207.3 823 523 | ctk_tuyenquang@gso.gov.vn
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 9 và 9 tháng đầu năm 2025 tỉnh Tuyên Quang
  •   10/11/2025 22:13

Trong 9 tháng năm 2025, cùng với cả nước, tỉnh Tuyên Quang triển khai sáp nhập tỉnh và thực hiện mô hình chính quyền địa phương 02 cấp. Mặc dù gặp rất nhiều khó khăn, thách thức bởi tình hình chính trị, kinh tế thế giới và khu vực cùng với khó khăn nội tại của tình hình trong nước; thiên tai, bão lũ, dịch bệnh,... diễn biến bất thường, khó dự báo. Song, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo tập trung, thống nhất của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh; sự giám sát chặt chẽ của Hội đồng nhân dân tỉnh, Ủy ban nhân dân tỉnh đã chỉ đạo các sở, ngành, địa phương nhanh chóng ổn định tổ chức, tập trung cao độ vào nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Qua theo dõi và tổng hợp tình hình kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang tháng 9/2025 và 9 tháng đầu năm 2025, Thống kê tỉnh Tuyên Quang đánh giá tình hình kinh tế - xã hội thực hiện trên một số lĩnh vực chủ yếu như sau:I. PHÁT TRIỂN KINH TẾ  1. Tăng trưởng kinh tế 9 tháng đầu năm 20251.1. Tốc độ tăng trưởng GRDP trên địa bàn (giá so sánh 2010) 9 tháng đầu năm 2025Tốc độ tăng trưởng GRDP (giá so sánh năm 2010) trên địa bàn tỉnh tăng 6,83% so với cùng kỳ năm 2024, cụ thể của các lĩnh vực như sau: 1.1.1. Khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 5,17%; đóng góp 1,22 điểm phần trăm trong mức tăng chung của GRDP. Ngành nông nghiệp mặc dù còn gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng của thời tiết; thị trường tiêu thụ nông sản, giá vật tư đầu vào nhưng cũng đã vượt mọi khó khăn đạt mức tăng trưởng tương đối ấn tượng. Ngành nông nghiệp tăng 5,04%, đóng góp 0,92 điểm phần trăm; ngành lâm nghiệp tăng 4,85%, đóng góp 0,22 điểm phần trăm; ngành thủy sản tăng 10,12%, đóng góp 0,08 điểm phần trăm. 1.1.2. Khu vực Công nghiệp, xây dựng tăng 6,03%, đóng góp vào tốc độ tăng trưởng chung là 1,62 điểm phần trăm. Trong đó:- Ngành công nghiệp, tăng 7,15%, với mức đóng góp 1,21 điểm phần trăm (trong đó: Ngành khai khoáng tăng 3,74%, đóng góp 0,04 điểm phần trăm; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 13,55%, đóng góp 1,06 điểm phần trăm; sản xuất và phân phối điện tăng 1,67%, đóng góp 0,13 điểm phần trăm; cung cấp nước tăng trưởng âm 6,31%, tăng trưởng âm 0,02 điểm phần trăm). - Ngành xây dựng tăng 4,09%, đóng góp 0,40 điểm phần trăm trong khu vực. Với mục tiêu “lấy đầu tư công dẫn dắt đầu tư tư”, tập trung tháo gỡ khó khăn, vướng mắc về đất đai, tài nguyên môi trường, giải phóng mặt bằng các dự án đầu tư, nhất là các dự án trọng điểm của tỉnh như: Cao tốc Tuyên Quang - Hà Giang (giai đoạn 1); đường từ Khu du lịch suối khoáng Mỹ Lâm đến Quốc lộ 2D kết nối với đường cao tốc Tuyên Quang - Phú Thọ; Dự án đầu tư xây dựng đường từ thị trấn Sơn Dương đi Tân Trào; đường Minh Ngọc - Mậu Duệ (ĐT.176B); đường Yên Bình - Cốc Pài (ĐT 178); Bệnh viện Đa khoa tỉnh tại địa điểm mới và các dự án quan trọng khác. 1.1.3. Khu vực dịch vụ tăng 8,38%, đóng góp 3,76 điểm phần trăm. Trong khu vực dịch vụ, đóng góp của một số ngành có tỷ trọng lớn vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm như sau: Bán buôn, bán lẻ và sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy tăng 8,18%, đóng góp 0,41 điểm phần trăm; vận tải kho bãi tăng 15,18%, đóng góp 0,49 điểm phần trăm; lưu trú và ăn uống tăng 11,16%, đóng góp 0,28 điểm phần trăm; hoạt động tài chính ngân hàng và bảo hiểm tăng 8,08%, đóng góp 0,34 điểm phần trăm,…Ngay từ đầu năm tỉnh đã tổ chức các hoạt động xúc tiến, quảng bá du lịch có tiềm năng phát triển như du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, du lịch cộng đồng;…1.1.4. Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 4,89% (đóng góp 0,23 điểm phần trăm vào tốc độ tăng trưởng chung của nền kinh tế; 1.2. Quy mô và cơ cấu kinh tế 1.2.1. Quy mô tổng sản phẩmQuy mô tổng sản phẩm trên địa bàn 9 tháng đầu năm 2025 (giá hiện hành) ước đạt 65.626,5 tỷ đồng. 1.2.2. Cơ cấu kinh tếCơ cấu kinh tế tỉnh tiếp tục chuyển biến tích cực với chiều hướng tăng dần tỷ trọng khu vực dịch vụ, cụ thể như sau: Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 23,17%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 28,27%, trong cơ cấu nội hàm ngành công nghiệp đã có sự chuyển dịch theo hướng, giảm dần tỷ trọng công nghiệp khai thác, tăng dần tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo; khu vực dịch vụ chiếm 43,91%; thuế sản phầm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 4,65%.Nhìn chung, trong 9 tháng đầu năm 2025 các ngành kinh tế đều có sự chuyển dịch tích cực và tiếp tục đóng góp chủ yếu vào mức tăng trưởng GRDP của toàn tỉnh, chứng tỏ các giải pháp của tỉnh đã mang lại những hiệu quả giúp cho việc chuyển dịch cơ cấu đúng hướng và mang lại hiệu quả rõ rệt. Đây là sự chuyển dịch cơ cấu tích cực phù hợp với yêu cầu thúc đẩy nhanh sự tăng trưởng kinh tế.2. Tài chính, ngân hàng2.1. Tình hình thu, chi ngân sách nhà nước2.1.1. Thu ngân sách nhà nước: Tổng thu ngân sách nhà nước ước thực hiện là 5.600 tỷ đồng, tăng 18% so với cùng kỳ. Trong đó thu nội địa ước thực hiện là 5.083,7 tỷ đồng, tăng 11,9%.Một số khoản thu đạt khá là: Thu từ khu vực kinh tế ngoài quốc doanh là 1.355,3 tỷ đồng, tăng 2,6%; thuế Thu nhập cá nhân là 285,5 tỷ đồng, tăng 22,9%; thu phí – lệ phí là 403,9 tỷ đồng, tăng 40,9%;…Một số khoản thu thấp: Thu từ khu vực Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là 19,8 tỷ đồng, giảm 55,3%; các khoản thu về nhà đất đạt 949,9 tỷ đồng, giảm 24,2%,...2.1.2. Chi ngân sách nhà nước: Tổng chi ngân sách nhà nước là 27.048 tỷ đồng, tăng 12,6% so với cùng kỳ. Trong đó: Chi đầu tư phát triển 9.087,1 tỷ đồng, giảm 12,8%; chi thường xuyên 17.958,3 tỷ đồng, tăng 32,5%;...Tỉnh đã tập trung điều hành dự toán ngân sách nhà nước chủ động chỉ đạo các cơ quan chuyên môn triển khai kịp thời việc nhập dự toán vốn đầu tư cho các công trình, dự án, tạo điều kiện thuận lợi cho các ngành, đơn vị và các huyện, thành phố triển khai tổ chức thực hiện ngay từ đầu năm, đồng thời chỉ đạo việc tích cực đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án và tiến độ giải ngân vốn đầu tư năm 2025.2.2. Hoạt động tín dụng ngân hàng Tổng nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh ước thực hiện đến 30/9/2025 đạt 70.100 tỷ đồng, tăng 10.942 tỷ đồng (+18,5%) so với cùng kỳ. Tổng dư nợ ước thực hiện đến 30/9/2025, đạt 71.000 tỷ đồng, tăng 9.646 tỷ đồng (+15,7%) so với cùng kỳ, trong đó tập trung vào một số chương trình chính như: Cho vay nông nghiệp, nông thôn theo Nghị định số 55/2015/NĐ; hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa,... Tỷ lệ nợ xấu là 0,6%/tổng dư nợ.3. Giá cả - Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 9 năm 2025 tăng 0,37% so với tháng trước, tăng 2,74% so với cùng kỳ năm trước. Trong số 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính thì có 6 nhóm tăng giá so với tháng trước, 4 nhóm giảm giá và 1 nhóm giữ nguyên so với tháng trước là nhóm thuốc và dịch vụ y tế, cụ thể của các nhóm như sau:+ Có 6/11 nhóm hàng có chỉ số CPI tăng so với tháng trước, trong đó:Nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,12%, do thời tiết nắng nóng cùng với dịp lễ hội Trung thu nên nhu cầu sử dụng các loại bia, nước ngọt để giải khát của người dân tăng; nhóm may mặc, mũ nón và giày dép tăng 0,11% do một số mặt hàng giày, dép, quần áo vào đầu năm học mới và thời tiết giao mùa tăng giá; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 2,24%, do nhu cầu sử dụng điện, nước sinh hoạt của người dân tăng cùng với đó giá thuê nhà ở tăng cao; nhóm giao thông tăng 0,32% nguyên nhân chủ yếu là do giá xăng, dầu điều chỉnh tăng; nhóm giáo dục tăng 1,21% là do giá văn phòng phẩm, sách tham khảo đầu năm học mới tăng; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,18%.+ Có 04/11 nhóm giảm, trong đó: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,07%, chủ yếu là do giá thực phẩm giảm 0,2%; nhóm thiết bị và đồ dung gia đình giảm 0,05%; nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,06%; nhóm văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,4%.+ Chỉ số giá vàng tăng 7,92% so với tháng trước, tăng 51,13% so với cùng kỳ năm trước và tăng 40,71% so với tháng 12 năm trước. + Chỉ số giá đô la Mỹ giảm 0,42% so với tháng trước, tăng 6,10% so với cùng kỳ năm trước và tăng 3,30% so với tháng 12 năm trước.- CPI bình quân 9 tháng đầu năm 2025 tăng 2,49% so với cùng kỳ năm 2024. Một số nguyên nhân cơ bản đã tác động tăng CPI là những nguyên nhân chủ yếu sau: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 4,18%, chủ yếu do nhóm hàng lương thực tăng 2,59% (do giá gạo tăng), thực phẩm tăng 4,86% (do giá thịt gia súc tăng), ăn uống ngoài gia đình tăng 2,11%; đồ uống và thuốc lá tăng 1,87%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 8,65%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 10,98%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 3,60%,…. chỉ số giá vàng tăng 42,01%, giá đô la Mỹ tăng 3,67%.4. Vốn đầu tư và xây dựng 4.1. Tình hình thực hiện vốn đầu tư 4.1.1. Vốn đầu tư phát triển toàn xã hội Ước thực hiện quý III/2025 đạt 8.607 tỷ đồng, tăng 1,70% so với quý II/2025, tăng 7,74% so với quý cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng đầu năm 2025 ước đạt 22.781 tỷ đồng, tăng 3,97% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Nguồn vốn từ khu vực nhà nước ước đạt 7.016 tỷ đồng, giảm 1,90% so với cùng kỳ (chiếm 30,80% tổng nguồn vốn đầu tư); nguồn vốn đầu tư của dân cư và tư nhân ước đạt 13.606 tỷ đồng, tăng 7,22% (chiếm 59,73% tổng nguồn vốn) khu vực tư nhân chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong đầu tư phát triển toàn xã hội và giữ vai trò quan trọng trong tổng nguồn vốn, trong bối cảnh ngân sách nhà nước còn hạn hẹp rất cần các nguồn lực đầu tư từ khu vực tư nhân; vốn huy động khác ước đạt 1.670 tỷ đồng, tăng 37,21% (chiếm 7,33%); vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 65 tỷ đồng, giảm 0,48%;...4.1.2. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước- Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước thực hiện quý III/2025 đạt 2.728,5 tỷ đồng, tăng 10,72% so với cùng quý năm trước, trong đó: Vốn ngân sách cấp tỉnh đạt 2.116,8 tỷ đồng, tăng 7,02%; vốn ngân sách cấp xã đạt 611,7 tỷ đồng, tăng 25,75%.- Ước thực hiện 9 tháng đầu năm 2025 đạt 6.860,9 tỷ đồng, giảm 1,81% so với cùng kỳ, trong đó: Vốn ngân sách cấp tỉnh đạt 5.252,4 tỷ đồng, tăng 1,79%; vốn ngân sách cấp xã đạt 1.608,5 tỷ đồng, giảm 11,98%.4.2. Xây dựng Thực hiện quyết liệt, đồng bộ các biện pháp đẩy nhanh tiến độ thi công, giải ngân, trong đó tập trung tháo gỡ khó khăn, vướng mắc về đất đai, tài nguyên môi trường, giải phóng mặt bằng các dự án đầu tư, nhất là các dự án trọng điểm của tỉnh, như: Cao tốc Tuyên Quang - Hà Giang (giai đoạn 1); đường từ Khu du lịch suối khoáng Mỹ Lâm đến Quốc lộ 2D kết nối với đường cao tốc Tuyên Quang - Phú Thọ; Dự án đầu tư xây dựng đường từ thị trấn Sơn Dương đi Tân Trào; đường Minh Ngọc - Mậu Duệ (ĐT.176B); đường Yên Bình - Cốc Pài (ĐT 178); Bệnh viện Đa khoa tỉnh tại địa điểm mới và các dự án quan trọng khác. Giải ngân vốn đầu tư công (bao gồm cả 03 chương trình mục tiêu quốc gia) đến ngày 25/9/2025 đạt 5.024,83/16.796,65 tỷ đồng, đạt 29,92% kế hoạch; trong đó: (1) vốn kế hoạch năm 2024 kéo dài sang năm 2025: 621,46/1.693,72 tỷ đồng, đạt 36,7% kế hoạch; (2) vốn kế hoạch năm 2025: 4.403,37/15.102,92 tỷ đồng đạt 29,16% kế hoạch. Tổ chức thẩm tra quyết toán 205/333 công trình/dự án hoàn thành theo tiến độ nộp hồ sơ quyết toán của chủ đầu tư. 5. Hoạt động của doanh nghiệp5.1. Về tình hình hoạt động của doanh nghiệpTừ ngày 01/01/2025 đến 18/9/2025, đã cấp giấy chứng nhận đăng ký thành lập mới cho 548 doanh nghiệp (đạt 92,1% kế hoạch), với số vốn đăng ký trên 2.116,68 tỷ đồng; số doanh nghiệp hoạt động trở lại 156 doanh nghiệp; giải thể 72 doanh nghiệp, tạm ngừng 367 doanh nghiệp. Lũy kế đến ngày 18/9/2025 trên địa bàn tỉnh có 6.106 doanh nghiệp với tổng số vốn đăng ký trên 90.933,3 tỷ đồng (có 23 doanh nghiệp có 100% vốn đầu tư nước ngoài). Trong 9 tháng có 58 hợp tác xã thành lập mới với số vốn đăng ký 201,5 tỷ đồng; lũy kế toàn tỉnh có 1.616 hợp tác xã với số vốn đăng ký 4.577,2 tỷ đồng.Nhìn chung, số lượng doanh nghiệp thành lập mới tăng cao trong 9 tháng đầu năm cho thấy môi trường kinh doanh được cải thiện, thủ tục hành chính được quan tâm, tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong giải quyết thủ tục đầu tư, rút ngắn thời gian cấp phép kinh doanh, hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận nguồn lực đất đai, tín dụng. 5.2. Tình hình xu hướng kinh doanh của các doanh nghiệp ngành chế biến chế tạo quý III năm 2025Kết quả điều tra về xu hướng kinh doanh của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong quý III năm 2025 cho thấy: 28,07% số doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh quý III năm nay khả quan hơn quý trước; 47,37% doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh ổn định và có 24,56% số doanh nghiệp đánh giá gặp khó khăn trong sản xuất kinh doanh. Dự kiến xu hướng kinh doanh quý IV năm 2025 so với quý III cho thấy: Có 35,09% số doanh nghiệp đánh giá xu hướng sẽ tốt lên (trong đó có ngành: Sản xuất trang phục; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn; sản xuất kim loại); 40,35% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh sẽ ổn định (trong đó có ngành: sản xuất trang phục; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy); có 24,56% số doanh nghiệp dự báo tiếp tục khó khăn hơn. Dự tính chỉ số cân bằng của quý tiếp theo so với quý hiện tại là 10,53%.6. Kết quả tình hình sản xuất Nông, lâm nghiệp và thủy sản 9 tháng đầu năm 20256.1. Trồng trọt 6.1.1. Sản xuất vụ đông xuân năm 2025Vụ đông xuân luôn được xác định là một trong những vụ sản xuất mang lại thu nhập cao cho người dân, do vậy ngành nông nghiệp và các địa phương trong tỉnh đã khuyến khích, tạo điều kiện để người dân đưa các cây trồng ngắn ngày có năng suất, chất lượng cao vào sản xuất, được tháo gỡ kịp thời mang lại lợi ích về kinh tế giúp người dân thu hồi vốn sớm gia tăng thu nhập đảm bảo đời sống cho các hộ dân trên địa bàn.Thời gian gieo trồng vụ đông xuân 2025 tình hình thời tiết tương đối thuận lợi, cây trồng sinh trưởng và phát triển tốt. Tỉnh đã có nhiều những cơ chế, chính sách khuyến khích, phát triển cây vụ đông xuân, nhiều loại cây có liên kết trong sản xuất mang lại hiệu quả kinh tế cao, và sự chuyển đổi cơ cấu cây trồng do vậy ngành nông nghiệp và các địa phương trong tỉnh đã khuyến khích, tạo điều kiện để người dân đưa các cây trồng ngắn ngày có năng suất, chất lượng cao vào sản xuất; một số nhóm cây mở rộng diện tích đáp ứng nhu cầu thị trường tiêu thụ. Chú trọng hơn tới chất lượng ở các nhóm rau có giá trị kinh tế cao phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu tại một số thị trường truyền thống, góp phần gia tăng giá trị kinh tế và tạo động lực phát triển sản xuất bền vững.- Cây lúa: Diện tích đạt 27.886,9 ha, tăng nhẹ 0,43% so với cùng kỳ, ước tính năng suất lúa bình quân chung 60,06 tạ/ha, tăng 0,82% (tăng 0,49 tạ/ha). Sản lượng ước tính 167.496,1 tấn (tăng 1,26%) so với vụ đông xuân năm 2024. - Cây ngô: Trồng được 33.431,0 ha (bằng 98,02%) so với vụ đông xuân năm 2024; năng suất đạt 42,2 tạ/ha (tăng 6,65%); sản lượng 140.939,2 tấn (tăng 4,54%).- Cây khoai lang: năng suất đạt 77,48 tạ/ha, tăng 11,50 tạ/ha so với cùng kỳ năm 2024, sản lượng đạt 15.124,3 tấn, tăng 4,33% (tăng 628,28 tấn).- Cây đậu tương: năng suất đạt 15,59 tạ/ha, tăng 0,16 tạ/ha; sản lượng đạt 6.528,2 tấn, giảm 8,11% (giảm 576,03 tấn).- Cây lạc: năng suất đạt 28,29 tạ/ha, giảm 0,28 tạ/ha so với cùng vụ năm 2024; sản lượng đạt 24.254,4 tấn, giảm 1,63 tấn (giảm 402,04 tấn).6.1.2. Sản xuất vụ mùa năm 2025Công tác chỉ đạo, điều hành của các cấp, các ngành tiếp tục được quan tâm, góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển ổn định. Các địa phương tập trung đẩy nhanh tiến độ gieo trồng các cây vụ Mùa, cụ thể: - Cây lúa: Toàn tỉnh đã cấy được 52.300 ha (trong đó: Lúa lai 29.136 ha; lúa thuần 23.164 ha), giảm 1,05% so với cùng kỳ năm trước.- Cây ngô: Diện tích đã trồng 38.787 ha, giảm 0,64%.- Cây lạc: Diện tích đã trồng 4.870 ha, tăng 1,54%.- Cây đậu tương: Diện tích đã trồng 8.050 ha, tăng 6,95%.6.1.3 Cây lâu năma. Diện tíchTổng diện tích cây lâu năm 9 tháng đầu năm 2025 hiện có 59.471,52 ha, giảm 1,87% (giảm 1.131,74 ha ) so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chính do một phần lớn diện tích cây lâu năm đã bị già cỗi kém hiệu quả kinh tế (như cây cam, quýt, nhãn...) và một phần do nhà nước lấy đất mở đường (xã Bắc Quang) dẫn đến diện tích trồng cây lâu năm giảm so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể diện tích các nhóm cây như sau:Các loại quả có múi thuộc họ cam, quýt diện tích hiện có 16.420,07 ha, giảm 6,47% (1.135,49 ha). Trong đó: Cây cam 8.652,19 ha, giảm 15,49% (giảm 1.586,29 ha); cây quýt 295,66 ha, giảm 6,43% (giảm 20,32 ha); cây chanh 1.820,55 ha, tăng 13,11% (tăng 210,95 ha); cây bưởi 5.577,36 ha, tăng 4,71% (tăng 250,67 ha).Táo, mận và các loại quả có hạt như táo diện tích hiện có 3.566,49 ha, tăng 5,29% (tăng 179,03 ha), so với cùng kỳ năm 2024. Trong đó: Cây táo là 146,81 ha, tăng 9,20% (tăng 12,37 ha); cây mận là 1.448,81 ha, tăng 2,95%; cây lê 1.1309,43 ha, tăng 5,18%. Riêng cây táo diện tích tăng do Hợp tác xã Yên Phú thử nghiệm đưa vào trồng giống mới.Nhãn, vải diện tích hiện có 1.547,98 ha, Trong đó: Cây nhãn là 1.110,31 ha, tăng 0,37% (tăng 4,05 ha); cây vải là 437,67 ha, giảm 0,91% (giảm 4,02 ha).Cây chè: Toàn tỉnh diện tích hiện có 27.538,52 ha, giảm 1,06% (giảm 294,25 ha) so với cùng kỳ năm 2024. Nguyên nhân diện tích chè giảm là do một phần diện tích trồng chè của xã Bắc Quang nhà nước lấy đất sử dụng mục đích mở đường quốc lộ. Chia theo thành phần kinh tế: Tư nhân là 3.274,3 ha; cá thể là 24.264,22 ha.b. Sản lượngCác loại quả có múi thuộc họ cam, quýt diện tích hiện có các loại cây trong nhóm này vẫn giảm nhiều nhưng cùng với đó số diện tích mới đến thời kỳ cho sản phẩm lại vẫn tăng cao hơn so với cùng kỳ năm 2024. Như cây chanh ước đạt 2.812,15 tấn, tăng 5,79%; cây bưởi ước đạt 10.715,55 tấn, tăng 4,44%; cây ăn quả có múi khác ước đạt 67,23 tấn.Sản lượng táo ước đạt 392,98 tấn, tăng 5,70% so với cùng kỳ năm 2024; cây mận ước đạt 2.842,28 tấn, tăng 6,30%; cây lê ước đạt 3.246 tấn, tăng 4,62%.Sản lượng cây nhãn ước đạt 6.621,93 tấn, tăng 7,97%; cây vải ước đạt 2.377,05 tấn, tăng 7,82%.Sản lượng chè ước đạt 133.415,34 tấn, giảm 1,67% so với cùng kỳ năm 2024. Chia ra: Tư nhân là 32.445,89 tấn; cá thể là 100.969,45 tấn.6.2. Tình hình sinh vật gây hại Trong 9 tháng năm 2025, thời tiết, khí hậu ngày nắng, xen kẽ các đợt mưa dông khá thuận lợi để sâu bệnh phát triển gây hại. Lúa bị rầy nâu, rầy lưng trắng gây hại, sâu đục thân, sâu cuốn lá nhỏ, bọ xít dài gây hại, bọ xít đen, chuột... Trên cây chè bị nhiễm rầy xanh nhẹ, bọ trĩ, bọ xít, nhện đỏ; trên cây cam: Nhện đỏ, nhện trắng gây hại trung bình, nhện rám vàng; cây lâm nghiệp bệnh phấn trắng, bệnh lở cổ rễ, sâu ăn lá... các ngành chức năng đã hướng dẫn và chỉ đạo bà con nông dân phòng trừ kịp thời, có hiệu quả, không để dịch bệnh hại nặng cây trồng.6.3. Về chăn nuôi Tiếp tục phát triển chăn nuôi trong 9 tháng đầu năm 2025. Tỉnh đã kịp thời ban hành các chính sách hỗ trợ khuyến khích các hộ dân phát triển chăn nuôi tăng dần các hộ có quy mô lớn, chăn nuôi tập trung đồng thời áp dụng kỹ thuật tiên tiến, giảm dần các hộ nuôi nhỏ lẻ, từng bước đưa chăn nuôi phát triển bền vững. Dự ước 9 tháng đầu năm 2025, đàn trâu, bò, gia cầm trên địa bàn tỉnh phát triển ổn định.Đàn lợn trong 9 tháng năm 2025 bệnh dịch tả lợn Châu phi bùng phát mạnh ở nhiều xã trên địa bàn tỉnh và phát sinh một số dịch bệnh khác tại một số địa phương trong tỉnh dịch bệnh gia súc, gia cầm phát sinh nhưng mức độ thiệt hại không đáng kể; sản lượng sản phẩm chăn nuôi có sự tăng nhẹ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng thực phẩm trong tỉnh.6.3.1. Về số lượng đàn gia súc, gia cầm - Đàn trâu: Tổng đàn là 222.378 con, giảm 2,03% (giảm 4.606 con) so với cùng kỳ năm 2024.- Đàn bò: Tổng đàn là 174.771 con, tăng 3,55% (tăng 5.999 con). Trong đó: Bò sữa 6.593 con, giảm 0,72% (giảm 48 con).- Đàn lợn: Tổng đàn là 1.065.305 con, giảm 1,52% (giảm 15.494 con).- Đàn gia cầm: Tổng đàn là 13.543,04 nghìn con, tăng 3,19% (tăng 419,07 nghìn con). Trong đó: Đàn gà là 11.854,85 nghìn con, tăng 4,40% (tăng 499,51 nghìn con).6.3.2. Về sản phẩm đàn gia súc, gia cầm Ước 9 tháng đầu năm 2025, đàn trâu sản lượng đạt 9.882 tấn, tăng 4,06% so với cùng kỳ năm 2024; đàn bò đạt 5.146 tấn, tăng 6,84%; đàn lợn đạt 89.671 tấn, tăng 6,41%; đàn gia cầm đạt 27.082 tấn, tăng 6,57%.Trong 9 tháng đầu năm, chăn nuôi gia cầm trên địa bàn tỉnh luôn được các ngành chức năng quan tâm và phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về thịt gia cầm; trên địa bàn tỉnh đã xuất hiện nhiều mô hình trang trại chăn nuôi gia cầm tiên tiến chủ yếu chăn nuôi gà, theo hướng liên kết hiệu quả kinh tế cao.6.4. Công tác phòng chống dịch bệnh gia súc, gia cầm6.4.1. Công tác phòng chống và điều trịTiếp tục chỉ đạo các Trạm Chăn nuôi, Thú y và Thuỷ sản khu vực phối hợp với UBND các xã, phường theo dõi chặt chẽ tình hình dịch bệnh gia súc, gia cầm, thuỷ sản trên địa bàn tỉnh, đặc biệt các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm như bệnh Dịch tả lợn Châu Phi. Triển khai thực hiện đồng bộ các giải pháp phòng, chống dịch bệnh động vật.6.4.2. Công tác tiêm phòng: Trong 9 tháng đầu năm 2025 các xã trong tỉnh tiếp tục triển khai công tác tiêm phòng bổ sung cho đàn gia súc, gia cầm, kết quả tiêm phòng:+ Đàn trâu: 229.420 lượt tiêm, trong đó: Vắc xin LMLM 151.093 con, đạt 78,5% kế hoạch; Vắc xin THT 70.852 con, đạt 71,7%; Vắc xin VDNC 4.217 con, đạt 8,6%.+ Đàn bò: 197.413 lượt tiêm, trong đó: Vắc xin LMLM 131.535 con, đạt 81,5% kế hoạch; Vắc xin THT 55.500 con, đạt 75,0%; Vắc xin VDNC 10.378 con, đạt 18,3%.+ Đàn lợn: 936.438 lượt tiêm, trong đó: Vắc xin LMLM 80.729 con, đạt 86,3% kế hoạch; Vắc xin THT 447.358 con, đạt 88,0%; Vắc xin Dịch tả lợn 406.951 con, đạt 85,6%.+ Đàn gia cầm: 8.767.055 lượt tiêm, trong đó: Vắc xin THT 3.542.275 con, đạt 84,5% kế hoạch; Vắc xin Niu cát sơn, Lasota 4.305.478 con, đạt 89,11%; Vắc xin Cúm gia cầm 861.876 con, đạt 16,6%; Vắc xin Dịch tả vịt 57.426 con, đạt 124%.+ Đàn chó: 56.505 lượt con, đạt 48,7%.6.5. Công tác kiểm dịch vận chuyển động vật và công tác kiểm soát giết mổKiểm dịch vận chuyển ngoại tỉnh: Tiếp tục thực hiện chặt chẽ đúng quy định công tác kiểm dịch vận chuyển ngoài tỉnh, kết quả: Tháng 9/2025, Đã kiểm tra cấp 359 giấy chứng nhận kiểm dịch vận chuyển, trong đó: 189 chuyến, vận chuyển 15.844 con gia súc, gia cầm; 170 chuyến vận chuyển 3.249.000 kg sữa tươi nguyên liệu. Lũy kế từ đầu năm đến nay đã cấp 3.011 giấy chứng nhận kiểm dịch vận chuyển, trong đó: 1.513 chuyến vận chuyển 203.536 con gia súc, gia cầm và 5.760 con cá giống; 1.491 chuyến vận chuyển 28.204.500 kg sữa tươi nguyên liệu và 16.040 kg sản phẩm động vật chế biến làm thức ăn chăn nuôi, các lô hàng được vận chuyển đi các tỉnh: Bắc Ninh, Hà Nội, Hà Nam, Hà Giang, Nam Định...6.6. Về sản xuất lâm nghiệp 6.6.1. Công tác trồng rừng Tiếp tục tuyên truyền, vận động nhân dân tích cực tham gia thực hiện kế hoạch trồng rừng năm 2025; các ngành chức năng tăng cường công tác kiểm tra, kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm những trường hợp lấn chiếm, sử dụng đất lâm nghiệp sai mục đích trên địa bàn quản lý. Tính đến ngày 15/9/2025 toàn tỉnh đã trồng được 15.594,09 ha rừng, đạt 102% kế hoạch, trong đó: Trồng rừng tập trung 14.002,02 ha, trồng cây phân tán: 1.887.78 nghìn cây (tương đương 1.591,89 ha).6.6.2. Khai thác gỗ rừng trồng  9 tháng năm 2025, toàn tỉnh đã khai thác được 10.923,29 ha gỗ (chủ yếu là rừng trồng), sản lượng trên 1.092.3 nghìn m3, đạt 77 % kế hoạch.6.6.3. Công tác quản lý bảo vệ rừng9 tháng năm 2025, Chi cục Kiểm lâm tỉnh đã thường xuyên kiểm tra và thông báo cho các địa phương những diện tích rừng có khả năng xảy ra cháy rừng. Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng tiếp tục được tăng cường. Trong 9 tháng năm 2025 trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 27 vụ cháy rừng, tổng diện tích rừng bị cháy 64,72 ha; số vụ phá rừng 33 vụ, với diện tích 10,80 ha.6.7. Về thuỷ sảnLà tỉnh miền núi có nhiều sông, ngòi, là điều kiện thuận lợi để phát triển nhiều loại hình nuôi trồng thủy sản, đa dạng hóa đối tượng nuôi và phương thức nuôi trồng. Nuôi cá lồng trên sông, hồ chứa nhiều tiềm năng, lợi thế để phát triển đem lại hiệu quả kinh tế cao vừa tận dụng được tài nguyên đất đai, nguồn nước, giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho các hộ nông dân. Bên cạnh đó việc thực hiện cơ chế, chính sách cho vay vốn phát triển cá đặc sản (cá Anh vũ, Chiên, Lăng, Bỗng...) để khuyến khích các hộ dân, doanh nghiệp đầu tư, mở rộng quy mô, phát triển mạnh số lượng lồng nuôi các đặc sản trên sông, hồ thủy điện được tỉnh và các địa phương quan tâm, đặc biệt là phát triển lồng nuôi có kích thước lớn (trên 100 m3).Tổng diện tích nuôi trồng thủy sản ước tính là 5.595,6 ha, giảm 1,73% so với cùng kỳ năm 2024.Sản lượng nuôi trồng thủy sản 9 tháng ước đạt 11.490,45 tấn, tăng 8,95% so với cùng kỳ năm 2024 (trong đó: Cá đạt 11.467,95 tấn, tăng 8,92%; thủy sản khác đạt 16,4 tấn, tăng 16,43%). Sản lượng khai thác ước đạt 1.847,3 tấn, tăng 16,90%.Tình hình sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản 9 tháng đầu năm 2025 vẫn duy trì ở mức ổn định. Trong đó, một số ngành như chăn nuôi phát triển cơ bản ổn định, tiến độ gieo trồng của một số loại cây trồng có tăng so với cùng kỳ năm trước... Đây là cơ sở để bảo đảm nguồn cung lương thực, thực phẩm cho người dân trên địa bàn.7. Sản xuất công nghiệp7.1. Về phát triển công nghiệp trong tháng - Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) trong tháng tăng 1,97% so với tháng trước, tăng 9,82% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Ngành sản xuất và và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí giảm 9,86%, giảm 2,52%; khai khoáng giảm 14,92%, giảm 13,83%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 13,67%, tăng 22,49%; cung cấp nước và hoạt động thu gom xử lý rác, nước thải giảm 2,09%, giảm 1,10%.- Trong tháng, một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng so với tháng trước và tăng so với cùng kỳ năm trước như: Cát tự nhiên đạt 17.878 m3, tăng 2,06%, tăng 36,08%; chè (trà) nguyên chất đạt 1.791 tấn, tăng 46,81%, tăng 36,46%; cấu kiện làm sẵn cho xây dựng đạt 1.367 tấn, tăng 20,30%, tăng 14,62%;...Tuy nhiên, cũng có một số sản phẩm công nghiệp giảm so với tháng trước và giảm so với cùng kỳ như: Quặng sắt đạt 4.014 tấn, giảm 43,09%, giảm 70,97%; bột Felspat đạt 9.000 tấn, giảm 3,23%, giảm 3,18%;…7.2. Về phát triển công nghiệp trong quý III/2025- Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) quý III/2025 ước tính tăng 4,60% so với quý cùng kỳ, trong đó: Sản xuất và phân phối điện tăng 0,02%; cung cấp nước và xử lý rác, nước thải giảm 0,65%; khai khoáng giảm 11,68%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,86%.- Trong quý III/2025 một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu của tỉnh đạt mức tăng trưởng khá so với quý cùng kỳ như: Cát tự nhiên tăng 26,05%; bột Felspat tăng 4,56%; xi măng tăng 2,13%; giày dép thể thao có mũ bằng da tăng 5,31%;…Tuy nhiên, cũng có một số sản phẩm công nghiệp giảm so với quý cùng kỳ như: Điện sản xuất giảm 1,28%; chè chế biến giảm 6,59%; bột barit giảm 49,32%;…7.3. Về phát triển công nghiệp 9 tháng đầu năm 2025- Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp 9 tháng đầu năm 2025 tăng 6,71% so với cùng kỳ năm trước, Chia theo từng ngành kinh tế cấp I như sau:+ Ngành khai khoáng tăng 0,33%. Nguyên nhân chủ yếu là nhu cầu tiêu thụ những tháng gần đây tăng, làm tăng sản lượng khai thác của các doanh nghiệp sản xuất bột felspat nghiền so cùng kỳ.+ Ngành sản xuất và phân phối điện tăng 2,07%, nguyên nhân do lượng mưa nhiều hơn so với cùng kỳ năm trước, các nhà máy thủy điện đã phải đảm bảo hồ đập, đảm bảo lượng nước đủ để cung cấp điện lâu dài, đáp ứng đủ nhu cầu sản xuất và cung ứng điện cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, và nước sinh hoạt của các hộ dân trên phạm vi toàn tỉnh.+ Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,58%, trong đó: Sản xuất chế biến thực phẩm tăng 5,94%; dệt tăng 63,76%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 22,75%; sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 76,88%; giường, tủ, bàn, ghế tăng 28,35%,...+ Ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải giảm 1,92%: nguyên nhân: Do hoạt động thu gom, xử lý và tiêu hủy rác thải giảm so với cùng kỳ.- Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng so với cùng kỳ năm trước như: Điện sản xuất tăng 0,55%; bột Felspat tăng 16,75%; xi măng tăng 10,63%; giày, dép thể thao có mũ bằng da tăng 22,75%;… Tuy nhiên, một số sản phẩm công nghiệp có chiều hướng giảm so với cùng kỳ như: Áo sơ mi cho người lớn giảm 23,81%; bột barit giảm 52,43%;…Nhìn chung, các doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất trong lĩnh vực công nghiệp hoạt động ổn định, tiếp tục tập trung thu hút đầu tư phát triển các cụm công nghiệp trên trên địa bàn tỉnh. Rà soát, đôn đốc tiến độ xây dựng hạ tầng Cụm công nghiệp Ninh Lai -Thiện Kế, An Hòa - Long Bình An, Xuân Vân, Phúc Ứng 2. Thành lập mới 03 Cụm công nghiệp (Phúc Ứng 2, Phúc Ứng 3 và Nhữ Khê). Đề xuất lựa chọn Cụm công nghiệp Phúc Ứng 2 thí điểm theo mô hình Cụm công nghiệp thông minh trên địa bàn tỉnh. 8. Thương mại và Dịch vụHoạt động thương mại, dịch vụ và vận tải trên địa bàn tỉnh trong những tháng đầu năm diễn ra sôi động, tăng trưởng khá so với cùng kỳ; tỉnh đã chỉ đạo theo dõi sát diễn biến giá cả, ổn định thị trường, kiểm soát lạm phát; thành lập Tổ công tác của tỉnh kiểm tra, giám sát mở đợt cao điểm đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trên địa bàn. 8.1. Doanh thu bán lẻ hàng hóa Doanh thu bán lẻ hàng hóa trong tháng ước đạt 4.418 tỷ đồng, tăng 2,89% so với tháng trước, tăng 9,92% so với tháng cùng kỳ. Trong đó, một số nhóm hàng tăng so với tháng trước, tăng so với cùng kỳ, cụ thể như sau: Hàng lương thực, thực phẩm đạt 1.432 tỷ đồng, tăng 5,04%, tăng 1,12%; may mặc đạt 319 tỷ đồng, tăng 3,57%, tăng 19,44%; đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình đạt 437 tỷ đồng, tăng 2,92%, tăng 2,68%;…Ở chiều ngược lại, nhóm xăng, dầu các loại ước đạt 426 tỷ đồng, giảm 4,19% so với cùng kỳ,…Tính chung trong quý III/2025, doanh thu bán lẻ hàng hóa ước đạt 12.886 tỷ đồng, tăng 11,34% so với quý cùng kỳ. Tính trong 9 tháng đầu năm 2025, doanh thu bán lẻ hàng hóa ước đạt 37.168 tỷ đồng, tăng 12,69% so với cùng kỳ.8.2. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ khác- Trong tháng, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 557 tỷ đồng, tăng 4,8% so với tháng trước, tăng 31,71% so với cùng kỳ. Trong đó: Dịch vụ lưu trú đạt 56 tỷ đồng, tăng 8,29%, tăng 38,85%; ăn uống đạt 501 tỷ đồng, tăng 4,43%, tăng 30,67%. Tính chung trong quý III/2025 dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 1.597 tỷ đồng, tăng 16,76% so với quý cùng kỳ. Tính trong 9 tháng đầu năm 2025, dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 4.701 tỷ đồng, tăng 15,61% so với cùng kỳ.- Trong tháng, doanh thu du lịch lữ hành ước đạt 4 tỷ đồng, tăng 5,32% so với tháng trước, tăng 87,38% so với cùng kỳ. Tính chung trong quý III/2025 du lịch lữ hành ước đạt 10 tỷ đồng, tăng 52,34% so quý cùng kỳ. Tính trong 9 tháng đầu năm 2025 du lịch lữ hành ước đạt 36 tỷ đồng, tăng 54,06%.- Doanh thu dịch vụ khác trong tháng ước đạt 227 tỷ đồng, tăng 6,05% so với tháng trước, tăng 26,43% so với cùng kỳ. Tính chung trong quý III/2025 dịch vụ khác ước đạt 644 tỷ đồng, tăng 12,07% so quý cùng kỳ. Tính trong 9 tháng đầu năm 2025, dịch vụ khác ước đạt 1.938 tỷ đồng, tăng 13,15% so với cùng kỳ. 8.3. Xuất, nhập khẩu hàng hóaThường xuyên nắm bắt tình hình, kịp thời hỗ trợ các doanh nghiệp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu trong bối cảnh thị trường thế giới có nhiều biến động. Hoạt động xuất, nhập khẩu trong tháng diễn ra thuận lợi, đảm bảo an ninh trật tự và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp, tư thương giao lưu buôn bán, cửa khẩu quốc tế Thanh Thủy - đầu mối giao thương chính với tỉnh Vân Nam (Trung Quốc). Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa trong 9 tháng đầu năm 2025 ước đạt 568,8 triệu USD, tăng 97,4% so với cùng kỳ. Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa 9 tháng ước đạt 153,5 triệu USD, tăng 58,7% so với cùng kỳ. Một số mặt hàng nhập khẩu chính được dùng làm nguyên liệu phục vụ sản xuất hàng may mặc tiếp tục tăng, cho thấy những dấu hiệu trong phục hồi trong sản xuất may mặc. 9. Vận tải hàng hóa và hành khách Từ đầu năm đến nay, nhu cầu đi du lịch, lễ hội và vận chuyển hàng hóa của người dân tăng cao; ngành chức năng đã chỉ đạo các đơn vị quản lý giao thông, Bến xe khách, các doanh nghiệp, hợp tác xã và các hộ kinh doanh cá thể vận tải trên địa bàn tỉnh chuẩn bị đầy đủ phương tiện, bảo đảm phục vụ nhu cầu đi lại của nhân dân được thuận lợi, an toàn,... chú trọng, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát về việc kê khai, niêm yết giá; xử lý các hành vi vi phạm quy định pháp luật về bảo đảm trật tự, an toàn giao thông, vi phạm nồng độ cồn, chở quá khổ, quá tải, quá số người quy định, phương tiện không bảo đảm an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường...9.1. Doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải- Doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải tháng 9 ước đạt 508,91 tỷ đồng, tăng 4,50% so với tháng trước, tăng 13,46% so với cùng kỳ. Trong đó, vận tải hành khách ước đạt 102,53 tỷ đồng, tăng 8,23%, tăng 9,90%; vận tải hàng hóa ước đạt 404,29 tỷ đồng, tăng 3,60%, tăng 14,40%; kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 1,43 tỷ đồng, tăng 1,60%, tăng 17,83%; bưu chính, chuyển phát đạt 0,67 tỷ đồng, tăng 5,86%, tăng 0,67%. - Ước thực hiện quý III/2025 doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 1.495,56 tỷ đồng, tăng 15,20% so với quý cùng kỳ. Trong đó, vận tải hành khách ước đạt 293,82 tỷ đồng, tăng 6,31%; vận tải hàng hóa ước đạt 1.195,58 tỷ đồng, tăng 17,62%; kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 4,27 tỷ đồng, tăng 20,60%; bưu chính, chuyển phát đạt 1,88 tỷ đồng, tăng 2,36%. - Tính chung, trong 9 tháng đầu năm 2025, doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 4.682,81 tỷ đồng, tăng 18,88% so với cùng kỳ. Trong đó, doanh thu vận tải hành khách ước đạt 967,74 tỷ đồng, tăng 20,49%; vận tải hàng hóa ước đạt 3.694,25 tỷ đồng, tăng 18,48%; kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 14,96 tỷ đồng, tăng 17,52%; bưu chính, chuyển phát đạt 5,86 tỷ đồng, tăng 15,04%. 9.2. Vận tải hành khách và hàng hóa9.2.1. Vận tải hành khách- Hành khách vận chuyển trong tháng 9 ước đạt 1,60 triệu lượt hành khách, tăng 4,50% so với tháng trước, tăng 3,87% so với cùng kỳ; khối lượng hành khách luân chuyển ước đạt 147,19 triệu lượt hành khách.km, tăng 6,38%, tăng 6,88%.- Ước thực hiện quý III/2025, hành khách vận chuyển ước đạt 4,73 triệu lượt hành khách, tăng 5,58% so với quý cùng kỳ; hành khách luân chuyển ước đạt 420,81 triệu lượt hành khách.km, tăng 5,67%.- Tính chung trong 9 tháng, hành khách vận chuyển ước đạt 15,57 triệu lượt hành khách, tăng 18,59% so với cùng kỳ; hành khách luân chuyển ước đạt 1.309,59 triệu lượt hành khách.km, tăng 17,96%.9.2.2. Vận tải hàng hóa- Hàng hóa vận chuyển trong tháng 9 ước đạt 2,56 triệu tấn, tăng 5,28% so với tháng trước, tăng 14,13% so với cùng kỳ; hàng hóa luân chuyển ước đạt 163,22 triệu tấn.km, tăng 4,19%, tăng 15,72%. - Ước thực hiện quý III/2025, hàng hóa vận chuyển ước đạt 7,62 triệu tấn, tăng 14,79% so với quý cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 482,64 triệu tấn.km, tăng 17,88%.- Tính chung trong 9 tháng, hàng hóa vận chuyển ước đạt 24,50 triệu tấn, tăng 18,74% so với cùng kỳ; hàng hóa luân chuyển ước đạt 1.521,95 triệu tấn.km, tăng 17,77%.10. Về du lịch Tổ chức thành công Khai mạc năm du lịch tỉnh Tuyên Quang 2025. Triển khai Kế hoạch tái đánh giá Công viên địa chất toàn cầu Cao nguyên đá Đồng Văn năm 2026; Quyết định số 763/QĐ-TTg ngày 15/4/2025 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt nhiệm vụ lập quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi Danh lam thắng cảnh quốc gia đặc biệt Khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang - Lâm Bình; Kế hoạch tổ chức Trưng bày, giới thiệu tinh hoa ẩm thực Việt và Lễ hội bia Hà Nội năm 2025; phối hợp với Tổng cục Kinh tế Liên bang Thụy Sỹ, Dự án Helvetas Việt Nam tổ chức khởi công Dự án tu bổ, phục dựng, phát triển làng văn hóa du lịch thôn Lùng Hẩu, xã Lùng Tám. Tháng 9 năm 2025, ước toàn tỉnh đón 323.452 lượt khách du lịch (trong đó 35.452 lượt khách quốc tế, 288.000 lượt khách khách nội địa); tổng chi tiêu khách du lịch ước đạt 860,2 tỷ đồng.Quý III năm 2025 ước đón 953.868 lượt khách du lịch (trong đó 90.084 lượt khách quốc tế; 863.784 lượt khách nội địa), tổng chi tiêu từ khách du lịch đạt 2.514 tỷ đồng.Trong 9 tháng năm 2025, toàn tỉnh ước đón 2.979.748 lượt khách du lịch (trong đó: 388.474 lượt khách quốc tế, 2.591.274 lượt khách nội địa), đạt 82,8% kế hoạch; tổng chi tiêu khách du lịch ước đạt 8.026,2 tỷ đồng, đạt 85,2% kế hoạch.II. LĨNH VỰC VĂN HÓA - XÃ HỘI 1. Về lao động việc làmCác giải pháp tạo việc làm mới đã được tỉnh Tuyên Quang thực hiện hiệu quả trong thời gian qua gồm: tăng cường các hoạt động liên kết trong đào tạo nghề, tư vấn, tìm kiếm giới thiệu việc làm mới, thu hút đầu tư trên địa bàn tỉnh...Tại các cơ sở đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh, công tác tuyển sinh đã ngày càng gắn với nhu cầu xã hội. Nhiều ngành nghề có tỷ lệ xin được việc làm cao, phù hợp với thực tế địa phương đã thu hút được nhiều lao động nông thôn theo học. Tiêu biểu như: Công nghệ ô tô, điện công nghiệp, vận hành máy thi công nền;…Triển khai Kế hoạch thực hiện thu thập, cập nhật, chỉnh sửa thông tin về người lao động gắn với cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư trên địa bàn tỉnh năm 2025. Tiếp tục thực hiện các giải pháp hỗ trợ, tạo việc làm cho người lao động; hướng dẫn, thực hiện cấp giấy phép lao động cho người nước ngoài; ước tháng 9 năm 2025 tạo việc làm cho 2.226 lao động, quý III tạo việc làm cho 4.495 lao động, lũy kế 9 tháng tạo việc làm cho 33.928 lao động, đạt 80,8% kế hoạch.2. Đời sống dân cư Từ đầu năm đến nay, tình hình đời sống dân cư trên địa bàn tỉnh tiếp tục ổn định. Giá cả các mặt hàng thiết yếu không có biến động lớn, duy trì sự bình ổn. Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong các khu, cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh cơ bản đạt kế hoạch đề ra, đa số doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả và phát triển, không xảy ra tình trạng cắt giảm giờ làm, nghỉ việc, nghỉ luân phiên và chấm dứt hợp đồng với người lao động, đời sống của người lao động trong các công ty đang dần được cải thiện.Tiếp tục triển khai, thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững năm 2025; Thành lập BCĐ rà soát hội nghèo, hộ cận nghèo trên địa bàn tỉnh năm 2025; triển khai Kế hoạch rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ làm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp có mức sống trung bình cuối năm 2025.Hoàn thành Kế hoạch xóa nhà tạm, nhà dột nát cho hộ gia đình có người có công với cách mạng, hộ nghèo, hộ cận nghèo và hộ gia đình khó khăn về nhà ở; số nhà đã hoàn thành đưa vào sử dụng 15.064 nhà, đạt 100% kế hoạch.3. Công tác người có công, giảm nghèo, bảo trợ xã hội và phòng chống tệ nạn xã hội Tổ chức thăm và tặng quà các gia đình chính sách người có công với cách mạng và thân nhân người có công nhân dịp: Tết Nguyên đán Ất Tỵ năm 2025 ; kỷ niệm 50 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước ; kỷ niệm 78 năm ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947-27/7/2025) ; kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Thực hiện tốt công tác chăm lo đời sống cho các đối tượng chính sách; duy trì trả trợ cấp thường xuyên cho 9.000 đối tượng người có công, thân nhân người có công và đối tượng chính sách khác đang hưởng trợ cấp hàng tháng trên địa bàn tỉnh; giải quyết chính sách, chế độ người có công và đối tượng chính sách khác cho 1.500 đối tượng, với tổng kinh phí 34.777,29 triệu đồng . Duy trì công tác tiếp nhận, quản lý, điều trị, cai nghiện cho người nghiện ma túy tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh, tại thời điểm báo cáo Cơ sở đang quản lý tổng 243 học viên cai nghiện ma túy bắt buộc. Cai nghiện bắt buộc 233 học viên, cai nghiện tự nguyện 10 học viên.4. Hoạt động giáo dục và đào tạoThực hiện tổng kết năm học 2024-2025 và triển khai thực hiện Kế hoạch năm học mới 2025-2026. Tổ chức Lễ Khởi động Dự án xây dựng Trường Phổ thông Nội trú liên cấp Tiểu học và Trung học cơ sở Thanh Thủy theo Công điện số 136/CĐ-TTg ngày 14/8/2025 của Thủ tướng Chính phủ. Triển khai công tác đầu tư xây dựng 05 trường phổ thông nội trú liên cấp tiểu học và trung học cơ sở cho các xã biên giới trên địa bàn tỉnh. Đảm bảo các yêu cầu về cơ sở vật chất, trang thiết bị, đội ngũ giáo viên khi số lượng lớn học sinh di chuyển theo bố mẹ về trung tâm tỉnh sau hợp nhất . Công tác xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia tiếp tục được quan tâm, tỉ lệ trường đạt chuẩn quốc gia toàn tỉnh đạt 64,7% (mầm non đạt 64,4%; tiểu học đạt 74,2%; THCS đạt 61,5%; THPT đạt 45,3%). Kết quả tuyển sinh đại học có chuyển biến tích cực, đến thời điểm hiện tại có 8.206/17.506 học sinh đỗ đại học trên tổng số học sinh dự thi tốt nghiệp THPT năm 2025, đạt tỉ lệ 47% (cao nhất từ trước đến nay). Tiếp tục củng cố, ổn định mạng lưới giáo dục nghề nghiệp ; toàn tỉnh có 08 cơ sở giáo dục nghề nghiệp, trong đó có 03 cơ sở giáo dục nghề nghiệp được đầu tư đào tạo 15 ngành, nghề trọng điểm.5. Hoạt động y tế Tiếp tục nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh, nâng cao y đức, chăm sóc sức khỏe cho nhân dân; tăng cường giám sát công tác mua thuốc, dược liệu, vật tư, sinh phẩm và hóa chất xét nghiệm cho các cơ sở y tế công lập trong tỉnh; thực hiện tốt các chương trình y tế tại cơ sở; công tác vệ sinh an toàn thực phẩm . Trong tháng 9 tổ chức khám, chữa bệnh cho 268.283 lượt người; quý III khám, chữa bệnh 755.660 lượt người; lũy kế 9 tháng khám, chữa bệnh 1.858.505 lượt người. Sử dụng ứng dụng VNeID trong Khám chữa bệnh bảo hiểm y tế tại các cơ sở y tế trên địa bàn tỉnh 119.591/125.533 trường hợp đạt 95,25%. Thực hiện tốt việc cung cấp vắc xin, dụng cụ và đảm bảo chất lượng, an toàn tiêm chủng; tỷ lệ trẻ em dưới 01 tuổi được tiêm đủ các loại vắc xin đạt 63,1% kế hoạch. Tỷ lệ người dân có thẻ bảo hiểm y tế đạt 95,8%. Duy trì công tác tuyên truyền vận động kế hoạch hóa gia đình, lồng ghép với thực hiện dịch vụ sức khỏe sinh sản tại cộng đồng.6. Hoạt động văn hoá, thể dục, thể thao- Lĩnh vực văn hoá: Tổ chức thành công các hoạt động, sự kiện văn hóa, nghệ thuật chào mừng kỷ niệm các ngày lễ lớn của đất nước, sự kiện chính trị quan trọng của tỉnh ; tổ chức tuyên truyền Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh, nhiệm kỳ 2025 - 2030 và Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng;... Tổ chức chiếu phim , biểu diễn nghệ thuật chuyên nghiệp phục vụ nhiệm vụ chính trị . Tiếp tục thực hiện dự án Bảo tồn, tôn tạo Khu di tích lịch sử quốc gia đặc biệt Tân Trào - hạng mục Xây dựng bảo tồn các di tích và khu nhà công vụ, nhà làm việc Bảo tàng ATK Tân Trào; hoàn thành hạng mục tôn tạo cụm di tích Nà Nưa; thi công dự án Bảo tồn, tôn tạo Khu di tích Ban Thường trực Quốc hội - hoàn thành hạng mục Nhà tưởng niệm Chủ tịch Tôn Đức Thắng; dự án Tu bổ tôn tạo di tích quốc gia Chiến thắng Khe Lau, xã Yên Sơn; dự án Bảo tồn Làng văn hóa truyền thống dân tộc Tày, xã Na Hang,... - Lĩnh vực thể dục, thể thao: Đăng cai tổ chức thành công 01 giải thể thao toàn quốc; 15 giải thể thao cấp tỉnh; cử đoàn vận động viên và huấn luyện viên tham gia 02 giải khu vực Châu Á và 02 giải khu vực Châu Á (kết quả: đạt 02 HCV, 02 HCĐ); 19 giải toàn quốc (kết quả: đạt 21 huy chương vàng, 32 huy chương bạc, 65 huy chương đồng, 12 kiện tướng và 20 vận động viên cấp 1 quốc gia).7. Tình hình an toàn giao thông, thiên tai và phòng chống cháy, nổ7.1. Về an toàn giao thông Trong tháng, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 17 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 13 người và bị thương 11 người. So với tháng trước tăng 54,55% về số vụ tai nạn, số người chết tăng 30%, số người bị thương tăng 57,14%. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông giữ nguyên, số người chết tăng 44,44%, số người bị thương giảm 26,67%.Trong quý III/2025, toàn tỉnh đã xảy ra 42 vụ tai nạn giao thông, làm chết 33 người và làm bị thương 24 người. So với cùng quý trước: Số vụ tai nạn giao thông giảm 17,65%; số người chết tăng 22,22%; số người bị thương giảm 22,58%.Trong 9 tháng đầu năm 2025, toàn tỉnh đã xảy ra; 143 vụ tai nạn giao thông, 86 người chết và 88 người bị thương. So với cùng kỳ năm trước: Số vụ tai nạn giao thông giảm 21,86%; số người chết giảm 13,13%; số người bị thương giảm 34,81%.7.2. Về cháy nổ Tháng 9/2025, toàn tỉnh xảy ra 01 vụ cháy, nổ. Tính chung 9 tháng đầu năm, trên địa bàn tỉnh xảy ra 08 vụ cháy, làm 02 người chết, thiệt hại về tài sản ước tính 2.173 triệu đồng.7.3. Thiệt hại do thiên tai7.3.1. Thiệt hại do thiên tai 9 tháng dầu năm 2025Trong 9 tháng năm 2025 trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang đã xảy ra 22 đợt thiên tai mưa lớn, lũ, sạt lở gây thiệt hại về tài sản của người dân trên địa bàn: Ước tính thiệt hại khoảng 137 tỷ đồng.- Thiệt hại về người: 08 người chết; 06 người bị thương.- Thiệt hại về nhà ở: 2.196 nhà (37 nhà thiệt hại trên 70%; 65 nhà thiệt hại từ 50-70%; 294 nhà thiệt hại từ 30-50%; 1.552 nhà thiệt hại dưới 30%; 193 nhà bị ngập nước; 55 nhà phải di dời khẩn cấp);- Thiệt hại về nông nghiệp: 6.675 ha hoa màu bị thiệt hại ( trong đó: 747,14 ha lúa bị ngập, thiệt hại (137,49 ha bị ngập, thiệt hại trên 70%; 330,17 ha bị ngập, thiệt hại từ 30-70%; 279,48 ha bị ngập, thiệt hại dưới 30%), 524,58 ha ngô bị đổ gãy thiệt hại (197,69 ha thiệt hại trên 70%; 158,77 ha thiệt hại từ 30-70%; 168,11 ha thiệt hại dưới 30%), rau màu bị thiệt hại: 317 ha (41 ha thiệt hại trên 70%; 276 ha thiệt hại từ 30-70%), cây trồng hằng năm, cây ăn quả bị thiệt hại: 159 ha, cây lâm nghiệp bị đổ gãy: 419 ha;…); Thiệt hại về chăn nuôi, thuỷ sản: 102 con dúi, 165 con gia súc, 3.766 con gia cầm;- Thiệt hại về giao thông: 3.304 m đường, 05 cây cầu và 04 cống qua đường bị hư hỏng, 624 điểm giao thông bị ách tắc với 165.526 m3 đất, đá sạt lở.- Thiệt hại về thuỷ lợi: 06 công trình, 1.084 m kênh bị hư hỏng;- Thiệt hại khác: Thiệt hại về giáo dục: 22 trường học bị thiệt hại; Thiệt hại về y tế: 02 cơ sở y tế bị ảnh hưởng; Thiệt hại về văn hoá: 08 nhà văn hoá bị hư hỏng; Thiệt hại về công nghiệp: 69 cột điện bị đổ, gãy, 04 trạm biến áp bị hư hỏng, 03 tuyến đường dây điện bị đứt, 05 nhà xưởng bị thiệt hại; Thiệt hại về thông tin liên lạc: 152 cột treo cáp bị gãy, đổ; Thiệt hại về nước sạch: 08 công trình cấp nước sinh hoạt nông thôn bị hư hỏng….7.3.2. Cập nhật tình hình thiệt hại do cơn bão số 10 (số liệu từ ngày 28/9/2025 đến 6h30p ngày 01/10/2025)- Thiệt hại về người: Số người mất tích 04 người tại thôn Mã Lầu A, xã Lũng Cú. Số người đuối nước 01 người tại thôn Hô Sán. - Thiệt hại về nhà ở: 713 nhà bị ảnh hưởng, thiệt hại (06 nhà thiệt hại hoàn toàn trên 90%; 03 nhà thiệt hại từ 70-90%; 14 nhà thiệt hại từ 50-70%; 107 nhà thiệt hại từ 30- 50%; 200 nhà thiệt hại dưới 30%; 31 nhà bị ngập nước; 333 nhà phải di dời khẩn cấp; 19 nhà có nguy cơ bị ảnh hưởng do sạt lở).  Một số xã có số hộ bị cô lập rất lớn như xã Xuân Vân số nhà bị cô lập: 452 nhà, số hộ đã di dời khẩn cấp khoảng trên 1.000 hộ; xã Sơn Thuỷ 26 hộ. - Thiệt hại về giáo dục: 20 điểm trường, trường học bị ảnh hưởng - Thiệt hại về y tế: 01 phòng khám đa khoa bị tốc mái. - Thiệt hại về văn hoá: 05 nhà văn hoá bị ảnh hưởng. - Thiệt hại về nông, lâm nghiệp: Diện tích lúa bị ngập, ảnh hưởng 651,56 ha; diện tích ngô, rau màu 430,67 ha; cây trồng khác 110 ha; diện tích lâm nghiệp 1,2 ha; lương thực bị trôi, hư hỏng 2,3 tấn.- Thiệt hại về chăn nuôi: Gia súc 10 con; gia cầm 20 con; 17 chuồng trại bị tốc mái (Nậm Dịch 04, Tát Ngà 02; Hoàng Su Phì 9; Phú Linh 1, Vị Xuyên 1). - Thiệt hại về thuỷ sản: Diện tích ao, hồ bị tràn bờ 15,74 ha. Lồng, bè nuôi thuỷ sản bị ảnh hưởng 44 lồng. - Thiệt hại về giao thôngThiệt hại về đường quốc lộ: 06 vị trí ngập, sạt lở, ách tắc giao thông; khối lượng sạt lở đất, đá lớn.Thiệt hại về đường giao thông địa phương: 66 vị trí ngập, sạt lở, ách tắc giao thông; chiều dài sạt lở, hư hỏng 3.637m; khối lượng sạt lở đất, đá 7.060 m3; 02 cây cầu, 01 cống qua đường bị hư hỏng. Sạt lở đường tỉnh lộ 178, đường lên xã biên giới bị sạt lở. Nhiều tuyến đường trên địa bàn bị ngập úng cục bộ (đặc biệt là các tuyến đường thuộc Phường Hà Giang 1 và Phường Hà Giang 2). - Thiệt hại về thuỷ lợi, nước sạch: 23 công trình thuỷ lợi, 01 công trình nước sạch bị hư hỏng; 9.503m kênh mương bị sạt, trôi, hư hỏng. - Thiệt hại về công nghiệp: 28 cột điện bị đổ, gãy. Theo dự báo từ nay đến hết năm, trên địa bàn tỉnh sẽ còn xuất hiện nhiều đợt thiên tai xảy ra; nguy cơ xảy ra lũ quét, sạt lở đất và ngập úng, đặc biệt là nơi có địa hình dốc, khu vực có kết cấu đất đá kém ổn định, vùng trũng thấp, ven sông suối. Để chủ động ứng phó với các điều kiện thời tiết cực đoan, tỉnh đã yêu cầu các ngành chức năng, địa phương tập trung theo dõi chặt chẽ diễn biến thời tiết để chủ động tổ chức di dời, sơ tán người dân khi có tình huống xảy ra; đồng thời, kiểm tra rà soát và thực hiện các biện pháp đảm bảo an toàn công trình giao thông, thủy lợi, chủ động các biện pháp ứng phó nhằm hạn chế thấp nhất thiệt hại có thể xảy ra.8. Một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm 3 tháng cuối năm 2025Với quyết tâm hoàn thành cao nhất các mục tiêu, chỉ tiêu kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh đã đề ra trong năm 2025. Để phấn đấu hoàn thành các mục tiêu theo kế hoạch cần phải tiếp tục thực hiện tốt một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm sau:1. Về phát triển kinh tế: Tích cực triển khai các biện pháp khắc phục hậu quả cơn bão số 10, rà soát chặt chẽ các khu vực trọng điểm thiên tai, chủ động lực lượng, phương tiện sẵn sàng hỗ trợ nhân dân và doanh nghiệp ổn định đời sống và phục hồi sản xuất kinh doanh. Triển khai thu hoạch cây trồng vụ Mùa, chuẩn bị triển khai kế hoạch sản xuất cây vụ Đông năm 2025; đẩy mạnh thâm canh, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật để tăng năng suất, chất lượng sản phẩm. Duy trì, mở rộng diện tích sản xuất cây trồng theo tiêu chuẩn, quy chuẩn GAP (VietGAP, hữu cơ...), vùng sản xuất hàng hóa tập trung, an toàn, hiệu quả. Tiếp tục chỉ đạo các xã, phường triển khai quyết liệt các các giải pháp phòng, chống, khoanh vùng, dập dịch tả lợn Châu phi; kịp thời thực hiện công bố các khu vực hết dịch. Xây dựng kế hoạch tái đàn lợn sau dịch bệnh Dịch tả lợn Châu Phi, hướng dẫn người dân biện pháp phòng chống đói, rét cho gia súc vụ Thu - Đông. Đôn đốc đẩy nhanh tiến độ các dự án dự kiến đi vào hoạt động trong năm 2025. Thường xuyên nắm bắt tình hình sản xuất kinh doanh của các dự án công nghiệp đang hoạt động trên địa bàn tỉnh, để kịp thời hỗ trợ các doanh nghiệp tháo gỡ khó khăn vướng mắc, thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh. Thực hiện kiểm tra an toàn hồ, đập các nhà máy thủy điện đang vận hành đảm bảo an toàn, hiệu quả.Tiếp tục thực hiện có hiệu quả công tác xúc tiến thương mại năm 2025. Tăng cường các hoạt động truyền thông, giới thiệu, quảng bá, triển khai các sản phẩm chủ lực, sản phẩm OCOP của tỉnh thông qua ứng dụng điện tử. Tăng cường kiểm tra; đấu tranh phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả, không rõ nguồn gốc xuất xứ; vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới; kịp thời xử lý các hành vi vi phạm theo quy định. Tiếp tục thực hiện cải cách hành chính thủ tục hải quan, thủ tục quản lý thuế, rút ngắn thời gian thông quan hàng hóa, giảm chi phí cho các doanh nghiệp trong hoạt động xuất nhập khẩu. Đẩy mạnh công tác truyền thông du lịch tỉnh Tuyên Quang, ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số thu hút khách du lịch trong nước và quốc tế; tăng cường quản lý, nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch, đồng thời đẩy mạnh liên kết, phát triển các sản phẩm du lịch mới. Tiếp tục triển khai các nhiệm vụ tại Kế hoạch xây dựng và phát triển Công viên địa chất toàn cầu Cao nguyên đá Đồng Văn giai đoạn 2023-2026.Triển khai quyết liệt các giải pháp đẩy nhanh tiến độ thi công, giải ngân các nguồn vốn ngân sách nhà nước năm 2025; Kế hoạch đầu tư công vốn ngân sách địa phương năm 2024 kéo dài thời gian thực hiện và giải ngân năm 2025; Kế hoạch đầu tư công vốn ngân sách địa phương năm 2025, giai đoạn 2021-2025 (sau sắp xếp). Tập trung xử lý dứt điểm khó khăn, vướng mắc để đẩy nhanh tiến độ các dự án đầu tư, nhất là các dự án trọng điểm của tỉnh, như: Cao tốc Tuyên Quang - Hà Giang (giai đoạn 1); đường từ Khu du lịch suối khoáng Mỹ Lâm đến Quốc lộ 2D kết nối với đường cao tốc Tuyên Quang - Phú Thọ; Dự án đầu tư xây dựng đường từ thị trấn Sơn Dương đi Tân Trào; đường Minh Ngọc - Mậu Duệ (ĐT.176B); đường Yên Bình - Cốc Pài (ĐT 178); Bệnh viện Đa khoa tỉnh tại địa điểm mới và các dự án quan trọng khác, đảm bảo tiến độ giải ngân, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và chất lượng công trình, dự án theo quy định. 2. Cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh; phát triển các thành phần kinh tế và thu hút đầu tư: Tiếp tục hỗ trợ nhà đầu tư khảo sát thực địa, hoàn thiện thủ tục đầu tư dự án ngoài ngân sách. Kịp thời nắm bắt, giải quyết vướng mắc đối với các dự án đầu tư chậm tiến độ; xử lý sai phạm hoặc thu hồi dự án đầu tư kém hiệu quả, dự án không có khả năng thực hiện. Tập trung quyết liệt thực hiện công tác quản lý thu, chi ngân sách nhà nước năm 2025; mở rộng cơ sở thu, bảo đảm thu đúng, thu đủ, thu kịp thời và chống thất thu, phấn đấu hoàn thành dự toán thu ngân sách nhà nước trên địa bàn; quản lý chi ngân sách chặt chẽ, đúng quy định hiện hành, đảm bảo tiết kiệm và hiệu quả.  Chỉ đạo các tổ chức tín dụng tiếp tục thực hiện các giải pháp tăng trưởng tín dụng đã đề ra, nâng cao chất lượng tín dụng, kiểm soát và xử lý nợ xấu. Tăng cường thực hiện các giải pháp ổn định mặt bằng lãi suất tiền gửi giảm lãi suất cho vay theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Công điện số 19/CĐ-TTg ngày 24/2/2025. Tiếp tục thực hiện điều chỉnh phù hợp các chính sách tiền tệ, tín dụng theo chỉ đạo của Thống đốc Ngân hàng nhà nước Việt Nam. 3. Văn hóa - xã hội: Tiếp tục rà soát, sắp xếp lại điểm trường, lớp học đối với giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông trên địa bàn tỉnh đảm bảo tinh gọn, hiệu quả. Triển khai thực hiện đầy đủ các chế độ chính sách đối với nhà giáo, cán bộ quản lý, học sinh theo quy định.Tập trung triển khai các giải pháp nâng cao chất lượng công tác khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe cho nhân dân, nhất là tuyến cơ sở. Tiếp tục kiện toàn, hoàn thiện hệ thống tổ chức y tế và tăng cường quản lý nhân lực y tế. Đẩy mạnh triển khai thực hiện Bệnh án điện tử tại các cơ sở khám chữa bệnh. Tiếp tục kết nối, tổ chức hội chẩn khám chữa bệnh từ xa giữa các Bệnh viện tuyến Trung ương với các bệnh viện trong tỉnh. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc triển khai công tác khám chữa bệnh và phòng chống dịch bệnh; tuyên truyền an toàn vệ sinh thực phẩm....Tiếp tục rà soát nhu cầu hỗ trợ xóa nhà tạm, nhà dột nát đối với hộ nghèo, hộ cận nghèo. Tăng cường triển khai các hoạt động thực hiện chính sách về giáo dục nghề nghiệp, lao động, việc làm, bảo hiểm xã hội; tăng cường giải pháp kết nối cung - cầu lao động, hỗ trợ người lao động tìm kiếm việc làm. Tiếp tục triển khai thực hiện công tác đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài trong tình hình mới. Thực hiện giải quyết đầy đủ, kịp thời chế độ chính sách thường xuyên cho các đối tượng chính sách, đảm bảo đúng đối tượng, đúng quy định.4. Quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường; thích ứng với biến đổi khí hậuTiếp tục giải quyết tháo gỡ khó khăn về thủ tục đất đai, vướng mắc trong công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng cho các dự án phát triển kinh tế - xã hội; thực hiện kiểm kê đất đai năm 2024 cấp xã và lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất. Xây dựng bản giá đất trên địa bàn tỉnh năm 2026. Tăng cường công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường trong hoạt động khoáng sản trên địa bàn tỉnh. 5. Phát triển khoa học, công nghệ; đổi mới sáng tạo và chuyển đổi sốTập trung triển khai và hoàn thành kế hoạch Trung tâm Giám sát, điều hành thông minh (IOC) tỉnh bảo đảm kết nối liên thông, khai thác hiệu quả thông tin, dữ liệu phục vụ chỉ đạo, điều hành, phát triển kinh tế - xã hội. Tiếp tục triển khai có hiệu quả đề tài, nhiệm vụ khoa học và công nghệ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Tăng cường hoạt động quản lý nhà nước về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng trong các ngành, lĩnh vực, doanh nghiệp; ứng dụng các giải pháp về chuyển đổi số, mã số mã vạch, truy xuất nguồn gốc để tăng cường công tác quản lý nhà nước về năng suất, chất lượng sản phẩm, hàng hoá.6. Quốc phòng, an ninh và đối ngoại: Thực hiện tốt công tác quân sự, quốc phòng; duy trì nghiêm chế độ trực sẵn sàng chiến đấu; nắm chắc tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên tuyến biên giới và trong nội địa. Đẩy mạnh kiểm tra, kiểm soát đảm bảo trật tự an toàn giao thông. Tăng cường công tác phòng ngừa, đấu tranh, đối với tội phạm về trật tự xã hội, ma túy; quản lý ngành nghề kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự trên địa bàn tỉnh. Tiếp tục mở rộng, tăng cường kết nối ngoại giao với các nước thông qua các hoạt động đối ngoại. THỐNG KÊ TỈNH TUYÊN QUANG

Tình hình kinh tế - xã hội tháng 8 năm 2025 tỉnh Tuyên Quang
  •   10/11/2025 22:09

I. PHÁT TRIỂN KINH TẾ  1. Về sản xuất nông nghiệp (tính đến ngày 20/8/2025)1.1. Sản xuất vụ Mùa năm 2025Trong tháng hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang tiếp tục diễn ra trong điều kiện thời tiết có những thuận lợi và khó khăn đan xen. Bà con nông dân đã tập trung thu hoạch nhanh gọn vụ Xuân và đẩy nhanh tiến độ gieo trồng vụ Mùa. Công tác chỉ đạo, điều hành của các cấp, các ngành tiếp tục được quan tâm, góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển ổn định. Tỉnh đã có nhiều những cơ chế, chính sách khuyến khích, phát triển cây có kinh tế cao như cây lạc, cây đậu tương ở các xã vùng cao như xã Mèo vạc, xã Khâu vài, xã Niêm sơn… có nhiều loại cây có liên kết trong sản xuất mang lại hiệu quả kinh tế cao và sự chuyển đổi cơ cấu cây trồng do vậy ngành nông nghiệp và các địa phương trong tỉnh đã khuyến khích, tạo điều kiện để người dân đưa các cây trồng ngắn ngày có năng suất, chất lượng cao vào sản xuất; một số nhóm cây mở rộng diện tích đáp ứng nhu cầu thị trường tiêu thụ.Thay vì mở rộng diện tích, tỉnh đã khuyến kích các hộ sản xuất chú trọng hơn tới chât lượng ở các nhóm rau có giá trị kinh tế cao phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu tại một số thị trường truyền thống. Đẩy mạnh sản xuất cây trồng ở những vùng qui hoạch, vùng sản xuất tập trung gắn với chế biến, có thị trường đầu ra tốt, ổn định… Do đó diện tích cây trồng tăng so với cùng kỳ.- Cây lúa: Toàn tỉnh đã cấy được 52.300 ha (trong đó: Lúa lai 29.136 ha; lúa thuần 23.164 ha), tăng 2,38% so với cùng kỳ năm trước.- Cây ngô: Diện tích đã trồng 40.043 ha, tăng 2,58%.- Cây lạc: Diện tích đã trồng 4.870 ha, tăng 1,54%.- Cây đậu tương: Diện tích đã trồng 8.150 ha, tăng 8,27%.1.2. Tình hình sinh vật gây hại a. Cây hàng năm vụ xuân: Cây lúa xuân (ngậm sữa - vào chắc): Rầy nâu, rầy lưng trắng, bọ xít gây hại rải rác; Cây ngô, cây lạc, đậu tương: Sâu đục thân, sâu cuốn lá, sâu khoang gây hại rải rác; Cây mía (đẻ nhánh) Bọ trĩ gây hại rải rác, tỷ lệ hại 2-4 %; Bọ hung gây hại rải rác tại một số ruộng đất soi bãi, mật độ nơi cao 1-2 con/hố; b. Cây lâu năm: Cây chè (ra búp): Rầy xanh, bọ trĩ, bọ xít gây hại, tỷ lệ hại trung bình 2-3%, nơi cao 3-5% số búp; Cây có múi; Nhện trắng, rám vàng gây hại rải rác, tỷ lệ hại nơi cao 3-5% số lá; Cây nhãn, vải (hoa – quả non); Bọ xít nâu gây hại, mật độ trung bình 1-2 con/cành, nơi cao 3-5 con/cành, non-trưởng thành; Bệnh chổi rồng, bệnh sương mai, nhện lông nhung gây hại rải rác, tỷ lệ hại nơi cao 3-5 % số cành.c. Cây lâm nghiệp (vườn ươm-1-5 tuổi): Sâu ăn lá gây hại rải rác, tỷ lệ hại nơi cao 1-2% số lá (sâu non); Bệnh chết héo gây hại rải rác trên cây keo 1-3 tuổi, nơi cao 3-5% số cây; Bệnh thán thư, bệnh vàng lá, khô cành, khô ngọn gây hại rải rác trên cây bạch đàn tuổi 1-2, tỷ lệ hại nơi cao 2-4 % số cây.Trước tình hình sinh vật gây hại cây trồng nêu trên. Chi cục bảo vệ thực vật đã chỉ đạo các trạm bảo vệ thực vật các huyện, thành phố phối hợp với Phòng Nông nghiệp, Trạm Khuyến nông, chính quyền địa phương chỉ đạo, hướng dẫn bà con nông dân thực hiện việc gieo cấy đúng thời vụ, chăm sóc cây trồng; thường xuyên kiểm tra đồng ruộng, phát hiện sâu bệnh hại cây trồng, kịp thời hướng dẫn cách phòng trừ, giảm thiệt hại do sâu bênh gây ra.1.3. Về chăn nuôi Đàn trâu 222.842 con, giảm 2,08 % (giảm 4.728 con) so với cùng kỳ năm 2024; đàn bò 174.376 con, tăng 4,44% (tăng 7.413 con); đàn lợn 1.084.501 con, giảm 0,97% (giảm 10.584 con); đàn gia cầm 13.756,4 nghìn con, tăng 3,93% (tăng 520,56 nghìn con).Đánh giá chung tình hình chăn nuôi+ Đàn trâu giảm do chăn nuôi trâu hiện nay hiệu quả kinh tế thấp; diện tích chăn thả bị thu hẹp; diệt tích đất trồng cỏ rất ít, phần lớn đều tận dụng những rẻo đất nhỏ nên năng suất, chất lượng cỏ kém, hơn nữa thiếu lao động chăn dắt dẫn đến bà con giảm tổng đàn. + Đàn bò tăng so với cùng kỳ năm 2024 là do: Từ cuối năm 2024, các huyện đã đẩy mạnh công tác giải ngân đối với các chương trình mục tiêu quốc gia hỗ trợ phát triển đàn bò.+ Đàn lợn giảm nhẹ so với cùng kỳ năm 2024 là do trên địa bàn tỉnh đã xảy ra bệnh dịch tả lợn Châu Phi nên đã làm ảnh hưởng chung đến tổng đàn lợn. + Chăn nuôi gia cầm luôn được quan tâm và phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về tiêu dùng thực phẩm trong nước; trên địa bàn tỉnh đã xuất hiện nhiều mô hình chăn nuôi tiên tiến, theo hướng liên kết hiệu quả kinh tế cao.1.4. Về công tác phòng chống dịch bệnh gia súc, gia cầm trong tháng1.4.1. Công tác phòng chống và điều trịTrong tháng Chi cục Thú y luôn chủ động phối hợp với các xã theo dõi chặt chẽ tình hình dịch bệnh gia súc, gia cầm, thuỷ sản trên địa bàn tỉnh, đặc biệt các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm như bệnh Dịch tả lợn Châu phi. Triển khai thực hiện đồng bộ các giải pháp phòng, chống dịch bệnh động vật.Trong tháng số mẫu đã lấy: 260 mẫu; mẫu kết quả 05 mẫu (-) âm tính và 255 mẫu (+) dương tính với Dịch tả lợn Châu Phi, phát sinh tại 5.389 hộ/1.203 thôn/94 xã, số lợn tiêu hủy là 56.879 con/3.130.296 kg. Luỹ kế đến ngày 13/8/2025, toàn tỉnh ghi nhận 57.446 con lợn mắc bệnh buộc tiêu hủy tại 5.444 hộ/1.233 thôn/110 xã; Tổng khối lượng 3.157.106 kg (3.157,1 tấn). Nhận định: Bệnh lây lan nhanh, gây chết lợn trong thời gian ngắn, thời tiết diễn biến phức tạp. Nguy cơ bệnh tiếp tục lây lan, phát sinh mạnh trong thời gian tới là rất cao. Một số bệnh nội, ngoại khoa ký sinh trùng xuất hiện trên đàn gia súc, gia cầm đã được nhân viên thú y phát hiện, chẩn đoán và điều trị kịp thời.  1.4.2. Công tác kiểm dịch vận chuyển động vật, sản phẩm động vậtTiếp tục thực hiện chặt chẽ đúng quy định công tác kiểm dịch vận chuyển ngoài tỉnh, kết quả: Đã kiểm tra cấp 327 giấy chứng nhận kiểm dịch vận chuyển, trong đó: 164 chuyến vận chuyển 20.093 con gia súc, gia cầm; 163 chuyến vận chuyển 3.154.500 tấn sữa tươi nguyên liệu. Lũy kế từ đầu năm đến nay đã cấp 2.652 giấy chứng nhận kiểm dịch vận chuyển, trong đó: 1.324 chuyến vận chuyển 187.692 con gia súc, gia cầm và 5.760 con cá giống; 1.321 chuyến vận chuyển 24.955.500 tấn sữa tươi nguyên liệu và 16.040 kg sản phẩm động vật chế biến làm thức ăn chăn nuôi, các lô hàng được vận chuyển đi các tỉnh: Bắc Ninh, Hà Nội, Hà Nam, Hà Giang, Nam Định...Tại các Trạm Kiểm dịch động vật: Thực hiện kiểm dịch vận chuyển, trong 8 tháng đầu năm 2025 đã kiểm tra 1.373 phương tiện vận chuyển đủ thủ tục vận chuyển 920.420 con gia súc, gia cầm và 1.442 kg sản phẩm động vật.1.5. Về sản xuất lâm nghiệp  1.5.1. Công tác trồng rừngƯớc tháng 8 tổng diện tích rừng trồng tập trung toàn tỉnh đã trồng được 314 ha, lũy kế 8 tháng đã trồng được 13.798,6 ha bằng 105,8% kế hoạch.1.5.2. Khai thác gỗ rừng trồngKhai thác rừng trồng diện tích 466,2 ha, sản lượng 28.193 m3; lũy kế 8 tháng khai thác rừng trồng 9.664,6 ha, đạt 71,3% kế hoạch, sản lượng 958.669,6 m3, đạt 67,8%. 1.5.3. Công tác quản lý bảo vệ rừngCông tác quản lý, bảo vệ rừng được các cấp, các ngành quan tâm, đồng thời tuyên truyền, vận động nhân dân tích cực tham gia thực hiện kế hoạch trồng rừng năm 2025; tuyên truyền, phổ biến giáo dục cho người dân nâng cao nhận thức về các chính sách quản lý bảo vệ và phát triển rừng; tăng cường kiểm tra, ngăn chặn việc phá rừng, đốt rừng, triệt phá các đường dây buôn bán, vận chuyển lâm sản trái phép. Thường xuyên cảnh báo nguy cơ cháy rừng, đẩy mạnh tuyên truyền về công tác phòng cháy chữa cháy rừng; phối hợp chặt chẽ với cơ quan chức năng và chính quyền cơ sở, các chủ rừng tăng cường kiểm tra, kiểm soát, phát hiện kịp thời, xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật các hành vi xâm hại rừng.Theo báo cáo của Chi cục Kiểm lâm tỉnh, Trong tháng mưa nhiều nên không phát sinh vụ cháy rừng. Lũy kế 8 tháng xảy ra 27 vụ (tăng 125% về số vụ), diện tích thiệt hại là 64,72 ha (tăng 115,24% về diện tích); Trong tháng không xảy ra vụ chặt phá rừng. Đã xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng, đã kiểm tra, phát hiện và xử lý 2 vụ, tịch thu 1.19 m3 gỗ các loại; phạt hành chính và bán thanh lý tài sản 0,75 triệu đồng (chưa thu nộp ngân sách).3. Sản xuất công nghiệp3.1. Chỉ số phát triển công nghiệp - Chỉ số sản xuất công nghiệp IIP trong tháng ước tính tăng 4,92% so với tháng trước, tăng 5,09% so với cùng kỳ, cụ thể của các ngành như sau: Ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 5,85%, tăng 4,49%; cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,22%, giảm 3,23%; khai khoáng tăng 2,5%, giảm 0,94%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 4,27%, tăng 6,09%.Một số ngành công nghiệp cấp II trong tháng có chỉ số sản xuất tăng so với cùng kỳ năm trước như: Dệt tăng 38,89%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 12,60%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 28,44%;... Tính chung trong 8 tháng, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 7,01% so với cùng kỳ năm trước, Chia theo từng ngành kinh tế cấp I như sau:+ Ngành khai khoáng tăng 2,22%, nguyên nhân từ đầu năm đến nay khai thác quặng kim loại; khoáng hóa chất và khoáng phân bón tăng so với cùng kỳ. + Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 8,67%, do một số ngành chế biến tăng như: Dệt tăng 70,23%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 24,43%; in, sao chép bản ghi tăng 13,66%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 86,07%;...+ Ngành sản xuất và phân phối điện tăng 4,31% nguyên nhân là do lượng mưa từ đầu năm đến nay nhiều hơn so với cùng kỳ, các nhà máy thủy điện trên địa bàn tỉnh đã tích nước tận dụng được tối đa nguồn tài nguyên nước để sản xuất điện.+ Ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải giảm 2,74%, do hoạt động thu gom, xử lý và tiêu hủy rác thải giảm.3.2. Sản phẩm công nghiệp chủ yếu Tháng 8 năm 2025, một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng khá so với cùng kỳ năm trước: Cát tự nhiên đạt 14,448 m3, tăng 54,93%; ván ép từ gỗ và các vật liệu tương tự đạt 10.400 m3, tăng 10,03%; bê tông trộn sẵn đạt 2.500 m3, tăng 18,71%; điện sản xuất đạt 831 triệu KWh, tăng 4,6%; xi măng đạt 100.000 tấn, tăng 14,16%;... Tuy nhiên, cũng có một số sản phẩm 26,04%; bột barit ước đạt 606 tấn, giảm 34,21%; bột Felspat đạt 9.000 tấn, giảm 3,23%; áo sơ mi cho người lớn dệt kim hoặc đan móc đạt 100 nghìn cái, giảm 44,34%;…- Tính chung trong 8 tháng đầu năm 2025, một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng khá so với cùng kỳ năm trước: Quặng sắt và tinh sắt chưa nung kết tăng 4,75%; bột Felspat tăng 19,24%; ván ép từ gỗ tăng 34,75%;...Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu giảm so với cùng kỳ năm trước như: Đá xây dựng giảm 18,10%; bột Barit giảm 53%; chè (trà) nguyên chất giảm 11,68%;… Đánh giá chung, Thường xuyên nắm bắt tiến độ các công trình, dự án sản xuất công nghiệp. Xây dưng kế hoạch làm việc, tháo gỡ khó khăn với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp, cụm công nghiệp, khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang trong Quý III và IV năm 2025. Đề xuất lựa chọn Cụm công nghiệp Phúc Ứng 2 thí điểm theo mô hình Cụm công nghiệp thông minh trên địa bàn tỉnh. Đến nay, trên địa bàn tỉnh có 03 khu công nghiệp hoạt động, thu hút 50 dự án, tổng vốn đăng ký đầu tư trên 10.736,16 tỷ đồng; có 16 cụm công nghiệp được thành lập, tổng diện tích 783,6 ha (trong đó có 07 cụm công nghiệp đi vào hoạt động ; 09 cụm chưa hoạt động ) với tổng vốn đầu tư đăng ký 8.888 tỷ đồng, thu hút 43 dự án, tổng vốn đăng ký đầu tư trên 8.136 tỷ đồng (trong đó có 29 dự án đã đi vào hoạt động); Khu kinh tế cửa khẩu Thanh Thủy thu hút được 40 dự án, tổng vốn đăng ký đầu tư 752,53 tỷ đồng. Trong 8 tháng năm 2025, thu hút vào cụm công nghiệp được 04 dự án, với tổng vốn đăng ký 3.134 tỷ đồng, hiện nay đang triển khai xây dựng theo tiến độ cấp phép đầu tư.4. Vốn đầu tư, xây dựng4.1. Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước thực hiện tháng 8 ước đạt 920,9 tỷ đồng, tăng 5,35% so với tháng trước, tăng 5,58% so với cùng kỳ. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 717,1 tỷ đồng, tăng 5,67%, tăng 8,78%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã đạt 203,8 tỷ đồng, tăng 4,19%, giảm 4,25%.Tính chung trong 8 tháng, nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 5.927,4 tỷ đồng, giảm 3,38% so với cùng kỳ. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 4.531,2 tỷ đồng, tăng 0,24%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã đạt 1.396,2 tỷ đồng, giảm 13,51%.4.2. Hoạt động xây dựngChỉ đạo thực hiện chuyển tiếp quản lý các chương trình, nhiệm vụ, dự án, công trình đầu tư công sau hợp nhất; đẩy nhanh tiến độ thi công, giải ngân vốn ngân sách nhà nước năm 2025. Tổ chức khánh thành Dự án cầu và tuyến đường tránh thị trấn Sơn Dương (Km138-Km188, QL37). Tập trung tháo gỡ khó khăn về đất đai, tài nguyên, giải phóng mặt bằng các dự án trọng điểm, như: cao tốc Tuyên Quang - Hà Giang (giai đoạn 1); đường từ Khu du lịch suối khoáng Mỹ Lâm đến QL2D, kết nối với cao tốc Tuyên Quang - Phú Thọ; đường thị trấn Sơn Dương - Tân Trào; đường Minh Ngọc - Mậu Duệ (ĐT.176B); đường Yên Bình - Cốc Pài (ĐT.178); Bệnh viện Đa khoa tỉnh tại địa điểm mới và một số dự án quan trọng khác. Đến ngày 15/8/2025, giải ngân vốn đầu tư công đạt 4.387,24/16.824,09 tỷ đồng bằng 26,1% kế hoạch, gồm: Vốn năm 2025 đạt 3.608,85/15.059,47 tỷ đồng (24%); vốn kéo dài đạt 778,39/1.764,61 tỷ đồng (44,1%). Công tác thẩm tra quyết toán dự án hoàn thành được triển khai theo tiến độ, đã thẩm tra quyết toán 141 công trình/dự án.5. Thương mại và Dịch vụTiếp tục triển khai hiệu quả các hoạt động xúc tiến thương mại năm 2025; tăng cường kiểm tra, ngăn chặn buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.Thường xuyên nắm bắt tình hình, kịp thời hỗ trợ doanh nghiệp tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy sản xuất và xuất khẩu trong bối cảnh thị trường thế giới biến động. 5.1. Doanh thu bán lẻ hàng hóa Doanh thu bán lẻ hàng hóa tháng 8 ước đạt 4.220,97 tỷ đồng, tăng 1,11% so với tháng trước, tăng 10,60% so với cùng kỳ. Trong đó, một số nhóm hàng tăng so tháng trước, tăng so cùng kỳ cụ thể như sau: Nhóm hàng lương thực, thực phẩm đạt 1.392,7 tỷ đồng, tăng 0,96%, tăng 0,58%; hàng may mặc đạt 292,6 tỷ đồng, tăng 0,76%, tăng 12,04%; vật phẩm văn hóa, giáo dục đạt 94,7 tỷ đồng, tăng 2,29%, tăng 32,20%; phương tiện đi lại đạt 161,4 tỷ đồng, tăng 1,41%, tăng 29,12%…Ở chiều ngược lại, nhóm xăng dầu ước đạt 412 tỷ đồng, tăng 0,19%, giảm 4,12%;…Tính chung trong 8 tháng, tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 32.677,75 tỷ đồng, tăng 12,83% so với cùng kỳ.5.2. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ khácTrong tháng, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 520,42 tỷ đồng, tăng 1,67% so với tháng trước, tăng 10,31% so với cùng kỳ. Trong đó: Dịch vụ lưu trú đạt 48,8 tỷ đồng, tăng 2,4%, tăng 12,06%; ăn uống đạt 468,3 tỷ đồng, tăng 1,58%, tăng 9,84%; du lịch lữ hành đạt 3,4 tỷ đồng, tăng 4,26%, tăng 74,89%. Tính chung trong 8 tháng, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 4.162,16 tỷ đồng, tăng 13,34% so với cùng kỳ.Doanh thu dịch vụ khác trong tháng ước đạt 212,49 tỷ đồng, tăng 4,86% so với tháng trước, tăng 9,56% so với cùng kỳ. Trong đó: Dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ đạt 25,2 tỷ đồng, tăng 5,71%, tăng 3,07%; dịch vụ giáo dục và đào tạo đạt 7,9 tỷ đồng, tăng 3,54%, tăng 1,28%;... Tính chung trong 8 tháng, doanh thu dịch vụ khác ước đạt 1.708,52 tỷ đồng, tăng 11,47% so với cùng kỳ.5.3. Giá cảChỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 08/2025 giảm 0,39% so với tháng trước, tăng 1,95% so với tháng 12 năm trước, tăng 1,91% so với cùng kỳ, tăng 14,81% so với kỳ gốc 2019. Chỉ số giá bình quân 8 tháng đầu năm 2025 tăng 2,46% so với cùng kỳ. Chỉ số giá tiêu dùng tháng 8/2025 giảm nhẹ so với tháng trước, trong 11 nhóm hàng hóa có 07 nhóm hàng hóa có chỉ số giảm, 04 nhóm có chỉ số tăng cụ thể như sau: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 1,13% nguyên nhân chủ yếu là do tình hình dịch tả lợn Châu Phi diễn biến phức tạp tác động làm nhu cầu và giá thịt lợn giảm mạnh; may mặc, mũ nón và giày dép giảm 0,13%; giao thông giảm 0,17%; bưu chính viễn thông giảm 0,04%; giáo dục giảm 0,33%; văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,14%; hàng hóa và dịch vụ khác giảm 0,31%. 04 nhóm hàng tăng giá gồm: Nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,09%; nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0,38%; thiết bị và đồ dung gia đình tăng 0,06%; nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,05%.Chỉ số giá bình quân 8 tháng năm 2025 tăng 2,46% so với cùng kỳ năm trước, trong đó 7/11 nhóm hàng có chỉ số tăng: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 4,61%; đồ uống, thuốc lá tăng 1,88%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 1,33%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 7,99%; thiết bị, đồ dùng gia đình tăng 0,22%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 11,71%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 3,88%. Có 4/11 nhóm hàng chỉ số giá giảm so với cùng kỳ như giao thông giảm 4,56%; bưu chính viễn thông giảm 0,38%; giáo dục giảm 16,6%; văn hóa, giải trí và du lịch giảm 1,22%.Chỉ số giá vàng so với tháng trước tăng 0,07%; so với tháng 12 năm trước tăng 30,39%; so với cùng kỳ tăng 43,03%; so với kỳ gốc 2019 tăng 181,05%; bình quân 8 tháng đầu năm 2025 chỉ số giá vàng tăng 40,91%.Chỉ số giá đô la Mỹ tăng 0,44% so với tháng trước, tăng 3,74% so với tháng 12 năm trước; tăng 4,63% so với cùng kỳ; tăng 13,51% so với kỳ gốc năm 2019; bình quân 8 tháng đầu năm 2025 chỉ số giá đô la Mỹ tăng 3,37%.5.4. Tình hình xuất, nhập khẩu hàng hóa Thường xuyên nắm bắt tình hình, kịp thời hỗ trợ doanh nghiệp tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy sản xuất và xuất khẩu trong bối cảnh thị trường thế giới biến động. Hoạt động xuất - nhập khẩu diễn ra thuận lợi, bảo đảm an ninh trật tự và tạo điều kiện giao thương tại cửa khẩu quốc tế Thanh Thủy - đầu mối quan trọng với tỉnh Vân Nam (Trung Quốc); lượng phương tiện và hàng hóa thông quan tăng mạnh. Tổng kim ngạch xuất hàng hóa trong tháng 8 ước đạt 75,1 triệu USD, đạt 13,9% kế hoạch, tăng 77,82% so với cùng kỳ. Tổng kim ngạch nhập khẩu ước đạt 19,5 triệu USD, giảm 10,78% so cùng kỳ, trong đó chủ yếu là nhập máy móc, thiết bị, phụ tùng và nguyên liệu may mặc.Tính chung trong 8 tháng đầu năm 2025, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 534,2 triệu USD, đạt 98,9% kế hoạch, tăng 106,66% so với cùng kỳ. Kim ngạch nhập khẩu ước đạt 138 triệu USD, đạt 60%, tăng 11,05%. 6. Vận tải hàng hóa và hành khách Chỉ đạo các đơn vị vận tải, bến xe, doanh nghiệp, hợp tác xã bảo đảm an toàn, lưu thông hàng hóa, phục vụ nhu cầu đi lại của nhân dân nhất là trong dịp lễ Quốc khánh 2/9 sắp tới; bảo đảm an toàn trong cung ứng dịch vụ bưu chính, thông tin liên lạc; đồng thời phát triển các loại hình dịch vụ, góp phần vào tăng trưởng kinh tế của tỉnh.6.1. Doanh thu vận tải tải kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải Doanh thu vận tải trong tháng ước đạt 482,45 tỷ đồng, giảm 3,44% so với tháng trước, tăng 16,31% so với cùng kỳ. Trong đó, vận tải hành khách đạt 99,17 tỷ đồng, tăng 2,70%, tăng 12,75%; vận tải hàng hóa đạt 381,29 tỷ đồng, giảm 4,93%, tăng 17,23%; doanh thu dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 1,4 tỷ đồng, giảm 2,82%, tăng 12,69%; hoạt động bưu chính, chuyển phát đạt 0,59 tỷ đồng, tăng 1,47%, giảm 3,07%.Tính chung trong 8 tháng đầu năm 2025, doanh thu vận tải kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 4.169,35 tỷ đồng, tăng 19,25% so với cùng kỳ. Trong đó: vận tải hành khách đạt 869,65 tỷ đồng, tăng 21,26%; vận tải hàng hóa đạt 3.281,02 tỷ đồng, tăng 19,12%; dịch vụ hỗ trợ vận tải kho bãi đạt 13,54 tỷ đồng, tăng 21,87%; bưu chính, chuyển phát đạt 5,14 tỷ đồng, tăng 15,78%.6.2. Vận tải hành khách và hàng hóaTrong tháng khối lượng hành khách vận chuyển ước đạt 1,62 triệu lượt hành khách, tăng 1,72% so với tháng trước, tăng 13,04% so với cùng kỳ; khối lượng hành khách luân chuyển ước đạt 139,99 triệu lượt hành khách.km, tăng 3,50%, tăng 10,71%. Tính chung 8 tháng đầu năm 2025, khối lượng hành khách vận chuyển ước đạt 14,06 triệu lượt hành khách, tăng 20,50% so với cùng kỳ; khối lượng hành khách luân chuyển ước đạt 1.164,03 triệu lượt hành khách.km, tăng 19,81%.Khối lượng hàng hóa vận chuyển trong tháng ước đạt 2,44 triệu tấn, giảm 6,85% so với tháng trước, tăng 16,93% so với cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 148,79 triệu tấn.km, giảm 8,59%, tăng 17,25%. Tính chung 8 tháng đầu năm 2025, khối lượng hàng hóa vận chuyển ước đạt 21,95 triệu tấn, tăng 18,64% so với cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 1.350,87 triệu tấn.km, tăng 16,76%.7. Về du lịch Xây dựng dự thảo kế hoạch xây dựng thương hiệu và truyền thông du lịch tỉnh Tuyên Quang; Kế hoạch tổ chức Trưng bày, giới thiệu tinh hoa ẩm thực Việt và Lễ hội bia Hà Nội năm 2025; phối hợp với Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam kiểm tra, làm việc, khảo sát 06 khách sạn 1-3 sao trên địa bàn tỉnh để triển khai xây dựng tiêu chuẩn quốc gia Khách sạn - Xếp hạng (soát xét TCVN 4391: 2015); tham dự Hội thảo trực tuyến chia sẻ kinh nghiệm của Mạng lưới Làng du lịch tốt nhất. Phối hợp với Tổng cục Kinh tế Liên bang Thụy Sỹ; Dự án Helvetas Việt Nam tổ chức khởi công Dự án tu bổ, phục dựng, phát triển làng văn hóa du lịch thôn Lùng Hẩu, xã Lùng Tám; triển khai hỗ trợ kỹ thuật tại thôn Khun xã Bằng Lang gồm các nội dung: Tiếng anh giao tiếp, tập huấn homestay, phát triển du lịch cộng đồng, đào tạo hướng dẫn viên; xây dựng Đề án Tổ chức đoàn đại biểu tham dự hoạt động giao lưu văn hoá - du lịch giữa sở Văn hoá và Du lịch tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc và các tỉnh Quảng Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng, Tuyên Quang, Hải Phòng tại thành phố Bách Sắc, Quảng Tây, Trung Quốc. Tiếp tục thực hiện bình chọn Công viên địa chất toàn cầu Cao nguyên đá Đồng Văn điểm đến văn hoá khu vực hàng đầu Châu Á; chuẩn bị các điều kiện tổ chức các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ du lịch trong Đề án đào tạo phát triển nguồn nhân lực du lịch tỉnh Hà Giang đến năm 2030 (tỉnh cũ trước sát nhập). Trong tháng 8, Tuyên Quang đón 309.116 lượt du khách, trong đó 26.816 lượt khách quốc tế (bao gồm khách mang hộ chiếu và giấy thông hành); khách nội địa là 282.300 lượt người; Tổng chi tiêu khách du lịch trên địa bàn ước đạt 810,5 tỷ đồng (Trong đó khách du lịch quốc tế 110,4 tỷ đồng và nội địa 700,1 tỷ đồng). Nâng tổng số 8 tháng năm 2025 đón 2.656.296 lượt du khách. Trong đó 353.022 lượt khách quốc tế (bao gồm khách mang hộ chiếu và giấy thông hành) khách nội địa là 2.303.274 lượt người (đạt 73,8 % kế hoạch năm). Tổng chi tiêu khách du lịch trên địa bàn ước đạt 7.166 tỷ đồng (Trong đó khách quốc tế 1.454 tỷ đồng; khách nội địa 5.712 tỷ đồng).II. LĨNH VỰC VĂN HÓA - XÃ HỘI 1. Công tác lao động, việc làm, giáo dục nghề nghiệpTiếp tục thực hiện các giải pháp hỗ trợ, tạo việc làm cho người lao động; tiếp tục hướng dẫn, thực hiện cấp giấy phép lao động cho người nước ngoài; ước tháng 8 năm 2025 tạo việc làm cho 961 lao động, lũy kế 8 tháng tạo việc làm cho 31.702 lao động, đạt 75,5% kế hoạch. 2. Công tác đảm bảo chế độ người có công với cách mạng, bảo trợ, an sinh xã hội và phòng chống các tệ nạn2.1. Công tác đối với người có công với cách mạng Thực hiện tốt công tác chăm lo đời sống cho các đối tượng chính sách; duy trì trả trợ cấp thường xuyên cho 9.001 đối tượng người có công, thân nhân người có công và đối tượng chính sách khác đang hưởng trợ cấp hàng tháng trên địa bàn tỉnh.Tập trung, quyết liệt thực hiện Kế hoạch xóa nhà tạm, nhà dột nát cho hộ gia đình có người có công với cách mạng, hộ nghèo, hộ cận nghèo và hộ gia đình khó khăn về nhà ở. Số nhà đã hoàn thành đưa vào sử dụng đến ngày 25/8/2025 là 14.653/15.064 nhà, đạt 97,2% kế hoạch; chưa hoàn thành 411 nhà. 2.2. Công tác bảo trợ, an sinh xã hội và phòng chống các tệ nạn Tiếp tục thực hiện các giải pháp phát triển đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội, đến tháng 8 năm 2025 tỷ lệ lao động tham gia bảo hiểm xã hội đạt 4,23% (kế hoạch năm đạt 4,47%); tỷ lệ lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp đạt 25,31% (kế hoạch năm đạt 27,43%). Thực hiện các chính sách, chương trình thúc đẩy bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ; công tác tiếp nhận, quản lý, điều trị, cai nghiện cho người nghiện ma túy tại cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh.  Trong tháng 2 Cơ sở cai nghiện tỉnh ( Tuyên Quang cũ và Hà Giang cũ) đã tiếp nhận 15 học viên, cấp giấy chứng nhận hoàn thành cai nghiện cho 12 học viên; tại thời điểm báo cáo, 2 cơ sở cai nghiện đang quản lý 236 học viên (cai nghiện bắt buộc 233 học viên, cai nghiện tự nguyện 03 học viên).3. Hoạt động giáo dục và đào tạoTriển khai Kế hoạch năm học 2025 - 2026, chuẩn bị đầy đủ các điều kiện để tổ chức khai giảng năm học mới; tổ chức Lễ khởi động Dự án xây dựng Trường Phổ thông Dân tộc Nội trú liên cấp Tiểu học và Trung học cơ sở Thanh Thủy (xã Thanh Thủy) và triển khai đầu tư xây dựng 05 trường phổ thông nội trú liên cấp tiểu học và trung học cơ sở tại các xã biên giới trên địa bàn tỉnh. Đảm bảo yêu cầu về cơ sở vật chất, trang thiết bị, đội ngũ giáo viên, đáp ứng tình hình số lượng học sinh tăng do di chuyển theo bố mẹ về trung tâm tỉnh . Củng cố, ổn định mạng lưới giáo dục nghề nghiệp với 08 cơ sở giáo dục nghề nghiệp (03 cơ sở công lập, 05 cơ sở ngoài công lập) và 17 cơ sở giáo dục khác tham gia hoạt động giáo dục nghề nghiệp.4. Hoạt động y tế Tiếp tục nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh, phát huy y đức, chăm sóc sức khỏe cho nhân dân; triển khai hiệu quả các chương trình y tế cơ sở, công tác vệ sinh an toàn thực phẩm . Trong tháng, tổ chức khám, chữa bệnh cho 296.872 lượt người; lũy kế 8 tháng đạt 1.590.222 lượt người. Triển khai hồ sơ bệnh án điện tử tại 03/35 bệnh viện; ứng dụng VNeID trong khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế, đạt 119.591/125.533 trường hợp (95,25%). Bảo đảm cung ứng vắc xin, vật tư, an toàn tiêm chủng, không xảy ra tai biến; tỷ lệ trẻ em dưới 01 tuổi được tiêm đủ các loại vắc xin đạt 52,75% kế hoạch; tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế đạt 95,90%. Duy trì tuyên truyền, vận động kế hoạch hóa gia đình, gắn với cung cấp dịch vụ sức khỏe sinh sản tại cộng đồng. 5. Hoạt động văn hoá - thể dục, thể thaoTổ chức thành công Lễ kỷ niệm 80 năm Quốc dân Đại hội Tân Trào (16/8/1945 - 16/8/2025) gắn với khánh thành Tượng đài “Bác Hồ ở Tân Trào”; tham gia Triển lãm thành tựu Đất nước và Triển lãm thành tựu kinh tế - xã hội tỉnh Tuyên Quang nhân dịp 80 năm Quốc khánh tại Trung tâm Triển lãm Quốc gia (Đông Anh, Hà Nội). Tham gia Hội thi tuyên truyền lưu động toàn quốc kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh, đạt kết quả 02 Huy chương Vàng, 02 Huy chương Bạc. Hoàn thiện Đề án thu phí tham quan Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Cao nguyên đá Đồng Văn; Đề án phát triển du lịch tỉnh Tuyên Quang đến năm 2035.Tổ chức Chương trình nghệ thuật và bắn pháo hoa tầm thấp chào mừng kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám, Quốc khánh; đẩy mạnh tuyên truyền Đại hội Đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ 2025 - 2030 và Đại hội toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. Tiếp nhận, phát hành phim tư liệu, phóng sự kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám, Quốc khánh, Ngày truyền thống Công an nhân dân và 20 năm Ngày hội Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc.Tổ chức 18 buổi biểu diễn nghệ thuật chuyên nghiệp phục vụ nhiệm vụ chính trị; 268 buổi chiếu phim với 58.200 lượt người xem (lũy kế 8 tháng: 2.146/2.195 buổi, đạt 97,7% kế hoạch năm). Tiếp tục thi công dự án bảo tồn, tôn tạo các khu di tích lịch sử ; xây dựng kế hoạch tổ chức Chuỗi giải Siêu đường mòn quốc tế - Hà Giang Marathon “Chạy trên cung đường Hạnh Phúc” lần thứ VII năm 2026 tại Tuyên Quang.6. Tình hình an toàn giao thông, thiên tai và phòng chống cháy, nổDuy trì nghiêm chế độ trực sẵn sàng chiến đấu, cứu hộ, cứu nạn ở các cấp; chủ động xây dựng kế hoạch chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Đại hội Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang lần thứ XVIII, các hoạt động kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9. Lực lượng chức năng tăng cường tuần tra, kiểm soát bảo đảm trật tự an toàn giao thông; thực hiện tốt công tác phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ; bảo vệ tuyệt đối an ninh, an toàn các sự kiện chính trị quan trọng và 04 đoàn công tác của lãnh đạo Đảng, Nhà nước đến thăm, làm việc tại tỉnh.6.1. Về an toàn giao thông trong thángToàn tỉnh đã xảy ra 11 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 10 người và làm bị thương 7 người. So với tháng trước số vụ tai nạn giao thông giảm 21,43%; số người chết giữ nguyên; số người bị thương tăng 16,67%.Tính chung 8 tháng đầu năm 2025, toàn tỉnh đã xảy ra 126 vụ tai nạn giao thông; làm chết 73 người và làm bị thương 77 người. So với cùng kỳ năm trước: Số vụ tai nạn giao thông giảm 24,10%; số người chết giảm 18,89%; số người bị thương giảm 35,83%.6.2. Về thiên tai, cháy, nổ Trong tháng 8 năm 2025, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 03 đợt thiên tai mưa lớn, lũ, sạt lở làm ảnh hưởng đến tình hình sản xuất và đời sống của nhân dân, cụ thể như sau:Thiệt hại về nhà ở: 153 nhà bị tốc mái và hư hỏng nặng.Thiệt hại về nông nghiệp và công trình giao thông: Diện tích lúa bị thiệt hại 18,5 ha; diện tích hoa mầu bị thiệt hại 34,37 ha; gia súc bị chết, cuốn trôi 5 con; gia cầm bị chết, cuốn trôi 20 con. Chiều dài đường bị sạt lở, hư hỏng 1.135m. Thiệt hại về thuỷ lợi: Kênh mương bị sạt, trôi, hư hỏng 32m; Cống, bọng bị hư hỏng 01 cái. Thiệt hại khác: Cột điện bị đổ, gẫy 13 cái; dây điện bị đứt 02 tuyến; Nhà xưởng, xí nghiệp, công trình công nghiệp bị hư hại 04 cái…Ước tính giá trị thiệt hại 12.000 triệu đồng.Theo dự báo, trong thời gian tới thời tiết có tiếp tục diễn biến phức tạp. Dự báo sẽ có nhiều đợt mưa lớn bất thường, nguy cơ xảy ra các đợt thiên tai, lũ lụt và lũ quét, gây sạt lở đất, đá ở vùng có độ dốc, ngập úng ở vùng trũng. Các địa phương, người dân cần chủ động các biện pháp để chủ động ứng phó, phòng tránh.Trong tháng, trên địa bàn tỉnh không ghi nhận tình hình cháy, nổ.THỐNG KÊ TỈNH TUYÊN QUANG

Tình hình kinh tế - xã hội tháng 7 năm 2025 tỉnh Tuyên Quang
  •   10/11/2025 22:02

I. PHÁT TRIỂN KINH TẾ  Từ ngày 01/7/2025, cùng với cả nước, tỉnh Tuyên Quang chính thức vận hành bộ máy chính quyền địa phương hai cấp; đồng thời thực hiện nhiệm vụ hợp nhất tỉnh Tuyên Quang và tỉnh Hà Giang thành tỉnh Tuyên Quang với diện tích rộng trên 13.795,5 km², quy mô dân số 1.865.270 người, có 124 đơn vị hành chính cấp xã (gồm 117 xã và 7 phường), chính thức bước vào một hành trình phát triển mới, mang theo khí thế, niềm tin và khát vọng của một vùng đất giàu truyền thống cách mạng. Mặc dù gặp rất nhiều khó khăn, thách thức bởi tình hình chính trị, kinh tế thế giới và khu vực cùng với khó khăn nội tại của tình hình trong nước; thiên tai, bão lũ, dịch bệnh,... diễn biến bất thường, khó dự báo. Song, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo tập trung, thống nhất của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh; sự giám sát chặt chẽ của Hội đồng nhân dân tỉnh, Ủy ban nhân dân tỉnh đã chỉ đạo các sở, ngành, địa phương nhanh chóng ổn định tổ chức, tập trung cao độ vào nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Qua theo dõi và tổng hợp tình hình kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang tháng 7/2025, Thống kê tỉnh Tuyên Quang đánh giá tình hình kinh tế - xã hội thực hiện trên một số lĩnh vực chủ yếu như sau:1. Về sản xuất nông nghiệp (tính đến ngày 20/7/2025)1.1. Sản xuất vụ Mùa năm 2025Trong tháng hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang tiếp tục diễn ra trong điều kiện thời tiết có những thuận lợi và khó khăn đan xen. Các đợt mưa trong tháng đã cung cấp đủ nước cho cây trồng vụ Mùa, tuy nhiên cũng gây ra một số khó khăn cho việc thu hoạch các cây trồng vụ Xuân còn lại. Bà con nông dân đã tập trung thu hoạch nhanh gọn vụ Xuân và đẩy nhanh tiến độ gieo trồng vụ Mùa. Công tác chỉ đạo, điều hành của các cấp, các ngành tiếp tục được quan tâm, góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển ổn định. Các địa phương tập trung đẩy nhanh tiến độ gieo trồng các cây vụ Mùa, cụ thể: - Cây lúa: Toàn tỉnh đã cấy được 52.300 ha (trong đó: Lúa lai 29.136 ha; lúa thuần 23.164 ha), tăng 4,84% so với cùng kỳ năm trước.- Cây ngô: Diện tích đã trồng 37.495 ha, tăng 3,86%.- Cây lạc: Diện tích đã trồng 3.350 ha, giảm 23,39%.- Cây đậu tương: Diện tích đã trồng 3.520 ha, giảm 52,43%.1.2. Tình hình sinh vật gây hại a. Cây hàng năm vụ xuân: Cây lúa xuân (ngậm sữa - vào chắc): Rầy nâu, rầy lưng trắng, bọ xít gây hại rải rác; Cây ngô, cây lạc, đậu tương: Sâu đục thân, sâu cuốn lá, sâu khoang gây hại rải rác; Cây mía (đẻ nhánh) Bọ trĩ gây hại rải rác, tỷ lệ hại 3-5 %; Bọ hung gây hại rải rác tại một số ruộng đất soi bãi, mật độ nơi cao 1-2 con/hố; b. Cây lâu năm: Cây chè (ra búp): Rầy xanh, bọ trĩ, bọ xít gây hại, tỷ lệ hại trung bình 2-3%, nơi cao 3-5% số búp; Cây có múi; Nhện trắng, rám vàng gây hại rải rác, tỷ lệ hại nơi cao 3-5% số lá; Cây nhãn, vải (hoa – quả non); Bọ xít nâu gây hại, mật độ trung bình 1-2 con/cành, nơi cao 4-6 con/cành, non-trưởng thành; Bệnh chổi rồng, bệnh sương mai, nhện lông nhung gây hại rải rác, tỷ lệ hại nơi cao 3-5 % số cành.c. Cây lâm nghiệp (vườn ươm-1-5 tuổi): Sâu ăn lá gây hại rải rác, tỷ lệ hại nơi cao 1-2% số lá (sâu non); Bệnh chết héo gây hại rải rác trên cây keo 1-3 tuổi, nơi cao 3-5% số cây; Bệnh thán thư, bệnh vàng lá, khô cành, khô ngọn gây hại rải rác trên cây bạch đàn tuổi 1-2, tỷ lệ hại nơi cao 2-4 % số cây.Trước tình hình sinh vật gây hại cây trồng nêu trên. Chi cục bảo vệ thực vật đã chỉ đạo các trạm bảo vệ thực vật các huyện, thành phố phối hợp với Phòng Nông nghiệp, Trạm Khuyến nông, chính quyền địa phương chỉ đạo, hướng dẫn bà con nông dân thực hiện việc gieo cấy đúng thời vụ, chăm sóc cây trồng; thường xuyên kiểm tra đồng ruộng, phát hiện sâu bệnh hại cây trồng, kịp thời hướng dẫn cách phòng trừ, giảm thiệt hại do sâu bênh gây ra.1.3. Về chăn nuôi Đàn trâu 222.304 con, giảm 2,56 % (giảm 5.846 con) so với cùng kỳ năm 2024; đàn bò 174.321 con, tăng 5,18% (tăng 8.588 con); đàn lợn 1.158.097 con, tăng 1,76% (tăng 19.996 con); đàn gia cầm 13.677,9 nghìn con, tăng 2,33% (tăng 310,91 nghìn con).Đánh giá chung tình hình chăn nuôiĐàn trâu, đàn bò giảm do chăn nuôi trâu, bò hiện nay hiệu quả kinh tế thấp; diện tích chăn thả bị thu hẹp; diệt tích đất trồng cỏ rất ít, phần lớn đều tận dụng những rẻo đất nhỏ nên năng suất, chất lượng cỏ kém, hơn nữa thiếu lao động chăn dắt dẫn đến bà con giảm tổng đàn. Trong tháng, tỉnh đã triển khai quyết liệt các giải pháp phòng, chống dịch bệnh gia súc, gia cầm; tăng cường công tác quản lý, sản xuất, lưu thông thực phẩm trên địa bàn tỉnh. Nâng cao kết quả tiêm phòng cho đàn gia súc, gia cầm, tổ chức tiêm phòng vác xin vụ Xuân - Hè. 1.4. Về công tác phòng chống dịch bệnh gia súc, gia cầm trong tháng 1.4.1. Công tác phòng chống và điều trị- Chi cục thú y luôn chủ động phối hợp với các xã theo dõi chặt chẽ tình hình dịch bệnh gia súc, gia cầm, thuỷ sản trên địa bàn tỉnh, đặc biệt các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm như bệnh Dịch tả lợn Châu phi. Triển khai thực hiện đồng bộ các giải pháp phòng, chống dịch bệnh động vật.- Trong tháng dịch tả lợn Châu Phi phát sinh tại 67 xã phường , tổng số lợn mắc bệnh phải tiêu hủy bắt buộc từ ngày 05/7/2025 đến ngày 27/7/2025 là 13.629 con/1.160 hộ/413 thôn/67 xã, phường; khối lượng lợn tiêu huỷ là 751.559 kg1.4.2. Công tác kiểm dịch vận chuyển động vật, sản phẩm động vật+ Tiếp tục thực hiện chặt chẽ đúng quy định công tác kiểm dịch vận chuyển ngoài tỉnh, kết quả: Đã kiểm tra cấp 282 giấy chứng nhận kiểm dịch vận chuyển, trong đó: 124 chuyến vận chuyển 15.320 con gia súc, gia cầm và 5.760 con cá giống; 158 chuyến vận chuyển 3.047,5 tấn sữa tươi nguyên liệu và 2.560 kg sản phẩm động vật chế biến làm thức ăn chăn nuôi. Lũy kế từ đầu năm đến nay đã cấp 2.325 giấy chứng nhận kiểm dịch vận chuyển, trong đó: 1.160 chuyến vận chuyển 167.599 con gia súc, gia cầm và 5.760 con cá giống; 1.158 chuyến vận chuyển 21.801 tấn sữa tươi nguyên liệu và 16.040 kg sản phẩm động vật chế biến làm thức ăn chăn nuôi, các lô hàng được vận chuyển đi các tỉnh: Bắc Ninh, Hà Nội, Hà Nam, Hà Giang, Nam Định...+ Tại các Trạm Kiểm dịch động vật: Các huyện duy trì thực hiện kiểm dịch vận chuyển, trong tháng đã kiểm tra 99 lượt phương tiện vận chuyển đủ thủ tục vận chuyển 56.934 con gia súc, gia cầm (lũy kế từ đầu năm 2025 đến nay kiểm tra 1.373 phương tiện vận chuyển đủ thủ tục vận chuyển 920.420 con gia súc, gia cầm và 1.442 kg sản phẩm động vật).1.5. Về sản xuất lâm nghiệp  1.5.1. Công tác trồng rừngƯớc tháng 7 tổng diện tích rừng trồng tập trung toàn tỉnh đã trồng được 2.475 ha, tăng 46,41% so với cùng kỳ năm 2024. 1.5.2. Khai thác gỗ rừng trồngSản lượng gỗ khai thác ước đạt 142.152 m3 gỗ, tăng 10,09% so với cùng kỳ năm 2024. Cộng dồn 7 tháng toàn tỉnh đã khai thác được 930.476,5m3 đạt 65,9% kế hoạch. 1.5.3. Công tác quản lý bảo vệ rừngCông tác quản lý, bảo vệ rừng được các cấp, các ngành quan tâm, đồng thời tuyên truyền, vận động nhân dân tích cực tham gia thực hiện kế hoạch trồng rừng năm 2025; tuyên truyền, phổ biến giáo dục cho người dân nâng cao nhận thức về các chính sách quản lý bảo vệ và phát triển rừng; tăng cường kiểm tra, ngăn chặn việc phá rừng, đốt rừng, triệt phá các đường dây buôn bán, vận chuyển lâm sản trái phép. Thường xuyên cảnh báo nguy cơ cháy rừng, đẩy mạnh tuyên truyền về công tác phòng cháy chữa cháy rừng; phối hợp chặt chẽ với cơ quan chức năng và chính quyền cơ sở, các chủ rừng tăng cường kiểm tra, kiểm soát, phát hiện kịp thời, xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật các hành vi xâm hại rừng.Theo báo cáo của Chi cục Kiểm lâm tỉnh, Trong tháng mưa nhiều nên không phát sinh vụ cháy rừng. Lũy kế 7 tháng xảy ra 27 vụ (tăng 125% về số vụ), diện tích thiệt hại là 65,77 ha (tăng 118,73% về diện tích); Trong tháng đã xảy ra 2 vụ chặt phá rừng; diện tích rừng bị phá 0,35 ha. Đã xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng, đã kiểm tra, phát hiện và xử lý 6 vụ, tịch thu 3 máy cưa xăng và 0.36 m3 gỗ các loại; phạt hành chính và bán thanh lý tài sản 31,2 triệu đồng (đã thu nộp ngân sách 31,2 triệu đồng).3. Sản xuất công nghiệp3.1. Chỉ số phát triển công nghiệp - Chỉ số sản xuất công nghiệp IIP trong tháng ước tính tăng 16,16% so với tháng trước, tăng 4,72% so với cùng kỳ, cụ thể của các ngành như sau: Ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 27,63%, giảm 2,83%; cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 3,27%, giảm 4,3%; khai khoáng tăng 1,13%, giảm 19,38%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,3%, tăng 13,54%.Một số ngành công nghiệp cấp II trong tháng có chỉ số sản xuất tăng so với cùng kỳ năm trước như: Dệt tăng 23,81%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nữa tăng 41,17%; in, sao chép bản ghi các loại tăng 77,75%;... Tính chung trong 7 tháng, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 7,56% so với cùng kỳ năm trước, Chia theo từng ngành kinh tế cấp I như sau:+ Ngành khai khoáng tăng 2,64%, nguyên nhân từ đầu năm đến nay khai thác quặng kim loại; khoáng hóa chất và khoáng phân bón tăng so với cùng kỳ. + Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 10,02%, do một số ngành chế biến tăng như: Dệt tăng 76,99%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 27,35%; in, sao chép bản ghi tăng 39,56%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 103,67%;...+ Ngành sản xuất và phân phối điện tăng 2,47% nguyên nhân là do lượng mưa từ đầu năm đến nay nhiều hơn so với cùng kỳ, các nhà máy thủy điện trên địa bàn tỉnh đã tích nước tận dụng được tối đa nguồn tài nguyên nước để sản xuất điện.+ Ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải giảm 2,82%, do hoạt động thu gom, xử lý và tiêu hủy rác thải giảm.3.2. Sản phẩm công nghiệp chủ yếu Tháng 7 năm 2025, một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng khá so với cùng kỳ năm trước: Bột Felspat đạt 9.000 tấn, tăng 15,38%; xi măng ước đạt 93.250 tấn, tăng 6,05%; giày, dép thể thao có mũ bằng da đạt 600 nghìn đôi, tăng 3,87%; ván ép từ gỗ và các vật liệu tương tự ước đạt 5.000 m3, tăng 70,47%;…Tuy nhiên, cũng có một số sản phẩm công nghiệp giảm so với cùng kỳ như: Đá xây dựng ước đạt 8.174 m3, giảm 42,04%; bột barit ước đạt 727,8 tấn, giảm 52%; điện sản xuất ước đạt 723,7 triệu Kwh, giảm 5,81%; may mặc xuất khẩu ước đạt 900 nghìn sản phẩm, giảm 6%;…- Tính chung trong 7 tháng đầu năm 2025, một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng khá so với cùng kỳ năm trước: Quặng sắt và tinh sắt chưa nung kết tăng 14,73%; bột Felspat tăng 22,61%; ván ép từ gỗ tăng 40,42%;...Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu giảm so với cùng kỳ năm trước như: Đá xây dựng giảm 11,79%; bột Barit giảm 53,55%; giấy đế xuất khẩu giảm 2,78%;… Đánh giá chung, Nhằm thúc đẩy sự phục hồi, tăng trưởng sản xuất công nghiệp theo Nghị quyết 23-NQ/TW ngày 22/3/2018 của Bộ Chính trị về định hướng xây dựng chính sách phát triển công nghiệp quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, tỉnh đã, đang tập trung chỉ đạo, nắm bắt, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, đẩy nhanh việc triển khai các hoạt động sản xuất công nghiệp. Duy trì hoạt động các mỏ sắt, chì - kẽm, antimon tại các địa phương; các nhà máy chế biến gỗ, khoáng sản tại Khu Công nghiệp Bình Vàng, Cụm Công nghiệp Nam Quang (Bắc Quang), Tân Bắc (Quang Bình), các nhà máy thuỷ điện, chế biến chè... Thực hiện tốt chính sách khuyến công, áp dụng khoa học công nghệ mới vào sản xuất; nắm bắt tình hình sản xuất kinh doanh, kịp thời hỗ trợ doanh nghiệp tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh, góp phần gia tăng giá trị ngành công nghiệp của tỉnh.4. Vốn đầu tư, xây dựng4.1. Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước thực hiện tháng 7 ước đạt 867,7 tỷ đồng, tăng 4,55% so với tháng trước, tăng 1,54% so với cùng kỳ. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 678,2 tỷ đồng, tăng 6,05%, giảm 0,12%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã đạt 189,5 tỷ đồng, giảm 0,52%, tăng 7,94%.Tính chung trong 7 tháng, nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 5.000,1 tỷ đồng, giảm 4,98% so với cùng kỳ. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 3.813,8 tỷ đồng, giảm 1,22%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã đạt 1.186,3 tỷ đồng, giảm 15,35%.4.2. Hoạt động xây dựngĐôn đốc tiến độ thực hiện dự án đầu tư xây dựng hạ tầng Cụm công nghiệp Ninh Lai -Thiện Kế, An Hòa - Long Bình An, Xuân Vân, Phúc Ứng 2. Tổ chức kiểm tra tiến độ Dự án cao tốc Tuyên Quang – Hà Giang (giai đoạn 1) đoạn qua tỉnh Tuyên Quang (cũ); tập trung tháo gỡ khó khăn, vướng mắc về đất đai, tài nguyên môi trường, giải phóng mặt bằng các dự án đầu tư, nhất là các dự án trọng điểm của tỉnh, như: Cao tốc Tuyên Quang - Hà Giang (giai đoạn 1); đường từ Khu du lịch suối khoáng Mỹ Lâm đến Quốc lộ 2D kết nối với đường cao tốc Tuyên Quang - Phú Thọ; Dự án đầu tư xây dựng đường từ thị trấn Sơn Dương đi Tân Trào; Cải tạo, nâng cấp đường tỉnh: đường Minh Ngọc - Mậu Duệ (ĐT.176B); đường Bắc Quang - Xín Mần (ĐT.177); đường Yên Bình - Cốc Pài (ĐT 178); Bệnh viện Đa khoa tỉnh tại địa điểm mới và các dự án quan trọng khác.Giải ngân vốn đầu tư công đến ngày 17/7/2025 (bao gồm kế hoạch vốn kéo dài) là 4.162,2 tỷ đồng/14.485 tỷ đồng đạt 28,7% kế hoạch. Ước đến 31/7/2025, giải ngân đạt 7.532,2 tỷ đồng/14.485 tỷ đồng đạt 52% kế hoạch. Tổ chức thẩm tra quyết toán dự án hoàn thành theo tiến độ nộp hồ sơ quyết toán của chủ đầu tư; đã thẩm tra quyết toán được 167 công trình/dự án.5. Thương mại và Dịch vụThực hiện kiểm tra cao điểm, đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trên địa bàn. Triển khai thực hiện có hiệu quả các hoạt động xúc tiến thương mại năm 2025; đẩy mạnh công tác quản lý nhà nước về thương mại điện tử.5.1. Doanh thu bán lẻ hàng hóa Doanh thu bán lẻ hàng hóa tháng 7 ước đạt 4.144 tỷ đồng, giảm 0,48% so với tháng trước, tăng 10,75% so với cùng kỳ. Trong đó, một số nhóm hàng tăng so tháng trước, tăng so cùng kỳ cụ thể như sau: Nhóm hàng may mặc đạt 285,1 tỷ đồng, tăng 0,33%, tăng 9,68%; vật phẩm văn hóa, giáo dục đạt 81,5 tỷ đồng, tăng 2,19%, tăng 34,84%; phương tiện đi lại đạt 157 tỷ đồng, tăng 1,29%, tăng 21,12%…Ở chiều ngược lại, nhóm xăng dầu ước đạt 420,5 tỷ đồng, giảm 0,38%, giảm 7,7%;…Tính chung trong 7 tháng, tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 28.426,41 tỷ đồng, tăng 13,05% so với cùng kỳ.5.2. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ khác- Trong tháng, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 513 tỷ đồng, tăng 0,45% so với tháng trước, tăng 15,59% so với cùng kỳ. Trong đó: Dịch vụ lưu trú đạt 47,6 tỷ đồng, tăng 2,15%, tăng 14,48%; ăn uống đạt 462,9 tỷ đồng, tăng 0,38%, tăng 15,64%; du lịch lữ hành đạt 2,7 tỷ đồng, giảm 14,06%, tăng 28,59%. Tính chung trong 7 tháng, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 3.633,58 tỷ đồng, tăng 13,61% so với cùng kỳ.- Doanh thu dịch vụ khác trong tháng ước đạt 212 tỷ đồng, giảm 2,32% so với tháng trước, tăng 9,33% so với cùng kỳ. Trong đó: Dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 7,9 tỷ đồng, giảm 3,47%, giảm 14,95%; sửa chữa máy vi tính, đồ dùng cá nhân và gia đình đạt 20,5 tỷ đồng, tăng 0,37%, tăng 6,89%;... Tính chung trong 7 tháng, doanh thu dịch vụ khác ước đạt 1.505 tỷ đồng, tăng 12,42% so với cùng kỳ.5.3. Giá cảChỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 07/2025 tăng 0,17% so với tháng trước, tăng 2,37% so với tháng 12 năm trước, tăng 2,25% so với cùng kỳ, tăng 15,75% so với kỳ gốc 2019. Chỉ số giá bình quân 7 tháng đầu năm 2025 tăng 2,58% so với cùng kỳ. Chỉ số giá tiêu dùng tháng 7/2025 tăng nhẹ so với tháng trước, trong 11 nhóm hàng hóa có 05 nhóm hàng hóa có chỉ số tăng, 05 nhóm có chỉ số giảm và 01 nhóm có chỉ số không biến động với chỉ số chung, cụ thể như sau: Đồ uống và thuốc lá tăng 0,56%; nhà ở, điện nước chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 2,70%; bưu chính viễn thông tăng 0,05%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,23%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,13%. Các nhóm hàng hóa có chỉ số giảm là hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,42%; may mặc, mũ nón và giày dép giảm 0,43%; thiết bị và đồ dùng gia đình giảm 0,13%; giao thông giảm 0,34%; giáo dục giảm 0,02%. 01 nhóm có chỉ số giá ổn định so với chỉ số chung là thuốc và dịch vụ y tế.Chỉ số giá bình quân 7 tháng năm 2025 tăng 2,58% so với cùng kỳ năm trước, trong đó 7/11 nhóm hàng có chỉ số tăng: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 4,94%; đồ uống, thuốc lá tăng 1,94%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 1,4%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 7,67%; thiết bị, đồ dùng gia đình tăng 0,23%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 12,68%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 4,14%. Có 4/11 nhóm hàng chỉ số giá giảm so với cùng kỳ như giao thông giảm 4,13%; bưu chính viễn thông giảm 0,41%; giáo dục giảm 18,21%; văn hóa, giải trí và du lịch giảm 1,28%.Chỉ số giá vàng so với tháng trước tăng 0,15%; so với tháng 12 năm trước tăng 30,30%; so với cùng kỳ tăng 44,60%; so với kỳ gốc 2019 tăng 180,77%; bình quân 7 tháng đầu năm 2025 chỉ số giá vàng tăng 40,61%.Chỉ số giá đô la Mỹ tăng 0,31% so với tháng trước, tăng 3,29% so với tháng 12 năm trước; tăng 3,39% so với cùng kỳ; tăng 13% so với kỳ gốc năm 2019; bình quân 7 tháng đầu năm 2025 chỉ số giá đô la Mỹ tăng 3,19%.5.4. Tình hình xuất, nhập khẩu hàng hóa Thường xuyên nắm bắt tình hình, kịp thời hỗ trợ các doanh nghiệp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu trong bối cảnh thị trường thế giới có nhiều biến động. Hoạt động xuất, nhập khẩu trong tháng diễn ra thuận lợi, đảm bảo an ninh trật tự và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp, tư thương giao lưu buôn bán tại cửa khẩu quốc tế Thanh Thủy - đầu mối giao thương chính với tỉnh Vân Nam (Trung Quốc).Tổng kim ngạch xuất hàng hóa trong tháng 7 ước đạt 112,6 triệu USD, đạt 20,8% kế hoạch, tăng 125,17% so với cùng kỳ. Tổng kim ngạch nhập khẩu ước đạt 19,3 triệu USD, tăng 105,7% so cùng kỳ, trong đó chủ yếu là nhập máy móc, thiết bị, phụ tùng và nguyên liệu may mặc.Tính chung trong 7 tháng đầu năm 2025, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 493,9 triệu USD, đạt 91,5% kế hoạch, tăng 82,9% so với cùng kỳ. Kim ngạch nhập khẩu ước đạt 117,9 triệu USD, đạt 51,3%, tăng 180,7%. 6. Vận tải hàng hóa và hành khách Chỉ đạo các đơn vị quản lý giao thông, bến xe khách, doanh nghiệp, hợp tác xã và các hộ kinh doanh vận tải bảo đảm an toàn, lưu thông hàng hóa, phục vụ nhu cầu đi lại của nhân dân. Chỉ đạo đảm bảo an toàn, an ninh trong quá trình cung ứng dịch vụ bưu chính; an toàn mạng lưới, thông tin liên lạc. Phát triển các loại hình dịch vụ góp phần vào tăng trưởng kinh tế của tỉnh. 6.1. Doanh thu vận tải tải kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải - Doanh thu vận tải trong tháng ước đạt 487,7 tỷ đồng, giảm 5,78% so với tháng trước, tăng 16,90% so với cùng kỳ. Trong đó, vận tải hành khách đạt 99,92 tỷ đồng, giảm 8,29%, tăng 17,97%; vận tải hàng hóa đạt 385,67 tỷ đồng, giảm 5,14%, tăng 16,62%; doanh thu dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 1,52 tỷ đồng, tăng 1,26%, tăng 24,36%; hoạt động bưu chính, chuyển phát đạt 0,59 tỷ đồng, giảm 3,7%, tăng 9,26%.- Tính chung trong 7 tháng đầu năm 2025, doanh thu vận tải kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 3.674,9 tỷ đồng, tăng 19,64% so với cùng kỳ. Trong đó: vận tải hành khách đạt 773,82 tỷ đồng, tăng 24,68%; vận tải hàng hóa đạt 2.884,33 tỷ đồng, tăng 18,36%; dịch vụ hỗ trợ vận tải kho bãi đạt 12,21 tỷ đồng, tăng 18,82%; bưu chính, chuyển phát đạt 4,57 tỷ đồng, tăng 19,45%.6.2. Vận tải hành khách và hàng hóa- Trong tháng khối lượng hành khách vận chuyển ước đạt 1,63 triệu lượt hành khách, giảm 9,08% so với tháng trước, tăng 16,26% so với cùng kỳ; khối lượng hành khách luân chuyển ước đạt 139,04 triệu lượt hành khách.km, giảm 7,09%, tăng 111,72%. Tính chung 7 tháng đầu năm 2025, khối lượng hành khách vận chuyển ước đạt 12,47 triệu lượt hành khách, tăng 23,13% so với cùng kỳ; khối lượng hành khách luân chuyển ước đạt 1.027,82 triệu lượt hành khách.km, tăng 21,73%.- Khối lượng hàng hóa vận chuyển trong tháng ước đạt 2,67 triệu tấn, giảm 3,41% so với tháng trước, tăng 17,80% so với cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 161,68 triệu tấn.km, giảm 4,57%, tăng 15,36%. Tính chung 7 tháng đầu năm 2025, khối lượng hàng hóa vận chuyển ước đạt 19,55 triệu tấn, tăng 20,09% so với cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 1.200,99 triệu tấn.km, tăng 17,51%.7. Về du lịch Rà soát xác định các điểm đến du lịch trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang (sau sáp nhập). Cập nhật các dữ liệu du lịch của tỉnh Tuyên Quang và Hà Giang trước sáp nhập để phục vụ công tác tham mưu, triển khai thực hiện. Hướng dẫn UBND xã, phường công tác quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn quản lý; hướng dẫn tiếp tục triển khai thực hiện Nghị quyết hỗ trợ phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang; làm việc với Hiệp hội du lịch 2 tỉnh thống nhất phương án hợp nhất; phối hợp với Hiệp hội du lịch tổ chức gặp mặt kỷ niệm 65 năm Ngày Du lịch Việt Nam. Tiếp tục thực hiện bình chọn Công viên địa chất toàn cầu Cao nguyên đá Đồng Văn điểm đến văn hoá khu vực hàng đầu Châu Á; xây dựng dự thảo Đề án phát triển du lịch tỉnh Tuyên Quang đến năm 2035; tham mưu chuẩn bị các điều kiện Hội nghị trực tuyến triển khai các nhiệm vụ trọng tâm của ngành du lịch 6 tháng cuối năm 2025; dự thảo kế hoạch xây dựng thương hiệu và truyền thông du lịch tỉnh Tuyên Quang; kế hoạch và dự toán ngân sách năm 2026 lĩnh vực du lịch. Tổ chức thành công lớp tập huấn về du lịch bền vững tại Hà Giang (Tuyên Quang) cho 40 học viên, gồm cán bộ Cục Du lịch Quốc gia và Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch; chương trình kết hợp lý thuyết và khảo sát thực tế tại các điểm du lịch cộng đồng; phối hợp Dự án ST4SD chuẩn bị tham gia Diễn đàn HORECFEX 2025 tại Đà Nẵng; đăng ký 02 đại biểu tham dự, chuẩn bị nội dung chia sẻ kinh nghiệm quản lý và đổi mới sáng tạo trong du lịch; xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu du lịch chung, rà soát văn bản chính sách, quản lý thể thao mạo hiểm, phối hợp mở lớp nghiệp vụ lái xe du lịch, đào tạo nguồn nhân lực... Trong tháng 7/2025, đón 321.300 lượt du khách, trong đó 27.816 lượt khách quốc tế (bao gồm khách mang hộ chiếu và giấy thông hành); khách nội địa là 293.848 lượt người. Tổng chi tiêu khách du lịch trên địa bàn ước đạt 843,3 tỷ đồng, trong đó khách du lịch quốc tế 114,6 tỷ đồng và nội địa 728,7 tỷ đồng (nâng tổng số 7 tháng năm 2025 đón 2.347.180 lượt du khách, đạt 65% kế hoạch năm. Trong đó 326.206 lượt khách quốc tế (bao gồm khách mang hộ chiếu và giấy thông hành) khách nội địa là 2.020.974 lượt người; tổng chi tiêu khách du lịch trên địa bàn ước đạt 6.355 tỷ đồng, trong đó khách quốc tế 1.343 tỷ đồng; khách nội địa 5.012 tỷ đồng, đạt 67 % kế hoạch năm).II. LĨNH VỰC VĂN HÓA - XÃ HỘI 1. Công tác lao động, việc làm, giáo dục nghề nghiệpTiếp tục thực hiện các giải pháp hỗ trợ, tạo việc làm cho người lao động; hướng dẫn, thực hiện cấp giấy phép lao động cho người nước ngoài; ước tháng 7 năm 2025 tạo việc làm cho 1.328 lao động, lũy kế 7 tháng tạo việc làm cho 30.741 lao động, đạt 73,2% kế hoạch.2. Công tác đảm bảo chế độ người có công với cách mạng, bảo trợ, an sinh xã hội và phòng chống các tệ nạn2.1. Công tác đối với người có công với cách mạng Ban hành Kế hoạch và tổ chức các hoạt động kỷ niệm 78 năm ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2025); tổ chức cho các đồng chí lãnh đạo tỉnh đi thăm, tặng quà người có công và thân nhân người có công với cách mạng nhân dịp kỷ niệm 78 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2025); tổ chức Lễ Dâng hương tại Đền thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đài tưởng niệm các anh hùng Liệt sĩ, Nghĩa trang Liệt sĩ tỉnh; tổ chức đưa người có công với cách mạng và thân nhân liệt sĩ tiêu biểu dự Cuộc gặp mặt tại thành phố Hà Nội; tổ chức tổ chức Lễ dâng hương tại Nghĩa trang liệt sĩ Vị Xuyên; Lễ viếng các Anh hùng liệt sĩ và hoàn thành dự án Cải tạo phần mộ liệt sĩ tại Nghĩa trang liệt sĩ Vị Xuyên; tổ chức thăm và tặng quà cho 988 đối tượng các hộ gia đình chính sách, người có công tiêu biểu, thân nhân liệt sĩ nhân dịp kỷ niệm 78 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 – 27/7/2025). Thực hiện rà soát, tổng hợp danh sách 9.001 đối tượng người có công, thân nhân người có công và đối tượng chính sách khác đang hưởng trợ cấp hàng tháng trên địa bàn tỉnh. Duy trì trả trợ cấp thường xuyên cho 9.153 người có công và thân nhân người có công trên địa bàn tỉnh; giải quyết chính sách, chế độ người có công và đối tượng chính sách khác cho 1.500 đối tượng, với tổng kinh phí 34.777,299 triệu đồng. Tập trung, quyết liệt thực hiện Kế hoạch xóa nhà tạm, nhà dột nát cho hộ gia đình có người có công với cách mạng, hộ nghèo, hộ cận nghèo và hộ gia đình khó khăn về nhà ở. Số nhà đã được khởi công xây dựng lũy kế đến ngày 17/7/2025 là 15.868 nhà/15.868 nhà, đạt 100% so với số nhà phải thực hiện, đã hoàn thành đưa vào sử dụng 13.426 nhà. 2.2. Công tác bảo trợ, an sinh xã hội và phòng chống các tệ nạn Tiếp tục thực hiện các giải pháp phát triển đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội, đến tháng 7 năm 2025 tỷ lệ lao động tham gia bảo hiểm xã hội đạt 31,7% (kế hoạch năm đạt 31,92%); tỷ lệ lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp đạt 25,41% (kế hoạch năm đạt 25,41%). Thực hiện các chính sách, chương trình thúc đẩy bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ; công tác tiếp nhận, quản lý, điều trị, cai nghiện cho người nghiện ma túy tại cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh.  Trong tháng 2 Cơ sở cai nghiện tỉnh ( Tuyên Quang cũ và Hà Giang cũ) đã tiếp nhận 13 học viên, cấp giấy chứng nhận hoàn thành cai nghiện cho 13 học viên; tại thời điểm báo cáo, 2 cơ sở cai nghiện đang quản lý 208 học viên (cai nghiện bắt buộc 207 học viên, cai nghiện tự nguyện 01 học viên).3. Hoạt động giáo dục và đào tạoTổ chức chấm thi Tốt nghiệp trung học phổ thông, công bố điểm thi theo đúng quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Quản lý và tổ chức công tác dạy thêm, học thêm theo quy định. Đảm bảo các yêu cầu về cơ sở vật chất, trang thiết bị, đội ngũ giáo viên khi số lượng lớn học sinh di chuyển theo bố mẹ về trung tâm tỉnh; kịp thời, chủ động triển khai các giải pháp tiếp nhận học sinh chuyển trường . Củng cố, ổn định mạng lưới giáo dục nghề nghiệp, có 08 cơ sở giáo dục nghề nghiệp, gồm 03 cơ sở công lập và 5 cơ sở ngoài công lập; 17 cơ sở giáo dục có tham gia hoạt động giáo dục nghề nghiệp; 7 tháng đầu năm 2025, toàn tỉnh đã tổ chức tuyển sinh và đào tạo cho khoảng trên 6.600 người học.4. Hoạt động y tế Tiếp tục nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh, nâng cao y đức, chăm sóc sức khỏe cho nhân dân; giám sát công tác mua thuốc, dược liệu, vật tư, sinh phẩm và hóa chất xét nghiệm cho các cơ sở y tế công lập trong tỉnh; thực hiện tốt các chương trình y tế tại cơ sở; công tác vệ sinh an toàn thực phẩm. Trong tháng tổ chức khám, chữa bệnh cho 190.505 lượt người. Tiếp tục triển khai Bệnh án điện tử tại 03/35 Bệnh viện trên địa bàn tỉnh. Thực hiện tốt việc cung cấp vắc xin, dụng cụ và đảm bảo chất lượng, an toàn tiêm chủng tại các điểm tiêm, không xảy ra tai biến; tỉ lệ trẻ em dưới 01 tuổi được tiêm đủ các loại vắc xin đạt 48,41% kế hoạch; tỉ lệ người dân có thẻ bảo hiểm y tế đạt 95,86% kế hoạch. Duy trì công tác tuyên truyền vận động kế hoạch hóa gia đình, lồng ghép với thực hiện dịch vụ sức khỏe sinh sản tại cộng đồng. 5. Hoạt động văn hoá - thể dục, thể thao- Lĩnh vực văn hoá: Triển khai kế hoạch tổ chức hoạt động kỷ niệm các ngày lễ lớn, các sự kiện văn hóa, thể thao, du lịch năm 2025 trên địa bàn tỉnh; tổ chức chương trình nghệ thuật chào mừng phục vụ Gặp mặt các thế hệ đại biểu Quốc hội tỉnh nhân dịp kỷ niệm 80 năm Ngày Tổng tuyển cử đầu tiên bầu Quốc hội Việt Nam; chương trình nghệ thuật “Âm vang ngày mới” chào mừng sự kiện hợp nhất tỉnh Tuyên Quang và Hà Giang,... Tổ chức 10 buổi biểu diễn nghệ thuật chuyên nghiệp phục vụ nhiệm vụ chính trị; 183 buổi chiếu phim, phục vụ 40.060 lượt người xem với nội dung tuyên truyền chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tuyên truyền Đại hội Đảng các cấp; tuyên truyền kỷ niệm 78 năm ngày Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2025). Tổ chức chấm bài thi cuộc thi Đại sứ Văn hoá đọc năm 2025. - Về thể dục thể thao: Phối hợp với Công ty đường đua mới xây dựng kế hoạch tổ chức giải “Hà Giang Marathon” chạy trên cung đường Hạnh phúc tỉnh Tuyên Quang lần thứ VII năm 2026; tăng cường công tác kiểm tra các lớp tuyến 1, tuyến 2, bếp ăn VĐV và công tác đào tạo, tập huấn, quản lý vận động viên của Trung tâm huấn luyện và thi đấu thể thao tỉnh tại cơ sở 1 và 2; tổ chức thành công giải Pencak Silat tỉnh Tuyên Quang năm 2025 (tham gia Giải có 160 vận động viên đến từ 10 đơn vị và câu lạc bộ trong tỉnh được chia thành 02 nhóm tuổi (12 -15 và 16 - 25); thi đấu ở 30 hạng cân); tham gia giải Vô địch Muay trẻ Quốc gia năm 2025 (kết quả: đạt được 13 huy chương, trong đó: 5HCV, 1HCB, 7HCĐ, xếp thứ ba toàn đoàn lứa tuổi 14-16 tuổi). 6. Tình hình an toàn giao thông, thiên tai và phòng chống cháy, nổChủ động làm tốt công tác nắm tình hình, triển khai đồng bộ, hiệu quả các kế hoạch, phương án bảo đảm tuyệt đối an ninh, an toàn trên các lĩnh vực, địa bàn, duy trì nghiêm chế độ sẵn sàng chiến đấu, không để xảy ra các vụ việc phức tạp, hình thành “điểm nóng” về an ninh, trật tự. Tăng cường công tác tuần tra kiểm soát đảm bảo trật tự an toàn giao thông; thực hiện tốt công tác phòng cháy chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ trên địa bàn tỉnh. 6.1. Về an toàn giao thông trong thángToàn tỉnh đã xảy ra 14 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 10 người và làm bị thương 6 người. So với tháng trước số vụ tai nạn giao thông tăng 7,69%; số người chết tăng 150%; số người bị thương giảm 40%.Tính chung 7 tháng đầu năm 2025, toàn tỉnh đã xảy ra 115 vụ tai nạn giao thông; làm chết 63 người và làm bị thương 70 người. So với cùng kỳ năm trước: Số vụ tai nạn giao thông giảm 17,86%; số người chết giảm 17,11%; số người bị thương giảm 30,69%.6.2. Về thiên tai, cháy, nổ Trong tháng, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra các đợt mưa giông, lốc kèm theo mưa lớn và xuất hiện các hiện tượng sét, mưa đá và gió giật mạnh đã gây ra những thiệt hại về tài sản hòa màu của người dân, làm ảnh hưởng đến tình hình sản xuất và đời sống của nhân dân, cụ thể như sau:Thiệt hại về người: 01 người tại xã Ngọc Long bị sét đánh tử vong.Thiệt hại về nhà ở: 270 nhà bị tốc mái và hư hỏng nặng.Thiệt hại về nông nghiệp và công trình giao thông: Diện tích lúa bị thiệt hại 31,78 ha; diện tích hoa mầu bị thiệt hại 21,07 ha; gia súc bị chết, cuốn trôi 8 con; gia cầm bị chết, cuốn trôi 45 con. Chiều dài đường bị sạt lở, hư hỏng 290m; điểm/đường giao thông bị sạt lở, ách tắc 90 điểm. Thiệt hại về thuỷ lợi: Kênh mương bị sạt, trôi, hư hỏng 170m; Cống, bọng bị hư hỏng 01 cái. Thiệt hại khác: Cột điện bị đổ, gẫy 14 cái; dây điện bị đứt 3 tuyến; Nhà xưởng, xí nghiệp, công trình công nghiệp bị hư hại 3 cái…Ước tính giá trị thiệt hại 11.580 triệu đồng.Theo dự báo, trong thời gian tới thời tiết có tiếp tục diễn biến phức tạp. Dự báo sẽ có nhiều đợt mưa lớn bất thường, nguy cơ xảy ra các đợt thiên tai, lũ lụt và lũ quét, gây sạt lở đất, đá ở vùng có độ dốc, ngập úng ở vùng trũng. Các địa phương, người dân cần chủ động các biện pháp để chủ động ứng phó, phòng tránh.Trong tháng, trên địa bàn tỉnh không ghi nhận tình hình cháy, nổ.THỐNG KÊ TỈNH TUYÊN QUANG

Tình hình kinh tế - xã hội tháng 6 và 6 tháng đầu năm 2025 tỉnh Tuyên Quang
  •   10/11/2025 21:57

Năm 2025, tình hình thế giới, khu vực xuất hiện nhiều diễn biến mới, biến đổi nhanh chóng, phức tạp; khó dự báo; hoạt động sản xuất, kinh doanh tại một số ngành, lĩnh vực gặp nhiều khó khăn, nhất là ảnh hưởng của chính sách thuế quan mới từ Hoa Kỳ; thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh diễn biến phức tạp, khó lường,…Bối cảnh trong nước đang chuẩn bị bước vào một thời kỳ mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, một không gian phát triển mới (tỉnh Tuyên Quang và tỉnh Hà Giang). Ngay từ đầu năm, thực hiện theo phương châm hành động của Chính phủ "Kỷ cương trách nhiệm; chủ động kịp thời; tinh gọn hiệu quả; tăng tốc bứt phá", Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2025; triển khai quyết liệt các giải pháp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, duy trì và củng cố ổn định kinh tế vĩ mô; cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, đẩy mạnh cải cách hành chính, tập trung tháo gỡ các khó khăn, điểm nghẽn, khơi thông mọi nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội, thúc đẩy sản xuất kinh doanh, môi trường đầu tư được củng cố. Kết quả đạt được cụ thể ở các ngành, lĩnh vực như sau:I. PHÁT TRIỂN KINH TẾ  1. Tăng trưởng kinh tế 6 tháng đầu năm 20251.1. Tốc độ tăng trưởng GRDP trên địa bàn (giá so sánh 2010) 6 tháng đầu năm 2025Tốc độ tăng trưởng GRDP (giá so sánh năm 2010) trên địa bàn tỉnh tăng 7,79% so với cùng kỳ năm 2024, cụ thể của các lĩnh vực như sau: 1.1.1. Khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 5,62%; đóng góp 1,41 điểm phần trăm trong mức tăng chung của GRDP. Ngành nông nghiệp mặc dù còn gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng của thời tiết; thị trường tiêu thụ nông sản, giá vật tư đầu vào nhưng cũng đã vượt mọi khó khăn đạt mức tăng trưởng tương đối ấn tượng. Ngành nông nghiệp tăng 4,97%, đóng góp 0,91 điểm phần trăm; ngành lâm nghiệp tăng 7,32%, đóng góp 0,44 điểm phần trăm; ngành thủy sản tăng 7,46%, đóng góp 0,07 điểm phần trăm. 1.1.2. Khu vực Công nghiệp, xây dựng tăng 8,48%, đóng góp vào tốc độ tăng trưởng chung là 2,29 điểm phần trăm. Trong đó:- Ngành công nghiệp, tăng 8,03%, với mức đóng góp 1,48 điểm phần trăm (trong đó: Ngành khai khoáng tăng 4,87%, đóng góp 0,06 điểm phần trăm; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 13,03%, đóng góp 1,53 điểm phần trăm; sản xuất và phân phối điện tăng trưởng âm 1,6%, tăng trưởng âm 0,08 điểm phần trăm; cung cấp nước tăng trưởng âm 10,26%, tăng trưởng âm 0,03 điểm phần trăm). - Ngành xây dựng tăng 9,46%, đóng góp 0,82 điểm phần trăm trong khu vực. Với mục tiêu “lấy đầu tư công dẫn dắt đầu tư tư”, phát huy vai trò “vốn mồi” của đầu tư công để kích thích sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Tỉnh đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ xây dựng dự án đường cao tốc Tuyên Quang – Hà Giang (giai đoạn 1); đường từ Thành phố Tuyên Quang đi Khu du lịch suối khoáng Mỹ Lâm; xây dựng cầu và đường tránh thị trấn Sơn Dương; đường từ Khu du lịch suối khoáng Mỹ Lâm đến Quốc lộ 2D; Bệnh viện đa khoa tỉnh,… và các dự án thuộc 03 Chương trình mục tiêu quốc gia; chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội,... nhằm kết nối liên vùng, đồng bộ, theo hướng hiện đại, tạo động lực thúc đẩy kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh.1.1.3. Khu vực dịch vụ tăng 8,92%, đóng góp 3,91 điểm phần trăm. Trong khu vực dịch vụ, đóng góp của một số ngành có tỷ trọng lớn vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm như sau: Bán buôn, bán lẻ và sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy tăng 7,32%, đóng góp 0,42 điểm phần trăm; vận tải kho bãi tăng 19,11%, đóng góp 0,81 điểm phần trăm; lưu trú và ăn uống tăng 11,01%, đóng góp 0,24 điểm phần trăm; hoạt động tài chính ngân hàng và bảo hiểm tăng 9,32%, đóng góp 0,34 điểm phần trăm,…Ngay từ đầu năm tỉnh đã tổ chức các hoạt động xúc tiến, quảng bá du lịch có tiềm năng phát triển như du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, du lịch cộng đồng;…1.1.4. Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 4,43% (đóng góp 0,19 điểm phần trăm vào tốc độ tăng trưởng chung của nền kinh tế; 1.2. Quy mô và cơ cấu kinh tế 1.2.1. Quy mô tổng sản phẩmQuy mô tổng sản phẩm trên địa bàn 6 tháng đầu năm 2025 (giá hiện hành) ước đạt 24.869 tỷ đồng. 1.2.2. Cơ cấu kinh tếCơ cấu kinh tế tỉnh tiếp tục chuyển biến tích cực với chiều hướng tăng dần tỷ trọng khu vực dịch vụ, cụ thể như sau: Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 24,92%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 28,08%, trong cơ cấu nội hàm ngành công nghiệp đã có sự chuyển dịch theo hướng, giảm dần tỷ trọng công nghiệp khai thác, tăng dần tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo; khu vực dịch vụ chiếm 43,07%; thuế sản phầm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 3,93%.Nhìn chung, trong 6 tháng đầu năm 2025 các ngành kinh tế đều có sự chuyển dịch tích cực và tiếp tục đóng góp chủ yếu vào mức tăng trưởng GRDP của toàn tỉnh, chứng tỏ các giải pháp của tỉnh đã mang lại những hiệu quả giúp cho việc chuyển dịch cơ cấu đúng hướng và mang lại hiệu quả rõ rệt. Đây là sự chuyển dịch cơ cấu tích cực phù hợp với yêu cầu thúc đẩy nhanh sự tăng trưởng kinh tế.2. Tài chính, ngân hàng2.1. Tình hình thu, chi ngân sách nhà nước2.1.1. Thu ngân sách nhà nước: Tổng thu ngân sách nhà nước ước thực hiện là 1.823 tỷ đồng, đạt 33,7% dự toán, tăng 5,1% so với cùng kỳ. Trong đó thu nội địa ước thực hiện là 1.680,6 tỷ đồng, đạt 31,4%, tăng 3,7%.Một số khoản thu đạt khá là: Thu từ khu vực Doanh nghiệp nhà nước do trung ương quản lý là 159,9 tỷ đồng, đạt 47%, tăng 9,9%; khu vực kinh tế ngoài quốc doanh là 469,9 tỷ đồng, đạt 47%, tăng 14,6%; thuế Thu nhập cá nhân là 162,4 tỷ đồng, đạt 90,7%, tăng 57,5%; thuế Bảo vệ môi trường là 135,2 tỷ đồng, đạt 30,7%, tăng 117,1%; các khoản thu về nhà đất là 415,6 tỷ đồng, đạt 15%, tăng 19,1%; hoạt động xổ số kiến thiết là 14,2 tỷ đồng, đạt 54,8%, tăng 11,5%;…Một số khoản thu thấp: Thu từ khu vực Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là 8,7 tỷ đồng, đạt 20,8%, giảm 65,9%; thu cố định tại xã tính cân đối là 1,1 tỷ đồng, đạt 27,6%, giảm 30%,...- Một số nguyên nhân cơ bản làm ảnh hưởng đến tiến độ dự toán:+ Một số doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động sản xuất kinh doanh gặp khó khăn, dẫn đến số nộp ngân sách giảm so với cùng kỳ,...  + Tiến độ thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất còn chậm chưa đảm bảo theo dự toán. Nguyên nhân là do đến 04/6/2025, toàn tỉnh có 05 cuộc đấu giá thu tiền sử dụng đất, một số huyện chưa tổ chức đấu giá thu tiền sử dụng đất; các dự án Khu đô thị chưa có hồ sơ xác định nghĩa vụ tài chính chuyển đến cơ quan thuế nên chưa phát sinh nộp NSNN.2.1.2. Chi ngân sách nhà nước: Tổng chi ngân sách nhà nước là 9.837 tỷ đồng, đạt 61,9% dự toán, tăng 19,7% so với cùng kỳ. Trong đó: Chi đầu tư phát triển 1.803 tỷ đồng, đạt 53,9%, tăng 122,1%; chi thường xuyên 4.449,5 tỷ đồng, đạt 44,5%, tăng 41,7%; chi dự phòng ngân sách 51,2 tỷ đồng, đạt 22,7%, tăng 119,4%,...Tỉnh đã tập trung điều hành dự toán ngân sách nhà nước chủ động chỉ đạo các cơ quan chuyên môn triển khai kịp thời việc nhập dự toán vốn đầu tư cho các công trình, dự án, tạo điều kiện thuận lợi cho các ngành, đơn vị và các huyện, thành phố triển khai tổ chức thực hiện ngay từ đầu năm, đồng thời chỉ đạo việc tích cực đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án và tiến độ giải ngân vốn đầu tư năm 2025.2.2. Hoạt động tín dụng ngân hàngThực hiện linh hoạt, hiệu quả các cơ chế, chính sách về tiền tệ, tín dụng, đảm bảo đáp ứng đủ, kịp thời nhu cầu vốn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh và các chương trình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh; điều chỉnh phù hợp với diễn biến, tình hình thực tế của doanh nghiệp và Nhân dân trên địa bàn tỉnh, đặc biệt là những tác động của chính sách thuế quan Hoa Kỳ. Nguồn vốn huy động tại địa phương thực hiện đạt 40.141 tỷ đồng, tăng 16,1% so với cùng kỳ; dư nợ tín dụng đạt 37.655 tỷ đồng, tăng 20,2% so với so với cùng kỳ.3. Giá cả- Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 6 năm 2025 tăng 0,82% so với tháng trước, tăng 3,49% so với cùng kỳ năm trước. Trong số 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính thì có 7 nhóm tăng giá so với tháng trước, 2 nhóm giảm giá và 2 nhóm giữ nguyên so với tháng trước là nhóm Giáo dục và Bưu chính viễn thông, cụ thể của các nhóm như sau:+ Có 7/11 nhóm hàng có chỉ số CPI tăng so với tháng trước, trong đó: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,83%. Trong đó, thực phẩm tăng 1,23%; ăn uống ngoài gia đình tăng 0,1%, nguyên nhân nhóm thực phẩm tăng là do thịt lợn tăng 2,56%, thịt gia cầm tăng 0,21%; đồ uống và thuốc lá tăng 0,13%, do thời tiết nắng nóng nhu cầu sử dụng các loại bia để giải khát của người dân tăng đồng thời giá nguyên liệu đầu vào và giá vận chuyển tăng; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 2,91%, do nhu cầu sử dụng điện, nước sinh hoạt của người dân tăng cùng với đó giá thuê nhà ở tăng cao; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,08%; nhóm giao thông tăng 1,51% nguyên nhân chủ yếu là do giá xăng, dầu điều chỉnh tăng; nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,1%.+ Có 02/11 nhóm giảm, trong đó: Nhóm may mặc, mũ nón và giày dép giảm 0,3% do một số mặt hàng giày, dép quần áo giảm giá; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác giảm 0,02%.+ Chỉ số giá vàng giảm 1,52% so với tháng trước, tăng 45,57% so với cùng kỳ năm trước và tăng 29,87% so với tháng 12 năm trước. + Chỉ số giá đô la Mỹ tăng 0,36% so với tháng trước, tăng 3,04% so với cùng kỳ năm trước và tăng 2,93% so với tháng 12 năm trước.- CPI bình quân quý II/2025 tăng 3,10% so với quý cùng kỳ, một số nhóm hàng tác động làm CPI trong quý tăng là những nhóm hàng chủ yếu sau: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 6%; đồ uống và thuốc lá tăng 1,08%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,45%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 12,16%;… chỉ số giá vàng tăng 43,82%, giá đô la Mỹ tăng 2,96%.- CPI bình quân 6 tháng đầu năm 2025 tăng 3,01% so với cùng kỳ năm 2024. Một số nguyên nhân cơ bản đã tác động tăng CPI là những nguyên nhân chủ yếu sau: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 6,53%, chủ yếu do nhóm hàng lương thực tăng 4,44% (do giá gạo tăng), thực phẩm tăng 7,65% (do giá thịt gia súc tăng), ăn uống ngoài gia đình tăng 2,07%; đồ uống và thuốc lá tăng 1,56%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 8,90%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 14,05%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 6,29%,…. chỉ số giá vàng tăng 40,37%, giá đô la Mỹ tăng 3,33%.4. Vốn đầu tư và xây dựng 4.1. Tình hình thực hiện vốn đầu tư 4.1.1. Vốn đầu tư phát triển toàn xã hộiƯớc thực hiện quý II/2025 đạt 3.920 tỷ đồng, tăng 16,95% so với quý I/2025, tăng 3,66% so với quý cùng kỳ năm trước; tính chung 6 tháng đầu năm 2025 ước đạt 7.272 tỷ đồng, tăng 0,61% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Nguồn vốn từ khu vực nhà nước ước đạt 1.993 tỷ đồng, giảm 5,56% so với cùng kỳ (chiếm 27,4% tổng nguồn vốn đầu tư); nguồn vốn đầu tư của dân cư và tư nhân ước đạt 5.004 tỷ đồng, tăng 11,85% (chiếm 68,81% tổng nguồn vốn) khu vực tư nhân chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong đầu tư phát triển toàn xã hội và giữ vai trò quan trọng trong tổng nguồn vốn, trong bối cảnh ngân sách nhà nước còn hạn hẹp rất cần các nguồn lực đầu tư từ khu vực tư nhân; Vốn vay từ các nguồn khác (của khu vực Nhà nước) ước đạt 48 tỷ đồng, giảm 75,84% (chiếm 0,66%); vốn huy động khác ước đạt 160 tỷ đồng, tăng 15,06% (chiếm 2,2%); vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 44 tỷ đồng, giảm 9,87%;...4.1.2. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước- Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước thực hiện tháng 6 đạt 419 tỷ đồng, tăng 10,80% so với tháng trước; giảm 6,31% so với tháng cùng kỳ năm trước, trong đó: Vốn ngân sách cấp tỉnh đạt 370 tỷ đồng, tăng 11,52%, giảm 9,22%; vốn ngân sách cấp huyện đạt 46 tỷ đồng, tăng 6,44%, tăng 25,33%; vốn ngân sách cấp xã đạt 2 tỷ đồng, giảm 9,68%, tăng 0,48%.- Ước thực hiện quý II/2025 đạt 1.139 tỷ đồng, giảm 11,32% so với cùng quý năm trước, trong đó: Vốn ngân sách cấp tỉnh đạt 997 tỷ đồng, giảm 13,99%; vốn ngân sách cấp huyện đạt 135 tỷ đồng, tăng 13,75%; vốn ngân sách cấp xã đạt 7 tỷ đồng, tăng 6,35%.- Ước thực hiện 6 tháng đầu năm 2025 đạt 1.946 tỷ đồng, giảm 5,92% so với cùng kỳ, trong đó: Vốn ngân sách cấp tỉnh đạt 1.698 tỷ đồng, giảm 7,92%; vốn ngân sách cấp huyện đạt 231 tỷ đồng, tăng 10,54%; vốn ngân sách cấp xã đạt 17 tỷ đồng, tăng 9,32%.4.2. Xây dựng Kịp thời phân bổ, giao, điều chỉnh kế hoạch vốn ngân sách nhà nước năm 2025. Đẩy nhanh tiến độ thực hiện các công trình trọng điểm ngay từ những ngày đầu năm, như: Đường Cao tốc Tuyên Quang - Hà Giang (giai đoạn 1) đoạn qua tỉnh Tuyên Quang; đường từ Khu du lịch suối khoáng Mỹ Lâm đến Quốc lộ 2D kết nối với đường cao tốc Tuyên Quang - Phú Thọ; Dự án đầu tư xây dựng đường từ thị trấn Sơn Dương đi Tân Trào; Bệnh viện Đa khoa tỉnh tại địa điểm mới và các dự án quan trọng khác; tổ chức triển khai các dự án mới: Dự án đầu tư xây dựng đường từ trung tâm thành phố Tuyên Quang đi khu du lịch suối khoáng Mỹ Lâm; Dự án Phát triển cơ sở hạ tầng thích ứng biến đổi khí hậu để hỗ trợ sản xuất cho đồng bào dân tộc các tỉnh miền núi, trung du phía Bắc tỉnh Tuyên Quang,... Thực hiện Đề án bê tông hóa đường giao thông nông thôn và xây dựng cầu trên đường giao thông nông thôn; các Chương trình mục tiêu quốc gia. Tổ chức Lễ khánh thành Dự án Bệnh viện Suối khoáng Mỹ Lâm với tổng diện tích gần 4 ha, quy mô 200 giường bệnh. Giải ngân vốn đầu tư công năm 2025 từ ngày 01/01/2025 đến ngày 17/6/2025 đạt 1.807,47/5.143,92 tỷ đồng (chưa bao gồm đầu tư từ nguồn thu tiền sử dụng đất chưa nhập Tabmis: 1.112,49 tỷ đồng), đạt 35% kế hoạch, chưa giải ngân 3.336,45 tỷ đồng (không bao gồm đầu tư từ nguồn thu tiền sử dụng đất chưa nhập Tabmis 1.986,09 tỷ đồng). Giải ngân vốn ngân sách nhà nước 03 Chương trình mục tiêu quốc gia đạt 394,15/1.803,55 tỉ đồng, đạt 21,85% kế hoạch.5. Hoạt động của doanh nghiệp5.1. Về tình hình hoạt động của doanh nghiệp- Tính chung trong 6 tháng đầu năm 2025, toàn tỉnh có 210 doanh nghiệp thành lập mới với tổng số vốn đăng ký là 742,43 tỷ đồng, tăng 56,72% về số doanh nghiệp, số vốn đăng ký giảm 6,27% so với cùng kỳ, số vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới đạt 3,54 tỷ đồng, giảm 40,1% so với cùng kỳ. - Tổng số doanh nghiệp đang hoạt động trên địa bàn tỉnh là 3.024 doanh nghiệp (bao gồm 11 doanh nghiệp nhà nước và 19 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài) với tổng số vốn đăng ký trên 38.054 tỷ đồng; số vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp đạt trên 12,58 tỷ đồng. - Số doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động là 194 doanh nghiệp, tăng 14,79% (tăng 25 doanh nghiệp so với cùng kỳ). Số doanh nghiệp đã hoàn tất thủ tục giải thể là 23 doanh nghiệp, tăng 35,29% (tăng 06 doanh nghiệp so với cùng kỳ). Nhìn chung, số lượng doanh nghiệp thành lập mới tăng cao trong 6 tháng đầu năm cho thấy môi trường kinh doanh được cải thiện, thủ tục hành chính được quan tâm, tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong giải quyết thủ tục đầu tư, rút ngắn thời gian cấp phép kinh doanh, hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận nguồn lực đất đai, tín dụng. 5.2. Tình hình xu hướng kinh doanh của các doanh nghiệp ngành chế biến chế tạo quý II năm 2025Kết quả điều tra về xu hướng kinh doanh của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong quý II năm 2025 cho thấy: 23,33% số doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh quý II năm nay khả quan hơn quý trước; 53,33% doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh ổn định và có 23,33% số doanh nghiệp đánh giá gặp khó khăn trong sản xuất kinh doanh. Dự kiến xu hướng kinh doanh quý III năm 2025 so với quý II cho thấy: Có 40% số doanh nghiệp đánh giá xu hướng sẽ tốt lên (trong đó có ngành: Sản xuất trang phục; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn; sản xuất kim loại) 33,33% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh sẽ ổn định (trong đó có ngành: sản xuất trang phục; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy); có 26,67% số doanh nghiệp dự báo tiếp tục khó khăn hơn. Dự tính chỉ số cân bằng của quý tiếp theo so với quý hiện tại là 13,33%.6. Kết quả tình hình sản xuất Nông, lâm nghiệp và thủy sản 6 tháng đầu năm 20256.1. Trồng trọt 6.1.1. Sản xuất vụ Xuân năm 2025Vụ xuân luôn được xác định là một trong những vụ sản xuất mang lại thu nhập cao cho người dân, do vậy ngành nông nghiệp và các địa phương trong tỉnh đã khuyến khích, tạo điều kiện để người dân đưa các cây trồng ngắn ngày có năng suất, chất lượng cao vào sản xuất, những khó khăn trong sản xuất được tháo gỡ kịp thời.Thời gian gieo trồng vụ xuân 2025, tình hình thời tiết tương đối thuận lợi, cây trồng sinh trưởng và phát triển tốt. Tỉnh đã có nhiều những cơ chế, chính sách khuyến khích, phát triển cây vụ xuân, nhiều loại cây có liên kết trong sản xuất mang lại hiệu quả kinh tế cao tiếp tục chuyển đổi cơ cấu cây trồng do vậy ngành nông nghiệp và các địa phương trong tỉnh đã khuyến khích, tạo điều kiện để người dân đưa các cây trồng ngắn ngày có năng suất, chất lượng cao vào sản xuất; một số nhóm cây mở rộng diện tích đáp ứng nhu cầu thị trường tiêu thụ. Chú trọng hơn tới chất lượng ở các nhóm rau có giá trị kinh tế cao phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu tại một số thị trường truyền thống, góp phần gia tăng giá trị kinh tế và tạo động lực phát triển sản xuất bền vững.- Cây lúa: Diện tích gieo trồng được 18.566 ha, tăng 0,46% (tăng 84,63 ha) so với vụ xuân năm 2024. Vụ xuân năm 2025, theo dự báo năng suất lúa bình quân chung 60,60 tạ/ha, tăng 0,15% (tăng 0,09 tạ/ha) so với vụ xuân năm 2024. Dự báo năng suất lúa vụ xuân giảm nhẹ do tình hình thời tiết vào đầu vụ hiện tượng mưa lốc, mưa đá xuất hiện trên địa bàn tỉnh, dự báo có ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển của cây lúa. Sản lượng ước tính 112.506,35 tấn, tăng 0,61% (tăng 681,48 tấn). - Cây ngô: Trồng được 8.248 ha, tăng 0,39% so với vụ xuân năm 2024; năng suất đạt 46,93 tạ/ha, tăng 0,52% (tăng 0,24 tạ/ha); sản lượng 38.831,31 tấn, tăng 1,24% (tăng 477,38 tấn).- Cây khoai lang: Trồng được 445 ha, tăng 12,86% so với vụ xuân năm 2024; năng suất 64,19 tạ/ha, tăng 0,93% (tăng 0,59 tạ/ha); sản lượng 3.171,44 tấn, tăng 16,17 % (tăng 441,34 tấn).- Cây đậu tương: Trồng được 110 ha, giảm 4,44% so với vụ xuân năm 2024; năng suất 20,02 tạ/ha, tăng 0,80% (tăng 0,16 tạ/ha); sản lượng 242 tấn, tăng 26,99%.- Cây lạc: Trồng được 3.267 ha, giảm 0,23% so với vụ xuân năm 2024; năng suất 29,67 tạ/ha, giảm 0,62% (tăng 0,18 tạ/ha).6.1.2. Cây lâu nămDiện tích cây chuối hiện có trên địa bàn tỉnh 2.136,79 ha, tăng 0,65% so với cùng kỳ năm trước, sản lượng ước đạt trên 9.035 tấn, tăng 0,74%; sản lượng chủ yếu được thu mua của các doanh nghiệp chế biến trên địa bàn tỉnh và tiêu thụ tại các thị trường lân cận và các địa phương khác trong cả nước,… cây vải hiện có 304,16 ha, giảm 2,16%, sản lượng 1.769,25 tấn, tăng 0,28%. Diện tích cây chè trên địa bàn tỉnh hiện có 8.138,58 ha, giảm 0,78%, (giảm 64,16 ha), sản lượng 33.866,36 tấn, tăng 0,44% so với cùng kỳ. Sản lượng tăng do sự phát triển của các loại giống chè mới có năng suất cao hơn và chịu bệnh tốt hơn, cùng với việc áp dụng các kỹ thuật trồng trọt tiên tiến, làm tăng năng suất trên mỗi diện tích đất.6.1.3. Sản xuất vụ mùa năm 2025Tỉnh đã tổ chức các lớp tập huấn tại huyện, thành phố cho cán bộ khuyến nông và một số cán bộ đoàn thể của huyện ngoài ra còn tổ chức tuyên truyền, phổ biến tiến bộ kỹ thuật, đưa tin trên Báo, Đài Phát thanh-Truyền hình, Website của Sở Nông nghiệp và PTNT, Bản tin khuyến nông... Triển khai đăng ký giống, vật tư phục vụ sản xuất vụ mùa năm 2025. Qua làm việc với các đơn vị cung ứng giống trong và ngoài tỉnh, khả năng đáp ứng nguồn giống trong vụ mùa được đảm bảo.Chuẩn bị sản xuất vụ mùa 2025 theo kế hoạch toàn tỉnh gieo cấy 24.223 ha lúa trong đó: Lúa lai 9.150 ha, lúa thuần 15.073 ha. Với quyết tâm phấn đấu hoàn thành kế hoạch sản xuất vụ mùa, đến thời điểm báo cáo chính quyền các cấp, các ngành chức năng vận động bà con nông dân thu hoạch đến đâu làm đất gieo cấy vụ mùa đến đó, tính đến ngày 20/6/2025 toàn tỉnh đã gieo cấy được 12.338 ha lúa trong đó: Lúa lai 4.577 ha, lúa thuần 7.761 ha.6.2. Tình hình sinh vật gây hại a. Cây hàng năm vụ xuân (chín cho thu hoạch): Bị rấy lứa, rầy nâu, rầy lưng trắng, bọ xít gây hại rải rác, đạo ôn cổ bong gây hại cục bộ; Cây ngô, cây lạc, đậu tương bị sâu keo, sâu đục thân, bệnh đóm lá, khô vằn gây hại; Cây mía, bị bọ trĩ, sâu đục thân, than đen, bọ hung gây hại rải rác, tỷ lệ hại nơi cao 1-3 % số cây.b. Cây lâu năm: Cây chè bị rầy xanh, bọ trĩ, bọ xít, nhện đỏ gây hại, tỷ lệ hại trung bình 3-5 %, nơi cao 6-10% số búp; Cây có múi; Nhện trắng, nhện đỏ, rám vàng gây hại rải rác, tỷ lệ hại nơi cao 2-4 % số lá; Cây nhãn, vải; Bọ xít, bệnh gây hại, mật độ trung bình 1-2 con/cành, nơi cao 3-4 con/cành, non-trưởng thành; Bệnh chổi rồng, bệnh sương mai gây hại rải rác, tỷ lệ hại nơi cao 2-4 % số cành.c. Cây lâm nghiệp (vườn ươm 1-5 tuổi): Sâu ăn lá gây hại rải rác, tỷ lệ hại nơi cao 1-2% số lá (sâu non); Bệnh chết héo gây hại rải rác trên cây keo 1-3 tuổi, nơi cao 1-3% số cây; Bệnh thán thư, bệnh phấn trắng gây hại rải rác; Bệnh cháy lá, khô cành gây hại rải rác, tỷ lệ hại nơi cao 5-7% số cây; Bệnh lở cổ rễ vườn ươm gây hại, tỷ lệ hại nơi cao 1-3% số cây.6.3. Về chăn nuôi 6.3.1. Về số lượng đàn gia súc, gia cầmĐàn trâu tổng đàn ước đạt 85.350 con, giảm 1,57% (giảm 1.357 con) so với cùng kỳ năm 2024; đàn bò 40.334 con, tăng 2,77% (tăng 1.087 con); đàn lợn 595.259 con, tăng 3,54% (tăng 20.343 con); 6.850,40 nghìn con, tăng 4,10% (tăng 270 nghìn con).6.3.2. Về sản phẩm đàn gia súc, gia cầmĐàn trâu sản lượng đạt 4.302 tấn, tăng 6,73% so với cùng kỳ năm 2024; đàn bò 1.416 tấn, tăng 7,04%; đàn lợn 37.059 tấn, tăng 6,11%; đàn gia cầm 10.741 tấn, tăng 5,92%.Nguyên nhân làm ảnh hưởng đến tình hình chăn nuôi:+ Nguyên nhân đàn trâu giảm: Là do đồng cỏ bị thu hẹp rất nhiều, trâu không còn được chăn thả tự nhiên. Tỷ lệ trâu sinh sản tự nhiên giảm khiến thiếu hụt nguồn giống, không đủ để bù đắp số lượng trâu bị khai thác làm thực phẩm dẫn đến đàn trâu bị sụt giảm.+ Đàn bò tăng so với cùng kỳ năm 2024 là do: Tỉnh đã có những chính sách hỗ trợ và các dự án chăn nuôi bò ở các địa phương, khuyến khích các hộ dân phát triển chăn nuôi nhất là chăn nuôi bò sinh sản thông qua nguồn vốn thực hiện chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, các doanh nghiệp nhập thêm bò sữa với số lượng lớn.+ Đàn lợn tăng so với cùng kỳ năm 2024 là: Người chăn nuôi lợn có xu hướng tái đàn do giá thịt lợn hơi vẫn duy trì ổn định, công tác phòng, chống và kiểm soát dịch bệnh trên địa bàn toàn tỉnh tương đối tốt. Dịch tả Lợn Châu Phi đã cơ bản được khống chế, người dân yên tâm hơn trong chăn nuôi phát triển đàn lợn.6.4. Công tác phòng chống dịch bệnh gia súc, gia cầm6.4.1. Công tác phòng chống và điều trị- Chi cục luôn chủ động phối hợp với các huyện, thành phố theo dõi chặt chẽ tình hình dịch bệnh gia súc, gia cầm, thuỷ sản trên địa bàn, đặc biệt các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm; kiểm tra công tác phòng chống dịch bệnh và tiêm phòng tại 11 xã trên địa bàn các huyện Hàm Yên, Sơn Dương, Chiêm Hóa, Yên Sơn.- Trên địa bàn các huyện, thành phố rải rác xuất hiện các bệnh khác như: viêm phổi, bệnh ký sinh trùng đường máu, bệnh tiêu chảy, bệnh phù đầu... rải rác xuất hiện trên đàn gia súc, gia cầm (tập trung lớn ở huyện Na Hang) đã được nhân viên thú y phát hiện lấy mẫu 87 hộ/11 thôn với 7.523 con gia cầm mắc bệnh buộc phải tiêu hủy.  Trước tình hình đó, Tỉnh đã chỉ đạo các Trạm Chăn nuôi và Thú y huyện, thành phố tăng cường kiểm tra, theo dõi giám sát chặt chẽ tình hình dịch bệnh trên địa bàn quản lý, tăng cường công tác phòng, chống dịch bệnh; thường xuyên theo dõi công tác thú y trên địa bàn. 6.4.2. Công tác tiêm phòng: Trong 6 tháng các huyện, thành phố trong tỉnh đã thực hiện công tác tiêm phòng bổ sung cho đàn gia súc, gia cầm, kết quả tiêm phòng: - Đàn trâu LMLM: 37.117 con; THT: 41.231 con.- Đàn bò LMLM: 25.445 con; THT: 25.880 con.- Đàn lợn LMLM: 80.729 con; THT: 386.714 con; Dịch tả: 378.268 con. - Đàn gia cầm THT: 3.542.275 con; Niucatson: 4.305.478 con. 6.5. Công tác kiểm dịch vận chuyển động vật và công tác kiểm soát giết mổ- Trong 6 tháng đầu năm đã cấp 1.819 giấy chứng nhận kiểm dịch vận chuyển, trong đó: 819 chuyến vận chuyển 125.608 con gia súc, gia cầm và 1.000 chuyến vận chuyển 18.753,5 tấn sữa tươi nguyên liệu và 13.480 kg sản phẩm động vật chế biến làm thức ăn chăn nuôi. Các lô hàng được vận chuyển đi các tỉnh: Bắc Ninh, Hà Nội, Hà Nam, Hà Giang, Nam Định...- Tại các Trạm Kiểm dịch động vật: Các huyện duy trì thực hiện kiểm dịch vận chuyển, kết quả: 6 tháng đầu năm đã kiểm tra 865 phương tiện vận chuyển đủ thủ tục vận chuyển 383.546 con gia súc, gia cầm và 1.442 kg sản phẩm động vật.- Công tác kiểm soát giết mổ và kiểm tra vệ sinh thú y: 6 tháng đầu năm Trung tâm Dịch vụ nông nghiệp các huyện, thành phố đã kiểm tra, thu phí: 1.030 con trâu, bò và 26.348 con lợn.6.6. Về sản xuất lâm nghiệp 6.6.1. Công tác trồng rừngTiếp tục tuyên truyền, vận động nhân dân tích cực tham gia thực hiện kế hoạch trồng rừng năm 2025; các ngành chức năng tăng cường công tác kiểm tra, kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm những trường hợp lấn chiếm, sử dụng đất lâm nghiệp sai mục đích trên địa bàn quản lý. Tính đến ngày 15/6/2025 tổng diện tích rừng trồng tập trung toàn tỉnh đã trồng được 9.414 ha, tăng 1,35% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán là 711,50 nghìn cây.6.6.2. Khai thác gỗ rừng trồng  Toàn tỉnh khai thác được 627.403 m3 gỗ¬, tăng 4,51% so với cùng kỳ năm 2024. Gỗ khai thác chủ yếu là gỗ rừng trồng nguyên liệu như keo, bạch đàn phục vụ cho các công ty chế biến gỗ và sản xuất giấy trên địa bàn tỉnh.6.6.3. Công tác quản lý bảo vệ rừngCông tác quản lý, bảo vệ rừng được các cấp, các ngành quan tâm, đồng thời tuyên truyền, vận động nhân dân tích cực tham gia thực hiện kế hoạch trồng rừng năm 2025; tuyên truyền, phổ biến giáo dục cho người dân nâng cao nhận thức về các chính sách quản lý bảo vệ và phát triển rừng; tăng cường kiểm tra, ngăn chặn việc phá rừng, đốt rừng, triệt phá các đường dây buôn bán, vận chuyển lâm sản trái phép. Thường xuyên cảnh báo nguy cơ cháy rừng, đẩy mạnh tuyên truyền về công tác phòng cháy chữa cháy rừng; phối hợp chặt chẽ với cơ quan chức năng và chính quyền cơ sở, các chủ rừng tăng cường kiểm tra, kiểm soát, phát hiện kịp thời, xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật các hành vi xâm hại rừng.Theo báo cáo của Chi cục Kiểm lâm tỉnh, trong 6 tháng đầu năm 2025 trên địa bàn toàn tỉnh đã xảy ra 11 vụ cháy rừng, diện tích rừng bị cháy 42,34 ha số vụ chặt phá rừng 06 vụ, diện tích rừng bị chặt phá 3,28 ha. Đã xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng, đã kiểm tra, phát hiện và xử lý tịch thu 8 phương tiện và 26,58 m3 gỗ các loại; phạt hành chính và bán thanh lý tài sản 466 triệu đồng (đã thu nộp ngân sách 466 triệu đồng).6.7. Về thuỷ sảnNăm 2025, tiếp tục với nhiều cơ chế chính sách ưu đãi của tỉnh, sự chỉ đạo, quan tâm của các cấp ủy, chính quyền, khuyến khích đầu tư vào lĩnh vực phát triển thủy sản, những năm qua việc phát triển thủy sản, đặc biệt là phát triển các loài cá đặc sản trên địa bàn tỉnh, trọng tâm là vùng hồ thủy điện đã mang lại hiệu quả kinh tế thiết thực và giải quyết việc làm tăng thu nhập cho các hộ nông dân.Ước tính, diện tích nuôi trồng thuỷ sản 6 tháng đầu năm 2025 đạt 3.307 ha, giảm 1,59% so với cùng kỳ năm 2024. Tổng sản lượng thuỷ sản ước đạt 5.974 tấn, tăng 8,31%, trong đó: Sản lượng nuôi trồng 5.172 tấn, tăng 7,81%; sản lượng khai thác 801 tấn, tăng 11,64%.7. Sản xuất công nghiệp7.1. Về phát triển công nghiệp trong tháng - Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) trong tháng tăng 0,33% so với tháng trước, tăng 16,31% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Ngành sản xuất và và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 75,45%, giảm 6,55%; khai khoáng tăng 2,87%, giảm 0,47%; công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 9,72%, tăng 25,37%; cung cấp nước và hoạt động thu gom xử lý rác, nước thải giảm 6,08%, giảm 10,5%.- Trong tháng, một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng so với tháng trước và tăng so với cùng kỳ năm trước như: Điện thương phẩm đạt 124 triệu Kwh, tăng 8,99%, tăng 7,01%; xi măng đạt 112.000 tấn, tăng 0,84%; tăng 33,85%; giày dép thể thao có mũ bằng da đạt 620 nghìn đôi, tăng 3,31%, tăng 27,62%;...Tuy nhiên, cũng có một số sản phẩm công nghiệp giảm so với tháng trước và giảm so với cùng kỳ như: giấy đế xuất khẩu đạt 1.100 tấn, giảm 9,99%, giảm 0,09%; bột giất đạt 9.500 tấn, giảm 42,42%, giảm 36,63%;…7.2. Về phát triển công nghiệp trong quý II/2025- Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) quý II/2025 ước tính tăng 9,74% so với quý cùng kỳ, trong đó: Sản xuất và phân phối điện giảm 5,96%; cung cấp nước và xử lý rác, nước thải giảm 7,7%; khai khoáng giảm 3,44%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 13,14%.- Trong quý II/2025 một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu của tỉnh đạt mức tăng trưởng khá so với quý cùng kỳ như: Điện thương phẩm tăng 4,7%; bột Felspat tăng 17,74%; xi măng tăng 16,2%; giày dép thể thao có mũ bằng da tăng 29,52%;…Tuy nhiên, cũng có một số sản phẩm công nghiệp giảm so với quý cùng kỳ như: Điện sản xuất giảm 7,73%; chè chế biến giảm 12,38%; bột giấy giảm 12,66%;…7.3. Về phát triển công nghiệp 6 tháng đầu năm 2025- Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp 6 tháng đầu năm 2025 tăng 7,37% so với cùng kỳ năm trước, Chia theo từng ngành kinh tế cấp I như sau:+ Ngành khai khoáng tăng 4,54%. Nguyên nhân chủ yếu là nhu cầu tiêu thụ những tháng gần đây tăng, làm tăng sản lượng khai thác của các doanh nghiệp sản xuất bột felspat nghiền so cùng kỳ.+ Ngành sản xuất và phân phối điện giảm 2,4%, nguyên nhân do lượng nước đổ về các hồ chứa thủy điện thấp hơn so với cùng kỳ năm trước, các nhà máy thủy điện đã đảm bảo lượng nước đủ để cung cấp điện lâu dài đến hết mùa khô; đáp ứng đủ nhu cầu sản xuất và cung ứng điện cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, và nước sinh hoạt của các hộ dân trên phạm vi toàn tỉnh.+ Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 8,84%, trong đó: Sản xuất chế biến thực phẩm tăng 1,37%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa tăng 31,13%; sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 138,05%; giường, tủ, bàn, ghế tăng 42,67%,...+ Ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải giảm 5,74%: nguyên nhân: Do hoạt động thu gom, xử lý và tiêu hủy rác thải giảm so với cùng kỳ.- Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng so với cùng kỳ năm trước như: Điện thương phẩm tăng 6,14%; bột Felspat tăng 23,41%; xi măng tăng 17,9%; may mặc tăng 9,27%; giày da tăng 32,53%;… Tuy nhiên, một số sản phẩm công nghiệp có chiều hướng giảm so với cùng kỳ như: Điện sản xuất giảm 4,22%; chè chế biến giảm 13,7%; bột barit giảm 55,38%;…Tình hình sản xuất công nghiệp tỉnh đang dần phục hồi và duy trì xu hướng tăng trưởng tích cực, tháng sau tốt hơn tháng trước, quý sau tăng hơn quý trước; tỉnh đã đẩy nhanh tiến độ triển khai xây dựng hạ tầng kỹ thuật cụm công nghiệp Xuân Vân, huyện Yên Sơn và cụm công nghiệp An Hoà - Long Bình An, thành phố Tuyên Quang; đôn đốc thực hiện các thủ tục để xây dựng Cụm công nghiệp Phúc Ứng 2, huyện Sơn Dương. Thường xuyên theo dõi, đôn đốc tình hình thực hiện tiến độ triển khai các dự án phát triển công nghiệp trên địa bàn tỉnh, đôn đốc duy trì, nâng cao công suất của các nhà máy sản xuất mới hoàn thành đưa vào hoạt động năm 2024, trong 6 tháng đầu năm có thêm 04 dự án sản xuất công nghiệp đi vào hoạt động: Dự án Nhà máy sản xuất giày dép thể thao và giày lười cao cấp; Dự án Nhà máy sản xuất gia công chế tạo đồ chơi thú bông; Đầu tư xây dựng đường dây và Trạm biến áp 110 kV Tuyên Quang 2, tỉnh Tuyên Quang; Nhà máy nhiên liệu sinh khối EREX SAKURA TUYÊN QUANG với tổng vốn đầu tư trên 774,9 tỷ đồng.8. Thương mại và Dịch vụHoạt động thương mại, dịch vụ và vận tải trên địa bàn tỉnh trong những tháng đầu năm diễn ra sôi động, tăng trưởng khá so với cùng kỳ; tỉnh đã chỉ đạo theo dõi sát diễn biến giá cả, ổn định thị trường, kiểm soát lạm phát; thành lập Tổ công tác của tỉnh kiểm tra, giám sát mở đợt cao điểm đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trên địa bàn. 8.1. Doanh thu bán lẻ hàng hóa Doanh thu bán lẻ hàng hóa trong tháng ước đạt 2.735 tỷ đồng, tăng 1,6% so với tháng trước, tăng 13,01% so với tháng cùng kỳ. Trong đó, một số nhóm hàng tăng so với tháng trước, tăng so với cùng kỳ, cụ thể như sau: Hàng lương thực, thực phẩm đạt 914 tỷ đồng, tăng 0,1%, tăng 13,05%; may mặc đạt 160 tỷ đồng, tăng 4,47%, tăng 10,45%; đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình đạt 297 tỷ đồng, tăng 3,36%, tăng 11,91%;…Ở chiều ngược lại, một số nhóm hàng giảm so với tháng trước và tăng so với cùng kỳ như: Phương tiện đi lại, trừ ô tô con đạt 117 tỷ, giảm 8,98%, tăng 39,61%; hàng hóa khác đạt 486 tỷ đồng, giảm 1,06%, tăng 42,31%,…Tính chung trong quý II/2025, doanh thu bán lẻ hàng hóa ước đạt 8.006 tỷ đồng, tăng 11,71% so với quý cùng kỳ. Tính trong 6 tháng đầu năm 2025, doanh thu bán lẻ hàng hóa ước đạt 15.822 tỷ đồng, tăng 13,06% so với cùng kỳ.8.2. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ khác- Trong tháng, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 247 tỷ đồng, tăng 1,85% so với tháng trước, tăng 11,62% so với cùng kỳ. Trong đó: Dịch vụ lưu trú đạt 23 tỷ đồng, tăng 2,2%, tăng 5,95%; ăn uống đạt 223 tỷ đồng, tăng 1,79%, tăng 12,23%. Tính chung trong quý II/2025 dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 731 tỷ đồng, tăng 10,77% so với quý cùng kỳ. Tính trong 6 tháng đầu năm 2025, dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 1.392 tỷ đồng, tăng 11,12% so với cùng kỳ.- Trong tháng, doanh thu du lịch lữ hành ước đạt 0,65 tỷ đồng, tăng 9,3% so với tháng trước, tăng 18,65% so với cùng kỳ. Tính chung trong quý II/2025 du lịch lữ hành ước đạt 1,77 tỷ đồng, tăng 16,06% so quý cùng kỳ. Tính trong 6 tháng đầu năm 2025 du lịch lữ hành ước đạt 3,36 tỷ đồng, tăng 24,23%.- Doanh thu dịch vụ khác trong tháng ước đạt 127 tỷ đồng, tăng 1,22% so với tháng trước, tăng 16,58% so với cùng kỳ. Trong đó: Dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ đạt 21 tỷ đồng, tăng 5,16%, tăng 14,11%; dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí đạt 51 tỷ đồng, tăng 0,06%, tăng 43,55%; nhóm sửa chữa máy vi tính, đồ dùng cá nhân và gia đình đạt 15 tỷ đồng, tăng 2,89%; tăng 28,73%;... Tính chung trong quý II/2025 dịch vụ khác ước đạt 374 tỷ đồng, tăng 12,87% so quý cùng kỳ. Tính trong 6 tháng đầu năm 2025, dịch vụ khác ước đạt 739 tỷ đồng, tăng 13,38% so với cùng kỳ. 8.3. Xuất, nhập khẩu hàng hóaKim ngạch xuất khẩu hàng hóa trong 6 tháng đầu năm 2025 ước đạt 93,05 triệu USD, tăng 39,04% so với cùng kỳ. Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa 6 tháng ước đạt 43,86 triệu USD, tăng 8,25% so với cùng kỳ. Một số nhóm hàng có sản phẩm xuất khẩu trong 6 tháng đạt mức tăng trưởng cao so với cùng kỳ như: Đũa gỗ xuất khẩu tăng 31,5%; antimony thỏi tăng 90,1%;… Bên cạnh đó, một số nhóm hàng có kim ngạch xuất khẩu giảm so với cùng kỳ: Chè xuất khẩu giảm 49,3%; giấy đế xuất khẩu giảm 11,3%; hàng dệt may giảm 21,5%;... Một số mặt hàng nhập khẩu chính được dùng làm nguyên liệu phục vụ sản xuất hàng hàng may mặc tiếp tục tăng, cho thấy những dấu hiệu trong phục hồi trong sản xuất may mặc. Trong 6 tháng đầu năm, nhóm hàng vải may mặc, phụ liệu may mặc, phụ liệu khác đạt 36 triệu USD, tăng 28,1% so với cùng kỳ; nhóm máy móc, thiết bị, phụ tùng, hàng hóa khác đạt 7,9 triệu USD, tăng 32,8%.  9. Vận tải hàng hóa và hành khách Từ đầu năm đến nay, nhu cầu đi du lịch, lễ hội và vận chuyển hàng hóa của người dân tăng cao; ngành chức năng đã chỉ đạo các đơn vị quản lý giao thông, Bến xe khách, các doanh nghiệp, hợp tác xã và các hộ kinh doanh cá thể vận tải trên địa bàn tỉnh chuẩn bị đầy đủ phương tiện, bảo đảm phục vụ nhu cầu đi lại của nhân dân được thuận lợi, an toàn,... chú trọng, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát về việc kê khai, niêm yết giá; xử lý các hành vi vi phạm quy định pháp luật về bảo đảm trật tự, an toàn giao thông, vi phạm nồng độ cồn, chở quá khổ, quá tải, quá số người quy định, phương tiện không bảo đảm an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường...9.1. Doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải- Doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải tháng 6 ước đạt 452 tỷ đồng, tăng 4,75% so với tháng trước, tăng 23,58% so với cùng kỳ. Trong đó, vận tải hành khách ước đạt 82 tỷ đồng, tăng 4,13%, tăng 38,91%; vận tải hàng hóa ước đạt 369 tỷ đồng, tăng 4,88%, tăng 20,61%; kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 1 tỷ đồng, tăng 6,96%, tăng 36,87%; bưu chính, chuyển phát đạt 0,36 tỷ đồng, tăng 6,27%, tăng 16,24%. - Ước thực hiện quý II/2025 doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 1.305 tỷ đồng, tăng 21,18% so với quý cùng kỳ. Trong đó, vận tải hành khách ước đạt 238 tỷ đồng, tăng 36,13%; vận tải hàng hóa ước đạt 1.064 tỷ đồng, tăng 18,26%; kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 2 tỷ đồng, tăng 37,84%; bưu chính, chuyển phát đạt 1 tỷ đồng, tăng 18,5%. - Tính chung, trong 6 tháng đầu năm 2025, doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 2.650 tỷ đồng, tăng 21,9% so với cùng kỳ. Trong đó, doanh thu vận tải hành khách ước đạt 475 tỷ đồng, tăng 32,36%; vận tải hàng hóa ước đạt 2.169 tỷ đồng, tăng 19,79%; kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 4 tỷ đồng, tăng 38,26%; bưu chính, chuyển phát đạt 2 tỷ đồng, tăng 36,13%. 9.2. Vận tải hành khách và hàng hóa9.2.1. Vận tải hành khách- Hành khách vận chuyển trong tháng 6 ước đạt 1,52 triệu lượt hành khách, tăng 3,02% so với tháng trước, tăng 38,46% so với cùng kỳ; khối lượng hành khách luân chuyển ước đạt 101,79 triệu lượt hành khách.km, tăng 2,63%, tăng 31,28%.- Ước thực hiện quý II/2025, hành khách vận chuyển ước đạt 4,4 triệu lượt hành khách, tăng 34,44% so với quý cùng kỳ; hành khách luân chuyển ước đạt 296,87 triệu lượt hành khách.km, tăng 28,77%.- Tính chung trong 6 tháng, hành khách vận chuyển ước đạt 8,62 triệu lượt hành khách, tăng 28,60% so với cùng kỳ; hành khách luân chuyển ước đạt 597,10 triệu lượt hành khách.km, tăng 27,35%.9.2.2. Vận tải hàng hóa- Hàng hóa vận chuyển trong tháng 6 ước đạt 2,57 triệu tấn, tăng 4,93% so với tháng trước, tăng 23,24% so với cùng kỳ; hàng hóa luân chuyển ước đạt 155,64 triệu tấn.km, tăng 1,39%, tăng 14,72%. - Ước thực hiện quý II/2025, hàng hóa vận chuyển ước đạt 7,51 triệu tấn, tăng 23,92% so với quý cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 463,53 triệu tấn.km, tăng 16,44%.- Tính chung trong 6 tháng, hàng hóa vận chuyển ước đạt 14,80 triệu tấn, tăng 22,29% so với cùng kỳ; hàng hóa luân chuyển ước đạt 940,15 triệu tấn.km, tăng 18,21%.10. Về du lịch Chỉ đạo khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế để phát triển du lịch, các ngành dịch vụ trong Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Triển khai Quyết định của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt nhiệm vụ lập quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi Danh lam thắng cảnh quốc gia đặc biệt Khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang - Lâm Bình. Tổ chức thành công Khai mạc năm du lịch tỉnh Tuyên Quang 2025, các hoạt động kích cầu du lịch, sự kiện văn hóa, các lễ hội truyền thống thu hút đông đảo du khách. Trong tháng 6/2025, ước thu hút được 300.000 lượt khách du lịch, tổng thu từ khách du lịch đạt 485 tỷ đồng (nâng tổng số 6 tháng năm 2025, ước thu hút 1.942.000 lượt khách (khách quốc tế 3.455 lượt khách), đạt 65% KH năm, tăng 4 % so với cùng kỳ; tổng thu từ khách du lịch đạt 2.858 tỷ đồng, đạt 60 % kế hoạch năm, tăng 26 % so với cùng kỳ). II. LĨNH VỰC VĂN HÓA - XÃ HỘI 1. Về lao động việc làmCác giải pháp tạo việc làm mới đã được tỉnh Tuyên Quang thực hiện hiệu quả trong thời gian qua gồm: tăng cường các hoạt động liên kết trong đào tạo nghề, tư vấn, tìm kiếm giới thiệu việc làm mới, thu hút đầu tư trên địa bàn tỉnh...Tại các cơ sở đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh, công tác tuyển sinh đã ngày càng gắn với nhu cầu xã hội. Nhiều ngành nghề có tỷ lệ xin được việc làm cao, phù hợp với thực tế địa phương đã thu hút được nhiều lao động nông thôn theo học. Tiêu biểu như: Công nghệ ô tô, điện công nghiệp, vận hành máy thi công nền…Trong 6 tháng đầu năm 2025, tạo việc làm cho 15.013 người, đạt 63,9% kế hoạch, giảm 11% so với cùng kỳ, trong đó: Lao động làm việc trong các ngành kinh tế tại tỉnh 8.810 người; đi làm việc tại các tỉnh, thành phố trong nước 5.583 người; đi làm việc ở nước ngoài 620 người.2. Đời sống dân cư Từ đầu năm đến nay, tình hình đời sống dân cư trên địa bàn tỉnh tiếp tục ổn định. Giá cả các mặt hàng thiết yếu không có biến động lớn, duy trì sự bình ổn. Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong các khu, cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh cơ bản đạt kế hoạch đề ra, đa số doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả và phát triển, không xảy ra tình trạng cắt giảm giờ làm, nghỉ việc, nghỉ luân phiên và chấm dứt hợp đồng với người lao động, đời sống của người lao động trong các công ty đang dần được cải thiện.Thực hiện đầy đủ các chính sách, chương trình thúc đẩy bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ; công tác tiếp nhận, quản lý, điều trị, cai nghiện cho người nghiện ma túy tại cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh. Tiếp tục thực hiện hiệu quả Đề án giảm nghèo bền vững gắn với thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững. Thực hiện quyết liệt việc triển khai kế hoạch xóa nhà tạm, nhà dột nát cho hộ gia đình người có công với cách mạng, hộ nghèo, hộ cận nghèo và hộ gia đình khó khăn về nhà ở; Ban Chỉ đạo xóa nhà tạm, nhà dột nát tỉnh chỉ đạo sát sao, thường xuyên nắm bắt tình hình triển khai, cho ý kiến tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình tổ chức thực hiện, huy động sự vào cuộc của các cấp, các ngành và sự chung tay, hưởng ứng của toàn thể Nhân dân; đến ngày 20/6/2025, tổng số nhà đã khởi công, đang xây dựng và nhà đã hoàn thành đưa vào sử dụng là: 6.908/6.928 căn, đạt 99,71% kế hoạch (làm mới 4.524 căn, sửa chữa 2.384 căn). Trong đó, số hộ hoàn thành: 5.694 căn, số hộ đang làm 1.214 căn, còn 20 hộ chưa triển khai thi công.3. Công tác người có công, giảm nghèo, bảo trợ xã hội và phòng chống tệ nạn xã hội 3.1. Công tác đối với người có công với cách mạngDuy trì thực hiện đầy đủ, kịp thời các chế độ, chính sách đối với người có công với cách mạng và thân nhân người có công; đẩy mạnh thực hiện các phong trào, hoạt động "đền ơn, đáp nghĩa", "uống nước nhớ nguồn", chú trọng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần đối với người có công; tỉnh đã triển khai các hoạt động tặng quà của Chủ tịch nước, quà của tỉnh đối với người có công với cách mạng trên địa bàn tỉnh nhân dịp Tết Nguyên đán Ất Tỵ năm 2025 với 16.192 suất quà, số tiền trên 6.770.900.000 đồng. (Trong đó: Quà của Chủ tịch nước 7.757 suất quà, số tiền 2.401.200.000 đồng; Quà của tỉnh 8.435 suất quà, số tiền 4.369.700.000 đồng).3.2. Công tác xã hội  Tỉnh đã triển khai thực hiện công tác trợ giúp xã hội, chăm lo, giúp đỡ các đối tượng chính sách xã hội, hỗ trợ cho các hộ có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, thiếu lương thực nhân dịp Tết Nguyên đán Giáp Thìn năm 2024; toàn tỉnh đã hỗ trợ tặng 16.192 suất quà, tổng kinh phí 6.770, 9 triệu đồng; hỗ trợ gạo trong dịp Tết cho 5.013 hộ với 14.535 nhân khẩu có nguy cơ thiếu lương thực, số gạo cứu trợ 218.025 kg gạo (15kg/khẩu, số tháng hỗ trợ 01 tháng). Duy trì công tác tiếp nhận, quản lý, điều trị, cai nghiện cho người nghiện ma túy tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh, tại thời điểm báo cáo Cơ sở đang quản lý tổng 130 học viên cai nghiện ma túy bắt buộc. Trong 6 tháng đầu năm cơ sở đã tiếp nhận 80 học viên mới, cai nghiện bắt buộc 79 học viên, cai nghiện tự nguyện 01 học viên.4. Hoạt động giáo dục và đào tạoTiếp tục thực hiện Đề án nâng cao chất lượng giáo dục đại trà giai đoạn 2021- 2025; chất lượng giáo dục có những chuyển biến tích cực và thực chất hơn. Đảm bảo tiến độ xây dựng trường mầm non, phổ thông đạt chuẩn quốc gia với 316/455 trường, đạt 69,5%; duy trì vững chắc kết quả phổ cập - xóa mù chữ; tỷ lệ học sinh phổ thông người dân tộc thiểu số học tại các trường phổ thông dân tộc nội trú, dân tộc bán trú tăng lên 21,4% (vượt 0,9% so với kế hoạch); tỷ lệ huy động trẻ đi nhà trẻ tăng nhanh (đạt 52,1%), tăng 2,6% so với năm 2024; chất lượng học sinh giỏi được duy trì, năm học 2024-2025, tại kỳ thi chọn học sinh giỏi quốc gia, tỉnh Tuyên Quang đạt 56 giải (06 giải Nhì, 22 Giải Ba và 28 giải khuyến khích), tăng 01 giải so với năm học trước, xếp thứ 24/63 tỉnh, thành phố, xếp thứ 6/14 tỉnh khu vực trung du miền núi phía Bắc về số lượng giải. Thực hiện tổng kết năm học 2024- 2025; tổ chức kỳ thi tuyển sinh vào lớp 6, lớp 10 năm học 2025-2026; chuẩn bị các điều kiện, tổ chức kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông năm 2025. Tổ chức Lễ Tuyên dương học sinh, sinh viên đạt giải cao và giáo viên, giảng viên có học sinh, sinh viên đạt giải cao trong các kỳ thi cấp tỉnh, cấp quốc gia năm học 2024-2025. Quản lý và tổ chức công tác dạy thêm, học thêm theo Thông tư của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Củng cố, ổn định mạng lưới giáo dục nghề nghiệp, xây dựng kế hoạch giáo dục nghề nghiệp năm 2025 với tổng chỉ tiêu tuyển sinh và đào tạo cho 8.500 người học.5. Hoạt động y tế Thực hiện các biện pháp giảm quá tải, nâng cao chất lượng khám chữa bệnh các tuyến; triển khai các dịch vụ kỹ thuật mới, hiện đại vào hoạt động lâm sàng và cận lâm sàng; thực hiện tốt chính sách khám chữa bệnh cho người nghèo, nhân dân các xã vùng đặc biệt khó khăn và trẻ em dưới 6 tuổi; tổng số lượt khám bệnh 597.296 lượt người bằng 49,8% kế hoạch. Thực hiện tốt chương trình tiêm chủng mở rộng, không xảy ra tai biến; triển khai chiến dịch tiêm vắc xin phòng, chống dịch sởi; kiểm soát tốt tình hình dịch bệnh. Giám sát công tác mua thuốc, dược liệu, vật tư, sinh phẩm và hóa chất xét nghiệm cho các cơ sở y tế công lập trong tỉnh. Bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm, hạn chế không để xảy ra ngộ độc thực phẩm đông người mắc. Duy trì công tác tuyên truyền vận động kế hoạch hóa gia đình, lồng ghép với thực hiện dịch vụ sức khỏe sinh sản tại cộng đồng.6. Hoạt động văn hoá, thể dục, thể thao- Lĩnh vực văn hoá: Triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa giai đoạn 2025 - 2030 trên địa bàn tỉnh. Tổ chức thành công các sự kiện văn hóa, thể thao, du lịch, Chương trình nghệ thuật kỷ niệm các ngày lễ lớn như: Chương trình nghệ thuật “Tuyên Quang chào năm 2025"; Chương trình nghệ thuật kỷ niệm 95 năm ngày thành lập Đảng cộng sản Việt Nam (03/2); 85 năm ngày thành lập chi bộ mỏ than (20/3); Chương trình nghệ thuật với chủ đề "Tuyên Quang miền đất huyền thoại" phục vụ Khai mạc năm Du lịch Tuyên Quang 2025…; Chương trình gặp mặt Phụ nữ tiêu biểu tỉnh Tuyên Quang nhân kỷ niệm 115 năm Ngày Quốc tế phụ nữ; Chương trình nghệ thuật “Những đoá sen hồng” giao lưu các cá nhân, điển hình trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh...- Lĩnh vực thể dục, thể thao: Tổ chức 07 giải thể thao cấp tỉnh; phối hợp tổ chức Lễ khai mạc và đua chặng 1,2 Cuộc đua xe đạp toàn quốc tranh Cúp Truyền hình thành phố Hồ Chí Minh lần thứ 37 “Non sông liên một dải”; tham gia 02 giải khu vực Châu Á (đạt 01 Huy chương Vàng, 02 Huy chương Đồng); 06 giải toàn quốc (đạt 05 Huy chương Vàng, 06 Huy chương Bạc, 15 Huy chương Đồng).7. Tình hình an toàn giao thông, thiên tai và phòng chống cháy, nổ7.1. Về an toàn giao thông Trong tháng, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 9 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 03 người và bị thương 5 người. So với tháng trước giảm 10% về số vụ tai nạn, số người chết giảm 40%, số người bị thương giữ nguyên. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông giảm 35,71%, số người chết giảm 40%, số người bị thương giảm 54,55%.Trong quý II/2024, toàn tỉnh đã xảy ra 29 vụ tai nạn giao thông, làm chết 13 người và làm bị thương 16 người. So với cùng quý năm trước: Số vụ tai nạn giao thông giảm 35,56%; số người chết giảm 13,33%; số người bị thương giảm 52,94%.Trong 6 tháng đầu năm 2025, toàn tỉnh đã xảy ra; 68 vụ tai nạn giao thông, 30 người chết và 42 người bị thương. So với cùng kỳ năm trước: Số vụ tai nạn giao thông giảm 18,07%; số người chết giảm 14,29%; số người bị thương giảm 54,55%.7.2. Về cháy nổTháng 6/2025, toàn tỉnh không xảy ra vụ cháy, nổ nào. Tính chung 6 tháng đầu năm, trên địa bàn tỉnh xảy ra 03 vụ cháy, làm 02 người chết, thiệt hại về tài sản ước tính 2.165 triệu đồng.7.3. Thiệt hại do thiên taiTừ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 07 vụ thiên tai vào tháng 3, tháng 5 và tháng 6. Mưa to kèm giông lốc gây thiệt hại về nhà ở, tài sản của người dân trên địa bàn tỉnh.Thiệt hại về người: Không có.Thiệt hại về nhà ở: 656 nhà bị tốc mái và hư hỏng nặng.Thiệt hại về nông, lâm nghiệp, thủy sản: Thiệt hại 325,85 ha diện tích lúa bị thiệt hại; 333 ha lâm nghiệp (cây keo, cây xưa) bị gãy đổ.Thiệt hại về chăn nuôi: 138 con lợn bị chết, cuốn trôi; 2.594 con gia cầm bị chết, cuốn trôi.Thiệt hại về cơ sở hạ tầng: Thiệt hại 01 phòng học tại điểm trường Tiểu học thôn Tân Minh, xã Kiến Thiết, huyện Yên Sơn bị tốc mái hoàn toàn, tường rào bị đổ; máy tính cơ quan; công trình phụ, mái che nhà bị hư hỏng và nhiều thiết bị dụng cụ khác bị thiệt hại.Thiệt hại về giao thông: Sạt ta luy dương 470 m3.Thiệt hại về thủy lợi: 932m kênh bị bồi lấp, hư hỏng.Thiệt hại khác: 01 xe ô tô 7 chỗ có 05 người ngồi trên xe bị cuốn trôi khi di chuyển qua cầu tràn, 05 người đã được kịp thời hỗ trợ cứu hộ, không có thiệt hại về người.Ước tính tổng giá trị thiệt hại: 20.124,5 triệu đồng.Theo dự báo từ nay đến hết năm, trên địa bàn tỉnh sẽ còn xuất hiện nhiều đợt thiên tai xảy ra; nguy cơ xảy ra lũ quét, sạt lở đất và ngập úng, đặc biệt là nơi có địa hình dốc, khu vực có kết cấu đất đá kém ổn định, vùng trũng thấp, ven sông suối. Để chủ động ứng phó với các điều kiện thời tiết cực đoan, tỉnh đã yêu cầu các ngành chức năng, địa phương tập trung theo dõi chặt chẽ diễn biến thời tiết để chủ động tổ chức di dời, sơ tán người dân khi có tình huống xảy ra; đồng thời, kiểm tra rà soát và thực hiện các biện pháp đảm bảo an toàn công trình giao thông, thủy lợi, chủ động các biện pháp ứng phó nhằm hạn chế thấp nhất thiệt hại có thể xảy ra.8. Một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm 6 tháng cuối năm 2025Với quyết tâm hoàn thành cao nhất các mục tiêu, chỉ tiêu kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh đã đề ra trong năm 2025. Để phấn đấu hoàn thành các mục tiêu theo kế hoạch cần phải tiếp tục thực hiện tốt một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm sau:1. Triển khai thực hiện Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã của tỉnh Tuyên Quang; Kế hoạch triển khai thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về hợp nhất đơn vị hành chính tỉnh Tuyên Quang và tỉnh Hà Giang. Khẩn trương rà soát, sửa đổi, bổ sung, ban hành mới các văn bản, quy định, quy chế,… để bảo đảm tổ chức và vận hành hiệu quả mô hình chính quyền địa phương hai cấp sau sắp xếp. Tổ chức thực hiện kịp thời, có hiệu quả việc thành lập, kiện toàn, ổn định tổ chức bộ máy, đi vào hoạt động của các cơ quan, đơn vị sau khi sáp nhập các đơn vị hành chính cấp tỉnh và thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp 13 đảm bảo, kịp thời, chặt chẽ, thông suốt, đúng mục tiêu tinh gọn, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả. Thực hiện bố trí, sắp xếp cán bộ, công chức, viên chức, người lao động; bố trí trụ sở, trang thiết bị, các điều kiện bảo đảm phục vụ công tác của chính quyền và các cơ quan chức năng của tỉnh, cấp xã hoạt động hiệu quả, đúng quy định, đảm bảo hoạt động thường xuyên, liên tục, phục vụ tốt nhất cho Nhân dân, không làm gián đoạn, không ảnh hưởng đến các hoạt động của tổ chức, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp và người dân. Tổ chức thực hiện phương án bàn giao, tiếp nhận, chuyển tiếp các chương trình, nhiệm vụ, dự án, kế hoạch đầu tư công trong quá trình sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy chính quyền địa phương hai cấp. Tập trung huy động, phân bổ, quản lý các nguồn lực (tài chính, đất đai, tài sản công, đầu tư công,…), đảm bảo chặt chẽ, hiệu quả, tuyệt đối không để xảy ra tiêu cực, tham nhũng, thất thoát, lãng phí tài sản, ngân sách Nhà nước.2. Đẩy mạnh phát triển nông lâm nghiệp, công nghiệp, thương mại, dịch vụ, du lịch. Thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp khai thác tiềm năng, lợi thế, đặc biệt chú trọng phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo thực hiện hiện tốt các mục tiêu tăng trưởng đã đề ra, đồng thời đảm bảo an sinh xã hội, nâng cao đời sống Nhân dân. Chủ động nắm chắc tình hình, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, nhất là về hoạt động sản xuất kinh doanh, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội.3. Triển khai thực hiện nghiêm chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Giáo dục và Đào tạo, của tỉnh về tổ chức năm học 2025-2026. Tổ chức các chương trình văn hóa nghệ thuật, thể thao trên địa bàn, tạo điểm nhấn thu hút khách du lịch, nhất là trong dịp hè 2025. Chuẩn bị tốt các điều kiện để tổ chức Lễ hội Thành Tuyên năm 2025. Thực hiện các phong trào thi đua, cuộc vận động thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội, tích cực hưởng ứng Phong trào Cả nước thi đua đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và Bình dân học vụ số. Chuẩn bị tổ chức tốt các hoạt động kỷ niệm 80 năm Cách mạng tháng Tám, Quốc khánh 2/9. Quyết tâm hoàn thành kế hoạch xóa nhà tạm, nhà dột nát trên địa bàn tỉnh trước ngày 30/8/2025.4. Thực hiện tốt các nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội của địa phương. Chủ động nắm chắc tình hình, kịp thời phát hiện, ngăn chặn, xử lý các vấn đề phức tạp nảy sinh ngay từ đầu và từ cơ sở. Tăng cường đấu tranh, tấn công trấn áp các loại tội phạm, tệ nạn xã hội, làm tốt công tác điều tra, đảm bảo nghiêm minh, đúng quy định. Thực hiện tốt công tác tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo, giải quyết các vấn đề bức xúc của Nhân dân.CHI CỤC THỐNG KÊ TỈNH TUYÊN QUANG

Tình hình kinh tế - xã hội tháng 5 năm 2025 tỉnh Tuyên Quang
  •   10/11/2025 21:53

I. PHÁT TRIỂN KINH TẾ  1. Về sản xuất nông nghiệp (tính đến ngày 20/5/2025)1.1. Trồng trọt 1.1.1. Sản xuất vụ xuân năm 2025Tháng 5, là thời điểm lúa xuân đã trỗ, chín sáp và ngả màu, cây ngô đang trong giai đoạn trổ cờ, cây lạc, cây đậu tương ở một số địa phương đã được thu hoạch và một số cây rau màu khác đang phát triển tốt. Các cấp chính quyền trên địa bàn đang tập trung chỉ đạo thực hiện tốt công tác thu hoạch cây vụ xuân đảm bảo đúng tiến độ, giải phóng diện tích đất để chuẩn bị cho vụ mùa 2025. Kết quả gieo trồng vụ xuân:Cây lúa đã cấy 18.566 ha, đạt 101,5% kế hoạch, tăng 0,65% so với cùng kỳ, (trong đó: Lúa lai 8.855 ha; lúa thuần 9.711 ha); cây ngô đã trồng 8.248 ha, đạt 102,5%, giảm 0,17%; cây lạc 3.267 ha, đạt 98,8%, giảm 0,23%; cây đậu tương 110 ha, đạt 99,7%, giảm 4,44%; cây khoai lang 445 ha, đạt 100%, tăng 12,86%; cây mía trồng mới 723 ha, trồng lại là 208 ha. 1.1.2 Cây lâu năm- Tính đến tháng 5, diện tích cây cam hiện có 5.293,8 ha, giảm 17,9% so với cùng kỳ năm trước. Diện tích cây bưởi 5.292,5 ha, tăng 0,7%; cây chanh 1.599,8 ha, tăng 6,8%;…- Cây chè hiện có 8.192,5 ha, giảm 0,1% so với cùng kỳ. Trong đó, diện tích chè cho sản phẩm là 7.921,7 ha, giảm 0,5%.1.2. Tình hình sinh vật gây hại - Cây hàng năm vụ xuân: Cây lúa xuân (ngậm sữa - vào chắc): Rầy nâu, rầy lưng trắng, bọ xít gây hại rải rác; Cây ngô, cây lạc, đậu tương: Sâu đục thân, sâu cuốn lá, sâu khoang gây hại rải rác; Cây mía (đẻ nhánh) Bọ trĩ gây hại rải rác, tỷ lệ hại 3-5 %; Bọ hung gây hại rải rác tại một số ruộng đất soi bãi, mật độ nơi cao 1-2 con/hố.- Cây lâu năm: Cây chè (ra búp): Rầy xanh, bọ trĩ, bọ xít gây hại, tỷ lệ hại trung bình 2-3%, nơi cao 3-5% số búp; Cây có múi; Nhện trắng, rám vàng gây hại rải rác, tỷ lệ hại nơi cao 3-5% số lá; Cây nhãn, vải (hoa – quả non); Bọ xít nâu gây hại, mật độ trung bình 1-2 con/cành, nơi cao 4-6 con/cành, non-trưởng thành; Bệnh chổi rồng, bệnh sương mai, nhện lông nhung gây hại rải rác, tỷ lệ hại nơi cao 3-5% số cành.- Cây lâm nghiệp (vườn ươm 1-5 tuổi): Sâu ăn lá gây hại rải rác, tỷ lệ hại nơi cao 1-2% số lá (sâu non); Bệnh chết héo gây hại rải rác trên cây keo 1-3 tuổi, nơi cao 3-5% số cây; Bệnh thán thư, bệnh vàng lá, khô cành, khô ngọn gây hại rải rác trên cây bạch đàn tuổi 1-2, tỷ lệ hại nơi cao 2-4% số cây.1.3. Về chăn nuôi Đàn trâu 85.570 con, giảm 2,47 % (giảm 2.170 con) so với cùng kỳ năm 2024; đàn bò 40.183 con, giảm 0,99% (giảm 401 con); đàn lợn 602.706 con, tăng 2,96% (tăng 17.347 con); đàn gia cầm 7.534,18 nghìn con, tăng 3,07% (tăng 224,49 nghìn con).Đánh giá chung tình hình chăn nuôi+ Đàn trâu, đàn bò giảm do chăn nuôi trâu, bò hiện nay hiệu quả kinh tế thấp; diện tích chăn thả bị thu hẹp; diệt tích đất trồng cỏ rất ít, phần lớn đều tận dụng những rẻo đất nhỏ nên năng suất, chất lượng cỏ kém, hơn nữa thiếu lao động chăn dắt dẫn đến bà con giảm tổng đàn. + Đàn lợn tăng nhẹ so với cùng kỳ năm 2024 là do bệnh dịch tả lợn Châu Phi trên toàn tỉnh cơ bản đã được khống chế, giá lợn ổn định phần nào mang lại thu thập cho người nông dân nên thời gian gần đây đàn lợn có xu hướng tái đàn. + Chăn nuôi gia cầm luôn được quan tâm và phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về tiêu dùng thực phẩm trong nước; trên địa bàn tỉnh đã xuất hiện nhiều mô hình chăn nuôi tiên tiến, theo hướng liên kết hiệu quả kinh tế cao.1.4. Về công tác phòng chống dịch bệnh gia súc, gia cầm trong tháng 1.4.1. Công tác phòng chống và điều trị- Trong tháng Chi cục Thú y luôn chủ động phối hợp với các huyện, thành phố theo dõi chặt chẽ tình hình dịch bệnh gia súc, gia cầm, thuỷ sản trên địa bàn tỉnh, đặc biệt các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm. Một số bệnh nội, ngoại khoa ký sinh trùng xuất hiện trên đàn gia súc, gia cầm đã được nhân viên thú y phát hiện, chẩn đoán và điều trị kịp thời số gia súc khỏi bệnh: 256 con.- Dịch tả lợn Châu phi trong tháng phát sinh tại 21 hộ/02 thôn, xã Thượng Nông, huyện Na Hang. Số lợn tiêu hủy là 93 con/2.454 kg.1.4.2. Công tác kiểm dịch vận chuyển động vật, sản phẩm động vật     + Tiếp tục thực hiện chặt chẽ đúng quy định công tác kiểm dịch vận chuyển ngoài tỉnh, kết quả: Đã kiểm tra cấp 319 giấy chứng nhận kiểm dịch vận chuyển, trong đó: 154 chuyến vận chuyển 14.420 con gia súc, gia cầm; 165 chuyến vận chuyển 3.150,5 tấn sữa tươi nguyên liệu và 2.560 kg sản phẩm động vật chế biến làm thức ăn chăn nuôi. Lũy kế từ đầu năm đến nay đã cấp 1.589 giấy chứng nhận kiểm dịch vận chuyển, trong đó: 711 chuyến vận chuyển 116.688 con gia súc, gia cầm và 878 chuyến vận chuyển 16.140,5 tấn sữa tươi nguyên liệu và 13.480 kg sản phẩm động vật chế biến làm thức ăn chăn nuôi. Các lô hàng được vận chuyển đi các tỉnh: Bắc Ninh, Hà Nội, Hà Nam, Hà Giang, Nam Định...+ Tại các Trạm Kiểm dịch động vật: Các huyện duy trì thực hiện kiểm dịch vận chuyển, trong tháng đã kiểm tra 181 lượt phương tiện vận chuyển đủ thủ tục vận chuyển 65.077 con gia súc, gia cầm (lũy kế kiểm tra 735 phương tiện vận chuyển đủ thủ tục vận chuyển 339.414 con gia súc, gia cầm và 1.442 kg sản phẩm động vật).1.5. Về sản xuất lâm nghiệp  1.5.1. Công tác trồng rừngThời tiết tháng 5 mưa nhiều hơn so với năm trước, thuận lợi cho rừng trồng phát triển. Diện tích rừng trồng tập trung toàn tỉnh đã trồng được trong tháng là 1.991 ha, giảm 1% so với cùng kỳ năm 2024; số cây lâm nghiệp trồng phân tán trồng được là 15,04 nghìn cây.1.5.2. Khai thác gỗ rừng trồngSản lượng gỗ khai thác ước đạt 157.535 m3 gỗ, tăng 0,08% so với cùng kỳ năm 2024. Cộng dồn 5 tháng toàn tỉnh đã khai thác được trên 526.878,54 m3. Sản lượng khai thác là gỗ rừng trồng nguyên liệu.1.5.3. Công tác quản lý bảo vệ rừngCông tác quản lý, bảo vệ rừng được các cấp, các ngành quan tâm, đồng thời tuyên truyền, vận động nhân dân tích cực tham gia thực hiện kế hoạch trồng rừng năm 2025; tuyên truyền, phổ biến giáo dục cho người dân nâng cao nhận thức về các chính sách quản lý bảo vệ và phát triển rừng; tăng cường kiểm tra, ngăn chặn việc phá rừng, đốt rừng, triệt phá các đường dây buôn bán, vận chuyển lâm sản trái phép. Thường xuyên cảnh báo nguy cơ cháy rừng, đẩy mạnh tuyên truyền về công tác phòng cháy chữa cháy rừng; phối hợp chặt chẽ với cơ quan chức năng và chính quyền cơ sở, các chủ rừng tăng cường kiểm tra, kiểm soát, phát hiện kịp thời, xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật các hành vi xâm hại rừng.Theo báo cáo của Chi cục Kiểm lâm tỉnh, trong tháng trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 3 vụ cháy rừng; diện tích rừng bị cháy 0,59 ha; trong tháng đã xảy ra 2 vụ chặt phá rừng; diện tích rừng bị phá 0,90 ha. Đã xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng, đã kiểm tra, phát hiện và xử lý 11 vụ, tịch thu 1 máy cưa xăng và 2,42 m3 gỗ các loại; phạt hành chính và bán thanh lý tài sản 70,75 triệu đồng (đã thu nộp ngân sách 70,75 triệu đồng).3. Sản xuất công nghiệp3.1. Chỉ số phát triển công nghiệp - Chỉ số sản xuất công nghiệp IIP trong tháng ước tính tăng 8,11% so với tháng trước, tăng 12,46% so với cùng kỳ, cụ thể của các ngành như sau: Ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 154,52%, giảm 0,03%; cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 8,47%, giảm 0,24%; khai khoáng tăng 4,05%, giảm 10,25%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 0,5%, tăng 15,63%.Một số ngành công nghiệp cấp II có chỉ số sản xuất tăng so với cùng kỳ năm trước như: Sản xuất trang phục tăng 24,15%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 5,28%; sản xuất giường, tủ, bàn ghế tăng 40,83%;... Tính chung trong 5 tháng, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 7,27% so với cùng kỳ năm trước, Chia theo từng ngành kinh tế cấp I như sau:+ Ngành khai khoáng tăng 5,92%, nguyên nhân từ đầu năm đến nay khai thác khoáng hóa chất và khoáng phân bón tăng so với cùng kỳ. + Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 7,52%, do một số ngành chế biến tăng như: Sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 28,1%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn ( trừ máy móc, thiết bị) tăng 13,12%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 62,66%;...+ Ngành sản xuất và phân phối điện tăng 6,37% nguyên nhân là do lượng mưa từ đầu năm đến nay nhiều hơn so với cùng kỳ, nhà máy thủy điện Tuyên Quang đã tích nước tận dụng được tối đa nguồn tài nguyên nước để sản xuất điện. Bên cạnh đó nhà máy thủy điện Sông Lô 7 vừa đi vào sản xuất từ cuối năm 2024 đến đầu năm 2025 lượng điện sản xuất ổn định.+ Ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải giảm 3,89%, do hoạt động thu gom, xử lý và tiêu hủy rác thải giảm.3.2. Sản phẩm công nghiệp chủ yếu Tháng 5 năm 2025, một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng khá so với cùng kỳ năm trước: Điện thương phẩm đạt 118 triệu Kwh, tăng 8,64%; xi măng đạt 108.200 tấn, tăng 7,4%; may mặc xuất khẩu đạt 1.060 nghìn sản phẩm, tăng 8,64%; giày, dép thể thao có mũ bằng da đạt 465 nghìn đôi, tăng 5,28%;…Tuy nhiên, cũng có một số sản phẩm công nghiệp giảm so với cùng kỳ như: Điện sản xuất đạt 166 triệu Kwh, giảm 1,36%; bột Felspat đạt 9.000 tấn, giảm 11,43%; nước máy thương phẩm đạt 865 nghìn m3, giảm 0,14%;…- Tính chung trong 5 tháng đầu năm 2025, một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng khá so với cùng kỳ năm trước: Điện thương phẩm tăng 6,84%; điện sản xuất tăng 6,23%; xi măng tăng 14,54%; giày da tăng 28,1%;...Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu giảm so với cùng kỳ năm trước như: Chè chế biến giảm 7,91%; bột ba rít giảm 50%; giấy đế xuất khẩu giảm 15,28%;… Đánh giá chung, sản xuất công nghiệp trong tháng tiếp tục xu hướng tăng trưởng tích cực, sản lượng và đơn hàng một số sản phẩm thuộc nhóm ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng trưởng khá; các cấp, các ngành trong tỉnh đã triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp nắm bắt tình hình, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, hỗ trợ tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực công nghiệp sản xuất, da, giầy, xi măng,... Qua đó, giúp doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất, kinh doanh, đặc biệt là những doanh nghiệp chủ lực, có đóng góp lớn vào giá trị sản xuất của ngành công nghiệp và tăng thu ngân sách địa phương và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.4. Vốn đầu tư, xây dựng4.1. Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước thực hiện tháng 5 đạt 372 tỷ đồng, tăng 8,45% so với tháng trước, giảm 15,38% so với cùng kỳ. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 327 tỷ đồng, tăng 10,85%, giảm 18,32%; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện đạt 42 tỷ đồng, giảm 6,67%, tăng 15,19%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã đạt 2 tỷ đồng, giảm 19,38%, tăng 10,11%.Tính chung trong 5 tháng, nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 1.521 tỷ đồng, giảm 6,17% so với cùng kỳ. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 1.323 tỷ đồng, giảm 7,87%; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện đạt 184 tỷ đồng, tăng 6,69%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã đạt 15 tỷ đồng, tăng 10,37%.4.2. Hoạt động xây dựngTập trung đẩy nhanh tiến độ thực hiện các công trình trọng điểm như: Đường Cao tốc Tuyên Quang - Hà Giang (giai đoạn 1) đoạn qua tỉnh Tuyên Quang; đường từ Khu du lịch suối khoáng Mỹ Lâm đến Quốc lộ 2D kết nối với đường cao tốc Tuyên Quang - Phú Thọ; đường từ thị trấn Sơn Dương đi Tân Trào; Bệnh viện Đa khoa tỉnh tại địa điểm mới và các dự án quan trọng khác. Tiếp tục triển khai các dự án mới: Dự án đầu tư xây dựng đường từ trung tâm thành phố Tuyên Quang đi khu du lịch suối khoáng Mỹ Lâm; Dự án Phát triển cơ sở hạ tầng thích ứng biến đổi khí hậu để hỗ trợ sản xuất cho đồng bào dân tộc các tỉnh miền núi, trung du phía Bắc tỉnh Tuyên Quang,... Tiếp tục thực hiện Đề án bê tông hóa đường giao thông nông thôn và xây dựng cầu trên đường giao thông nông thôn.Tiến độ giải ngân vốn đầu tư công năm 2025 từ ngày 01/01/2025 đến ngày 15/5/2025 đạt 762,57/3.651,57 tỷ đồng (chưa bao gồm đầu tư từ nguồn thu tiền sử dụng đất chưa nhập Tabmis 1.986,09 tỷ đồng), đạt 21% kế hoạch (Trong đó, giải ngân 03 Chương trình mục tiêu quốc gia đạt 105,23/706,66 tỷ đồng, đạt 15% kế hoạch), chưa giải ngân: 2.889,0 tỷ đồng. 5. Thương mại và Dịch vụTrong tháng 5 năm 2025, tình hình thương mại dịch vụ tỉnh Tuyên Quang tiếp tục duy trì mức tăng trưởng tích cực. Thị trường hàng hóa, dịch vụ trên địa bàn khá ổn định sau kỳ nghỉ lễ 30/4 và 1/5. Các hoạt động xúc tiến thương mại, du lịch được tổ chức linh hoạt và hiệu quả, góp phần thúc đẩy tiêu dùng nội địa, nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp, các hộ sản xuất kinh doanh cá thể trên địa bàn; các chỉ tiêu kinh tế chủ yếu như tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu dịch vụ ăn uống, lưu trú, vận tải hành khách đều được ghi nhận có mức tăng trưởng tốt so với cùng kỳ tháng trước.5.1. Doanh thu bán lẻ hàng hóa Doanh thu bán lẻ hàng hóa trong tháng ước đạt 2.607 tỷ đồng, tăng 1,07% so với tháng trước, tăng 6,5% so với tháng cùng kỳ. Trong đó, một số nhóm hàng tăng so với tháng trước, tăng so với cùng kỳ, cụ thể như sau: Hàng may mặc đạt 152 tỷ đồng, tăng 1,07%, tăng 10,05%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình đạt 271 tỷ đồng, tăng 3,31%, tăng 6,87%; đá quý, kim loại quý và sản phẩm đạt 51 tỷ đồng, tăng 3,1%, tăng 17,09%,…Ở chiều ngược lại, một số nhóm hàng tăng so với tháng trước và giảm so với cùng kỳ như: Vật phẩm, văn hóa, giáo dục đạt 35 tỷ đồng, tăng 2,15%, giảm 6,01%; xăng, dầu các loại đạt 227 tỷ đồng, tăng 0,45%, giảm 16,18%,…Tính chung trong 5 tháng, tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 13.002 tỷ đồng, tăng 12,34% so với cùng kỳ.5.2. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ khác- Trong tháng, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 244 tỷ đồng, tăng 0,49% so với tháng trước, tăng 7,19% so với cùng kỳ. Trong đó: Dịch vụ lưu trú đạt 21 tỷ đồng, tăng 4,98%, tăng 0,69%; ăn uống đạt 221 tỷ đồng, tăng 0,06%, tăng 7,86%; du lịch lữ hành đạt 1 tỷ đồng, tăng 6,32%, tăng 7,65%. Tính chung trong 5 tháng, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 1.146 tỷ đồng, tăng 11,15% so với cùng kỳ.- Doanh thu dịch vụ khác trong tháng ước đạt 120 tỷ đồng, giảm 0,2% so với tháng trước, tăng 15,47% so với cùng kỳ. Trong đó: Dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 4 tỷ đồng, tăng 5,61% so với tháng trước, giảm 18,32%; sửa chữa máy vi tính, đồ dùng cá nhân và gia đình đạt 13 tỷ đồng, tăng 1,84%, tăng 15,18%;... Tính chung trong 5 tháng, doanh thu dịch vụ khác ước đạt 607 tỷ đồng, tăng 11,75% so với cùng kỳ.5.3. Giá cả- Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trong tháng tăng 2,89% so với cùng kỳ năm trước, tăng 1,52% so với tháng 12 năm trước, giảm 0,05% so với tháng trước. Tính chung trong 5 tháng, CPI bình quân tăng 2,92% so với cùng kỳ.Trong số 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính thì có 6 nhóm giảm giá so với tháng trước, 4 nhóm tăng giá và 1 nhóm giữ nguyên so với tháng trước là nhóm văn hóa, giải trí và du lịch, cụ thể của các nhóm như sau:Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,25%, do nhóm lương thực giảm 0,3%; nhóm thực phẩm giảm 0,38% (trong đó nhóm thịt lợn giảm 0,79%; thịt bò giảm 0,64%; thịt gia cầm giảm 0,57%); may mặc, mũ nón và giày dép giảm 0,3% do nhu cầu tiêu thụ các loại vải, quần áo may sẵn và giày dép của người dân giảm; thiết bị và đồ dùng gia đình giảm 0,1% do thời tiết năm nay dịu mát hơn so với năm trước làm cho nhu cầu tiêu dùng đồ điện, điều hòa giảm nhẹ; giao thông giảm 0,29% do giá xăng, dầu điều chỉnh giảm tại các kỳ điều hành giá của Tập đoàn xăng dầu Việt Nam; bưu chính viễn thông giảm 0,1%; hàng hóa và dịch vụ khác giảm 0,29% do nhu cầu về dịch vụ chăm sóc cá nhân giảm.Nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,38% do thời tiết vào hè nhu cầu tiêu thụ các loại rượu, bia của người dân tăng; nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0,59% nguyên nhân chủ yếu là do giá vật liệu xây dựng tăng; nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,18% do thời tiết nắng, mưa đan xen, xuất hiện các bệnh liên quan đến đường hô hấp, cúm, bệnh sởi, thủy đậu,… khiến nhu cầu sử dụng các loại thuốc điều trị tăng; nhóm giáo dục tăng 0,07% do giá một số mặt hàng văn phòng phẩm tăng.- Chỉ số giá vàng tăng 45,39% so với cùng kỳ năm trước, tăng 31,87% so với tháng 12 năm trước, tăng 5,96% so với tháng trước. Tính chung trong 5 tháng đầu năm 2025, giá vàng tăng 39,35% so với bình quân cùng kỳ. - Chỉ số giá đô la Mỹ tăng 2,66% so với cùng kỳ năm trước, tăng 2,56% so với tháng 12 năm trước, tăng 0,47% so với tháng trước. Tính chung trong 5 tháng đầu năm 2025, tăng 3,39% so với bình quân cùng kỳ.5.4. Tình hình xuất, nhập khẩu hàng hóa Tổng kim ngạch xuất hàng hóa trong tháng ước đạt 12 triệu USD, đạt 6,8% kế hoạch, giảm 4,18% so với cùng kỳ. Một số mặt hàng xuất khẩu chủ yếu trong tháng giảm so với cùng kỳ như: Chè xuất khẩu đạt 365 tấn, giảm 58,2%; hàng dệt may đạt 620 nghìn sản phẩm, giảm 43,6%;...Tổng kim ngạch nhập khẩu ước đạt 5,5 triệu USD, giảm 14,86% so cùng kỳ, trong đó chủ yếu là nhập máy móc, thiết bị, phụ tùng tăng 156,4%; nguyên liệu may mặc giảm 25,9%.Tính chung trong 5 tháng đầu năm 2025, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 81,1 triệu USD, đạt 46,3% kế hoạch, tăng 69,5% so với cùng kỳ. Kim ngạch nhập khẩu ước đạt 30,9 triệu USD, đạt 32,5%, tăng 16,1%. Một số mặt hàng xuất khẩu tiếp tục tăng so với cùng kỳ như: Antimony thỏi đạt 2.190 tấn, tăng 54,8%,…6. Vận tải hàng hóa và hành khách Dịch vụ vận tải: Do trong tháng có nhiều ngày nghỉ lễ nên nhu cầu vận tải tăng cao, do lượng người di chuyển nhiều hơn so với các ngày thông thường. Để đáp ứng nhu cầu này, các hộ cá thể, doanh nghiệp hoạt động vận tải tăng cường hoạt động và cung cấp các dịch vụ phục vụ du khách và người dân địa phương. Do vậy doanh thu dịch vụ vận tải hành khách tăng hơn so với tháng trước. Nhu cầu vận chuyển hàng hóa tăng cao: Hoạt động vận tải hàng hóa tăng hơn so với tháng trước do nhu cầu vận tải hàng hóa trong dịp nghỉ lễ tăng và do nhu cầu xây dựng của người dân trên địa bàn tăng nên đã tác động lớn đến ngành hoạt động vận tải. Bên cạnh đó cùng sự phát triển mạnh mẽ của thương mại điện tử, đặc biệt trong bối cảnh mua sắm trực tuyến ngày càng phổ biến. Các sự kiện mua sắm trực tuyến và các chương trình khuyến mãi từ các sàn thương mại điện tử cũng thúc đẩy nhu cầu vận chuyển hàng hóa. Những yếu tố trên làm cho doanh thu dịch vụ vận tải hàng hóa tăng hơn so với tháng trước.6.1. Doanh thu vận tải tải kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải - Doanh thu vận tải trong tháng ước đạt 442,9 tỷ đồng, tăng 4,77% so với tháng trước, tăng 23,83% so với cùng kỳ. Trong đó, vận tải hành khách đạt 85,2 tỷ đồng, tăng 10,06%, tăng 46,74%; vận tải hàng hóa đạt 356,7 tỷ đồng, tăng 3,58%, tăng 19,34%; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 0,6 tỷ đồng, tăng 6,56%, tăng 44,3%; hoạt động bưu chính, chuyển phát đạt 0,4 tỷ đồng, tăng 4,29%, tăng 24,71%.- Tính chung trong 5 tháng đầu năm 2025, doanh thu vận tải kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 2.210,9 tỷ đồng, tăng 22,21% so với cùng kỳ. Trong đó: vận tải hành khách đạt 400 tỷ đồng, tăng 33,27%; vận tải hàng hóa đạt 1.805,9 tỷ đồng, tăng 19,97%; dịch vụ hỗ trợ vận tải kho bãi đạt 3 tỷ đồng, tăng 39,93%; bưu chính, chuyển phát đạt 1,9 tỷ đồng, tăng 42,33%.6.2. Vận tải hành khách và hàng hóa- Trong tháng khối lượng hành khách vận chuyển ước đạt 1,51 triệu lượt hành khách, tăng 7,49% so với tháng trước, tăng 37,83% so với cùng kỳ; khối lượng hành khách luân chuyển ước đạt 105,56 triệu lượt hành khách.km, tăng 10,08%, tăng 36,88%. Tính chung 5 tháng đầu năm 2025, khối lượng hành khách vận chuyển ước đạt 7,14 triệu lượt hành khách, tăng 27,26% so với cùng kỳ; khối lượng hành khách luân chuyển ước đạt 501,68 triệu lượt hành khách.km, tăng 28,20%.- Khối lượng hàng hóa vận chuyển trong tháng ước đạt 2,55 triệu tấn, tăng 2,57% so với tháng trước, tăng 26,49% so với cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 156,87 triệu tấn.km, tăng 1,62%, tăng 18,16%. Tính chung 5 tháng đầu năm 2025, khối lượng hàng hóa vận chuyển ước đạt 12,33 triệu tấn, tăng 23,1% so với cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 787,87 triệu tấn.km, tăng 19,44%.7. Về du lịch Xây dựng kế hoạch tổ chức lớp tập huấn nghiệp vụ du lịch cộng đồng trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang thuộc Dự án 6 thuộc chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số miền núi giai đoạn 2021-2025; phối hợp hỗ trợ đoàn công tác xây dựng dữ liệu cho Bản đồ du lịch tương tác thông minh 3D/360 kết nối các điểm tham quan du lịch trên địa bàn tỉnh; chuẩn bị các điều kiện làm việc với Viện Khoa học Nghiên cứu nhân tài nhân lực nhằm đánh giá thực trạng chuyển đối số trong du lịch cộng đồng tại huyện Na Hang; chuẩn bị các điều kiện tổ chức lớp bồi dưỡng nghiệp vụ du lịch năm 2025 tại huyện Na Hang... Trong tháng 5/2025, thu hút được 485.000 lượt khách du lịch, tổng thu từ khách du lịch đạt 790 tỷ đồng, nâng tổng số 5 tháng đầu năm 2025 thu hút 1.642.000 lượt khách (trong đó có 3.588 lượt khách quốc tế, đạt 55% KH năm, tăng 5% so với cùng kỳ; tổng thu từ khách du lịch đạt 2.373 tỷ đồng, đạt 49% kế hoạch năm, tăng 26% so với cùng kỳ).II. LĨNH VỰC VĂN HÓA - XÃ HỘI 1. Công tác lao động, việc làm, giáo dục nghề nghiệpTiếp tục thực hiện các giải pháp hỗ trợ, tạo việc làm cho người lao động. Trong tháng toàn tỉnh có 6.191 lao động (Trong đó: Lao động làm việc trong các ngành kinh tế tại tỉnh là 2.118 người; Lao động đi làm việc các tỉnh, thành phố 3.754 người; lao động đi làm việc nước ngoài theo hợp đồng 319 người). Luỹ kế 5 tháng đầu năm đến nay toàn tỉnh có 11.317 lao động được tạo việc làm đạt 48,2% kế hoạch và bằng 86,3% so với cùng kỳ.2. Công tác đảm bảo chế độ người có công với cách mạng, bảo trợ, an sinh xã hội và phòng chống các tệ nạn2.1. Công tác đối với người có công với cách mạng Triển khai lập danh sách và phê duyệt danh sách, kinh phí tặng quà của Chủ tịch nước cho 7.715 người có công với cách mạng nhân dịp kỷ niệm 50 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước và 80 năm Ngày Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trên địa bàn tỉnh với mức quà 500.000đ/người/02 dịp. Tổ chức Đoàn đại biểu tham dự Gặp mặt, tri ân chiến sĩ cách mạng bị địch bắt tù đày có những đóng góp và thành tích nổi bật trong 50 năm qua tại huyện Côn Đảo. Phối hợp với Báo Tuyên Quang tham gia Chương trình tọa đàm “Tiếng vọng từ chiến trường xưa” nhân kỷ niệm 50 năm ngày giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2025). Triển khai thực hiện công tác chi trả trợ cấp ưu đãi đối với người có công và đối tượng chính sách khác trên địa bàn tỉnh tháng 5/2025 đối với 6.703 người, tổng kinh phí chi trả trên 23.873,7 triệu đồng; trong đó, trợ cấp hằng tháng 6.589 người, trợ cấp một lần và mai táng phí 60 người; cấp tiền mua phương tiện trợ giúp, dụng cụ chỉnh hình, phương tiện, thiết bị phục hồi chức năng cho 54 người.2.2. Công tác bảo trợ, an sinh xã hội và phòng chống các tệ nạn - Tiếp tục thực hiện tốt các chính sách trợ giúp xã hội, thường xuyên rà soát, nắm chắc tình hình đời sống nhân dân, hỗ trợp kịp thời các hộ gia đình, cá nhân gặp khó khăn do bị ảnh hưởng thiên tai, tại nạn rủi ro. - Trong tháng Cơ sở cai nghiện tỉnh đã tiếp nhận 10 học viên, cấp giấy chứng nhận hoàn thành cai nghiện cho 8 học viên; tại thời điểm báo cáo, Cơ sở cai nghiện đang quản lý 147 học viên (cai nghiện bắt buộc 146 học viên, cai nghiện tự nguyện 01 học viên).3. Hoạt động giáo dục và đào tạoTriển khai thực hiện tổng kết năm học 2024-2025; tập trung các giải pháp để nâng cao chất lượng ôn tập thi tuyển sinh đầu cấp, thi tốt nghiệp cuối cấp đảm bảo chất lượng, hiệu quả; chuẩn bị các điều kiện tổ chức kỳ thi tuyển sinh vào lớp 6, lớp 10 năm học 2025-2026; kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông năm 2025. Quản lý và tổ chức công tác dạy thêm, học thêm theo Thông tư số 29/2024/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo.4. Hoạt động y tế Tiếp tục nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh, nâng cao y đức, chăm sóc sức khỏe cho nhân dân; thực hiện tốt các chương trình y tế tại cơ sở; công tác vệ sinh an toàn thực phẩm đã được bảo đảm, hạn chế không để xảy ra ngộ độc thực phẩm đông người mắc. Số lượt người khám chữa bệnh tháng 5 năm 2025 đạt 109.651 lượt người, 5 tháng đạt 490.111 lượt người bằng 40,8% kế hoạch. Thường xuyên cập nhật thông tin về tình hình dịch bệnh và khuyến cáo người dân thực hiện các yêu cầu phòng chống dịch theo quy định; tuyên truyền khuyến khích người dân thực hiện đeo khẩu trang tại những nơi đông người và khi đi lại, di chuyển trên các phương tiện công cộng. 5. Hoạt động văn hoá - thể dục, thể thao- Lĩnh vực văn hoá: Tổ chức 07 buổi biểu diễn nghệ thuật chuyên nghiệp phục vụ nhiệm vụ chính trị (nâng tổng số 5 tháng năm 2025, tổ chức 34 buổi biểu diễn nghệ thuật chuyên nghiệp, đạt 28,3% kế hoạch năm, phục vụ trên 34.000 lượt người xem). Tổ chức Đợt phim chào mừng kỷ niệm 50 năm Ngày giải phóng miền Nam và thống nhất đất nước (30/04/1975-30/04/2025); 71 năm Ngày chiến thắng Điện Biên Phủ (07/5)... với 132 buổi chiếu phim, phục vụ 27.900 lượt người xem (nâng tổng số 5 tháng năm 2025, tổ chức 584 buổi chiếu phim, đạt 45,1% kế hoạch năm, phục vụ trên 126.370 lượt người xem), trong đó, 06 buổi chiếu phim phục vụ điểm có đồng bào Mông cư trú, phục vụ trên 1.300 lượt người xem tại xã Hùng Lợi huyện Yên Sơn.- Về thể dục thể thao: Tổ chức thành công Giải Bóng bàn tỉnh Tuyên Quang năm 2025; ban hành điều lệ, kế hoạch; quyết định thành lập Ban tổ chức, Ban trọng tài, tiểu ban chuyên môn tổ chức Lễ phát động toàn dân tập luyện môn bơi phòng, chống đuối nước và Giải bơi Thiếu niên hưởng ứng Chương trình phòng, chống đuối nước trẻ em; chương trình chào mừng Ngày Quốc tế Yoga; kế hoạch chi tiết tổ chức đăng cai giải vô địch trẻ các lứa tuổi Vật cổ điển, Vật tự do quốc gia năm 2025; quyết định thành lập Đoàn vận động viên tham dự giải vô địch Jujitsu quốc gia; kế hoạch tham gia giải cầu lông trẻ quốc gia; giải vô địch điền kinh trẻ quốc gia…6. Tình hình an toàn giao thông, thiên tai và phòng chống cháy, nổTỉnh tiếp tục triển khai đợt cao điểm tuần tra, kiểm soát, xử lý nghiêm các hành vi, vi phạm trật tự, an toàn giao thông, nhất là vi phạm về nồng độ cồn khi lái xe; vi phạm tốc độ, tránh, vượt sai quy định; vi phạm chở hàng quá tải trọng; phương tiện không đảm bảo an toàn kỹ thuật; không đội mũ bảo hiểm khi đi mô tô, xe máy, xe đạp điện; tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát trên các tuyến cao tốc, tuyến quốc lộ, đường tỉnh, đường huyện, là những nơi thường xảy ra tai nạn giao thông. 6.1. Về an toàn giao thông trong thángToàn tinh đã xảy ra 10 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 5 người và làm bị thương 5 người. So với tháng trước số vụ tai nạn và số người chết giữ nguyên; số người bị thương giảm 16,67%. So với tháng cùng kỳ số vụ tai nạn giao thông giảm 37,5%; số người chết tăng 25%; số người bị thương giảm 58,33%.Tính chung 5 tháng đầu năm 2025, toàn tỉnh đã xảy ra 59 vụ tai nạn giao thông; làm chết 27 người và làm bị thương 37 người. So với cùng kỳ năm trước: Số vụ tai nạn giao thông giảm 14,49%; số người chết giảm 10%; số người bị thương giảm 32,73%.6.2. Về thiên tai, cháy, nổ Trong tháng, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra các đợt mưa giông, lốc kèm theo mưa lớn và xuất hiện các hiện tượng sét, mưa đá và gió giật mạnh đã gây ra những thiệt hại về tài sản hòa màu của người dân, làm ảnh hưởng đến tình hình sản xuất và đời sống của nhân dân, cụ thể như sau:Thiệt hại về người: Không có.Thiệt hại về nhà ở: 617 nhà bị tốc mái và hư hỏng nặng.Thiệt hại về nông nghiệp và công trình giao thông: Giông lốc đã làm 325,05 ha lúa bị ảnh hưởng, 402,64 ha cây ngô, rau màu và cây hàng năm khác bị thiệt hại; 121 con gia súc và 2.594 con gia cầm bị thiệt hại;…. Ước tính tổng giá trị thiệt hại của các đợt thiên tai là 13.879 triệu đồng.Theo dự báo, trong thời gian tới thời tiết có tiếp tục diễn biến phức tạp. Dự báo sẽ có nhiều đợt mưa lớn bất thường, nguy cơ xảy ra các đợt thiên tai, lũ lụt và lũ quét, gây sạt lở đất, đá ở vùng có độ dốc, ngập úng ở vùng trũng. Các địa phương, người dân cần chủ động các biện pháp để chủ động ứng phó, phòng, tránh.Trong tháng, trên địa bàn tỉnh ghi nhận 02 vụ cháy nổ, làm 01 người chết, ước tính thiệt hại đang được các cơ quan chức năng tổng hợpCHI CỤC THỐNG KÊ TỈNH TUYÊN QUANG

Tình hình kinh tế - xã hội tháng 4 năm 2025 tỉnh Tuyên Quang
  •   10/11/2025 21:48

I. PHÁT TRIỂN KINH TẾ  1. Về sản xuất nông nghiệp (tính đến ngày 20/4/2025)1.1. Trồng trọt 1.1.1. Sản xuất vụ xuân năm 2025Công tác chuẩn bị cho sản xuất vụ Xuân 2025 được cấp uỷ, chính quyền, các cấp chỉ đạo sát sao, kiên quyết. Ngành chuyên môn đã kiện toàn và chỉ đạo các tổ công tác phối hợp với Uỷ ban nhân dân các huyện, thành phố kiểm tra, đôn đốc việc cung ứng giống, vật tư nông lâm nghiệp đảm bảo cung ứng đủ giống để gieo trồng 100% diện tích lúa theo kế hoạch; hướng dẫn nhân dân thực hiện sản xuất nông nghiệp theo khung kế hoạch sản xuất một số cây trồng chính; thường xuyên theo dõi, dự báo và hướng dẫn biện pháp phòng trừ sâu, bệnh hại. Kết quả: Cây lúa đã cấy được 18.294,7 ha, đạt 101,5% kế hoạch, giảm 0,68% so với cùng kỳ, trong đó: Lúa lai 8.583,3 ha; lúa thuần 9.711,4 ha; cây ngô đã trồng 8.248 ha, đạt 102,5%, giảm 0,17%; cây lạc 3.267 ha, đạt 98,8%, giảm 0,23%; cây đậu tương 110 ha, đạt 99,7%, giảm 4,44%; cây khoai lang đã trồng 445 ha, đạt 100%, tăng 12,86%; cây mía trồng mới, trồng lại là 3.163,4 ha, trong đó: Diện tích trồng mới là 723,1 ha, trồng lại là 207,6 ha.  1.1.2 Cây lâu năm- Diện tích cây chuối hiện có trên địa bàn tỉnh 2.120,74 ha, giảm 0,24% so với cùng kỳ; sản lượng ước đạt 20.669,88 tấn, tăng 2,17%, sản lượng chủ yếu được thu mua của các doanh nghiệp chế biến trên địa bàn tỉnh và tiêu thụ tại các thị trường lân cận và các địa phương khác trong cả nước.- Cây chè hiện có 8.194,47 ha, giảm 0,04%; sản lượng thu hoạch ước đạt 70.782,17 tấn, tăng 0,67% so với cùng kỳ.1.2. Tình hình sinh vật gây hại Cây lúa xuân bị rầy nâu, rầy lưng trắng, sâu quấn lá nhỏ, bọ xít gây hại rải rác; cây ngô, cây lạc, đậu tương bị sâu keo, sâu đục thân, sâu cắn nõn gây hại rải rác; cây mía (thu hoạch-nảy mầm) bị bọ trĩ, bệnh trắng lá, thối ngọn gây hại rải rác, tỷ lệ hại nơi cao 2-4 % số cây. Cây chè bị rầy xanh, bọ trĩ, bọ xít gây hại, tỷ lệ hại trung bình 2-3 %, nơi cao 4-6% số búp; cây có múi; nhện trắng, nhện đỏ, rám vàng gây hại rải rác, tỷ lệ hại nơi cao 3-5 % số lá; cây nhãn, vải (hoa – quả non) bọ xít nâu gây hại, mật độ trung bình 1-2 con/cành, nơi cao 2-3 con/cành, non-trưởng thành; bệnh chổi rồng, bệnh sương mai gây hại rải rác, tỷ lệ hại nơi cao 2-4 % số cành… Các ngành chức năng đã khuyến cáo bà con theo dõi sát sao diễn biến sâu, bệnh hại để sử dụng các loại thuốc đặc hiệu phòng, trừ bệnh kịp thời, hiệu quả.1.3. Về chăn nuôi Đàn trâu 85.610 con, giảm 2,43% (giảm 2.130 con) so với cùng kỳ năm 2024; đàn bò 40.213 con, giảm 0,91% (giảm 371 con); đàn lợn 602.847 con, tăng 2,99% (tăng 17.488 con); đàn gia cầm 7.680,3 nghìn con, tăng 3,92% (tăng 289,93 nghìn con).Đánh giá chung tình hình chăn nuôi: + Đàn trâu, đàn bò giảm do chăn nuôi trâu, bò hiện nay hiệu quả kinh tế thấp; diện tích chăn thả bị thu hẹp; diệt tích đất trồng cỏ rất ít, phần lớn đều tận dụng những rẻo đất nhỏ nên năng suất, chất lượng cỏ kém, hơn nữa thiếu lao động chăn dắt dẫn đến bà con giảm tổng đàn. + Đàn lợn tăng nhẹ do bệnh dịch tả lợn Châu Phi trên toàn tỉnh cơ bản đã được khống chế, giá lợn ổn định phần nào mang lại thu thập cho người nông dân nên thời gian gần đây đàn lợn có xu hướng tái đàn. + Chăn nuôi gia cầm luôn được quan tâm và phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về tiêu dùng thực phẩm trong nước; trên địa bàn tỉnh đã xuất hiện nhiều mô hình chăn nuôi tiên tiến, theo hướng liên kết hiệu quả kinh tế cao.1.4. Về công tác phòng chống dịch bệnh gia súc, gia cầm trong tháng 1.4.1. Công tác phòng chống và điều trịTrong tháng không có dịch bệnh truyền nhiễm xảy ra; kiểm tra, thẩm định điều kiện công bố hết dịch bệnh Cúm gia cầm tại thị trấn Na Hang, huyện Na Hang; kiểm tra công tác phòng chống dịch bệnh và tiêm phòng tại 09 xã trên địa bàn huyện Hàm Yên, Sơn Dương. Một số bệnh nội, ngoại khoa ký sinh trùng xuất hiện trên đàn gia súc đã được nhân viên thú y phát hiện, chẩn đoán và điều trị kịp thời số gia súc khỏi bệnh: 1.406 con. Dịch tả lợn Châu phi trong tháng không sẩy ra dịch bệnh.1.4.2.Công tác kiểm dịch vận chuyển động vật, sản phẩm động vậtTiếp tục thực hiện chặt chẽ đúng quy định công tác kiểm dịch vận chuyển ngoài tỉnh, kết quả: Đã kiểm tra cấp 376 giấy chứng nhận kiểm dịch vận chuyển, trong đó: 195 chuyến vận chuyển 16.696 con gia súc, gia cầm; 181 chuyến vận chuyển 3.263 tấn sữa tươi nguyên liệu và 7.080 kg SPĐV chế biến làm thức ăn chăn nuôi. Lũy kế từ đầu năm đến nay đã cấp 1.270 giấy chứng nhận kiểm dịch vận chuyển, trong đó: 557 chuyến vận chuyển 102.268 con gia súc, gia cầm và 713 chuyến vận chuyển 12.990 tấn sữa tươi nguyên liệu và 10.920 kg sản phẩm động vật chế biến làm thức ăn chăn nuôi. Các lô hàng được vận chuyển đi các tỉnh: Bắc Ninh, Hà Nội, Hà Nam, Hà Giang, Nam Định...Tại các Trạm Kiểm dịch động vật: Các huyện duy trì thực hiện kiểm dịch vận chuyển, trong tháng đã kiểm tra 184 lượt phương tiện vận chuyển đủ thủ tục vận chuyển 83.280 con gia súc, gia cầm và 1.442 kg sản phẩm động vật (lũy kế kiểm tra 554 phương tiện vận chuyển đủ thủ tục vận chuyển 274.337 con gia súc, gia cầm và 1.442 kg sản phẩm động vật).1.5. Về sản xuất lâm nghiệp  1.5.1. Công tác trồng rừngƯớc tháng 4 tổng diện tích rừng trồng tập trung toàn tỉnh đã trồng được 605 ha, tăng 0,69 % so với cùng kỳ năm 2024; số cây lâm nghiệp trồng phân tán ước tháng 4 trồng được là 109,14 nghìn cây.1.5.2. Khai thác gỗ rừng trồngSản lượng gỗ khai thác ước đạt 142.679 m3 gỗ, tăng 9,51% so với cùng kỳ năm 2024. Sản lượng gỗ khai thác chủ yếu là gỗ rừng trồng nguyên liệu.1.5.3. Công tác quản lý bảo vệ rừngCông tác quản lý, bảo vệ rừng được các cấp, các ngành quan tâm, đồng thời tuyên truyền, vận động nhân dân tích cực tham gia thực hiện kế hoạch trồng rừng năm 2025; tuyên truyền, phổ biến giáo dục cho người dân nâng cao nhận thức về các chính sách quản lý bảo vệ và phát triển rừng; tăng cường kiểm tra, ngăn chặn việc phá rừng, đốt rừng, triệt phá các đường dây buôn bán, vận chuyển lâm sản trái phép. Thường xuyên cảnh báo nguy cơ cháy rừng, đẩy mạnh tuyên truyền về công tác phòng cháy chữa cháy rừng; phối hợp chặt chẽ với cơ quan chức năng và chính quyền cơ sở, các chủ rừng tăng cường kiểm tra, kiểm soát, phát hiện kịp thời, xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật các hành vi xâm hại rừng.Theo báo cáo của Chi cục Kiểm lâm tỉnh, trong tháng trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 10 vụ cháy rừng; diện tích rừng bị cháy 39,41 ha; trong tháng không xảy ra vụ chặt phá rừng nào. Đã xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng, đã kiểm tra, phát hiện và xử lý 7 vụ, tịch thu 1 máy cưa xăng và 3,53 m3 gỗ các loại; phạt hành chính và bán thanh lý tài sản 77,5 triệu đồng (đã thu nộp ngân sách 59,5 triệu đồng).3. Sản xuất công nghiệp3.1. Chỉ số phát triển công nghiệp - Chỉ số sản xuất công nghiệp IIP trong tháng ước tính tăng 6,31% so với tháng trước, tăng 17,02% so với cùng kỳ, cụ thể của các ngành như sau: Ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 90,56%, tăng 123,11%; cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 9,1%, giảm 8,44%; khai khoáng giảm 4,26%, tăng 3,22%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 2,35%, tăng 12,65%.Một số ngành công nghiệp cấp II có chỉ số sản xuất tăng so với cùng kỳ năm trước như: Sản xuất chế biến thực phẩm tăng 65,78%; sản xuất trang phục tăng 36,39%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 206,66%,... Tính chung trong 4 tháng, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 8,03% so với cùng kỳ năm trước, Chia theo từng ngành kinh tế cấp I như sau:+ Ngành khai khoáng tăng 10,85%, nguyên nhân do khai thác khoáng hóa chất và khoáng phân bón tăng so với cùng kỳ. + Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 6,83%, do một số ngành chế biến tăng như: Sản xuất chế biến thực phẩm tăng 13,11%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế) tăng 32,96%; sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 86,64%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 32,96%,...+ Ngành sản xuất và phân phối điện tăng 25,22%, nguyên nhân là do lượng mưa từ tháng 9 đến cuối năm 2024 rất lớn, nhà máy thủy điện Tuyên Quang đã tích nước tận dụng được tối đa nguồn tài nguyên nước để sản xuất điện trong quý I. Bên cạnh đó nhà máy thủy điện Sông Lô 7 vừa đi vào sản xuất từ đầu năm 2024 đến đầu năm 2025 lượng điện sản xuất ổn định, đây là nguyên nhân chính làm cho ngành sản xuất điện tăng cao so với cùng kỳ.+ Ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải giảm 4,92%, do nhu cầu sử dụng nước sinh hoạt và sản xuất kinh doanh của hộ gia đình và doanh nghiệp giảm.3.2. Sản phẩm công nghiệp chủ yếu Trong tháng, một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng khá so với cùng kỳ năm trước: Điện sản xuất đạt 100 triệu Kwh, tăng 225,89%; xi măng đạt 137.000 tấn, tăng 23,77%; may mặc xuất khẩu ước đạt 1.550 nghìn sản phẩm, tăng 29,97%; giày dép thể thao có mũ bằng da ước đạt 480 nghìn đôi, tăng 24,6%; bột Felspat ước đạt 9.000 tấn, tăng 50%,... Tuy nhiên, cũng có một số sản phẩm công nghiệp giảm so với cùng kỳ như: Điện thương phẩm đạt 104 triệu Kwh, giảm 2,38%; giấy đế xuất khẩu ước đạt 950 tấn, giảm 7,86%; nước máy thương phẩm ước đạt 776 nghìn m3, giảm 9,29%,…- Tính chung trong 4 tháng đầu năm 2025, một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng khá so với cùng kỳ năm trước: Đường kính tăng 35,31%; điện sản xuất tăng 33,01%; bột Felspat tăng 34,02%;... Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu giảm so với cùng kỳ năm trước như: Bột ba rít giảm 33,33%; giấy đế xuất khẩu giảm 13,78%; bột giấy giảm 0,82%,… Đánh giá chung, sản xuất công nghiệp trong tháng tiếp tục xu hướng tăng trưởng tích cực, các doanh nghiệp tiếp tục chủ động nắm chắc tình hình sản xuất kinh doanh và tập trung tháo gỡ khó khăn vướng mắc đối với các vấn đề về nguyên liệu, vốn kinh doanh, thị trường tiêu thụ sản phẩm, cung cấp điện ổn định… Đồng thời cũng lên kế hoạch nâng công suất các nhà máy đã đi vào hoạt động và thu hút các dự án thuộc nhóm công nghệ mới, hiện đại. Triển khai nhiều chính sách thu hút đầu tư trong lĩnh vực công nghiệp, cải thiện thủ tục hành chính, minh bạch hóa môi trường đầu tư, kinh doanh nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho các nhà đầu tư nghiên cứu và triển khai dự án, phấn đấu hoàn thành kế hoạch đã đề ra.4. Vốn đầu tư, xây dựng4.1. Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước thực hiện tháng 4 đạt 347 tỷ đồng, tăng 1,86% so với tháng trước, giảm 12,99% so cùng kỳ. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 301 tỷ đồng, tăng 1,57%, giảm 14,37%; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện đạt 43 tỷ đồng, tăng 4,56%, giảm 3,36%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã đạt 3 tỷ đồng, giảm 7,02%, tăng 7,15% so với cùng kỳ.Tính chung trong 4 tháng, nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 1.153 tỷ đồng, giảm 29,31% so với cùng kỳ. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 1.001 tỷ đồng, giảm 30,58%; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện đạt 140 tỷ đồng, giảm 20,63%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã đạt 3 tỷ đồng, giảm 6,15%.4.2. Hoạt động xây dựngTổ chức Lễ khánh thành Dự án Bệnh viện Suối khoáng Mỹ Lâm với tổng diện tích gần 4 ha, quy mô 200 giường bệnh. Tập trung đẩy nhanh tiến độ thực hiện các công trình trọng điểm như: Đường Cao tốc Tuyên Quang - Hà Giang (giai đoạn 1) đoạn qua tỉnh Tuyên Quang; đường từ Khu du lịch suối khoáng Mỹ Lâm đến Quốc lộ 2D kết nối với đường cao tốc Tuyên Quang - Phú Thọ; đường Hồ Chí Minh đoạn Chợ Chu - Ngã ba Trung Sơn; Dự án đầu tư xây dựng đường từ thị trấn Sơn Dương đi Tân Trào; Bệnh viện Đa khoa tỉnh tại địa điểm mới và các dự án quan trọng khác. Triển khai các dự án mới: Dự án đầu tư xây dựng đường từ trung tâm thành phố Tuyên Quang đi khu du lịch suối khoáng Mỹ Lâm; Dự án Phát triển cơ sở hạ tầng thích ứng biến đổi khí hậu để hỗ trợ sản xuất cho đồng bào dân tộc các tỉnh miền núi, trung du phía Bắc tỉnh Tuyên Quang,...Tiếp tục thực hiện Đề án bê tông hóa đường giao thông nông thôn và xây dựng cầu trên đường giao thông nông thôn theo kế hoạch năm 2025. Tiến độ giải ngân vốn đầu tư công năm 2025 từ ngày 01/01/2025 đến ngày 15/4/2025 đạt 545,88/3.651,57 tỷ đồng (chưa bao gồm đầu tư từ nguồn thu tiền sử dụng đất chưa nhập Tabmis 1.986.090 triệu đồng), đạt 15% kế hoạch (Trong đó: giải ngân 03 Chương trình mục tiêu quốc gia đạt 82,47/706,66 tỷ đồng, đạt 12%), chưa giải ngân: 3.105,68 tỷ đồng.5. Thương mại và Dịch vụThị trường hàng hóa trong tháng ổn định; nguồn cung các hàng hóa dồi dào, đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng của người dân; giá một số hàng hóa nhóm lương thực, thực phẩm tương đối ổn định, đáp ứng tốt nhu cầu của người tiêu dùng. 5.1. Doanh thu bán lẻ hàng hóa Doanh thu bán lẻ hàng hóa trong tháng 4 ước đạt 2.492 tỷ đồng, tăng 1,19% so với tháng trước, tăng 8,38% so với tháng cùng kỳ. Trong đó, một số nhóm hàng tăng so với tháng trước, tăng so với cùng kỳ, cụ thể như sau: Lương thực, thực phẩm đạt 897 tỷ đồng, tăng 0,25%, tăng 19,63%; hàng may mặc ước đạt 152 tỷ đồng, tăng 2,82%, tăng 11,99%; hàng hóa khác ước đạt 356 tỷ đồng, tăng 3,16%, tăng 3,42%,… Tuy nhiên, cũng có một số nhóm hàng giảm so với tháng trước và giảm so với cùng kỳ như: Nhiên liệu khác trừ xăng dầu ước đạt 42 tỷ đồng, giảm 1,87%, giảm 8,63%,… Tính chung trong 4 tháng, tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 10.308 tỷ đồng, tăng 12,95% so với cùng kỳ.5.2. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ khácTrong tháng, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 235 tỷ đồng, tăng 5,15% so với tháng trước, tăng 11,16% so với cùng kỳ. Trong đó: Dịch vụ lưu trú đạt 22 tỷ đồng, tăng 2,81%, tăng 17,18%; ăn uống đạt 212 tỷ đồng, tăng 5,4%, tăng 10,54%; dịch vụ lữ hành ước đạt 1 tỷ đồng, tăng 5,26%, tăng 20,67%. Tính chung trong 4 tháng, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 898 tỷ đồng, tăng 11,71% so với cùng kỳ.Doanh thu dịch vụ khác trong tháng ước đạt 134 tỷ đồng, tăng 5,66% so với tháng trước, tăng 13,89% so với cùng kỳ. Trong đó: Dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí ước đạt 53 tỷ đồng, tăng 12,89%, tăng 23,41%; dịch vụ sửa chữa máy vi tính, đồ dùng cá nhân và gia đình ước đạt 14 tỷ đồng, tăng 2,4%, tăng 29,27%,… Tính chung trong 4 tháng, doanh thu dịch vụ khác ước đạt 499 tỷ đồng, tăng 13,9% so với cùng kỳ.5.3. Giá cả- Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trong tháng tăng 2,94% so với cùng kỳ năm trước, tăng 1,57% so với tháng 12 năm trước, giảm 0,05% so với tháng trước. Tính chung trong 4 tháng, CPI bình quân tăng 2,92% so với cùng kỳ.Trong số 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính thì có 6 nhóm giảm giá so với tháng trước, 5 nhóm tăng giá, cụ thể như sau. Trong 6 nhóm hàng giảm giá so với tháng trước, bao gồm những nhóm hàng sau: Nhóm đồ uống và thuốc lá giảm 0,04% do nhu cầu tiêu thụ các loại rượu, bia, nước giải khát các loại giảm; nhóm may mặc, mũ nón và giày dép giảm 0,24% do thời điểm giao mùa nhu cầu mua sắm quần áo, vải vóc của người dân giảm; nhóm giao thông giảm 0,81% do giá xăng, dầu điều chỉnh giảm tại các kỳ điều hành giá của Tập đoàn xăng dầu Việt Nam; nhóm văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,09% nguyên nhân là do hoa vào mùa, giá hoa giảm sâu; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác giảm 0,57% do trời vào hè nhu cầu các dịch vụ cá nhân như cắt tóc, gội đầu giảm. Có 5 nhóm hàng tăng so với tháng trước là: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,08%, tăng chủ yếu ở nhóm thực phẩm và ăn uống ngoài gia đình; nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0,28% chủ yếu là do nhóm vật liệu bảo dưỡng chính nhà ở tăng 8,21%; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,15% nguyên nhân chủ yếu là do thời tiết vào hè nhu cầu tiêu dùng một số mặt hàng quạt điện, điều hòa tăng; nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,16% do thời tiết đang bước vào thời điểm giao mùa xuất hiện các bệnh liên quan đến đường hô hấp, cúm, viêm phổi, viêm phế quản, bệnh sởi, thủy đậu,… khiến nhu cầu sử dụng các loại thuốc điều trị và dịch vụ y tế tăng; nhóm giáo dục tăng 0,06% do một số đồ dùng văn phòng phẩm tăng.- Chỉ số giá vàng tăng 40,55% so với cùng kỳ năm trước, tăng 24,45% so với tháng 12 năm trước, tăng 10,16% so với tháng trước. Tính chung trong 4 tháng đầu năm 2025, giá vàng tăng 37,88% so với bình quân cùng kỳ. - Chỉ số giá đô la Mỹ tăng 3,17% so với cùng kỳ năm trước, tăng 2,08% so với tháng 12 năm trước, tăng 1,16% so với tháng trước. Tính chung trong 4 tháng đầu năm 2025, tăng 3,57% so với bình quân cùng kỳ.5.4. Tình hình xuất, nhập khẩu hàng hóa Tổng kim ngạch xuất hàng hóa trong tháng ước đạt 12,8 triệu USD, đạt 7,31% kế hoạch, tăng 109,8% so với cùng kỳ. Một số mặt hàng xuất khẩu chủ yếu trong tháng tăng so với cùng kỳ như: Giấy đế xuất khẩu đạt 350 tấn, tăng 6,06%; hàng dệt may đạt 920 nghìn sản phẩm, tăng 142,74%,...Tổng kim ngạch nhập khẩu ước đạt 7 triệu USD, tăng 74,5% trong đó chủ yếu là nhập máy móc, thiết bị, phụ tùng tăng 155,1%, nguyên liệu may mặc tăng 60,6%. Tính chung trong 4 tháng đầu năm 2025, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 64,5 triệu USD, đạt 30,8% kế hoạch, tăng 82,3% so với cùng kỳ. Kim ngạch nhập khẩu ước đạt 26,9 triệu USD, đạt 28,3%, tăng 33,6%. Một số mặt hàng xuất khẩu tiếp tục tăng so với cùng kỳ như: Đũa gỗ xuất khẩu ước đạt 6.710 nghìn đôi, tăng 6,4%,…6. Vận tải hàng hóa và hành khách Tỉnh đã chỉ đạo các đơn vị quản lý giao thông, bến xe khách, doanh nghiệp, hợp tác xã và các hộ kinh doanh vận tải quản lý, bảo đảm an toàn, lưu thông hàng hóa thông suốt phục vụ nhu cầu đi lại của nhân dân, nhất là dịp nghỉ lễ Giỗ tổ Hùng Vương, dịp nghỉ lễ 30/4 và 1/5; các doanh nghiệp bưu chính, viễn thông bảo đảm an toàn, an ninh trong quá trình cung ứng dịch vụ bưu chính; an toàn mạng lưới, thông tin liên lạc thông suốt đáp ứng nhu cầu thông tin liên lạc của các cơ quan nhà nước, tổ chức, doanh nghiệp và người dân. 6.1. Doanh thu vận tải tải kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải - Doanh thu vận tải trong tháng ước đạt 429,6 tỷ đồng, tăng 4,55% so với tháng trước, tăng 21,32% so với cùng kỳ. Trong đó, vận tải hành khách đạt 78,7 tỷ đồng, tăng 8,66%, tăng 36,26%; vận tải hàng hóa đạt 349,9 tỷ đồng, tăng 3,65%, tăng 18,35%; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 0,6 tỷ đồng, tăng 7,97%, tăng 45,96%; hoạt động bưu chính, chuyển phát đạt 0,4 tỷ đồng, tăng 10,42%, tăng 34,9%,…- Tính chung trong 4 tháng đầu năm 2025, doanh thu vận tải kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 1.774,8 tỷ đồng, tăng 22,29% so với cùng kỳ. Trong đó: vận tải hành khách đạt 316,1 tỷ đồng, tăng 30,56%; vận tải hàng hóa đạt 1.454,7 tỷ đồng, tăng 20,58%; dịch vụ hỗ trợ vận tải kho bãi đạt 2,4 tỷ đồng, tăng 40,49%; bưu chính, chuyển phát đạt 1,6 tỷ đồng, tăng 50,64%. 6.2. Vận tải hành khách và hàng hóa- Trong tháng khối lượng hành khách vận chuyển ước đạt 1,4 triệu lượt hành khách, tăng 6,14% so với tháng trước, tăng 31,84% so với cùng kỳ; khối lượng hành khách luân chuyển ước đạt 96,4 triệu lượt hành khách.km, tăng 5,52%, tăng 27,06%. Tính chung 4 tháng đầu năm 2025, khối lượng hành khách vận chuyển ước đạt 5,6 triệu lượt hành khách, tăng 25,14% so với cùng kỳ; khối lượng hành khách luân chuyển ước đạt 396,7 triệu lượt hành khách.km, tăng 26,23%.- Khối lượng hàng hóa vận chuyển trong tháng ước đạt 2,4 triệu tấn, tăng 4,48% so với tháng trước, tăng 24,09% so với cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 152,5 triệu tấn.km, tăng 4,57%, tăng 17,61%. Tính chung 4 tháng đầu năm 2025, khối lượng hàng hóa vận chuyển ước đạt 9,7 triệu tấn, tăng 21,5% so với cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 629,1 triệu tấn.km, tăng 19,4%.7. Về du lịch Tổ chức thành công các hoạt động Khai mạc năm du lịch tỉnh Tuyên Quang 2025 tại xã Tân Trào, huyện Sơn Dương; tham gia các hoạt động tổng kết liên kết phát triển du lịch giữa thành phố Hồ Chí Minh với các tỉnh Đông Bắc giai đoạn 2024-2025. Trong tháng 4 ước toàn tỉnh thu hút được 200.000 lượt khách du lịch, tổng thu từ khách du lịch đạt 295 tỷ đồng. Ước 4 tháng đầu năm thu hút được 1.157.000 lượt khách du lịch, đạt 38,6% kế hoạch, tăng 4,0% so với cùng kỳ; tổng thu từ khách du lịch ước đạt 1.583 tỷ đồng, đạt 33% kế hoạch, tăng 21,5% so với cùng kỳ. II. LĨNH VỰC VĂN HÓA - XÃ HỘI 1. Công tác lao động, việc làm, giáo dục nghề nghiệpTiếp tục thực hiện các giải pháp hỗ trợ, tạo việc làm cho người lao động; Trong tháng toàn tỉnh có 1.465 lao động được tạo việc làm ( trong đó 811 người làm việc trong tỉnh; 562 làm việc tại các tỉnh, thành phố trong nước; 92 người đi lao động nước ngoài theo hợp đồng). Luỹ kế từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh tạo việc làm cho 5.126 lao động, đạt 21,8% kế hoạch, (giảm 50,4% so với cùng kỳ). 2. Công tác đảm bảo chế độ người có công với cách mạng, bảo trợ, an sinh xã hội và phòng chống các tệ nạn2.1. Công tác đối với người có công với cách mạng Nhân dịp kỷ niệm 50 năm ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2025) tỉnh đã triển khai các hoạt động thăm hỏi, tặng quà, gặp mặt, tôn vinh, tri ân đối với cựu chiến binh tham gia chiến trường miền Nam, Lào, Campuchia. Tổ chức chương trình Giao lưu chính luận nghệ thuật Tuyên Quang âm vang bài ca thống nhất.2.2. Công tác bảo trợ, an sinh xã hội và phòng chống các tệ nạn - Tập trung thực hiện Kế hoạch thực hiện xóa nhà tạm, nhà dột nát cho hộ gia đình có người có công với cách mạng, hộ nghèo, hộ cận nghèo và hộ gia đình khó khăn về nhà ở; đến ngày 17/4/2025, tổng số hộ đã khởi công, đang xây dựng và hoàn thành đưa vào sử dụng nhà là 5.912 hộ/6.928 hộ, đạt 85,33% kế hoạch (làm mới 3.847 hộ, sửa chữa 2.065 hộ); trong đó, hoàn thành 2.949 căn; đang làm mới, sửa chữa 2.963 căn, còn 1.016 hộ chưa triển khai. - Duy trì công tác tiếp nhận, quản lý, điều trị, cai nghiện cho người nghiện ma túy tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh, từ đầu năm đến nay, Cơ sở đã tiếp nhận 22 học viên; cấp giấy chứng nhận hoàn thành cai nghiện cho 6 học viên. Tại thời điểm báo cáo Cơ sở đang quản lý 145 học viên (trốn cai 01 học viên). Duy trì công tác phòng chống mại dâm, hỗ trợ nạn nhân bị mua bán trở về địa phương. 3. Hoạt động giáo dục và đào tạoTriển khai thực hiện các nhiệm vụ học kỳ II; thực hiện quyết liệt, linh hoạt các giải pháp để nâng cao chất lượng ôn tập thi tuyển sinh đầu cấp, thi tốt nghiệp cuối cấp đảm bảo chất lượng, hiệu quả; chuẩn bị các điều kiện tổ chức kỳ thi tuyển sinh vào lớp 6, lớp 10 năm học 2025-2026; kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông năm 2025. Quản lý và tổ chức công tác dạy thêm, học thêm theo Thông tư số 29/2024/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo.4. Hoạt động y tế Thực hiện tốt các giải pháp nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh, nâng cao y đức, chăm sóc sức khỏe cho nhân dân; thực hiện tốt các chương trình y tế tại cơ sở; công tác vệ sinh an toàn thực phẩm đã được bảo đảm, hạn chế không để xảy ra ngộ độc thực phẩm đông người mắc. Hoàn thành việc lựa chọn nhà thầu gói thầu mua thuốc generic năm 2024 - 2026 (24 tháng) cho các cơ sở y tế công lập trên địa bàn tỉnh. 5. Hoạt động văn hoá - thể dục, thể thao- Lĩnh vực văn hoá: Triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa giai đoạn 2025 - 2030 trên địa bàn tỉnh. Chuẩn bị các điều kiện tổ chức Chương trình nghệ thuật đặc biệt, Đợt phim chào mừng kỷ niệm 50 năm Ngày giải phóng miền Nam 30/4. Ban hành kế hoạch tổ chức Liên hoan văn hóa các dân tộc tỉnh Tuyên Quang năm 2025 gắn với tổ chức các hoạt động tổng kết 50 năm nền văn học Việt Nam (30/4/1975-30/4/2025).- Về thể dục thể thao: Tổ chức thành công Lễ khai mạc và đua chặng 1,2 Cuộc đua xe đạp toàn quốc tranh Cúp Truyền hình TP HCM lần thứ 37 “Non sông liên một dải” ; Giải bóng đá nữ các dân tộc tỉnh Tuyên Quang; ban hành điều lệ, kế hoạch; lập dự toán chi tiết, quyết định thành lập Ban tổ chức, Ban trọng tài, tiểu ban chuyên môn tổ chức Giải Quần vợt các câu lạc bộ tỉnh Tuyên Quang; quyết định thành lập Đoàn vận động viên tham dự Giải Vô địch các câu lạc bộ võ cổ truyền quốc gia lần thứ XIV; Đoàn vận động viên tham dự Giải Vô địch Vật Anh Tài dân tộc; tham gia Giải Vô địch Wushu Quốc gia năm 2025 tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Giải Vô địch Pencaksilat quốc gia.7. Tình hình an toàn giao thông, thiên tai và phòng chống cháy, nổCác cấp, ngành chức năng cùng chính quyền địa phương đang tăng cường bảo đảm trật tự an toàn giao thông trên toàn địa bàn. Mục tiêu trọng tâm là hạn chế thấp nhất tai nạn giao thông, phòng tránh ùn tắc, góp phần bảo đảm giao thông thông suốt, phục vụ tốt nhu cầu đi lại của nhân dân trong dịp Nghỉ lễ 30/4 và 1/5. Đẩy mạnh tuyên truyền, vận động nhân dân và người tham gia giao thông tự giác chấp hành pháp luật, tuân thủ hiệu lệnh, hướng dẫn của lực lượng chức năng. Đồng thời, người dân cần chủ động tham gia giao thông an toàn, “Đã uống rượu, bia - không lái xe”; “Thượng tôn pháp luật để xây dựng văn hóa giao thông an toàn”; không phóng nhanh, vượt ẩu; không chở quá số người quy định; đội nón bảo hiểm đạt chuẩn khi đi môtô, xe máy, xe đạp điện; phòng tránh tai nạn đường thủy nội địa...7.1. Về an toàn giao thông trong thángTrên địa bàn tỉnh đã xảy ra 10 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 5 người và làm bị thương 6 người. So với tháng trước số vụ tai nạn tăng 11,11%; số người chết giữ nguyên; số người bị thương tăng 50%. So với tháng cùng kỳ số vụ tai nạn giao thông giảm 33,33%; số người chết giảm 16,67%; số người bị thương giảm 45,45%.Tính chung 4 tháng đầu năm 2025, toàn tỉnh đã xảy ra 49 vụ tai nạn giao thông; làm chết 22 người và làm bị thương 32 người. So với cùng kỳ năm trước: Số vụ tai nạn giao thông giảm 7,55%; số người chết giảm 15,38%; số người bị thương giảm 25,58%.7.2. Về thiên tai, cháy, nổTrong tháng, trên địa bàn tỉnh không xảy ra thiệt hại về thiên taiVề tình hình cháy, nổ: Xảy ra 01 vụ cháy rừng tại xã Hoàng Khai, huyện Yên Sơn làm 01 người chết, ước tính thiệt hại đang được các cơ quan chức năng tổng hợp, đánh giá. CHI CỤC THỐNG KÊ TỈNH TUYÊN QUANG

Tình hình kinh tế - xã hội tháng 3 và quý I năm 2025 tỉnh Tuyên Quang
  •   10/11/2025 21:44

I. PHÁT TRIỂN KINH TẾ  1. Tăng trưởng kinh tế quý I năm 20251.1. Tốc độ tăng trưởng GRDP trên địa bàn (giá so sánh 2010) quý I năm 2025Tốc độ tăng trưởng GRDP (giá so sánh năm 2010) trên địa bàn tỉnh tăng 9,70% so với cùng kỳ năm 2024, cụ thể của các lĩnh vực như sau: 1.1.1. Khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 6,09%; đóng góp 1,12 điểm phần trăm trong mức tăng chung của GRDP. Ngành nông nghiệp mặc dù còn gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng của thời tiết; thị trường tiêu thụ nông sản, giá vật tư đầu vào nhưng cũng đã vượt mọi khó khăn đạt mức tăng trưởng tương đối ấn tượng. Ngành nông nghiệp tăng 6,07%, đóng góp 0,91 điểm phần trăm; ngành lâm nghiệp tăng 5,75%, đóng góp 0,15 điểm phần trăm; ngành thủy sản tăng 7,41%, đóng góp 0,06 điểm phần trăm. 1.1.2. Khu vực Công nghiệp, xây dựng tiếp tục có nhiều tín hiệu khởi sắc và có những bước tăng trưởng ấn tượng, với mức tăng 13,15%, đóng góp vào tốc độ tăng trưởng chung là 4,21 điểm phần trăm. Trong đó:- Ngành công nghiệp, tăng 14,55%, với mức đóng góp 3,39 điểm phần trăm (trong đó: Ngành khai khoáng tăng 12,86%, đóng góp 0,11 điểm phần trăm; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 12,93%, đóng góp 2,32 điểm phần trăm; sản xuất và phân phối điện tăng 24,38%, đóng góp 0,99 điểm phần trăm; cung cấp nước tăng trưởng âm 7,97%, tăng trưởng âm 0,03 điểm phần trăm). - Ngành xây dựng tăng 9,42%, đóng góp 0,83 điểm phần trăm trong khu vực. Với mục tiêu “lấy đầu tư công dẫn dắt đầu tư tư”, phát huy vai trò “vốn mồi” của đầu tư công để kích thích sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Tỉnh đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ xây dựng dự án đường cao tốc Tuyên Quang – Hà Giang (giai đoạn 1); đường từ Thành phố Tuyên Quang đi Khu du lịch suối khoáng Mỹ Lâm; xây dựng cầu và đường tránh thị trấn Sơn Dương; đường từ Khu du lịch suối khoáng Mỹ Lâm đến Quốc lộ 2D; Bệnh viện đa khoa tỉnh,… và các dự án thuộc 03 Chương trình mục tiêu quốc gia; chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội,... nhằm kết nối liên vùng, đồng bộ, theo hướng hiện đại, tạo động lực thúc đẩy kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh.1.1.3. Khu vực dịch vụ tăng 9,33%, đóng góp 4,2 điểm phần trăm. Trong khu vực dịch vụ, đóng góp của một số ngành có tỷ trọng lớn vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm như sau: Bán buôn, bán lẻ và sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy tăng 7,66%, đóng góp 0,46 điểm phần trăm; vận tải kho bãi tăng 18,43%, đóng góp 0,85 điểm phần trăm; lưu trú và ăn uống tăng 17,29%, đóng góp 0,38 điểm phần trăm; hoạt động tài chính ngân hàng và bảo hiểm tăng 11,22%, đóng góp 0,45 điểm phần trăm,…Ngay từ đầu năm tỉnh đã tổ chức các hoạt động xúc tiến, quảng bá du lịch có tiềm năng phát triển như du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, du lịch cộng đồng;…1.1.4. Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 3,56% (đóng góp 0,16 điểm phần trăm vào tốc độ tăng trưởng chung của nền kinh tế; 1.2. Quy mô và cơ cấu kinh tế 1.2.1. Quy mô tổng sản phẩmQuy mô tổng sản phẩm trên địa bàn 3 tháng đầu năm 2025 (giá hiện hành) ước đạt 11.000 tỷ đồng. 1.2.2. Cơ cấu kinh tếCơ cấu kinh tế tỉnh tiếp tục chuyển biến tích cực với chiều hướng tăng dần tỷ trọng khu vực dịch vụ, cụ thể như sau: Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 18,67%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 33,35%, trong cơ cấu nội hàm ngành công nghiệp đã có sự chuyển dịch theo hướng, giảm dần tỷ trọng công nghiệp khai thác, tăng dần tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo; khu vực dịch vụ chiếm 43,74%; thuế sản phầm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 4,24%.Nhìn chung, trong quý I năm 2025 các ngành: Công nghiệp, xây dựng và dịch vụ tiếp tục đóng góp chủ yếu vào mức tăng trưởng GRDP của toàn tỉnh, chứng tỏ cơ cấu kinh tế của tỉnh đã có sự chuyển dịch đúng hướng và tái cơ cấu kinh tế đang mang lại hiệu quả rõ rệt. Đây là sự chuyển dịch cơ cấu tích cực phù hợp với yêu cầu thúc đẩy nhanh sự tăng trưởng kinh tế theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa và tăng dần tỷ trọng dịch vụ góp phần nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế của tỉnh.2. Tình hình tài chính, ngân hàng 2.1. Thu, chi ngân sách nhà nước2.1.1. Thu ngân sách nhà nước: Tổng thu ngân sách nhà nước ước thực hiện trong quý I/2025 là 891 tỷ đồng, đạt 16,48% dự toán, tăng 26,86% so với cùng kỳ. Trong đó thu nội địa ước thực hiện là 859,45 tỷ đồng, đạt 16,06% so với dự toán. Một số khoản thu ước thực hiện quý I đạt tiến độ bình quân dự toán (trên 25% dự toán năm 2025): Thu từ khu vực DNNN địa phương quản lý ước đạt 41,76% dự toán; Thu từ khu vực DN có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 27,98% dự toán; Thu từ khu vực kinh tế ngoài quốc doanh ước đạt 32,12% dự toán; Thuế thu nhập cá nhân ước đạt 54,09% dự toán; Thu phí - lệ phí ước đạt 29,49% dự toán; Thu tiền cho thuê mặt đất, mặt nước ước đạt 26,96% dự toán; Thu từ hoạt động xổ số kiến thiết ước đạt 25,14% dự toán. Một số khoản thu ước thực hiện quý I năm 2025 chưa đạt tiến độ bình quân dự toán (dưới 25% dự toán năm 2025): Thu từ khu vực DNNN do Trung ương quản lý ước đạt 23,72% dự toán; Thuế bảo vệ môi trường ước đạt 15,33% dự toán; Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp ước đạt 3,86% dự toán; Thu tiền sử dụng đất ước đạt 3,9% dự toán; Thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản ước đạt 7,45% dự toán; Thu khác của ngân sách ước đạt 23,08% dự toán; Thu cố định tại 3 xã tính cân đối ước đạt 2,05% dự toán; Thu cổ tức và lợi nhuận được chia chưa phát sinh số thu trong quý I.- Một số nguyên nhân cơ bản làm ảnh hưởng đến tiến độ dự toán:Do ảnh hưởng giảm thu của chính sách giảm 50% mức thuế bảo vệ môi trường chưa tính trong dự toán được giao năm 2025; tiến độ thu tiền sử dụng đất còn chậm do các huyện, thành phố chưa tổ chức đấu giá thu tiền sử dụng đất năm 2025 trong quý I; một số dự án khu đô thị chưa có hồ sơ xác định nghĩa vụ tài chính đối với thu tiền sử dụng đất chuyển đến cơ quan thuế do đó chưa phát sinh nộp NSNN; một số khoản thu chưa đến hạn nộp NSNN trong quý I năm 2025,...2.1.2. Chi ngân sách nhà nước: Tổng chi ngân sách nhà nước là 5.499,4 tỷ đồng, ước đạt 34,62% kế hoạch; tăng 0,73% so với cùng kỳ. Trong đó: Chi đầu tư phát triển là 408,84 tỷ đồng; chi thường xuyên là 2.066,21 tỷ đồng;...Ngay từ đầu năm, Ủy ban nhân dân tỉnh đã thường xuyên chỉ đạo các cơ quan, đơn vị, các chủ đầu tư trong việc giải ngân vốn đầu tư công tại các dự án; giải quyết các khó khăn, vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện như công tác bồi thường giải phóng mặt bằng, tài nguyên, khoáng sản, thủ tục đầu tư,...; chấn chỉnh một số chủ đầu tư, nhà thầu chậm tiến độ thực hiện và giải ngân kế hoạch đầu tư công và các Chương trình mục tiêu Quốc gia, phấn đấu tỷ lệ giải ngân năm 2025 đạt trên 95% theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ. Về cơ bản ngân sách địa phương đáp ứng đầy đủ các nội dung chi đã được bố trí trong dự toán được duyệt cho các cơ quan, đơn vị. Đảm bảo kinh phí để chi lương, phụ cấp, trợ cấp cho cán bộ công nhân viên chức trong dịp Tết nguyên đán Ất Tỵ. Thực hiện tiết kiệm 10% chi thường xuyên (trừ tiền lương và các khoản có tính chất như lương và các khoản chi cho con người theo chế độ) ngay từ đầu năm. Thực hiện cơ chế tự chủ theo quy định tại Nghị định số 130/2005/NĐ-CP ngày 17/10/2005 của Chính phủ về việc quy định chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính đối với các các cơ quan nhà nước và Nghị định số 60/2021/NĐ-CP ngày 21/6/2021 của Chính phủ quy định về cơ chế tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập. Thực hiện chuyển nguồn kinh phí chi thường xuyên của các đơn vị sử dụng ngân sách để thực hiện các nhiệm vụ chi đủ điều kiện chuyển sang năm 2025 tiếp tục thực hiện.2.2. Hoạt động tín dụng ngân hàngChỉ đạo triển khai thực hiện nhiệm vụ Ngân hàng năm 2025, bảo đảm hệ thống ngân hàng không xảy ra sự cố, cung ứng đầy đủ, kịp thời nhu cầu tiền mặt cả về giá trị và cơ cấu mệnh giá cho các Ngân hàng thương mại, Kho bạc Nhà nước, đáp ứng nhu cầu giao dịch của các đơn vị, tổ chức kinh tế và người dân đặc biệt trong dịp Tết Nguyên đán Ất Tỵ năm 2025. - Về nguồn vốn: Nguồn vốn huy động tại địa phương ước thực hiện đến 31/3/2025 là 41.700 tỷ đồng, tăng 24,37% so với 31/12/2024.- Về đầu tư tín dụng: Dư nợ ước thực hiện đến 31/3/2025 là 36.500 tỷ đồng, tăng 22,67% so với 31/12/2024.Tiếp tục thực hiện có hiệu quả các chính sách tiền tệ, tín dụng; đẩy mạnh tăng trưởng tín dụng đi đôi với kiểm soát chất lượng, đảm bảo tín dụng an toàn, hiệu quả; tập trung vốn tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, cung ứng nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội. Tiếp tục giảm chi phí, tăng cường ứng dụng thông tin, đơn giản hóa thủ tục hành chính; tạo điều kiện cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn vay với chi phí hợp lý, giá vốn rẻ để phục hồi sản xuất kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế; phấn đấu tăng trưởng tín dụng toàn tỉnh đạt 16% trở lên.3. Giá cả- Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 3 năm 2025 tăng 0,27% so với tháng trước, tăng 3,08% so với cùng kỳ năm trước. Trong số 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính thì có 4 nhóm tăng giá so với tháng trước, 7 nhóm giảm giá, cụ thể như sau. Trong 4 nhóm hàng tăng giá, so với tháng trước, bao gồm những nhóm hàng sau: Nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 107,03% do giá thuê nhà ở cùng với giá vật liệu xây dựng tăng; nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,44% do thời tiết giao mùa xuất hiện nhiều bệnh liên quan đến đường hô hấp, cúm, viêm phổi, viêm phế quản,… khiến nhu cầu sử dụng thuốc và dịch vụ y tế tăng; nhóm giáo dục tăng 0,21% do nhu cầu tiêu dùng các loại bút, văn phòng phẩm và đồ dùng học tập của học sinh tăng; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,59%.Có 7 nhóm hàng giảm so với tháng trước là: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 1,55%, giảm chủ yếu ở nhóm lương thực giảm 1,9%; nhóm thực phẩm giảm 1,65%. Nguyên nhân là do nguồn cung thị trường khá dồi dào và nhu cầu tiêu dùng của người dân giảm sau Tết; nhóm đồ uống và thuốc lá giảm 0,38% do nhu cầu tiêu thụ các loại rượu, bia, nước giải khát các loại giảm; may mặc, mũ nón, giày dép giảm 0,78% do nhu cầu mua sắm các loại vải, quần áo may sẵn, mũ nón của người dân giảm khi thời tiết đang giao mùa; nhóm thiết bị và đồng dùng gia đình giảm 0,32%; nhóm giao thông giảm 1,01% do giá xăng, dầu điều chỉnh giảm tại các kỳ điều hành giá của Tập đoàn xăng dầu Việt Nam; bưu chính viễn thông giảm 0,06%; văn hóa giải trí và du lịch giảm 0,46%,…- CPI bình quân quý I/2025 tăng 2,92% so với cùng kỳ. Một số nguyên nhân cơ bản đã tác động tăng CPI là những nguyên nhân chủ yếu sau: Nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 13,73%; nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 7,06%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 6,46%; nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 5,73%;…- Chỉ số giá vàng tăng 38,48% so với cùng kỳ, tăng 12,97% so với tháng 12 năm trước và tăng 5,88% so với tháng trước. Tính chung trong quý I/2025 chỉ số giá vàng tăng 37% so với cùng kỳ. - Chỉ số giá đô la Mỹ tăng 3,46% so với cùng kỳ, tăng 0,91% so với tháng 12 năm trước và tăng 0,56% so với tháng trước. Tính chung trong quý I/2025 chỉ số giá vàng tăng 3,7% so với cùng kỳ. 4. Vốn đầu tư và Xây dựng 4.1. Vốn đầu tư4.1.1. Tình hình thực hiện Vốn đầu tư phát triển toàn xã hộiƯớc thực hiện quý I đạt 3.358 tỷ đồng, giảm 2,54% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Nguồn vốn từ khu vực nhà nước ước đạt 815 tỷ đồng, tăng 2,16% so với cùng kỳ (chiếm 24,27% tổng nguồn vốn đầu tư), nguồn vốn từ ngân sách nhà nước tiếp tục giữ vai trò chủ đạo là động lực chính để phục hồi và phát triển kinh tế, do đó tỉnh đã triển khai nhiều biện pháp thúc đẩy tốc độ giải ngân vốn đầu tư công, tập trung vào cơ sở hạ tầng, đẩy nhanh tiến độ xây dựng các công trình trọng điểm, thu hút nguồn vốn đầu tư của các khu vực kinh tế khác và toàn xã hội; nguồn vốn đầu tư của dân cư và tư nhân ước đạt 2.416 tỷ đồng, tăng 9,43% (chiếm 71,95% tổng nguồn vốn) khu vực tư nhân chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong đầu tư phát triển toàn xã hội và giữ vai trò quan trọng trong tổng nguồn vốn, trong bối cảnh ngân sách nhà nước còn hạn hẹp rất cần các nguồn lực đầu tư từ khu vực tư nhân; vốn huy động khác ước đạt 75 tỷ đồng, tăng 10,81% (chiếm 2,23%); nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ước đạt 51 tỷ đồng, tăng 92,84% (chiếm 1,52%); vốn tự có của doanh nghiệp nhà nước ước đạt 2 tỷ đồng, giảm 98,98%, chiếm tỷ trọng tương đối nhỏ (chiếm 0,06%).4.1.2. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước- Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước thực hiện tháng 3 đạt 338 tỷ đồng, tăng 34,13% so với tháng trước; tăng 2,28% so với cùng kỳ, trong đó: Vốn ngân sách cấp tỉnh đạt 294 tỷ đồng, tăng 36,14%, tăng 2,11%; vốn ngân sách cấp huyện đạt 40 tỷ đồng, tăng 24,52%, tăng 2,47%; vốn ngân sách cấp xã đạt 3 tỷ đồng, giảm 4,26%, tăng 17,87%.- Ước thực hiện quý I/2025 đạt 804 tỷ đồng, tăng 2,63% so với quý cùng kỳ, trong đó: Vốn ngân sách cấp tỉnh đạt 699 tỷ đồng, tăng 2,14%; vốn ngân sách cấp huyện đạt 96 tỷ đồng, tăng 5,48%; vốn ngân sách cấp xã đạt 9 tỷ đồng, tăng 11,44%.4.2. Xây dựng Tập trung đẩy nhanh tiến độ thực hiện các công trình trọng điểm ngay từ những ngày đầu năm 2025; thẩm tra, phê duyệt quyết toán dự án hoàn thành; tổ chức kiểm tra tiến độ thực hiện công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng các dự án trọng điểm; chỉ đạo các sở, ngành, các huyện, thành phố tập trung cao độ giải quyết, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc về đất đai, tài nguyên môi trường, giải phóng mặt bằng các dự án đầu tư; đẩy nhanh tiến độ thi công, phát huy tinh thần “vượt nắng, thắng mưa”, thi công “3 ca 4 kíp”, làm việc xuyên lễ, xuyên Tết đối với các công trình trọng điểm, như: đường Cao tốc Tuyên Quang - Hà Giang (giai đoạn 1) đoạn qua tỉnh Tuyên Quang; đường từ Khu du lịch suối khoáng Mỹ Lâm đến Quốc lộ 2D kết nối với đường cao tốc Tuyên Quang - Phú Thọ; đường Hồ Chí Minh đoạn Chợ Chu - Ngã ba Trung Sơn; Dự án đầu tư xây dựng đường từ thị trấn Sơn Dương đi Tân Trào và các dự án quan trọng khác. Triển khai các dự án mới: Dự án đầu tư xây dựng đường từ trung tâm thành phố Tuyên Quang đi khu du lịch suối khoáng Mỹ Lâm; Dự án Phát triển cơ sở hạ tầng thích ứng biến đổi khí hậu để hỗ trợ sản xuất cho đồng bào dân tộc các tỉnh miền núi, trung du phía Bắc tỉnh Tuyên Quang,...Tiếp tục thực hiện Đề án bê tông hóa đường giao thông nông thôn và xây dựng cầu trên đường giao thông nông thôn; phê duyệt kế hoạch chi tiết thực hiện xây dựng đường và cầu trên đường giao thông nông thôn năm 2025.Tiến độ giải ngân vốn đầu tư công năm 2025 từ ngày 01/01/2025 đến ngày 15/3/2025 là 260,47/3.651,57 tỷ đồng (chưa bao gồm vốn đầu tư từ nguồn thu tiền sử dụng đất chưa nhập Tabmis: 1.986,09 tỷ đồng), đạt 7,1% kế hoạch vốn được giao. Ước giải ngân đến hết Quý I năm 2025 là 1.189,36/5.262,66 tỷ đồng, đạt 22,6% kế hoạch vốn giao (tỷ lệ ước giải ngân căn cứ theo tỷ lệ ước của Kho bạc nhà nước Tuyên Quang tại Báo cáo số 128/BC-KBTQ ngày 07/3/2025).5. Hoạt động của doanh nghiệp5.1. Về tình hình hoạt động của doanh nghiệp Tính chung trong quý I (tính đến ngày 19/3/2025), toàn tỉnh có 65 doanh nghiệp thành lập mới với tổng số vốn đăng ký là 185,77 tỷ đồng, giảm 19% về số doanh nghiệp, giảm 61% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm trước; số vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới đạt 2,86 tỷ đồng, giảm 2 lần. Do hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp còn gặp một số khó khan nhất định, nhưng cũng có những tín hiệu tích cực trong tình hình sản xuất, kinh doanh cho thấy các doanh nghiệp đã quay trở lại hoạt động bình thường, đã tác động tích cực đến việc phục hồi kinh tế ở tỉnh. Tính chung trong 3 tháng đầu năm 2025, số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động là 41 doanh nghiệp, giảm 5% so cùng kỳ. Nâng tổng số doanh nghiệp đang hoạt động trên địa bàn tỉnh là 2.892 doanh nghiệp (bao gồm 11 doanh nghiệp nhà nước và 19 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài) với tổng số vốn đăng ký trên 37.124 tỷ đồng; số vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp đạt 12,84 tỷ đồng.  Số doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động là 151 doanh nghiệp, tăng 15% so với cùng kỳ. Số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể là 10 doanh nghiệp, tăng 43% so với cùng kỳ. Để hỗ trợ doanh nghiệp phát triển, tỉnh đã triển khai đồng bộ, hiệu quả các chính sách hỗ trợ; tạo môi trường đầu tư và kinh doanh thuận lợi, bình đẳng, ổn định để các doanh nghiệp đóng góp ngày càng cao vào sự phát triển kinh tế - xã hội; góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế của doanh nghiệp. Trong thời gian tới, tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong giải quyết thủ tục đầu tư, rút ngắn thời gian cấp phép kinh doanh, hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận nguồn lực đất đai, tín dụng. Trung tâm Phục vụ hành chính công tỉnh Tuyên Quang hoạt động hiệu quả, giúp doanh nghiệp và nhà đầu tư giảm đáng kể thời gian thực hiện thủ tục.5.2. Điều tra xu hướng kinh doanh ngành công nghiệp chế biến chế tạo trong quý IKết quả điều tra về xu hướng kinh doanh của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo cho thấy: Có 10% số doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh quý I năm nay khả quan hơn quý trước; 66,67% doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh ổn định và có 23,33% số doanh nghiệp đánh giá gặp khó khăn trong sản xuất kinh doanh. Chỉ số cân bằng của quý I năm 2025 so với quý IV năm 2024 là -13,33%. Dự kiến xu hướng kinh doanh quý II năm 2025 so với quý I cho thấy: 50% số doanh nghiệp đánh giá xu hướng sẽ tốt lên (trong đó có ngành: Sản xuất da và các sản phẩm có liên quan; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác; sản xuất kim loại); 36,67% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh sẽ ổn định (trong đó có ngành: In, sao chép bản ghi các loại; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic); có 13,33% số doanh nghiệp dự báo tiếp tục khó khăn hơn. Dự tính chỉ số cân bằng của quý tiếp theo so với quý hiện tại là 36,67%. 6. Về sản xuất nông nghiệp (tính đến ngày 20/3/2025)6.1. Trồng trọt 6.1.1. Sản xuất vụ Đông năm 2025Kết quả gieo trồng vụ Đông đối với từng loại cây như sau:- Cây ngô: Trồng được 6.382,06 ha, tăng 12,37% (tăng 702,74 ha); năng suất đạt 46,58 tạ/ha, tăng 1,19%, tăng 1,02 tạ/ha so với vụ đông năm 2024. Trong điều kiện thời tiết thuận lợi, bên cạnh đó người dân đã chủ động chăm sóc những diện tích đã trồng để đảm bảo cây trồng sinh trưởng, phát triển tốt, ngô vẫn là cây ưu tiên hàng đầu, do đó năng suất ngô vẫn tăng và giữ ổn định so với cùng kỳ.- Cây khoai lang: Trồng được 981,33 ha, tăng 4,62% (tăng 43,33 ha); năng suất đạt 62,61 tạ/ha, tăng 1,07% (tăng 0,66 tạ/ha) so với cùng kỳ.- Cây đậu tương và cây lạc: Toàn tỉnh trồng được 122,42 ha, tăng 90,77%, (tăng 58,25 ha). Về năng suất cây đậu tương đạt 16,87 tạ/ha, tăng 2% (tăng 0,33 tạ/ha); cây lạc đạt 22,52 tạ/ha, tăng 1,91% (tăng 0,42 tạ/ha).6.1.2. Sản xuất vụ xuân Công tác chuẩn bị cho sản xuất vụ Xuân 2025 được cấp uỷ, chính quyền, các cấp chỉ đạo sát sao, kiên quyết. Ngành chuyên môn đã kiện toàn và chỉ đạo các tổ công tác phối hợp với Uỷ ban nhân dân các huyện, thành phố kiểm tra, đôn đốc việc cung ứng giống, vật tư nông lâm nghiệp đảm bảo cung ứng đủ giống để gieo trồng 100% diện tích lúa theo kế hoạch; hướng dẫn nhân dân thực hiện sản xuất nông nghiệp theo Khung kế hoạch sản xuất một số cây trồng chính; thường xuyên theo dõi, dự báo và hướng dẫn biện pháp phòng trừ sâu, bệnh hại.  Kết quả: Cây lúa đã cấy 18.295 ha (trong đó: Lúa lai 8.583 ha; lúa thuần 9.712 ha), đạt 101,5% kế hoạch, giảm 0,68% so với cùng kỳ. Cây ngô đã trồng 8.219 ha, đạt 102,2%, giảm 0,52%; cây lạc 3.267 ha, đạt 98,8%, giảm 0,23%; cây đậu tương 106 ha, đạt 96,5%, giảm 7,49%; cây khoai lang 445 ha, đạt 100% kế hoạc, tăng 0,23%. Cây mía: Diện tích trồng mới, trồng lại là 2.955,70 ha, đạt 99,3% kế hoạch. Trong đó: Diện tích trồng mới là 525,50 ha, trồng lại là 163,30 ha.Đánh giá chung, Vụ xuân năm nay nhìn chung có nhiều thuận lợi về thời tiết, song các địa phương vẫn cần theo dõi sát diễn biến khí hậu và sâu bệnh để kịp thời ứng phó. Ngành nông nghiệp tỉnh đã yêu cầu các địa phương tăng cường kiểm tra đồng ruộng, hướng dẫn bà con chăm sóc lúa đúng kỹ thuật để cây lúa sinh trưởng đồng đều, hạn chế sâu bệnh ngay từ giai đoạn đầu.6.1.3. Cây lâu năm- Diện tích cây chuối hiện có trên địa bàn tỉnh 2.120,7 ha, giảm 4,7% so với cùng kỳ, đạt 97,6% kế hoạch năm.- Diện tích cây chè trên địa bàn tỉnh hiện có 8.192,5 ha, giảm 0,01% so với cùng kỳ; đạt 99,8% kế hoạch năm.6.1.3. Tình hình sinh vật gây hại Trong những tháng đầu năm 2025, thời tiết hanh khô hơn so với năm trước, tạo điều kiện thuận lợi để sâu bệnh phát triển gây hại đến cây trồng. Cây lúa xuất hiện ốc bươu vàng gây hại cục bộ, bọ trĩ gây hại rải rác, mật độ nơi cao 1-2 con/m2, chủ yếu trưởng thành. Rầy nâu, rầy lưng trắng, sâu cuốn lá, bệnh nghẹt rễ, bệnh đạo ôn lá gây hại rải rác trên các giống nhiễm BC15, TBR225, nếp… tỷ lệ hại nơi cao 2-4% số lá, cấp 1. Chuột hại rải rác, nơi cao 1-2% số dảnh. Một số diện tích ngô, lạc đậu tương bị sâu xám, sâu keo cuốn lá gây hại rải rác; cây mía bị bọ trĩ, sâu đục thân gây hại. Trên cây chè, cây có múi bị nhiễm rầy xanh nhẹ, bọ trĩ, bọ xít, nhện đỏ, nhện trắng gây hại ở mức trung bình. Cây lâm nghiệp xuất hiện sâu ăn lá, bệnh thán thư, bệnh đốm lá gây khô ngọn làm ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của cây. Trước tình hình sinh vật gây hại cây trồng nêu trên. Chi cục bảo vệ thực vật đã chỉ đạo các trạm bảo vệ thực vật các huyện, thành phố phối hợp với Phòng Nông nghiệp, Trạm Khuyến nông, chính quyền địa phương chỉ đạo, hướng dẫn bà con nông dân thực hiện việc gieo cấy đúng thời vụ, chăm sóc cây trồng; thường xuyên kiểm tra đồng ruộng, phát hiện sâu bệnh hại cây trồng, kịp thời hướng dẫn cách phòng trừ, giảm thiệt hại do sâu bênh gây ra.6.2. Về chăn nuôi 6.2.1. Về số lượng đàn gia súc, gia cầmTổng đàn trâu hiện có 85.750 con, giảm 2,27% ( giảm 1.990 con) so với cùng kỳ năm 2024; đàn bò 40.013 con, giảm 1,41%( giảm 571 con); đàn lợn 569.451 con, tăng 3,08% (tăng 17.007 con); đàn gia cầm 7.610,3 nghìn con, tăng 3,45% (tăng 226,59 nghìn con).6.2.2. Về sản phẩm đàn gia súc, gia cầmSản lượng thịt trâu hơi xuất chuồng ước đạt 1.930 tấn, tăng 6,75% so với cùng kỳ năm 2024; đàn bò 562 tấn, tăng 7,05%; đàn lợn đạt 19.125 tấn, tăng 5,37%; đàn gia cầm đạt 5.296 tấn, tăng 5,26%.Nhìn chung, tình hình chăn nuôi trong quý I năm 2025 trên địa bàn cơ bản ổn định, không có biến động lớn về dịch bệnh. Ngay sau tết Nguyên đán, người chăn nuôi đã tập trung cho việc tái đàn và phát triển chăn nuôi trở lại, đáp ứng nhu cầu của thị trường. Ngoài ra, do nguồn cung nguyên liệu và giá thành ổn định nên người chăn nuôi đã dần có lãi. Tuy nhiên, do đang trong thời điểm chuyển mùa, thời tiết dao động mạnh, nhiệt độ đã tăng dần lên, tuy nhiên độ ẩm môi trường cũng tăng cao, vi sinh vật gây hại có điều kiện phát triển, nguy cơ phát sinh và lây lan dịch bệnh rất cao, nguy cơ phát sinh và lây lan dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm rất cao. Ngành chức năng đã khuyến cáo người chăn nuôi nên thận trọng, trước khi nuôi lứa mới, chú ý công tác vệ sinh tiêu độc khử trùng chuồng nuôi và dụng cụ chăn nuôi, đồng thời chủ động lựa chọn nguồn con giống và nguồn thức ăn chăn nuôi chất lượng, phù hợp chủng loại, đúng giai đoạn tuổi của vật nuôi để tiết kiệm chi phí đầu vào, giảm giá thành trong chăn nuôi. Bên cạnh đó, ngành chức năng đã tập trung tăng cường kiểm tra chất lượng vật tư đầu vào từ con giống, thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y để không xảy ra tình trạng sốt giá cục bộ ở một số nơi, gây bất lợi cho người chăn nuôi.6.3. Về công tác phòng chống dịch bệnh gia súc, gia cầm trong quý6.3.1. Công tác phòng chống và điều trịChi cục luôn chủ động phối hợp với các huyện, thành phố theo dõi chặt chẽ tình hình dịch bệnh gia súc, gia cầm, thuỷ sản trên địa bàn, đặc biệt các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm; Trong quý I bệnh Cúm gia cầm (H5N1) phát sinh tại 45 hộ/11 thôn (tổ dân phố)/02 xã Thanh Tương và thị trấn Na Hang, huyện Na Hang với tổng số 7.523 con gia cầm mắc bệnh buộc phải tiêu hủy; bệnh Dịch tả lợn Châu phi phát sinh tại 01 hộ thuộc xã Khau Tinh, huyện Na Hang với số con tiêu hủy là 04 con/170 kg. Số mẫu đã lấy là 02 mẫu kết quả 01 mẫu (-) tính và 01 mẫu (+) tính với dịch tả lợn châu phi. Một số bệnh nội, ngoại khoa ký sinh trùng xuất hiện trên đàn gia súc, gia cầm đã được nhân viên thú y phát hiện, chẩn đoán và điều trị kịp thời số gia súc khỏi bệnh: 8.462 con. 6.3.2. Công tác kiểm dịch vận chuyển động vật, sản phẩm động vật- Kiểm dịch vận chuyển ngoại tỉnh: Tiếp tục thực hiện chặt chẽ đúng quy định công tác kiểm dịch vận chuyển ngoài tỉnh đã kiểm tra cấp 894 giấy chứng nhận kiểm dịch vận chuyển trong đó (362 chuyến vận chuyển 85.572 con gia súc, gia cầm và 532 chuyến vận chuyển 9.727 tấn sữa tươi nguyên liệu và 3480 kg SPĐV chế biến làm Thức ăn chăn nuôi). đi các tỉnh Bắc Ninh, Hà Nội, Hà Nam, Hà Giang, Nam Định..- Tại các Trạm Kiểm dịch động vật: Các huyện duy trì thực hiện tại các trạm Kiểm dịch, đã kiểm tra 312 lượt phương tiện vận chuyển đủ thủ tục vận chuyển 122.224 con gia súc, gia cầm.- Công tác kiểm soát giết mổ và kiểm tra vệ sinh thú y: Trung tâm Dịch vụ nông nghiệp các huyện, thành phố đã kiểm tra, đóng dấu: 567 con trâu, bò và 11.627 con lợn. 6.4. Về sản xuất lâm nghiệp (ước tính có đến ngày 25/3/2025)6.4.1. Kết quả trồng rừng Để hoàn thành kế hoạch trồng rừng năm 2025. UBND tỉnh đã chỉ đạo các ngành chức năng chủ động hướng dẫn và kiểm tra UBND các huyện, thành phố, các cơ quan, đơn vị có liên quan tăng cường thực hiện công tác quản lý đất lâm nghiệp. Bố trí đất trồng, cây giống, dọn thực bì và cuốc hố... khẩn trương đẩy nhanh tiến độ triển khai công tác rà soát, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các doanh nghiệp và các chủ trồng rừng. Toàn tỉnh đã sản xuất 8,5 triệu cây giống, đạt 42,50% kế hoạch trồng rừng năm 2025; trồng rừng được 3.346,99 ha, đạt 33,13% kế hoạch năm, tăng 3,72% so với cùng kỳ (trong đó trồng rừng tập trung 2.980 ha, trồng cây phân tán 366,99 ha). 6.4.2. Kết quả khai thác rừng trồngƯớc tính quý I năm 2025, toàn tỉnh khai thác được 226.664 m3 gỗ¬, tăng 10,77% so với cùng kỳ.Kết quả khai thác gỗ rừng trồng tăng so với cùng kỳ do: Tỉnh đã có những cơ chế, chính sách mở để thu hút các nhà đầu tư sản xuất, chế biến lâm sản với công nghệ dây chuyền hiện đại như nhà máy giấy An Hòa, nhà máy sản xuất đũa xuất khẩu..., có những chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất, nhu cầu khai thác gỗ và giá thị trường gỗ tăng, diện tích đến tuổi khai thác lớn các hộ dân và doanh nghiệp đã đẩy nhanh tiến độ khai thác. Bên cạnh đó thị trường chế biến gỗ xuất khẩu ra các nước đã được mở cửa thông thương trở lại. 6.4.3. Công tác bảo vệ rừng: Công tác quản lý, bảo vệ rừng được các cấp, các ngành quan tâm, đồng thời tuyên truyền, vận động nhân dân tích cực tham gia thực hiện kế hoạch trồng rừng năm 2025; tuyên truyền, phổ biến giáo dục cho người dân nâng cao nhận thức về các chính sách quản lý bảo vệ và phát triển rừng; tăng cường kiểm tra, ngăn chặn việc phá rừng, đốt rừng, triệt phá các đường dây buôn bán, vận chuyển lâm sản trái phép. Thường xuyên cảnh báo nguy cơ cháy rừng, đẩy mạnh tuyên truyền về công tác phòng cháy chữa cháy rừng; phối hợp chặt chẽ với cơ quan chức năng và chính quyền cơ sở, các chủ rừng tăng cường kiểm tra, kiểm soát, phát hiện kịp thời, xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật các hành vi xâm hại rừng. Theo báo cáo của Chi cục Kiểm lâm tỉnh đến ngày 15/3/2025 xảy ra 4 vụ cháy rừng, diện tích rừng bị cháy 2,29 ha. Số vụ chặt phá rừng 3 vụ tổng diện tích bị chặt phá 2,23 ha, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng, đã kiểm tra, xử xử lý các trường hợp khai thác, vận chuyển gỗ trái phép; thường trực phòng cháy, chữa cháy rừng 24/24 giờ trong mùa khô hanh. Từ đầu năm, đã kiểm tra, phát hiện và xử lý 32 vụ vi phạm (trong đó xử phạt vi phạm hành chính 29 vụ, xử lý hình sự 3 vụ), tịch thu 17,363 m3 gỗ các loại, thu nộp ngân sách 271,6 triệu đồng.6.5. Về thuỷ sản Diện tích nuôi trồng thuỷ sản 3.307,35 ha, giảm 1,59% so với cùng kỳ. Tổng sản lượng thuỷ sản 2.504 tấn, tăng 6,67% (tăng 156 tấn), trong đó: Sản lượng nuôi trồng 2.278 tấn, tăng 6,16%; sản lượng khai thác có 226 tấn, tăng 12,08%. 6.6. Phát động Tết trồng cây “Đời đời nhớ ơn Bác Hồ” Xuân Giáp Thìn và thực hiện kế hoạch trồng rừng năm 2024Hưởng ứng phong trào Tết trồng cây “Đời đời nhớ ơn Bác Hồ” Xuân Ất Tỵ năm 2025 trên địa bàn toàn tỉnh đã tổ chức 143 điểm phát động “Tết trồng cây” với tổng số 21.165 người tham gia, trồng được 144.069 cây Keo, Mỡ, Bạch đàn và một số loài cây bản địa, tương đương diện tích 198,84 ha.Tỉnh đã tổ chức Lễ phát động Tết trồng cây Đời đời nhớ ơn Bác Hồ Xuân Ất Tỵ năm 2025, địa điểm tại thôn Tân Lập, xã Tân Trào, huyện Sơn Dương. Tại buổi Lễ đã trồng được 1.055 cây (1.000 cây Lim xẹt và 50 cây Chò chỉ) trên diện tích 2 ha. 6.7. Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới Tiếp tục chỉ đạo triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới năm 2025; đôn đốc hoàn thiện hồ sơ các xã mục tiêu năm 2023, 2024. Tổ chức công bố quyết định công nhận 05 xã đạt chuẩn xã nông thôn mới nâng cao, nông thôn mới kiểu mẫu. Toàn tỉnh có 85 xã/121 xã hoàn thành 19/19 tiêu chí nông thôn mới (72 xã đã có quyết định công nhận), 23 xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao (17 xã đã có quyết định công nhận), 08 xã đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu (04 xã đã có quyết định công nhận); thành phố Tuyên Quang tiếp tục duy trì và nâng cao các tiêu chí nông thôn mới; huyện Hàm Yên cơ bản đã hoàn thành 07/9 tiêu chí, huyện Sơn Dương đã hoàn thành 04/9 tiêu chí huyện nông thôn mới.7. Sản xuất công nghiệpĐẩy nhanh tiến độ triển khai xây dựng hạ tầng kỹ thuật cụm công nghiệp Xuân Vân, huyện Yên Sơn và cụm công nghiệp An Hoà - Long Bình An, thành phố Tuyên Quang; đôn đốc thực hiện các thủ tục để xây dựng Cụm công nghiệp Phúc Ứng 2, huyện Sơn Dương. Thường xuyên theo dõi, đôn đốc tình hình thực hiện tiến độ triển khai các dự án phát triển công nghiệp trên địa bàn tỉnh, đôn đốc duy trì, nâng cao công suất của các nhà máy sản xuất mới hoàn thành đưa vào hoạt động năm 2024, trong quý I/2025 có thêm 04 dự án sản xuất công nghiệp đi vào hoạt động: Dự án Nhà máy sản xuất giày dép thể thao và giày lười cao cấp; Dự án Nhà máy sản xuất gia công chế tạo đồ chơi thú bông; Đầu tư xây dựng đường dây và Trạm biến áp 110 kV Tuyên Quang 2, tỉnh Tuyên Quang; Nhà máy nhiên liệu sinh khối EREX SAKURA TUYÊN QUANG với tổng vốn đầu tư trên 774,9 tỷ đồng.7.1. Về phát triển công nghiệp trong tháng - Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) trong tháng tăng 19,97% so với tháng trước, tăng 10,52% so với cùng kỳ, trong đó: Ngành khai khoáng tăng 6,55%, tăng 0,59%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 21,66%, tăng 6,56%; sản xuất và và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 10,7%, tăng 116,17%; cung cấp nước và hoạt động thu gom xử lý rác, nước thải giảm 14,52%, giảm 22,17%.Một số ngành công nghiệp cấp II có chỉ số sản xuất tăng so với tháng trước và tăng so với cùng kỳ như: Sản xuất trang phục tăng 25,17%, tăng 9,12%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 14,79%, tăng 88,59%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 0,98%, tăng 45,01%;...- Trong tháng chỉ số sử dụng lao động của các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn tháng 3/2025 tăng 1,67% so với tháng trước, tăng 7,91% so với cùng kỳ. Trong đó: khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 0,03% và giảm 0,03%; doanh nghiệp ngoài quốc doanh giữ nguyên so tháng trước và tăng 2,94%; doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng 3,56% và tăng 14,1%. Mặc dù còn gặp nhiều khó khăn về thị trường tiêu thụ, song các doanh nghiệp đã nỗ lực thực hiện các giải pháp để ổn định sản xuất, tìm kiếm đơn hàng, đảm bảo việc làm và thu nhập cho người lao động.- Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong tháng giảm 0,95% so với tháng trước và giảm 16,62% so với cùng kỳ. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng khá so với tháng trước là: Sản xuất trang phục tăng 4,3%; Chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế); sản xuất sản phẩm từ rơm, rạ và vật liệu tết bện tăng 14,29%; In, sao chép bản ghi các loại tăng 15,79%;…- Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong tháng tăng 27,96% so với tháng trước và giảm 17,49% so với cùng kỳ. Trong đó, một số ngành có chỉ số tồn kho giảm so với cùng kỳ là: Ngành sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy giảm 23,99%; Sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác giảm 26,42%;…- Tính chung trong quý I năm 2025, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 7,22% so với cùng kỳ năm trước, Chia theo từng ngành kinh tế cấp I như sau:+ Ngành khai khoáng tăng 15,44%, nguyên nhân từ đầu năm đến nay, sản lượng khai thác khai thác khoáng hóa chất và khoáng phân bón tăng so cùng kỳ.+ Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 5,71%, do một số ngành chế biến, chế tạo tăng như: Chế biến thực phẩm tăng 6,8%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 43,46%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa tăng 37,27%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 8,01%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 16,05%;...+ Ngành sản xuất và phân phối điện tăng 24,14%, do lượng nước tại hồ thủy điện năm nay cao hơn năm trước; ngoài ra, để bảo đảm nước phục vụ gieo cấy lúa vụ Xuân cho khu vực Trung du và Đồng bằng Bắc Bộ, hồ thủy điện Tuyên Quang cũng đã thực hiện các đợt xả nước dẫn đến sản lượng điện tăng. + Ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải giảm 4,54%, do hoạt động thu gom, xử lý rác thải giảm 20,48% so cùng kỳ.7.2. Sản phẩm công nghiệp chủ yếu - Sản phẩm công nghiệp chủ yếu trong tháng của tỉnh đạt mức tăng trưởng khá, một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng so với cùng kỳ năm trước như: Điện thương phẩm đạt 101 triệu Kwh, tăng 7,01%; điện sản xuất đạt 94 triệu Kwh, tăng 192,83%; chè chế biến đạt 739 tấn, tăng 73,83%; xi măng đạt 121.000 tấn, tăng 26,25%;…Tuy nhiên, cũng có một số sản phẩm công nghiệp giảm so với cùng kỳ như: Đường kính đạt 5.000 tấn, giảm 8,69%; Bột ba rít đạt 849 tấn, giảm 36,36%; giấy đế xuất khẩu đạt 700 tấn, giảm 38,4%;…- Tính chung trong quý I năm 2025, một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng khá so với cùng kỳ năm trước: Điện sản xuất đạt 265 triệu Kwh, tăng 29,61%; bột Felspat đạt 27.800 tấn, tăng 28,21%; giày, dép thể thao có mũ bằng da và có đế ngoài đạt 2.420 nghìn đôi, tăng 43,46%;… Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu giảm so với cùng kỳ năm trước như: Bột ba rít đạt 2.062 tấn, giảm 15%; Giấy đế xuất khẩu đạt 1.911 tấn, giảm 31,6%;...- Chỉ số sử dụng lao động của các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn quý I/2025 tăng 5,66% so với cùng kỳ. Trong đó: khu vực doanh nghiệp Nhà nước giảm 0,09%; doanh nghiệp ngoài quốc doanh tăng 6,21%; doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng 6,47%,...- Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo quý I/2025 giảm 11,93% so với cùng kỳ, một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng là: Ngành sản xuất trang phục tăng 5,23%; ngành chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế); sản xuất sản phẩm từ rơm, rạ và vật liệu tết bện tăng 53,42%; Sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 128,57%;…8. Thương mại và Dịch vụHoạt động kinh doanh thương mại, dịch vụ và vận tải trên địa bàn tỉnh diễn ra sôi động, tăng trưởng khá; xuất, nhập khẩu ổn định, chỉ số giá được kiềm chế ở mức thấp. Tại các chợ, siêu thị, nguồn cung hàng hóa dồi dào cả về chủng loại lẫn số lượng, đáp ứng đầy đủ nhu cầu tiêu dùng, không có tình trạng khan hiếm hàng hóa và tăng giá đột biến, hàng hóa được tổ chức lưu thông thông suốt. Những tháng đầu năm, du lịch của tỉnh đã đạt được nhiều tín hiệu khởi sắc, cùng với những lễ hội mang đậm nét văn hóa truyền thống của đồng bào các dân tộc, nhiều điểm du lịch tâm linh trên địa bàn tỉnh đã thu hút đông đảo du khách đến tham quan, vãn cảnh ngay trong những ngày đầu xuân mới; tỉnh đã triển khai thực hiện đồng bộ các giải pháp “kích cầu” du lịch, phục hồi hoạt động du lịch, lữ hành, tạo việc làm, ổn định đời sống nhân dân. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 3 ước đạt 2.803 tỷ đồng, tăng 0,72% so với tháng trước, tăng 9,53% so với cùng kỳ. Tính chung trong quý I/2025, tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 8.835 tỷ đồng, tăng 14,06%. Trong đó doanh thu bán lẻ hàng hóa đạt 7.822 tỷ đồng, tăng 14,56%; dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 658 tỷ đồng, tăng 11,14%; dịch vụ khác ước đạt 355 tỷ đồng, tăng 10,56%.8.1. Doanh thu bán lẻ hàng hóa, dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch và dịch vụ khác8.1.1. Doanh thu bán lẻ hàng hóa Tổng mức bán lẻ hàng hóa trong tháng ước đạt 2.468 tỷ đồng, tăng 0,57% so với tháng trước, tăng 10,15% so với cùng kỳ, cụ thể như sau: Lương thực, thực phẩm tăng 0,23%, tăng 25,51%; hàng may mặc tăng 4,11%, tăng 26,59%; đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình tăng 0,78%, tăng 7,14%; vật phẩm, văn hoá, giáo dục tăng 2,94%, tăng 16,63%,… một số nhóm hàng giảm so với tháng trước và giảm so với cùng kỳ cùng kỳ như: Xăng, dầu các loại giảm 3,06%, giảm 22,85%; nhiên liệu khác ( trừ xăng dầu) giảm 4,65%, giảm 14,19%;... Tính chung trong quý I/2025, tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 7.822 tỷ đồng, tăng 14,56% so với cùng kỳ.8.1.2. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ khác- Trong tháng, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 219 tỷ đồng, tăng 1,39% so với tháng trước, tăng 8,63% so với cùng kỳ. Trong đó: Dịch vụ lưu trú đạt 24 tỷ đồng, tăng 4,35%, tăng 42,78%; dịch vụ ăn uống đạt 195 tỷ đồng, tăng 1,56%, tăng 5,51%; dịch vụ lữ hành đạt 0,58 tỷ đồng, tăng 7,69%, tăng 43,9%. Tính chung trong quý I/2024 ước đạt 658 tỷ đồng, tăng 11,14%.- Doanh thu nhóm dịch vụ khác trong tháng ước đạt 116 tỷ đồng, tăng 2,65% so với tháng trước, tăng 5,19% so với cùng kỳ. Trong đó: Dịch vụ giáo dục và đào tạo đạt 3 tỷ đồng, tăng 3,76%, tăng 17,5%; y tế và hoạt động trợ giúp xã hội đạt 5 tỷ đồng, tăng 0,27%, tăng 23,31%; dịch vụ sửa chữa máy vi tính, đồ dung cá nhân và gia đình tăng 3,68%, tăng 24,46%,…. Tính chung trong quý I/2025, ước đạt 355 tỷ đồng, tăng 10,56%. 8.2. Xuất, nhập khẩu hàng hóaKim ngạch xuất khẩu hàng hóa trong tháng ước đạt 14,6 triệu USD, giảm 3,95% so với tháng trước, tăng 82,5% so với cùng kỳ. Tính trong quý I/2025, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa ước đạt 52 triệu USD, đạt 29,7% kế hoạch, tăng 77,79% so với cùng kỳ. Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa trong tháng ước đạt 7,9 triệu USD, tăng 12,86% so với tháng trước, tăng 68,09% so với cùng kỳ. Tính trong quý I/2025 kim ngạch nhập khẩu hàng hóa ước đạt 22,1 triệu USD, đạt 23,2% kế hoạch, tăng 37% so với cùng kỳ.Một số nhóm hàng có sản phẩm xuất khẩu trong quý đạt mức tăng trưởng cao so với cùng kỳ như: Bột ba rít tăng 233,3%; Antimony thỏi tăng 114,5%; phong bì tăng 32,6%;… Bên cạnh đó, một số nhóm hàng có kim ngạch xuất khẩu giảm so với cùng kỳ: Chè xuất khẩu giảm 18,1%; giấy đế xuất khẩu giảm 7,5%; hàng dệt may giảm 21,3%;... Một số mặt hàng nhập khẩu chính được dùng làm nguyên liệu phục vụ sản xuất hàng hàng may mặc tiếp tục tăng, cho thấy những dấu hiệu trong phục hồi trong sản xuất may mặc. Trong quý I/2025, nhóm hàng vải may mặc, phụ liệu may mặc, phụ liệu khác đạt 18 triệu USD, tăng 47,9% so với cùng kỳ; nhóm máy móc, thiết bị, phụ tùng, hàng hóa khác đạt 4 triệu USD, tăng 2,8%.  9. Vận tải hàng hóa và hành kháchTừ đầu năm đến nay, nhu cầu đi du lịch, lễ hội và vận chuyển hàng hóa của người dân tăng cao; ngành chức năng đã chỉ đạo các đơn vị quản lý giao thông, Bến xe khách, các doanh nghiệp, hợp tác xã và các hộ kinh doanh cá thể vận tải trên địa bàn tỉnh chuẩn bị đầy đủ phương tiện, bảo đảm phục vụ nhu cầu đi lại của nhân dân được thuận lợi, an toàn,... chú trọng, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát về việc kê khai, niêm yết giá; xử lý các hành vi vi phạm quy định pháp luật về bảo đảm trật tự, an toàn giao thông, vi phạm nồng độ cồn, chở quá khổ, quá tải, quá số người quy định, phương tiện không bảo đảm an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường...9.1. Doanh thu vận tải tải kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải - Doanh thu vận tải trong tháng ước đạt 428 tỷ đồng, tăng 1,65% so với tháng trước, tăng 22,62% so với cùng kỳ. Trong đó, vận tải hành khách ước đạt 72 tỷ đồng, giảm 13,91%, tăng 32,52%; vận tải hàng hóa ước đạt 354 tỷ đồng, tăng 5,56%, tăng 20,72%; hỗ trợ vận tải ước đạt 0,56 tỷ đồng, giảm 6,14%, tăng 41,89%; bưu chính, chuyển phát ước đạt 0,41 tỷ đồng, tăng 2,7%, tăng 64,59%,…- Tính chung trong quý I/2025, doanh thu vận tải kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 1.360 tỷ đồng, tăng 23,91% so với cùng kỳ. Trong đó: Vận tải hành khách đạt 237 tỷ đồng, tăng 28,79%; vận tải hàng hóa đạt 1.119 tỷ đồng, tăng 22,87%; hỗ trợ vận tải đạt 2 tỷ đồng, tăng 38,69%; bưu chính, chuyển phát đạt 1 tỷ đồng, tăng 63,92%,… 9.2. Vận tải hành khách- Vận chuyển hành khách trong tháng ước đạt 1,29 triệu lượt hành khách, giảm 12,58% so với tháng trước, tăng 25,4% so với cùng kỳ; luân chuyển hành khách ước đạt 92,43 triệu lượt hành khách.km, giảm 12,78%, tăng 28,33%.- Tính chung trong quý I/2025, vận chuyển hành khách ước đạt 4,18 triệu lượt hành khách, tăng 21,59% so với cùng kỳ; luân chuyển hành khách ước đạt 301,29 triệu lượt hành khách.km, tăng 26,41%.9.3. Vận tải hàng hóa- Vận chuyển hàng hóa ước đạt 2,4 triệu tấn, tăng 7,19% so với tháng trước, tăng 23,95% so với cùng kỳ; luân chuyển hàng hóa ước đạt 157,36 triệu tấn.km, tăng 5,54%, tăng 22,3%.- Tính chung trong quý I/2025, vận chuyển hàng hóa ước đạt 7,36 triệu tấn, tăng 21,91% so với cùng kỳ; luân chuyển hàng hóa ước đạt 488,17 triệu tấn.km, tăng 22,88%.10. Về du lịch Triển khai chương trình kích cầu du lịch năm 2025; đề xuất Chương trình hành động của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh thực hiện Kết luận số 123-KL/TW ngày 24/01/2025 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về Đề án bổ sung về phát triển kinh tế - xã hội năm 2025 với mục tiêu tăng trưởng đạt 8% trở lên; kịch bản tăng trưởng kinh tế (GRDP) năm 2025 tỉnh Tuyên Quang về lĩnh vực du lịch; chuẩn bị các điều kiện tham gia các hoạt động tổng kết liên kết phát triển du lịch giữa thành phố Hồ Chí Minh với các tỉnh Đông Bắc giai đoạn 2024-2025; quảng bá bài viết giới thiệu về du lịch Tuyên Quang trên Tạp chí Travel +; xây dựng Vocher Lễ hội Thành Tuyên trong chương trình Đẹp +84... Trong tháng 3/2025, thu hút được 430.000 lượt khách du lịch, tổng thu từ khách du lịch đạt 620 tỷ đồng (nâng tổng số 3 tháng đầu năm 2025, thu hút 957.000 lượt khách, đạt 32% kế hoạch, tăng 4% so với cùng kỳ; tổng thu từ khách du lịch đạt 1.288 tỷ đồng, đạt 27% kế hoạch, tăng 19% so với cùng kỳ). II. LĨNH VỰC VĂN HÓA - XÃ HỘI 1. Về lao động việc làmCác giải pháp tạo việc làm mới đã được tỉnh Tuyên Quang thực hiện hiệu quả trong thời gian qua gồm: tăng cường các hoạt động liên kết trong đào tạo nghề, tư vấn, tìm kiếm giới thiệu việc làm mới, thu hút đầu tư trên địa bàn tỉnh...Tại các cơ sở đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh, công tác tuyển sinh đã ngày càng gắn với nhu cầu xã hội. Nhiều ngành nghề có tỷ lệ xin được việc làm cao, phù hợp với thực tế địa phương đã thu hút được nhiều lao động nông thôn theo học. Tiêu biểu như: Công nghệ ô tô, điện công nghiệp, vận hành máy thi công nền…Trong quý I/2025, toàn tỉnh đã tạo việc làm cho 3.661 lao động, trong đó: Lao động làm việc trong các ngành kinh tế tại tỉnh là 2.263 người; Lao động đi làm việc các tỉnh, thành phố 1.271 người; lao động đi làm việc nước ngoài theo hợp đồng 127 người, đạt 7,56% kế hoạch và bằng 23,9% so với cùng kỳ. Thực hiện kịp thời, đúng quy định các chế độ, chính sách bảo hiểm thất nghiệp đối với người lao động. Tiếp nhận và thẩm định hồ sơ đề nghị thu hồi Giấy phép hoạt động dịch vụ việc làm và rút tiền kỹ quỹ đối với 01 doanh nghiệp (Công ty Trách nhiệm hữu hạn Nông nghiệp TOKYO). Thẩm định cấp 30 giấy phép lao động (trong đó: cấp mới 28 giấy phép lao động; gia hạn 02 giấy phép lao động); chấp thuận nhu cầu sử dụng lao động nước ngoài cho 07 doanh nghiệp với 30 lao động nước ngoài làm việc tại tỉnh; thu hồi 24 giấy phép lao động của 14 lượt doanh nghiệp, đơn vị; xác nhận 01 trường hợp người nước ngoài không thuộc diện cấp giấy phép lao động.2. Đời sống dân cư Từ đầu năm đến nay, tình hình đời sống dân cư trên địa bàn tỉnh tiếp tục ổn định. Giá cả các mặt hàng thiết yếu không có biến động lớn, duy trì sự bình ổn. Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong các khu, cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh cơ bản đạt kế hoạch đề ra, đa số doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả và phát triển, không xảy ra tình trạng cắt giảm giờ làm, nghỉ việc, nghỉ luân phiên và chấm dứt hợp đồng với người lao động, đời sống của người lao động trong các công ty đang dần được cải thiện.Từ đầu năm đến nay, Tỉnh đã tổ chức tặng quà 36 suất quà đối với người có công với cách mạng nhân dịp Tết Nguyên đán Ất Tỵ với tổng số tiền 43,2 triệu đồng; chăm lo, giúp đỡ các đối tượng chính sách xã hội. Thực hiện các chính sách, chương trình thúc đẩy bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ; công tác tiếp nhận, quản lý, điều trị, cai nghiện cho người nghiện ma túy tại cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh. Tiếp tục thực hiện Đề án giảm nghèo bền vững gắn với thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững (năm 2024 tỷ lệ hộ nghèo đa chiều chung toàn tỉnh giảm 3,79%). Triển khai Kế hoạch xóa nhà tạm, nhà dột nát cho hộ gia đình có người có công với cách mạng, hộ nghèo, hộ cận nghèo và hộ gia đình khó khăn về nhà ở; đến ngày 28/3/2025, tổng số hộ đã khởi công, đang xây dựng và hoàn thành đưa vào sử dụng nhà là 5.092/6.928 hộ, đạt 73,5% kế hoạch, trong đó, số hộ hoàn thành: 2.300 hộ, số hộ đang làm 2.742 hộ, còn 1.836 hộ chưa triển khai làm.3. Công tác người có công, giảm nghèo, bảo trợ xã hội và phòng chống tệ nạn xã hội 3.1. Công tác đối với người có công với cách mạngDuy trì thực hiện đầy đủ, kịp thời các chế độ, chính sách đối với người có công với cách mạng và thân nhân người có công; đẩy mạnh thực hiện các phong trào, hoạt động "đền ơn, đáp nghĩa", "uống nước nhớ nguồn", chú trọng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần đối với người có công; tỉnh đã triển khai các hoạt động tặng quà của Chủ tịch nước, quà của tỉnh đối với người có công với cách mạng trên địa bàn tỉnh nhân dịp Tết Nguyên đán Ất Tỵ năm 2025 với 16.192 suất quà, số tiền trên 6.770.900.000 đồng. (Trong đó: Quà của Chủ tịch nước 7.757 suất quà, số tiền 2.401.200.000 đồng; Quà của tỉnh 8.435 suất quà, số tiền 4.369.700.000 đồng).Tiếp tục duy trì tiếp nhận các hồ sơ liệt sĩ, di chuyển hài cốt liệt sĩ, trợ cấp ưu đãi học sinh, sinh viên là con của Người có công với cách mạng. Thẩm định, phê duyệt kinh phí trang cấp đối với người có công với cách mạng đến niên hạn trang cấp năm 2025 của các huyện: Na Hang, Lâm Bình, Hàm Yên, Yên Sơn và thành phố Tuyên Quang.3.2. Công tác bảo trợ xã hội và phòng chống các tệ nạn xã hộiTiếp tục thực hiện tốt các chính sách trợ giúp xã hội, thực hiện đầy đủ, kịp thời các chế độ, chính sách an sinh xã hội cho các hộ có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. Tiếp tục thực hiện các giải pháp hỗ trợ, tạo việc làm cho người lao động; đôn đốc thực hiện các giải pháp phát triển đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội chăm lo, giúp đỡ các đối tượng chính sách xã hội, thực hiện các chính sách, chương trình thúc đẩy bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ.Duy trì công tác tiếp nhận, quản lý, điều trị, cai nghiện cho người nghiện ma túy tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh, tại thời điểm báo cáo Cơ sở đang quản lý tổng 132 học viên cai nghiện ma túy bắt buộc; 01 cai nghiện tự nguyện. Quá trình thực hiện cho đến nay có 06 học viên hoàn thành cai nghiện và tiếp nhận mới 08 học viên ( trong đó tiếp nhận, quản lý 01 đối tượng trong thời gian lập hồ sơ của CA xã Xuân Vân; CA xã Mỹ Bằng, huyệnYên Sơn).4. Hoạt động giáo dục và đào tạoTiếp tục thực hiện Đề án nâng cao chất lượng giáo dục đại trà giai đoạn 2021- 2025 và các kế hoạch triển khai thực hiện trong lĩnh vực giáo dục. Chất lượng giáo dục đại trà có những chuyển biến tích cực và theo hướng thực chất hơn; đảm bảo tiến độ xây dựng trường mầm non, phổ thông đạt chuẩn quốc gia với 16/455 trường, đạt 69,5%; sắp xếp lại trường, điểm trường, lớp học đối với giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông vượt kế hoạch đề ra; duy trì vững chắc kết quả phổ cập - xóa mù chữ; tỷ lệ học sinh phổ thông người dân tộc thiểu số học tại các trường phổ thông dân tộc nội trú, dân tộc bán trú tăng lên 21,4% (vượt 0,9% so với kế hoạch); tỷ lệ huy động trẻ đi nhà trẻ tăng nhanh (đạt 52,1%), tăng 2,6% so với năm 2024; cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học được bổ sung; tỷ lệ phân luồng học sinh sau trung học cơ sở đạt 10,2%; chất lượng học sinh giỏi được duy trì; năm học 2024-2025, tại kỳ thi chọn học sinh giỏi quốc gia, tỉnh Tuyên Quang đạt 56 giải (06 giải Nhì, 22 Giải Ba và 28 giải khuyến khích), tăng 01 giải so với năm học trước, xếp thứ 24/63 tỉnh, thành phố; xếp thứ 6/14 tỉnh khu vực trung du miền núi phía Bắc về số lượng giải. Tổ chức Kỳ thi học sinh giỏi cấp tỉnh lớp 9, lớp 11, lớp 12 và kỳ thi thử tốt nghiệp trung học phổ thông lần 1 năm học 2024-2025 đảm bảo an toàn, nghiêm túc. Củng cố ổn định mạng lưới giáo dục nghề nghiệp, xây dựng kế hoạch giáo dục nghề nghiệp năm 2025 với tổng chỉ tiêu tuyển sinh và đào tạo cho 8.500 người học.5. Hoạt động y tế Tiếp tục thực hiện Đề án “Nâng cao năng lực ngành y tế tỉnh Tuyên Quang”; các nhiệm vụ và giải pháp nâng cao năng lực hệ thống y tế từ tỉnh đến cơ sở; thực hiện các biện pháp giảm quá tải, nâng cao chất lượng khám chữa bệnh các tuyến; tổng số lượt khám bệnh trong Quý I/2025 là 281.113 lượt người. Số người được cấp thẻ bảo hiểm y tế 219.565 người, tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đạt 95,86% kế hoạch (kế hoạch năm 2025 là 96,2%). Thực hiện tốt Chương trình tiêm chủng mở rộng; cung cấp vắc xin, dụng cụ và đảm bảo chất lượng, an toàn tiêm chủng tại các điểm tiêm, không xảy ra tai biến. Kiểm soát thị trường dược phẩm, đáp ứng đủ thuốc cung ứng cho các cơ sở khám chữa bệnh và nhu cầu điều trị của nhân dân. Đảm bảo công tác an toàn vệ sinh thực phẩm phục vụ các sự kiện, lễ hội lớn; giám sát chặt chẽ các cơ sở sản xuất, kinh doanh chế biến thực phẩm; kiểm tra, giám sát tại 977 cơ sở, đạt 33,9% kế hoạch; xử lý 30 cơ sở vi phạm các quy định về an toàn vệ sinh thực phẩm (ATVSTP); triển khai việc thẩm định và cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện ATVSTP cho 07 cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm tại các huyện, thành phố, đạt 5,6% kế hoạch. Từ đầu năm đến nay ghi nhận 01 vụ ngộ độc thực phẩm 08 người mắc, không có người bị tử vong. Duy trì công tác tuyên truyền vận động kế hoạch hóa gia đình, lồng ghép với thực hiện dịch vụ sức khỏe sinh sản tại cộng đồng.6. Hoạt động văn hoá - thể dục, thể thaoTriển khai Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa giai đoạn 2025 - 2030 trên địa bàn tỉnh; thực hiện kế hoạch về tổ chức hoạt động kỷ niệm các ngày lễ lớn, các sự kiện văn hóa, thể thao, du lịch năm 2025 trên địa bàn tỉnh; tổ chức thành công Chương trình nghệ thuật “Tuyên Quang chào năm 2025" với chủ đề Tuyên Quang - Niềm tin tương lai; dàn dựng, biểu diễn chương trình nghệ thuật phục vụ khai mạc Hội báo Xuân Ất Tỵ năm 2025; phát động Giải báo chí toàn quốc về Xây dựng Đảng (Giải Búa liềm vàng) lần thứ X và Giải Báo chí tỉnh Tuyên Quang lần thứ VII; Chương trình nghệ thuật kỷ niệm 95 năm ngày thành lập Đảng cộng sản Việt Nam (03/2); 85 năm ngày thành lập Chi bộ Mỏ than (20/3),... Tiếp tục triển khai các bước thực hiện dự án Bảo tồn, tôn tạo Khu di tích lịch sử quốc gia đặc biệt Tân Trào và các dự án tu bổ, tôn tạo di tích lịch sử. Thực hiện Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”. Tổ chức 03 giải thể thao cấp tỉnh; chuẩn bị các điều kiện tổ chức giải Giải bóng đá nữ các dân tộc thiểu số tỉnh Tuyên Quang năm 2025; thành lập Đoàn vận động viên của tỉnh tham gia giải Canoeing và Rowing Vô địch các tay chèo xuất sắc Quốc gia và Giải Vô địch và Vô địch trẻ Vật bãi biển Quốc gia năm 2025.7. Một số hoạt động khácThực hiện công tác tuyển chọn gọi công dân nhập ngũ và tham gia thực hiện nghĩa vụ công an nhân dân năm 2025. Cấp ủy, chính quyền thành phố đã lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức triển khai thực hiện tốt các bước, các khâu theo đúng quy trình, bảo đảm công khai, công bằng, dân chủ, đúng pháp luật và đạt chất lượng. Công tác phát lệnh gọi nhập ngũ được phát đến tận tay thanh niên trúng tuyển. Trước ngày hội giao quân, các địa phương đều tổ chức nhiều hoạt động sôi nổi, thiết thực như: Giao lưu, gặp mặt, tặng quà động viên các tân binh chuẩn bị lên đường nhập ngũ. Năm 2025, toàn tỉnh có 1.388 tân binh nhập ngũ, tham gia nghĩa vụ quân sự và công an nhân dân, tăng 13 tân binh so với năm 2024. Trong đó, có 1.150 tân binh tham gia nghĩa vụ quân sự, 238 tân binh tham gia nghĩa vụ công an. Trong số này, có 510 người tự nguyện viết đơn, 4 tân binh là đảng viên. Giao cho 4 đơn vị nhận quân: Lữ đoàn 144, Bộ Tổng tham mưu; Trung đoàn 174, Sư đoàn 316, Quân khu II; Binh chủng Đặc công và Công an tỉnh.   8. Tình hình an toàn giao thông - Trong tháng, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 9 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 5 người và làm bị thương 4 người. Số vụ tai nạn giảm 25% so với tháng trước, số người chết giảm 16,67%; số người bị thương giảm 50%. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giảm 40%, số người chết giảm 44,44%, số người bị thương giảm 75%.- Tính chung trong quý I/2025, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 39 vụ tai nạn giao thông, làm 17 người chết và làm 26 người bị thương. So với cùng kỳ năm trước tăng 2,63% số vụ, số người chết giảm 15%, số người bị thương giảm 18,75%.8. Thiệt hại do thiên tai, phòng chống cháy, nổ8.1. Về thiên taiTrong 3 tháng đầu năm 2025, trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang xảy ra 01 vụ thiên tai vào ngày 13/3/2025. Mưa to kèm theo giông lốc làm 24 ngôi nhà bị tốc mái; thiệt hại 01 phòng học tại điểm Trường Tiểu học thôn Tân Minh, xã Kiến Thiết, huyện Yên Sơn bị tốc mái hoàn toàn; 11,5 ha keo bị gãy, đổ. Ước tính tổng giá trị thiệt hại: 920 triệu đồng.8.2. Về cháy nổTừ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh xảy ra 01 vụ cháy tại chợ Trung Môn, xã Trung Môn, huyện Yên Sơn. Không ghi nhận thiệt hại về người, ước tính thiệt hại tài sản đang được cơ quan chức năng thống kê tổng hợp.9. Một số nhiệm vụ giải pháp trong thời gian tớiVới quyết tâm hoàn thành cao nhất các mục tiêu, chỉ tiêu kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh đã đề ra trong năm 2025. Để phấn đấu hoàn thành các mục tiêu theo kế hoạch cần phải tiếp tục thực hiện tốt một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm sau:Một là, Tập trung giải quyết dứt điểm khó khăn vướng mắc, nhất là các vướng mắc liên quan đến công tác bồi thường giải phóng mặt bằng các dự án trọng điểm của tỉnh, bàn giao cho các nhà thầu tổ chức thi công hoàn thành trong quý I. Tập trung tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, giải phóng mặt bằng, đẩy nhanh tiến độ thi công, nhất là công trình, dự án trọng điểm của tỉnh, như: đường Cao tốc Tuyên Quang - Hà Giang (giai đoạn 1) đoạn qua tỉnh Tuyên Quang; đường từ Khu du lịch suối khoáng Mỹ Lâm đến Quốc lộ 2D kết nối với đường cao tốc Tuyên Quang - Phú Thọ; đường Hồ Chí Minh đoạn Chợ Chu - Ngã ba Trung Sơn; Dự án đầu tư xây dựng đường từ thị trấn Sơn Dương đi Tân Trào và các dự án quan trọng khác; đẩy nhanh tiến độ chuẩn bị đầu tư, lựa chọn nhà thầu để sớm khởi công các dự án mới trong năm 2025: Dự án đầu tư xây dựng đường từ trung tâm thành phố Tuyên Quang đi khu du lịch suối khoáng Mỹ Lâm; Dự án Phát triển cơ sở hạ tầng thích ứng biến đổi khí hậu để hỗ trợ sản xuất cho đồng bào dân tộc các tỉnh miền núi, trung du phía Bắc tỉnh Tuyên Quang, công trình thuộc các Chương trình mục tiêu quốc gia, các công trình, dự án khác,... Thực hiện có hiệu quả Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh về Đề án bê tông hóa đường giao thông nông thôn và xây dựng cầu trên đường giao thông nông thôn. Đẩy nhanh tiến độ và hoàn thành lập các quy hoạch chung, quy hoạch phân khu, quy hoạch chi tiết, từng bước nâng cao tỷ lệ phủ kín các cấp độ quy hoạch (thành phố Tuyên Quang theo tiêu chí đô thị loại 1; các thị trấn Sơn Dương, huyện Sơn Dương, Vĩnh Lộc, huyện Chiêm Hóa, Tân Yên, huyện Hàm Yên theo tiêu chí đô thị loại IV; thị trấn Yên Sơn, huyện Yên Sơn; Lăng Can huyện Lâm Bình đạt tiêu chí của đô thị loại V). Đẩy mạnh thực hiện Đề án “Đầu tư xây dựng ít nhất 01 triệu căn hộ nhà ở xã hội cho đối tượng thu nhập thấp, công nhân khu công nghiệp giai đoạn 2021-2030”; kế hoạch phát triển nhà ở trên địa bàn tỉnh; đôn đốc các chủ đầu tư dự án nhà ở xã hội trên địa bàn tỉnh triển khai dự án theo đúng tiến độ được phê duyệt nhằm hoàn thành chỉ tiêu về nhà ở xã hội đã được Thủ tướng Chính phủ giao.Hai là, Tiếp tục triển khai thực hiện hiệu quả Đề án thu hút đầu tư trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2021-2025; thực hiện rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục hành chính, hỗ trợ các tập đoàn và các doanh nghiệp đến tìm hiểu, khảo sát môi trường đầu tư, kinh doanh để thu hút các nhà đầu tư tiềm năng đến triển khai các dự án trên địa bàn tỉnh góp phần giải quyết việc làm mới cho lao động địa phương, tăng thu ngân sách. Tổ chức đối thoại, họp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho nhà đầu tư trong việc triển khai thực hiện dự án. Chỉ đạo các cơ quan, đơn vị theo chức năng nhiệm vụ tháo gỡ khó khăn cho nhà đầu tư trong hoạt động sản xuất kinh doanh, nhất là quy hoạch, bồi thường giải phóng mặt bằng, thủ tục về đất đai,... Tiếp tục mở rộng quan hệ hợp tác với các địa phương nước ngoài đã có quan hệ hợp tác với tỉnh hiệu quả, bền vững, lâu dài thông qua các hoạt động hợp tác cụ thể, phù hợp; đặc biệt là trong các lĩnh vực tỉnh có tiềm năng, thế mạnh. đẩy mạnh việc giới thiệu, quảng bá hình ảnh, thành tựu phát triển và tiềm năng, thế mạnh của tỉnh ra nước ngoài. Ba là, Thực hiện có hiệu quả các chính sách tiền tệ, tín dụng; đẩy mạnh tăng trưởng tín dụng đi đôi với kiểm soát chất lượng, đảm bảo tín dụng an toàn, hiệu quả; tập trung vốn tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, cung ứng nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội. Tiếp tục giảm chi phí, tăng cường ứng dụng thông tin, đơn giản hóa thủ tục hành chính; tạo điều kiện cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn vay với chi phí hợp lý, giá vốn rẻ để phục hồi sản xuất kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế; phấn đấu tăng trưởng tín dụng toàn tỉnh đạt 16% trở lên.Bốn là, Tập trung thực hiện Chương trình Ứng dụng khoa học và đổi mới công nghệ nâng cao năng suất chất lượng, phát triển thương hiệu các sản phẩm chủ lực và đặc sản trên địa bàn tỉnh. Tiếp tục thực hiện chính sách hỗ trợ khuyến khích doanh nghiệp, doanh nhân đầu tư nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, đổi mới công nghệ, xác lập quyền sở hữu công nghiệp trên địa bàn tỉnh. Quản lý chặt chẽ các đề tài, dự án đang triển khai thực hiện đảm bảo đạt chất lượng, hiệu quả; tổ chức kiểm tra, đánh giá tiến độ, nội dung của một số đề tài, dự án.Năm là, tiếp tục theo dõi chặt chẽ tình hình thời tiết, chủ động xây dựng các phương án phòng chống thiên tai, cảnh báo mưa lũ nhắm hạn chế tối thiểu thiệt hại về người và tài sản do thiên tai gây ra. Thực hiện tốt các chính sách về an sinh xã hội, lao động, việc làm, công tác trợ giúp đột xuất, bảo đảm người dân khi gặp rủi ro, thiên tai được hỗ trợ kịp thời, khắc phục khó khăn ổn định cuộc sống. Tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát bảo đảm an ninh trật tự, an toàn giao thông và phòng chống cháy nổ.CHI CỤC THỐNG KÊ TỈNH TUYÊN QUANG

Tình hình kinh tế - xã hội tháng 02 năm 2025 tỉnh Tuyên Quang
  •   07/11/2025 22:09

I. PHÁT TRIỂN KINH TẾ  1. Về sản xuất nông nghiệp (tính đến ngày 20/02/2025)1.1. Trồng trọt 1.1.1. Sản xuất vụ đôngĐến thời điểm báo cáo bà con nông dân trong tỉnh đang khẩn trương tiếp tục thu hoạch diện tích cây màu vụ đông, giải phóng đất phục vụ cho công tác gieo trồng các loại cây trồng vụ xuân năm 2025.Kết quả: Cây ngô đã thu hoạch được 6.382,06 ha đạt 100%, cây khoai lang thu hoạch được 981,33 ha đạt 100%, cây rau đậu các loại thu hoạch 4.080,56 ha đạt 100%.1.1.2. Sản xuất vụ xuân Vụ xuân được xác định là vụ lúa chủ lực, cho năng suất cao và góp phần quan trọng đến sản xuất nông nghiệp. Vì vậy, ngay từ đầu vụ toàn tỉnh đã tập trung cao độ cho công tác chỉ đạo, triển khai các điều kiện cần thiết để chuẩn bị cho sản xuất vụ xuân năm 2025 trong khung thời vụ tốt nhất. Vụ xuân năm nay toàn tỉnh phấn đấu gieo cấy trên 18.000 ha, trong đó nhóm lúa có năng suất cao chiếm từ 60 - 65%, nhóm giống lúa có chất lượng gạo ngon chiếm 35 - 40%. Kết quả: Cây lúa đã cấy 17.136 ha, đạt 95,10% kế hoạch (trong đó: Lúa lai 8.200 ha; lúa thuần 8.935,8 ha), giảm 3,94% so với cùng kỳ; cây ngô 3.568 ha, đạt 44,3%, tăng 145,78%; cây đậu tương 72 ha, đạt 65,6%, tăng 33,46%; cây rau củ các loại 579 ha, tăng 35,23%;…. Do thời tiết rét đậm, rét hại và mưa phùn kéo dài, ngành chức năng đã khuyến cáo bà con gieo mạ trong khung thời vụ, che phủ nilon chống rét cho toàn bộ diện tích mạ, chỉ gieo cấy khi thời tiết trên 15°C; kết thúc cấy trong tháng 3 để kịp thu hoạch, giải phóng đất sản xuất vụ mùa, khuyến khích nông dân sử dụng giống ngắn ngày, có khả năng chống chịu sâu bệnh, chịu hạn, phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng của địa phương chọn những giống có năng suất cao, chất lượng tốt, giá trị kinh tế cao, thị trường tiêu thụ ổn định.Theo kế hoạch lấy nước đợt 2 diễn ra trong 7 ngày, nhằm bảo đảm cho các địa phương lấy nước được thuận lợi Tập đoàn Điện lực Việt Nam đã thực hiện xả gia tăng các hồ thủy điện (hồ Hòa Bình, Thác Bà, Tuyên Quang) từ 0 giờ ngày 8/2/2025 đến 24h ngày 24/2/2025. Tỉnh đã chỉ đạo ngành chức năng và các địa phương quản lý chặt chẽ và khai thác hợp lý các nguồn nước; tăng cường nạo vét hệ thống kênh mương, đào ao trữ nước, lắp đặt và vận hành các trạm bơm dã chiến để tận dụng tối đa nguồn nước, giảm thất thoát, lãng phí nguồn nước; thực hiện các giải pháp tiết kiệm nước cho lúa và cây trồng cạn, đặc biệt với cây ăn quả, cây trồng có giá trị kinh tế cao, chuẩn bị các điều kiện để sẵn sàng bơm nước chống hạn khi cần thiết, trong đó chú trọng giải pháp cấp nước sản xuất, nước sinh hoạt cho các khu vực, các hộ dân có nguy cơ thiếu nước trong trường hợp nguồn nước bị thiếu hụt.1.2. Tình hình sinh vật gây hại - Thời tiết diễn biến bất thường, tạo điều kiện thuận lợi để sâu bệnh phát triển gây hại đến cây trồng. Trong đó một số diện tích lúa - mạ xuân bị chuột, nấm mốc, thối nhũn, bệnh trắng lá gây hại rải rác. Diện tích ngô bị sâu đục bắp, đốm lá, khô vằn, châu chấu, chuột gây hại rải rác. Trên cây chè, cây cam bị nhiễm rầy xanh nhẹ, bọ trĩ, bọ xít, nhện đỏ, nhện trắng gây hại ở mức trung bình.- Trước tình hình sinh vật gây hại cây trồng nêu trên. Chi cục bảo vệ thực vật đã chỉ đạo các trạm bảo vệ thực vật các huyện, thành phố phối hợp với Phòng Nông nghiệp, Trung tâm dịch vụ nông nghiệp, chính quyền địa phương chỉ đạo, hướng dẫn bà con nông dân thực hiện việc gieo cấy đúng thời vụ, chăm sóc cây trồng; thường xuyên kiểm tra đồng ruộng, phát hiện sâu bệnh hại cây trồng, kịp thời hướng dẫn cách phòng trừ, giảm thiệt hại do sâu bênh gây ra.1.3. Về chăn nuôi 1.3.1. Về số lượng đàn gia súc, gia cầmĐàn trâu 85.850 con, giảm 2,27% so với cùng kỳ năm 2024; đàn bò 40.053 con, giảm 3,05%; đàn lợn 568.691 con, tăng 3,13%; đàn gia cầm 7.590,7 nghìn con, tăng 3,22%.Đánh giá chung, tình hình chăn nuôi trong tháng trên địa bàn tỉnh cơ bản ổn định, đàn gia súc, gia cầm tiếp tục phát triển khá, đảm bảo đủ nguồn cung cho thị trường. Giá lợn hơi có có xu hướng tăng cao nguyên nhân là do tác động của dịch tả lợn châu Phi, dịch lợn tai xanh xuất hiện tại một số tỉnh, thành trong cả nước, từ đó sản lượng không đủ đáp ứng cho nhu cầu thị trường, nhất là thời điểm sau tết khi nhu cầu mua lại thịt đang tăng. Chi phí đầu tư thức ăn chăn nuôi, nguy cơ dịch bệnh cũng tăng cao hơn nên người dân thận trọng khi tái đàn. Cùng với đó, các cơ quan chức năng kiểm soát chặt chẽ việc nhập lậu lợn qua biên giới nên nguồn cung trên thị trường bị hạn chế. Do vậy, các ngành chức năng đã tập trung chỉ đạo các địa phương chú trọng thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch bệnh, vệ sinh, khử trùng, tiêu độc môi trường tại các vùng trọng điểm chăn nuôi của tỉnh, vùng nguy cơ cao để tiêu diệt các loại mầm bệnh, khuyến khích người chăn nuôi giảm dần hình thức chăn nuôi quy mô nhỏ lẻ, hộ gia đình; tập trung đầu tư phát triển chăn nuôi trang trại để áp dụng công nghệ và kỹ thuật tiên tiến nhằm giảm dần quy mô chăn nuôi nhỏ lẻ, hộ gia đình để quản lý dịch bệnh tốt hơn.1.4. Về công tác phòng chống dịch bệnh gia súc, gia cầm trong tháng 1.4.1. Công tác phòng chống và điều trị- Trong tháng bệnh Cúm gia cầm (H5N1) phát sinh tại 45 hộ/11 thôn (tổ dân phố) ở 02 xã Thanh Tương và trấn Na Hang, huyện Na Hang với tổng số 7.523 con gia cầm mắc bệnh buộc phải tiêu hủy; một số bệnh nội, ngoại khoa ký sinh trùng xuất hiện trên đàn gia súc, gia cầm đã được nhân viên thú y phát hiện, chẩn đoán và điều trị kịp thời số gia súc khỏi bệnh: 4.750 con. - Dịch tả lợn Châu phi phát sinh tại 01 hộ thuộc xã Khau tinh, huyện Na Hang với số con tiêu hủy là 04 con/170kg.1.4.2. Công tác kiểm dịch vận chuyển động vật, sản phẩm động vật+ Thực hiện chặt chẽ đúng quy định công tác kiểm dịch vận chuyển ngoài tỉnh, đã kiểm tra cấp 226 giấy chứng nhận kiểm dịch vận chuyển trong đó: (89 chuyến vận chuyển 37.031 con gia súc, gia cầm; 177 chuyến vận chuyển 3.372,5 tấn sữa tươi nguyên liệu). Lũy kế cấp 536 giấy chứng nhận kiểm dịch vận chuyển trong đó: 217 chuyến vận chuyển 66.178 con gia súc, gia cầm; 359 chuyến vận chuyển 6.788,5 tấn sữa tươi nguyên liệu đi các tỉnh Bắc Ninh, Hà Nội, Hà Nam, Hà Giang, Nam Định...+ Tại các Trạm Kiểm dịch động vật: Các huyện duy trì thực hiện kiểm dịch vận chuyển, trong tháng đã kiểm tra 69 lượt phương tiện vận chuyển đủ thủ tục, vận chuyển 34.866 con gia súc, gia cầm (Lũy kế kiểm tra 221 phương tiện vận chuyển đủ điều kiện vận chuyển 113.226 con gia súc, gia cầm).1.5. Về sản xuất lâm nghiệp  1.5.1. Công tác trồng rừng- Theo kế hoạch trồng rừng năm 2025, toàn tỉnh phấn đấu trồng mới 10.100 ha rừng, trong đó: Rừng sản xuất là 9.700 ha, rừng phân tán 400 ha. Cụ thể: Sơn Dương 1.835, Yên Sơn 3.092 ha, thành phố Tuyên Quang 212 ha, Hàm Yên 2.335 ha, Chiêm Hóa 1.580 ha, Na Hang 523 ha, Lâm Bình 523 ha. - Trong tháng, toàn tỉnh đã trồng 408,68 ha rừng trồng tập trung, đạt 4,12% kế hoạch, tăng 14,16% cùng kỳ; số cây lâm nghiệp trồng phân tán trồng được là 334,53 nghìn cây. 1.5.2. Khai thác gỗ rừng trồng Trong tháng sản lượng gỗ khai thác ước đạt 139.726,75 m3 gỗ, tăng 153,05% so với cùng kỳ năm 2024. 1.5.3. Công tác quản lý bảo vệ rừngCông tác quản lý, bảo vệ rừng được các cấp, các ngành quan tâm, đồng thời tuyên truyền, vận động nhân dân tích cực tham gia thực hiện kế hoạch trồng rừng năm 2025; tuyên truyền, phổ biến giáo dục cho người dân nâng cao nhận thức về các chính sách quản lý bảo vệ và phát triển rừng; tăng cường kiểm tra, ngăn chặn việc phá rừng, đốt rừng, triệt phá các đường dây buôn bán, vận chuyển lâm sản trái phép.Thường xuyên cảnh báo nguy cơ cháy rừng, đẩy mạnh tuyên truyền về công tác phòng cháy chữa cháy rừng; phối hợp chặt chẽ với lực lượng Công an, Quân đội, và chính quyền cơ sở, các chủ rừng tăng cường kiểm tra, kiểm soát, phát hiện kịp thời, xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật các hành vi xâm hại rừng. Theo báo cáo của Chi cục Kiểm lâm tỉnh, trong tháng trên địa bàn toàn tỉnh đã xảy ra 3 vụ cháy rừng, diện tích rừng bị cháy là 1,42 ha. Số vụ chặt phá rừng 1 vụ tổng diện tích bị chặt phá 0,04 ha, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng, đã kiểm tra, phát hiện và xử lý tịch thu 6,680 m3 gỗ các loại; phạt hành chính và bán thanh lý tài sản 26,5 triệu đồng (đã thu nộp ngân sách 26,5 triệu đồng).1.6. Phát động Tết trồng cây “Đời đời nhớ ơn Bác Hồ” Xuân Giáp Thìn và thực hiện kế hoạch trồng rừng năm 2024Hưởng ứng phong trào Tết trồng cây “Đời đời nhớ ơn Bác Hồ” Xuân Ất Tỵ năm 2025 trên địa bàn toàn tỉnh đã tổ chức 143 điểm phát động “Tết trồng cây” với tổng số 21.165 người tham gia, trồng được 144.069 cây Keo, Mỡ, Bạch đàn và một số loài cây bản địa, tương đương diện tích 198,84 ha.Tỉnh đã tổ chức Lễ phát động Tết trồng cây Đời đời nhớ ơn Bác Hồ Xuân Ất Tỵ năm 2025, địa điểm tại thôn Tân Lập, xã Tân Trào, huyện Sơn Dương. Tại buổi Lễ đã trồng được 1.055 cây (1.000 cây Lim xẹt và 50 cây Chò chỉ) trên diện tích 2 ha. 2. Sản xuất công nghiệp2.1. Chỉ số phát triển công nghiệp - Chỉ số sản xuất công nghiệp IIP trong tháng tăng 4,93% so với tháng trước, tăng 26,34% so với cùng kỳ, cụ thể của các ngành như sau: Ngành khai khoáng tăng 4,36%, tăng 38,16%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 4%, tăng 24,03%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí tăng 14,9%, tăng 47,65%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải giảm 3,64%, tăng 10,52%.Một số ngành công nghiệp cấp II có chỉ số sản xuất tăng so với cùng kỳ năm trước như: Chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế) tăng 99,64%; in, sao chép bản ghi các loại tăng 40%; sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 37,85%; chế biến thực phẩm tăng 35,22%; giấy và sản phẩm từ giấy tăng 24,14%;...Nguyên nhân chủ yếu chỉ số IIP tăng so với tháng trước là tháng 2 năm nay không trùng vào dịp nghỉ Tết Nguyên đán, nên số ngày làm việc nhiều hơn 8-10 ngày so với tháng trước, sản lượng sản xuất của các doanh nghiệp ổn định.- Tính chung trong 02 tháng đầu năm 2025, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 6,16% so với cùng kỳ năm trước, Chia theo từng ngành kinh tế cấp I như sau:+ Ngành khai khoáng tăng 34,82%, nguyên nhân từ đầu năm đến nay, sản lượng khai thác khai thác khoáng hóa chất và khoáng phân bón tăng so cùng kỳ.+ Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 4,81%, do một số ngành chế biến tăng như:Sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 61,63%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế) tăng 53,57%; sản xuất giường, tủ, bàn ghế tăng 45,37%; sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 21,58%; sản xuất chế biến thực phẩm tăng 10,82%;...+ Ngành sản xuất và phân phối điện tăng 10,77%, nguyên nhân là do lượng nước tại các lòng hồ đảm bảo việc tích nước và thực hiện các đợt xả nước của Trung tâm Điều độ Hệ thống điện Quốc gia phục vụ cho gieo cấy vụ Xuân dẫn đến sản lượng điện sản xuất trong tháng tăng.+ Ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 6,79%, do nhu cầu sử dụng nước sinh hoạt và khối lượng rác thải sau Tết tăng cao. Công ty Cổ phần Cấp thoát nước và công ty Đô thị đã tăng cường kiểm tra, bảo dưỡng máy móc, thiết bị, nhằm bảo đảm các hoạt động cấp nước và thu gom rác thải ổn định.2.2. Sản phẩm công nghiệp chủ yếu Trong tháng có 10/15 nhóm sản phẩm chủ yếu tăng so với cùng kỳ cụ thể như sau: Điện thương phẩm đạt 90 triệu Kwh, tăng 12,35%; điện sản xuất đạt 93 triệu Kwh, tăng 57,63%; đường kính ước đạt 4.400 tấn, tăng 33,33%; bột Felspat nghiền đạt 10.000 tấn, tăng 69,49%; giày dép thể thao có mũ bằng da và có đế ngoài đạt 1.100 nghìn đôi, tăng 61,42%; xi măng đạt 60.000 tấn, tăng 26,04%; nước máy thương phẩm đạt 850 nghìn m3, tăng 21,82%,... Có 5 nhóm giảm so với cùng kỳ là nhóm: Bột ba rít đạt 400 tấn, giảm 20%; hàng may mặc xuất khẩu đạt 1.234 nghìn sản phẩm, giảm 10,08%; thép cây, thép cuộn đạt 20.000 tấn, giảm 19,49%;...Tính chung trong 02 tháng, một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng khá so với cùng kỳ năm trước: Điện thương phẩm đạt 187 triệu Kwh, tăng 3,48%; điện sản xuất đạt 170 triệu Kwh, tăng 12,58%; đường kính đạt 8.752 tấn, tăng 12,21%; bột Felspat đạt 19.500 tấn, tăng 63,87%; giấy in viết, photo thành phẩm đạt 23.000 tấn, tăng 34,26%,...Đánh giá chung, ngay sau kỳ nghỉ Tết Nguyên đán, các doanh nghiệp đã hoạt động trở lại với không khí khẩn trương, nghiêm túc, tư tưởng người lao động ổn định, phấn khởi, thể hiện quyết tâm cùng doanh nghiệp hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu kế hoạch đã đề ra, đảm bảo hoàn thành các đơn hàng đã được ký kết. Các doanh nghiệp đã chủ động tìm kiếm đơn hàng, mở rộng thị trường, cùng với đó là tập trung sản xuất đa dạng hóa các mặt hàng, giữ vững chất lượng và thương hiệu, nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường, tạo việc làm ổn định và thu nhập cho người lao động.3. Vốn đầu tư, xây dựng3.1. Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước thực hiện tháng 2 năm 2025 đạt 246 tỷ đồng, tăng 14,42% so với tháng trước, giảm 1,71% so cùng kỳ. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 211 tỷ đồng, tăng 12,35%, giảm 1,85%; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện đạt 32 tỷ đồng, tăng 35,64%, giảm 1,31%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã đạt 3 tỷ đồng, giảm 3%, tăng 3,81%.Tính chung trong 02 tháng đầu năm 2025, nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 461 tỷ đồng, tăng 1,62% so với cùng kỳ. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 399 tỷ đồng, tăng 0,92%; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện đạt 55 tỷ đồng, tăng 6,28%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã đạt 6 tỷ đồng, tăng 7,73%.3.2. Hoạt động xây dựngNăm 2025, Tuyên Quang được giao tổng kế hoạch vốn đầu tư công là 2.967,22 tỷ đồng, trong đó: Vốn ngân sách địa phương: 913,74 tỷ đồng; Vốn ngân sách trung ương: 2.053,49 tỷ đồng. Tính đến ngày 28/02/2025, tổng số vốn đã giải ngân được 194,47 tỷ đồng, đạt 6,55% kế hoạch.Với quyết tâm đạt kết quả cao nhất giải ngân vốn đầu tư công năm 2025, ngay những ngày sau Tết nguyên đán tỉnh đã tập trung đẩy nhanh tiến độ thực hiện các công trình trọng điểm tại các dự án trọng điểm của tỉnh như: Cầu Hàm Yên bắc qua Sông Lô và cầu cạn Km 48 tại địa phận Thị trấn Tân Yên (Hàm Yên); gói thầu 20 dài 20 km, đoạn qua địa bàn xã Tứ Quận (Yên Sơn) thuộc tuyến cao tốc Tuyên Quang - Hà Giang; Bệnh viện Đa khoa tỉnh; các nhà thầu đã tập trung cao độ giải quyết, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc về đất đai, tài nguyên môi trường, giải phóng mặt bằng các dự án đầu tư; đẩy nhanh tiến độ hoàn thiện các thủ tục đầu tư, đẩy nhanh tiến độ thi công, nâng cao chất lượng các công trình, dự án, phấn đấu hoàn thành vượt tiến độ đề ra. 4. Thương mại và Dịch vụSau kỳ nghỉ Tết Nguyên đán Ất Tỵ 2025, hiện nay đời sống sinh hoạt, nhu cầu mua sắm của người dân đã trở lại nhịp sống bình thường. Tình hình thị trường hàng hóa tiêu dùng, lương thực, thực phẩm trong tỉnh nhìn chung ổn định. Nhờ nguồn cung dồi dào, không xảy ra tình trạng tăng giá đột biến, đảm bảo nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của người dân. Giá cả ít biến động, duy trì trạng thái ổn định, không xảy ra tình trạng khan hiếm hay tăng giá bất thường. Các mặt hàng thiết yếu như thực phẩm, rau xanh, lương thực đều được cung ứng đầy đủ, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng sau kỳ nghỉ lễ.Nhờ sự chỉ đạo sát sao của chính quyền và sự phối hợp đồng bộ giữa các lực lượng chức năng, không có điểm nóng về đầu cơ, tăng giá hay khan hiếm hàng hóa. Người dân có thể mua sắm dễ dàng với giá cả hợp lý, góp phần đảm bảo đời sống kinh tế - xã hội trong giai đoạn đầu năm mới.4.1. Doanh thu bán lẻ hàng hóa Doanh thu bán lẻ hàng hóa trong tháng 2 ước đạt 2.582 tỷ đồng, giảm 10,93% so với tháng trước, tăng 11,13% so với tháng cùng kỳ. Trong đó, một số nhóm hàng giảm so với tháng trước, tăng so với cùng kỳ, cụ thể như sau: Lương thực, thực phẩm đạt 911 tỷ đồng, giảm 19,81%, tăng 1,45%; may mặc đạt 153 tỷ đồng, giảm 10,53%, tăng 9,49%; phương tiện đi lại, trừ ô tô con (kể cả phụ tùng) đạt 114 tỷ đồng, giảm 18,57%, tăng 19,14%,… Tính chung trong 02 tháng, tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 5.481 tỷ đồng, tăng 19,5% so với cùng kỳ. Trong đó: hàng hóa khác đạt 794 tỷ đồng, tăng 65,74%; nhiên liệu khác (trừ xăng dầu) ước đạt 92 tỷ đồng, tăng 33,55%; ô tô con (dưới 9 chỗ ngồi) ước đạt 118 tỷ đồng, tăng 24,98%; phương tiện đi lại, trừ ô tô con (kể cả phụ tùng) ước đạt 254 tỷ đồng, tăng 24,11%;…4.2. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ khác- Trong tháng, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 235 tỷ đồng, tăng 5,38% so với tháng trước, tăng 18,25% so với cùng kỳ. Trong đó: Dịch vụ lưu trú đạt 24 tỷ đồng, tăng 9,09%, tăng 58,34%; ăn uống đạt 210 tỷ đồng, tăng 4,48%, tăng 14,92%; du lịch lữ hành đạt 0,52 tỷ đồng, tăng 6,25%, tăng 23,72%.Tính chung trong 02 tháng, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 458 tỷ đồng, tăng 17,4% so với cùng kỳ. Trong đó: Dịch vụ lưu trú ước đạt 46 tỷ đồng, tăng 55,09%; dịch vụ ăn uống ước đạt 412 tỷ đồng, tăng 14,3%; dịch vụ lữ hành ước đạt 1 tỷ đồng, tăng 28,97%.- Doanh thu dịch vụ khác trong tháng ước đạt 118 tỷ đồng, giảm 5,60% so với tháng trước, tăng 11,60% so với cùng kỳ. Trong đó: Dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội đạt 4,93 tỷ đồng, giảm 2,23%, tăng 23,38%; sửa chữa máy vi tính, đồ dùng cá nhân và gia đình ước đạt 13 tỷ đồng, giảm 12,05%, tăng 21,99%; dịch vụ khác ước đạt 36 tỷ đồng, giảm 17,27%, tăng 16,73%;… Tính chung trong 02 tháng, doanh thu dịch vụ khác ước đạt 244 tỷ đồng, tăng 15,74% so với cùng kỳ.4.3. Giá cảChỉ số giá tiêu dùng (CPI) trong tháng tăng 2,28% so với cùng kỳ năm trước, tăng 1,34% so với tháng 12 năm trước, tăng 0,41% so với tháng trước. Tính chung trong 02 tháng, CPI bình quân tăng 2,84% so với cùng kỳ.Là tháng sau Tết có ngày Thần tài nên nhu cầu mua sắm của người dân tăng cao, một số mặt hàng lương thực thực phẩm sau Tết giá cũng tăng nhẹ. Trong số 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính thì có 9 nhóm tăng giá so với tháng trước, 02 nhóm giảm giá. Trong 9 nhóm hàng tăng so với tháng trước, bao gồm những nhóm hàng sau: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,87%, trong đó nhóm lương thực tăng 2,33%, nhóm thực phẩm tăng 0,79%, nhóm ăn uống ngoài gia đình giảm 0,27%, nguyên nhân là do giá các loại gạo tẻ ngon, gạo nếp, thịt lợn, bò và thịt gia cầm tăng sau dịp Tết Nguyên đán; đồ uống và thuốc lá tăng 0,21%, do nhu cầu tiêu dùng và sử dụng làm quà biếu tặng trong dịp Tết khiến giá rượu bia tăng 0,4%; thuốc hút tăng 0,6%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,48% do thời tiết vẫn rét kéo dài nhu cầu mua sắm quần áo may sẵn và giầy dép của người dân vẫn tăng; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0,56%, chủ yếu là do điện sinh hoạt tăng 1,03% do nhu cầu trang trí nhà bằng các loại đèn nháy, đèn trang trí, đèn Led của người dân tăng; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,37%; giao thông tăng 0,09% là do giá xăng, dầu điều chỉnh tăng theo giá nhiên liệu thế giới tại các kỳ điều hành giá của Tập đoàn xăng dầu Việt Nam; giáo dục tăng nhẹ 0,1%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,14%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,82% tập trung ở giá nhóm đồ trang sức tăng 3,19%; bên cạnh đó, nhu cầu đồ thờ cúng vào đầu năm tăng nên giá các mặt hàng này tăng.Nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình giảm 0,94%, do nhu cầu mua sắm các đồ dùng trong gia đình giảm. Nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,05% một số mặt hàng điện thoại giảm giá kích cầu cuối năm.- Chỉ số giá vàng tăng 38,39% so với cùng kỳ năm trước, tăng 6,52% so với tháng 12 năm trước, tăng 5,27% so với tháng trước, do nhu cầu mua sắm vàng trước Tết Nguyên đán và ngày Vía Thần Tài (mùng 10 tháng Giêng hàng năm) của người dân tăng cao. Tính chung trong 02 tháng đầu năm 2025, giá vàng tăng 36,15% so với cùng kỳ.- Chỉ số giá đô la Mỹ tăng 3,89% so với cùng kỳ năm trước, tăng 0,3% so với tháng 12 năm trước, tăng 0,19% so với tháng trước. Tính chung trong 02 tháng đầu năm 2025, tăng 3,80% so với cùng kỳ.4.4. Tình hình xuất, nhập khẩu hàng hóa  Trong tháng, xuất khẩu ước đạt 15,2 triệu USD, tăng 44,29%, nhập khẩu ước đạt 7 triệu USD, tăng 7,69%, cụ thể của các nhóm hàng chính như sau:+ Một số mặt hàng xuất khẩu chủ yếu trong tháng tăng so với cùng kỳ như: Phong bì đạt 500 nghìn sản phẩm, tăng 25%; Antimony thỏi đạt 1.100 tấn, tăng 2.794,7%,… Nhóm hàng dệt, may đạt 720 nghìn sản phẩm, giảm 19,3%; chè xuất khẩu đạt 400 tấn, giảm 33,6%;...+ Một số mặt hàng nhập khẩu chính được dùng làm nguyên liệu phục vụ sản xuất hàng hàng may mặc tiếp tục tăng, cho thấy những dấu hiệu trong phục hồi trong sản xuất may mặc; nhóm hàng vải may mặc, phụ liệu may mặc, phụ liệu khác đạt 5,5 triệu USD, tăng 22,22% so với cùng kỳ; nhóm máy móc, thiết bị, phụ tùng, hàng hóa khác đạt 1,5 triệu USD, giảm 25%.   Tính chung trong 02 tháng đầu năm 2025, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 37,4 triệu USD, tăng 76,2%, nhập khẩu ước đạt 14,2 triệu USD, tăng 24,4%. Một số mặt hàng xuất khẩu tiếp tục tăng so với cùng kỳ như: Phong bì (tăng 38,4%); antimony thỏi (tăng 5.926,3%). Mặt hàng nhập khẩu vải may mặc, phụ liệu may mặc, phụ liệu khác tăng 61,3%.5. Vận tải hàng hóa và hành khách Sau dịp Tết Nguyên đán Ất Tỵ 2025, nhu cầu đi lại của người dân trên địa bàn tỉnh tăng cao so với cùng kỳ. Nhằm đảm bảo nhu cầu đi lại của người dân được thuận tiện, an toàn trước, trong và sau dịp Tết, các lực lượng chức năng đã tăng cường công tác kiểm tra, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm trong lĩnh vực vận tải hành khách và hàng hóa, đồng thời chỉ đạo các Bến xe khách, các doanh nghiệp, hợp tác xã và các hộ kinh doanh cá thể vận tải triển khai kế hoạch phục vụ dịp cao điểm Tết, đồng thời trang hoàng, dọn dẹp vệ sinh khu vực sân bến xe, bãi đỗ xe và Nhà chờ xe phục vụ hành khách. Ngoài ra, tình hình an ninh, trật tự tại các bến xe và trên các phương tiện vận tải hành khách được duy trì tốt, các tuyến đường trên địa bàn tỉnh đảm bảo giao thông an toàn, thông suốt, trên địa bàn tỉnh không xảy ra ùn tắc giao thông. 5.1. Doanh thu vận tải tải kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải - Doanh thu vận tải trong tháng ước đạt 445 tỷ đồng, giảm 12,82% so với tháng trước, tăng 25,03% so với cùng kỳ. Trong đó, vận tải hành khách đạt 87 tỷ đồng, tăng 7,39%, tăng 31,67%; vận tải hàng hóa đạt 358 tỷ đồng, giảm 16,63%, tăng 23,47%; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 0,62 tỷ đồng, giảm 1,2%, tăng 37,02%; hoạt động bưu chính, chuyển phát đạt 0,37 tỷ đồng, giảm 20,28%, tăng 59,97%,…- Tính chung trong 02 tháng đầu năm 2025, doanh thu vận tải kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 956 tỷ đồng, tăng 27,78% so với cùng kỳ. Trong đó: vận tải hành khách đạt 168 tỷ đồng, tăng 29,23%; vận tải hàng hóa đạt 787 tỷ đồng, tăng 27,44%; dịch vụ hỗ trợ vận tải kho bãi đạt 1,24 tỷ đồng, tăng 37,5%; bưu chính, chuyển phát tăng 58,72%. 5.2. Vận tải hành khách và hàng hóa- Trong tháng khối lượng hành khách vận chuyển ước đạt 1 triệu lượt hành khách, tăng 3,6% so với tháng trước, tăng 19,52% so với cùng kỳ; khối lượng hành khách luân chuyển ước đạt 108 triệu lượt hành khách.km, tăng 5,46%, tăng 27,64%. Tính chung 02 tháng đầu năm 2025, khối lượng hành khách vận chuyển ước đạt 3 triệu lượt hành khách, tăng 19,27% so với cùng kỳ; khối lượng hành khách luân chuyển ước đạt 211 triệu lượt hành khách.km, tăng 27,09%.- Khối lượng hàng hóa vận chuyển trong tháng ước đạt 2 triệu tấn, giảm 21,21% so với tháng trước, tăng 11,63% so với cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 151 triệu tấn.km, giảm 17,14%, tăng 17,96%. Tính chung 02 tháng đầu năm 2025, khối lượng hàng hóa vận chuyển ước đạt 5 triệu tấn, tăng 18,69% so với cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 332 triệu tấn.km, tăng 23,72%.6. Về du lịch Với thời tiết thuận lợi nên hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh diễn ra sôi động, nhộn nhịp trên hầu khắp các điểm đến du lịch. Tại các địa phương trong tỉnh đã tổ chức các lễ hội mang đậm nét văn hóa truyền thống của đồng bào các dân tộc và các điểm du lịch tâm linh trên địa bàn tỉnh đã thu hút hàng vạn du khách đến tham quan, vãn cảnh ngay trong những ngày đầu Xuân mới. Để đảm bảo các hoạt động du lịch trước, trong và sau dịp Tết Nguyên đán, ngành chức năng đã tăng cường công tác quản lý, kiểm tra, kiểm soát chất lượng dịch vụ du lịch trên địa bàn, tình hình an ninh trật tự tại các điểm du lịch ổn định; công tác niêm yết giá, bán đúng giá niêm yết, bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm được triển khai thực hiện nghiêm. Các đơn vị kinh doanh du lịch thực hiện nghiêm túc các quy định về phòng cháy, chữa cháy, an ninh trật tự, an toàn vệ sinh thực phẩm...Trong tháng 02/2025, thu hút được 375.000 lượt khách du lịch, tổng thu từ khách du lịch đạt 470 tỷ đồng (nâng tổng số 02 tháng đầu năm 2025, thu hút 527.000 lượt khách, đạt 18% KH, tăng 7% so với cùng kỳ; tổng thu từ khách du lịch đạt 668 tỷ đồng, đạt 14% kế hoạch, tăng 12% so với cùng kỳ)II. LĨNH VỰC VĂN HÓA - XÃ HỘI 1. Công tác lao động, việc làm, giáo dục nghề nghiệpTrong tháng thực hiện đăng tải 30 lượt thông tin thị trường lao động trên website, fanpage; phối hợp tổ chức tư vấn, giới thiệu việc làm, tuyển sinh học nghề cho quân nhân hoàn thành nghĩa vụ quân sự trở về địa phương tại Ban Chỉ huy quân sự Thành phố và Ban Chỉ huy quân sự huyện Chiêm Hoá; tham gia hội nghị tư vấn có trên 200 quân nhân; tư vấn, tuyên truyền chính sách việc làm, học nghề cho 537 người lao động đã nộp hồ sơ và đang hưởng trợ cấp thất nghiệp (trong đó: 187 người lao động đến nộp hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp tại Trung tâm và văn phòng huyện Chiêm Hóa, Sơn Dương). Kết quả có 151 người lao động có nhu cầu giới thiệu việc làm, học nghề; trong đó, tìm được việc làm mới 92 người. Trong kỳ báo cáo, theo số liệu thống kê của các huyện, thành phố có 2.261 người được tạo việc làm (trong đó lao động làm việc trong các ngành kinh tế tại tỉnh 1.416 người ; lao động đi làm việc tại các tỉnh, thành phố trong nước 775 người; lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng 70 người). Lũy kế 02 tháng năm 2025 tạo việc làm cho 2.588 người, đạt 9,62% kế hoạch năm 2025.2. Công tác đảm bảo chế độ người có công với cách mạng, bảo trợ, an sinh xã hội và phòng chống các tệ nạn2.1. Công tác đối với người có công với cách mạng Duy trì thực hiện đúng, đủ, kịp thời các chế độ, chính sách đối với người có công: trợ cấp mai táng phí đối với thân nhân của 20 đối tượng theo quy định; trợ cấp hằng tháng đối với 03 hồ sơ người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học; hỗ trợ mai táng phí cho người có công với cách mạng 05 hồ sơ, người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc bảo vệ tổ quốc 03 hồ sơ; trợ cấp một lần theo Quyết định số số 62/2011/QĐ-TTg 05 hồ sơ; ưu đãi học sinh, sinh viên là con của người có công với cách mạng cho 03 người; tiếp nhận 01 hồ sơ Bảo hiểm y tế theo Quyết định số 49/2015/QĐ-TT.2.2. Công tác bảo trợ, an sinh xã hội và phòng chống các tệ nạn - Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Quyết định phân bổ gạo hỗ trợ từ nguồn dự trữ quốc gia cho 5.013 hộ có nguy cơ thiếu lương thực dịp tết Nguyên đán với tổng số 14.535 khẩu, 218.025 kg. Tổng hợp quà tặng của các tổ chức, cá nhân cho các đối tượng hộ nghèo, cận nghèo, bảo trợ xã hội... nhân dịp Tết nguyên đán Ất Tỵ năm 2025 (kết quả: 21.078 suất quà, kinh phí 12,9 tỷ đồng).Duy trì, đảm bảo các chế độ, chính sách cho 29 đối tượng bảo trợ xã hội đang được chăm sóc, nuôi dưỡng tại Trung tâm Công tác xã hội và Quỹ Bảo trợ trẻ em tỉnh theo quy định. Trung tâm Công tác xã hội và Quỹ Bảo trợ trẻ em đã trao 400 suất quà tết cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt nhân dịp tết Nguyên đán năm 2025 với tổng trị giá 120 triệu đồng; trao trợ cấp đột xuất cho 04 trường hợp thuộc thành phố Tuyên Quang và huyện Hàm Yên; trao hỗ trợ phục hồi sức khoẻ cho 39 trẻ em bị ngộ độc tại trường Phú Lâm, thành phố Tuyên Quang với số tiền 19,5 triệu đồng (nguồn kinh phí của Quỹ Bảo trợ trẻ em tỉnh); trao 2.000 suất quà cho 2.000 trẻ em thuộc các trường mầm non trên địa bàn huyện Na Hang với tổng trị giá 420 triệu đồng (nguồn Quỹ bảo trợ trẻ em Việt Nam)- Trong tháng 02/2025, Cơ sở cai nghiện đã tiếp nhận 10 học viên (cai nghiện bắt buộc 08 học viên; 02 học viên đang trong thời gian làm thủ tục cai nghiện bắt buộc); cấp giấy chứng nhận hoàn thành cai nghiện cho 11 học viên cai nghiện bắt buộc; thanh lý hợp đồng trước thời hạn 01 học viên cai nghiện tự nguyện. Tại thời điểm báo cáo, Cơ sở cai nghiện đang quản lý 135 học viên (cai nghiện bắt buộc 134 học viên, cai nghiện tự nguyện 01 học viên). Số có mặt 133 học viên; trốn cai 01 học viên (trốn trước 31/12/2022); đi viện 01 học viên.3. Hoạt động giáo dục và đào tạoSau kỳ nghỉ Tết Nguyên đán Ất Tỵ 2025, ngày 03/02 (tức ngày mùng 6 tháng Giêng) học sinh các cấp trên địa bàn toàn tỉnh đã quay trở lại trường học, tiếp tục chương trình học kỳ II, năm học 2024-2025. Dù thời gian nghỉ Tết kéo dài, nhưng các trường đã chuẩn bị tốt các điều kiện đón học sinh trở lại trường và nhanh chóng ổn định nề nếp dạy, học ngay trong những ngày đầu năm, cùng với đó là tổ chức nhiều hoạt động ý nghĩa, tạo không khí sôi động để chào đón học sinh.Ngày 16/02/2025, Sở Giáo dục và Đào tạo đã tổ chức kỳ thi chọn học sinh giỏi cấp tỉnh lớp 12 THPT năm học 2024-2025. Toàn tỉnh có 401 thí sinh đoạt giải trên tổng số 801 thí sinh dự thi, chiếm trên 50%. Trong đó, có 13 giải nhất, 51 giải nhì, 149 giải ba và 188 giải khuyến khích.4. Hoạt động y tế Cuối mùa đông và đầu mùa xuân là thời điểm thường xảy ra nhiều bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, nguyên nhân là vì nhiệt độ lạnh, mưa nhiều, thời tiết nồm và ẩm nên tạo điều kiện thuận lợi cho các loại vi khuẩn, virus phát triển nhanh, làm tăng nguy cơ gây bệnh cho con người. Các loại bệnh này lại rất dễ lây lan qua đường hô hấp và tiêu hóa nên dễ bùng phát thành dịch bệnh. Đồng thời, vào thời điểm này thường diễn ra nhiều lễ hội, mọi người gia tăng đi lại nên có nguy cơ truyền nhiễm các bệnh nguy hiểm và gây ra tình trạng bùng phát dịch bệnh mùa đông xuân. Bên cạnh đó, tình trạng ô nhiễm không khí nặng nề hiện nay cũng khiến cho hệ miễn dịch của con người suy giảm, số ca mắc bệnh về đường hô hấp gia tăng.Tỉnh đã tăng cường chỉ đạo công tác phòng, chống các dịch bệnh truyền nhiễm như: Sốt xuất huyết, cúm A, cúm B, tay chân miệng,... Chủ động công tác giám sát, theo dõi chặt chẽ tình hình dịch bệnh trên địa bàn; chuẩn bị sẵn sàng ứng phó với các tình huống có thể xảy ra của dịch bệnh. Tiếp tục đẩy mạnh công tác giám sát phát hiện sớm và xử lý kịp thời các ca bệnh, ổ dịch.Tăng cường công tác tuyên truyền, truyền thông phòng bệnh để nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi của người dân trong việc bảo vệ sức khoẻ của bản thân, gia đình và cộng đồng. Chuẩn bị phương án cấp cứu trong các sự kiện tập trung đông người; bố trí cơ số giường bệnh, phương tiện, sẵn sàng đáp ứng, phục vụ công tác điều trị, cấp cứu, nhất là cấp cứu tai nạn giao thông, cháy nổ, thương tích, ngộ độc thực phẩm và điều trị người bệnh mắc các bệnh truyền nhiễm.5. Hoạt động văn hoá - thể dục, thể thao- Lĩnh vực văn hoá: Làm mới và thay nội dung 12 cụm cổ động; treo 140 lượt băng rôn, khẩu hiệu; biên tập 30 chương trình; thực hiện 80 buổi tuyên truyền. Tổ chức 04 buổi biểu diễn nghệ thuật chuyên nghiệp phục vụ nhiệm vụ chính trị (nâng tổng số 02 tháng năm 2025 tổ chức 07 buổi biểu diễn nghệ thuật chuyên nghiệp, đạt 5,8% kế hoạch năm, phục vụ trên 1.000 lượt người xem). Dàn dựng, biểu diễn chương trình nghệ thuật phục vụ kỉ niệm 95 năm ngày thành lập Đảng cộng sản Việt Nam (03/2/1930- 03/2/2025); 85 năm ngày thành lập chi bộ mỏ than (20/3/1940 - 20/3/2025). Duy trì hoạt động của 138 đội văn nghệ quần chúng xã, phường, thị trấn; 2.638 đội văn nghệ quần chúng thôn, tổ dân phố, cơ quan, đơn vị, trường học...; trên 200 câu lạc bộ đàn hát dân ca và bảo tồn văn hóa dân tộc; trên 70 câu lạc bộ Hát Then - đàn Tính; 06 câu lạc bộ hát Páo dung của dân tộc Dao; 13 câu lạc bộ hát Sình ca của dân tộc Cao Lan.- Về thể dục thể thao: Tổ chức Giải bóng chuyền hơi toàn tỉnh năm 2025; ban hành điều lệ, kế hoạch; lập dự toán chi tiết, Quyết định thành lập Ban tổ chức, giải bóng đá thiếu niên và nhi đồng tỉnh Tuyên Quang năm 2025.6. Một số hoạt động khácThực hiện công tác tuyển chọn gọi công dân nhập ngũ và tham gia thực hiện nghĩa vụ công an nhân dân năm 2025. Cấp ủy, chính quyền thành phố đã lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức triển khai thực hiện tốt các bước, các khâu theo đúng quy trình, bảo đảm công khai, công bằng, dân chủ, đúng pháp luật và đạt chất lượng. Công tác phát lệnh gọi nhập ngũ được phát đến tận tay thanh niên trúng tuyển. Trước ngày hội giao quân, các địa phương đều tổ chức nhiều hoạt động sôi nổi, thiết thực như: Giao lưu, gặp mặt, tặng quà động viên các tân binh chuẩn bị lên đường nhập ngũ. Năm 2025, toàn tỉnh có 1.388 tân binh nhập ngũ, tham gia nghĩa vụ quân sự và công an nhân dân, tăng 13 tân binh so với năm 2024. Trong đó, có 1.150 tân binh tham gia nghĩa vụ quân sự, 238 tân binh tham gia nghĩa vụ công an. Trong số này, có 510 người tự nguyện viết đơn, 4 tân binh là đảng viên. Giao cho 4 đơn vị nhận quân: Lữ đoàn 144, Bộ Tổng tham mưu; Trung đoàn 174, Sư đoàn 316, Quân khu II; Binh chủng Đặc công và Công an tỉnh.   7. Tình hình an toàn giao thông, thiên tai và phòng chống cháy, nổĐể đảm bảo trật tự an toàn giao thông trước, trong và sau Tết Nguyên đán Ất Tỵ 2025, lực lượng công an tăng cường tuyên truyền về trật tự, an toàn giao thông trong dịp Tết Nguyên đán Ất Tỵ và Lễ hội xuân 2025; chú trọng tuyên truyền, phổ biến pháp luật an toàn giao thông; hướng dẫn kỹ năng tham gia giao thông an toàn, đặc biệt là trên đường cao tốc; các thông tin hỗ trợ hướng dẫn Nhân dân đi lại trong dịp nghỉ Tết; kế hoạch phục vụ vận tải; các bài học kinh nghiệm rút ra từ các vụ tai nạn giao thông vào các dịp Lễ tết các năm trước; kiên trì tuyên truyền Nhân dân thực hiện các quy tắc giao thông an toàn "Đã uống rượu, bia - không lái xe"; không sử dụng điện thoại khi lái xe; đội mũ bảo hiểm đạt chuẩn khi đi mô tô, xe máy, xe đạp điện; thắt dây an toàn khi ngồi trên xe ô tô, tuân thủ quy định về tốc độ; tuyên truyền hỗ trợ quá trình thực thi nhiệm vụ của các lực lượng chức năng làm nhiệm vụ bảo đảm trật tự, an toàn giao thông; biểu dương thông tin người tốt việc tốt và các hành vi văn hóa giao thông tốt; thường xuyên cập nhật kịp thời tình hình tai nạn giao thông, ùn tắc giao thông, các nguy cơ cao xảy ra tai nạn giao thông đường bộ, đường ngang qua đường sắt, đường thuỷ nội địa, các tuyến giao thông chính, đầu mối giao thông trọng điểm, các khu vực tổ chức các sự kiện, Lễ hội.Trong 9 ngày nghỉ Tết Nguyên đán, toàn tỉnh xảy ra 5 vụ tai nạn giao thông, làm chết 2 người, bị thương 5 người, xử lý 272 trường hợp vi phạm, tước 14 giấy phép lái xe, tạm giữ 7 xe ô tô, 146 xe mô tô, 2 phương tiện khác. Các hành vi vi phạm chủ yếu đó là vi phạm nồng độ cồn 133 trường hợp, vi phạm tốc độ 62 trường hợp, 61 trường hợp không có giấy phép lái xe, 21 trường hợp vi phạm về đội mũ bảo hiểm… Số tiền thu được từ xử phạt vi phạm hành chính là trên 1 tỷ đồng. Toàn tỉnh không xảy ra tình trạng đua xe trái phép.7.1. Về an toàn giao thông trong thángTrên địa bàn tỉnh đã xảy ra 12 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 6 người và làm bị thương 8 người. So với tháng trước giảm 33,33% về số vụ tai nạn; số người chết giữ nguyên; số người bị thương giảm 42,86%. So với tháng cùng kỳ số vụ tai nạn giao thông giảm 20%; số người chết giữ nguyên; số người bị thương giảm 33,33%.Tính chung 02 tháng đầu năm 2025, toàn tỉnh đã xảy ra 30 vụ tai nạn giao thông; làm chết 12 người và làm bị thương 22 người. So với cùng kỳ năm trước: Số vụ tai nạn giao thông tăng 30,43%; số người chết tăng 9,09%; số người bị thương tăng 37,5%.7.2. Về thiên tai, cháy, nổTrong tháng trên địa bàn tỉnh không ghi nhận các đợt thiên tai, cháy nổ nào xảy ra.CỤC THỐNG KÊ TỈNH TUYÊN QUANG

Tình hình kinh tế - xã hội tháng 01 năm 2025 tỉnh Tuyên Quang
  •   07/11/2025 22:02

I. PHÁT TRIỂN KINH TẾ  1. Về sản xuất nông nghiệp (tính đến ngày 20/01/2025)1.1. Trồng trọt 1.1.1. Sản xuất vụ đôngĐến thời điểm báo cáo bà con nông dân trong tỉnh đang khẩn trương thu hoạch diện tích cây màu vụ đông, với sự chỉ đạo sát sao của các ngành chức năng cùng với sự chủ động của bà con nông dân cây màu vụ đông đã thu hoạch đúng theo kế hoạch tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất vụ Đông xuân năm 2024.Kết quả: Cây ngô đã trồng được 6.382 ha, tăng 12,37%; cây khoai lang đã trồng được 981 ha, tăng 4,62%; cây rau đậu các loại đã trồng 3.337 ha, giảm 4,98%.1.1.2. Sản xuất vụ xuân Theo kế hoạch vụ xuân năm 2025 toàn tỉnh gieo cấy 18.026 ha lúa các loại. Đáp ứng đầy đủ nhu cầu về giống phục vụ cho bà con nông dân để gieo cấy. - Làm đất: Các địa phương trong tỉnh đã làm đất được 14.593 ha. - Gieo mạ: Toàn tỉnh gieo được 607.931 kg giống lúa các loại trong đó: Mạ Lúa lai gieo được 246.862 kg, mạ lúa thuần gieo được 361.069 kg.Xác định vụ xuân năm 2025 là một trong những vụ sản xuất chính và giữ vai trò quan trọng đối với việc thực hiện kế hoạch sản xuất nông nghiệp cả năm; để đạt kết quả cao trong sản xuất chính quyền các cấp và các ngành chức năng đã chủ động xây dựng khung lịch thời vụ, cơ cấu giống chi tiết và phù hợp với điều kiện cụ thể của từng địa phương, cùng với đó là hướng dẫn cụ thể cơ cấu giống lúa, thời vụ gieo cấy theo từng vùng; phấn đấu giành kết quả cao cả về 3 mặt năng suất, sản lượng và giá trị theo kế hoạch đã đề ra. Theo kế hoạch Hồ Thủy điện Tuyên Quang sẽ xả nước phục vụ sản xuất vụ xuân 2025. Theo đó, thực hiện xả 02 đợt, tổng cộng 12 ngày. Đợt 1, bắt đầu từ 0h00’ ngày 12/01/2025 đến hết ngày 16/01/2025; đợt 2, bắt đầu từ 0h00’ ngày 08/02/2025 đến hết ngày 14/02/2025. Tỉnh đã chỉ đạo ngành chức năng và các địa phương quản lý chặt chẽ và khai thác hợp lý các nguồn nước; tập trung duy tu bảo dưỡng các công trình, trạm bơm, nạo vét hệ thống mương máng, bám sát lịch xả nước theo thông báo; tập trung tích nước vào hồ chứa, sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả; có kế hoạch chôn nước, giữ nước bằng mọi hình thức ở các công trình thủy lợi và trong các ao, hồ nhỏ, kể cả mỏ nước... Đồng thời, hướng dẫn nông dân chủ động lấy nước đổ ải, trữ nước vào ruộng và tận dụng nguồn nước mưa cuối vụ, tích trữ thêm nước vào các ruộng, đảm bảo có đủ lượng nước gieo cấy trong khung thời vụ tốt nhất. Với những diện tích khả năng nguồn nước không đảm bảo tưới suốt vụ, cần chủ động chuyển đổi sang loại cây trồng khác sử dụng ít nước hơn để đảm bảo hiệu quả sản xuất.1.2. Tình hình sinh vật gây hại Thời tiết diễn biến bất thường, tạo điều kiện thuận lợi để sâu bệnh phát triển gây hại đến cây trồng. Trong đó một số diện tích lúa - mạ xuân bị chuột, nấm mốc, thối nhũn, bệnh trắng lá gây hại rải rác. Diện tích ngô bị sâu đục bắp, đốm lá, khô vằn, châu chấu, chuột gây hại rải rác. Trên cây chè, cây cam bị nhiễm rầy xanh nhẹ, bọ trĩ, bọ xít, nhện đỏ, nhện trắng gây hại ở mức trung bình.Trước tình hình sinh vật gây hại cây trồng nêu trên. Chi cục bảo vệ thực vật đã chỉ đạo các trạm bảo vệ thực vật các huyện, thành phố phối hợp với Phòng Nông nghiệp, Trung tâm dịch vụ nông nghiệp, chính quyền địa phương chỉ đạo, hướng dẫn bà con nông dân thực hiện việc gieo cấy đúng thời vụ, chăm sóc cây trồng; thường xuyên kiểm tra đồng ruộng, phát hiện sâu bệnh hại cây trồng, kịp thời hướng dẫn cách phòng trừ, giảm thiệt hại do sâu bệnh gây ra.1.3. Về chăn nuôi Đàn trâu 86.035 con, giảm 3,05% so với cùng kỳ năm 2024; đàn bò 40.102 con, giảm 0,95%; đàn lợn 593.179 con, tăng 1,68%; đàn gia cầm 6.757,02 nghìn con, tăng 3,61%.Đánh giá chung, tình hình chăn nuôi trong tháng trên địa bàn tỉnh cơ bản ổn định, đàn bò và đàn lợn tăng trưởng nhẹ, đàn gia cầm ổn định đảm bảo nguồn cung cho thị trường trong dịp cuối năm và dịp Tết Nguyên đán Ất Tỵ năm 2025; giá lợn hơi có có xu hướng ổn định và tăng nhẹ do nhu cầu tiêu thụ tăng, tại các chợ gần khu công nghiệp sức tiêu thụ cũng cao hơn trước do lượng công nhân, người lao động tiếp tục duy trì được việc làm ổn định. Tuy nhiên, tình hình thời tiết cuối năm xuất hiện các đợt rét đậm, rét hại, mưa phùn và độ ẩm cao xảy ra, ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển của vật nuôi, vì vậy, ngành chức năng đã tập trung chỉ đạo các địa phương chú trọng thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch bệnh, chủ động nguồn thức ăn trong những ngày giá rét; cùng với đó là khuyến khích người chăn nuôi tận dụng sản phẩm và phụ phẩm nông nghiệp sẵn có để giảm chi phí, cũng như không sử dụng thức ăn kém chất lượng, và các chất cấm sử dụng trong chăn nuôi, bảo đảm chất lượng sản phẩm chăn nuôi khi xuất bán. 1.4. Về công tác phòng chống dịch bệnh gia súc, gia cầm trong tháng 1.4.1. Công tác phòng chống và điều trị- Trong tháng 01 năm 2025 các bệnh truyền nhiễm khác không phát sinh trên địa bàn. Một số bệnh nội, ngoại khoa ký sinh trùng xuất hiện trên đàn gia súc đã được nhân viên thú y phát hiện, chẩn đoán và điều trị kịp thời số gia súc khỏi bệnh: 1.257/1.342 con gia súc chết 85 con trong đó: (Trâu, bò: 157/157 con; đàn lợn: 1.100/1.185 con). - Công tác phòng chống dịch lợn tả Châu phi: Trong tháng bệnh không phát sinh. 1.4.2. Công tác kiểm dịch vận chuyển động vật, sản phẩm động vật- Thực hiện chặt chẽ đúng quy định công tác kiểm dịch vận chuyển ngoài tỉnh, đã kiểm tra cấp 310 giấy chứng nhận kiểm dịch vận chuyển trong đó: (128 chuyến vận chuyển 29.147 con gia súc, gia cầm; 182 chuyến vận chuyển 3.416 tấn sữa tươi nguyên liệu) đi các tỉnh Bắc Ninh, Hà Nội, Hà Nam, Hà Giang, Nam Định...- Tại các Trạm Kiểm dịch động vật: Các huyện duy trì thực hiện kiểm dịch vận chuyển, trong tháng đã kiểm tra 152 lượt phương tiện vận chuyển đủ thủ tục, vận chuyển 78.360 con gia súc, gia cầm.1.5. Về sản xuất lâm nghiệp  1.5.1. Công tác trồng rừngĐể hoàn thành kế hoạch trồng rừng năm 2025. UBND tỉnh đã chỉ đạo các ngành chức năng chủ động hướng dẫn và kiểm tra UBND các huyện, thành phố, các cơ quan, đơn vị có liên quan tăng cường thực hiện công tác quản lý đất lâm nghiệp. Bố trí đất trồng, cây giống, dọn thực bì và cuốc hố... khẩn trương đẩy nhanh tiến độ triển khai công tác rà soát, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các doanh nghiệp và các chủ trồng rừng.1.5.2. Khai thác gỗ rừng trồng Trong tháng toàn tỉnh khai thác 51.332 m3 gỗ, tăng 20,31% so với cùng kỳ năm 2024.  1.5.3. Công tác quản lý bảo vệ rừngTrong tháng trên địa bàn toàn tỉnh xảy ra 01 vụ cháy rừng, diện tích rừng bị cháy 0,87 ha. Số vụ chặt phá rừng 02 vụ, diện tích chặt phá 2,19 ha, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng. Đã kiểm tra, phát hiện và xử lý tịch thu 01 phương tiện và 10,99 m3 gỗ các loại; phạt hành chính và bán thanh lý tài sản 216 triệu đồng (đã thu nộp ngân sách 213 triệu đồng).1.6. Phát động Tết trồng cây “Đời đời nhớ ơn Bác Hồ” Xuân Ất Tỵ và thực hiện kế hoạch trồng rừng năm 2025Tỉnh đã ban hành văn bản chỉ đạo các sở, ban, ngành, các địa phương trên địa bàn tỉnh tổ chức lễ phát động "Tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác Hồ" Xuân Ất Tỵ năm 2025; việc tổ chức cần thiết thực, đảm bảo hiệu quả, tiết kiệm và kêu gọi mọi tầng lớp nhân dân hưởng ứng tích cực tham gia trồng cây, trồng rừng, để góp phần thúc đẩy phong trào trồng cây, trồng rừng và bảo vệ rừng năm 2025 đạt kết quả cao.2. Sản xuất công nghiệp2.1. Chỉ số phát triển công nghiệp Chỉ số sản xuất công nghiệp trong tháng tăng 9,45% so với cùng kỳ, giảm 8,34% so với tháng trước, cụ thể như sau: Ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí giảm 5,24%, tăng 58,36%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 10,69%, giảm 11,2%; khai khoáng tăng 29,64%, giảm 28,17%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải giảm 5,51%, giảm 0,26%.2.2. Sản phẩm công nghiệp chủ yếu Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng so với cùng kỳ năm trước như: Bột barit đạt 2.600 tấn, tăng 97,12%; bột Felspat nghiền đạt 13.600 tấn, tăng 19,81%; gỗ tinh chế đạt 4.258 m3, tăng 4,04%; thép cây, thép cuộn đạt 25.000 tấn, tăng 25,33%; ...Tuy nhiên, cũng có một số sản phẩm công nghiệp giảm so với cùng kỳ như: Điện thương phẩm đạt 96 triệu Kwh, giảm 4,36%; điện sản xuất đạt 119 triệu Kwh, giảm 4,06%; đường kính đạt 3.600 tấn, giảm 13,32%; may mặc xuất khẩu đạt 1.132 nghìn sản phẩm, giảm 50,26%; xi măng đạt 102.000 tấn, giảm 15,58%;...Đánh giá chung, với quyết tâm hoàn thành và vượt kế hoạch sản xuất năm 2025, các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh đã tập trung đẩy mạnh hoạt động sản xuất đảm bảo hoàn thành các đơn hàng đã được ký kết, chủ động xây dựng kế hoạch sản xuất và kinh doanh chi tiết theo từng tháng để không gián đoạn trong dịp nghỉ Tết Nguyên đán. Các doanh nghiệp đã chủ động tìm kiếm đơn hàng, mở rộng thị trường, cùng với đó là tập trung sản xuất đa dạng hóa các mặt hàng, giữ vững chất lượng và thương hiệu, nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường, tạo việc làm ổn định và thu nhập cho người lao động.3. Vốn đầu tư, xây dựng3.1. Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước thực hiện tháng 1 năm 2025 đạt 219 tỷ đồng, tăng 7,76% so với tháng cùng kỳ. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 195 tỷ đồng, tăng 8%; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện đạt 21 tỷ đồng, tăng 5,64%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã đạt 3 tỷ đồng, tăng 7,02%.3.2. Hoạt động xây dựngNăm 2025, nhiều công trình trọng điểm của tỉnh đều có hẹn về đích. Chính vì thế, ngay trong những ngày đầu năm mới, không khí thi đua lao động sản xuất cũng khẩn trương sôi động, tại các dự án trọng điểm của tỉnh như: Cầu Hàm Yên bắc qua Sông Lô và cầu cạn Km 48 tại địa phận Thị trấn Tân Yên (Hàm Yên); gói thầu 20 dài 20 km, đoạn qua địa bàn xã Tứ Quận (Yên Sơn) thuộc tuyến cao tốc Tuyên Quang - Hà Giang; Bệnh viện Đa khoa tỉnh; các nhà thầu đã tập trung nguồn lực để triển khai thi công 3 ca, 4 kíp nhằm bù lại tiến độ bị chậm do vướng mắc giải phóng mặt bằng do điều kiện thời tiết không thuận lợi. Trong dịp Tết Ất Tỵ 2025 toàn tuyến thi công trên 40 mũi mặt bằng, 20 mũi thi công cầu, phấn đấu các dự án giải ngân đạt 100% kế hoạch đề ra.  4. Thương mại và Dịch vụTrong bối cảnh thị trường có nhiều biến động, đặc biệt là vào các dịp cao điểm cuối năm và lễ Tết, các ngành chức năng của tỉnh đã thực hiện nhiều đợt kiểm tra, kiểm soát nhằm ngăn chặn hàng giả, hàng kém chất lượng và các hành vi gian lận thương mại, đã phát hiện và xử lý nhiều vụ vi phạm quan trọng, góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho người tiêu dùng. Trong đó, các mặt hàng thiết yếu như lương thực, thực phẩm, xăng dầu, thuốc chữa bệnh đều được kiểm soát chặt chẽ, đảm bảo nguồn cung ổn định, không để xảy ra tình trạng khan hiếm hay tăng giá bất hợp lý. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 01/2025 ước đạt 3.307 tỷ đồng, tăng 29,18% so với cùng kỳ năm trước.4.1. Doanh thu bán lẻ hàng hóa Doanh thu bán lẻ hàng hóa trong tháng 01 ước đạt 2.936 tỷ đồng, tăng 2,4% so với tháng trước, tăng 29,69% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, một số nhóm hàng tăng so với tháng trước, tăng so với cùng kỳ, cụ thể như sau: Lương thực, thực phẩm đạt 1.052 tỷ đồng, tăng 3,43%, tăng 25,72%; may mặc đạt 175 tỷ đồng, tăng 4,54%, tăng 29,92%; đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình đạt 304 tỷ đồng, tăng 2,77%, tăng 19,22%; ô tô con (dưới 9 chỗ ngồi) đạt 71 tỷ đồng, tăng 4,21%, tăng 52,69%;… Tuy nhiên, cũng có một số nhóm hàng giảm so với cùng kỳ như: Đá quý, kim loại quý và sản phẩm giảm 8,08%,...4.2. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ khác- Trong tháng, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 242 tỷ đồng, tăng 2,55% so với tháng trước, tăng 26,71% so với cùng kỳ. Trong đó: Doanh thu dịch vụ lưu trú đạt 23 tỷ đồng, tăng 1,46%, tăng 64,04%; dịch vụ ăn uống đạt 219 tỷ đồng, tăng 2,67%, tăng 23,69%.- Doanh thu du lịch lữ hành trong tháng ước đạt 0,48 tỷ đồng, tăng 1,74% so với tháng trước, tăng 34,3% so với cùng kỳ. - Doanh thu nhóm dịch vụ khác trong tháng ước đạt 129 tỷ đồng, tăng 5,25% so với tháng trước, tăng 23,47% so với cùng kỳ. Trong đó: Dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội 5 tỷ đồng, tăng 2,12%, tăng 13,85%; dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí đạt 45 tỷ đồng; tăng 12,76%; tăng 60,89%; dịch vụ khác 39 tỷ đồng, tăng 5,06%, tăng 18,14%,…. Nhóm dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 4 tỷ đồng, giảm 9,63%, giảm 16,1%,….4.3. Giá cả- Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trong tháng 01/2025 tăng 3,4% so với cùng kỳ năm trước, tăng 0,93% so với tháng 12 năm trước. Trong số 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính thì có 8 nhóm tăng giá so với tháng trước, 2 nhóm giảm giá, 01 nhóm giữ giá ổn định (nhóm bưu chính viễn thông). Trong 8 nhóm hàng tăng so với tháng trước, bao gồm những nhóm hàng sau: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 2,08%. Trong đó, nhóm lương thực tăng 3,43% do giá nhóm gạo tăng 4,65% (gạo tẻ thường tăng 4,85%; gạo tẻ ngon tăng 2,33% và gạo nếp tăng 4,2%); nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng 1,04%, chủ yếu là do nhu cầu mua sắm của người dân phục vụ cho dịp Tết tăng; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,25%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,73% do thời tiết rét đậm, rét hại và độ ẩm không khí thấp dẫn đến xuất hiện các bệnh liên quan đến đường hô hấp, cảm cúm, dị ứng,… có chiều hướng gia tăng khiến nhu cầu sử dụng thuốc và dịch vụ y tế tăng; giao thông tăng 1,29%; giáo dục tăng 0,12% do nhu cầu tiêu dùng các loại văn phòng phẩm và đồ dùng học tập khác của học sinh tăng; văn hoá, giải trí và du lịch tăng 0,47% nguyên nhân chủ yếu là do giá hoa, cây cảnh trong dịp Tết tăng; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,84% do nhu cầu tiêu dùng các loại đồ dùng cá nhân của người dân tăng.Có 2 nhóm hàng giảm so với tháng trước là: đồ uống và thuốc lá giảm 0,09% do một số siêu thị giảm giá kích cầu, cùng với sự ảnh hưởng của nghị định 168 về quy định xử phạt nồng độ cồn cũng làm nhu cầu tiêu thụ mặt hàng này giảm. Nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng giảm 0,68% do nhu cầu tiêu thụ nước sinh hoạt của người dân giảm và giá tiền thuê nhà giảm nhẹ.- Chỉ số giá vàng tăng 33,96% so với cùng kỳ năm trước, tăng 1,19% so với tháng trước. - Chỉ số giá đô la Mỹ tăng 3,71% so với cùng kỳ năm trước, tăng 0,12% so với tháng trước. 4.4. Tình hình xuất, nhập khẩu hàng hóa Trong tháng, xuất khẩu ước đạt 14,6 triệu USD, tăng 36,56%, nhập khẩu ước đạt 7,9 triệu USD, tăng 62,21%, cụ thể của các nhóm hàng chính như sau:- Giá trị xuất khẩu trong tháng ước đạt 14,6 triệu USD. Trong đó, một số mặt hàng xuất khẩu chủ yếu tăng so với cùng kỳ như: Bột barit 1.667 tấn tăng 233,3%; giấy đế xuất khẩu đạt 417 tấn, tăng 7,7%; đũa gỗ xuất khẩu đạt 4.583 nghìn đôi, tăng 103,9%,…Hàng dệt may đạt 1.021 nghìn sản phẩm, giảm 29,5%; chè đạt 400 tấn, giảm 30,1%;…- Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa trong tháng ước đạt 7,9 triệu USD, tăng 62,2% so với cùng kỳ. Trong đó, kim ngạch nhập khẩu vải may mặc, phụ liệu may mặc, phụ liệu khác đạt 5,4 triệu USD, tăng 60,6% so với cùng kỳ,...5. Vận tải hàng hóa và hành khách Dịp cuối năm, đặc biệt là những dịp trước, trong và sau Tết hàng năm, nhu cầu đi lại của người dân bằng các phương tiện vận tải tăng cao, đặc biệt là ô tô. Nhằm đảm bảo nhu cầu đi lại của người dân được thuận tiện, an toàn trong dịp Tết, các lực lượng chức năng tăng cường công tác kiểm tra, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm trong lĩnh vực vận tải hành khách và hàng hóa, đồng thời chỉ đạo các Bến xe khách, các doanh nghiệp, hợp tác xã và các hộ kinh doanh cá thể vận tải trên địa bàn tỉnh chuẩn bị đầy đủ phương tiện, bảo đảm phục vụ nhu cầu đi lại của nhân dân trong dịp này được thuận lợi, an toàn... tăng cường công tác kiểm tra, giám sát về việc kê khai, niêm yết giá và việc bán vé đúng giá niêm yết đối với các đơn vị kinh doanh vận tải. Triển khai các biện pháp kiểm soát chặt chẽ việc vận chuyển hàng hóa, đặc biệt là hàng hóa ký gửi; không sử dụng rượu, bia và các chất kích thích khác khi lái xe. 5.1. Doanh thu vận tải tải kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải Doanh thu vận tải trong tháng ước đạt 528 tỷ đồng, tăng 8,44% so với tháng trước, tăng 34,69% so với tháng cùng kỳ. Trong đó, doanh thu vận tải hành khách ước đạt 84 tỷ đồng, tăng 9,98%, tăng 31,77%; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 443 tỷ đồng, tăng 8,15%, tăng 35,23%; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 0,65 tỷ đồng, tăng 10,81%, tăng 43,35%,…5.2. Vận tải hành khách và hàng hóa- Khối lượng hành khách vận chuyển ước đạt 1 triệu lượt hành khách, tăng 11,09% so với tháng trước, tăng 20,64% so với tháng cùng kỳ; khối lượng hành khách luân chuyển ước đạt 105 triệu lượt hành khách.km, tăng 12,46%, tăng 28,72%. - Khối lượng hàng hóa vận chuyển ước đạt 3 triệu tấn, tăng 10,31% so với tháng trước, tăng 31,65% so với tháng cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 185 triệu tấn.km, tăng 9,05%, tăng 31,07%. 6. Về du lịch Chỉ đạo, triển khai các hoạt động du lịch trong dịp Tết Nguyên đán năm 2025; xây dựng dự thảo Kế hoạch phát triển du lịch tỉnh Tuyên Quang năm 2025; tham mưu thành lập Hội đồng thẩm định, trình hồ sơ đề nghị công nhận khu du lịch Na Hang - Lâm Bình là khu du lịch cấp tỉnh... Trong tháng 01/2025, thu hút được 152.000 lượt khách du lịch, tăng 3% so với cùng kỳ năm 2024; tổng thu từ khách du lịch đạt 198 tỷ đồng, tăng 4% so với cùng kỳ năm 2024. II. LĨNH VỰC VĂN HÓA - XÃ HỘI 1. Công tác lao động, việc làm, giáo dục nghề nghiệp- Trong tháng tạo việc làm cho 327 lao động, đạt 1,4% kế hoạch, trong đó: Lao động làm việc trong các ngành kinh tế tại tỉnh 234 người; lao động đi làm việc tại các tỉnh, thành phố trong nước 80 người, lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng 13 người.- Tỉnh đã chỉ đạo các cơ quan, đơn vị, địa phương nắm bắt tình hình tuyển dụng, sử dụng, biến động lao động trong các doanh nghiệp trên địa bàn quản lý; kịp thời hướng dẫn, hỗ trợ, đôn đốc các doanh nghiệp, người sử dụng lao động trên địa bàn thực hiện đúng các chế độ chính sách đối với người lao động theo quy định của pháp luật lao động: các thỏa thuận trong hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể, các quy định trong nội quy, quy chế của doanh nghiệp để thực hiện, nhất là các nội dung về tiền lương, tiền thưởng và các chế độ phúc lợi khác đối với người lao động trong dịp Tết Nguyên đán Ất Tỵ 2025 . Hướng dẫn, đôn đốc các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh triển khai các biện pháp đảm bảo an toàn lao động lao động dịp trước, trong và sau Tết Nguyên đán Ất Tỵ. Duy trì thực hiện công tác công tác quản lý người lao động là người nước ngoài trên địa bàn tỉnh.2. Công tác đảm bảo chế độ chính sách và an sinh xã hội, phòng chống các tệ nạn và tình hình lương thưởng Tết của người lao động tại các doanh nghiệp2.1. Công tác đối với người có công với cách mạng Phê duyệt kinh phí tặng quà đối với người có công với cách mạng, gia đình người có công với cách mạng trên địa bàn trên địa bàn tỉnh nhân dịp Tết Nguyên đán Ất Tỵ năm 2025; hướng dẫn, đôn đốc các huyện, thành phố triển khai các hoạt động chăm lo, thăm hỏi, tặng quà người có công với cách mạng nhân dịp Tết Nguyên đán Ất Tỵ năm 2025 ; rà soát danh sách, chuẩn bị quà tặng, tham mưu cho Ủy ban nhân dân tỉnh mời lãnh đạo tỉnh thăm, tặng quà 36 người có công với cách mạng tiêu biểu nhân dịp Tết Nguyên đán Ất Tỵ, với tổng trị giá tiền quà là 43.200.000 đồng. Phối hợp với các ngành, Uỷ ban nhân dân thành phố Tuyên Quang tham mưu cho Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành kế hoạch tổ chức lễ dâng hương tại Đền thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đài tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ, Nghĩa trang liệt sĩ tỉnh nhân dịp chuẩn bị đón Tết Nguyên đán Ất Tỵ năm 2025, triển khai chuẩn bị các điều kiện cần thiết để phục vụ lễ dâng hương tại Nghĩa trang Liệt sĩ tỉnh.2.2. Công tác bảo trợ xã hội và phòng chống các tệ nạn xã hộiHướng dẫn triển khai công tác chuẩn bị chăm lo các đối tượng chính sách xã hội dịp Tết Nguyên đán Ất Tỵ 2025, rà soát, tham mưu cho Ủy ban nhân dân tỉnh báo cáo Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Tài chính đề nghị Chính phủ hỗ trợ gạo cho các hộ gia đình có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn có nguy cơ thiếu lương thực dịp Tết nguyên đán Ất Tỵ năm 2025 (Dự kiến toàn tỉnh có 5.013 hộ, 14.535 khẩu cần hỗ trợ với tổng số 218.025 kg gạo); thường xuyên rà soát, nằm tình hình đời sống nhân dân, hướng dẫn hỗ trợ kịp thời cho các hộ gia đình, cá nhân có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, bị ảnh hưởng do thiên tai, tai nạn rủi ro bất khả kháng. Duy trì chi trả trợ cấp thường xuyên cho trên 39.000 đối tượng bảo trợ xã hội tại cộng đồng.Trong tháng Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh đã tiếp nhận 13 học viên (cai nghiện bắt buộc 04 học viên; cai nghiện tự nguyện 01 học viên; 08 học viên đang trong thời gian làm thủ tục cai nghiện bắt buộc); cấp giấy chứng nhận hoàn thành cai nghiện cho 15 học viên (cai nghiện bắt buộc 14 học viên; cai nghiện tự nguyện 01 học viên); thanh lý hợp đồng trước thời hạn 01 học viên cai nghiện tự nguyện. Tại thời điểm báo cáo, Cơ sở cai nghiện đang quản lý 137 học viên (cai nghiện bắt buộc 135 học viên, cai nghiện tự nguyện 02 học viên). Số có mặt 136 học viên; trốn cai 01 học viên.2.3. Về tình hình lương thưởng Tết của người lao động tại các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh+ Tổng số doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh thời điểm ngày 15/12/2024: 2.833 doanh nghiệp; Tổng số lao động tại các doanh nghiệp: 48.030 người;+ Tiền lương bình quân của người lao động tại các doanh nghiệp có báo cáo trên địa bàn tỉnh là 6.721.000 đồng/người/tháng;+ Tiền thưởng Tết Dương lịch năm 2025: Mức thưởng bình quân tại các doanh nghiệp có báo cáo, có kế hoạch thưởng: 752.000 đồng/người;+ Kế hoạch thưởng Tết Nguyên đán 2025: Mức thưởng bình quân tại các doanh nghiệp có báo cáo, có kế hoạch thưởng: 3.590.000 đồng/người;+ Tình hình nợ lương tính đến hết ngày 13/01/2025: Có 02 doanh nghiệp nợ lương và số người lao động bị nợ lương là 199 người với số tiền lương là 2.969 triệu đồng (Gồm: Công ty CP Xi măng Tuyên Quang nợ 03 tháng lương của 141 LĐ với số tiền 984 triệu đồng; Công ty Cổ phần Kim loại màu Tuyên Quang nợ 08 tháng lương của 58 LĐ với số tiền 1.984 triệu đồng). Mặc dù hoạt động sản xuất, kinh doanh còn nhiều khó khăn. Tuy nhiên, các doanh nghiệp cũng đã cố gắng duy trì thưởng Tết ở mức phù hợp tùy theo kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh, nhằm động viên, chăm lo cho người lao động, đồng thời thực hiện đầy đủ các chế độ, chính sách, góp phần nâng cao đời sống người lao động.3. Hoạt động giáo dục và đào tạoTrong tháng, tại Kỳ thi chọn học sinh giỏi quốc gia năm học 2024-2025 tỉnh đã có 56 học sinh đạt giải (06 giải Nhì, 22 giải Ba và 28 giải Khuyến khích). Đây là kỳ thi quan trọng được Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức hàng năm nhằm động viên, khuyến khích người dạy và người học phát huy năng lực sáng tạo, dạy giỏi, học giỏi; góp phần thúc đẩy mạnh việc cải tiến, nâng cao chất lượng dạy và học trên địa bàn tỉnh.Các đơn vị, trường học đã tổ chức ký cam kết với học sinh, cha mẹ học sinh về thực hiện nghiêm Luật Giao thông đường bộ; Luật phòng, chống tác hại của rượu, bia; quy định về quản lý, sử dụng pháo; tổ chức phát động “Tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác Hồ” góp phần xây dựng trường học xanh, sạch đẹp, thân thiện, tích cực.4. Hoạt động y tế  Để đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm dịp trước, trong và sau Tết Nguyên đán Ất Tỵ, các ngành chức năng và các địa phương trong tỉnh đã tăng cường kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ các cơ sở sản xuất, chế biến, kinh doanh thực phẩm; theo đó, tập trung vào các nhóm sản phẩm tiêu thụ nhiều trong dịp Tết, các cơ sở chế biến thực phẩm. Đồng thời, chú trọng kiểm soát những đầu mối sản xuất, nhập khẩu, chợ đầu mối, trung tâm thương mại, siêu thị, cơ sở giết mổ, vận chuyển thực phẩm... tập trung kiểm tra việc thực hiện các quy định về đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm; kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm theo quy định.5. Hoạt động văn hoá - thể dục, thể thao- Lĩnh vực văn hoá: Tổ chức 03 buổi biểu diễn nghệ thuật chuyên nghiệp phục vụ nhiệm vụ chính trị. Dàn dựng, biểu diễn chương trình nghệ thuật phục vụ khai mạc Hội báo Xuân Ất Tỵ năm 2025; phát động Giải báo chí toàn quốc về Xây dựng Đảng (Giải Búa liềm vàng) lần thứ X và Giải Báo chí tỉnh Tuyên Quang lần thứ VII; chương trình nghệ thuật “Tuyên Quang chào năm 2025" với chủ đề Tuyên Quang - Niềm tin tương lai. Duy trì hoạt động của 138 đội văn nghệ quần chúng xã, phường, thị trấn; 2.638 đội văn nghệ quần chúng thôn, tổ dân phố, cơ quan, đơn vị, trường học...; trên 200 câu lạc bộ đàn hát dân ca và bảo tồn văn hóa dân tộc; trên 70 câu lạc bộ Hát Then - đàn Tính; 06 câu lạc bộ hát Páo dung của dân tộc Dao; 13 câu lạc bộ hát Sình ca của dân tộc Cao Lan.- Về thể dục thể thao: Xây dựng kế hoạch tổ chức các hoạt động thể thao mừng Đảng, mừng Xuân. Duy trì hoạt động 6 lớp đội tuyển năng khiếu với 30 vận động viên; 07 lớp đội tuyển trẻ với 68 vận động viên; 03 lớp đội tuyển tỉnh với 20 vận động viên.- Lĩnh vực thể thao: Tham mưu, hướng dẫn các đơn vị tổ chức các hoạt động thể thao mừng Đảng, mừng Xuân Ất Tỵ năm 2025 và tiếp tục thực hiện Hướng dẫn số 01/HD-UBND ngày 02/10/2024 của Ủy ban nhân dân tỉnh về tổ chức Đại hội Thể dục thể thao tỉnh Tuyên Quang lần thứ X năm 2025 và Đại hội Thể dục thể thao toàn quốc lần thứ X năm 2026; xây dựng Kế hoạch hoạt động nghiệp vụ thể thao; chương trình tổ chức các giải thi đấu thể thao cấp tỉnh năm 2025. 6. Tình hình an toàn giao thông, thiên tai và phòng chống cháy, nổĐể đảm bảo trật tự an toàn giao thông trước, trong và sau Tết Nguyên đán, lực lượng Cảnh sát giao thông đã tăng cường tuần tra, kiểm soát, xử lý vi phạm trên các tuyến đường, đặc biệt là các tuyến giao thông có lưu lượng phương tiện qua lại đông, có nguy cơ tiềm ẩn xảy ra tai nạn giao thông. Trong đó tập trung xử lý các trường hợp có hành vi vi phạm là nguyên nhân chính dẫn đến tai nạn giao thông như: Vi phạm nồng độ cồn, chất ma túy; chạy quá tốc độ; tránh, vượt sai quy định; vi phạm phần đường, làn đường; triển khai các biện pháp phòng chống đua xe trái phép; kiểm tra an toàn giao thông đường thủy tại các bến khách ngang sông, các điểm du lịch, lễ hội.6.1. Về an toàn giao thông trong thángTrên địa bàn tỉnh đã xảy ra 18 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 6 người và làm bị thương 14 người. So với tháng trước tăng 50% về số vụ tai nạn, tăng 200% số người chết và giảm 12,5% số người bị thương. So với tháng cùng kỳ số vụ tai nạn giao thông tăng 125%; số người chết tăng 20%; số người bị thương tăng 250%.6.2. Về cháy, nổTrong tháng trên địa bàn tỉnh không xảy ra vụ cháy, nổ nào.6.3. Thiệt hại do thiên taiTrong tháng trên địa bàn tỉnh không ghi nhận các đợt thiên tai nào xảy ra. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của các đợt không khí lạnh tăng cường, trên địa bàn tỉnh xuất hiện các đợt mưa rào kèm dông, kết hợp với độ ẩm trong không khí tăng cao khiến nền nhiệt giảm mạnh, dẫn đến các đợt rét đậm, rét hại kéo dài đã ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống sinh hoạt của người dân và gây hại cho cây trồng, vật nuôi. CỤC THỐNG KÊ TUYÊN QUANG

Tình hình kinh tế - xã hội tháng 10 năm 2024 tỉnh Tuyên Quang
  •   10/11/2025 22:17

I. PHÁT TRIỂN KINH TẾ  1. Về sản xuất nông nghiệp (tính đến ngày 20/10/2024)1.1. Trồng trọt 1.1.1. Sản xuất vụ mùa năm 2024Sản xuất vụ mùa 2024, trên địa bàn tỉnh diễn ra trong điều kiện thời tiết tương đối thuận lợi cho công tác gieo cấy đầu vụ đảm bảo đúng tiến độ, cây trồng sinh trưởng và phát triển. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của hoàn lưu cơn bão số 3 (YAGI) đã làm ảnh hưởng đến đến năng suất, sản lượng cây trồng cuối vụ. Hiện nay, bà con nông dân các địa phương đang tranh thủ thời tiết thuận lợi, huy động nhân lực, phương tiện máy móc, khẩn trương ra đồng thu hoạch lúa mùa, cụ thể như sau:  - Cây lúa: Toàn tỉnh đã thu hoạch 20.940,90 ha, đạt 98,20% so với diện tích lúa đã cấy. Trong đó, một số địa phương có diện tích thu hoạch sớm như: Huyện Lâm Bình, Yên Sơn, Hàm Yên, Chiêm Hóa, Sơn Dương, Na Hang.- Cây Ngô: Diện tích thu hoạch 3.201,20 ha, đạt 92,20% so với diện tích đã trồng.- Cây đậu tương: Diện tích thu hoạch 102 ha, đạt 100% so với diện tích đã trồng.- Cây lạc: Diện tích thu hoạch 1.081,40 ha, đạt 91,90% so với diện tích đã trồng.1.1.2. Về sản xuất vụ đông UBND tỉnh đã chỉ đạo các cấp chính quyền và các ngành chức năng triển khai sản xuất các cây trồng vụ đông ngay sau khi thu hoạch xong lúa vụ mùa. người dân tại các huyện, thành phố trên địa bàn tỉnh sau khi thu hoạch xong các loại cây trồng vụ mùa đã khẩn trương tiến hành trồng cây vụ đông theo chỉ đạo của các ngành chức năng. Việc đẩy mạnh sản xuất cây vụ đông đã góp phần tích cực trong việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, khai thác tiềm năng đất đai, tạo việc làm, tăng thu nhập và nâng cao đời sống cho người dân. Tiến độ đến ngày 20/10/2024 các địa phương trong tỉnh bà con nông dân đã gieo trồng được một số cây trồng vụ đông trên đất ruộng 2 vụ, kết quả như sau:- Cây ngô đã trồng được 6.488 ha, đạt 143,80% kế hoạch;- Cây ngô thức ăn gia súc trồng được 2.110 ha, đạt 60,30% kế hoạch;- Cây khoai lang trồng được 587 ha, đạt 65,20% kế hoạch.1.1.3. Cây lâu nămDiện tích cây chuối hiện có trên địa bàn tỉnh 2.117,15 ha giảm 4,90% so với cùng kỳ năm trước. Cây chuối chủ yếu được trồng tại các huyện Chiêm Hóa; Yên Sơn; Sơn Dương, với sản lượng đạt trên 17.665,24 tấn, tăng 1,15%, sản lượng chuối chủ yếu được dùng để bán cho các doanh nghiệp chế biến trên địa bàn tỉnh. Diện tích cây nhãn hiện có trên địa bàn tỉnh 904,09 ha, sản lượng thu hoạch ước đạt 5.360,46 tấn, tăng 2,39 % so với cùng kỳ. Diện tích cây vải trên địa bàn tỉnh hiện có 308,38 ha, sản lượng thu hoạch ước đạt 1.793,75 tấn, giảm 2,59 % so với cùng kỳ. Diện tích cây chè trên địa bàn tỉnh hiện có 8.095,90 ha, sản lượng thu hoạch đến ngày 15/10/2024 ước đạt 61.857,20 tấn, tăng 1,23% so với cùng kỳ.1.2. Tình hình sinh vật gây hại  Từ đầu tháng 10 xuất hiện đợt không khí lạnh, đêm và sáng có sương mù nhẹ, tạo điều kiện thuận lợi để sâu bệnh phát triển gây hại nhất là ở cây ngô đông, một số diện tích bị sâu xám, sâu xanh, sâu khoang, sâu keo, gây hại... ; trên cây chè bị nhiễm rầy xanh nhẹ, bọ trĩ, bọ xít, nhện đỏ; trên cây cam có nhện đỏ, nhện trắng gây hại trung bình, nhện rám vàng; cây lâm nghiệp bệnh phấn trắng, bệnh lở cổ rễ, sâu ăn lá... Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã chỉ đạo Phòng Nông nghiệp các huyện, thành phố, Chi cục Bảo vệ thực vật và các Trạm bảo vệ thực vật có kế hoạch phòng trừ kịp thời, không để bệnh hại lây lan.Tình hình sinh vật hại trên cây lâu năm: Cây chè (ra búp) xuất hiện rầy xanh, nhện đỏ, bọ trĩ, bọ xít muỗi tiếp tục gây hại, bệnh đốm nâu, thối búp phát sinh gây hại, tỷ lệ hại phổ biến 5-7%, nơi cao 10-15% số búp tại các huyện Yên Sơn, Sơn Dương, Hàm Yên và thành phố Tuyên Quang; Cây có múi (quả non) nhóm nhện nhỏ (nhện đỏ, nhện trắng, nhện rám vàng) gây hại tăng, tỷ lệ hại phổ biến 4-5%, nơi cao 15-20% số lá, quả; Cây nhãn, vải (quả chín-lộc bánh tẻ) bệnh thán thư, nhện lông nhung, bệnh chổi rồng gây hại rải rác; Cây lâm nghiệp (vườn ươm-1-5 tuổi) bệnh sâu nâu ăn lá gây hại rải rác, bệnh chết héo tiếp tục gây hại rải rác, tỷ lệ hại nơi cao 3-5% số cây.Trước tình hình sinh vật gây hại cây trồng nêu trên, Chi cục bảo vệ thực vật đã chỉ đạo các trạm bảo vệ thực vật các huyện, thành phố phối hợp với Phòng Nông nghiệp, Trung tâm dịch vụ nông nghiệp, chính quyền địa phương chỉ đạo, hướng dẫn bà con nông dân thực hiện việc gieo cấy đúng thời vụ, chăm sóc cây trồng; thường xuyên kiểm tra đồng ruộng, phát hiện sâu bệnh hại cây trồng, kịp thời hướng dẫn cách phòng trừ, giảm thiệt hại do sâu bệnh gây ra.1.3. Về chăn nuôi 1.3.1. Về số lượng đàn gia súc, gia cầm- Đàn trâu: Tổng đàn là 86.707 con, giảm 2,47% (giảm 2.192 con) so với cùng kỳ năm 2023.- Đàn bò: Tổng đàn là 39.247 con, tăng 0,62% (tăng 243 con) so với cùng kỳ năm 2023. Trong đó: Bò sữa 6.641 con, tăng 4,95% (tăng 313 con).- Đàn lợn: Tổng đàn là 574.926 con, tăng 1,87% (tăng 10.562 con) so với cùng kỳ năm 2023. - Đàn gia cầm: Tổng đàn là 7.396,72 nghìn con, tăng 4,69% (tăng 331,61 nghìn con) so với cùng kỳ năm 2023. Trong đó: Đàn gà là 6.580,87 nghìn con, tăng 5,10% (tăng 319,50 nghìn con).1.3.2. Về sản phẩm đàn gia súc, gia cầmĐàn trâu: Trong tháng 10 năm 2024 sản lượng xuất chuồng 1.870 con tương đương sản lượng thịt hơi xuất chuồng 612,26 tấn, tăng 7,51%, (tăng 42,75 tấn) so với cùng kỳ năm 2023.Đàn bò: Số lượng xuất chuồng 517 con tương đương sản lượng thịt hơi xuất chuồng 91,86 tấn, tăng 6,55% (tăng 5,65 tấn) so với cùng kỳ năm 2023. Sản lượng sữa đạt 3.161,72 tấn, tăng 6,27% so với cùng kỳ năm 2023.Đàn lợn: Số lượng xuất chuồng 71.927 con tương đương sản lượng thịt hơi xuất chuồng 5.501,15 tấn, tăng 6,61% (tăng 340,9 tấn) so với cùng kỳ năm 2023.Đàn gia cầm: Sản lượng thịt hơi xuất chuồng đạt 1.758,32 tấn, tăng 7,58% (tăng 124 tấn) so với cùng kỳ năm 2023. Trong đó sản lượng gà đạt 1.618,23 tấn, tăng 7,29% (tăng 110 tấn).Đánh giá chung, tình hình chăn nuôi trong tháng trên địa bàn tỉnh cơ bản ổn định, thời tiết tương đối thuận lợi, đàn gia súc, gia cầm tiếp tục phát triển khá, đảm bảo nguồn cung cho thị trường, giá lợn hơi trên thị trường hiện có xu hướng ổn định đây là động lực quan trọng để các cơ sở chăn nuôi đẩy mạnh tái đàn, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và chuẩn bị cho nguồn cung các dịp lễ, Tết sắp tới. Tuy nhiên, do tình hình thời tiết đang trong giai đoạn chuyển mùa, nhiệt độ chênh lệch giữa ngày và đêm lớn tạo điều kiện thuận lợi cho các loại mầm bệnh phát triển, dẫn đến nguy cơ bùng phát dịch bệnh trên vật nuôi tăng cao. Để chủ động kiểm soát dịch bệnh, bảo đảm nguồn cung những tháng cuối năm, người chăn nuôi cần tuân thủ nghiêm ngặt các biện pháp chăn nuôi; tăng cường cập nhật thông tin về tình hình thị trường, các sản phẩm chăn nuôi để chủ động trong việc tăng, giảm số lượng, bảo đảm chăn nuôi đạt hiệu quả cao; chủ động theo dõi diễn biến của thời tiết để chăm sóc, phát hiện sớm những biểu hiện bất thường trên đàn vật nuôi, góp phần bảo đảm ổn định nguồn cung thực phẩm cho thị trường.1.4. Về công tác phòng chống dịch bệnh gia súc, gia cầm trong tháng 1.4.1. Công tác phòng chống và điều trịTrạm Chăn nuôi và Thú y các huyện, thành phố tiếp tục tăng cường công tác kiểm tra, theo dõi và giám sát chặt chẽ tình hình dịch bệnh, tăng cường công tác phòng, chống dịch bệnh; thường xuyên theo dõi công tác thú y trên địa bàn. Trong tháng 10 năm 2024, trên địa bàn các huyện, thành phố các bệnh truyền nhiễm khác không phát sinh trên địa bàn; một số bệnh nội, ngoại khoa ký sinh trùng xuất hiện trên đàn gia súc đã được nhân viên thú y phát hiện, chẩn đoán và điều trị kịp thời số gia súc khỏi bệnh: 1.178/1240 con gia súc chết 62 con trong đó: (Trâu, bò: 169/169 con; đàn lợn: 1.009/1.071 con). Công tác phòng chống dịch tả lợn Châu phi: Trong tháng bệnh Dịch tả lợn Châu phi xảy ra tại 20 hộ/ 10 thôn/ 02 xã/01 huyện, với số lợn mắc bệnh buộc phải tiêu hủy là 157 con/3.909 kg. Số xã đang có dịch, chưa qua 21 ngày: 06 xã (Côn Lôn, Sinh Long, Thượng Giáp, Hồng Thái, huyện Na Hang; Thượng Lâm huyện Lâm Bình; An Khang, thành phố Tuyên Quang).1.4.2. Công tác kiểm dịch vận chuyển động vật, sản phẩm động vật Tiếp tục thực hiện chặt chẽ đúng quy định công tác kiểm dịch vận chuyển ngoài tỉnh, đã kiểm tra cấp 330 giấy chứng nhận kiểm dịch vận chuyển trong đó: (185 chuyến vận chuyển 29.923 con gia súc, gia cầm; 145 chuyến vận chuyển 2.860 tấn sữa tươi nguyên liệu); lũy kế cấp 2.413 giấy chứng nhận kiểm dịch vận chuyển trong đó: (795 chuyến vận chuyển 147.366 con gia súc, gia cầm và 204.075 con cá giống; 1.618 chuyến vận chuyển 31.387,5 tấn sữa tươi nguyên liệu và 5.120 kg SPĐV chế biến làm thức ăn chăn nuôi) đi các tỉnh Bắc Ninh, Hà Nội, Hà Nam, Hà Giang, Nam Định...Tại các Trạm Kiểm dịch động vật: Các huyện duy trì thực hiện kiểm dịch, trong tháng đã kiểm tra 175 lượt phương tiện vận chuyển đủ thủ tục, vận chuyển 55.07 con gia súc, gia cầm; lũy kế kiểm tra 1.307 lượt phương tiện vận chuyển đủ thủ tục vận chuyển 1.023.507 con gia súc, gia cầm17.100 kg sản phẩm động vật. Công tác kiểm soát giết mổ và kiểm tra vệ sinh thú y: Trung tâm Dịch vụ nông nghiệp các huyện, thành phố đã kiểm tra, thu phí: 108 con trâu, bò và 4.092 con lợn; lũy kế 1.066 con trâu, bò và 42.310 con lợn.1.5. Về sản xuất lâm nghiệp  1.5.1. Công tác trồng rừngTrong tháng 10 năm 2024, diện tích rừng trồng tập trung toàn tỉnh đã trồng được 39,53 ha, đạt 58,57% so cùng kỳ năm 2023. Các huyện, thành phố tiếp tục tuyên truyền, vận động nhân dân tích cực tham gia thực hiện kế hoạch trồng rừng năm 2024; các ngành chức năng tăng cường công tác kiểm tra, kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm những trường hợp lấn chiếm, sử dụng đất lâm nghiệp sai mục đích trên địa bàn quản lý.1.5.2. Khai thác gỗ rừng trồngTrong tháng toàn tỉnh khai thác được 77.423,50 m3 gỗ¬, tăng 1,18% so với cùng kỳ năm 2023.1.5.3. Công tác quản lý bảo vệ rừngCông tác quản lý, bảo vệ rừng được các cấp, các ngành quan tâm, đồng thời tuyên truyền, vận động nhân dân tích cực tham gia thực hiện kế hoạch trồng rừng năm 2024; tuyên truyền, phổ biến giáo dục cho người dân nâng cao nhận thức về các chính sách quản lý bảo vệ và phát triển rừng; tăng cường kiểm tra, ngăn chặn việc phá rừng, đốt rừng, triệt phá các đường dây buôn bán, vận chuyển lâm sản trái phép. Thường xuyên cảnh báo nguy cơ cháy rừng, đẩy mạnh tuyên truyền về công tác phòng cháy chữa cháy rừng; phối hợp chặt chẽ với cơ quan chức năng và chính quyền cơ sở, các chủ rừng tăng cường kiểm tra, kiểm soát, phát hiện kịp thời, xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật các hành vi xâm hại rừng.Theo báo cáo của Chi cục Kiểm lâm tỉnh, trong tháng 10 năm 2024 trên địa bàn toàn tỉnh đã không xảy ra vụ cháy rừng nào; Số vụ chặt phá rừng xảy ra 1 vụ, diện tích rừng bị phá 0,032 ha. Đã xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng, đã kiểm tra, phát hiện và xử lý tịch thu 20,86 m3 gỗ các loại; phạt hành chính và bán thanh lý tài sản 12,6 triệu đồng (đã thu nộp ngân sách 12,6 triệu đồng).3. Sản xuất công nghiệp3.1. Chỉ số phát triển công nghiệp - Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) trong tháng ước tính tăng 8,98% so với tháng trước, tăng 10,47% so với cùng kỳ, cụ thể của các ngành như sau: So với tháng trước: Ngành sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 41,04%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 26,3%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn ( trừ máy móc, thiết bị ) tăng 19,9%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 19,87%.So với cùng kỳ năm trước: Tăng chủ yếu ở ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 317,68%. Các ngành còn lại giảm như: Cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 0,52%; khai khoáng giảm 20,49%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 2,83%.Tính chung trong 10 tháng, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 6,87% so với cùng kỳ năm trước, Chia theo từng ngành kinh tế cấp I như sau:+ Ngành khai khoáng giảm 3,82%, nguyên nhân chủ yếu là nhu cầu tiêu thụ giảm, cùng thời tiết không thuận lợi làm sản lượng khai thác đá, cát, sỏi, đất sét của các doanh nghiệp khai khoáng giảm so với cùng kỳ. + Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 0,56%, do một số ngành chế biến tăng như: Sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 64,44%; sản xuất chế biến thực phẩm tăng 10,36%; sản xuất chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế) tăng 10,3%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 8,84%;;...+ Ngành sản xuất và phân phối điện tăng 66,45% nguyên nhân là do nhà máy thủy điện Sông Lô 7 mới đi vào hoạt động từ đầu năm 2024, nên sản lượng điện tăng so với cùng kỳ. Bên cạnh đó lượng mưa từ đầu năm 2024 cao hơn so mới năm trước làm cho sản lượng điện tăng so với cùng kỳ. Công ty Điện lực Tuyên Quang đã đẩy nhanh tiến độ các công trình điện, triển khai nhiều giải pháp, phương án, sẵn sàng cung ứng điện năng, bảo đảm vận hành lưới điện an toàn, ổn định phục vụ các hoạt động chính trị, xã hội, nhu cầu sử dụng điện của người dân trên địa bàn.+ Ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 6,02%, do hoạt động thu gom, xử lý và tiêu hủy rác thải, tái chế phế liệu tăng.3.2. Sản phẩm công nghiệp chủ yếu Trong tháng, một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng so với cùng kỳ năm trước: Điện sản xuất đạt 222 triệu Kwh, tăng 342,95%; nước máy thương phẩm đạt 1.060 nghìn m3, tăng 60,61%; bột giấy đạt 8.516 tấn, tăng 25,4%; bột Felspat đạt 18.000 tấn, tăng 18,6%; thép cây, thép cuộn đạt 25.000 tấn, tăng 6,46%; xi măng đạt 118.000 tấn; tăng 2,44% ...Tuy nhiên, cũng có một số sản phẩm công nghiệp giảm so với cùng kỳ như: Giày da đạt 600 nghìn đôi, giảm 27,71%; giấy đế xuất khẩu đạt 850 tấn, giảm 16,38%; hàng may mặc xuất khẩu đạt 1.596 nghìn sản phẩm, giảm 4,56%; gỗ tinh chế đạt 4.208 m3, giảm 0,35%...- Tính chung trong 10 tháng đầu năm 2024, một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng khá so với cùng kỳ năm trước: Điện thương phẩm tăng 2,68%; điện sản xuất tăng 68,37%; đường kính tăng 54,38%; chè chế biến tăng 2,12%; xi măng tăng 7,5%; giấy đế xuất khẩu tăng 8,65%; bột giấy tăng 6,72%; nước máy thương phẩm tăng 24,7%; giày da tăng 10,62%,... Ở chiều ngược lại, một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu giảm so với cùng kỳ năm trước như: bột Barit giảm 40,69%; bột Felspat giảm 13,9%; giấy in viết, photo thành phẩm giảm 6,44%; hàng may mặc xuất khẩu giảm 12,45%; thép cây, thép cuộn giảm 13,44%.Đánh giá chung, sản xuất công nghiệp trong 10 tháng đầu năm 2024 tiếp tục giữ được xu hướng tăng trưởng tích cực, tháng sau tốt hơn tháng trước, sản lượng và đơn hàng một số sản phẩm thuộc nhóm ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng trưởng khá; các cấp, các ngành trong tỉnh đã triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp nắm bắt tình hình, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, hỗ trợ tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp,... Qua đó, giúp doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất, kinh doanh, đặc biệt là những doanh nghiệp chủ lực, có đóng góp lớn vào giá trị sản xuất của ngành công nghiệp và tăng thu ngân sách địa phương và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của tỉnh.4. Vốn đầu tư, xây dựng4.1. Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước thực hiện tháng 10 đạt 681 tỷ đồng, tăng 45,11% so với tháng trước, tăng 22,01% so với cùng kỳ. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 566 tỷ đồng, tăng 36,23%, tăng 23,17%; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện đạt 110 tỷ đồng, tăng 115,26%, tăng 16,89%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã đạt 5 tỷ đồng, tăng 78,54%, tăng 17,24%.Tính chung trong 10 tháng, nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 4.209 tỷ đồng, tăng 29,33% so với cùng kỳ. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 3.710 tỷ đồng, tăng 31,18%; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện đạt 471 tỷ đồng, tăng 17,92%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã đạt 28 tỷ đồng, tăng 3,51%.4.2. Hoạt động xây dựngNgay từ những ngày đầu tháng 10, Tỉnh đã tập trung chỉ đạo, điều hành thực hiện hiệu quả các giải pháp đẩy nhanh tiến độ xây dựng và giải ngân vốn đầu tư công năm 2024 theo đúng chỉ đạo của Trung ương; gắn trách nhiệm trực tiếp cho người đứng đầu các cơ quan, đơn vị, địa phương liên quan, bảo đảm tiến độ thi công và giải ngân vốn đầu tư công năm 2024 đạt trên 95% kế hoạch.Tập trung chỉ đạo, đẩy nhanh công tác giải phóng mặt bằng, đẩy nhanh tiến độ thi công các khu tái định cư, sớm bàn giao mặt bằng để thi công các công trình/dự án theo kế hoạch; kịp thời xử lý, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc nhất là nguồn cung cấp vật liệu xây dựng phục vụ thi công các công trình/dự án; chuyển đổi mục đích sử dụng đất đối với các dự án đầu tư công đảm bảo chặt chẽ, đúng quy định.Tăng cường kiểm tra hiện trường, kịp thời chấn chỉnh ngay những tồn tại bất cập, phân tích làm rõ nguyên nhân các công trình/dự án chậm tiến độ, có biện pháp cụ thể, quyết liệt đối với chủ đầu tư, nhà thầu xây lắp không đủ năng lực, không tập trung nhân lực, thiết bị để thi công xây dựng công trình theo tiến độ hợp đồng,.. Chỉ đạo các sở, ngành, các huyện, thành phố và các đơn vị chủ đầu tư, ban quản lý dự án: Khẩn trương khôi phục lại thi công các công trình/dự án đầu tư công trên địa bàn bị ảnh hưởng của hoàn lưu cơn bão số 3 (Yagi); bám sát tình hình, diễn biến thời tiết, xây dựng, triển khai hiệu quả phương án phòng chống thiên tai, giải pháp thi công phù hợp.Năm 2024, Tuyên Quang được giao tổng kế hoạch vốn đầu tư công là 6.161,16 tỷ đồng, trong đó vốn năm 2023 kéo dài sang năm 2024 là 355,16 tỷ đồng; vốn được phân bổ, giao theo kế hoạch năm 2024 là 5.805,99 tỷ đồng. Tính đến ngày 23/10/2024, tổng số vốn vốn đầu tư công đã giải ngân được là trên 2.502,38 tỷ đồng, đạt 40,6% kế hoạch, trong đó: Nguồn vốn kế hoạch năm 2024 giải ngân được 2.347,84 tỷ đồng, đạt 40,4%; nguồn vốn năm 2023 kéo dài thời gian thực hiện và giải ngân sang năm 2024 giải ngân được 154,54 tỷ đồng, đạt 43,51%.5. Thương mại và Dịch vụTrong tháng, thị trường hàng hóa sôi động, nhu cầu mua sắm, vui chơi, giải trí tăng, nguồn cung hàng hóa, dồi dào, ổn định, không có biến động lớn về giá cả; các doanh nghiệp đã triển khai nhiều chương trình khuyến mại, giảm giá hấp dẫn để kích cầu tiêu dùng của người dân. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tháng 10 đạt 3.032 tỷ đồng (trong đó doanh thu bán lẻ ước đạt 2.716 tỷ đồng; doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 219 tỷ đồng), tăng 9,1% so với cùng kỳ năm trước. 5.1. Doanh thu bán lẻ hàng hóa Doanh thu bán lẻ hàng hóa trong tháng ước đạt 2.716 tỷ đồng, tăng 2,18% so với tháng trước, tăng 10,2% so với tháng cùng kỳ. Các nhóm hàng tăng so với tháng trước, tăng so với cùng kỳ, cụ thể như sau: Lương thực, thực phẩm đạt 998 tỷ đồng, tăng 3,58%, tăng 3,76%; hàng may mặc đạt 153 tỷ đồng, tăng 5,08%, tăng 0,68%; đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình đạt 285 tỷ đồng, tăng 1,74%, tăng 8,54%; gỗ và vật liệu xây dựng đạt 222 tỷ đồng, tăng 3%, tăng 5,47%;… Tính chung trong 10 tháng, tổng mức bán lẻ hàng hóa đạt 24.471 tỷ đồng, tăng 14,53% so với cùng kỳ.5.2. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ khác Trong tháng, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, lữ hành ước đạt 219 tỷ đồng, tăng 2,82% so với tháng trước, tăng 8,05% so với cùng kỳ. Trong đó: Dịch vụ lưu trú đạt 20 tỷ đồng, tăng 5,26%, giảm 0,42%; ăn uống đạt 198 tỷ đồng, tăng 2,59%, tăng 9,03%. Tính chung trong 10 tháng, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, lữ hành ước đạt 2.149 tỷ đồng, tăng 12,86% so với cùng kỳ. Doanh thu dịch vụ khác trong tháng ước đạt 97 tỷ đồng, tăng 5,43% so với tháng trước, giảm 13,25% so với cùng kỳ. Trong đó: Dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 3 tỷ đồng, giữ mức ổn định so với tháng trước, giảm 32,65% so với cùng kỳ; dịch vụ sửa chữa máy vi tính, đồ dùng cá nhân và gia đình ước đạt 13 tỷ đồng, tăng 8,3%, tăng 2,23%;… Tính chung trong 10 tháng, doanh thu dịch vụ khác ước đạt 1.058 tỷ đồng, tăng 17,9% so với cùng kỳ.5.3. Giá cả- Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trong tháng tăng 2,6% so với cùng kỳ năm trước, tăng 2,84% so với tháng 12 năm trước, tăng 0,24% so với tháng trước. Tính chung trong 10 tháng, CPI bình quân tăng 3,46% so với cùng kỳ.Trong số 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính thì có 8 nhóm tăng giá so với tháng trước, 2 nhóm giữ nguyên giá so với tháng trước, 1 nhóm giảm giá so với tháng trước, cụ thể của các nhóm như sau:Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,42%, Trong đó, lương thực tăng 0,1%, thực phẩm tăng 0,5%, ăn uống ngoài gia đình tăng 0,34%, nguyên nhân làm nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng là nhóm lương thực chế biến tăng 0,32% (do giá nguyên liệu bột mì, ngô, khoai tăng); nhóm thực phẩm tăng 0,5%, trong đó nhóm thịt gia cầm tăng 0,02%; thịt chế biến tăng 0,48%; trứng các loại tăng 0,16% (do nhu cầu tiêu thụ các nhóm sản phẩm này tăng) thịt gia súc giảm 0,17%; may mặc, mũ nón và giày dép tăng 0,23%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0,16% (do tiền thuê nhà, vật liệu bảo dưỡng nhà ở và giá nước sinh hoạt của người dân tăng); thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,05% (do nhu cầu của người dân mua sắm giường, tủ, bàn ghế, nệm,… tăng); giao thông tăng 0,26% (do giá xăng dầu và dịch vụ giao thông tăng); nhóm giáo dục tăng 0,04% (do đồ dùng học tập và văn phòng phẩm tăng); nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,69% ( do các gói du lịch trong nước cuối năm tăng, các thiết bị ti vi, văn hóa tăng); nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,15% (chủ yếu do giá đồ trang sức tăng theo giá vàng, cùng với dịch vụ chăm sóc cá nhân tăng). Nhóm hàng bưu chính viễn thông và nhóm thuốc và thiết bị y tế là giữ nguyên giá so với tháng trước. Nhóm đồ uống và thuốc lá giảm 0,03% do thời tiết đã chuyển thu nhu cầu về đồ uống như bia, rượu, nước ngọt giảm.- Chỉ số giá vàng tháng 10 tăng 45,88% so với cùng kỳ năm trước, tăng 35,51% so với tháng 12 năm trước, tăng 7,6% so với tháng trước. Tính chung trong 10 tháng đầu năm 2024, giá vàng tăng 30,29% so với cùng kỳ. - Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 10 tăng 2,06% so với cùng kỳ năm trước, tăng 2,8% so với tháng 12 năm trước, tăng 1,23% so với tháng trước. Tính chung trong 10 tháng đầu năm 2024, tăng 5,02% so với cùng kỳ.5.4. Tình hình xuất, nhập khẩu hàng hóa Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa trong tháng 10 ước đạt 16,7 triệu USD, đạt 9,8% kế hoạch, tăng 52,1% so với cùng kỳ. Kim ngạch xuất khẩu ước đạt 10 triệu USD, đạt 11,1% kế hoạch, giảm 11,4% so với cùng kỳ.+ Một số mặt hàng xuất khẩu chủ yếu trong tháng 10 tăng so với cùng kỳ như: Chè xuất khẩu ước đạt 1.300 tấn, tăng 147,6%; giấy đế xuất khẩu đạt 380 tấn, tăng 85,4%; hàng dệt may ước đạt 750 nghìn sản phẩm, tăng 66%; phong bì đạt 400 nghìn sản phẩm, tăng 42,8%,…Nhóm hàng giảm so với cùng kỳ như: Đũa gỗ xuất khẩu đạt 2.000 nghìn đôi, giảm 20%.+ Mặt hàng nhập khẩu chủ yếu trong tháng 10 giảm so với cùng kỳ là than cốc ước đạt 12,7 triệu USD, giảm 37,8%.Tính chung trong 10 tháng đầu năm 2024, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 139,2 triệu USD, đạt 81,9% kế hoạch, tăng 14,5% so với cùng kỳ. Kim ngạch nhập khẩu ước đạt 71,2 triệu USD, giảm 15,2%. Một số mặt hàng xuất khẩu tiếp tục tăng so với cùng kỳ như: Chè (tăng 173,4%); giấy đế xuất khẩu (tăng 38,1%); phong bì (tăng 29,4%),... Tuy nhiên, cũng có một số mặt hàng giảm so với cùng kỳ như: Bột giấy (giảm 49,9%); đũa gỗ xuất khẩu (giảm 49,2%);…6. Vận tải hàng hóa và hành khách 6.1. Doanh thu vận tải tải kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải - Doanh thu vận tải trong tháng ước đạt 399 tỷ đồng, tăng 10,01% so với tháng trước, tăng 8,3% so với cùng kỳ. Trong đó, vận tải hành khách đạt 65 tỷ đồng, tăng 5,17%, tăng 6,14%; vận tải hàng hóa đạt 333 tỷ đồng, tăng 11,01%, tăng 8,66%; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 1 tỷ đồng, tăng 7,52%, tăng 39,2%; hoạt động bưu chính, chuyển phát đạt 0,36 tỷ đồng, tăng 8,27%, tăng 46,96%.- Tính chung trong 10 tháng đầu năm 2024, doanh thu vận tải kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 3.613 tỷ đồng, tăng 17,69% so với cùng kỳ. Trong đó: vận tải hành khách đạt 605 tỷ đồng, tăng 12,94%; vận tải hàng hóa đạt 3,001 tỷ đồng, tăng 18,65%; dịch vụ hỗ trợ vận tải kho bãi đạt 5 tỷ đồng, tăng 35,3%; bưu chính, chuyển phát đạt 3 tỷ đồng, tăng 46,96%.6.2. Vận tải hành khách và hàng hóa- Trong tháng khối lượng hành khách vận chuyển ước đạt 1 triệu lượt hành khách, tăng 4,37% so với tháng trước, tăng 7,9% so với cùng kỳ; khối lượng hành khách luân chuyển ước đạt 81 triệu lượt hành khách.km, tăng 3,85%, tăng 6,76%. Tính chung 10 tháng đầu năm 2024, khối lượng hành khách vận chuyển ước đạt 11 triệu lượt hành khách, tăng 13,44% so với cùng kỳ; khối lượng hành khách luân chuyển ước đạt 782 triệu lượt hành khách.km, tăng 13,51%.- Khối lượng hàng hóa vận chuyển trong tháng ước đạt 2 triệu tấn, tăng 11,11% so với tháng trước, tăng 3,13% so với cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 138 triệu tấn.km, tăng 9,9%, tăng 9,68%. Tính chung 10 tháng đầu năm 2024, khối lượng hàng hóa vận chuyển ước đạt 20 triệu tấn, tăng 18,22% so với cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 1.303 triệu tấn.km, tăng 22,87%.7. Về du lịch Tiếp tục thực hiện các giải pháp truyền thông, quảng bá xúc tiến du lịch tỉnh Tuyên Quang bằng nhiều hình thức. Tổng hợp và triển khai chấm thi Ảnh đẹp du lịch Tuyên Quang năm 2024; triển khai, đề xuất tham gia Hội thi Hướng dẫn viên du lịch giỏi nhân sự kiện Năm du lịch Quốc gia tại Điện Biên; tham luận tại Hội thảo “Du lịch văn hóa vùng Đông Bắc - khơi nguồn và phát triển” trong khuôn khổ Ngày hội Văn hóa, Thể thao và Du lịch các dân tộc vùng Đông Bắc lần thứ XI năm 2024;... Trong tháng 10/2024, ước thu hút được 108.000 lượt khách du lịch; tổng thu từ khách du lịch đạt 135 tỷ đồng (nâng tổng số 10 tháng năm 2024, thu hút 2.515.000 lượt khách, đạt 91% KH năm, tăng 0,4% so với cùng kỳ; tổng thu từ khách du lịch đạt 3.193 tỷ đồng, đạt 89% kế hoạch năm, tăng 5% so với cùng kỳ). II. LĨNH VỰC VĂN HÓA - XÃ HỘI 1. Công tác lao động, việc làm, giáo dục nghề nghiệpXác định giải quyết việc làm cho người lao động là một trong những yếu tố quan trọng góp phần giảm nghèo nhanh và bền vững nên trong thời gian qua, các cấp, các ngành trong tỉnh đã triển khai hiệu quả các giải pháp hỗ trợ, giải quyết việc làm cho người lao động. Trong tháng, tỉnh đã thực hiện các phiên giao dịch việc làm, các hoạt động tư vấn, giới thiệu việc làm, thông tin thị trường lao động, đào tạo nghề , kết nối thông tin, nhu cầu tuyển dụng lao động của doanh nghiệp, tuyển sinh đào tạo nghề của các cơ sở giáo dục nghề nghiệp với nhu cầu tìm việc làm, học nghề của người lao động để đưa lao động đi làm việc tại các doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh. Kết quả trong tháng toàn tỉnh có 2.152 lao động được tạo việc làm; luỹ kế từ đầu năm đến nay toàn tỉnh có 24.705 lao động được tạo việc làm (Trong đó: Lao động làm việc trong các ngành kinh tế tại tỉnh là 15.655 người; lao động đi làm việc các tỉnh, thành phố 7.955 người; lao động đi làm việc nước ngoài theo hợp đồng 1.095 người) đạt 109,56% kế hoạch. Thực hiện tốt công tác quản lý người lao động là người nước ngoài trên địa bàn tỉnh, hướng dẫn các đơn vị, doanh nghiệp sử dụng lao động nước ngoài trên địa bàn tỉnh thực hiện đăng thông báo tuyển dụng người lao động Việt Nam. vào các vị trí dự kiến tuyển dụng người lao động nước ngoài đúng quy định. Thực hiện thẩm định và cấp 36 giấy phép lao động (trong đó: cấp mới 23 giấy phép lao động; cấp lại 01 giấy phép lao động; gia hạn 12 giấy phép lao động); chấp thuận nhu cầu sử dụng lao động nước ngoài cho 05 doanh nghiệp với 80 lao động nước ngoài làm việc tại tỉnh; thu hồi 03 giấy phép lao động của 02 doanh nghiệp, đơn vị . Tiếp tục triển khai thực hiện quản lý về lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp, tổng hợp kết quả thực hiện Kế hoạch số 05/KH-SLĐTBXH ngày 18/01/2024 thực hiện công tác giáo dục nghề nghiệp năm 2024; kết quả thực hiện từ đầu năm 2024 đến thời điểm báo cáo, các cơ sở giáo dục nghề nghiệp đã thực hiện tuyển sinh, đào tạo 6.906 học viên đạt 86,3% kế hoạch; trong đó chia theo trình độ đào tạo: Cao đẳng 154 người; trung cấp 711 người; sơ cấp là 4.183 học viên; đào tạo thường xuyên là 1.858 học viên (trừ đào tạo lái xe mô tô các hạng).2. Công tác đảm bảo chế độ người có công với cách mạng, bảo trợ, an sinh xã hội và phòng chống các tệ nạn2.1. Công tác đối với người có công với cách mạng Tiếp tục đôn đốc Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội các huyện, thành phố tổng hợp bổ sung thông tin cho thân nhân liệt sĩ chưa xác định được danh tính. Tập trung thẩm định phiếu khảo sát thông tin liệt sĩ của các huyện: Na Hang, Lâm Bình, Hàm Yên, Yên Sơn.Duy trì thực hiện đúng, đủ, kịp thời các chế độ, chính sách đối với người có công; giải quyết trợ cấp hằng tháng cho 01 người hưởng thêm chế độ thương binh; trợ cấp một lần với 138 hồ sơ mai táng phí đối với thân nhân đối tượng dân công hỏa tuyến theo Quyết định số 49/2015/QĐ-TTg, đối tượng tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, làm nhiệm vụ ở Cam-pu-chia, giúp bạn Lào sau ngày 30/4/1975 theo quyết định số 62/2011/QĐ-TTg; ban hành 34 quyết định thanh niên xung phong; thẩm định 04 hồ sơ ưu đãi đối với con của người có công với cách mạng; thực hiện trả lời 02 đơn thư của công dân.2.2. Công tác bảo trợ, an sinh xã hội và phòng chống các tệ nạn - Triển khai ban hành các văn bản về công tác chăm sóc, bảo vệ trẻ em; Đề nghị Ủy ban nhân dân huyện, thành phố rà soát, lập danh sách trẻ em bị ảnh hưởng bởi bão số 3 đề nghị Quỹ Bảo trợ trẻ em Việt Nam hỗ trợ; đôn đốc các huyện, thành phố cập nhật dữ liệu trẻ em lên hệ thống phần mềm dữ liệu trẻ em, kết quả đến ngày 10/10/2024 công tác cập nhật dữ liệu phần mềm trẻ em trên toàn tỉnh đạt 90,6%.- Duy trì công tác tiếp nhận, quản lý, điều trị, cai nghiện cho người nghiện ma túy tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh; trong tháng Cơ sở tiếp nhận 07 học viên cai nghiện ma túy (04 học viên cai nghiện bắt buộc, 02 học viên đang trong thời gian làm thủ tục vào cai nghiện bắt buộc;01 học viên cai nghiện tự nguyện cấp giấy chứng nhận hoàn thành cai nghiện cho 11 học viên; đưa ra khỏi danh sách quản lý của Cơ sở cai nghiện 01 học viên. Tại thời điểm báo cáo, Cơ sở cai nghiện đang quản lý 147 học viên (cai nghiện bắt buộc 145 học viên, cai nghiện tự nguyện 02 học viên). Số có mặt 142 học viên; trốn cai 02 học viên (trốn trước 31/12/2022); đi viện 03 học viên. 3. Hoạt động giáo dục và đào tạoThực hiện Kế hoạch số 169/KH-UBND ngày 04/10/2021 của UBND tỉnh về đảm bảo cơ sở vật chất thực hiện Chương trình giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 2021-2025. Trong năm học 2024- 2025, Sở Giáo dục và Đào tạo, UBND các huyện, thành phố đã chủ động sử dụng các nguồn kinh phí được giao để đầu tư cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị dạy học để thực hiện chương trình giáo dục mầm non, phổ thông. Thực hiện mua sắm thiết bị dạy học tối thiểu lớp 4, lớp 8, lớp 11 cho 100% các trường phổ thông; mua sắm bàn ghế học sinh, bàn ghế giáo viên, máy tính; phòng học thông minh... cho các nhà trường. Các huyện, thành phố đã đưa vào sử dụng 456 phòng học, phòng học bộ môn; cải tạo, sửa chữa 151 phòng học, phòng học bộ môn; xây dựng 26 bếp ăn, 192 phòng ở bán trú, 56 công trình phụ trợ; Sở Giáo dục và Đào tạo đã sửa chữa phòng học, nhà công vụ giáo viên cho 06 trường THPT. Đảm bảo tiến độ bàn giao đưa vào sử dụng Trường THPT Chuyên tại địa điểm mới và các Chương trình mục tiêu quốc gia. Đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư và chi thường xuyên đảm bảo đúng tiến độ và quy định của Nhà nước. Năm học 2024-2025 đã thực hiện đầu tư xây dựng và sửa chữa đưa vào sử dụng 456 phòng học, 189 phòng học bộ môn; 187 phòng chức năng; 33 bếp ăn, 284 phòng ở bán trú, 75 công trình phụ trợ; Sở Giáo dục và Đào tạo đã sửa chữa phòng học, nhà công vụ giáo viên, nhà ở bán trú học sinh và các hạng mục phụ trợ cho 10 trường trực thuộc 4. Hoạt động y tế Tiếp tục triển khai đồng bộ các giải pháp về phòng, chống dịch để tạo điều kiện an toàn mở cửa, phục hồi và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Kiểm tra, giám sát công tác y tế tại các cơ sở khám, chữa bệnh; tăng cường kiểm tra, thanh tra hành nghề y, dược tư nhân. Triển khai chuyển đổi số thuộc lĩnh vực Y tế: Hệ thống Hồ sơ sức khỏe điện tử; xây dựng Bộ Tiêu chí đánh giá về Chuyển đổi số cho các cơ quan, đơn vị quản lý nhà nước từ cấp tỉnh tới cấp xã ngành Y tế; xây dựng Bộ Tiêu chí đánh giá về Chuyển đổi số cho các cơ quan, đơn vị quản lý nhà nước từ cấp tỉnh tới cấp xã ngành Y tế. Phối hợp thực hiện dự án Xây dựng Bệnh viện Đa khoa tỉnh quy mô 1.000 giường, dự án Xây dựng Bệnh viện Suối khoáng Mỹ Lâm quy mô 200 giường. Phối hợp các sở, ngành, địa phương tổ chức triển khai thực hiện các dự án về y tế thuộc các Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2021-2025.Công tác khám chữa bệnh và điều trị: Trong tháng, số lượt người khám chữa bệnh đạt 103.797 lượt người; 10 tháng số lượt người khám chữa bệnh đạt 1.039.288 lượt người, đạt 89,6% kế hoạch.Vệ sinh an toàn thực phẩm: Nhằm đánh giá hiệu quả công tác truyền thông và nhận thức của 03 nhóm đối tượng: Người Lãnh đạo quản lý; người sản xuất, chế biến, kinh doanh thực phẩm và người tiêu dùng thực phẩm. Sở Y tế đã ban hành Kế hoạch số 444/KH-SYT ngày 02/7/2024 của Sở Y tế về Điều tra đánh giá kiến thức, thực hành an toàn thực phẩm (KAP) của các nhóm đối tượng năm 2024. Từ ngày 1/7/2024 đến ngày 12/10/2024, đơn vị đã thực hiện điều tra trực tiếp cho 250 người thuộc 03 nhóm đối tượng trên địa bàn tỉnh.  Tổ điều tra tiến hành phỏng vấn trực tiếp các đối tượng bằng bộ câu hỏi với 20 câu; trong đó có 10 câu hỏi về kiến thức và 10 câu hỏi về thực hành an toàn thực phẩm. Kết quả điều tra đánh giá kiến thức, thực hành của các nhóm đối tượng năm 2024 đạt ở mức cao: nhóm người quản lý đạt 92,0%; các nhóm đối tượng người sản xuất, kinh doanh thực phẩm đạt 96,9%, người tiêu dùng thực phẩm đạt 95,7%.5. Hoạt động văn hoá - thể dục, thể thao- Lĩnh vực văn hoá: Tổ chức 02 buổi biểu diễn nghệ thuật chuyên nghiệp phục vụ nhiệm vụ chính trị (nâng tổng số 10 tháng năm 2024, tổ chức 69 buổi biểu diễn nghệ thuật chuyên nghiệp, đạt 57,5% kế hoạch năm, phục vụ trên 80.000 lượt người xem). Dàn dựng, biểu diễn chương trình nghệ thuật phục vụ Gặp mặt kỷ niệm 20 năm Ngày Doanh nhân Việt Nam (13/10/2024-13/10/2024); chương trình nghệ thuật phục vụ Lễ phát động thi đua hoàn thành Dự án xây dựng cao tốc Tuyên Quang - Hà Giang (giai đoạn 1) .... Duy trì hoạt động của 138 đội văn nghệ quần chúng xã, phường, thị trấn; 2.638 đội văn nghệ quần chúng thôn, tổ dân phố, cơ quan, đơn vị, trường học...; trên 200 câu lạc bộ đàn hát dân ca và bảo tồn văn hóa dân tộc; trên 70 câu lạc bộ Hát Then - đàn Tính; 06 câu lạc bộ hát Páo dung của dân tộc Dao; 13 câu lạc bộ hát Sình ca của dân tộc Cao Lan.Tổ chức 109 buổi chiếu phim, phục vụ 23.660 lượt người xem (nâng tổng số 10 tháng năm 2024 tổ chức 1.106 buổi chiếu phim, đạt 85,4% kế hoạch năm, phục vụ trên 234.980 lượt người xem).Trước buổi chiếu phim, các đội chiếu bóng lưu động tuyên truyền chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tuyên truyền kỷ niệm các ngày lễ lớn của đất nước; tuyên truyền phòng, chống dịch bệnh... đến nhân dân trong toàn tỉnh.- Lĩnh vực thể dục thể thao: Tham gia Giải Bóng chuyền hơi trung cao tuổi toàn quốc lần thứ X năm 2024 Cúp Động Lực (kết quả: đạt 1 huy chương bạc và 2 huy chương đồng); giải Vô địch Wushu các đội mạnh quốc gia (kết quả: đạt 1HCV, 1HCB, 7HCĐ được phong 2 vận động viên kiện tướng, 7 vận động viên cấp I). Quyết định thành lập đoàn vận động viên tham gia Cầu lông trung cao tuổi toàn quốc năm 2024; Giải vô địch Pencak Silat quốc gia; Giải Canoeing và Rowing vô địch quốc gia năm 2024. Chuẩn bị các điều kiện tham gia thi đấu thể thao trong Ngày hội Văn hóa, Thể thao và Du lịch các dân tộc vùng Đông Bắc lần thứ XI tại tỉnh Lạng Sơn...6. Tình hình an toàn giao thông, thiên tai và phòng chống cháy, nổTiếp tục triển khai đầy đủ, kịp thời, nghiêm túc các chỉ đạo của Trung ương, của tỉnh về công tác bảo đảm trật tự an toàn giao thông. Nhằm giảm thiểu tai nạn giao thông, hiện nay các cấp, các ngành trên địa bàn tỉnh đã phối hợp, triển khai đồng bộ nhiều giải pháp đảm bảo trật tự an toàn giao thông nhằm kiềm chế và kéo giảm tai nạn giao thông. Đồng thời, tăng cường tổ chức các hoạt động tuyên truyền, phổ biến về pháp luật về công tác TTATGT; đẩy mạnh giáo dục kiến thức và kỹ năng tham gia giao thông an toàn cho học sinh, sinh viên... 6.1. Về an toàn giao thông trong thángToàn tỉnh đã xảy ra 20 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 10 người và làm bị thương 12 người. So với tháng trước số vụ tai nạn tăng 100%; số người chết tăng 900%; số người bị thương giảm 7,69%. So với tháng cùng kỳ số vụ tai nạn giao thông tăng 81,82%; số người chết tăng 233,33%; số người bị thương giảm 14,29%.Tính chung 10 tháng đầu năm 2024, toàn tỉnh đã xảy ra 138 vụ tai nạn giao thông; làm chết 55 người và làm bị thương 112 người. So với cùng kỳ năm trước: Số vụ tai nạn giao thông giảm 1,43%; số người chết tăng 27,91%; số người bị thương giảm 11,81%.6.2. Về thiên tai, cháy, nổ- Trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 01 đợt thiên tai (sáng ngày 15/10) Mưa vừa, mưa to ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống của nhân dân, cụ thể như sau:Thiệt hại về người: Không có thiệt hại về người. Thiệt hại về nhà ở: Nhà bị thiệt hại một phần từ 40% - 50%: 01 nhà bị nước lũ, đất đá trôi vào nhà..Thiệt hại về nông, lâm nghiệp, thủy sản: Gia súc bị thiệt hại: 06 con (lợn);Thiệt hại về cơ sở hạ tầng, thủy lợi, giao thông: Sạt lở ta luy dương đường ĐT. 188 khu vực đèo Khau Lắc, Xã Lăng Can, huyện Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang: Khoảng 100m3. Ước tính tổng giá trị thiệt hại: 90 triệu đồng.- Trong tháng, trên địa bàn tỉnh không ghi nhận vụ cháy nổ nào xảy ra. CỤC THỐNG KÊ TUYÊN QUANG