm 3,77% (giảm 249,32 tấn).- Cây đậu tương: Trồng được 57,41 ha, tăng 158,6% (tăng 35,21 ha); sản lượng ước đạt 94,67 tấn, tăng 146,66% (tăng 56,29 tấn).- Cây lạc: Trồng được 51,05 ha, tăng 10,98% (tăng 5,05 ha); sản lượng ước đạt 112,41 tấn, tăng 11,64% (tăng 11,72 tấn). 5.1.2. Sản xuất vụ Xuân năm 2023Theo kế hoạch, vụ Xuân năm nay toàn tỉnh sẽ phấn đấu gieo cấy 18.341,5 ha, đến thời điểm hiện tại, toàn tỉnh đã gieo cấy được 18.504,3 ha lúa (trong đó: Lúa lai 8.512 ha; lúa thuần 9.992,3 ha), đạt 100,89% kế hoạch, giảm 2,79% (giảm 531,9 ha) so với cùng kỳ; cây ngô trồng được 8.282,2 ha, đạt 102,49%, tăng 3,19% (tăng 256,1 ha); cây lạc 3.218,8 ha, đạt 95,51%, giảm 3,34% (giảm 111,1 ha); cây đậu tương 108 ha, đạt 84,44%, tăng 0,09% (tăng 0,1 ha); cây mía trồng mới, trồng lại là 578,4 ha, đạt 28,65%, tăng 22,15% (tăng 104,9 ha), trong đó: trồng mới là 322,2 ha, trồng lại là 256,2 ha; cây khoai lang 390,3 ha, đạt 92,93%.5.1.3. Cây lâu năm- Diện tích cây chuối hiện có trên địa bàn tỉnh 2.233,09 ha, tăng 0,21% so với cùng kỳ; sản lượng đạt trên 4.362,11 tấn, tăng 2,51%.- Diện tích cây chè trên địa bàn tỉnh hiện có 8.331,77 ha, giảm 0,45% so với cùng kỳ; sản lượng thu hoạch ước đạt trên 9.705,25 tấn, tăng 0,02%.5.2. Về chăn nuôi 5.2.1. Về số lượng đàn gia súc, gia cầmĐàn trâu tổng đàn ước đạt 90.124 con, giảm 1,71% (giảm 1.566 con) so với cùng kỳ năm 2022; đàn bò 39.646 con, tăng 5,52% (tăng 2.075 con); đàn lợn 557.446 con, tăng 2,42% (tăng 13.154 con); đàn gia cầm 7.225,66 nghìn con, tăng 3,92% (tăng 272,52 nghìn con).5.2.2. Về sản phẩm đàn gia súc, gia cầmĐàn trâu sản lượng thịt hơi xuất chuồng ước đạt 1.723,13 tấn, tăng 5,57% (tương ứng với 6.336 con xuất chuồng) so với cùng kỳ năm 2022; đàn bò đạt 489,86 tấn, tăng 6,04% (tương ứng với 2.188 con); đàn lợn đạt 16.931,65 tấn, tăng 8,25% (tương ứng với 348.210 con); đàn gia cầm đạt 4.810,30 tấn, tăng 5.37% (tăng 463 tấn). 5.2.3. Công tác phòng chống dịch bệnh gia súc, gia cầm5.2.3.1. Công tác phòng chống và điều trịCông tác kiểm tra giám sát dịch bệnh được nhân viên chăn nuôi thú y các xã, phường, thị trấn thực hiện chặt chẽ, thường xuyên đảm bảo phát hiện kịp thời, có biện pháp xử lý hiệu quả khi có gia súc, gia cầm mắc bệnh. - Đàn gia súc, gia cầm trên địa bàn phát triển ổn định không có dịch bệnh truyền nhiễm xảy ra.- Điều trị bệnh: Trên địa bàn các huyện, thành phố rải rác xuất hiện các bệnh Tụ huyết trùng; ký sinh trùng, chướng bụng đầy hơi, sán lá gan (đàn trâu,bò, tiêu chảy, lép tô, phân trắng lợn con (đàn lợn); Newcastle, THT, cầu trùng…(đối với đàn gia cầm), đã được nhân viên thú y phát hiện, điều trị khỏi: 1.115/5.049 con, trong đó: Trâu, bò: 154/154 con; đàn lợn: 961/995 con. Số con chết 3.934/5.059 con, trong đó: 3.900 con gà chết do mắc bệnh Newcastle; 34 con lợn chết do mắc bệnh tiêu chảy, viêm phổi, phù đầu...5.2.4. Công tác kiểm dịch vận chuyển và công tác kiểm soát giết mổ+ Kiểm dịch vận chuyển ngoại tỉnh: Đã kiểm tra, cấp trên 804 giấy chứng nhận kiểm dịch vận chuyển 90.878 con gia súc, gia cầm và 7.915.900 kg sản phẩm động vật đi các tỉnh, thành phố trong cả nước.+ Các Trạm Kiểm dịch động vật: Đã kiểm tra trên 460 lượt phương tiện vận chuyển đủ thủ tục (141 chuyến vận chuyển 23.558 con gia súc, 315 chuyến vận chuyển 351.225 con gia cầm và 4 chuyển vận chuyển 18.783 kg gia súc.+ Công tác kiểm soát giết mổ và kiểm tra vệ sinh thú y: Trung tâm Dịch vụ nông nghiệp các huyện, thành phố duy trì công tác kiểm soát giết mổ trên địa bàn, đã kiểm tra, đóng dấu: 490 con trâu, bò; 14.326 con lợn. 5.3. Về sản xuất lâm nghiệp 5.3.1. Công tác trồng rừngTheo kế hoạch trồng rừng năm 2023, toàn tỉnh phấn đấu trồng mới trên 10.100 ha, trong đó: Rừng sản xuất là 9.700 ha, rừng phân tán 400 ha. Ngay từ đầu năm các địa phương trong tỉnh đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động, người dân tham gia trồng, chăm sóc, bảo vệ và phát triển rừng; Hiện nay, các chủ rừng đang chuẩn bị cây giống, phân bón và cuốc hố, đảm bảo trồng rừng trong khung thời vụ tốt nhất, phấn đấu hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch đề ra.Trong quý I, toàn tỉnh đã trồng được 2.857,74 ha, đạt 28,29% kế hoạch, giảm 18,84% so với cùng kỳ (trong đó trồng rừng tập trung 2.607,64 ha, trồng cây phân tán 250,1 ha); số cây giống đã sản xuất được 11,25 triệu cây, đạt 61,81%.5.3.2. Khai thác gỗ rừng trồngToàn tỉnh đã khai thác 130.000 m3 gỗ¬, tăng 5,13% so với cùng kỳ năm 2022, đạt 11,6% kế hoạch, khai thác tre, nứa được 4.364 tấn, đạt 11,6%.5.3.3. Công tác quản lý bảo vệ rừngTrong quý, trên địa bàn toàn tỉnh không xảy ra vụ cháy rừng, số vụ chặt phá rừng là 6 vụ, với tổng diện tích bị chặt phá 11,83 ha, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng. Đã kiểm tra, phát hiện và xử lý 39 vụ vi phạm (trong đó xử phạt vi phạm hành chính 29 vụ, xử lý hình sự 10 vụ), tịch thu 12,88 m3 gỗ các loại, thu nộp ngân sách 125,65 triệu đồng.5.4. Về thuỷ sảnDự ước quý I năm 2023, diện tích nuôi trồng thuỷ sản 3.369,43 ha, giảm 1,44% so với cùng kỳ; sản lượng thuỷ sản ước đạt 2.184,75 tấn, tăng 8,11% (tăng 163,88 tấn), trong đó: Sản lượng nuôi trồng 2.015,17 tấn, tăng 7,85%; sản lượng khai thác có 169,58 tấn, tăng 11,35%; sản xuất giống được 26,90 triệu con tăng 4,14% (tăng 1,07 triệu con).6. Về tỉnh hình sản xuất công nghiệp6.1. Về chỉ số phát triển công nghiệp- Chỉ số sản xuất công nghiệp trong tháng tăng 26,71% so với tháng trước, tăng 9,75% so với cùng kỳ, cụ thể của các ngành như sau: Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 30,4%, tăng 11,55%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí tăng 9,61%, tăng 2,61%; khai khoáng tăng 9,84%, giảm 9,83%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải giảm 18,51%, tăng 0,16%.Một số ngành công nghiệp cấp II có chỉ số sản xuất tăng so với cùng kỳ năm trước như: Sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 30,6%, tăng 9,75%; sản phẩm từ cao su và plastic tăng 7,8%, tăng 44,3%; giường, tủ, bàn, ghế tăng 6,15%, tăng 45,12%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 1,16%, tăng 12,53%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế) tăng 9,32%, giảm 2,41%,...- Tính chung trong quý I năm 2023, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 18,01% so với cùng quý năm trước, Chia theo từng ngành kinh tế cấp I như sau:+ Ngành khai khoáng giảm 12,1%, nguyên nhân từ đầu năm đến nay, sản lượng khai thác đá, cát, sỏi và khai thác khoáng hóa chất giảm so cùng kỳ. Nguyên nhân là từ sau Tết Nguyên đán đến nay, nhu cầu xây dựng, sửa chữa nhà diễn ra khá chậm do những khó khăn, tác động của thị trường bất động sản, giá vật liệu xây dựng có nhiều biến động nên sản lượng khai thác đá, cát sỏi một số công ty giảm so với cùng kỳ.+ Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 22,64%, do một số ngành chế biến tăng như: Sản xuất chế biến thực phẩm tăng 22,06%; da và các sản phẩm có liên quan tăng 76,31%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa tăng 42,95%; giấy và sản phẩm từ giấy tăng 23,95%; sản phẩm từ cao su và plastic tăng 108,6%; sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 15,92%; sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 57,74%; sản xuất giường, tủ, bàn ghế tăng 39,2%,...+ Ngành sản xuất và phân phối điện giảm 2,08%, do lượng mưa từ đầu năm đến nay ít hơn so với mức trung bình hằng năm; các hồ thủy điện hiện đang ở mức trữ nước thấp; bên cạnh đó, để đảm bảo hài hòa trong việc điều tiết các hồ chứa nước thủy điện để vừa lo điện, vừa đảm bảo nguồn nước phục vụ gieo cấy lúa vụ Đông Xuân 2022-2023, ngành điện đã chủ động bảo đảm cung ứng điện cho sản xuất, sinh hoạt của nhân dân; tăng cường sử dụng các nguồn điện, đảm bảo phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, hộ kinh doanh, nhu cầu sinh hoạt của nhân dân và tổ chức các hoạt động chính trị - xã hội trên địa bàn tỉnh.+ Ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 12,97%, do nhu cầu sử dụng nước sinh hoạt và sản xuất kinh doanh của hộ gia đình và doanh nghiệp ngày càng tăng. Công ty Cổ phần Cấp thoát nước đã tăng cường kiểm tra, bảo dưỡng máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ xử lý nước nhằm bảo đảm các trạm sản xuất cấp nước ổn định.6.2. Sản phẩm công nghiệp chủ yếu Trong tháng, một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng so với cùng kỳ năm trước như: Điện thương phẩm tăng 11,87%; bột ba rít tăng 58,34%; xi măng, tăng 9,99%; may mặc xuất khẩu tăng 45,24%; giày da tăng 28,89%; gỗ tinh chế, tăng 8,73%,.... Tuy nhiên, cũng có một số sản phẩm công nghiệp giảm so với cùng kỳ như: Điện sản xuất giảm 9,23%; bột fenspat nghiền giảm 3,64%; bột giấy giảm 1,28%; thép cây, thép cuộn giảm 26,83%,.... Tính chung trong quý I năm 2023, một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng khá so với cùng kỳ năm trước: Điện thương phẩm tăng 6,82%; bột Felspat tăng 2,37%; xi măng tăng 0,78%; nước máy thương phẩm tăng 8,65%; giấy in viết, photo thành phẩm tăng 23,67%; gỗ tinh chế tăng 14,96%; thép cây, thép cuộn đạt tăng 100,48%,... Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu giảm so với cùng kỳ năm trước như: Điện sản xuất giảm 13,04%; đường kính giảm 21,93%; bột ba rít giảm 50,47%; hàng may mặc xuất khẩu giảm 8,46%; giầy da giảm 4,77%,... 7. Hoạt động thương mại, dịch vụ và tình hình xuất, nhập khẩu hàng hóaTổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 3 năm 2023 ước đạt 2.020,69 tỷ đồng, tăng 0,71% so với tháng trước, tăng 12,37% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung trong quý I, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 6.065,83 tỷ đồng, tăng 16,26% so với cùng kỳ năm trước.7.1. Doanh thu bán lẻ hàng hóa - Tổng mức bán lẻ hàng hóa trong tháng ước đạt 1.765,32 tỷ đồng, tăng 0,05% so với tháng trước, tăng 9,96% so với cùng kỳ. Phân theo nhóm hàng cụ thể như sau: Lương thực thực phẩm tăng 1,69%, giảm 17,74%; đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình tăng 0,18%, tăng 64,95%; vật phẩm, văn hoá, giáo dục giảm 1,67%, tăng 71,19%; gỗ và vật liệu xây dựng giảm 6,31%, tăng 4,19%; xăng, dầu các loại giảm 0,18%, tăng 13,55%,....- Tính chung trong quý I, tổng mức bán lẻ hàng hóa đạt 5.335,44 tỷ đồng, tăng 13,92% so với cùng quý năm trước. Phân theo nhóm hàng cụ thể như sau: Hàng may mặc, tăng 1,83%; đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình tăng 78,96%; vật phẩm, văn hoá, giáo dục tăng 99,42%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 8,62%; xăng, dầu các loại đạt tăng 14,09%; nhiên liệu khác (trừ xăng dầu) tăng 10,96%; hàng hoá khác tăng 51,32%,,... Nhóm lương thực, thực phẩm giảm 12,71%,... 7.2. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ khác- Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống trong tháng ước đạt 177,12 tỷ đồng, tăng 7,59% so với tháng trước, tăng 29,61% so với cùng kỳ, trong đó: Doanh thu dịch vụ lưu trú ước đạt 13,37 tỷ đồng, tăng 8,95%, tăng 22,7%; dịch vụ ăn uống ước đạt 163,75 tỷ đồng, tăng 7,48%, tăng 30,21%. Ước tính quý I doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 498,11 tỷ đồng, tăng 37,14% so với quý cùng kỳ.- Doanh thu dịch vụ khác trong tháng ước đạt 78,09 tỷ đồng, tăng 1,11% so với tháng trước, tăng 38,93% so với cùng kỳ, trong đó: Dịch vụ kinh doanh bất động sản tăng 3,17%, tăng 53,53%; hành chính và dịch vụ hỗ trợ tăng 1,62%, tăng 20,16%; giáo dục và đào tạo tăng 3,28%, tăng 36,49%; y tế và hoạt động trợ giúp xã hội tăng 3,01%, tăng 60,97%; nghệ thuật, vui chơi và giải trí tăng 0,68%, tăng 54,2%,… Ước tính quý I doanh thu dịch vụ khác ước đạt 231,83 tỷ đồng, tăng 35,68% so với quý cùng kỳ.7.3. Xuất, nhập khẩu hàng hóaTrong tháng, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa ước đạt 14,89 triệu USD, đạt 6,21% kế hoạch, giảm 28,84% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung trong quý I, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa ước đạt 50,28 triệu USD, đạt 20,95%, giảm 18,49% so với quý cùng kỳ; trong đó, xuất khẩu ước đạt 34,03 triệu USD; nhập khẩu ước đạt 16,25 triệu USD, cụ thể như sau:- Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu trong tháng ước đạt 10 triệu USD, giảm 22,99% so với cùng kỳ, trong đó: Nhóm chè xuất khẩu đạt 220 tấn, tăng 233,33%; giấy đế xuất khẩu đạt 300 tấn, tăng 0,78%; hàng dệt, may, đạt 1.420 nghìn sản phẩm, tăng 6,9%; đũa gỗ xuất khẩu đạt 3.000 nghìn đôi, tăng 46,2%,…Một số nhóm hàng có kim ngạch xuất khẩu giảm so với cùng kỳ: Bột barit đạt 1.100 tấn, giảm 27,25%; bột giấy đạt 300 tấn, giảm 58,16%,…- Tính chung trong quý I, xuất khẩu hàng hóa ước đạt 34,03 triệu USD, giảm 15,02% so với cùng kỳ năm trước. Một số nhóm hàng có sản phẩm xuất khẩu trong quý đạt mức tăng trưởng cao so với cùng kỳ như: Chè xuất khẩu tăng 157,93%; atimony thỏi, tăng 141,55%,…Bên cạnh đó, một số nhóm hàng có kim ngạch xuất khẩu giảm so với cùng kỳ: Bột barit, giảm 30,53%; giấy đế xuất khẩu, giảm 35,99%; bột giấy giảm 52,89%; hàng dệt, may, giảm 32,38%; đũa gỗ xuất khẩu giảm 2,53%;- Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa trong tháng ước đạt 4,89 triệu USD, giảm 38,41% so với cùng kỳ. Tính chung trong quý I, ước đạt 16,25 triệu USD, giảm 24,91%,...8. Vận tải hàng hóa và hành khách 8.1. Doanh thu vận tải tải kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải - Trong tháng, doanh thu vận tải kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 278,16 tỷ đồng, tăng 2,17% so với tháng trước, tăng 44,86% so với cùng kỳ. Trong đó: Doanh thu từ vận tải hành khách ước đạt 47,07 tỷ đồng, tăng 1,4% và tăng 57,91%; doanh thu từ vận tải hàng hóa đạt 230,56 tỷ đồng, tăng 2,33% và tăng 42,3%; dịch vụ hỗ trợ vận tải kho bãi đạt 0,33 tỷ đồng, tăng 4,23% và tăng 77,76%,...- Tính chung trong quý I, doanh thu vận tải kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 851,55 tỷ đồng, tăng 49,9% so với cùng kỳ. Trong đó: Doanh thu vận tải hành khách đạt 146,08 tỷ đồng, tăng 57,91%; doanh thu vận tải hàng hóa đạt 703,88 tỷ đồng, tăng 42,3%; dịch vụ hỗ trợ vận tải kho bãi đạt 1 tỷ đồng, tăng 80,3%,… 8.2. Vận tải hành khách và hàng hóa- Khối lượng hành khách vận chuyển ước đạt 761 nghìn hành khách, tăng 3,82% so với tháng trước và tăng 60,28% so với cùng kỳ; khối lượng hành khách luân chuyển ước đạt 61.591 nghìn lượt hành khách.km, tăng 3,86% và tăng 25,09%. Tính chung trong quý I, khối lượng hành khách vận chuyển ước đạt 2.324 nghìn hành khách, tăng 57,48% so với quý cùng kỳ; khối lượng hành khách luân chuyển ước đạt 187.054 nghìn lượt hành khách.km, tăng 23,56%.- Khối lượng hàng hóa vận chuyển ước đạt 1.578 nghìn tấn, tăng 2,39% so với tháng trước và tăng 36,51% so với cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 97.903 nghìn tấn.km, tăng 1,05% và tăng 33,35%. Tính chung trong quý I, khối lượng hàng hóa vận chuyển ước đạt 4.792 nghìn tấn, tăng 41,64% so với quý cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 301.016 nghìn tấn.km, tăng 48,96%.9. Về du lịch Ước quý I, toàn tỉnh đã thu hút được 880.000 lượt khách du lịch, đạt 35% kế hoạch, tăng 107% so với cùng kỳ; doanh thu từ du lịch đạt 1.005 tỷ đồng, đạt 34%, tăng 144,5%.II. LĨNH VỰC VĂN HÓA - XÃ HỘI 1. Công tác lao động, việc làm Năm 2023, toàn tỉnh đặt mục tiêu giải quyết việc làm mới cho trên 22.000 lao động nên ngay từ những ngày đầu năm, các cấp, các ngành trong tỉnh đang khẩn trương triển khai đồng bộ các giải pháp đẩy mạnh công tác thông tin thị trường lao động thông qua cung cấp miễn phí các hoạt động tư vấn, giới thiệu việc làm và tổ chức các phiên giao dịch việc làm đến người lao động và doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh; tập trung nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn, đổi mới công tác tư vấn, giới thiệu việc làm, đẩy mạnh các giải pháp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng và đi làm việc tại các khu, cụm công nghiệp, các doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh,… Từ đó góp phần nâng cao thu nhập cho người lao động, giảm nghèo trên địa bàn tỉnh.Trong quý I, toàn tỉnh đã tạo việc làm cho 7.179 người, đạt 32,3% kế hoạch, tăng 31,8% so với cùng quý năm trước (trong đó: làm việc trong các ngành kinh tế tại tỉnh 4.405 người; làm việc tại các tỉnh, thành phố trong nước 2.426 người; đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng 348 người).2. Đời sống dân cư Tình hình đời sống dân cư trên địa bàn tỉnh trong quý I còn gặp nhiều khó khăn; giá cả các mặt hàng thiết yếu như giá xăng, dầu, nhiên liệu biến động; số lượng lao động bị tạm ngừng việc, thiếu, mất việc làm có chiều hướng tăng nhẹ. Tuy nhiên, tỉnh đã chủ động nguồn kinh phí, triển khai thực hiện đầy đủ, kịp thời các chính sách an sinh, xã hội, đã góp phần hỗ trợ người dân, người lao động khắc phục khó khăn, ổn định cuộc sống, duy trì sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm cho người lao động đã tác động mạnh tới đời sống dân cư,... Do vậy, đời sống dân cư trên địa bàn tiếp tục được ổn định, không có tình trạng thiếu đói trên diện rộng và không có thiên tai hỏa hoạn xảy ra trên địa bàn tỉnh.Tiền lương trong khu vực doanh nghiệp vẫn chưa theo kịp sự phát triển của thị trường lao động; tiền lương trong khu vực công vẫn còn thấp so với khu vực doanh nghiệp và yêu cầu phát triển của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Dù vậy, các chế độ chính sách cho người lao động vẫn được đảm bảo thực hiện tốt, có việc làm thường xuyên, đã giúp người lao động yên tâm làm việc; đời sống văn hóa, tinh thần của cán bộ, công chức, viên chức được nâng lên; các cơ quan, đơn vị thực hiện trả lương cho người lao động đúng theo thời gian quy định; khu vực doanh nghiệp khắc phục khó khăn về tài chính để chi trả lương cho công nhân đảm bảo đời sống ổn định. Nhìn chung, đời sống của người dân trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang trong quý I, cơ bản ổn định và từng bước được cải thiện hơn, sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp dần dần được phục hồi và đi vào ổn định, người lao động có tiền lương đảm bảo phần nào cho nhu cầu cuộc sống.3. Công tác đảm bảo chế độ chính sách và an sinh xã hội, phòng chống các tệ nạn và tình hình lương thưởng Tết của người lao động tại các doanh nghiệp3.1. Công tác đối với người có công với cách mạng Tỉnh đã triển khai các hoạt động tặng quà của Chủ tịch nước và quà của tỉnh đối với người có công với cách mạng trên địa bàn tỉnh nhân dịp Tết Nguyên đán Quý Mão năm 2023. Tổng số là 16.727 suất quà, với tổng trị giá trên 7,0 tỷ đồng. Trong đó: Quà của Chủ tịch nước: 8.011 suất, số tiền 2,48 tỷ đồng; Quà của tỉnh, huyện là 8.716 suất với tổng giá trị trên 4,52 tỷ đồng; lãnh đạo tỉnh cũng đã tổ chức thăm hỏi, tặng quà đối với các gia đình người có công với cách mạng tiêu biểu trên địa bàn tỉnh.3.2. Công tác bảo trợ xã hội và phòng chống các tệ nạn xã hội- Công tác chăm lo cho các đối tượng chính sách xã hội cũng được tỉnh hết sức quan tâm, chú trọng, duy trì chi trả trợ cấp thường xuyên cho trên 38.000 đối tượng bảo trợ xã hội tại cộng đồng với kinh phí hỗ trợ trên 20 tỷ đồng/tháng. Hỗ trợ lượng thực cho các hộ bị thiếu lương thực nhân dịp Tết Nguyên đán và dịp giáp hạt năm 2023, dự kiến là 257.340 kg gạo để hỗ trợ 5.624 hộ với 17.156 nhân khẩu. Các cơ quan, tổ chức, cá nhân cũng triển khai các hoạt động thăm, tặng quà các đối tượng hộ nghèo, cận nghèo, đối tượng bảo trợ xã hội, trẻ em, người cao tuổi có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn tỉnh. - Duy trì công tác tiếp nhận, quản lý, điều trị và chuẩn bị các điều kiện tổ chức vui xuân, đón tết cho học viên đang cai nghiện tại Cơ sở trong dịp Tết nguyên đán. Trong quý I, đã tiếp nhận 28 học viên (Cai nghiện bắt buộc 27 học viên, cai nghiện tự nguyện 01 học viên); cấp giấy chứng nhận hoàn thành cai nghiện cho 19 học viên; (Cai nghiện bắt buộc 14 học viên, cai nghiện tự nguyện 0 học viên), chuyển đi trại tạm giam Công an tỉnh 01, người; chấm dứt hợp đồng cai nghiện tự nguyện 01 người. Đến thời điểm hiện tại Cơ sở đang quản lý 144 học viên (có mặt 137 học viên; trốn cai 06 học viên; đi viện 01 học viên); phối hợp với Công an huyện Sơn Dương tổ chức truy tìm 01 học viên trốn cai đưa trở lại Cơ sở; trong quý 1 năm 2023 Cơ sở không để xảy ra tình trạng học viên trốn cai tại Cơ sở.  3.3. Về tình hình lương thưởng Tết của người lao động và việc quản lý lao động tại doanh nghiệp, khu công nghiệp- Tiền lương bình quân năm 2022 của người lao động tại các doanh nghiệp có báo cáo trên địa bàn tỉnh: 6.174.000 đồng/người/tháng (cao hơn năm 2021 là 436.000 đồng). Trong đó: Công ty TNHH Một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ: 8.855.000đồng/người/tháng; Công ty có cổ phần, vốn góp chi phối của Nhà nước, chi nhánh thuộc Tập đoàn kinh tế nhà nước, Tổng công ty Nhà nước trên địa bàn tỉnh: 8.911.000 đồng/người/tháng; Doanh nghiệp dân doanh: 5.010.000 đồng/người/tháng; Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài: 5.724.000 đồng/người/tháng.- Thưởng Tết Dương lịch 2023: Mức thưởng bình quân người lao động tại doanh nghiệp báo cáo có kế hoạch thưởng: 1.113.000 đồng/người (cao hơn năm 2022: 358.000 đồng). Trong đó: Công ty TNHH Một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ: 500.000 đồng/người; Công ty có cổ phần, vốn góp chi phối của Nhà nước; Chi nhánh thuộc Tập đoàn kinh tế nhà nước, Tổng công ty Nhà nước trên địa bàn tỉnh: 1.188.000 đồng/người; Doanh nghiệp dân doanh: 874.000 đồng/người; Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài: 350.000 đồng/người. - Thưởng Tết Nguyên đán 2023: Mức thưởng bình quân người lao động tại doanh nghiệp báo cáo có kế hoạch thưởng: 3.420.000 đồng/người (cao hơn năm 2022; 244.000 đồng). Trong đó: Công ty TNHH Một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ: 2.000.000 đồng/người; Công ty có cổ phần, vốn góp chi phối của Nhà nước; Chi nhánh thuộc Tập đoàn kinh tế nhà nước, Tổng công ty Nhà nước trên địa bàn tỉnh: 4.379.000 đồng/người; Doanh nghiệp dân doanh: 5.958.000 đồng/người; Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài: 2.857.000 đồng/người.- Tình hình nợ lương 2022: Tổng số doanh nghiệp nợ lương: 03 doanh nghiệp với tổng số lao động bị nợ lương: 270 người, tổng số tiền lương nợ: 2.860 triệu đồng. 4. Hoạt động giáo dục và đào tạoTỉnh đã tổ chức Kỳ thi chọn học sinh giỏi cấp tỉnh lớp 9 THCS, lớp 12 THPT năm học 2022 - 2023; triển khai Hội nghị sơ kết đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ học kì 1, triển khai nhiệm vụ trọng tâm học kì 2 năm học 2022-2023. Đây là một trong những hoạt động giáo dục rất quan trọng trong việc đánh giá chất lượng giáo dục của tỉnh. Kỳ thi nhằm động viên, khuyến khích người dạy và người học phát huy năng lực sáng tạo, thi đua dạy tốt, học tốt.Nhằm chuẩn bị tốt nhất cho Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2023, hiện nay, các trường THPT trên địa bàn tỉnh đã xây dựng kế hoạch tổ chức công tác ôn tập, trong quá trình ôn tập các trường đã thường xuyên kiểm tra, đánh giá, phân loại học sinh để điều chỉnh phương pháp ôn tập cho hiệu quả chất lượng học sinh để điều chỉnh phương án ôn tập cho phù hợp, đạt hiệu quả cao.5. Hoạt động y tế - Tỉnh đã tăng cường công tác phòng, chống dịch dịp Tết Nguyên đán Quý Mão và mùa lề hội 2023. Các đơn vị trên địa bàn tỉnh tăng cường theo dõi, bám sát tình hình dịch bệnh và tổ chức triển khai hiệu quả các biện pháp phòng, chống dịch theo đúng chỉ đạo của Trung ương và của tỉnh; kiểm tra, giám sát công tác phòng, chống dịch đảm bảo chủ động, sẵn sàng và kịp thời ứng phó với các diễn biến có thể xảy ra của dịch bệnh.- Về tình hình tiêm chủng vắc xin Covid-19. Tổng số cộng dồn tiêm tại tỉnh từ đợt 1 đến nay: 2.250.817 mũi tiêm; trong đó: mũi 01: 705.146 người; mũi 02: 692.941 người; mũi 03: 521.426 người; mũi 04: 252.104 người. + Tiêm cho người từ 18 tuổi trở lên tỷ lệ tiêm mũi 1 là 100% (510.910 người còn 6.471 người chống chỉ định chưa tiêm); tiêm đủ 2 mũi là 99,6% (513.298 người); có 79.200 người được tiêm bổ sung để hoàn thành liều cơ bản; Tỷ lệ tiêm mũi 3 là 90,6% (460.373 người); hoàn thành tiêm mũi 04 cho đối tượng ưu tiên, số người được tiêm mũi 04 là 252.104 người. + Tiêm cho trẻ từ 12 đến dưới 18 tuổi: Tỷ lệ tiêm mũi 1 đạt trên 99,1% (77.991 trẻ; tiêm đủ 02 mũi đạt 100% (78.799 trẻ), tiêm mũi 3 là 77,6% (61.030 trẻ) tỷ lệ tiêm mũi 3 cao nhất là Yên Sơn (97,7%) thấp nhất là Chiêm Hóa (69,6%). + Tiêm cho trẻ từ 05 đến dưới 12 tuổi: Tỷ lệ tiêm mũi 01 đạt 99,9% (116.245/116.326) các huyện, thành phố đạt trên 95%; tiêm 02 mũi là 86,7% (100.844 trẻ), hiện chưa có phản ứng phụ hoặc tai biến sẩy ra.- Tiếp tục thực hiện đồng bộ các giải pháp để giảm quá tải, nâng cao chất lượng dịch vụ các tuyến; công tác khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe cho nhân dân được thực hiện tốt. Ngành y đã triển khai các giải pháp đảm bảo đủ thuốc phòng bệnh, chữa bệnh; đảm bảo đấu thầu thuốc - vật tư y tế tiêu hao theo đúng quy định; tiếp tục hoàn thành kế hoạch đấu thầu mua thuốc, vật tư, hóa chất, sinh phẩm y tế 6 tháng cuối năm năm 2023 và năm 2024. Trong quý I, tổng số lượt khám bệnh đạt 201.069 lượt người. Trong đó: Bệnh viện tuyến tỉnh: 24.988 lượt, Trung tâm Y tế huyện: 85.232 lượt, Bệnh viện Đa khoa khu vực: 8.601lượt, Trạm Y tế xã, phường, thị trấn: 82.248 lượt; công suất sử dụng giường bệnh tại Bệnh viện tuyến tỉnh: 79,0%, Trung tâm Y tế huyện: 71,6% và Bệnh viện Đa khoa khu vực: 55,1%; số ngày điều trị trung bình tại Bệnh viện tuyến tỉnh: 6,9 ngày, Trung tâm Y tế huyện: 6,0 ngày, Bệnh viện Đa khoa khu vực: 5 ngày.6. Hoạt động văn hoá - thể dục, thể thao- Lĩnh vực văn hoá: Trong quý I, nhiều hoạt động văn hóa được tổ chức tại các địa phương trong tỉnh với quy mô và nhiều hoạt động, đáp ứng nhu cầu của người dân và du khách tham quan trong và ngoài tỉnh; tại các huyện Lâm Bình, Na Hang, Chiêm Hóa đã tổ chức Lễ hội Lồng Tông (lễ hội xuống đồng) là lễ hội đã được công nhận là Di sản Văn hóa phi vật thể quốc gia; tổ chức Lễ động thổ Dự án Khu trồng cây lưu niệm tại Khu di tích Quốc gia đặc biệt Tân Trào; tổ chức Hội báo Xuân Quý Mão 2023 và triển lãm tranh cổ động tấm lớn (80 mẫu tranh) kỷ niệm 93 năm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03/02/1930 - 03/02/2023), mừng xuân Quý Mão năm 2023 tại Quảng trường Nguyễn Tất Thành, thành phố Tuyên Quang. Tiếp tục đẩy mạnh phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” gắn với chương trình xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh được triển khai- Về thể dục thể thao: Tổ chức thành công 3 giải thể thao cấp tỉnh (giải bóng chuyền hơi toàn tỉnh, giải bóng bàn, Ngày chạy Olympic toàn dân và giải Việt dã Tiền Phong năm 2023). Duy trì hoạt động 6 lớp đội tuyển năng khiếu với 30 vận động viên; 7 lớp đội tuyển trẻ với 68 vận động viên; 03 lớp đội tuyển tỉnh với 20 vận động viên tham gia luyện tập.7. Công tác Chuyển đổi số- Tỉnh đã triển khai nhiều giải pháp trọng tâm trong việc đẩy mạnh công tác chuyển đổi số và phát triển chính quyền điện tử, chính quyền số, kinh tế số, xã hội số trên địa bàn tỉnh, phấn đấu xếp hạng trong top 35 của cả nước về chuyển đổi số; cùng với đó là phấn đấu nâng Chỉ số đánh giá chuyển đổi số tỉnh Tuyên Quang xếp trong tốp 45 tỉnh với những việc cụ thể sau: Xây dựng Trung tâm giám sát, điều hành đô thị thông minh (IOC); duy trì hệ thống giám sát an toàn an ninh thông tin 4 cấp cho các hệ thống dùng chung của tỉnh; giải pháp phòng chống mã độc cho máy vi tính của các cơ quan nhà nước trên địa bàn tỉnh. - Đã ban hành và triển khai Kế hoạch thực hiện Nghị quyết của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh (khóa XVII) về chuyển đổi số tỉnh Tuyên Quang đến năm 2025, định hướng đến năm 2030; xây dựng Kế hoạch Phát động thi đua Chuyển đổi số - năm dữ liệu số tỉnh Tuyên Quang 2023- Triển khai công tác thực hiện Đánh giá xếp hạng chuyển đổi số năm 2022 của các sở ban ngành, huyện thành phố và chấm điểm DTI tỉnh Tuyên Quang năm 2022. 8. Một số hoạt động khác- Tỉnh đã tổ chức Lễ ra quân huấn luyện năm 2023 và phát động đợt thi đua cao điểm, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao. Trong quý I, các địa phương trên địa bàn tỉnh đã đồng loạt tổ chức lễ giao nhận quân năm 2023 với không khí vui tươi, phấn khởi. Công tác giao nhận quân diễn ra long trọng, đúng thời gian, đảm bảo nhanh gọn, đủ chỉ tiêu, tiết kiệm và an toàn; Trong đợt giao quân năm nay, toàn tỉnh có 1.275 công dân nhập ngũ. Trong đó, có 1.050 công dân nhập ngũ vào các đơn vị quân đội, 225 công dân tham gia nghĩa vụ công an, có 02 tân binh là đảng viên; 8 tân binh có trình độ chuyên môn đại học, cao đẳng, trung cấp; tân binh là dân tộc thiểu số chiếm gần 70%; độ tuổi trung bình 19 tuổi.- Đã tổ chức Hội nghị tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; xây dựng kế hoạch các xã điển hình về Phong trào Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc tại 10 xã trên địa bàn toàn tỉnh và kế hoạch xây dựng 01 Công an phường điển hình, kiểu mẫu về an ninh trật tự và văn minh đô thị năm 2023. 9. Tình hình an toàn giao thông và phòng chống cháy, nổ9.1. Về an toàn giao thôngTrong tháng, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 08 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 03 người và làm bị thương 06 người. So với tháng trước, tăng 60% số vụ tai nạn, tăng 50% số người chết, tăng 100% về số người bị thương. So với cùng kỳ năm trước, tăng 60% số vụ tai nạn, tăng 100% số người chết.Tính chung trong quý I, trên địa bàn tỉnh xảy ra 23 vụ tai nạn giao thông, làm 7 người chết, 17 người bị thương. So với quý cùng kỳ, tăng 27,78% về số vụ tai nạn, tăng 16,67% số người chết, tăng 6,25% về số người bị thương.9.2. Về cháy, nổTừ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh không xảy ra vụ cháy, nổ nào. CỤC THỐNG KÊ TUYÊN QUANG

Tình hình kinh tế - xã hội tháng 02 năm 2023 tỉnh Tuyên Quang
  •   07/11/2025 22:07

I. PHÁT TRIỂN KINH TẾ  1. Về sản xuất nông nghiệp (tính đến ngày 15/02/2023)1.1. Trồng trọt 1.1.1. Sản xuất vụ đôngTrong tháng, các địa phương trong tỉnh tiếp tục tập trung thu hoạch cây trồng vụ đông, giải phóng đất và chuẩn bị các điều kiện để đẩy nhanh tiến độ gieo cấy vụ xuân năm 2023 đúng khung thời vụ tốt nhất. Kết quả: Cây ngô đã thu hoạch được 5.392,17 ha, đạt 100% diện tích trồng, cây khoai lang thu hoạch được 1.126,25 ha, đạt 100%, cây rau đậu các loại thu hoạch 5.090 ha, đạt 100%.1.1.2. Sản xuất vụ xuân năm 2023Cây lúa đã cấy được 16.645,4 ha, đạt 90,75% kế hoạch (trong đó: Lúa lai 8.104 ha; lúa thuần 8.542 ha); cây ngô đã trồng 3.870,5 ha, đạt 47,89%; cây lạc đã trồng 2.415,6 ha, đạt 71,68%; cây đậu tương đã trồng 44,2 ha, đạt 38,43%; cây mía đã trồng 198,4 ha, đạt 9,83%. 1.2. Tình hình sinh vật gây hại - Thời tiết diễn biến bất thường, tạo điều kiện thuận lợi để sâu bệnh phát triển gây hại đến cây trồng. Trong đó một số diện tích mạ xuân bị chuột, nấm mốc, thối nhũn, bênh trắng lá gây hại rải rác. Diện tích ngô bị sâu đục bắp, đốm lá, khô vằn, châu chấu, chuột gây hại rải rác. Trên cây chè, cây cam bị nhiễm rầy xanh nhẹ, bọ trĩ, bọ xít, nhện đỏ, nhện trắng gây hại ở mức trung bình.- Trước tình hình sinh vật gây hại cây trồng nêu trên, ngành chức năng đã tăng cường công tác kiểm tra đồng ruộng, phát hiện sâu bệnh gây hại cho cây trồng, kịp thời hướng dẫn cách phòng trừ, giảm thiệt hại do sâu bệnh gây ra, chủ động, chăm sóc, phòng chống hạn, rét cho cây trồng.1.3. Về chăn nuôi 1.3.1. Về số lượng đàn gia súc, gia cầmĐàn trâu tổng đàn là 90.050 con, giảm 1,82% (giảm 1.671 con) so với cùng kỳ năm 2022; đàn bò 39.307 con, tăng 5,85% (tăng 2.174 con); đàn lợn 549.704 con, tăng 1,46% (tăng 7.890 con); đàn gia cầm 7.198,74 nghìn con, tăng 3,78%.1.3.2. Về sản phẩm đàn gia súc, gia cầmĐàn trâu sản lượng thịt hơi xuất chuồng ước đạt 641,76 tấn, tăng 11% so với cùng kỳ năm 2022; đàn bò đạt 168 tấn, tăng 9,42%; đàn lợn đạt 6.029,28 tấn, tăng 5,35%; đàn gia cầm đạt 1.689,73 tấn, tăng 5,95%.1.3.3. Công tác phòng chống dịch bệnh gia súc, gia cầmTrong tháng, trên địa bàn các huyện, thành phố rải rác xuất hiện các bệnh Tụ huyết trùng; ký sinh trùng, chướng bụng đầy hơi, sán lá gan (đàn trâu, bò,tiêu chảy, lép tô, phân trắng lợn con (đàn lợn); Niucatson, THT, cầu trùng…(đối với đàn gia cầm),đã được nhân viên thú y phát hiện, điều trị khỏi: 288/305 con, trong đó: Trâu, bò: 16/17 con; đàn lợn: 272/288 con.1.3.4. Công tác kiểm dịch, kiểm soát giết mổ Kiểm dịch vận chuyển ngoại tỉnh: Đã kiểm tra và cấp trên 245 giấy chứng nhận kiểm dịch vận chuyển 18.555 con gia súc và gia cầm, 2.734.160 kg sản phẩm động vật đi các tỉnh Bắc Ninh, Hà Nội, Hà Giang, Vĩnh Phúc,...Tại các Trạm Kiểm dịch: Kiểm tra trên 127 lượt phương tiện với đầy đủ thủ tục vận chuyển gia súc, gia cầm theo quy định, trong đó (28 chuyến vận chuyển 6.919 con gia súc, 97 chuyến vận chuyển 123.865 con gia cầm, 02 chuyển vận chuyển 8.775 kg thịt gia súc).Công tác kiểm soát giết mổ và kiểm tra vệ sinh thú y: Trung tâm Dịch vụ nông nghiệp các huyện, thành phố duy trì công tác kiểm soát giết mổ trên địa bàn, đã kiểm tra, đóng dấu: 220 con trâu, bò; 5.120 con lợn.2. Về sản xuất lâm nghiệp (tính đến ngày 15/02/2023)2.1. Công tác trồng rừngTheo kế hoạch trồng rừng năm 2023, toàn tỉnh phấn đấu trồng mới trên 10.100 ha rừng, trong đó rừng sản xuất là 9.700 ha, trồng rừng phân tán 400 ha. Ngay từ đầu năm các địa phương trong tỉnh đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động, người dân tham gia trồng, chăm sóc, bảo vệ và phát triển rừng; Hiện nay, các chủ rừng đang chuẩn bị cây giống, phân bón và cuốc hố, đảm bảo trồng rừng trong khung thời vụ tốt nhất, phấn đấu hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch đề ra.Trong tháng, đã trồng được 318,43 ha diện tích rừng trồng tập trung, tăng 25,57% so với cùng kỳ năm 2022; số cây lâm nghiệp trồng phân tán trồng được là 184,32 nghìn cây. 2.2. Khai thác gỗ rừng trồngTrong tháng, toàn tỉnh khai thác được 40.743,5 m3 gỗ¬, tăng 4,95% so với cùng kỳ năm 2022. Trong đó khai thác gỗ tổ chức khác 1.811,6 m3; khai thác gỗ hộ gia đình là 38.931,90 m3. 2.3. Công tác quản lý bảo vệ rừngTheo báo cáo của Chi cục Kiểm lâm tỉnh, trong tháng trên địa bàn toàn tỉnh không có vụ cháy rừng nào xảy ra. Số vụ chặt phá rừng là 02 vụ tổng diện tích bị chặt phá 6,13 ha; phát hiện và xử lý tịch thu 01 phương tiện khác (cưa xăng...) và 5,281 m3 gỗ các loại; phạt hành chính và bán thanh lý tài sản 23 triệu đồng (đã thu nộp ngân sách 18 triệu đồng).2. Sản xuất công nghiệp2.1. Chỉ số phát triển công nghiệp Chỉ số sản xuất công nghiệp trong tháng giảm 21,02% so với tháng trước, tăng 26,42% so với cùng kỳ, cụ thể như sau: Ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí tăng 18,47%, tăng 65,47%; công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 25,94%, tăng 23,61%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải giảm 0,67%, tăng 4,23%; khai khoáng giảm 16,33%, giảm 15,59%.Một số ngành công nghiệp cấp II có chỉ số sản xuất tăng so với tháng trước, tăng so với cùng kỳ năm trước như: Sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 3,8%, tăng 42,33%; da và các sản phẩm có liên quan tăng 0,78%, tăng 17,27%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa giảm 19,63%, tăng 15,09%; in, sao chép bản ghi các loại giảm 26,09%, tăng 6,25%; ngành sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 10,79%, tăng 12,06%; ngành sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) giảm 25,14%, tăng 2,41%,...- Tính chung 02 tháng đầu năm, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 21,35% so với cùng kỳ năm trước, Chia theo từng ngành kinh tế cấp I như sau:+ Ngành khai khoáng giảm 17,4%, nguyên nhân từ đầu năm đến nay, sản lượng khai thác khai thác khoáng hóa chất giảm 32,72% so cùng kỳ.+ Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 26,31%, do một số ngành chế biến tăng như: Sản xuất chế biến thực phẩm tăng 41,65%; da và các sản phẩm có liên quan tăng 17,67%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa tăng 76,47%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 121,82%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 23,66%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 13,58%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 15,61%; sản xuất giường, tủ, bàn ghế tăng 36,20%...+ Ngành sản xuất và phân phối điện tăng 4,75%, do các hồ thủy điện đã được tích trữ nước tốt, đảm bảo cho hoạt động sản xuất và phân phối điện; bên cạnh đó, ngành điện đã tập trung nâng cấp, sửa chữa làm cho đường dây và trạm biến áp vận hành tốt nhất, đảm bảo cung cấp điện liên tục, ổn định, an toàn, phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, hộ kinh doanh, nhu cầu sinh hoạt của nhân dân và tổ chức các hoạt động chính trị - xã hội trên địa bàn tỉnh trong dịp Tết Nguyên đán Quý Mão 2023.+ Ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 17,59%, do nhu cầu sử dụng nước sinh hoạt và sản xuất kinh doanh của hộ gia đình và doanh nghiệp ngày càng tăng. Công ty Cổ phần Cấp thoát nước đã tăng cường kiểm tra, bảo dưỡng máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ xử lý nước nhằm bảo đảm các trạm sản xuất cấp nước ổn định.2.2. Sản phẩm công nghiệp chủ yếu Trong tháng, một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng so với cùng kỳ năm trước như: Điện thương phẩm đạt 91 triệu Kwh, tăng 14,76%; điện sản xuất đạt 135 triệu Kwh, tăng 55,95%; xi măng đạt 130.000 tấn, tăng 135,2%; nước máy thương phẩm đạt 650 nghìn m3, tăng 6,3%; gỗ tinh chế đạt 3.915 m3, tăng 23,19%; giày da đạt 750 nghìn đôi, tăng 78,57%... Tuy nhiên, cũng có một số sản phẩm công nghiệp giảm so với tháng cùng kỳ như: Giấy đế xuất khẩu đạt 400 tấn, giảm 41,51%; bột giấy đạt 7.863 tấn, giảm 8,29%; hàng may mặc xuất khẩu đạt 1.699 nghìn sản phẩm, giảm 40,59%,…Tính chung trong 02 tháng đầu năm 2023, một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng khá so với cùng kỳ năm trước: Điện thương phẩm đạt 175 triệu Kwh, tăng 4,13%; đường kính đạt 5.328 tấn, tăng 2,15%; xi măng đạt 207.053 tấn, tăng 42,88%; giầy da đạt 1.530 nghìn đôi, tăng 82,14%; gỗ tinh chế đạt 7.530 m3, tăng 16,97%,... Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu giảm so với cùng kỳ năm trước như: Điện sản xuất đạt 250 triệu Kwh, giảm 0,37%; bột Felspat đạt 19.637 tấn, giảm 21,08%; giấy đế xuất khẩu đạt 1.062 tấn, giảm 33,59%; hàng may mặc xuất khẩu đạt 3.347 nghìn sản phẩm, giảm 38,63%,…3. Kết quả thu ngân sách nhà nước tháng 02 năm 20233.1. Kết quả thu ngân sáchTổng thu nội địa tháng 01/2023 ước thực hiện là 226 tỷ đồng, lũy kế đạt 385,4 tỷ đồng, đạt 12,2% dự toán, giảm 27,6% so với cùng kỳ.Số thu nội địa trừ tiền sử dụng đất và xổ số ước thực hiện là 164,4 tỷ đồng, lũy kế đạt 307,1 tỷ đồng, đạt 12,3% dự toán, giảm 22,3% so với cùng kỳ.3.2. Nguyên nhân ảnh hưởng đến kết quả thu 3.2.1. Tăng thu- Thu từ khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 3,4 tỷ đồng so với cùng kỳ. Nguyên nhân chủ yếu: Phát sinh thuế giá trị gia tăng của Công ty TNHH sản xuất giày Chung Jye Tuyên Quang - Việt Nam; phát sinh thuế thu nhập doanh nghiệp của Công ty TNHH sữa cho tương lai,...- Thu từ khu vực kinh tế ngoài quốc doanh, tăng 31,1 tỷ đồng so với cùng kỳ. Nguyên nhân: Ngành Thuế đã tích cực đôn đốc các đơn vị nộp thuế phát sinh trong kỳ.- Thu lệ phí trước bạ ước tăng 6,8 tỷ đồng so với cùng kỳ. Nguyên nhân: Do không còn được giảm 50% lệ phí trước bạ theo Nghị định số 103/2021/NĐ-CP ngày 26/11/2021 của Chính phủ quy định mức thu lệ phí trước bạ đối với ô tô, rơ moóc hoặc sơ mi rơ moóc được kéo bởi ô tô và các loại xe tương tự ô tô sản xuất, lắp ráp trong nước so với cùng kỳ.3.2.1. Giảm thu- Thu từ khu vực DNNN do Trung ương quản lý giảm 1,5 tỷ đồng so với cùng kỳ. Nguyên nhân: Sản lượng điện kê khai nộp thuế của Công ty Thủy điện Tuyên Quang - Chi nhánh tập đoàn điện lực Việt Nam giảm 41,3 triệu Kwh so với cùng kỳ, số nộp NSNN giảm 1,5 tỷ đồng.- Thu thuế bảo vệ môi trường giảm 24,3 tỷ đồng so với cùng kỳ. Nguyên nhân do thực hiện chính sách giảm theo Nghị quyết số 30/2022/UBTVQH15 ngày 30/12/2022 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thuế bảo vệ môi trường đối với xăng, dầu, mỡ nhờn.4. Hoạt động thương mại, dịch vụ, giá cảHoạt động kinh doanh thương mại, dịch vụ và vận tải trên địa bàn tỉnh diễn ra sôi động, tăng trưởng khá; xuất, nhập khẩu ổn định, chỉ số giá được kiềm chế ở mức thấp. Tính chung 02 tháng đầu năm 2023, tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 3.992,59 tỷ đồng, tăng 16,77% so với cùng kỳ.Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 02/2023 ước đạt 1.969,17 tỷ đồng, giảm 2,68% so với tháng trước, tăng 17,5% so với cùng kỳ. Trong đó, doanh thu bán lẻ ước đạt 1.722,5 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 87,47% trong tổng chung, giảm 3,79%, tăng 13,71%; doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 173,1 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 8,79%, tăng 10,71%, tăng 57,96%; doanh thu dịch vụ và du lịch ước đạt 0,15 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 0,01%, tăng 3,45%; dịch vụ khác ước đạt 73,4 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 3,73%, giảm 4,05%, tăng 41,71%,...4.1. Doanh thu bán lẻ hàng hóa - Trong tháng, một số nhóm hàng hóa chính tăng so với tháng trước và so với tháng cùng kỳ năm trước, cụ thể như sau: Đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình đạt 257,34 tỷ đồng, tăng 0,9%, tăng 97,73%; gỗ và vật liệu xây dựng đạt 200,07 tỷ đồng, tăng 3,17%, tăng 11,97%; lương thực thực phẩm đạt 503,99 tỷ đồng, giảm 11,49%, giảm 17,18%; hàng may mặc đạt 85,88 tỷ đồng, giảm 1,51%, giảm 2,45%; vật phẩm, văn hoá, giáo dục đạt 28,25 tỷ đồng, giảm 28,02%, tăng 87,6%,...- Tính chung trong 02 tháng đầu năm 2023, doanh thu bán lẻ ước đạt 3.512,9 tỷ đồng, tăng 14,13% so với cùng kỳ, trong đó: Đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình đạt 512,38 tỷ đồng, tăng 94,62%; vật phẩm, văn hoá, giáo dục đạt 67,51 tỷ đồng, tăng 118,97%%; gỗ và vật liệu xây dựng đạt 394,01 tỷ đồng, tăng 7,07%%; phương tiện đi lại, trừ ô tô con (kể cả phụ tùng) đạt 171,36 tỷ đồng, tăng 35,18%,.... Tuy nhiên, cũng có nhóm hàng hóa giảm như: Lương thực thực phẩm đạt 1.073,4 tỷ đồng, giảm 12,95%; hàng may mặc đạt 173,08 tỷ đồng, giảm 0,82%,...4.2. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và doanh thu dịch vụ khác- Trong tháng, doanh thu dịch vụ lưu trú ước đạt 12,4 tỷ đồng, tăng 11,9% so với tháng trước, tăng 54,3% so với cùng kỳ; dịch vụ ăn uống ước đạt 160,69 tỷ đồng, tăng 10,62%, tăng 58,25%. Tính chung trong 02 tháng đầu năm, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 329,46 tỷ đồng, tăng 45,43% so với cùng kỳ.- Một số nhóm dịch vụ khác tăng so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước, cụ thể như sau: Doanh thu dịch vụ giáo dục và đào tạo đạt 3,12 tỷ đồng, tăng 5,7%, tăng 44,47%; y tế và hoạt động trợ giúp xã hội đạt 3,21 tỷ đồng, tăng 3,97%, tăng 46,73%; sửa chữa máy vi tính, đồ dùng cá nhân và gia đình đạt 8,17 tỷ đồng, tăng 1,99%, tăng 51,52%,... Tuy nhiên, cũng có một số nhóm dịch vụ giảm như: Dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 2,69 tỷ đồng, giảm 3,17%, tăng 7,33%; hành chính và dịch vụ hỗ trợ đạt 14,21 tỷ đồng, giảm 5,5%, tăng 17,91%; nghệ thuật, vui chơi và giải trí đạt 17,31 tỷ đồng, giảm 10,65%, tăng 33,97%,... Tính chung trong 02 tháng, nhóm dịch vụ khác ước đạt 149,91 tỷ đồng, tăng 30,75%.4.3. Giá cả- Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trong tháng tăng 0,75% so với tháng trước, tăng 5,33% so với cùng kỳ năm trước và tăng 1,33% so với tháng 12 năm trước. Tính chung 02 tháng đầu năm, tăng 5,68% so với cùng kỳ.- Trong tháng có 05/11 nhóm hàng có chỉ số CPI tăng so với tháng trước, trong đó: Nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 2,84%, do giá điện, nước sinh hoạt, giá gas và các loại chất đốt tăng do giá gas thế giới biến động mạnh, giá gas bán lẻ trong nước cũng tăng theo; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,42%, do bước vào thời điểm giao mùa, nồm ẩm kéo dài, độ ẩm không khí cao xuất hiện các bệnh liên quan đến đường hô hấp, nhiễm khuẩn, cúm và các bệnh dị ứng thời gian gần đây có chiều hướng gia tăng… khiến nhu cầu sử dụng thuốc và dịch vụ y tế tăng; giao thông là nhóm tăng mạnh nhất tăng 4,64% do điều chỉnh tăng liên tiếp tại các kỳ điều hành giá (xăng tăng 5,72%); giáo dục tăng 0,12% do bước sang học kỳ 2 nhu cầu mua sắm các loại văn phòng phẩm của học sinh các cấp tăng; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 1,07%.Có 5 nhóm hàng có chỉ số CPI giảm so với tháng trước: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,52%, do vừa qua kỳ nghỉ Tết dài nên nhu cầu ăn uống ngoài gia đình của người dân giảm; nhóm đồ uống và thuốc lá giảm 0,26%, do nhu cầu tiêu thụ các mặt hàng nước khoáng, nước ngọt và thuốc lá giảm; thiết bị và đồ dùng gia đình giảm 0,28%; văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,41%.Nhóm bưu chính viễn thông giữ nguyên so với tháng trước.- Chỉ số giá vàng tăng 0,32% so với tháng trước, giảm 3,39% so với cùng kỳ năm trước và tăng 1,23% so với tháng 12 năm trước. Tính chung 02 tháng đầu năm, giảm 3,24% so với cùng kỳ.- Chỉ số giá đô la Mỹ tăng 0,59% so với tháng trước, tăng 4,02% so với cùng kỳ năm trước và giảm 0,6% so với tháng 12 năm trước. Tính chung 02 tháng đầu năm, tăng 3,71% so với cùng kỳ.5. Xuất, nhập khẩu hàng hóaTrong tháng, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa ước đạt 16,9 triệu USD, đạt 7,04% kế hoạch, giảm 1,1% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 02 tháng đầu năm, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa ước đạt 33,1 triệu USD, giảm 18,78% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, xuất khẩu ước đạt 21,7 triệu USD; nhập khẩu ước đạt 11,4 triệu USD, cụ thể như sau:- Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu trong tháng ước đạt 10 triệu USD, giảm 13,4% so với tháng cùng kỳ năm trước, trong đó: Nhóm chè xuất khẩu đạt 212 tấn, tăng 380,9%; đũa gỗ xuất khẩu đạt 6.000 nghìn đôi, tăng 32,4%; giày da đạt 750 nghìn đôi, tăng 78,6%; phong bì xuất khẩu đạt 150 nghìn cái, tăng 60,8%,… Một số nhóm hàng có kim ngạch xuất khẩu giảm so với cùng kỳ: Bột barit đạt 1.000 tấn, giảm 66,11%; bột giấy đạt 50 tấn, giảm 94,9%; hàng dệt, may, đạt 960 nghìn sản phẩm, giảm 32%,...Tính chung 02 tháng, xuất khẩu hàng hóa ước đạt 21,7 triệu USD, giảm 19,8% so với cùng kỳ năm trước. Một số nhóm hàng có sản phẩm xuất khẩu 02 tháng đầu năm đạt mức tăng trưởng cao so với cùng kỳ như: Chè xuất khẩu tăng 130,7%; đũa gỗ xuất khẩu tăng 24,5%; atimony thỏi, tăng 288,9%, giày da tăng 82,1%,… Bên cạnh đó, một số nhóm hàng có kim ngạch xuất khẩu giảm so với cùng kỳ: Bột barit, giảm 32,21%; giấy đế xuất khẩu, giảm 37,5%; phong bì giảm 23,2%; hàng dệt, may, giảm 54,5%,… - Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa trong tháng ước đạt 6,9 triệu USD, tăng 25,7% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 02 tháng, ước đạt 11,4 triệu USD, giảm 17,1%,...6. Vận tải hàng hóa và hành khách 6.1. Doanh thu vận tải tải kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải - Trong tháng, doanh thu vận tải kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 283,43 tỷ đồng, giảm 5,88% so với tháng trước, tăng 52,42% so với cùng kỳ. Trong đó: Doanh thu từ vận tải hành khách ước đạt 48,56 tỷ đồng, giảm 7,67% và tăng 60,02%; doanh thu từ vận tải hàng hóa đạt 234,36 tỷ đồng, giảm 5,5% và tăng 50,78%; dịch vụ hỗ trợ vận tải kho bãi đạt 0,31 tỷ đồng, giảm 7,82% và tăng 76,42%,...- Tính chung trong 02 tháng đầu năm 2023, doanh thu vận tải kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 584,58 tỷ đồng, tăng 55,46% so với cùng kỳ. Trong đó: Doanh thu vận tải hành khách đạt 101,17 tỷ đồng, tăng 62,91%; doanh thu vận tải hàng hóa đạt 482,36 tỷ đồng, tăng 53,83%; dịch vụ hỗ trợ vận tải kho bãi đạt 0,65 tỷ đồng, tăng 80,4%,… 6.2. Vận tải hành khách và hàng hóa- Khối lượng hành khách vận chuyển ước đạt 776 nghìn hành khách, giảm 6,53% so với tháng trước và tăng 58,3% so với cùng kỳ; khối lượng hành khách luân chuyển ước đạt 61.991 nghìn lượt hành khách.km, giảm 6,3% và tăng 24,3%. Tính chung 02 tháng đầu năm, khối lượng hành khách vận chuyển ước đạt 1.605 nghìn hành khách, tăng 60,42% so với cùng kỳ; khối lượng hành khách luân chuyển ước đạt 128.153 nghìn lượt hành khách.km, tăng 25,57%.- Khối lượng hàng hóa vận chuyển ước đạt 1.599 nghìn tấn, giảm 4,46% so với tháng trước và tăng 45,2% so với cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 100.903 nghìn tấn.km, giảm 5,01% và tăng 58,47%. Tính chung 02 tháng, khối lượng hàng hóa vận chuyển ước đạt 3.272 nghìn tấn, tăng 46,81% so với cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 207.129 nghìn tấn.km, tăng 60,99%.7. Về du lịch Trong tháng 02/2023, thu hút được 326.500 lượt khách du lịch; đạt 19% kế hoạch, tăng 95,4% so với cùng kỳ; tổng thu từ khách du lịch đạt 385 tỷ đồng; đạt 18% kế hoạch, tăng 154,6% so với cùng kỳ.II. LĨNH VỰC VĂN HÓA - XÃ HỘI 1. Công tác lao động, việc làm, giáo dục nghề nghiệpTrong tháng, đã tạo việc làm mới cho 3.294 người lao động; lũy kế 02 tháng đầu năm 2023, toàn tỉnh có 3.886 người lao động được tạo việc làm, đạt 17,5% kế hoạch, trong đó: Lao động được tạo việc làm tại tỉnh: 2.233 người, làm việc tại các tỉnh, thành phố trong nước: 1.559 người, đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng: 94 người.2. Công tác đảm bảo chế độ người có công với cách mạng, bảo trợ, an sinh xã hội và phòng chống các tệ nạn - Tỉnh đã triển khai các hoạt động tặng quà của Chủ tịch nước và quà của tỉnh đối với người có công với cách mạng trên địa bàn tỉnh nhân dịp Tết Nguyên đán Quý Mão năm 2023. Tổng số là 16.727 suất quà, với tổng trị giá trên 7,0 tỷ đồng. Trong đó: Quà của Chủ tịch nước: 8.011 suất, số tiền 2,48 tỷ đồng; Quà của tỉnh, huyện là 8.716 suất với tổng giá trị trên 4,52 tỷ đồng; lãnh đạo tỉnh cũng đã tổ chức thăm hỏi, tặng quà đối với các gia đình người có công với cách mạng tiêu biểu trên địa bàn tỉnh.- Công tác chăm lo cho các đối tượng chính sách xã hội cũng được tỉnh hết sức quan tâm, chú trọng, duy trì chi trả trợ cấp thường xuyên cho trên 38.000 đối tượng bảo trợ xã hội tại cộng đồng. Hỗ trợ lượng thực cho các hộ bị thiếu lương thực nhân dịp Tết Nguyên đán và dịp giáp hạt năm 2023, dự kiến là 257.340 kg gạo để hỗ trợ 5.624 hộ với 17.156 nhân khẩu. Các cơ quan, tổ chức, cá nhân cũng triển khai các hoạt động thăm, tặng quà các đối tượng hộ nghèo, cận nghèo, đối tượng bảo trợ xã hội, trẻ em, người cao tuổi có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn tỉnh. - Duy trì công tác tiếp nhận, quản lý, điều trị và chuẩn bị các điều kiện tổ chức vui xuân, đón tết cho học viên đang cai nghiện tại Cơ sở trong dịp Tết nguyên đán. Trong tháng tiếp nhận 06 học viên (Cai nghiện bắt buộc 05 học viên, cai nghiện tự nguyện 01 học viên); cấp giấy chứng nhận hoàn thành cai nghiện cho 08 học viên; phối hợp với Công an huyện Sơn Dương tổ chức truy tìm đưa trở lại Cơ sở 01 học viên. Tại thời điểm báo cáo Cơ sở đang quản lý 140 học viên (có mặt 131 học viên; trốn cai 07 học viên; đi viện 02 học viên).  3. Hoạt động giáo dục và đào tạoNhằm chuẩn bị tốt nhất cho Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2023, hiện nay, các trường THPT trên địa bàn tỉnh đã xây dựng kế hoạch tổ chức công tác ôn tập, trong quá trình ôn tập các trường đã thường xuyên kiểm tra, đánh giá, phân loại học sinh để điều chỉnh phương pháp ôn tập cho hiệu quả chất lượng học sinh để điều chỉnh phương án ôn tập cho phù hợp, đạt hiệu quả cao.Công tác tư vấn, hướng nghiệp để học sinh lựa chọn được ngành nghề phù hợp cho tương lai cũng được các trường THPT trên địa bàn tỉnh tổ chức tư vấn, hướng nghiệp cho học sinh. Tùy điều kiện, hoàn cảnh và lực học của từng em, giáo viên nhà trường sẽ đưa ra những tư vấn để các em có sự lựa chọn phù hợp cho tương lai của mình.4. Hoạt động y tế - Để đảm bảo công tác phòng chống dịch Covid-19, tỉnh đã thực hiện tăng cường công tác phòng, chống dịch dịp Tết Nguyên đán Quý Mão và mùa lề hội 2023. Các đơn vị trên địa bàn tỉnh tăng cường theo dõi, bám sát tình hình dịch bệnh và tổ chức triển khai hiệu quả các biện pháp phòng, chống dịch theo đúng chỉ đạo của Trung ương và của tỉnh; kiểm tra, giám sát công tác phòng, chống dịch đảm bảo chủ động, sẵn sàng và kịp thời ứng phó với các diễn biến có thể xảy ra của dịch bệnh.- Về tình hình tiêm chủng vắc xin Covid-19 tính đến ngày 14/02/2023: Tổng số cộng dồn tiêm tại tỉnh từ đợt 1 đến nay: 2.247.127 mũi tiêm; trong đó: mũi 01: 704.787 người; mũi 02: 690.963 người; mũi 03: 521.239 người; mũi 04: 250.938 người.+ Tiêm cho người từ 18 tuổi trở lên tỷ lệ tiêm mũi 1 là 100% (510.851 người còn 6.471 người chống chỉ định chưa tiêm); tiêm đủ 2 mũi là 99,6% (513.226 người); có 79.200 người được tiêm bổ sung để hoàn thành liều cơ bản; Tỷ lệ tiêm mũi 3 là 90,6% (460.186 người); hoàn thành tiêm mũi 04 cho đối tượng ưu tiên, số người được tiêm mũi 04 là 250.938 người.+ Tiêm cho trẻ từ 12 đến dưới 18 tuổi: Tỷ lệ tiêm mũi 1 đạt trên 99,1%; tiêm đủ 02 mũi đạt 100%, tiêm mũi 3 là 77,6%, tỷ lệ tiêm mũi 3 cao nhất là huyện Yên Sơn (97,7%) thấp nhất là huyện Chiêm Hóa (69,6%).+ Tiêm cho trẻ từ 05 đến dưới 12 tuổi: Tỷ lệ tiêm mũi 01 đạt 99,9%, các huyện, thành phố đạt tỷ lệ trên 95%; tiêm 02 mũi là 84,6%, hiện chưa có phản ứng phụ hoặc tai biến xảy ra. 5. Hoạt động văn hoá - thể dục, thể thao- Lĩnh vực văn hoá: Trong tháng, nhiều hoạt động văn hóa được tổ chức tại các địa phương trong tỉnh với quy mô và nhiều hoạt động, đáp ứng nhu cầu của người dân và du khách tham quan trong và ngoài tỉnh; tại các huyện Lâm Bình, Na Hang, Chiêm Hóa đã tổ chức Lễ hội Lồng Tông (lễ hội xuống đồng) là lễ hội đã được công nhận là Di sản Văn hóa phi vật thể quốc gia; tổ chức Lễ động thổ Dự án Khu trồng cây lưu niệm tại Khu di tích Quốc gia đặc biệt Tân Trào; tổ chức triển lãm tranh cổ động tấm lớn (80 mẫu tranh) kỷ niệm 93 năm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03/02/1930 - 03/02/2023), mừng xuân Quý Mão năm 2023 tại Quảng trường Nguyễn Tất Thành, thành phố Tuyên Quang. Đón trên 3.000 đoàn khách; phục vụ trên 47.000 lượt khách thăm quan tại Khu di tích lịch sử Tân Trào, Khu di tích lịch sử Kim Quan, Khu di tích lịch sử quốc gia đặc biệt Đại hội II của Đảng tại Kim Bình, Quảng trường Nguyễn Tất Thành. Tiếp tục đẩy mạnh phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” gắn với chương trình xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh.- Về thể dục thể thao: Tổ chức thành công giải bóng chuyền hơi toàn tỉnh. Duy trì hoạt động 6 lớp đội tuyển năng khiếu với 30 vận động viên; 7 lớp đội tuyển trẻ với 68 vận động viên; 03 lớp đội tuyển tỉnh với 20 vận động viên tham gia luyện tập.6. Một số hoạt động khác- Trong tháng, các địa phương trên địa bàn tỉnh đã đồng loạt tổ chức lễ giao nhận quân năm 2023 với không khí vui tươi, phấn khởi. Công tác giao nhận quân diễn ra long trọng, đúng thời gian, đảm bảo nhanh gọn, đủ chỉ tiêu, tiết kiệm và an toàn; Trong đợt giao quân năm nay, toàn tỉnh có 1.275 công dân nhập ngũ. Trong đó, có 1.050 công dân nhập ngũ vào các đơn vị quân đội, 225 công dân tham gia nghĩa vụ công an, có 02 tân binh là đảng viên; 8 tân binh có trình độ chuyên môn đại học, cao đẳng, trung cấp; tân binh là dân tộc thiểu số chiếm gần 70%; độ tuổi trung bình 19 tuổi.Tỉnh đã triển khai kế hoạch xây dựng xã điển hình về Phong trào Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc tại 10 xã trên địa bàn toàn tỉnh và kế hoạch xây dựng 01 Công an phường điển hình, kiểu mẫu về an ninh trật tự và văn minh đô thị năm 2023. 7. Tình hình an toàn giao thông  Trong tháng, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 05 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 02 người và làm bị thương 03 người. So với tháng trước giảm 50% về số vụ tai nạn, giảm 62,5% về số người bị thương. Số vụ tai nạn, số người bị thuong và số người chết giữ nguyên so với cùng kỳ năm trước.Tính chung 02 tháng đầu năm, toàn tỉnh đã xảy ra 15 vụ tai nạn giao thông; làm chết 04 người và làm bị thương 11 người. So với cùng kỳ năm trước: Số vụ tai nạn giao thông tăng 15,38%; số người chết giảm 20%; số người bị thương tăng 10%.CỤC THỐNG KÊ TUYÊN QUANG

Tình hình kinh tế - xã hội tháng 01 năm 2023 tỉnh Tuyên Quang
  •   05/11/2025 17:23

I. PHÁT TRIỂN KINH TẾ  1. Về sản xuất nông nghiệp (tính đến ngày 15/01/2023)1.1. Trồng trọt 1.1.1. Sản xuất vụ đôngĐến thời điểm báo cáo bà con nông dân trong tỉnh đang khẩn trương thu hoạch diện tích cây màu vụ đông, giải phóng đất phục vụ cho công tác gieo trồng các loại cây trồng vụ xuân năm 2023. Kết quả cụ thể như sau:Cây ngô đã thu hoạch được 3.280,7 ha, đạt 68,56%, cây khoai lang 808 ha đạt, 79,97%, cây rau đậu các loại 3.560 ha, đạt 79,29%.1.1.2. Sản xuất vụ xuân Theo kế hoạch, vụ xuân năm 2023 toàn tỉnh gieo cấy 18.488 ha lúa các loại. Để đáp ứng đầy đủ, kịp thời nhu cầu giống lúa các loại phục vụ sản xuất, các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh trên địa bàn tỉnh đã chuẩn bị đầy đủ số lượng các mặt hàng vật tư đáp ứng đầy đủ nhu cầu về giống sản xuất của người dân. - Làm đất: Đến ngày 15/01/2023 các địa phương trong tỉnh đã làm đất được 11.081 ha. - Gieo mạ: Toàn tỉnh gieo được 307.668 kg giống lúa các loại trong đó: Mạ Lúa lai gieo được 112.909 kg, mạ lúa thuần gieo được 194.759 kg.1.2. Tình hình sinh vật gây hại - Thời tiết diễn biến bất thường, tạo điều kiện thuận lợi để sâu bệnh phát triển gây hại đến cây trồng. Trong đó một số diện tích lúa – mạ xuân bị chuột, nấm mốc, thối nhũn, bệnh trắng lá gây hại rải rác. Diện tích ngô bị sâu đục bắp, đốm lá, khô vằn, châu chấu, chuột gây hại rải rác. Trên cây chè, cây cam bị nhiễm rầy xanh nhẹ, bọ trĩ, bọ xít, nhện đỏ, nhện trắng gây hại ở mức trung bình.- Trước tình hình sinh vật gây hại cây trồng nêu trên, ngành chức năng đã tập trung chỉ đạo, hướng dẫn bà con nông dân thực hiện việc gieo cấy đúng khung thời vụ, chăm sóc cây trồng; thường xuyên kiểm tra đồng ruộng, phát hiện sâu bệnh hại cây trồng, kịp thời hướng dẫn cách phòng trừ, giảm thiệt hại do sâu bệnh gây ra.1.3. Về chăn nuôi 1.3.1. Về số lượng đàn gia súc, gia cầm tháng 01/2023Đàn trâu tổng đàn là 90.050 con, giảm 1,82% (giảm 1.671 con) so với cùng kỳ năm 2022; đàn bò 39.307 con, tăng 5,85% (tăng 2.174 con); đàn lợn 549.704 con, tăng 1,46% (tăng 7.890 con); đàn gia cầm 7.198,74 nghìn con, tăng 3,78% (tăng 262,30 nghìn con).1.3.2. Về sản phẩm đàn gia súc, gia cầmĐàn trâu sản lượng thịt hơi xuất chuồng đạt 612,44 tấn, tăng 7% so với cùng kỳ năm 2022; đàn bò đạt 150,1 tấn, tăng 6%; đàn lợn 5.718,30 tấn, tăng 3,89%; đàn gia cầm 1.669,09 tấn, tăng 7,24%.1.3.3. Về công tác phòng chống dịch bệnh gia súc, gia cầmTrong tháng, trên địa bàn các huyện, thành phố xuất hiện một số gia súc, gia cầm ốm do mắc các bệnh Tụ huyết trùng; ký sinh trùng, chướng bụng đầy hơi, sán lá gan (đàn trâu,bò), tiêu chảy, lép tô, phân trắng lợn con (đàn lợn); Niucatson, THT, cầu trùng…(đối với đàn gia cầm), số gia súc mắc bệnh đã được nhân viên thú y xã phát hiện, điều trị khỏi 25/25 con, trong đó: Trâu, bò: 09/09 con; đàn lợn: 16/16 con. Về công tác phòng chống dịch lợn tả Châu phi: Trong tháng bệnh không phát sinh.1.3.4. Công tác kiểm dịch vận chuyển động vật, sản phẩm động vậtTại các trạm Kiểm dịch đã thực hiện kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ, ngăn chặn không cho vận chuyển động vật và sản phẩm động vật không rõ nguồn gốc vào địa bàn tỉnh, kết quả đã kiểm tra: 200 lượt phương tiện vận chuyển, trong đó: Số đủ thủ tục: 200 lượt, cụ thể: 55 chuyến vận chuyển 8.388 con lợn, 122 chuyến vận chuyển 122.502 con gia cầm.1.3.5. Công tác kiểm soát giết mổ, và kiểm tra vệ sinh thú yCông tác kiểm soát giết mổ, kiểm tra vệ sinh thú y được các trạm Chăn nuôi và Thú y phân công, bố trí cán bộ thường xuyên duy trì, kiểm tra, kiểm soát, bảo đảm sản phẩm gia súc trước khi đưa ra thị trường tiêu thụ được kiểm tra, kết quả đã kiểm soát giết mổ được: 181 con trâu, bò và 5.618 con lợn.1.4. Về sản xuất lâm nghiệp 1.4.1. Công tác trồng rừngVới quyết tâm hoàn thành kế hoạch trồng rừng năm 2023, tỉnh đã chỉ đạo các địa phương trong tỉnh, tích cực triển khai công tác trồng, chăm sóc rừng chính vụ và trồng cây phân tán; đã trồng được 4,6 ha rừng trồng tập trung; chuẩn bị điều kiện cho Tết trồng cây năm 2023.1.4.2. Khai thác gỗ rừng trồngToàn tỉnh khai thác được 42.640,12 m3 gỗ, tăng 4,69% so với cùng kỳ năm 2022. 1.4.3. Công tác quản lý bảo vệ rừng- Tỉnh đã xây dựng kế hoạch tổ chức Lễ phát động Tết trồng cây “Đời đời nhớ ơn Bác Hồ” Xuân Quý Mão 2023; thời gian từ 9 giờ 30 phút ngày 30/01/2023 (tức ngày mùng 9 tháng Giêng) với số lượng khoảng 3.000 cây trong đó 2.930 cây Keo (Lai mô hoặc Tai tượng hạt ngoại); 70 cây bản địa (cây Chò chỉ, Đinh, Lim... cao trên 1 m có đánh số thứ tự) đảm bảo tiêu chuẩn theo hướng dẫn của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.- Thường xuyên cảnh báo nguy cơ cháy rừng, đẩy mạnh tuyên truyền về công tác phòng cháy chữa cháy rừng; lực lượng chức năng đã tăng cường kiểm tra, kiểm soát, phát hiện kịp thời, xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật các hành vi xâm hại rừng. Theo báo cáo của Chi cục Kiểm lâm tỉnh, trong tháng trên địa bàn toàn tỉnh không có vụ cháy rừng nào xảy ra. Số vụ chặt phá rừng là 01 vụ diện tích chặt phá 0,75 ha, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng, đã kiểm tra, phát hiện và xử lý tịch thu 0,094 m3 gỗ các loại; phạt hành chính và bán thanh lý tài sản 21,37 triệu đồng (đã thu nộp ngân sách 9,37 triệu đồng).2. Sản xuất công nghiệp2.1. Chỉ số phát triển công nghiệp Chỉ số sản xuất công nghiệp trong tháng tăng 22,46% so với cùng kỳ, giảm 11,4% so với tháng trước, chủ yếu do đây là thời điểm các doanh nghiệp tập trung sản xuất các loại hàng hóa phục vụ Tết Nguyên đán, cụ thể như sau: Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 34,49%; giảm 14,39%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 26,09%, giảm 17,16%; khai khoáng giảm 11,82%, giảm 28,88%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí giảm 28,4%, tăng 48,99%.2.2. Sản phẩm công nghiệp chủ yếu Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng so với cùng kỳ năm trước như: Xi măng đạt 130.000 tấn, tăng 45,05%; hàng may mặc xuất khẩu đạt 3.030 nghìn sản phẩm, tăng 16,8%; giày da đạt 570 nghìn đôi, tăng 35,71%; gỗ tinh chế đạt 3.837 m3, tăng 17,72%. Tuy nhiên, cũng có một số sản phẩm công nghiệp giảm so với cùng kỳ như: Điện thương phẩm đạt 89 triệu Kwh, giảm 0,1%; điện sản xuất đạt 108 triệu Kwh, giảm 34,38%; đường kính đạt 2.500 tấn, giảm 24,67%; bột barit đạt 500 tấn, giảm 85,91%; bột Felspat đạt 11.200 tấn, giảm 30,23%; nước máy thương phẩm đạt 625nghìn m3, giảm 3,98%,...3. Kết quả thu ngân sách nhà nước tháng 01 năm 20233.1. Kết quả thu ngân sáchTổng thu nội địa tháng 01/2023 ước thực hiện là 180 tỷ đồng, đạt 6,2% dự toán, giảm 48,7% so với cùng kỳ.Số thu nội địa trừ tiền sử dụng đất và xổ số ước thực hiện tháng 01/2023 là 152,4 tỷ đồng, đạt 6,6% dự toán, giảm 41,9% so với cùng kỳ.3.2. Nguyên nhân ảnh hưởng đến kết quả thu - Thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất giảm so với cùng kỳ do đấu giá quyền sử dụng đất năm 2022 chuyển sang thu năm 2023 thấp hơn so với cùng kỳ.- Thu tiền cấp quyền khai thác tài nguyên khoáng sản, tài nguyên nước giảm so với cùng kỳ. 4. Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước thực hiện tháng 1 năm 2023 đạt 178.822 triệu đồng, tăng 28,57% so với cùng kỳ. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 162.104 triệu đồng, tăng 28,90%; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện đạt 13.585 triệu đồng, tăng 30,85%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã đạt 2.836 triệu đồng, tăng 4,38%.5. Thương mại và Dịch vụ5.1. Doanh thu bán lẻ hàng hóa, dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch và doanh thu dịch vụ khác5.1.1. Doanh thu bán lẻ hàng hóa Ước đạt 1.853.285 triệu đồng, tăng 18,55% so với cùng kỳ, tăng 6,37% so với tháng trước, cụ thể như sau: Lương thực thực phẩm đạt 769.405 triệu đồng, tăng 23,21%, tăng 6,06%; hàng may mặc đạt 113.702 triệu đồng, tăng 31,48%, tăng 6,76%; đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình đạt 155.046 triệu, tăng 18,24%, tăng 6,03%; gỗ và vật liệu xây dựng đạt 213.910 triệu đồng, tăng 12,99%, tăng 0,75%; phương tiện đi lại, trừ ô tô con (kể cả phụ tùng) đạt 79.234 triệu đồng, tăng 7,34%, tăng 7,33%; xăng, dầu các loại đạt 215.510 triệu đồng, tăng 11,43%, tăng 7,22%; hàng hoá khác đạt 129.255 triệu đồng, tăng 16,17%, tăng 15,44%; sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác đạt 72.156 triệu đồng, tăng 10,36%, tăng 9,68%,....5.1.2. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và doanh thu dịch vụ khác- Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 162.686 triệu đồng, tăng 39,10 % so với cùng kỳ, tăng 8,47% so với tháng trước. Trong đó: Doanh thu dịch vụ lưu trú ước đạt 11.935 triệu đồng, tăng 30,54%, tăng 17,52%; dịch vụ ăn uống ước đạt 150.751 triệu đồng, tăng 39,83%, tăng 7,81%.- Doanh thu nhóm dịch vụ khác trong tháng ước đạt 91.079 triệu đồng, tăng 55,32% so với cùng kỳ, tăng 4,13% so với tháng trước. Trong đó: Doanh thu Dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ đạt 15.203 triệu đồng, tăng 24,64%, tăng 0,05%; giáo dục và đào tạo đạt 2.911 triệu đồng, tăng 21,75%, tăng 0,38%; kinh doanh bất động sản đạt 2.520 triệu đồng, tăng 17,61%, tăng 0,28%; dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí đạt 19.655 triệu đồng, tăng 84,38%, tăng 4,83%, dịch vụ khác đạt 33.984 triệu đồng, tăng 56,76%, tăng 6,15%,...5.2. Giá cả- Tháng 01/2023, trùng với dịp Tết Nguyên đán nhu cầu tiêu dùng của người dân về các mặt hàng thiết yếu; đồ dùng gia đình tăng làm cho chỉ số giá tháng này có xu hướng tăng nhẹ so với tháng trước. Ước tính CPI tháng 01 năm 2023 tăng 0,58% so với tháng trước, tăng 6,04% so với cùng kỳ năm trước. Trong số 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính thì có 09/11 nhóm hàng tăng so với tháng trước, bao gồm những nhóm hàng sau: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,45% do nhu cầu ăn uống dịp tết Nguyên đán tăng; đồ uống, thuốc lá tăng 3,05% do nhu cầu mua sắm những đồ dùng, thực phẩm thiết yếu phục vụ cho dịp Tết của người dân; nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,29% do là trong tháng xảy ra các đợt rét nên nhu cầu mua sắm hàng may mặc, giầy dép của người dân tăng cao; thiết bị đồ dùng gia đình tăng 0,73% do đang bước vào các đợt rét, nhiệt độ xuống thấp khiến nhu cầu mua sắm, sử dụng các loại hàng hóa sưởi ấm của người dân tăng, làm giá một số mặt hàng này tăng nhẹ; thuốc và dịch vụ y tế tăng 1,28% do nhu cầu về thuốc và khám chữa bệnh thời điểm giao mùa tăng; bưu chính viễn thông tăng 0,01%; giáo dục tăng 0,13%; văn hoá, giải trí và du lịch tăng 0,45%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 2,44%… Có 02/11 nhóm hàng có mức giá giảm so với tháng trước là: Nhà ở và vật liệu xây dựng giảm 0,74%; giao thông giảm 1,22% do giá xăng, dầu điều chỉnh giảm.- Chỉ số giá vàng giảm 3,09% so với cùng tháng năm trước, tăng 0,91% so với tháng trước. - Chỉ số giá đô la Mỹ tăng 3,4% so với cùng tháng năm trước, giảm 1,18% so với tháng trước. 6. Vận tải hàng hóa và hành khách 6.1. Doanh thu vận tải tải kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải - Ước tính doanh thu vận tải kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải tháng 1 đạt 303.115 triệu đồng, tăng 59,47% so với cùng kỳ, tăng 3,47% so với tháng trước. Trong đó: Doanh thu từ vận tải hành khách ước đạt 52.601 triệu đồng, tăng 65,66% và tăng 5,61%; doanh thu từ vận tải hàng hóa đạt 249.989 triệu đồng, tăng 58,08% và tăng 3,03%; dịch vụ hỗ trợ vận tải kho bãi đạt 326 triệu đồng, tăng 75,09% và tăng 1,34%,..6.2. Vận tải hành khách và hàng hóa- Khối lượng hành khách vận chuyển ước đạt 822 nghìn hành khách, tăng 60,89% so với cùng kỳ và tăng 4,17% so với tháng trước; khối lượng hành khách luân chuyển ước đạt 66.042 nghìn lượt hành khách.km, tăng 26,56% và tăng 4,43%. - Khối lượng hàng hóa vận chuyển ước đạt 1.659 nghìn tấn, tăng 47,08% so với cùng kỳ và tăng 2,74% so với tháng trước; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 105.317 nghìn tấn.km, tăng 62,06% và tăng 2,5%. 7. Về du lịch   Trong tháng 01/2023, thu hút được 136.500 lượt khách du lịch; đạt 5% kế hoạch, tăng 98% so với cùng kỳ; tổng thu từ khách du lịch đạt 165 tỷ đồng; đạt 6% kế hoạch, tăng 175% so với cùng kỳ.II. LĨNH VỰC VĂN HÓA - XÃ HỘI 1. Công tác lao động, việc làm, giáo dục nghề nghiệp- Trong tháng tạo việc làm cho 592 người lao động, đạt 2,7% kế hoạch và tăng 120,9% so với cùng kỳ năm 2022, trong đó: Lao động được tạo việc làm tại tỉnh: 394 người, đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng: 10 người; làm việc tại các tỉnh, thành phố trong nước: 188 người.- Đã thực hiện tư vấn giới thiệu việc làm, học nghề cho 1.209 lao động; đăng tải 33 lượt thông tin tuyển lao động, tuyển sinh trên website, cổng thông tin điện tử Trung tâm Dịch vụ việc làm.2. Công tác đảm bảo chế độ chính sách và an sinh xã hội, phòng chống các tệ nạn và tình hình lương thưởng Tết của người lao động tại các doanh nghiệp2.1. Công tác đối với người có công với cách mạng Tỉnh đã triển khai các hoạt động tặng quà của Chủ tịch nước và quà của tỉnh đối với người có công với cách mạng trên địa bàn tỉnh nhân dịp Tết Nguyên đán Quý Mão năm 2023. Tổng số là 18.344 suất quà, với tổng trị giá trên 7,6 tỷ đồng. Trong đó: Quà của Chủ tịch nước: 8.011 suất, số tiền 2,5 tỷ đồng; Quà của tỉnh: 8.673 suất, số tiền 4,5 tỷ đồng; quà của cấp huyện, cấp xã: 552 suất, số tiền trên 0,2 tỷ đồng; quà do các tổ chức, cá nhân tặng: 1.108 suất, số tiền 0,4 tỷ đồng. Lãnh đạo tỉnh cũng đã tổ chức thăm, tặng quà đối với 36 người có công với cách mạng tiêu biểu nhân dịp Tết Nguyên đán Quỹ Mão.2.2. Công tác bảo trợ xã hội và phòng chống các tệ nạn xã hội- Công tác chăm lo cho các đối tượng chính sách xã hội cũng được tỉnh hết sức quan tâm, chú trọng, duy trì chi trả trợ cấp thường xuyên cho trên 38.000 đối tượng bảo trợ xã hội tại cộng đồng. Hỗ trợ lượng thực cho các hộ bị thiếu lương thực nhân dịp Tết Nguyên đán và dịp giáp hạt năm 2023, dự kiến là 257.340 kg gạo để hỗ trợ 5.624 hộ với 17.156 nhân khẩu. Các cơ quan, tổ chức, cá nhân cũng triển khai các hoạt động thăm, tặng quà các đối tượng hộ nghèo, cận nghèo, đối tượng bảo trợ xã hội, trẻ em, người cao tuổi có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn tỉnh. Đến ngày 13/01/2023 các đơn vị, tổ chức, cá nhân đã trao tặng 18.467 suất quà cho người khuyết tật, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, hộ nghèo, cận nghèo và các đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn khác, với tổng trị giá trên 10,7 đồng.- Duy trì công tác tiếp nhận, quản lý, điều trị và chuẩn bị các điều kiện tổ chức vui xuân, đón tết cho học viên đang cai nghiện tại Cơ sở trong dịp Tết nguyên đán Quý Mão năm. Trong tháng đã tiếp nhận 08 người nghiện ma túy vào cai nghiện bắt buộc tai cơ sở; cấp giấy chứng nhận hoàn thành cai nghiện cho 03 học viên; 01 người bị cơ quan chức năng khởi tố, bắt tạm giam do vi phạm pháp luật. Tiếp tục duy trì quản lý 144 học viên cai nghiện ma túy (trong đó số có mặt cai nghiện tại Cơ sở 133 học viên, trốn cai 10 học viên, 01 học viên đi chữa bệnh tại bệnh viện tỉnh).2.3. Về tình hình lương thưởng Tết của người lao động và việc quản lý lao động tại doanh nghiệp, khu công nghiệp- Tiền lương bình quân năm 2022 của người lao động tại các doanh nghiệp có báo cáo trên địa bàn tỉnh: 6.174.000 đồng/người/tháng (cao hơn năm 2021 là 436.000 đồng). Trong đó: Công ty TNHH Một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ: 8.855.000đồng/người/tháng; Công ty có cổ phần, vốn góp chi phối của Nhà nước, chi nhánh thuộc Tập đoàn kinh tế nhà nước, Tổng công ty Nhà nước trên địa bàn tỉnh: 8.911.000 đồng/người/tháng; Doanh nghiệp dân doanh: 5.010.000 đồng/người/tháng; Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài: 5.724.000 đồng/người/tháng.- Thưởng Tết Dương lịch 2023: Mức thưởng bình quân người lao động tại doanh nghiệp báo cáo có kế hoạch thưởng: 1.113.000 đồng/người (cao hơn năm 2022: 358.000 đồng). Trong đó: Công ty TNHH Một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ: 500.000 đồng/người; Công ty có cổ phần, vốn góp chi phối của Nhà nước; Chi nhánh thuộc Tập đoàn kinh tế nhà nước, Tổng công ty Nhà nước trên địa bàn tỉnh: 1.188.000 đồng/người; Doanh nghiệp dân doanh: 874.000 đồng/người; Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài: 350.000 đồng/người. - Thưởng Tết Nguyên đán 2023: Mức thưởng bình quân người lao động tại doanh nghiệp báo cáo có kế hoạch thưởng: 3.420.000 đồng/người (cao hơn năm 2022; 244.000 đồng). Trong đó: Công ty TNHH Một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ: 2.000.000 đồng/người; Công ty có cổ phần, vốn góp chi phối của Nhà nước; Chi nhánh thuộc Tập đoàn kinh tế nhà nước, Tổng công ty Nhà nước trên địa bàn tỉnh: 4.379.000 đồng/người; Doanh nghiệp dân doanh: 5.958.000 đồng/người; Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài: 2.857.000 đồng/người.- Tình hình nợ lương 2022: Tổng số doanh nghiệp nợ lương: 03 doanh nghiệp với tổng số lao động bị nợ lương: 270 người, tổng số tiền lương nợ: 2.860 triệu đồng. 3. Hoạt động giáo dục và đào tạoTrong tháng, các trường học trên địa bàn tỉnh đã tổ chức nhiều hoạt động kỷ niệm 73 năm Ngày truyền thống học sinh - sinh viên Việt Nam (09/01/1950 – 09/01/2023). Các hoạt động mít tinh, kỷ niệm Ngày truyền thống học sinh - sinh viên được tổ chức đã góp phần khơi dậy truyền thống tốt đẹp và tinh thần hiếu học trong học sinh, sinh viên. Các đơn vị, trường học đã tổ chức phân công lực lượng trực trong dịp Tết, phối hợp với lực lượng công an, chính quyền địa phương đảm bảo an toàn tuyệt đối về cơ sở vật chất, trang thiết bị của cơ quan, đơn vị; tổ chức ký cam kết với học sinh, cha mẹ học sinh về thực hiện nghiêm Luật Giao thông đường bộ; Luật phòng, chống tác hại của rượu, bia; quy định về quản lý, sử dụng pháo; tổ chức “Tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác Hồ” góp phần xây dựng trường học xanh, sạch đẹp, thân thiện, tích cực…4. Hoạt động y tế - Để đảm bảo công tác phòng chống dịch Covid-19, tỉnh đã thực hiện tăng cường công tác phòng, chống dịch dịp Tết Nguyên đán Quý Mão và mùa lề hội 2023. Các đơn vị trên địa bàn tỉnh tăng cường theo dõi, bám sát tình hình dịch bệnh và tổ chức triển khai hiệu quả các biện pháp phòng, chống dịch theo đúng chỉ đạo của Trung ương và của tỉnh; kiểm tra, giám sát công tác phòng, chống dịch đảm bảo chủ động, sẵn sàng và kịp thời ứng phó với các diễn biến có thể xảy ra của dịch bệnh; tăng cường kiểm tra dịch với các trường hợp nhập cảnh về từ các khu vực bùng phát dịch, từ các nơi xuất hiện các biến thể mới, nguy hiểm của SARS-CoV-2; đẩy mạnh giám sát tại cộng đồng, tại các cơ sở khám, chữa bệnh và giám sát phát hiện sớm các biến thể của SARS-CoV-2. Tập trung tiếp tục thúc đẩy công tác tiêm chủng vắc xin phòng COVID-19; thường xuyên rà soát để đảm bảo các nhóm nguy cơ, nhất là người cao tuổi, người có bệnh lý nền, người suy giảm miễn dịch,... được tiêm chủng đầy đủ, đúng lịch; đẩy mạnh tiêm chủng vắc xin cho trẻ em từ 05 tuổi đến dưới 12 tuổi.Về tình hình tiêm chủng vắc xin Covid-19 tính đến ngày 10/01/2023: Tiêm cho người từ 18 tuổi trở lên: Tỷ lệ tiêm mũi 1 là 100% (510.833 người còn 6.475 người chống chỉ định chưa tiêm); tiêm đủ 2 mũi là 99,6% (513.182 người); có 79.200 người được tiêm bổ sung để hoàn thành liều cơ bản; tỷ lệ tiêm mũi 3 là 90,5% (459.822 người); hoàn thành tiêm mũi 04 cho đối tượng ưu tiên, số người được tiêm mũi 04 là 248.934 người.+ Tiêm cho trẻ từ 12 đến dưới 18 tuổi: Tỷ lệ tiêm mũi 1 đạt trên 99,1%, tiêm đủ 02 mũi đạt 100%, tiêm mũi 3 là 77,6% (61.030 trẻ).+ Tiêm cho trẻ từ 05 đến dưới 12 tuổi: Tỷ lệ tiêm mũi 01 đạt 99,9% các huyện, thành phố đạt tỷ lệ trên 95%; tiêm 02 mũi là 84,6% (96.688 trẻ), hiện chưa có phản ứng phụ hoặc tai biến sẩy ra.- Để đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm (ATTP) dịp trước, trong và sau Tết Nguyên đán Quý Mão, các ngành chức năng và các địa phương trong tỉnh đã và đang kiểm soát chặt chẽ các cơ sở sản xuất, chế biến, kinh doanh thực phẩm, giúp nhân dân đón Tết an toàn. Theo đó, tập trung vào các nhóm sản phẩm tiêu thụ nhiều trong dịp Tết, các cơ sở chế biến thực phẩm. Đồng thời, chú trọng kiểm soát những đầu mối sản xuất, nhập khẩu, chợ đầu mối, trung tâm thương mại, siêu thị, cơ sở giết mổ, vận chuyển thực phẩm... tập trung kiểm tra việc thực hiện các quy định về đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm như: Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện ATTP, giấy cam kết sản xuất thực phẩm an toàn; giấy chứng nhận sức khỏe, xác nhận kiến thức ATTP của chủ cơ sở và người trực tiếp tham gia sản xuất, kinh doanh thực phẩm; quy trình sản xuất, chế biến, bảo quản thực phẩm; nguồn gốc nguyên liệu, phụ gia thực phẩm; giấy cam kết đảm bảo vệ sinh môi trường... Đồng thời lấy mẫu kiểm nghiệm các chỉ tiêu an toàn vệ sinh thực phẩm theo quy định khi cần thiết. Qua đó, kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm theo quy định.5. Hoạt động văn hoá - thể dục, thể thao- Lĩnh vực văn hoá: Tổ chức triển lãm tranh cổ động tấm lớn (80 mẫu tranh) kỷ niệm 93 năm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03/02/1930 - 03/02/2023), mừng xuân Quý Mão năm 2023 tại Quảng trường Nguyễn Tất Thành, thành phố Tuyên Quang. Tiếp tục đẩy mạnh phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” gắn với chương trình xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh được triển khai; tổ chức Hội báo Xuân Quý Mão 2023; tuyên truyền, tổ chức các hoạt động mừng Đảng, mừng Xuân Quý Mão, năm 2023; thực hiện công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và tuyên truyền, vận động đồng bào dân tộc thiểu số giai đoạn 2022-2025 trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang. Đón trên 110 đoàn khách; phục vụ trên 14.000 lượt khách thăm quan tại Khu di tích lịch sử Tân Trào, Khu di tích lịch sử Kim Quan, Khu di tích lịch sử quốc gia đặc biệt Đại hội II của Đảng tại Kim Bình, Quảng trường Nguyễn Tất Thành.Đẩy mạnh tuyên truyền, vận động nhân dân và các cơ quan, đơn vị ra quân vệ sinh môi trường, chỉnh trang đô thị nhân dịp đón Tết Dương lịch và Tết Nguyên đán Quý Mão năm 2023. Trong đó, chú trọng công tác tuyên truyền, cổ động, treo băng zôn, cờ rực rỡ ở các tuyến phố. Đồng thời, tuyên truyền vận động các hộ kinh doanh sửa sang cửa hàng, bật đèn chiếu sáng, đèn trang trí, đặc biệt các hộ kinh doanh ăn uống thực hiện nghiêm các quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm, phòng chống cháy nổ; tham gia tổng vệ sinh đường phố, khu dân cư... tạo cảnh quan sạch đẹp đón chào năm mới.- Về thể dục thể thao: Tổ chức các hoạt động thể thao mừng Đảng, mừng Xuân; tổ chức các giải thi đấu thể thao cấp tỉnh năm 2023, giải bóng chuyền hơi toàn tỉnh năm 2023.6. Một số hoạt động khácTrong tháng, tỉnh hoàn thành triển khai thực hiện đợt cao điểm “90 ngày, đêm” triển khai các giải pháp bảo đảm hoàn thành các chỉ tiêu phục vụ triển khai quy định của Luật Cư trú năm 2020 về việc Sổ hộ khẩu, Sổ tạm trú hết giá trị sử dụng sau ngày 31/12/2022 và tăng cường đẩy mạnh triển khai thực hiện Đề án 06 của Chính phủ. Theo đó, lực lượng Công an các cấp đảm bảo dữ liệu dân cư “Đúng, đủ, sạch, sống”, cấp Căn cước công dân, tài khoản định danh điện tử, “làm sạch” các dữ liệu chuyên ngành… Các chỉ tiêu được phân loại, rà soát, giao chỉ tiêu, tiến độ hoàn thành đến từng đơn vị cấp xã, phường, thị trấn; các tổ công tác cấp Căn cước công dân lưu động được thành lập; tăng cường, điều chuyển thiết bị, bố trí nhân lực cho các đơn vị còn nhiều chỉ tiêu đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ. Kết quả: Tổ chức thu nhận hồ sơ cấp Căn cước công dân cho 53.852 trường hợp, đạt 99,94% (còn lại 31 trường hợp do công dân già yếu, mắc bệnh hiểm nghèo, tai biến, bị tâm thần…); tổng số hồ sơ định danh điện tử mức 2 đã được thu nhận là 168.411 hồ sơ, tính đến ngày 28/12/2022 tổng kích hoạt mức 2 đạt 52,81%, kích hoạt mức 1 đạt 20,03%, xếp hạng thứ 5 trên toàn quốc về chỉ tiêu đăng ký, kích hoạt tài khoản định danh điện tử,…7. Tình hình an toàn giao thông và phòng chống cháy, nổ7.1. Về an toàn giao thôngTháng 01 năm 2023, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 10 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 02 người và làm bị thương 08 người.So với cùng kỳ năm trước: Số vụ tai nạn giao thông tăng 25%; số người bị thương tăng 14,29%; số người chết giảm 33,33%.7.2. Về cháy, nổTrong tháng trên địa bàn tỉnh không xảy ra vụ cháy, nổ nào.CỤC THỐNG KÊ TUYÊN QUANG

Tình hình kinh tế - xã hội tháng 10 năm 2022 tỉnh Tuyên Quang
  •   10/11/2025 22:15

I. PHÁT TRIỂN KINH TẾ  1. Về sản xuất nông nghiệp (tính đến ngày 15/8/2022)1.1. Trồng trọt 1.1.1. Sản xuất vụ mùa năm 2022Cây lúa: Toàn tỉnh đã thu hoạch được 20.720,4 ha, đạt 83,7% so với diện tích lúa đã cấy. Trong đó, một số địa phương có diện tích thu hoạch sớm như: Huyện Lâm Bình, Yên Sơn, Hàm Yên, Chiêm Hóa, Sơn Dương, Na Hang; cây ngô thu hoạch được 3.173,8 ha, đạt 66,3% so với diện tích đã trồng; cây đậu tương thu hoạch 240,8 ha, đạt 96,59%; cây lạc thu hoạch 666,8 ha, đạt 57,72%.1.1.2 Về sản xuất vụ đông Tiến độ đến ngày 15/10/2022 các địa phương trong tỉnh bà con nông dân đã gieo trồng được một số cây trồng vụ đông trên đất ruộng 2 vụ, kết quả cụ thể như sau:- Cây ngô đã trồng được 5.258 ha, đạt 109,9% kế hoạch;- Cây ngô thức ăn gia súc trồng được 1.880 ha;- Cây khoai lang trồng được 2.149,7 ha. 1.2. Về chăn nuôi 1.2.1. Về số lượng đàn gia súc, gia cầmĐàn trâu tổng đàn hiện có 90.356 con, giảm 2,0% (giảm 1.842 con) so với cùng kỳ năm 2021; đàn bò ước đạt 38.420 con, tăng 4,11% (tăng 1.518 con); đàn lợn ước đạt 556.298 con, tăng 2,24% (tăng 12.195 con); đàn gia cầm ước đạt 6.829,69 nghìn con, tăng 4,83% (tăng 314,52 nghìn con).1.2.2. Về sản phẩm đàn gia súc, gia cầm trong thángĐàn trâu sản lượng xuất chuồng ước đạt 534,25 tấn, giảm 2,06% (giảm 11,22 tấn) so với cùng kỳ năm 2021; đàn bò đạt 80,95 tấn, tăng 3,45% (tăng 2,7 tấn); đàn lợn đạt 4.943,47 tấn, tăng 6,35% (tăng 295,16 tấn); đàn gia cầm đạt 1.562,76 tấn, tăng 7,17% (tăng 104,49 tấn).1.2.3. Công tác phòng chống dịch bệnh gia súc, gia cầma. Công tác phòng chống và điều trị- Trong tháng, trên địa bàn các huyện, thành phố rải rác xuất hiện các bệnh Tụ huyết trùng; ký sinh trùng, chướng bụng đầy hơi, sán lá gan (đàn trâu ,bò, tiêu chảy, lép tô, phân trắng lợn con (đàn lợn); Niucatson, THT, cầu trùng…(đối với đàn gia cầm. Các Trạm Chăn nuôi và Thú y huyện, thành phố đã tiếp tục tăng cường công tác kiểm tra, theo dõi và giám sát chặt chẽ tình hình dịch bệnh, tăng cường công tác phòng, chống dịch bệnh; thường xuyên theo dõi công tác thú y trên địa bàn.  - Bệnh Dịch tả lợn Châu Phi xuất hiện rải rác trên địa bàn 04 thôn với 04 hộ với tổng số lợn mắc bệnh buộc tiêu hủy 56 con, tương đương trên 3.360 kg lợn hơi.b. Công tác tiêm phòngTrong tháng các huyện, thành phố trong tỉnh tiếp tục thực hiện công tác tiêm phòng bổ sung cho đàn gia súc, gia cầm, kết quả tiêm phòng như sau: Đàn trâu LMLM: 24.680 con, THT: 20.200 con; đàn bò LMLM: 8.200 con, THT: 27.957 con; đàn lợn LMLM: 9.000 con, THT: 116.000, Dịch tả: 116.000 con.1.2.4. Công tác kiểm dịch vận chuyển và công tác kiểm soát giết mổ- Các Trạm Kiểm dịch động vật: Đã kiểm tra 194 lượt phương tiện vận chuyển, trong đó: 194 chuyến vận chuyển 27.167 con, trong đó: 16.317 con lợn, 10.800 con gia cầm.- Công tác kiểm soát giết mổ và kiểm tra vệ sinh thú y: Trung tâm Dịch vụ nông nghiệp các huyện, thành phố duy trì công tác kiểm soát giết mổ trên địa bàn, đã kiểm tra, đóng dấu: 161 con trâu, bò 4.316 con lợn.1.3. Về sản xuất lâm nghiệp1.3.1. Công tác trồng rừng Trong tháng, trên địa bàn tỉnh liên tục có mưa, thời tiết thuận lợi cho việc trồng rừng; vì vậy, các địa phương trong tỉnh, đã tích cực triển khai công tác trồng rừng chính vụ và trồng cây phân tán, tiến độ trồng rừng đạt cao so với kế hoạch; đã trồng được 44,64 ha rừng trồng tập trung, nâng tổng số diện tích rừng trồng tập trung đạt 11.090,58 ha, tăng 0,76% so cùng kỳ năm 2021. Các huyện, thành phố tiếp tục tuyên truyền, vận động nhân dân tích cực tham gia thực hiện kế hoạch trồng rừng năm 2022; các ngành chức năng tăng cường công tác kiểm tra, kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm những trường hợp lấn chiếm, sử dụng đất lâm nghiệp sai mục đích trên địa bàn quản lý.1.3.2. Khai thác gỗ rừng trồngTrong tháng, đã khai thác được 75.383,1 m3 gỗ¬, nâng tổng số gỗ khai thác đạt 897.929,6 m3, tăng 8,89% so với cùng kỳ năm 2021.1.3.3. Công tác quản lý bảo vệ rừngTheo báo cáo của Chi cục Kiểm lâm tỉnh, trong tháng trên địa bàn tỉnh không xảy ra vụ cháy rừng nào; Số vụ chặt phá rừng 1 vụ, diện tích rừng bị chặt phá 0,14 ha. Đã xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng, đã kiểm tra, phát hiện và xử lý tịch thu 2 phương tiện và 1,51 m3 gỗ các loại; phạt hành chính và bán thanh lý tài sản 64,25 triệu đồng (đã thu nộp ngân sách 35,25 triệu đồng).2. Sản xuất công nghiệp2.1. Chỉ số phát triển công nghiệp - Chỉ số sản xuất công nghiệp trong tháng giảm 0,58% so với cùng kỳ, tăng 14,6% so với tháng trước, cụ thể như sau: Ngành khai khoáng tăng 17,65%, giảm 1,76%; công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 0,78%, tăng 19,2%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 32,91%, giảm 3,75%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí giảm 4%, giảm 1,2%.- Tính chung 10 tháng, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 9,02% so với cùng kỳ năm trước, chia theo từng ngành kinh tế cấp I như sau:+ Ngành khai khoáng tăng 25,97%, nguyên nhân: Sản lượng khai thác ba rít tăng cao so cùng kỳ, do các doanh nghiệp có hoạt động khai thác, chế biến đẩy mạnh phát triển quy mô sản xuất và nâng cao công suất khai thác.+ Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 8,11%, nguyên nhân: Do một số ngành chế biến tăng như: Sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 55,99%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế) tăng 26,57%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 41,11%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 36,88%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 55,28%,...+ Ngành sản xuất và phân phối điện tăng 9,99%, có tăng trưởng cao do lượng mưa từ đầu năm ổn định, các hồ thủy điện tích trữ nước tốt, đảm bảo cho hoạt động sản xuất và phân phối điện; bên cạnh đó, ngành điện đã triển khai và đưa vào vận hành các công trình đầu tư xây dựng theo đúng tiến độ, đảm bảo cung cấp điện liên tục, ổn định, an toàn, phục sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, hộ kinh doanh, các hoạt động chính trị - xã hội của tỉnh và sinh hoạt của nhân dân trên địa bàn tỉnh.+ Ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 19,02%, nguyên nhân: Do nhu cầu sử dụng nước sinh hoạt và sản xuất của các công ty ngày càng tăng, chất lượng nước, chất lượng dịch vụ cung ứng được nâng lên, đã cơ bản đáp ứng được nhu cầu của người dân và doanh nghiệp.2.2. Sản phẩm công nghiệp chủ yếu - Trong tháng, một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng so với cùng kỳ năm trước như: Điện thương phẩm đạt 96 triệu Kwh, tăng 1,06%; điện sản xuất đạt 99 triệu Kwh, tăng 3,7%; chè chế biến đạt 1.510 tấn, tăng 54,08%; bột ba rít đạt 1.800 tấn, tăng 41,34%; bột felspat đạt 25.600 tấn, tăng 66,93%; xi măng đạt 120.000 tấn, tăng 6,05%; gỗ tinh chế đạt 8.522 m3, tăng 114,36%,... Tuy nhiên, cũng có một số sản phẩm công nghiệp giảm so với cùng kỳ như: Giấy đế xuất khẩu đạt 850 tấn, giảm 47,57%; thép cây, thép cuộn đạt 7.000 tấn, giảm 79,99%;...3. Kết quả thu ngân sách nhà nước- Tổng thu nội địa trong tháng ước thực hiện là 280 tỷ đồng, lũy kế đạt 2.091,2 tỷ đồng, đạt 77,5% dự toán, tăng 7,6% so với cùng kỳ.- Số thu nội địa trừ tiền sử dụng đất và xổ số ước thực hiện là 248,3 tỷ đồng, lũy kế đạt 1.665,5 tỷ đồng, đạt 76,4% dự toán, tăng 4,1% so cùng kỳ.4. Vốn đầu tưNăm 2022, tỉnh được phê duyệt kế hoạch đầu tư vốn đầu tư công là 4.048,8 tỷ đồng, tăng 23,29% so với năm 2021, trong đó: vốn theo kế hoạch năm 2022 là 3.988,86 tỷ đồng; Vốn năm 2021 kéo dài sang năm 2022 là 59,94 tỷ đồng. Tính đến ngày 14/10/2022, tổng số vốn đã giải ngân được 2.141,55 tỷ đồng, đạt 52,89% kế hoạch, nằm trong nhóm những tỉnh có kết quả giải ngân cao của cả nước, trong đó: Nguồn vốn kế hoạch năm 2022 giải ngân được 2.105,46 tỷ đồng, đạt 52,78%; nguồn vốn năm 2021 kéo dài thời gian thực hiện và giải ngân sang năm 2022 giải ngân được 36,09 tỷ đồng, đạt 60,21%.5. Thương mại và Dịch vụ5.1. Doanh thu bán lẻ hàng hóa, dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch và dịch vụ khác5.1.1. Doanh thu bán lẻ hàng hóa - Tổng mức bán lẻ hàng hóa trong tháng ước đạt 2.174,2 tỷ đồng, tăng 2,46% so với tháng trước, tăng 21,64% so với cùng kỳ. Một số nhóm hàng hóa chính là: Hàng may mặc đạt 112,4 tỷ đồng, tăng 2,91%, tăng 6,11%; đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình đạt 283 tỷ đồng, tăng 5,76%, tăng 66,67%; gỗ và vật liệu xây dựng đạt 254,5 tỷ đồng, tăng 2,13%, tăng 49,39%; xăng, dầu các loại đạt 333,4 tỷ đồng, tăng 5,29%, tăng 127,94%,…- Tính chung 10 tháng, tổng mức bán lẻ hàng hóa đạt 17.899,5 tỷ đồng, tăng 15,15% so với cùng kỳ, trong đó một số nhóm hàng hóa tăng là: Hàng may mặc đạt 1.014,4 tỷ đồng, tăng 18,22%; đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình đạt 1.854,2 tỷ đồng, tăng 19,18%; gỗ và vật liệu xây dựng đạt 2.185,9 tỷ đồng, tăng 49,39%; xăng, dầu các loại đạt 2.512,6 tỷ đồng, tăng 101,3%,... Tuy nhiên, còn có một số nhóm hàng giảm như: Vật phẩm, văn hoá, giáo dục đạt 215,4 tỷ đồng, giảm 24,4%; ô tô con (dưới 9 chỗ ngồi) đạt 347,7 tỷ đồng, giảm 1,31%; phương tiện đi lại, trừ ô tô con (kể cả phụ tùng) đạt 495,5 tỷ đồng, giảm 14,22%,…5.1.2. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ khác- Trong tháng, doanh thu nhóm dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 180,2 tỷ đồng, tăng 2,06% so với tháng trước, tăng 25,24% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Doanh thu dịch vụ lưu trú ước đạt 16 tỷ đồng, giảm 0,83%, tăng 43,31%; dịch vụ ăn uống ước đạt 164,1 tỷ đồng, tăng 2,35%, tăng 23,72%. Tính chung 10 tháng, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 1.470 tỷ đồng, tăng 25,95%.- Doanh thu du lịch lữ hành trong tháng ước đạt 400 triệu đồng, giảm 11,11% so với tháng trước, tăng 336,68% so với cùng kỳ; tính chung 10 tháng, doanh thu du lịch lữ hành ước đạt 2.050 tỷ đồng, tăng 151,78% so với cùng kỳ năm trước.- Doanh thu nhóm dịch vụ khác trong tháng ước đạt 92,4 tỷ đồng, tăng 6,45% so với tháng trước, tăng 49,92% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Kinh doanh bất động sản đạt 5,1 tỷ đồng, giảm 0,43%, tăng 71,52%; dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ đạt 14,9 tỷ đồng, tăng 3,27%, giảm 1,96%; y tế và hoạt động trợ giúp xã hội đạt 3,7 tỷ đồng, tăng 5,52%, tăng 159,04%,... Tính chung 10 tháng, nhóm dịch vụ khác ước đạt 657 tỷ đồng, tăng 38,31%.5.2. Xuất, nhập khẩu hàng hóaTrong tháng Mười, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa ước đạt 14,9 triệu USD, giảm 52,24% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 10 tháng, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa ước đạt 209,3 triệu USD, giảm 9,86% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, xuất khẩu ước đạt 136,4 triệu USD; nhập khẩu ước đạt 72,9 triệu USD, cụ thể như sau:- Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu trong tháng ước đạt 8,9 triệu USD, giảm 57,82% so với tháng cùng kỳ năm trước, trong đó: Nhóm chè xuất khẩu đạt 250 tấn, giảm 16,94%; giấy đế xuất khẩu được 450 tấn, tăng 116,34%; hang dệt may đạt 390 nghìn sản phẩm, giảm 68,03%; đũa gỗ xuất khẩu đạt 2.200 nghìn đôi, giảm 60%,...Tính chung 10 tháng, ước đạt 136,4 triệu USD, giảm 4,68% so với cùng kỳ năm trước. Một số nhóm hàng có sản phẩm xuất khẩu 10 tháng đầu năm đạt mức tăng trưởng cao so với cùng kỳ như: Giấy in viết, photo thành phẩm đạt 2.440 tấn, tăng 336,4%; hàng dệt, may đạt 12.290 nghìn sản phẩm, tăng 2,9%; atimony thỏi đạt 143 tấn, tăng 40,1%;…. Bên cạnh đó, một số nhóm hàng có kim ngạch xuất khẩu giảm so với cùng kỳ: Chè xuất khẩu đạt 981 tấn, giảm 62,84%; bột barit đạt 374 tấn, giảm 94,41%; đũa gỗ xuất khẩu đạt 27.180 nghìn đôi, giảm 51,57%; giấy đế xuất khẩu đạt 3.238 tấn, giảm 2,38%,...- Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa trong tháng ước đạt 6 triệu USD, giảm 40,59% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 10 tháng, ước đạt 72,9 triệu USD, giảm 18,18%,...5.4. Giá cả thị trường trong tháng- Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trong tháng giảm 0,18% so với tháng trước, tăng 5,24% so với cùng kỳ năm trước và tăng 5,21% so với tháng 12 năm trước. Tính chung 10 tháng đầu năm, tăng 1,8% so với cùng kỳ.Trong tháng có 5/11 nhóm hàng có chỉ số CPI tăng so với tháng trước, trong đó: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,25%, (giá thực phẩm tăng 0,25%; giá lương thực tăng 0,25%; ăn uống ngoài gia đình giữ nguyên so với tháng trước), do nhu cầu tiêu thụ các mặt hàng lương thực, thực phẩm tăng do các hoạt động Lễ hội, cưới hỏi, ăn uống ngoài gia đình diễn ra bình thường sau khoảng thời gian bị hạn chế cũng là nguyên nhân làm mức tiêu thụ thực phẩm tăng cao; nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,16%, do nhu cầu tiêu thụ các mặt hàng nước khoáng, nước ngọt và thuốc lá tăng; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,12%, do trong tháng xuất hiện các đợt không khí lạnh đã khiến nhu cầu mua sắm quần áo ấm của người dân tăng; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,05%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,05%,… Có 3/11 nhóm hàng có chỉ số CPI giảm so với tháng trước: Nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 0,23%, do giá điện sinh hoạt giá điện sinh hoạt và giá gas và các loại chất đốt điều chỉnh giảm do ảnh hưởng của thị trường trong nước và thế giới; nhóm giao thông giảm mạnh 2,08%, do giá xăng, dầu tiếp tục điều chỉnh tăng - giảm đan xen vào 2 kỳ ngày 11/10 và ngày 21/10 (giá xăng giảm 6,13%, dầu diezen giảm 0,61%); văn hóa giải trí và du lịch giảm 0,1%.Có 3/11 nhóm giữ nguyên so với tháng trước là nhóm thuốc và dịch vụ y tế; giáo dục; bưu chính viễn thông.- CPI bình quân 10 tháng năm nay tăng 1,8% so với bình quân 10 tháng năm trước, trong đó một số nhóm hàng tăng cao: Nhóm giao thông tăng 11,56%; giáo dục tăng 8,32%; văn hóa giải trí và du lịch tăng 3,66%. Các nhóm có chỉ số CPI tăng nhẹ: May mặc, mũ nón, giày dép tăng 1,45%; nhà ở điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 1,8%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,24%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,3%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,49%. Có 2/11 nhóm hàng CPI bình quân 10 tháng giảm so với bình quân cùng kỳ: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 1,79%; bưu chính viễn thông giảm 0,2%. - Chỉ số giá vàng tháng Mười tăng 1,86% so với tháng trước, giảm 5,55% so với tháng 12 năm trước và giảm 4,1% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân 10 tháng năm 2022, chỉ số giá vàng giảm 0,85% so với bình quân cùng kỳ năm trước. - Chỉ số giá đô la Mỹ tháng Mười tăng 2,07% so với tháng trước, tăng 5,16% so với tháng 12 năm trước và tăng 5,89% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân 10 tháng năm 2022, chỉ số giá đô la Mỹ tăng 1,11% so với bình quân cùng kỳ năm trước.6. Vận tải hàng hóa và hành khách 6.1. Doanh thu vận tải tải kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải - Ước tính doanh thu từ vận tải kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải trong tháng đạt 282,9 tỷ đồng, giảm 0,15% so với tháng trước, tăng 19,93% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Doanh thu vận tải hành khách ước đạt 46,6 tỷ đồng, giảm 10,9% và tăng 10,34%; doanh thu vận tải hàng hóa đạt 235,7 tỷ đồng, tăng 2,28% và tăng 21,92%; dịch vụ hỗ trợ vận tải kho bãi đạt 0,29 tỷ đồng, tăng 6,45% và tăng 42,91%,...- Tính chung trong 10 tháng, doanh thu vận tải kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 2.423,7 tỷ đồng, tăng 19,11% so với cùng kỳ. Trong đó: Doanh thu vận tải hành khách đạt 409,5 tỷ đồng, tăng 4,62%; doanh thu vận tải hàng hóa đạt 2.010,8 tỷ đồng, tăng 22,49%; dịch vụ hỗ trợ vận tải kho bãi đạt 2,4 tỷ đồng, tăng 27,87%;… 6.2. Vận tải hành khách và hàng hóa- Khối lượng hành khách vận chuyển trong tháng ước đạt 735 nghìn hành khách, giảm 9,77% so với tháng trước và tăng 7,63% so với cùng kỳ; khối lượng hành khách luân chuyển ước đạt 61.512 nghìn lượt hành khách.km, giảm 7,99% và tăng 0,46%. Tính chung trong 10 tháng, khối lượng hành khách vận chuyển ước đạt 6.496 nghìn hành khách, tăng 2,21% so với cùng kỳ; khối lượng hành khách luân chuyển ước đạt 583.320 nghìn lượt hành khách.km, tăng 1,75%.- Khối lượng hàng hóa vận chuyển trong tháng ước đạt 1.525 nghìn tấn, tăng 3,45% so với tháng trước và tăng 8,09% so với cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 96.205 nghìn tấn.km, tăng 1,32% và tăng 10,02%. Tính chung 10 tháng, khối lượng hàng hóa vận chuyển ước đạt 12.376 nghìn tấn, tăng 6,17% so với cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 791.111 nghìn tấn.km, tăng 5,52%.7. Về du lịch Trong tháng, đã thu hút được 138.000 lượt khách du lịch; tổng thu từ khách du lịch đạt 134 tỷ đồng (nâng tổng số 10 tháng đầu năm 2022, thu hút 2.260.000 lượt, đạt 99% kế hoạch, tăng 20% so với cùng kỳ; tổng thu từ du lịch 2.306 tỷ đồng, đạt 98% kế hoạch, tăng 36,7% so với cùng kỳ).II. LĨNH VỰC VĂN HÓA - XÃ HỘI 1. Về lao động việc làm, giáo dục nghề nghiệpVới những yếu tố thuận lợi như: tình hình bệnh Covid -19 dần được kiểm soát, các hoạt động trong lĩnh vực du lịch được khôi phục, nhiều chương trình kết nối cung cầu, giao thương được tổ chức, hoạt động sản xuất, kinh doanh của người dân và doanh nghiệp đang dần phục hồi... đã tác động tích cực đến thị trường lao động việc làm trên địa bàn tỉnh tiếp tục trên đà phục hồi. Trong tháng toàn tỉnh tạo việc làm cho 1.656 lao động; lũy kế 10 tháng năm 2022, đã tạo việc làm cho 21.230 lao động; đạt 98,7% kế hoạch, tăng 5,1% so với cùng kỳ, trong đó, tạo việc làm trong các ngành kinh tế tại tỉnh 14.329 người, đạt 98,6%; lao động đi làm việc tại các tỉnh, thành phố trong nước 6.287 người, đạt 96,7%; lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng 614 người, đạt 130,6%.2. Công tác đảm bảo chế độ chính sách và an sinh xã hội2.1. Công tác đối với người có công với cách mạng - Duy trì thực hiện đầy đủ, kịp thời các chế độ, chính sách đối với người có công với cách mạng và thân nhân người có công; đẩy mạnh thực hiện các phong trào, hoạt động "đền ơn, đáp nghĩa", "uống nước nhớ nguồn", chú trọng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần đối với người có công.- Triển khai điều chỉnh trợ cấp đối với 91 người theo quy định về chế độ đối với cán bộ, chiến sĩ Công an tham gia kháng chiến chống Mỹ có dưới 20 năm công tác đã xuất ngũ về địa phương; thẩm định giải quyết chế độ cho 12 học sinh, sinh viên là con của người có công với cách mạng.2.2. Công tác giảm nghèo, bảo trợ xã hội và phòng chống các tệ nạn xã hội- Ban Chỉ đạo giảm nghèo các cấp đã triển khai công tác rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo và xác đinh hộ làm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp có mức sống trung bình năm 2022 trên địa bàn tỉnh. - Các huyện, thành phố thường xuyên rà soát, nắm chắc tình hình đời sống nhân dân, hỗ trợ kịp thời các hộ bị thiệt hại, gặp khó khăn do mưa lũ, hỏa hoạn, tai nạn rủi ro; duy trì chi trả trợ cấp thường xuyên cho trên 36.000 đối tượng bảo trợ xã hội tại cộng đồng. Nhân dịp Tháng hành động vì người cao tuổi và ngày Quốc tế người cao tuổi 01/10, các ngành thành viên Ban Công tác người cao tuổi tỉnh tỉnh đã thăm và trao tặng 67 suất quà người cao tuổi tiêu biểu.- Cơ sở cai nghiện ma túy tăng cường công tác quản lý đối tượng cai nghiện; tăng cường công tác điều trị, quản lý cai nghiện, tổ chức lao động sản xuất cho học viên phù hợp với điều kiện thực tế, kiên quyết xử lý nghiêm học viên lợi dụng tham gia lao động để sử dụng trái phép chất ma túy; tổ chức tiếp nhận 13 người nghiện ma tuý vào cai nghiện (cai nghiện bắt buộc 12 người, cai tự nguyện 01 người); cấp giấy chứng nhận hoàn thành cai nghiện cho 09 học viên; tiếp tục duy trì quản lý 125 học viên cai nghiện ma túy.3. Hoạt động giáo dục và đào tạoTỉnh đã tổ chức Lễ tuyên dương học sinh, sinh viên vượt khó tiêu biểu trên địa bàn tỉnh và trao 50 suất học bổng “Tân Trào tiếp sức đến trường”, mỗi suất trị giá 2 triệu đồng cho 50 tân sinh viên có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn tỉnh trúng tuyển đại học năm 2022; tuyên dương, khen thưởng 185 học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn vươn lên trong học tập năm học 2021-2022; trao sổ tiết kiệm cho 5 học sinh, sinh viên có hoàn cảnh đặc biệt.Tiếp tục thực hiện chương trình Giáo dục phổ thông 2018 đối với lớp 7, lớp 10 trong năm học mới 2022-2023. Các trường học đã chủ động triển khai hiệu quả các giải pháp nâng cao chất lượng dạy và học, thực hiện tốt công tác tuyên truyền, tập huấn cho cán bộ, giáo viên trong việc đổi mới phương pháp dạy học, đánh giá học sinh,..đẩy mạnh công tác tuyên truyền đến học sinh, phụ huynh và nhân dân để tạo sự đồng thuận khi thực hiện chương trình mới. Cùng với đó là tiếp tục triển khai, thực hiện nghiêm các quy định, hướng dẫn về công tác phòng, chống dịch Covid-19, đặc biệt là việc tiêm vắc-xin phòng Covid-19 đối với học sinh thuộc các lứa tuổi.4. Hoạt động y tế Về tình hình tiêm chủng vắc xin Covid-19 tính đến ngày 20/10/2022: Cộng dồn từ đợt 01 đến nay đã tiêm 2.163.424 mũi tiêm; trong đó: mũi 01: 699.069 người; mũi 02: 663.305 người; mũi 03: 510.478 người; mũi 04: 211.460 người.+ Tiêm cho người từ 18 tuổi trở lên tỷ lệ tiêm mũi 1 là 99,9%; tiêm đủ 2 mũi là 99,5%; tỷ lệ tiêm mũi 3 là 89,5%; hoàn thành tiêm mũi 4 cho các đối tượng ưu tiên, số người được tiêm mũi 04 là 211.460 người.+ Tiêm cho trẻ từ 12 đến dưới 18 tuổi: Tỷ lệ tiêm mũi 1 đạt trên 99,3%; tiêm đủ 02 mũi đạt 100%; tỷ lệ tiêm mũi 3 là 69,8%, tỷ lệ tiêm mũi 3 cao nhất là Yên Sơn (đạt 80,4%) thấp nhất là Chiêm Hóa (đạt 64,1%).+ Tiêm cho trẻ từ 05 đến dưới 12 tuổi: Tỷ lệ tiêm mũi 01 đạt 99,5%, tại các huyện, thành phố đạt tỷ lệ trên 85%; tiêm 02 mũi là 64,3%, hiện chưa có phản ứng phụ hoặc tai biến xảy ra.- Tình hình dịch bệnh Sốt xuất huyết trên địa bàn tỉnh có những diễn biến phức tạp. Tính từ cuối tháng 7 đến hết ngày 19 tháng 10, toàn tỉnh đã ghi nhận 909 ca mắc Sốt xuất huyết. Theo đánh giá của ngành Y tế, số ca mắc sốt xuất huyết trên địa bàn tỉnh đã tăng đột biến so với cùng kỳ năm 2021. Hiện dịch sốt xuất huyết tại vẫn diễn biến phức tạp, có nguy cơ bùng phát cao, đặc biệt trong thời tiết giao mùa. Đây là thời điểm thuận lợi để muỗi vằn truyền bệnh sinh sôi, tạo điều kiện cho dịch bùng phát. Tỉnh đã ban hành các văn bản chỉ đạo tăng cường công tác phòng, chống dịch bệnh. Đồng thời, tăng cường đào tạo, tập huấn, nâng cao năng lực giám sát, chẩn đoán, điều trị; phát hiện sớm, xử lý kịp thời các ca bệnh, ổ dịch; tiến hành truy vết, điều tra, quản lý ca bệnh, không để dịch bệnh lây lan ra cộng đồng; tổ chức tốt việc phân luồng, thu dung, cấp cứu, cách ly, chẩn đoán, chăm sóc và điều trị hiệu quả các ca bệnh, tránh lây nhiễm chéo; không để tình trạng thiếu thuốc, trang thiết bị, vật tư, sinh phẩm y tế ở các cơ sở khám chữa bệnh,...Triển khai công tác tuyên truyền bằng nhiều hình thức như: Đăng tải trên website, trên mạng xã hội, qua loa đài, và trên các phương tiện thông tin đại chúng và tại các cơ sở y tế,… khuyến cáo, người dân không chủ quan với bệnh Sốt xuất huyết, đặc biệt khi thấy các triệu chứng đau đầu, sốt, người mệt mỏi rũ rượi, đau họng, buồn nôn… cần đến ngay cơ sở y tế để được khám, tư vấn và điều trị kịp thời.5. Hoạt động văn hoá - thể dục, thể thao- Lĩnh vực văn hoá: Tiếp tục đẩy mạnh phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” gắn với chương trình xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh.- Về thể dục thể thao: Tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động ''Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại'' và các phong trào thể thao quần chúng và thể thao thành tích cao; chuẩn bị các điều kiện tổ chức giải Pencaksilat các Câu lạc bộ tỉnh Tuyên Quang năm 2022; tham gia thi đấu các môn thi thể thao trong Ngày hội văn hoá dân tộc Dao toàn quốc lần thứ II tại tỉnh Thái Nguyên, kết quả đạt: 01 huy chương Vàng và 05 huy chương Đồng môn Đẩy gậy, 01 huy chương Đồng môn kéo co nữ,...6. Hoạt động khácHưởng ứng Ngày Chuyển đổi số Quốc gia (10-10) tỉnh đã phát động phong trào thi đua chuyển đổi số tỉnh Tuyên Quang đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 và tổ chức lễ ký giao ước thi đua giữa các sở, ban, ngành về chuyển đổi số trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang năm 2022 với nhiệm vụ đẩy mạnh số hóa, góp phần nâng cao thứ hạng của tỉnh trên bảng xếp hạng chỉ số chuyển đổi số, hoàn thiện hệ thống hạ tầng thông tin, kết nối, chia sẻ thông tin, cung cấp dữ liệu phục vụ phát triển số, đổi mới, sáng tạo trong môi trường số, ưu tiên chuyển đổi số một số lĩnh vực như nông nghiệp, giao thông, vận tải và logistic, du lịch,…Tỉnh đã tổ chức Lễ ký kết Thỏa thuận hợp tác về chuyển đổi số với tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông Quân đội (Viettel) trên 6 lĩnh vực chủ yếu: Hợp tác triển khai các giải pháp tạo nền móng chuyển đổi số; Hợp tác phát triển hạ tầng số, nền tảng số; Tư vấn, hợp tác phát triển Chính quyền số; Tư vấn, hợp tác phát triển Kinh tế số; Tư vấn, hợp tác phát triển xã hội số; Tư vấn, hợp tác chuyển đổi số trong một số ngành, lĩnh vực ưu tiên.Nhân dịp kỷ niệm ngày Doanh nhân Việt Nam (13-10), tỉnh đã tổ chức lễ tôn vinh và trao tặng danh hiệu, giải thưởng doanh nhân, doanh nghiệp tiêu biểu lần thứ IV năm 2022. Tại buổi lễ, lãnh đạo tỉnh đã trao tặng danh hiệu và giải thưởng Doanh nhân, Doanh nghiệp tiêu biểu cho 6 doanh nhân và 9 doanh nghiệp.7. Tình hình trật tự, an toàn giao thôngTỉnh đã triển khai đợt cao điểm tuần tra, kiểm soát, xử lý lái xe vi phạm về nồng độ cồn. Theo đó, từ ngày 20-10 đến 14- 2- 2023, lực lượng chức năng sẽ tăng cường tuần tra, kiểm soát trên các tuyến quốc lộ, đường tỉnh, đường huyện, khu vực trung tâm thành phố, trung tâm huyện, tuyến đường thường xảy ra tai nạn giao thông. Qua đó, lực lượng sẽ tập trung kiểm tra, phát hiện, xử lý nghiêm những trường hợp lái xe ô tô chở khách, ô tô tải chở hàng hóa, xe container, xe ô tô kéo rơ moóc, ô tô con... vi phạm về nồng độ cồn và các vi phạm khác theo quy định pháp luật.  Trong tháng, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 08 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 05 người và làm bị thương 04 người. So với cùng kỳ năm trước: Số vụ tai nạn giao thông tăng 700%; số người bị thương tăng 300%.Tính chung 10 tháng, toàn tỉnh đã xảy ra 65 vụ tai nạn giao thông đường bộ, trong đó 64 vụ tai nạn giao thông đường bộ, 01 vụ vụ tai nạn giao thông đường thủy; làm chết 24 người và làm bị thương 52 người. So với cùng kỳ năm trước: Số vụ tai nạn giao thông tăng 3,17%; số người chết tăng 9,09%; số người bị thương giảm 5,45%.8. Thiệt hại do thiên tai, cháy, nổTrong tháng, trên địa bàn tỉnh không xảy ra các đợt thiệt hại do thiên tai và cháy, nổ.CỤC THỐNG KÊ TUYÊN QUANG